Đừng Hỏi Tại Sao

Nhà Hàng Nổi MỸ CẢNH ở Bến Bạch Ðằng Sài Gòn bị Việt Cộng đánh mìn năm 1965. Những bức ảnh như ảnh này năm xưa ấy không được đăng trên những nhật báo Sài Gòn, nên dân Sài Gòn không biết gì về việc làm tàn bạo này của bọn Việt Cộng.

Chàng ơi đừng hỏi tại sao
Những nàng môi thắm, má đào nay đâu?
Tại sao khúc nhạc này sầu?
Sao không thắm lại mái đầu như tơ?
Xưa rồi tuyết trắng ngày xưa
Tình yêu, tuổi trẻ bây giờ ở đâu?

Tháng Mười Virginia Thu Vàng, Công Tử Hà Ðông bánh xe tị nạn kiêm  lãng tử đến sống nhờ ở Rừng Phong Lòng Vòng Hoa Thịnh Ðốn thấm thoắt vậy mà đã tròn mười  mấy mùa lá rụng, tuyết rơi. Trở dậy cùng với Mặt Trời lúc năm giờ sáng,  ngồi nhâm nhi ly trà tầu không có thuốc lá – Công Tử cai thuốc lá từ năm 1990 – trước cửa sổ nhìn ra Rừng Phong, suốt từ năm giờ sáng cho đến tám giờ sáng Công Tử không nhìn thấy một bóng người nào đi lại trong Rừng Phong nắng vàng.

Trước cảnh sinh tình, Công Tử bỗng đi một đường cảm khái. “Ði một đường cảm khái” là câu của Ký Giả Lô Răng khi ông khai sinh ra mục Tạp Ghi nhật báo Tiền Tuyến. Thời xa xưa ấy, những năm trước sau 1966, 1967 bọn thợ viết chúng tôi đàn đúm ở tòa soạn Tiền Tuyến mỗi lần thấy mình “đi một đường cảm khái” thường ngồi viết loạn cào cào châu chấu một bài nhăng cuội – nhăng cuội dzậy mà nhiều bài giá trị ra gì – gọi là Tạp Ghi, viết xong nộp bài cho ông Phan Lạc Phúc cùng với cái bông 500 đồng, PL Phúc ký chuẩn chi, đem bông  đến Thủ quỹ, lãnh ngay 5 Bò đi ăn chơi cho nguôi niềm cảm khái.

Thành phố Arlington, nơi có Rừng Phong, quá vắng, quá êm. Sài Gòn 1995 quá đông, quá ồn. Không phải chỉ Người Sè-goòng mà là cả thành phố Sài Gòn bị nghẹt thở. Sài Gòn 1995 ồn ào suốt ngày và gần như suốt đêm. Ngồi đây xa cách mấy chục ngàn dặm mà tưởng như đang nhìn thấy những đường phố Sài Gòn đầy người. Dòng người trên đủ thứ xe cộ cuồn cuộn trôi trên đường phố không lúc nào ngừng từ năm giờ sáng đến một hai giờ sáng hôm sau. Cảnh Rừng Phong vắng người, chỉ có cây lá, chim, sóc gợi cho Công Tử nhớ lại cảnh Sài Gòn đông người, ít cây xanh, ít hoa vàng.

Nhưng cái thành phố Sài Gòn nay đông người, ồn ào, nghẹt thở, bụi khói, cống rãnh tắc tị, kênh rạch bị lấp kín, đầy rác rưởi ấy là nơi Công Tử đã sống, đã đi mần phóng viên nhà báo, đã ăn chơi, đã yêu và đã được yêu, đã sung sướng và đã khổ sở. Sài Gòn – không phải Hà Nội – là thành phố của Công Tử dù Công Tử ra đời ở tỉnh lỵ Hà Ðông bên hông Hà Nội. Trong ngục tù Cộng Sản ở Sài Gòn những năm 1970, 1980, bọn Cai Ngục cấm ngặt không cho những tù nhân ở sà-lim nói chuyện với bạn tù ở những sà-lim khác. Vì vậy mỗi lần lén hỏi nhau chớp nhoáng được vài câu Công Tử vẫn bối rối khi người bạn tù hỏi:

- Người gì?

Bạn tù cần hỏi nhau: “Người gì?” để xác định đối tượng là phe địch hay phe ta. Nếu Công Tử trả lời:

- Người Bắc..

Là mặc nhiên chàng bị bạn tù xếp loại “phe địch”, coi chàng là cán bộ, cán bịch làm bậy, ăn cắp, biển thủ bị bắt vào tù. Các bạn tù sẽ không những chỉ không giao dịch gì với tên Việt Cộng bị tù mà còn phải đề phòng tên này báo cáo với bọn Cai Tù những việc làm của tù trong tù. Người tù trong nhà tù Việt Cộng chẳng thể làm được gì nhiều. Mấy việc anh chị em mần chỉ là những việc mần cho đỡ buồn. Chẳng hạn: đứng ghé mặt ra cửa gió nói với nhau vài câu, lén viết thư nếu có được mẩu bút chì, mảnh giấy, gửi thư, quà sang cho nhau. Trên cửa sắt phòng tù có một ô cửa nhỏ bằng quyển sách, đóng mở bên ngoài, để bọn Cai Tù  nhìn vào kiểm soát trong phòng. Bạn tù dùng đủ mọi thứ mình có trong tù như quần áo cũ xé ra bện lại làm thành sợi dây, buộc thư, gói quà buộc vào đầu dây, thò tay ra ngoài cửa vứt sang phòng tù bên cạnh. Bạn tù nhận thư, quà, thò tay ra ngoài cửa gió, sợi dây mắc vào tay là kéo vào. Quà ném sang mà bắt trượt thì kéo dây về, ném lại vv.. Dẫy phòng giam nào năm bẩy phòng nam mà có một hai phòng nữ là vui như Tết. Ở tù quá buồn, bạn tù bầy ra trò trao đổi Tình Tù với nhau cho đỡ sầu đời. Những anh chị tù trẻ bắt nhân tình, nhân bánh với nhau là chuyện thường. Cả những ông bà tù Sáu, Bẩy Bó tuy không muốn cũng bị bạn tù trẻ cho sánh duyên thành vợ, thành chồng. Vợ chồng tượng trưng, vợ chồng trong tù thôi. Những cuộc giao tình trong tù thường xẩy ra vào khoảng sáu bẩy giờ tối – giờ này bọn Cai Tù khóa hết mọi cửa sắt, vài chục phòng tù chỉ có một tên Cai Tù trực gác. Ðại khái những lời trao đổi vui vui như tiếng em eo éo nói với bà tù ở phòng giam bên cạnh:

- Má ơi.. Con gửi quà của Má cho Bố rồi đó. Bố cám ơn Má. Bố nói Má hôi nách quá. Cái khăn mặt Má gửi cho Bố đầy mùi hôi nách..

Bởi dzậy, Công Tử không muốn xưng mình là “Người Bắc” vì biết chắc – chắc như cua gạch chứ không phải chỉ là sợ – mình sẽ bị bạn tù cho là Việt Cộng. Nhưng chàng trả lời: “Tôi là người Nam..” cũng không ổn. Bắc Kỳ chính cống Bà Ba Bủng, nói giọng Bắc Kỳ, nhai phải cái lá rau Rấp Cá nhỏ xíu nằm lẫn trong nắm rau húng chó, húng cây, húng lủi, tía tô là phải nhả cả miếng ra chứ không nhắm mắt nuốt đi được mà tự xưng mình là “người Nam..” là chuyện vô lý. Ðúng ra bạn tù hỏi nhau: “Người gì..?” cũng không được đúng. Ðáng lý phải hỏi nhau: “Ở đâu?” – Ở Nam là phe ta, ở Bắc là phe nó. Công Tử tuổi đời Sáu Bó. Trong số Sáu Bó ấy chỉ có Hai Bó Công Tử sống ở Bắc Kỳ, còn Công Tử sống những Bốn Bó ở Nam Kỳ. Tính theo tiêu chuẩn: “Sống ở đâu là người ở đấy” thì Công Tử là người Nam, chỉ có hỏi đến sinh quán mới khai là Bắc Kỳ Nễ Nớn Nòng Nợn. Ðược bạn tù hỏi lý lịch để tiện việc giao thiệp, Công Tử gỡ rối bằng câu trả lời:

- Tôi là Người Sài Gòn…

Dzô Sè-goòng từ năm 1950, đến khi đi tù Việt Cộng những năm 1980, đã ba mươi mùa soài chín vàng ối trên vỉa hè trước chợ Tân Ðịnh Công Tử vui sống giữa lòng thành phố Sài Gòn. Những gót giầy Trinh’s Shoes, Giày Gia của Công Tử từng đi lên, đi xuống những đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Tự Do, đi ra đi vô những Givral, Brodard, Pagode, Xuân Thu BookStore, Caravelle, Majestic, Eden, Rex, Ðại Nam, từng ngồi đấu hót linh tinh với những nhân vật nổi tiếng giang hồ như Mai Văn Hòa, Hoàng Thư, Phạm Duy, Hà Thúc Cần, Duyên Anh, Mạnh Phát trong những sa-lông barber của các ông Hoàng Thơ, Ðàm, Loan, Tuấn, từng đớp Phở Gà của bà chủ tiệm Phở Ga Hiền Vương vấn khăn, răng đen, từng đớp Phở 79 khi tiệm mới mở, lòng nhà thấp hơn mặt đường, từng biết mùi vị Phở Minh, Phở Thịnh, Phở Turc. Ðó là chưa kể đến những cái thực sự là đặc sản của Sài Gòn như Nhà Sống Trên Ðời – Cái tên thật hay, lấy từ câu “Sống trên đời ăn miếng dồi chó. Chết xuống âm phủ, biết có hay không!” Nhà Hàng Sống Trên Ðời ở đường Trần Quốc Toản, trước khuôn viên Viện Hóa Ðạo, hoan hỉ kính mời – Cờ Tây Thiếu Tá Sĩ Gia Ðịnh, bánh cuốn Thanh Trì đậu rán Trần Quang Khải, cháo cá Chợ Cũ, Giả Cầy Bà Cả Ðọi, gà quay lò gaz Thiên Nam, Bui-a-bét Chương Nam, bánh mì Hòa Mã, bánh giò nóng Phú Hương bốn năm giờ chiều, thịt bò khô, nước mía Viễn Ðông.. vân vân…

Những vị thẩm phán Quốc Gia VNCH đến chứng kiến cảnh bà Ngô Bá Thành tuyệt thực chống chính phủ Nguyễn Văn Thiệu. Sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 toàn thể các vị thẩm phán VNCH – bỏ nước chạy không thoát – bị bọn Bắc Cộng cho đi tù hết.

Kể sao cho xiết.. Chỉ kể ra để nói rằng với từng ấy thứ Công Tử đúng là, xứng đáng là và có quyền tự nhận là Người Sài Gòn đứt đuôi con nòng nọc. Ngày nào có vài ngàn đô – có Ðô là làm Việt Kiều Yêu Nước Ngoài về thăm quê hương dễ dàng thôi. Sẽ đến ngày mình có chửi bố nó nó cũng vẫn cứ phải để mình về, nó vẫn tay bắt, mặt mừng, làm như nó không hay biết tí ti ông cụ gì về việc mình chửi bố nó ra rả ở nước ngoài – Công Tử Ông Tạ sẽ về thăm Sài Gòn chứ không về thăm Hà Nội. Có nhiều ông sĩ quan ta ở Mỹ hào hứng về Hà Nội hơn về Sài Gòn. Mới nghe thấy hơi lạ nhưng xét lại – hổng cần xét nhiều, xét tí thôi – lại thấy chẳng có gì lạ: những ông sĩ quan ta ở Mỹ hào hứng về Hà Nội là những ông – ra đời ở Bắc Kỳ, theo cha mẹ di cư vào Nam năm 1954 – các ông bỏ súng chạy lấy người thoát trước ngày 30 Tháng Tư 75. Mấy ông không phải chịu cái nhục của người lính bại trận cúi mặt trước quân địch chiến thắng bắng nhắng, ngu dốt nhưng vì chúng thắng nên chúng có quyền hống hách. Ða số bọn VC chó nhẩy bàn chó này là dân Bắc Kỳ. Tôi – CTHÐ – chắc những sĩ quan cũng bỏ súng nhưng chạy lấy người không kịp, bị dân Bắc Kỳ, Trung Kỳ bắt đi tù, lên lớp, dậy bảo, trừng phạt, chửi bới, hành hạ, bắt nhận tội, bị cướp vợ, cướp nhà, bị khinh khi, bị những vết thương tinh thần không bao giờ lành, những cay đắng không bao giờ nguôi, những hình ảnh đau thương không bao giờ phai, sẽ không hào hứng trở về Hà Nội.

“Nơi nào người ta sống và người ta thấy sung sướng thì nơi đó là quê hương của người ta..” Bẩy, tám trăm mùa lệ chi chín đỏ trong những trang trại bạt ngàn ở VânNam trước đây – đời Tống – Vương An Thạch đã có nhận xét chí lý ấy trong bài từ ông viết về việc Nàng Vương Chiêu Quân đời Hán đi sang sống bên Ðất Hồ quanh năm tuyết trắng. Công Tử Hà Ðông, ngay khi còn sống ở Sài Gòn, đã nhận Sài Gòn làm quê hương. Hai mươi mùa Thành Hồ treo cờ đỏ kỷ niệm ngày đầu thai của Lão Quái Nguyễn Tất Thành, Công Tử sống khổ đau, quằn quại với Sài Gòn. Khi đã sống tận tình, tận nghĩa với Sài Gòn người ra đi đa số dường như không bị ray rứt vì nỗi ân hận đã bỏ Sài Gòn để chạy lấy thân khi Sài Gòn vừa bị đe dọa. Những tháng đầu tiên bánh xe tị nạn mới loạng quạng đến Xê Kỳ, được mời đi nói chuyện chỗ nọ, chỗ kia, Công Tử nói:

“Tôi mang Sài Gòn trong trái tim tôi..”

Nói cho văn huê dzậy thôi. Người Sài Gòn lưu vong nào chẳng nói được câu ấy. Câu nói tương tự câu Già Hồ mánh mung đã nói từ hơn ba mươi mùa khoai mì trước ở Hà Nội:

“Miền Nam trong trái tim tôi..”.

Không nơi nào tôi sống sung sướng bằng Sài Gòn. Ðến sống nhờ ở Xê Kỳ khi vào những công viên thấy đầy những Sì – người Việt miền Ðông Hoa Kỳ gọi người Mễ là Sì – ở chung nhà Người Cao Niên Thu Nhập Thấp với những Khứa Lão Nam Hàn, Tầu, Nhật – tuy cũng sống nhờ bơ dư, sữa ế của dân Mỹ như nhau thôi – Công Tử vẫn théc méc tự hỏi:

“Mình mất nước mình mới phải đem thân sang đây sống nhờ. Những người này có bị mất nước đâu sao họ cũng bỏ quê hương của họ để sang sống ở đây?”

o O o

Trước Rừng Phong vàng lá, vắng lặng không bóng người Công Tử đi một đường cảm khái tưởng nhớ Sài Gòn. Người ta chỉ tiếc thương những gì người ta đã mất. Ðúng dzậy. Không phải Công Tử là người tìm ra chân lý này. Chân lý ấy đã được biểu lộ từ hai mươi mốt mùa mưa Tháng Bẩy Cô Hồn rơi trên những vòm cây sao đường Duy Tân trước đây trong lời ca: “Sè-goòng ơi.. Ta đã mất  Người trong cuộc đời..” Những năm 80 u ám, não nùng không phải chỉ người Việt tha hương mà thôi, ngay cả những Việt Bỏ Của Chạy Lấy Người không kịp Kẹt Giỏ sống rên xiết ở Thành Hồ cũng thấy trái tim mình ngừng đập, nước mắt lưng tròng, khi nghe ai hát:

Saigòn ơi… Ta đã mất Người trong cuộc đời..”

Năm 1950 Công Tử  là chú thiếu niên tuổi đời chưa đầy Hai Bó – mới mười tám, mười chín que – sống trong một căn nhà vách ván gần chợ Hòa Hưng. Buổi tối Công Tử khoái ăn chè bột khoai . Các chị gánh chè đi bán quang gánh có cây đèn dầu hôi treo toòng teng với lời rao:

- Ai chè bột khoai, đậu xanh, nước dừa, đường cát không..?

Thứ chè bột khoai này Xứ Tông Ke không có. Lời rao thường chỉ có bốn món chính “bột khoai, đậu xanh, nước dừa, đường cát”, trong bát chè còn có bún tầu, hạt sen, táo tầu. Ngon, rẻ, bổ. Ðúng là hết xẩy. Cùng nhiều món ăn độc đáo khác món Chè Bột Khoai đã không còn nữa từ lâu rồi ở thành phố gọi bậy là Thành Hồ.

Những năm đầu thập niên 50 phụ nữ Sè- goòng ở những xóm nghèo vẫn để tóc dài, ít người cắt ngắn phi-dê. Ở những chợ như chợ Hòa Hưng, Vườn Chuối, Bàn Cờ – những chợ nhiều phần họp ngoài trời – phụ nữ đi chợ mỗi sáng thường quấn cái khăn bông, Nam Kỳ là khăn lông, lên đầu. Áo bà ba, quần đen hoặc quần trắng, đi guốc hay đi giép, trên đầu mười chị thì có đến chín chị quấn cái khăn lông. Ðứng ngoài nhìn vào chợ thấy khăn lông và khăn lông di chuyển, xanh, trắng, hồng đủ mầu.

Có những em gái chín, mười tuổi, xách những hộp gỗ đóng theo kiểu hộp đựng đồ nghề đánh giầy của những em trai, đi trong các xóm. Hộp gỗ của các em đựng những chai dầu bôi cho mượt tóc và những ve pê-nê-xi-lin để đong dầu cho người mua. Một sáng năm xưa Công Tử ngồi trong căn nhà vách ván, viết truyện ngắn với hy vọng được đăng báo, được trả tiền, được nổi tiếng, nghe tiếng các em rao:

- Ai dầu gió, dầu hương, dầu bông lài, hường, hải đường…

Nghe rao đi một đường cảm khái – Công Tử đi một đường cảm khái trước ông Ký Giả Lô Răng cả mười lăm mùa thu lá bay trong Sở Thú. Nhưng vì kém thông minh đương sự không biết như thế tức là mình “đi một đường cảm khái..”. Hung hăng con bọ xít – Công Tử hung hăng con bọ xít cũng mười lăm mùa thu vàng trước khi ông Thương Sinh viết ra câu “hung hăng con bọ xít” - Công Tử mần thơ:

NGƯỜI EM NAM BỘ

-Dầu gió, dầu hương, dầu bông lài, hường, hải đường..
Hỡi người em gái bán dầu hương
Sáng nay xóm nhỏ êm trong nắng
Tiếng ấy em rao chẳng ngập ngừng.
Anh mới dzô đây nghe giọng lạ
Lòng mơ phố cũ ý mang mang.

Em bán dầu bôi cho láng tóc
Mà mái đầu em tóc rối nùi
Em bán dầu hương thơm sực nức
Trong xóm bùn dơ, cống rãnh hôi.
Bạc vàng, nhung lụa người ta cả
Sỏi đá, xô gai khổ tái môi
Chỉ em, chỉ những người em nhỏ
Những bóng ma đi giữa cuộc đời.
Rồi cả một đời em khốn khổ
Như ngàn em nhỏ khác mà thôi..
Người em Nam bộ của anh ơi!

Bài thơ “Người Em Nam Bộ” vô tình, Công Tử thật không cố ý, sặc mùi giác ngộ quyền lợi giai cấp và đấu tranh giai cấp được đăng báo. Có ông đàn anh văn nghệ – ông này nghe nói sau đó chết trong tù – phê bình:

- Bài thơ của cậu có tính văn học xã hội chủ nghĩa đấy..

Xã hội chủ nghĩa đứt đuôi con thằn lằn chứ còn gì nữa. Bọn con nhà giầu có điều kiện học cao, đỗ đạt, chiếm những địa vị ăn trên, ngồi trốc, hưởng thụ đủ mọi lạc thú. Con cháu mấy ảnh sẽ đi theo con đường đã đi của cha ông họ. Và trật tự xã hội cứ như thế vững bền. Ðời này qua đời khác trật tự ấy sẽ trở thành tự nhiên, hợp lý. Dzậy thì bọn nghèo muốn khá phải vùng lên, hạ bệ bọn nhà giầu, cướp lấy nhà cửa, ruộng vườn, xưởng máy, vàng bạc, đô la của bọn nhà giầu vv.. Chỉ có điều là dân nghèo, sau khi đổ máu, chết, chịu tù tội, đau thương, đuổi được bọn nhà giầu bị thịt đi rồi thì cuộc sống của những người được gọi là “Người Em Nam Bộ, Người Em Sè-goòng” không những chỉ của Công Tử Hà Ðông mà còn là của bất cứ ai, vẫn chẳng khá hơn, chẳng bớt tăm tối hơn là bao. Có khi họ còn sống khốn khổ, khốn nạn hơn nữa. Ðổi đời. Bọn Bắc Cộng vào làm chủ Sài Gòn. Bọn con nhà giầu Sài Gòn không còn đi xe hơi có máy lạnh đi học nữa, chúng đi đạp xích-lô, làm thợ vịn, đứng chợ trời, chạy hàng lậu, vượt biên và dắt mối, móc khách vượt biên, những người em Nam Bộ nhờ “cách mạng” không còn phải lang thang trong những xóm nghèo bán dầu, bán mỡ nữa, các em ngày ngày đeo bao tải đi lục thùng rác nhặt bao ni-lông… Bọn hưởng thụ sẽ là bọn đảng viên cộng sản và con cháu chúng..!

o O o

Trở lại với bài thơ lời lẽ có vẻ chứa chan hoài cảm, luyến tiếc hoa niên trên đầu bài này, Thi Sĩ Tác Giả Trường Phái Kỳ Nhông xin trình bày nguyên nhân tại sao, bao giờ, và ở đâu có bài thơ Ễnh Ương đó.

Số là dzô Sè- goòng năm đầu Công Tử còn ngày ngày đạp xế đi học. Tất nhiên với cảnh học hành dở dang mười lăm tuổi vừa lên trung học thì nghỉ học năm năm đi kháng chiến, lại thêm bẩm tính dốt nát, lười biếng, thích chơi hơn học, Công Tử chỉ có thể đi học trường tư ở Sè-goòng và cũng chỉ học buổi đực, buổi cái; học nhì nhằng chưa đầy một mùa cóc chín là Công Tử bắt chước Thi Sĩ Ðinh Hùng – bắt chước  mà chưa từng được biết thơ của Thi Sĩ – nói nôm na dễ hiểu là “đi một đường bỏ học”. Thi Sĩ chân chính khi bỏ học thì có những lời thơ thật đẹp:

Khi mới nhớn tuổi mười lăm, mười bẩy
Làm học trò, mắt sáng với môi tươi
Ta bước lên, chân vẫn dạo bên người
Ngoài cặp sách trần ai coi cũng nhẹ
Ðời thấp thoáng qua học đường nhỏ bé
…..
Ta ném bút, dẫm lên Sầu một buổi
Xa vở bài, mở rộng Sách Ham Mê
Ðã từng phen trèo cổng, bỏ trường về
Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn
Ðời đổi mới từ ngày ta dấy loạn
Sớm như chiều hư thực bóng hoa hương
Ta ra đi, tìm lớp học thiên đường…
……..
Hỡi Thành Ðô với linh hồn Bách Thảo
Có nhớ ta, chàng trẻ tuổi tóc bay
Làm học trò mà không sách cầm tay
Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ..

Ðó là chuyện Thi Sĩ Lớn bỏ học, còn học trò thường dân bỏ học thì không có thơ phú chi cả, cũng không có những hành động hào hoa phong tình như “ném bút, dẫm lên Sầu, đạp lên đạo đức vv..”. Những anh Con Trai Bà Cả Ðọi không bỏ học để đi tìm bất cứ lớp học nào khác, kể cả lớp học địa ngục. Vì cũng có tí ti tâm sự nhưng mấy ảnh không đi nói cùng cây cỏ mà, nếu mấy ảnh có tiền, mò vào nhà Bình Khang, nhà đăng xinh, nói với những em thương nữ, những em ca ve.

Con Trai Bà Cả Ðọi bỏ học chỉ có việc lặng lẽ ở nhà hay đi bất cứ đâu, không đến trường nữa. Nhưng bạn có quyền théc méc: chuyện Thi Sĩ Ðinh Hùng bỏ học có liên hệ gì đến bài thơ:

Chàng ơi… Ðừng hỏi tại sao?
Những nàng môi thắm, má đào nay đâu?
Tại sao khúc nhạc này sầu..?
Sao không thắm lại mái đầu như tơ ?

Xin thưa cũng có tí ti liên hệ. Số là chàng đến học Trường Tân Thanh ở đường Lacoste – Phạm Hồng Thái sau 1956 – Hiệu Trưởng Tư Thục Tân Thanh hồi ấy là Kỹ Sư Phan Út. Hai thầy Phan Thụy, Phan Ngô trong ban giáo sư. Trường mở trong một cái nhà tư ở góc kẹt sau cây xăng Lacoste. Lớp học là căn phòng để ở hẹp, nóng, tối, cây quạt trần kẽo kẹt quay không đủ sức làm lung lay tí chút bầu không khí bất động trong phòng.

Thầy Phan Thụy dậy Pháp văn. Học sinh chừng hai mươi mạng. Khoảng năm mạng nữ. Công Tử Bắc Kỳ ngồi ngay sau lưng Tiểu Thư Nam Kỳ mặt mũi, thể hình hấp dẫn nhất lớp. Tiểu Thư Sàigòn, Tiểu Thư Tân Ðịnh thì chính xác hơn. Nhà nàng ở Tân Ðịnh. Nàng đi học bằng xe đạp đuy-ra. Nhiều hôm xe Peugeot 203 nhà đưa đón nàng. Người ta thường nói: “Vì trời quá nắng, vì nước có phèn, gái Sài Gòn nước da đen, răng sún”. Nhưng đó chỉ là câu nói tầm bậy tầm bạ của những kẻ xấu. Là gái Sè-goòng hai chăm phần chăm nàng nữ sinh ngồi trước mặt chàng trong phòng học Trường Tân Thanh Lacoste 1950, cùng nghe thầy Phan Thụy giảng Văn Phú Lang Sa, nước da sao mà trắng quá. Nàng không trắng như bông bưởi – đàn bà da trắng như bông bưởi dâm thấy mồ – Da nàng trắng như trứng gà bóc. Con nhà giầu nhưng nàng toàn mặc bà ba trắng vải phin đến lớp học. Chèn đét ơi.. Trời nóng nàng dâm dấp mồ hôi, thỉnh thoảng nàng lại dơ tay vén mái tóc, lấy khăn tay thấm thấm nhẹ cần ót trắng ngần. Vai nàng, lưng nàng, mái tóc nàng, cái ót – Bắc Kỳ gọi là cái gáy – trắng ngần, ngồn ngộn của nàng ở ngay trước mặt anh học sinh ngồi sau nàng. Thầy giảng thầy có nghe hay không thì hổng biết, chỉ biết là anh ngồi học mà anh ngây ngất vì làn da ót mươn mướt mồ hôi anh không được ngửi nhưng anh biết dư là mát rượi như hoa lan ướp lạnh và thơm như múi mít của nàng. Bị hớp hồn anh chẳng còn học hành chi được! Có thể nói mà không sợ mang tội vu oan cho nàng là đời anh dốt nát một phần cũng vì nàng.

Thế rồi một buổi chiều…

Thầy giảng bài thơ Ballade du Temps de jadis của Thi sĩ Francois Villon trong quyển Littérature Expliquée bìa xanh. Bỗng dưng, chàng thật không ngờ, không bao giờ chàng ngờ, kiếp sau, kiếp sau sau nữa luân hồi trở lại trần gian, có lại đi học một lớp cùng nhau, chàng cũng không ngờ – nàng cầm trang sách quay lại chàng. Nàng hỏi như thì thầm, chàng nghe như tiếng trong giấc mơ:

- … Les neiges d’antan.. nghĩa là gì?

Luân hồi trần gian, dzô ra địa ngục hằng hà sa số kiếp nữa chàng vẫn không quên bốn câu thơ Trường Tân Thanh Sài Gòn chiều ấy trong có mấy tiếng nàng hỏi. Chàng gọi bốn câu thơ này là bài:

Les Neiges d’antan
Prince… N’enquérez de semaine
Où elles sont, ni de cet ans
Que ce refrain ne vous ramène
Mais où sont les neiges d’antan.?

Lậy Chúa con là người ngoại đạo. Nhưng tin có Chúa ở trên Chùa. Sáng chủ nhật chàng đến nhà thờ Tân Ðịnh xem nàng rước lễ, nàng nguyện cầu. Nàng biết chàng đến. Nàng cười mỉm. Nam Kỳ là cười mím chi, hay cười miếng chi, Bắc Kỳ là cười tủm tỉm. Có lần nàng chần chừ trên vỉa hè trước cửa nhà thờ khá lâu trước khi buồn buồn ngồi vào xe hơi. Dường như nàng chờ chàng đến. Nhưng than ôi chàng yếu quá, chàng bét quá. Chàng có mặc cảm con nhà nghèo, xấu trai, học dốt. Chàng chỉ đứng xa nhìn nàng thôi, chàng không dám đến với nàng…

Những mùa thu lá bay không cùng nhau ăn gà xé phay theo nhau  qua. Mười mấy mùa bòn bon, chôm chôm sau đó tình cờ gập lại nhau trên bãi biển Vũng Tầu. Nàng có hai con, nàng lái xe Peugeot 504.

Lần này chàng gọi tên nàng:

-  …có nhớ tôi không?

Sợ nàng không nhớ chàng tự giới thiệu ngay:

- Năm 50  học chung  trường Tân Thanh..

Ánh mắt nàng thoáng mơ màng:

- Dạ. Nhớ.

Hỏi thăm nhau đôi câu về thân thế, gia cảnh. Chồng nàng là công chức, giữ chức vụ hái ra tiền, Quan Thuế, Quan Thung chi đó. Chàng kể chàng làm báo, viết tiểu thuyết.

- Em biết. Nhiều lần em thấy anh mà anh không thấy em. Em có đọc mấy truyện của anh..

Chỉ thế thôi. Rồi họ chia tay nhau. Nhân tình, nhân bánh làm đủ trò mí nhau, thề sống chết mí nhau, xa nhau gập lại nhau cũng chỉ lửng lơ con cá vàng như người không quen. Nói chi chuyện gập lại nhau của anh chị học sinh cùng lớp chưa hề được nắm tay, nắm chân nhau một lần, chưa hề tưởng tượng kề môi hôn má nhau…

Có thể là chàng tưởng tượng hoàn toàn, ánh mắt nàng hôm ấy, một ngày hè mười mùa nghỉ hè sau năm học chung gợi cho chàng nhớ lại ánh mắt nàng năm xưa trước cửa nhà thờ Tân Ðịnh. Chàng thấy như ánh mắt nàng muốn nói:

- Sao năm xưa mình học chung anh không nói anh thương em? Sao anh không nói anh muốn có em làm vợ? Nếu anh nói có phải bi giờ em là vợ anh không?

Tại sao? Tại sao? Câu hỏi nào ai biết tại sao? Tại sao? Câu hỏi tự khi nào? Những năm 80 đen hơn mõm chó mực ở Thành Hồ, chàng Công Tử Hà Ðông hết còn là Công Tử – chỉ còn Anh Con Trai Bà Cả Ðọi đi tù hai mùa cóc chín trở về sống quẩn quanh trong căn nhà nhỏ. Hiện Tại đen sì như cái Lá Ða Ca Dao, tương lai chỉ nhìn thấy đường xuống Ðịa Ngục. Quá buồn – không phải buồn mà là tuyệt vọng – Anh Con Trai mần thơ:

Cửa đóng, màn che đã mấy thu
Ðời tàn ngõ hẹp, sống như tù
Quẩn quanh học lại Thiền Ðông độ
Vào ra luyện mãi Pháp Tây du
Rầu rĩ Giáng Tiên ngồi gãi háng
Nẫu nà Từ Thức đứng xoa khu.
Ăn chỉ rau cà, chê thịt cá
Số chẳng tu hành cũng hóa tu.

Những đêm dài ngủ không được, quằn quại trong căn gác nhỏ, anh lấy những quyển sách còn lại trong tủ sách của anh ra đọc. Anh đọc đủ thứ, đọc loạn cào cào châu chấu. Ðọc mà nhiều khi trí óc không ghi nhận, đọc xong không biết mình vừa đọc gì.

Quyển La Littérature Expliquée Bìa Xanh còn ở lại với anh sau cơn hoạn nạn. Anh đọc lại bài Thơ của Francois Villon trong một đêm Thành Hồ không chỉ tối om mà là đen kịt – đúng là đen hơn mõm chó – vì tắt điện anh đọc nhờ ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu hôi. Anh bùi ngùi nhớ lại thời anh  trẻ. Bao nhiêu mùa thu lá bay rồi nhỉ? Năm mươi. Tám mươi. Chín muơi. Chín mươi chín… Hai ngàn.. Hai ngàn lẻ một.. Bốn mươi mấy mùa “Tết Trung Thu.. Má đòi đi tu. Ba ở nhà Ba khóc lu bù..” Năm ấy tóc anh xanh, mắt anh sáng, môi anh không hồng nhưng cũng không thâm. Ngày ngày anh từ Hòa Hưng đạp xe lên Sè Goòng, đi học phất phơ rồi đến Nhà Bóng Bàn Nam Việt đường Guillerault lóc cóc chơi pingpong, đi bơi trong Piscine Régional cạnh nơi về sau là chợ An Ðông, trước cửa nhà hàng Bò Bẩy Món Pagodlac.

Và anh nhớ nàng nữ sinh Tiểu Thư Sè Goòng con nhà giầu đi học bằng Xế Peugeot 203 trường Tân Thanh Lacoste. Anh thấy mơ màng ẩn hiện vai áo bà ba vải phin trắng của nàng, và làn da mịn mịn, rịn rịn  mồ hôi trên ót nàng khi nàng tay trái vén mái tóc, tay phải cầm khăn tay lau nhẹ. Tiếng nàng thì thào:

- Les Neiges d’antan… nghĩa là gì?

Anh hoài niệm tuổi xuân của anh và tim anh nổi sóng. Như Thi Sĩ Trần Dạ Từ anh bồi hồi nhớ lại hình ảnh những người đàn bà, con gái đã lững thững đi qua đời anh… rồi đi mất hút. Ðến số tuổi Năm Bó anh “tri thiên mệnh” nhưng luyến tiếc hoa niên thì anh vẫn cứ luyến tiếc. Ðến cái số tuổi “tri thiên mệnh” ấy anh mới biết bốn câu thơ của Francois Villon từ bao nhiêu mùa lá rụng, lá vàng, lá xanh, vẫn nằm trong tiềm thức, trong tim anh. Bốn câu thơ ấy báo cho anh biết trước sẽ có ngày anh nằm khoèo tê tái thầm hỏi:

“Bây giờ Em ở đâu? Tuổi trẻ của ta bi giờ đâu? Sao tuổi trẻ của ta nó vù qua nhanh thế? Ðúng là Xuân đời chưa kịp hưởng. Mây mùa thu đã sang. Ðìu hiu dăm chiếc lá thu vàng. Vũ Hoàng Chương. Vèo trông lá rụng đầy sân. Ái ân phù thế có ngần ấy thôi. Phóng tác Tản Ðà.”

Và anh mần thơ:

Prince.. N’enquérez de semaine
Où elles sont, ni de cet ans
Que ce refrain ne vous ramène
Mais où sont les neiges d’antan?

Chàng ơi.. Ðừng hỏi tại sao
Những nàng môi thắm, má đào nay đâu?
Tại sao khúc nhạc này sầu?
Sao không thắm lại mái đầu như tơ?
Ơi chàng.. Tuyết trắng ngày xưa

Tình Yêu, Tuổi Trẻ bây giờ ở đâu?

About these ads

7 Responses

  1. Những vị thẩm phán Quốc Gia VNCH đến chứng kiến cảnh bà Ngô Bá Thành tuyệt thực chống chính phủ Nguyễn Văn Thiệu. Sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 toàn thể các vị thẩm phán VNCH – bỏ nước chạy không thoát – bị bọn Bắc Cộng cho đi tù hết…

    không có gì cần phải nói thêm

  2. đọc chuyện tình thời Tân Thanh của Bác Hoàng tôi chắc mọi người chúng ta đều bồi hồi nhớ về kỷ niệm tình học sinh của riêng mình, Bác Hoàng may mắn gặp lại người xưa, còn tôi chưa bao giờ gặp lại “người trong mộng” Nguyễn T. C. lớp Đệ Nhị B14 trường Hưng Đạo năm Mậu Thân … huhuuhu nhớ em nhiều nhưng chẳng … biết làm sao tìm …

  3. Hay tuyệt ! Cảm khái cáh gì !

  4. Bác Hoàng Hải Thủy ơi Bác viết hay quá. Ngày nào cháu cũng vào đây đọc ké. Năm nay cháu 26 tuổi. Hè 2 năm trước cháu đọc Kim Dung thích quá rồi tìm trên net các bài bình luận về truyện thì dẫn đến trang web của bác. Sau đó cháu cũng không nhớ như thế nào mà cho đến nay ngày nào cháu cũng vào đây đọc. Cháu đã đọc hết tất cả các bài ở đây. Cháu mới vào trường luật bận và rất stress nhưng ngày nào cũng phải đọc bài của bác để thấy dễ chịu hẳn. Xém tí nữa là cháu đã qua Virginia học nhưng mà xa quá, rồi nhiều vấn đề quá. Khi quyết định chọn trường cháu nghĩ ngay đến bang Virginia-Rừng Phong, và để có dịp sẽ đi thăm bác. Nhưng mà không được thì thôi ngày nào cháu cũng vào đây đọc bài của bác là khỏe ngay. Không biết mai mốt không có bài đọc nữa thì làm sao đây. Mẹ cháu cũng nói bác nổi tiếng lắm. Hồi đó mẹ cháu cũng có đọc Kiều Giang.

  5. đọc chuyện “tình” học trò của Bác Hoàng, em cứ théc méc không biết Bác Gái có đọc truyện này không, nếu đọc thì Bác Gái có “giận” không nhỉ, hay là Bác Gái sẽ làm như những người vợ lý tưởng ngày xưa … “chồng giận thì vợ làm lành, miệng cười hớn hở rằng anh giận gì, thưa anh, anh giận em chi, anh muốn vợ bé em thì cưới ngay… ” (có … thánh mới nói câu này, người trần có lẽ … xé phay hấp (ngọc) hành)…

  6. Ông quên không nhắc là Ông Ngue^n V. Thiệu chạy trước mọi người, trước khi chạy Ông nghe lệnh Quạn, Thầy thu súng của Cao Đài, Hòa Hảo, dựt sập vùng I, vùng II, dâng Miền Nam cho Cộng Sản cũng có phần của Ngue^~n . V. Thiệu .

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 124 other followers

%d bloggers like this: