BIỆT XỨ PHÓNG DZAO

saigon

Sài Gòn Vang Bóng

Tôi buồn không xiết nói
Cánh Tình đã rụng tự đêm qua.
Một khi Tình rụng như Hoa rụng
Máu đỏ lìa tim, dạ xót sa.

Thi sĩ Nguyễn Bính thất tình nên ông buồn, tôi sống nhờ xứ người, tôi thấy:…

… Ðêm buồn – Ðêm nào ở Xứ Người tôi cũng Buồn – Rừng Phong xào xạc tiếng mưa rơi, không ngủ được, tôi không muốn mần Thơ mà Thơ, như người Ðàn bà Ða tình, yêu thương tôi, tự đến với tôi. Nàng biết tôi buồn nên Nàng nỉ non an ủi tôi. Nàng làm tôi có Hứng mần Thơ. Chỉ trong hai đêm, mỗi đêm khoảng hai tiếng đồng hồ – đơ xăng ca-răng mi-nuýt –  tôi mần được mấy bài Thơ này.

Những bài này gọi là Phóng Dzao đúng hơn gọi là Thơ. Phóng Dzao là phóng tác Ca Dao.

Tôi viết về phóng dzao khi tôi bị án lưu đầy biệt xứ, nên tôi gọi những Phóng Dzao này là  “Biệt Xứ Phóng Dzao.”

Chợ Bà Chiểu, Em bán chuối nướng,
Boóc Hồ dzô, đời Em chuyển hướng.
Bỏ chuối nướng, Em làm Phường Trưởng.
Em viết báo cáo, báo cưởng
Mồ hôi nách Em ra..
Khét như Chuối Náy Chướng!

Chợ Ông Tạ, Em bán Thịt Chó,
Vượt biên Em chui, chợ vẫn đó.
Mười năm sau, gặp Em Ca-li,
Tiệc cưới, Em nhẩy đầm như gió.

Chợ Vườn Chuối, Em hột dzịt lộn,
Vượt biên, Em sang Mỹ Tư Bổn.
Ca-li Em là Beauty Queen.
Mê Em, nhiều trự rụng răng, rốn.

Chợ Bàn Cờ, Em ngồi bán mít
Bán cả sơ mít với hạt mít.Vượt biên Em chui sang Kỳ Hoa
Gặp lại, Em thơm như múi mít.

* Sài Gòn 75 Em Bốn Bó
Hai mươi năm vèo qua như gió.
Kỳ Hoa Ðất Trích gặp lại Em,
Em  nói: “Năm nay Em Bốn Bó !”

* Công Tử Hà Ðông sang Kỳ Hoa
Ngẩn ngơ nghe chuyện của người ta.
Người ta nói: “Em mặt con nít
Nhưng đít Em là đít bà già !”

Kính thưa Thi bá Vũ Hoàng Chương,
Ông tha cho tôi tội vẩn vương
Năm xưa tôi nghĩ bậy, nghĩ bạ:
Thơ Thi bá là Thơ Hoang Ðường.
Cuộc đời làm gì có chuyện lạ
Ðàn bà Trẻ, Ðẹp mãi không Già!
Như trong Thơ Tình ông diễn tả
«  Phải chăng từ độ ấy quan san,
Trời đất cùng đau nỗi hợp tan
Riêng có mình ta phai áo lục
Mà Em sau trước vẫn hồng nhan ? »

Sang Mỹ mới biết Thơ ông thiêng
Thơ ông nhân khiếp, quỷ thần kiêng
Năm Bó tôi đà phai áo lục
Mà Nàng Bẩy Bó vẫn thành nghiêng.

Tạọ hóa gây chi cuộc hý đồ
Làm Ca-ti-nát hóa Tư Dzô.
Ngán ngẩm Tây đi, Mỹ lỏn đến
Chán phèo Mẽo chạy, Cộng lòn vô.
Công-tỉ-năng-tal còn đó đó,
Mà Diệm mà Thiệu ở mô mô.
Ông chỉ bốn đời Vua mất ghế.
Tôi năm chế độ, chán thấy mồ !

*Sài Gòn Ðẹp lắm, Sài Gòn eo
Giữa Sài Gòn có Ca-ra-veo
Ca-ra-veo ! Cái tên tiền định
Ca-ra-veo thì Sài Gòn Teo.

Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn Hậu Tháng Tư 75

Nguyễn Hiến Lê ù lì
Nguyễn Ðăng Thục cù mì
Vũ Ðăng Bằng ngơ ngáo
Vương Hồng Sển nâng bi.
Vũ Hoàng Chương xộ khám
Doãn Quốc Sĩ đi tì
Mai Thảo đi trốn
Bình Nguyên Lộc cu ki
Nguyễn Mạnh Côn chết khát
Hồ Hữu Tường chết phì
Á Nam chết xà bát
Hiếu Chân chết ngạt
Dê Húc chết đen sì
Chu Tử xuống biển
Bùi Giáng giả điên
Mộng Tuyết lộn mặt.
Lãng Nhân nằm yên.
Sài Gòn văn sĩ, báo sĩ
1.001 anh tiến tùng
10 anh chạy qua biển
90 anh lỗ tai lùng bùng
Anh nào cũng han rỉ
Tồn lao với tồn lung.

Buồn uống rượu bên hoa
Mấy chén, say ngà ngà.
Sì-nẹc vì hoa nói:
- Không nở cho ông già.

Chỉ già mới yêu hoa
Trẻ nó uống săm-pa
Trẻ nó nhẩy rum-ba
Trẻ nó chơi người trẻ
Trẻ nó không chơi hoa.
Chơi hoa chỉ ông già.
Không vì ông già nở!
Hoa nở cho chó à?

Cứ bốc nhằng nhau: Việt Suýp-pe
Ai chê hèn, dzốt, chẳng thèm nghe.
Ông kéo xe, cháu đạp xe
Bốn ngàn văn hiến lộn mè thế thôi.

* Kéo xe tiến lên đạp xe
Bốn ngàn văn hiến bổn lè.. xé keo!

* Nguyễn Du: Thôi..

Thôi..! Khổ lắm..
Chúng mày đừng khóc tao nữa
Ðể tao khóc chúng mày.
Ðời tao, tao cũng tù đày
Tao tù có một trăm ngày mà thôi.
Chúng mày tù rạc cả đời
Ðoạn trường trọn kiếp, triệu lời thất thanh
Tao buồn tao có Tiểu Thanh,
Chúng mày Cộng Sản nó hành chết thôi.

Cuộc sống, dzòng đời trôi chẩy mãi
Ba mươi năm lẻ, một lòng đau.
Mất nhau từ cuộc tang thương ấy,
Anh vẫn buồn, anh vẫn nhớ nhau.
Ðộc tại Kỳ Hoa vi nạn khách
Mỗi phùng Thu tiết, bội thương sầu.

Anh ở Kỳ Hoa làm khách nạn
Mỗi năm Thu đến lại thương sầu.
Thương về đâu, nhớ về đâu?
Hà Ðông Công Tử bạc đầu Rừng Phong.

* Trời không mưa, anh lậy trời mưa!
Sau 75, Thơ vẫn thế ưa?
Ấy  nước, ấy dân là thế thế
Mà Thơ, mà Thẩn cứ bưa bưa.
Trời mưa, nước lụt lên ngang vế
Lậy trời mưa, anh cứ  lậy trời mưa.
Quê hương thê thảm thương hòa lệ
Tôi và Em và Mẹ cù cưa.

Cuối thu mưa nát lòng dâu bể,
Ngày muộn tim đau kiếp sống thừa.
Kỳ Hoa Ðất Trích sầu vô kể,
Liêu lạc Rừng Phong nhớ nước xưa.

Thơ không cần lời giải thích, tức “phụ đề Việt ngữ, không cần “lời bàn Mao Tôn Cương.” Ðó là Thơ Hay, Thơ Dzở thì cần có lời viết thêm cho chắc ăn. Vậy xin viết thêm:

Ca-ti-nát : Catinat. Tư Dzô : Tự Do.

Ðơ xăng ca-răng mi-nuýt: Deux cents quarante minutes: Hai trăm bốn mươi phút.

Săng-phú: Tiếng Tây Bồi xưa, từ tiếng s’en foute: bất cần, bất kể, của người Pháp.

Công-tỉ-năng-tal: Khách sạn Continental.

Ca-ra-veo: Khách sạn Caravelle.

Phải chăng từ độ  ấy quan san: Thơ Thi bá Vũ Hoàng Chương.

Phú lỉnh : lỉnh đi chỗ khác.

Bốn đời Vua mất ghế: Một nhà thơ triều Nguyễn than ông thấy 4 đời Vua bị người Pháp hạ bệ, hai vua bị đi đầy biệt xứ. Tôi sống trong 5 chế độ Tây, Việt Minh, Tây, Quốc Gia, Cộng sản.

Sau 1975, ông Vũ Bằng ngơ ngáo. Năm 1954 ông phú lỉnh vào Sài Gòn một mình, bỏ vợ con ông lại Hà Nội. Chuyện ông Vũ Bằng là “tình báo viên” do bọn Bắc Cộng cho dzô Sài Gòn hoạt động là chuyện bịa. Nếu ông Vũ Bằng là nhân viên tình báo VC, Cục Tình Báo Bắc Cộng đã tổ chức đưa cả vợ con ông dzô Sài Gòn với ông. Tưởng là chỉ sau hai năm là có chuyện hiệp thương, sẽ gặp lại vợ con, nên ông Vũ Bằng để vợ con ông ở lại Hà Nội giữ nhà, một mình ông vào Sài Gòn làm việc lấy tiền trả nợ. Không ngờ hai năm không có hiệp thương, bị kẹt, ông Vũ Bằng phải lấy bà vợ người Nam, cho ra đời một lô con. Vì vậy, trong những bài viết của ông Vũ ở Sài Gòn, ngoài những chuyện thương nhớ quê hương miền Bắc, với hy vọng lấy điểm may ra vợ con ông ở Hà Nội được đỡ khổ, ông thường xa gần đả kích Mỹ gây chiến tranh ở Việt Nam, kín và khéo bầy tỏ lòng oán hậnMỹ đánh bom Hà Nội, phá nát khu cô đầu cũ Khâm Thiên ..vv.. Nhưng ông không phải là tình báo viên, tình báo hòn do Cộng sản gửi vào Sài Gòn. Sau 1975 ông ngơ ngáo như 4 triệu người dân Sài Gòn khốn khổ, khốn nạn sống cùng thời với ông. Cũng như mọi người Sài Gòn, ông và vợ con ông đói dzài, đói dzẹt. Một anh con ông tên là Vũ Lăng, từ Hà Nội vào Khánh Hội, Sài Gòn tìm ông, anh này cãi lộn tùm lum với bà vợ sau của ông làm ông chán quá cỡ thợ mộc.

Những năm 1970 sống bình yên giữa lòng thành phố Sài Gòn, ông Vũ Bằng viết chuyện ông thương nhớ đất Bắc Kỳ trong tác phẩm “Thương Nhớ Mười Hai.” Ông nhớ thương đất Bắc ngày xưa ra rít. Nhưng khi bọn Bắc Cộng Lính Cái Ðít To hơn cái Thúng, ngơ ngáo kéo vào Sài Gòn, không một lần ông Vũ Bằng về thăm lại Hà Nội. Ông chết ở Khánh Hội. Thân xác ông nằm ở một nghĩa trang quanh Sài Gòn. Ðến năm 2000 bọn Bắc Cộng kể chuyện “Nhà Văn Vũ Bằng là nhân viên Cục Tình Báo Bắc Cộng được đưa vào Nam hoạt động tình báo.” Chuyện bậy bạ, em nhỏ lên ba nghe cũng phải chửi. Bọn Bắc Cộng chuyên môn Nhận Vơ.

Ông Vương Hồng Sển nâng bi Boóc Hồ. Trong “Hơn Nửa Ðời Hư, ông Vương viết về Sài Gòn: “Thành phố mang tên Bác kính trọng.”

Ông Á Nam Trần tuấn Khải làm thơ tự vịnh năm 1975 ông 80 tuổi, trong có câu đại ý nhờ Boóc Hồ dzô Sài Gòn, ông được tái sinh: “80 tuổi ông mới lên một tuổi.”

Ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong Nhà Tù Chí Hòa. Ông bị cao huyết áp. Phòng tù Chí Hòa nhốt đông người, lao nhao, ồn ào từ 6 giờ sáng đến 11 giờ đêm, nhiều ông tù chịu không nổi sự căng thẳng thần kinh, thường ngất đi rồi chết vào lúc 10, 11 giờ đêm.

Ông Dương Hùng Cường, bút danh Dê Húc Càn, chết ban đêm trong xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, thi thể ông nhiều chỗ nám đen. Bọn Cai Tù đưa xác ông từ Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu về Nhà Xác Nhà Tù Chí Hoà. Bọn gọi là pháp y của Sở Công An Thành Hồ đến nhà xác mổ xẻ nát bấy xác ông tù họ Dương. Xong chúng khâm liệm xác ông, cho vào áo quan, gọi vợ con ông đến nhìn mặt ông lần cuối, chúng đưa ông lên chôn ở một nghiã trang trên Lái Thiêu.

Ông Nguyễn Mạnh Côn tuyệt thực ở Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc, bọn Cai Tù không cho ông uống nước đến chết.

Ông Hồ Hữu Tường tù khổ sai ở Trại Tù Hàm Tân, người ông bị phù lúc ông chết.

Ông Chu Tử trúng đạn thù bắn theo trên tầu Việt Nam Thương Tín trên đường ra biển ngày 29 Tháng Tư 1975. Ông được thủy táng, tức người ta cho xác ông xuống biển.

Trước 1975 bà Mộng Tuyết mời ông bà Vũ Hoàng Chương về ngụ trong tòa nhà ông Ðông Hồ để lại ở khu Lăng Cha Cả, Sài Gòn. Hai tháng sau Tháng Tư 1975, bà Mộng Tuyết đuổi ông bà Vũ Hoàng Chương ra khỏi nhà. Ông bà Thi Bá lếch thếch dắt nhau sang Quận Tư, Khánh Hội, nhờ bà Ðinh Hùng mướn cho căn gác, Thi Bá “về ngôi” trong hiu quạnh ở căn gác đó sau khi đi tù về được bẩy ngày. Bà Mộng Tuyết mời Huy Cận, Xuân Diệu, Chế lan Viên đến nhà chiêu đãi. Không chắc bọn Huy Cận, Xuân Diệu đã đến nhà bà.

Thi bá Vũ Hoàng Chương bị bắt tháng Ba 1975, 7 tháng sau được thả, về nhà được sáu, bẩy hôm Thi bá qua đời. Thi bá cũng bị bọn Cộng nó giam tù nhưng ông vẫn được chết ở ngoài tù, chết bên bà vợ hiền của ông. Các ông Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hồ hữu Tuồng, Dương Hùng Cường chết thảm trong tù.

Thi sĩ Nguyễn Du có lần bị chính quyền Tây Sơn bắt tù, không rõ vì chuyện gì. Ông để lại bài Thơ Tù trong nói ông bị tù “thập tuần, tức 100 ngày. Thập tuần lao ngục tử sinh tâm.

Ẩm tửu khán mẫu đơn. Thơ Lưu Vũ Tích

Kim nhật hoa tiền ẩm
Cam tâm túy sổ bôi.
Ðản sầu hoa hữu ngữ:
- Bất vị lão nhân khai.

Hôm nay uống rượu bên hoa.
Vài chén đã say.
Buồn vì nếu hoa biết nói, hoa sẽ nói:
– Không nở vì ông già!

About these ads

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 132 other followers

%d bloggers like this: