MÙ TA, MÙ TẦU

Người Mù hát Sẩm ngày xưa và cây đàn cò.

Mù Ta

Tôi thường đi qua phố
Có anh chàng mù, mắt như hai cái lỗ
Kính chẳng đeo, mồm thời xệch méo
Ngậm vào tiêu, cổ nổi gân lên
Dốc tàn hơi thổi đứt đoạn như rên
Mấy bài hát lăng nhăng ca ngợi Ðảng
Ðã mang lại Ấm no và Ánh sáng!
Một buổi sớm anh hình như choáng váng
Gục xuống đường, tiêu rớt sang bên
Tôi vội vàng chạy lại đỡ anh lên
Anh chỉ khẽ rên: “Trời, đói quá!”

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện – năm 1959 – làm bài thơ tả cảnh người Mù Hà Nội thổi ống tiêu trên vỉa hè xin tiền người qua đường.

Năm Qúi Dậu – 1817 – Nhà Thơ Nguyễn Du sang Trung Quốc với tư cách là Ðại Sứ của triều đình Nguyễn. Ông thấy và làm bài thơ về người Mù Tầu đàn hát xin tiền.

Ðây là bài Thơ Mù Tầu của Nguyễn Du.

Mù Tầu (Thái Bình mại ca giả)

Thái Bình cổ sư thô bố y
Tiểu nhi khiên vẫn hành giang my.
Văn thị thành ngoại lão khất tử
Mại ca khất tiền cung thần suy.

Trên đây là 4 câu đầu trong bài Thơ Chữ Hán của Nguyễn Du – Bài Thơ về Người Mù Hát Dạo Xin Tiền ở  Thái Bình, Quảng Tây, bên Tầu. Bài Thơ dài 32 câu. Tôi không viết ra đây trọn bài Thơ chữ Hán, tôi viết phần dịch nghĩa;

Người Hát Rong ở Thái Bình

Người mù ở Thái Bình mặc áo vải thô,
Ðưá trẻ dắt đi trên bờ sông.
Người ta bảo ông mù này là người ăn xin.
Hát rong xin tiền kiếm bữa cơm.
Thuyền bên có người thích nghe hát,
Dắt tay lên thuyền đến ngồi dưới cửa sổ.
Thuyền tối không có đèn
Cơm thừa, canh bỏ bừa bãi.
Ông mù mò mẫm tìm chỗ ngồi,
Hai ba lần chắp tay nói lời cám ơn.
Tay đánh dây đàn, miệng hát.
Vừa đàn vừa hát không ngừng.
Thanh âm lạ không hiểu được.
Chỉ thấy líu lo, nghe cũng hay.
Nhà thuyền viết chữ bảo ta rằng:
Khúc ca này là chuyện Thế Dân với Kiến Thành.
Người nghe hát đều im lặng.
Chỉ thấy tiếng gió sông và ánh trăng sông.
Người ca mù miệng trào bọt trắng, tay co quắp.
Ôm đàn thưa đã hết bài.
Ráng hết tâm lực đàn hát trong chừng một canh,
Mà tiền chỉ được năm, sáu đồng.
Ðưá trẻ dắt xuống thuyền rồi,
Ông mù còn quay lại chúc: “Ða phúc.”
Ta buồn và thương xót.
Người ta có người mong chết, chẳng ai mong nghèo.
Chỉ nghe nói ở Trung nguyên người người đều no ấm.
Trung nguyên cũng có người khổ thế này sao?
Ngươi chẳng thấy thuyền Sứ cứ ngày ngày được cung đốn theo lệ.
Thuyền này thuyền khác đầy rượu thịt.
Người ăn no không ăn nữa.
Thức ăn, cơm đổ xuống sông.

CTHÐ: Tôi đưa ra hai bài thơ của hai thi sĩ Việt Nam sống cách nhau 150 năm để nói lên nỗi khắc khoải của tôi trong nhiều năm nay. Kể từ năm 1980 khi tôi sống dzở chết dzở ở Sài Gòn đầy Cờ Ðỏ, tôi có thì giờ đọc Kiều và Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, tôi thấy trong Thơ Chữ Hán Nguyễn Du không có một bài thơ nào vịnh những nhân vật lich sử Việt Nam; Thơ Vịnh Sử Nguyễn Du toàn là những nhân vật Tầu, Nguyễn Du làm Thơ Vịnh Mã Viện, Khổng Minh, Chu Du, Văn Thiên Tường, Nhạc Phi ..vv… Ðọc Thơ Chữ Hán Nguyễn Du tôi tưởng như đó là Thơ của một Thi sĩ Tầu, tác giả không phải là người Việt Nam làm Thơ.

Mời đọc vài bài:

Ðề Ðại Thanh Mã Phục Ba Miếu

Tạc thông Lĩnh đạo định Viêm khư
Cái thế công danh tại Sử thư.
Hướng lão đại niên căng quắc thước,
Trừ y thực ngoại tận doanh dư.
Ðại Thanh phong lãng lưu tiền liệt,
Cổ miếu tùng san các cố lư.
Nhật mộ thành Tây kinh cức hạ,
Dâm đàm di hận cánh hà như.

Ðề Miếu Phục Ba ở Ðại Than.

Ðục thông đường Ngũ Lĩnh để bình định đất miền Nam
Công danh hơn đời còn ghi sử sách.
Già mà con khoe mình quắc thước.
Trừ cơm áo ra hết thẩy đều là thưà.
Giữa sóng gió Ðại Than để lại công lớn
Cây tùng, cây sam ở miếu cổ cách xa quê nhà.
Xế chiều dưới gai góc phía Tây thành,
Nỗi than tiếc xưa ở Dâm Ðàm nay ra sao?

Quế Lâm Cù Các Bộ

Trung nguyên đại thế dĩ đồi đường,
Kiệt lực cô thành khống nhất phương.
Chung nhật tử trung tâm bất động’
Thiên thu địa hạ phát do trường.
Tàn Minh miếu xã đa thu thảo,
Toàn Việt sơn hà tận tịch dương.
Cộng đạo Trung Hoa cao tiết nghĩa,
Như hà hương hỏa thái thê lương?

Nghĩa Thơ tiếng Việt:

Ông Các Bộ họ Cù ở Quế Lâm

Thế lớn của Trung Nguyên đã sụp đổ,
Ông vẫn hết sức giữ vững tòa thành cô lập giữ vững một phương.
Suốt ngày, trước cái Chết, lòng ông không nao núng,
Ngàn thu nằm dưới đất tóc ông vẫn dài.
Nhà Minh suy tàn, xã tắc đầy cỏ thu vàng.
Non sông nước Việt nhuốm bóng chiều buồn.
Ai cũng nói người Trung Hoa trọng tiết nghĩa,
Sao nơi đây hương khói lạnh, vắng đến như thế này?

Thơ Hoàng Hải Thủy

Ðại thế Trung nguyên đã đổ rồi,
Cô thành hết sức giữ phương trời.
Trước Chết ngày đêm lòng chẳng núng
Dưới đất ngàn thu tóc vẫn dài.
Minh tàn lăng miếu thu vàng cỏ,
Việt mỏi non sông tối vắng người.
Người nói Trung Hoa sùng tiết nghĩa,
Sao đây vắng lạnh thế này thôi!

Ông Các Bộ họ Cù là Cù Thúc Trĩ, tự Khởi Ðiền, dỗ tiến sĩ đời Minh. Khi người Mãn Châu chiếm Trung Quốc, Vua Minh chạy xuống Vân Nam. Cù Thức Trĩ giữ thành Quế Lâm chống quân Thanh. Thành bị vây hãm nhiều tháng nhưng Cù Thức Trĩ nhất định không đầu hàng. Sau cùng ông chết theo thành.  Câu “Trước Chết ngày đêm lòng chẳng núng” ca tụng lòng yêu nước, sự can đảm của ông. Câu “Dưới đất ngàn thu tóc vẫn dài” ca tụng ông không đầu hàng quân địch, ông chết mà tóc ông vẫn dài theo lối để tóc của người Trung Hoa, không chịu sống để phải róc tóc, vấn đuôi sam theo lối đế tóc của người Mãn.

Toàn Việt sơn hà trong bài thơ là đất những tỉnh Phúc Kiến, Quảng Ðông, Quản Tây, không phải là nước Việt của chúng ta.

CTHÐ: Anh H2T làm khoảng 60 bài Thơ phóng tác những bài Thơ chữ Hán Nguyễn Du. Xin viết rõ: đây là Thơ Phóng Tác, không theo thể Thơ Luật Ðường.

Thơ Chữ Hán Nguyễn Du.

Dương Phi cố lý

Sơn vân tước lược ngạn hoa minh,
Kiến thuyết Dương Phi thou địa sinh’
Tự thị cử triều không lập trượng,
Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành.
Tiêu tiêu Nam nội bồng cao biến,
Mịch mịch Tây giao khâu lũng bình.
Lang tạ, tàn hồng vô mịch xứ,
Ðông phong thành hạ tối thăng tình.

Nghĩa Việt:

Mây núi thưa, hoa trên bờ sông rực rỡ,
Nghe nói Dương Phi ra đời ở đất này.
Chỉ vì cả triều đình đều đứng ngây như phỗng,
Mà ngàn năm cứ đổ tội oan cho Sắc Nghiêng Thành.
Cung Nam Nội buồn teo, cỏ dại mọc khắp nơi.
Ðồng Tây Giao vắng ngắt, gò đống san bằng.
Hương tàn, phấn rã, nay biết tìm đâu?
Dưới thành gió đông thổi khiến người cảm thương.

Thơ Hoàng Hải Thủy.

Mây trắng, hoa sông nở rực cành.
Dương Phi nghe nói đất này sinh.
Tại vì cả lũ ngu phỗng đá,
Oan cho ngàn thưở tội khuynh thành.
Nam Nội buồn tênh, cây cỏ mọc,
Tây Giao vắng ngắt, đống gò quanh.
Hương tàn, phấn rã, tìm đâu thấy!
Tình vương gió lạnh dưới chân thành.

Dương Phi trong Thơ là Dương Quý Phi, tên là Dương Ngọc Hoàn. Nàng nguyên được cưới làm vợ Thọ Vương Mạo, người con thứ 18 của Ðường Huyền Tông – Ðường Minh Hoàng – Huyền Tông thấy Ngọc Hoàn đẹp, lấy vào cung làm vợ mình, phong làm Quý Phi.

Trong đời các Vua Ðường Tầu có hai vụ ái tình ly kỳ xẩy ra: một vụ con lấy vợ của Vua cha, một vụ Vua cha lấy vợ của con. Vụ thứ nhất vai chính là Võ Tắc Thiên, vụ thứ hai nạn nhân là Dương Quý Phi.

Võ Tắc Thiên tên là Võ Anh, đời Vua Ðường Thái Tông, Võ Anh được tuyển vào cung làm tài nhân, một thứ vợ hạng thấp nhất của Vua. Thái Tông bị bệnh, Võ Anh đứng bên giường hầu vua. Vua Ðường Cao Tông, khi còn là Thái tử, vào thăm Vua cha, trông thấy Võ Anh, đem lòng yêu. Ông Vua già bệnh chết, Cao Tông lên làm Vua. Ðể che mắt thế nhân, Cao Tông cho Võ Anh ra ở chùa, xuống tóc tu chùa vài tháng rồi trở vào cung. Nàng được Cao Tông mê đắm, phong làm hoàng hậu. Võ Hậu không có con. Cao Tông chết, Võ Hậu phế con của Cao Tông, tự lập làm Vua Bà. Năm đó là năm 684. Võ Hậu giết nhiều người trong tông thất Vua Ðường, đưa người họ Võ của bà vào những chức vụ quan trọng trong triều đình. Nhiều năm sau đám tôn thất nhà Ðường mới diệt được họ Võ, lấy lại ngôi Vua.

Dương Quý Phi cũng được đưa vào chùa tu một thời gian trước khi vào cung làm vợ Ðường Minh Hoàng. Nàng được Vua yêu mê, cho anh nàng là Dương Quốc Trung giữ quyền chính. An Lộc Sơn, một danh tướng, yêu mê Dương Quý Phi, khởi binh làm phản, đánh vào kinh đô. Ðường Minh Hoàng phải đem Dương Quý Phi chạy vào đất Thục. Quân đưa Vua đi đến Ðèo Mã Ngôi thì xẩy ra binh biến. Ðám tướng lĩnh đòi Vua phải giết Dương Quốc Trung và Dương Quý Phi. Giai nhân Dương Ngọc Hoàn bị chết vì thắt cổ, xác chôn ở Ðèo Mã Ngôi.

Trong bài Dương Phi cố lý, Nguyễn Du bênh vực Dương Quý Phi, Thi sĩ cho là Nàng chết oan. Ðời Ðường triều đình có luyện một bầy ngựa dàn hàng, đứng im không nhúc nhích để làm nghi vệ cho Vua. Bầy ngựa này có tên là “Lập trướng mã.” Nguyễn Du chê bọn quan văn võ nhà Ðường hồi ấy đứng ngây như bầy ngựa “Lập trướng.” Cả bọn ngu hèn đổ tội loạn nước cho Dương Quý Phi.

Nam Nội là tên một cung thất nhà Ðường, nơi Minh Hoàng và Quý phi sống và yêu nhau. Tây Giao là cánh đồng phiá Tây thành Trường An, nơi Dương Quý Phi bị thắt cổ chết.

Nguyễn Du làm Thơ Vịnh Chiêu Quân, thương Dương Quí Phi, ông không nhớ Công Chúa Huyền Trân của dân tộc ông. Ông chứng kiến trận quân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Vua Quang Trung, đánh tan quân Thanh xâm lược nước ta, không có một lời nào trong thơ Nguyễn Du nhắc đến Vua Quang Trung. Nguyễn Du không viết một lời nào về Vua Lê Chiêu Thống dù ông đi trên con đường Vua Lê Chiêu Thống đã đi trước ông không lâu.

Tôi sẽ viết một bài về trường hợp Thi sĩ Nguyễn Du làm toàn là Thơ Vịnh Nhân Vật Lịch Sử Tầu.

About these ads

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 123 other followers

%d bloggers like this: