Hồng Dương. Trịnh Viết Thành

Những năm 1947, 1948 – Thế Kỷ Hai Mươi – khi tôi đi chân đất đưa thư tay trong vùng đồng đất Bắc Ninh – Bắc Giang – tên Việt Minh là Bắc Bắc – ba chàng thanh niên Hà Nội: Hoàng Anh Tuấn, Trần Bích Lan, Trịnh Viết Thành lên phi cơ Air France từ phi trường Gia Lâm, Bắc Việt, bay sang nước Pháp. Tôi nghe nói ông Hoàng Anh Tuấn sng Pháp trên tầu biển Pháp năm 1950.

Năm 2000, Ký giả Hồng Dương, Việt Kiều về thăm Sài Gòn, đến gặp Chú Tư Cầu Lê Xuyên ở tủ thuốc lá lẻ của chú Tư trên vỉa hè đường Bà Hạt.

Năm 2000, Ký giả Hồng Dương, Việt Kiều về thăm Sài Gòn, đến gặp Chú Tư Cầu Lê Xuyên ở tủ thuốc lá lẻ của chú Tư trên vỉa hè đường Bà Hạt.

Ba chàng cùng trạc tuổi tôi, ra đời trong những năm 1932, 1933, 1934. Ba chàng sang Pháp du học. Những năm 1954, 1955, ba chàng trở về Sài Gòn, Ông Trần Bích Lan là giáo sư Triết, nổi tiếng là Thi sĩ Nguyên Sa – Paris có gì lạ không Em? Mai Anh về, Anh có còn Em? Chỉ biết lòng mình là hương cốm. Chẳng biết tay ai là lá sen – Tôi đã viết nhiều về Thi sĩ Nguyên Sa, Trong bài hồi tưởng-hoài niệm-tri ân Bạn Tốt này, trong ba người, tôi chỉ viết nhiều về Trịnh Viết Thành.

Tôi gặp Trịnh Viết Thành lần thứ nhất – khoảng năm 1953 hay 1954 – ở bàn viết của Thanh Nam trong Ðài Phát Thanh Quân Ðội. Hôm ấy tôi ghé thăm Thanh Nam, TV Thành từ Pháp mới về cũng ghé thăm ThanhNam. Tôi được Thanh Nam cho biết xước danh của Thành là Thành Nham Nhở.

Hai tiếng Nham Nhở gán cho Thành không mang nghĩa “đểu cáng.” Nham nhở đây có cái nghĩa của tiếng Pháp “Cynique.” Tôi không tìm được tiếng Việt nào có cái nghĩa của tiếng Cynique. Người Cynique theo tôi là người hay nói thẳng, nói trắng trợn  những chuyện cần nói bóng gió, cần che đậy của người đời. Nói làm người ta khó chịu. Như một chiều Thành và tôi ngồi trong Nhà La Pagode. Bàn bên có anh bạn Nhà Văn-Nhà Báo đi với cô bạn của anh. Trời Sài Gòn lất phất mưa. Khi đi, ông Nhà Văn đưa cái áo mưa của cô bạn lên cho cô xỏ tay.

Thành nói:

“Mặc quần cho em mới hay chứ, mặc áo cho em thì ăn thua gì.”

Một chiều ở Ngân Ðình Tửu Gia, nhà hàng Cơm Tây, Cơm Tầu trên bờ sông Sài Gòn – tên hàng ăn này trước năm 1956 là Point des Blagueurs – ông Nhà Văn trẻ hào hoa phong nhã xách cái hộp trang điểm của cô đào xi-la-ma Giao Chỉ đi vào. Cái hộp đồ trang điểm của cô diễn viên giống cái hòm gỗ đồ nghề toong-đơ, dao cạo của các ông thợ hớt tóc dạo.

Thành hỏi ông Nhà Văn:

“Ê mày….. Viết văn không khá, mày đổi nghề, bây giờ mày làm thợ hớt tóc dạo?”

Trịnh Viết Thành, như Hoàng Anh Tuấn, có năm, sáu năm ăn học ở Pháp, nhưng công lực tiếng Phú-lang-sa của hai ông không hơn tôi bao nhiêu. Thành có năng khiếu về làm báo. Anh làm thư ký tòa soạn nhiều nhật báo ở Sài Gòn. Chức vụ thư ký tòa soạn cuối cùng của anh – trước Ngày 30 Tháng Tư 1975 Ðen Hơn Mõm Chó – là thư ký tòa soạn nhật báo Quật Cường, tờ nhật báo của ông Nguyễn Khắc Bình, Tổng Giám Ðốc Công An-Cảnh Sát chính phủ Nguyễn Văn Thiệu.

Năm 1965, hay 1966, Nhật báo Tiền Tuyến ra đời, Báo của Cục Tâm Lý Chiến, nhân viên tòa soạn một nửa là quân nhân, một nửa là dân sự. Thành là thư ký tòa soạn Tiền Tuyến. Khi anh bỏ Tiền Tuyến  để sang làm một nhật báo khác do các bạn anh chủ trương, anh yêu cầu toà báo cho tôi – H2T- làm thư ký tòa soạn thay anh.

Năm ấy đời tôi đang đi vào chu kỳ xuống dzốc không phanh, Série Noire de Luxe, Sau bẩy, tám năm phây phây, phơi phới làm nhân viên toà soạn Nhật Báo Sàigònmới, viết tiểu thuyết quanh năm cho Nhật báo Ngôn Luận, các tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, Màn Ảnh, Phụ Nữ Ngày Mai; Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị hạ sát, Sàigòmới, Ngôn Luận bị Ðỗ Mậu – Nguyễn Khánh đóng cửa cùng trong một ngày. Tội gán cho hai báo vừa kể là tội “ Tay sai Nhà Ngô,” tôi không có nhật báo nào để làm. Ðang kiếm 20.000 đồng một tháng, thời gian đen tối ấy tôi chỉ kiếm được khoảng ba, bốn ngàn đồng một tháng. Nhờ bán mấy cái truyện ngắn cho mấy tờ tuần báo. Thời gian này kéo dài đến hơn một năm

Thành nhớ tới tôi, Thành đi tìm tôi:

“Tao đã nói với Ðại Tá Vũ Quang, với Lê Ðình Thạch, Hà Thượng Nhân, Phan Lạc Phúc, mày vào Tiền Tuyến thế chỗ của tao. Xong cả. Sáng thứ hai này mày đến làm, không phải hỏi ai mà cũng không chờ ai gọi.”

Hồng Dương trên xe lăn, Cali 2012.

Hồng Dương trên xe lăn, Cali 2012.

Nhờ Thành, tôi trở lại làm báo với công việc trong tòa báo Tiền Tuyến, tôi lại có việc làm có lương tháng; tôi mở đầu loạt truyện Ðiệp Viên O07 bằng truyện Thầy Nô – Doctor  No – nơi trang trong báo Tiền Tuyến. Ðời tôi tuy không lên hương, không phơi phới như  những năm trước 1963 nhưng nhờ Thành, tôi sống được. Nhờ Thành, tôi gượng dậy được.

Trong thời gian ở Pháp, Thành kết hôn với cô em gái của Trần Bích Lan. Vợ chồng Thành có một, hay hai đưá con, Về Sài Gòn, Thành lấy cô vợ hai. Vợ Thành ly dị, chị sang Pháp sống, giao con cho ông anh bảo dưỡng, giám hộ. Kể Thành lấy vợ hai là không đúng, Thành bỏ vợ, đi sống với vợ mới. Thành không phải là Thuyền Trưởng Hai Tầu.

Ông Giám Hộ Nguyên Sa cho con của Thành vào học, ở nội trú trong Trường Taberd. Một hôm, Thành tìm tôi:

“Nguyên Sa nó cấm không cho tao vào trường gặp con tao, không cho tao đón con tao ra trường. Nguyên Sa nó trọng dư luận bọn văn nghệ sĩ lắm. Mày  bảo nó cho tao được gặp con tao.”

Tôi đến gập Nguyên Sa:

“Thằng Thành nó nhờ tao đến nói với mày. Cho nó vào Taberd gặp con nó. Cấm không cho bố con nó gập nhau làm gì.”

Nguyên Sa nói:

“Tao ghét nó. Chẳng thà nó nghiện thuốc phiện đi. Nó lại có vợ bé. Trò nhà quê.”

Như vậy là ông Thi sĩ cho anh ký giả, anh văn nghệ sĩ nghiện thuốc phiện thì được, có vợ bé là không được, là làm trò nhà quê.

Năm 1967 cuộc tình của Alice và tôi gặp khủng hoảng, Alice bỏ đi, tôi vất vả, vất vưởng tìm Nàng, mong chờ Nàng trở về. Một tối Thành đến tìm tôi trong căn phòng tôi sống một mình ở đường Hồ Biểu Chánh, cạnh nhà Duy Sinh. Phòng này do Lê Trọng Nguyễn ở trước, Nguyễn lấy vợ, có nhà riêng, phòng để lại cho tôi. Thành bảo tôi:

“Mày đừng có quá buồn. Vợ chồng lấy nhau vì tình thường đến tám năm, mười năm là có một cái crise. Nếu vượt qua được, vợ chồng mày sẽ sống với nhau suốt đời.”

Thành không nói: “Vượt qua không được là vợ chồng mày xa nhau luôn.” Tôi biết Thành không nỡ nói ra câu đó. Trịnh Viết Thành là người bạn tốt của tôi, tôi nhớ ơn Thành.

Dòng thời gian dài một ánh bay.. Những ngày như lá, tháng như mây.. Cùng với anh em, Thành đi tù, tôi đi tù. Năm 1990 tôi đi tù lần thứ hai trở về. Tôi được biết Thành bị tù ở Trại Khổ Sai Gia Trung – Gia Lai, đã về năm 1988. Vợ Thành bỏ Thành. Tôi nghe anh em kể khi lên trại thăm nuôi Thành, vợ Thành gặp lại người tình cũ của chị, người tình trước khi chị gặp Thành. Người đàn ông này cũng là tù nhân cùng trại với Thành. Anh này được về Sài Gòn trước Thành, chị vợ Thành bỏ Thành để sống với anh này.

Thành đau ốm. Một trưa mùa mưa tôi đến Nhà In Nam Sơn, đường Nguyễn An Ninh, tìm Thành. Nhà In Nam Sơn của bà mẹ Thành. Người em trai của Thành làm chủ nhà in này.

Khi tôi đến Nhà In Nam Sơn không còn nữa. Máy in bị VC đưa đi hết. Tầng dưới là cửa hàng, nhà kho của Quận, tầng gác  nhất là nơi ở của cán bộ, Thành ở từng lầu thứ hai, từng cao nhất nhà.

Nơi này trước là nơi ở của bà mẹ Thành. Sân gác có một điện thờ, bồn hoa, cây cảnh. Thành sống một mình ở đây. Cơm nước có người nhà mang đến. Thành gầy ốm quá. Thấy tôi, Thành gọi ngay tên tôi:

“Hoàng Hải Thủy.”

Tôi thấy lạ vì tôi gặp Thành lần cuối trưa ngày 29 Tháng Tư 1975. Lần ấy Thành vào Nhà USIS tìm tôi xem có đi nhờ đường USIS được không. Sau lần đó chúng tôi cùng kẹt ở Sài Gòn nhưng không một lần chúng tôi gặp lại nhau. Cho đến buổi trưa năm 1990 này Thành và tôi không gặp nhau trong 15 năm. Tôi đến tìm Thành, tất nhiên tôi nhìn ra Thành ngay. Còn thấy tôi bất ngờ đến sau 15 năm không gặp, Thành vẫn nhận ra tôi ngay.

Thành nói anh sắp đi sang Pháp, con gái anh ở Pháp bảo lãnh anh. Con gái của Thành chắc là con của anh với bà vợ em gái Nguyên Sa. Thành nói hồ sơ đã xong nhưng anh bệnh quá, phải điều trị ít lâu cho khoẻ mới đi khám sức khoẻ được.

Tôi chỉ gặp lại Trịnh Viết Thành sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 có lần ấy. Khoảng một tháng sau tôi trở lại thăm Thành,  thấy cửa phòng đóng, có cái khoá bên ngoài. Trở xuống, tôi hỏi người ở phòng tầng lầu nhất về Thành. Người ta nói:

“Bác Thành mất rồi, bác ơi.”

o O o

Hồng Dương vào làm trong tòa soạn Nhật báo Ngôn Luận khoảng năm 1957, 1958. Năm ấy Nhật báo Ngôn Luận đã sống vững, Chủ nhiệm Hồ Anh ăn nên, làm ra, có nhà in riêng, mở lớn tòa soạn, lấy thêm nhân viên là Hồng Dương, Phan Nghị, hai họa sĩ Văn Hiếu, Huy Tường.

Hồng Dương trẻ hơn tôi khoảng bẩy, tám tuổi, anh có tên Hồng Dương vì trước đó anh là võ sĩ Quyền Anh – boxeur – Lò Võ Hồng Việt. Tất cả những võ sinh Lò Hồng Việt đều có tên Hồng. Tôi quen ba võ sĩ Hồng Việt là  Hồng Dương, Hồng Cương, Hồng Trực. Võ sĩ Hồng Dương từng lên đài trong những năm 1955, 1956.

Ký giả Hồng Dương Nguyễn Hữu Hùng đẹp trai, sống sạch, đàng hoàng, anh không ngồi cả buổi đấu láo, uống la ve ở tiệm như nhiều ký giả cùng thời, anh không nghiện ngập, anh có số đào hoa nhưng không bị tai tiếng, không bị nàng nào thù hận. Tôi thường nói về Hồng Dương với người ngoài làng báo:

“Alain Delon của chúng tôi đấy.”

Hồng Dương kết hôn với Linh Linh Ngọc khoảng năm 1961. 1962. Tôi dự tiệc cưới của hai người. Tháng Tư năm 1964 nhật báo S2igònmới, nhật báo Ngôn Luận – hai Nguồn Tiền của tôi – bị đóng cửa cùng trong một ngày, một giờ. Nhắc lại: tôi rơi vào chu kỳ thất nghiệp, túng tiền, không nhìn thấy việc làm đàng hoàng ở đâu.

Nhật báo Chính Luận ra đời. Nhật báo Chính Luận thế chỗ của Nhật báo Ngôn Luận. Gần như toàn bộ nhân viên tòa soạn, ty trị sự Ngôn Luận sang làm cho Chính Luận. Từ Chung Thư ký tòa soạn Ngôn Luận làm thư ký toà soạn Chính Luận. Từ Chung và tôi thân nhau, chúng tôi mày tao với nhau. Tôi được mời viết tiểu thuyết cho Chính Luận. Nhưng tôi nhận tiền dưa trước mà tôi bê bối, tôi không đưa bài. Từ Chung đến nhà tôi tìm tôi nhưng không gặp tôi.

Từ Chung giận tôi, sau đó tuy cần báo đăng tiểu thuyết, tôi không mặt mũi nào đến gặp Từ Chung, nói:

“Xếp chỗ cho tao viết.”

Tôi đành chịu túng thiếu. Vợ chồng tôi về ở trong một căn nhà nhỏ, vách ván, điện câu, nước câu trong xóm Chuồng Bò. Xóm này ở giữa đường Hai Mươi và Ðường Petrus Ký, nơi năm ấy là bến xe đò đi Ðàlạt. Nhà làm trên một khu mấy năm trước là vũng sình lầy. Ðêm đầu tiên về căn nhà nhỏ này, cái bánh chưng để trên bàn của tôi bị chuột cống tha đi mất, trong bếp thường thấy những con bò cạp to tổ bố. Trời mưa, đường vào nhà ngập nước, tôi phải xách giầy lội nước vào nhà.

Một chiều khoảng 5 giờ, tôi thấy có người đến cửa. Hồng Dương và Linh Linh Ngọc đến, dắt theo đứa con trai thứ nhất mới hai, ba tuổi. Ðứng trước cửa, Hồng Dương bảo tôi:

“Tôi đã dàn xếp để anh viết tiểu thuyết cho Chính Luận. Sáng mai anh đến đưa bài. Có truyện của anh, Chính Luận đăng ngay.”

Hồng Dương nghĩ đến tôi, thương tôi túng quẫn. Trong một cuộc họp tòa soạn Chính Luận, anh đề nghị báo đăng tiểu thuyết của tôi. Nhiều người ngần ngại vì lý do tôi hay đưa bài muộn, làm phiền nhiều người trong nhà in, tôi hay đưa bài không đủ, khung dành cho tiểu thuyết của tôi thường có cột để trống. Có hôm để trắng luôn. Hồng Dương phải bảo đảm lần này H2T sẽ viết đều, đưa bài đúng giờ, không sốt-tê, tức có ngày không đưa truyện. Nhờ Hồng Dương tôi có tiểu thuyết Môi Thắm Nửa Ðời đăng nhiều tháng trên Chính Luận. Các ông bạn tôi gọi tiểu thuyết Môi Thắm Nửa Ðời là Môi Thắm Nửa Ðùi.

Những năm 1960 phim võ hiệp HongKong có phim Bẻ Kiếm Bên Trời – Thiên Nhai Chiết Kiếm. Khi phóng tác một truyện điệp viên Mỹ tôi lấy tên truyện là Bỏ Súng Bên Trời. Các ông bạn tôi gọi đó là truyện Bỏ Súng Bên Giường.

Chính Luận chi tôi 7.000 đồng một tháng. Vợ chồng tôi bắt đầu dễ thở. Rồi Trịnh Viết Thành nhường việc thư ký tòa soạn Tiền Tuyến cho tôi. Sau khoảng 2 năm vất vả, vất vưởng, tôi trở vào làng báo, tôi lại sống được với việc Viết Truyện, công việc tôi muốn tôi làm từ năm tôi 11, 12 tuổi. Tôi đã sống trọn đời tôi với công việc tôi thích làm, tôi muốn làm.

Tháng 11 năm 1994 vợ chồng tôi đến Hoa Kỳ. Từ Cali, Hồng Dương phôn cho tôi:

“Tôi mời anh chị sang chơi Cali, anh sẽ gặp lại các bạn ta ở đây.”

Hồng Dương làm paralegal, anh sống được với nghề. Năm 2011, Hồng Dương bị stroke, anh sống nhưng bị bại liệt, nói khó khăn.

Thankgivings 2012, tôi viết Tri Ân Trịnh Viết Thành, Hồng Dương. Tôi còn phải Tri Ân nhiều người nữa, Hôm nay tôi viết Tri Ân có hai người.

Như tôi phải tri ân anh Ung Văn Luông. Không có anh Ung Văn Luông, tôi không thể đưa vợ tôi sang Mỹ. Là nhân viện USIS anh Ung Văn Luông  phụ trách Ban Nhân Viên. Anh và gia đình đi thoát khỏi nước trong Ðêm 29 Tháng Tư 1975.  Sang Mỹ, anh làm việc trong USIA – United States Information Agency – ở Washington DC. Anh đề nghị với các ông Mỹ USIA mở Chương Trình Ðưa Nhân Viên USIS bị kẹt ở Sài Gòn sang Mỹ. Việc này không phải dễ dàng mà thành. Nhưng nhờ anh Ung Văn Luông, nhân viên USIS Sài Gòn bị kẹt ở Sài Gòn nhiều người được chính phủ Mỹ cho ODP đưa sang sống ở Hoa Kỳ.

Luật của chính phủ Hoa Kỳ: “Ðưa người Việt trong quân đội, trong chính quyền VNCH bị tù đày sang Mỹ.” Tôi không là nhân viên chính quyền Quốc Gia VNCH, dù có bị Cộng Sản giam tù 20 năm, tôi cũng không được chính phủ Hoa Kỳ nhận cho sang Hoa Kỳ tị nạn chính trị. Tôi sang được Hoa Kỳ nhờ anh Ung Văn Luông xin cho. Tôi tri ân anh.

Như tôi chịu ơn bà Khúc Minh Thơ. Năm 1994 khi vợ chồng tôi được ODP nhận cho sang Hoa Kỳ, ba con chúng tôi không đưá nào sống cùng nhà với chúng tôi, các cháu không có tên trong sổ gia đình – tiếng VC là Sổ Hộ Khẩu – nên ODP không cho các cháu đi sang Mỹ theo chúng tôi. Năm 2000, bà Khúc Minh Thơ đề nghị Thượng Nghị Sĩ John Mc Cain đệ trinh Quốc Hội Tu Chính Án cho phép những người đi HO sang Mỹ những năm trước vì các con không ở chung nhà nên không mang được các con đi, nay những người ấy được quyền bảo lãnh các con họ sang Hoa Kỳ. Những người con HO này được hưởng quyền lợi tị nạn như bố mẹ chúng.

Bà Khúc Minh Thơ lo cho các con tôi sang Hoa Kỳ, bà lo cho vợ chồng và các con chúng tôi mọi chuyện. Ðúng la Lo từ A đến Z. Một đêm Tháng Ba năm 2003, tôi đến phi trường đón các con tôi từ Sài Gòn đến. Thấm thoắt dzậy mà các con tôi sang Hoa Kỳ đã 10 năm.

Tôi tri ân bà Khúc Minh Thơ.

About these ads

4 Responses

  1. bài viết về 2 ký giả cũ SG năm xưa… ông ng-v-thành du phọc pháp 1958. có con học nội trú taberd nói trong bài n ày.

    phần lớn ng trong các câu chuyện xưa tích cũ của HH THủy nay đã hui nhị tì như nv-thành này.

    tui cũng có nhiều chuyện nhưng kg tiện kể trên diễn đàn !

    VHM (cn)

  2. Kính gửi tác giả hoanghaithuy.

    Những điều tác giả bài viết này nói về Trịnh Viết Thành giai đoạn trước 1975 chắc có lẽ đa phần là đúng bởi vì ít nhiều tác giả cũng là bạn với Trịnh Viết Thành và cùng sống thời điểm đó.

    Xin được xưng hô với tác giả hoanghaithuy là chú cháu cho thuận tiện bới vì cháu chính là con trai Trịnh Viết Thành.

    Đọc bài viết này cháu có đôi điều xin được đính chính và góp ý.

    Theo cháu được biết bố cháu sinh năm 1930.

    Trong bài viết kể về những tình tiết cuộc sống riêng tư của Bố cháu xảy sau năm 1975 rất thiếu chính xác,có thể Chú chỉ nghe kể lại cho nên phần “mắm muối của ai đó” đã làm sai lệch. Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến gia đình và người đã mất cho nên cháu mong chú xem lại nhưng điều gì không có tính xác thực thì có thể sửa lại.

    Con trai Trịnh Viết Thành.

    Trịnh Viết Huy.

    • 10 gio toi Thu Nam. Gui chau TVH. Tat ca nhung chuyen toi viet trong bai ve hai nguoi ban toi – HD, TVT – deu do toi biet. Toi khong nghe ai noi ca. Toi muon chau viet thu rieng cho toi, cho toi biet nhung gi toi viet sai. Thu chau gui cho toi ve : HH Thuy. PO.Box 5061. Falls Church. VA 22044. Cho toi biet e-mail cua chau. Mong tin chau. HHTHUY

  3. Email của cháu huytrinhviet@yahoo.com or trinhviethuyquang@yahoo.com

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 128 other followers

%d bloggers like this: