Sao Y Bản Chính

Danh Co
 
Bắc Kỳ Sao Y Bản Chính, Nam Kỳ Sao Y Bổn Chánh. Khác nhau tí nhưng nghĩa như nhau, lấy từ câu Copie-conforme của các Quan Đại Pháp. Copie-conforme : bản văn chép lại từ một bản văn khác, thường la chép lại từ bản văn chính. Chép đúng y chang từng chữ. Mời quí vị đọc một bài Sao Y Bản Chính điển hình.

Danh CoTôi viết loạt bài Sao Y Bản Chính theo cách viết Kiến Văn Tiểu LụcVân Đài Loại Ngữ của Quế Đường Lê Tiên Sinh, tức ông Bảng Nhãn Lê Quí Đôn triều Lê, người được kể là một trong những học giả đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Lê Tiên sinh đọc sách Tầu thấy chuyện hay, ông sao y bản chính, ông ghi lại chuyện hay ấy, thêm lời giới thiệu và bình luận, soạn thành sách, cống hiến cho đồng bào của ông.

Nhiều người Việt biết danh tiếng, đời tư, tác phẩm của ông Lê Quí Đôn, tuy vậy khi viết về ông, tôi phải kể đến bài thơ nhiều người Việt biết nhất của ông, bài thơ tôi học thuộc lòng năm tôi 10 tuổi, qua bẩy mươi năm không một lần đọc lại tôi vẫn nhớ đúng chăm phần chăm:

Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà
Rắn đầu biếng học quyết không tha.
Thẹn đèn, hổ lửa đau lòng mẹ,
Nay thét, mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen lời lếu láo,
Lằn lưng chi khỏi vệt năm ba.
Từ nay Châu Lỗ xin năng học,
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.

Bài Sao Y Bổn Chánh hôm nay được sao y từ tác phẩm Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quí Đôn. Sách viết bằng Hán Văn khoảng năm 1770. Bản Việt Văn được dùng ở đây do ông Trúc Viên Lê Mạnh Liêu dịch, Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hoà xuất bản tại Sài Gòn Tập 1 năm 1963, Tập 2 năm 1965.

LÊ QUÍ ĐÔN. KIẾN VĂN TIỂU LỤC.

TỰA.

Đức Khổng Phu Tử nói:

Đa văn khuyết nghi, thận ngôn kỳ dư, tắc quả vưu. Đa kiến khuyêt đãi, thận hành kỳ dư, tắc quả hối.

Nghe nhiều, bỏ thiếu điều ngờ, nói cẩn thận việc thừa, thời ít oán trách. Thấy nhiều, bỏ thiếu việc nguy, làm cẩn thận việc thừa, thời ít hối hận.

Nghĩa là tai cần nghe cho nhiều, nhưng điều gì còn nghi ngờ, hãy gác lại chớ có nói gượng, điều gì chắc chăn mới nói, mà phải nói thận trọng, như thế thì ít bị chê bai. Mắt phải thấy cho lắm, nhưng việc gì còn phấp phỏng, hãy bỏ thiếu chớ có làm liều. Việc gì đích xác hãy làm, mà phải làm dè dặt, như vậy sẽ ít sự ăn năn.

Thày Mạnh Tử bàn vê đạo thống, cũng có nói:

Hữu kiến nhi tri chi, hữu văn nhi tri chi.

Có thấy mà biết, có nghe mà biết.

Nghiã là việc thiên hạ, có việc bởi sự trông thấy mà biết, cũng có việc bởi sự nghe thấy mà biết.

Xem hai câu của Thánh Hiền đã dậy trên, thì cái căn bản của lời nói và việc làm, cùng cái cốt yếu của sự học hỏi, có khi nào lại không bởi sự mắt thấy rộng, tai nghe nhiều mà được chăng? Thế cho nên người nào hiểu biết được nhiều lời dạy hay và lời cách ngôn của cổ nhân , thì đem những điều đó mà sửa mình, sẽ có thể nâng cao trình độ mình lên, bằng đem dùng ra đời, đời sẽ trở nên là đời tốt. Người nào nghiên cứu được nhiều lời dậy cao rộng, và sách vở, phép tắc của cổ nhân, thì biêt ứng phó khi có người hỏi đến, hoặc khi làm việc nhờ đó có thể cân nhắc lẽ phải quấy. Sách vở, văn chương không chỉ một đường, đọc sách có thể tăng thêm trí khôn, phát triển tính tình. Tài đức, công nghiệp không phải giống nhau, noi đấy có thể học làm người hiền tài, và biết chọn điều thiện. Cho đến những câu nói về bờ cõi, núi sông, Tiên Phật, Thần Quái cùng là các thuyết tạp, nghề vặt, thẩy đều quan hệ về sự học trí tri cách vật, và lối tự mình cung kính, để xét cho cùng lẽ vật này. (Cách vật trí tri: Chữ sách Đại Học, nghĩa là tìm xét nguyên lý của sự vật và vận dụng hết sự hiểu biết của mình.)

Các loại sách ghi chép ở Trung-châu rất nhiều, không thể kể xiết. Tuy nhiều như vậy, song không được truyền lại tất cả. Xem các loại sách, đủ biết đại lược.

Nước Việt Nam nhà vốn là một nước văn hiến! Tự triều Trần, triều Lê cho tới bản triều, sách vở của các vị tiền bối soạn ra rất nhiều. Song thời gian xa cách đã lâu, bị mất mát dần đi, nên truyền lại đến nay không còn được là bao, khiến những người chuộng cổ, không đủ tài liệu để nghiên cứu.

Tôi lúc thiếu thời, tư chất ngu nông, tính thích chưá sách. Đến khi lớn ra làm quan, xét những sách đã chưá ở giá treo, vâng những lời dậy bảo của thân phụ, lại được giao thiệp với các bậc hiền tài, và các vị quan cao, kể cũng đã nhiều năm. Thêm nữa là những khi vâng mệnh triều đình đi công cán các nơi: Phiá Bắc đi khắp Trung châu, phiá Tây qua nước Ai-Lao, phiá Nam đi phủ dụ tỉnh Thuận Hóa và Quảng Bình, vết chân tới đâu cũng lưu ý dò hỏi; phàm sự tai nghe, mắt thấy, thẩy đều ghi chép, và biên phụ thêm lời phê bình của mình xuống dưới, rồi cất cả vào hề-nang. (Cái túi hề đồng mang theo.) Dần dà góp lại được nhiều, bèn đem ra chia thành từng thiên, đặt thành 9 mục, cộng 12 quyển.

Tôi tự xét bài giảng chưa được tình tường, từng trải chưa được rộng rãi, còn mong sau này tiến dần thêm lên nữa, sẽ được thấy thêm những việc chưa từng thấy, nghe thêm những điều chưa từng nghe.

Bộ “Kiến Văn Tiểu Lục” này cũng là một mối lớn về lời nói, việc làm, và sự học, sự hỏi vậy. Mong các vị độc giả đừng coi như một cuốn tiểu thuyết.

Thượng tuần tháng 5, năm Đinh Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng.

Nhập thị bồi tụng, Hộ Bộ Tả Thị Lang, hành Đô Ngự Sử kiêm Quốc Tử Giám Tế Tửu, Quốc Sử Tổng Đài, Dĩnh Thanh Hầu, Duyên Hà Quế Đường, Lê Doãn Hậu viết tựa.

Ngưng trích.

Có nhiều độc giả yêu cầu tôi viết về chuyện “Hồn Truơng Ba, Da Hàng Thịt“, “Hồn Trương Hoa, Da Hàng Thịt” cũng rưá. Chuyện được ghi trong:

Kiến Văn Tiểu Lục. Tập 2. Trang 334.

Làng Liêu Hạ ở huyện Đường Hào có đền thờ Vua Đế Thích. Đà Quốc Công triều Ngụy Mạc là Mai Ngọc Liễn có sưả lại đền. Năm Hoằng Định thứ 6 triều ta (1605), Quan Thái Tể là Sùng Quốc Công làm nhà tiền đường, dựng bia và khắc bài minh ký, kể rằng:

Năm thứ 2 niên hiệu Long Thụy, đời Vua thứ ba triều nhà Lý (1055), làng Cổ Liêu có chàng Trương Ba đã ba đời tu thiện, tính hay rượu và đánh cờ rất cao, khắp trong nước không ai đối địch được, bèn sang Tàu, gặp một ông cụ già tên là Kỵ Như cũng có tiếng là cờ cao, bèn kết làm anh em, đưa về làng Liêu Hạ, cùng ở với nhau trong một cái am trong 7 năm.

Một bữa nọ, Trương Ba nói với Kỵ Như:

- Người hạ giới không ai dám đánh cờ với chúng ta nữa. Nghe nói trên trời có Vua Đế Thích cờ cao lắm. Uớc gì có ngày ông ấy xuống trần, đánh cờ với mình thì hay biết mấy.

Vài ngày sau, khi hai người đang đánh cờ với nhau, có một ông già gầy ốm, áo rách, nón gỗ, chống gậy, đến nói:

- Tôi từ xa đến, xin được đánh với các ông ván cờ.

Trương Ba mời ông già ngồi vào bàn cờ. Vừa đi được mấy nước, Trương Ba thấy ngay nước cờ của ông già tuyệt cao, chàng không sao chống đỡ được, liền chắp tay vái mà hỏi:

- Tiên ông cao cờ quá đỗi. Xin cho biết cao danh, tôi xin được tôn Tiên ông làm thày.

Hỏi mãi ông già mới nói:

- Ta ở thiên cung, tầng trời thứ 33. Ta chinh là Đế Thích đây.

Trương Ba, Kỵ Ngư quì xuống lậy, dâng lễ mía ngọt, chuối thơm. Vua Đế Thích cảm lòng thành, lấy trong tay áo ra hai thứ hương trầm đàn, giáng châu, cho Trương Ba và Kỵ Ngư. Vua nói:

- Khi hai anh gặp tai nạn, đốt hương này lên, ta sẽ đến cứu.

Nói rồi bay lên mây mà đi. Lâu sau đó Trương Ba và Kỵ Ngư cùng ốm rồi chết, người nhà nhớ lời dặn lấy hương ra đốt. Vua Đế Thích giáng xuống, mời Quan Ba Phủ đến, cộng đồng cho Trương B và Kỵ Ngự hoàn hồn, lại cho thêm thọ số. Hai người sống lại, mới làm đền thờ Vua Đế Thích và các Quan Ba Phủ, để trấn phương Kiền làng Liêu Hạ. Dân làng những ngày tuần tiết quanh năm dùng hương hoa làm lễ chay, khấn xin gì đều linh ứng. Đến nay ba làng Liêu Hạ, Thư Thi, Thổ Cốc vần cầu cúng y như lệ cũ. Ngài Vinh Quốc Công mắc bệnh, sai người đến kêu cầu, được bình phục khỏi bệnh, mới sưả lại đền miếu để ta ơn.

Ngưng trích.

Đấy là bản truyện “Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt” cổ nhất, chính xác nhất, lần thứ nhất được ghi trong sách Kiến Văn Tiểu Lục. Chuyện chỉ đơn giản có thế: Trương Ba chết rồi, được Đế Thích cứu cho sống lại. Thế thôi. Truyện ghi Trương Ba là người có thật, sống vào khoảng những năm 1050-1090, trước đời Lê Tiên sinh đến 700 năm. Sau Lê Tiên sinh không biết ai là người giầu tưởng tượng thêm thắt vào chuyện Trương Ba cho chuyện trở thành ly kỳ:

Trương Ba chết, người vợ quên lởi dặn về nén hương Vua Đế Thích cho. Khi nhớ bèn lấy hương ra đốt, khấn vái nhưngø khi Vua Đế Thích xuống cứu thì xác Trương Ba đã bị hư hoại, không thể cho xác sống lại đuợc. Cùng lúc ấy gần nhà Trương Ba có anh hàng thịt vừa chết, hồn anh hàng thịt đã ra khỏi xác, Đế Thích cho hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt. Anh hàng thịt sống lại nhưng nói anh là Trương Ba, anh về nhà Trương Ba, nhận vợ Trương Ba là vợ anh. Vợ anh hàng thịt bị mất chồng ngang xương, thưa lên quan, quan gọi anh hàng thịt đến hỏi, anh khai anh là Trương Ba, anh đã chết được Đế Thích cho sống lại, nhưng vì xác anh đã hư nên Đế Thích cho hồn anh nhập vào xác anh hàng thịt.. vân vân và vân..vân. Quanh chấp nhận chuyện anh là Trương Ba, cho anh về sống vợ chồng với vợ Trương Ba.

Ông cha tôi ngày xưa lấy nhiều chuyện của người Tầu làm chuyện của mình, hay đặt chuyện mô phỏng chuyện Tầu. Như Tầu có chuyện Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai, ông cha tôi bầy ra chuyện Từ Thức nhập Bồng Lai. Nhưng chuyện Trường Ba là chuyên Việt chăm phần chăm — 100% xong cũng bắt chước Tầu ở cách đặt tên nhân vật. Tầu có nhiều chuyện nhân vật là Trương Tam, Lý Tứ, như Mỹ có nhân vật John Doe, Jane Doe. Đúng ra tên chuyên phải là “Hồn Trương Ba, da Lý Bốn.” Tình tiết cũng hay duy có việc Quan Phủ công nhận xác anh hàng thịt mà hồn Trương Ba thì anh là Trương Ba cần phải xét lại.

Sự công nhận và cho phép đó không đúng. Không biết chắc có phải đó là hồn Trương Ba không, nhưng xác anh hàng thịt thì đúng là xác anh hàng thịt. Thôi thì cho hồn Trương Ba ở trong xác anh hàng thịt thì cũng được đi nhưng — công bằng mà quyết định — Trương Ba phải làm chồng cả chị vợ anh hàng thịt nữa. Dzậy mới đúng. Phải chịu cái nạn hai vợ — hai vợ chưa chắc đã sướng – anh Trương Ba — không biết thật hay giả — bị hai vợ hành chết luôn. Nếu cứ chấp nhận chuyện anh hàng thịt khi không lăn đùng ra chết — giả vờ chết dzễ ợt — sống lại, nhận mình là Trương Ba, bỏ vợ, sang sống với vợ Trương Ba thì sợ.. cõi đời này sẽ xẩy ra rất nhiều vụ lập lờ Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt.

Cho đến những năm 1940 ở Bắc Kỳ vẫn còn tục người ốm không đi bệnh viện, không dùng thuốc mà cho người đếnnnhững đền miếu nghe nói là nới có Thần Thánh linh thiêng, hay chữa bệnh cho dân, xin cái gọi là “tàn nhang, nước thải” về uống trị bệnh. “Tàn nhang” là tro từ cây nhang bị đốt cháy, “nước thải” là nước đã cúng Thần được bỏ đi. Mời quí vị đọc nguyên nhân cái tục người bệnh uống nước thải hoà tàn nhang.

Sao Y Bổn Chánh. Kiến Văn Tiểu Lục. Tập 2. Trang 340

Đền Đức Cao Sơn Đại Vương ở làng Láng Giản, huyện Chí Linh. Tục truyền Đại Vương chữa bệnh rất giỏi, thường hiện làm ông lang đi chữa hai bệnh đậu, sởi cho trẻ em. Có người ở Sơn Tây, con vừa lên đậu vưà lên sởi, may gặp ông già nói là chữa đươcï, bèn đón về nhà, bốc thuốc chữa. Quả nhiên đưá con khỏi bệnh, mới hỏi họ tên và quê ở đâu, ông già nói:

- Ta tên là Cao Sơn, nhà ta ở đầu cái hồ thôn Láng Giản, huyện Chí Linh.

Người kia theo lời mang đồ đến tạ, thấy đó là ngồi đền cao ngất như ngọn dáo, cây cối xanh um, mới biết là Thần hiển thánh. Từ đấy Đại Vương nức tiếng là Thần Y. Ai có bệnh cứ mang đồ lễ chay, và một bình nước trong, đến quì trước đền, kể rõ bệnh trạng, xin Thần chữa cho. Nhiều người được khỏi bệnh. Người xa, người gần, đến xin chữa bệnh hay bán con, rất đông.

Ngưng trích.

Trong tiểu thuyết Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng có đoạn Cụ Cố Hồng — nhân vật sống mãi với câu nói “Biết dzồi.. Khổ lắm.. Nói mãi.. ” khi bệnh được người nhà đi xin “tàn nhang, nước thải” ở cái đền gọi là Đền Bia về cho uống.

Kiến Văn Tiểu Lục. Sao Y Bổn Chánh hai chuyện Nhận Vơ. Tập 2. Trang 344.

Người đời thường sai lầm về việc xưa. Tập “Thi Liên Hợp Bích” ghi chuyện:

Vua Thánh Tổ nhà Minh ra vế đối:

Si, My, Võng, Lạng, tứ tiểu quỷ.

Ông Giải Tấn đối:

Cầm, Sắt, Tỳ Bà, tứ đại vương.

Vua khen:

- Câu đối hay như trời sinh ra vậy.

Thế mà truyện ta thì vẫn cho câu đối đó là của ông Vũ Duệ người bản triều.

Phần “Tùng Thuyết” ở sách Thuyết Phu có chuyện:

- Ông Dương Ức đời Tống đi sứ sang nước phương Bắc. Bắc triều làm lễ tế Hoàng Hậu, cử ông vào đọc văn. Khi mở bản văn tế chỉ thấy giấy trắng, không có một chữ. Ông liền đọc:

Duy linh
Vu Sơn nhất đoá vân
Lăng Uyển nhất đoàn tuyết
Đào Nguyên nhất chi hoa
Thu không nhất luân nguyệt.
Khởi kỳ:
Vân tán, Tuyết tiêu, Hoa tàn, Nguyệt khuyết!
Phục duy thượng ường.

Dịch

Kính nghĩ Đức Bà xưa
Non Vu một đám mâyVuờn Lãng một chòm tuyết
Nguồn Đào một cành hoa
Trời Thu một vầng nguyệt
Đâu ngờ:
Mây tán, Tuyết tan, Hoa tàn, Trăng khuyết!
Xin kính hưởng.

Vua Tống Chân Tông rất mừng về tài mẫn tiệp của ông Dương Ức. Thế mà ta thì cứ cho đó là chuyện ông Nguyễn Đăng Cảo ở triều ta

Sách “Triều Dã Thiêm Tải” ghi chuyện:

Cao Thôi Ngụy đời Đường thích làm trò cười. Vua sai nhẩy xuống sông xem đáy sông có gì lạ không. Cao lăn xuống sông. Lúc sau nổi lên, há miệng cười lớn. Vua hỏi có chuyện gì mà cười, Cao nói:

- Thần gặp ông Khuất Nguyên, ông ấy nói với thần: “Ta gặp Hoài Vương vô đạo mới phải nhẩy xuống sông Mịch La, anh nay gặp Minh Chuá, xuống đây làm gì?”

Vua vui lòng, thưởng cho Cao trăm tấm gấm.

Thế mà ta cứ cho đó là chuyện ông Lương Thế Vinh. Rõ thật là bịa chuyện.

Ngưng trích.

CTHĐ phụ đề Việt ngữ: Tác giả Kiến Văn Tiểu Lục viết: “Rõ thật là biạ chuyện.”

Kính thưa Lê Quế Đường Tiên sinh: Ông cha tôi không “biạ chuyện“, ông cha tôi chỉ “nhận vơ.”

Chuyện đọc Văn Tế “Vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết ” là chuyện của người Tầu đời Tống, có ghi trong sách của Tầu. Ông cha tôi “nhận vơ” đó là chuyện của dân tộc mình. Thời ông Lê Quí Đôn đang sống, ông cha tôi kể nhân vật đọc Văn Tế trong chuyện là ông Nguyễn Đăng Cảo. Sau đó nhân vật đọc Văn Tế đổi ra là ông Mạc Đĩnh Chi.

Nhắc lại cho đúng: Ông cha tôi không “biạ chuyện,” ông cha tôi chỉ lập lờ nhận cái của người làm của mình. Việc làm ấy ông cha tôi gọi là “nhận vơ.”

Tôi sẽ làm một loạt bài để là SAO Y BẢN CHÍNH. Mời quị đọc chơi.

About these ads

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 127 other followers

%d bloggers like this: