NGƯỜI EM GÁI NGÀY XƯA

Vũ Nữ Sài Gòn là tiểu thuyết phóng sự đầu tay của tôi, tôi viết Vũ Nữ Sài Gòn năm 1956, đăng trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong Số 1. Gọi là “phóng sự tiểu thuyết, tiểu thuyết phóng sự” cho khác lạ. Thật ra đây chỉ là những truyện ngắn mà nữ nhân vật trong truyện là những cô làm nghề gái nhẩy ở Sài Gòn. 8/10 tình tiết của  truyện do tôi tưởng tượng. Vũ Nữ Sài Gòn đăng xong trên Văn Nghệ Tiền Phong, năm 1957 tôi xuất bản thành sách. Vũ Nữ Sài Gòn là tác phẩm xuất bản thứ nhất của tôi.

headDòng thời gian dài một ánh bay. Năm 1974 tôi còn khoảng 10 quyển Vũ Nữ Sài Gòn trong tủ sách. Sau Tháng Tư 1975 tôi không còn quyển Vũ Nữ Sài Gòn nào. Nhiều tiểu thuyết của tôi được in lại ở Hoa Kỳ; sang Hoa Kỳ, tôi có lại gần tất cả những sách của tôi đã xuất bản ở Sài Gòn trước năm 1975. Vũ Nữ Sài Gòn không ở trong số sách được in lại ấy.  Một người bạn tôi thấy một bản Vũ Nữ Sài Gòn trong một Thư Viện ở Úc, anh mượn sách làm phocopy cho tôi. Nhờ anh tôi có dịp đọc lại một số bài tôi viết năm 1956, năm tôi 24 tuổi, những truyện ngắn đầu tiên của tôi. Và nhờ anh bạn hôm nay tôi được ngồi gõ máy ghi lại truyện ngắn này.

Vũ Nữ Sài Gòn. Người em gái ngày xưa.

Người ta sinh ra ở đời, nhất là những người nghệ sĩ, hình như là để mà nhớ, để mà thương. Những thương nhớ vẩn vơ thường làm buồn hiện tại, làm mờ ám tương lai; nhưng biết làm thế nào, khi quá khứ dù buồn thảm đến mấy nhưng nhìn qua màn sương hư ảo của thời gian, vẫn đẹp, vẫn huy hoàng như những giấc mộng vàng không bao giờ còn mơ lại được.

Tôi nhớ  buổi chiều mùa thu mây trắng bay đầy trời sơn cước, con đường nhỏ phủ lá vàng dẫn tôi qua đồi thông, rồi qua một cánh đồng đầy lúa chín vàng rào rạt trong gió, đưa tôi đến nhà Nàng: căn nhà gỗ xinh xinh nằm bên kia sườn đồi, bên bờ dòng suối nhỏ nước chẩy róc rách không lúc nào ngừng. Cách nhà nàng mười cây số là Thái Nguyên, cái thị xã tan tành của những ngày hoang loạn trên núi rừng Việt Bắc. Thị xã Thái Nguyên như thị xã Hà Đông bị Việt Minh ra lệnh “tiêu thổ kháng chiến,” bao nhiêu nhà trong thị xã bị phá nóc, đập tường, cả thành phố trở thành một đống gạch vụn, đổ nát.

Sáu tháng trời ngày ngày đi không nghỉ trong cái vùng mất chân trời ấy, ba mặt bao quanh bởi những ngọn núi cao xanh ngắt một mầu: từ Lạng Sơn sang Bắc Kạn, về Phú Thọ, xuống Vĩnh Yên rồi trở lại Đại Từ. Một sáng tôi đeo ba-lô theo Nghĩa về thăm gia đình. Gia đình Nghĩa, không phải gia đình tôi. Tôi nghĩ rằng gia đình người bạn trẻ thân thiết của tôi trong những ngày đi kháng chiến làm liên lạc viên ấy cũng đem lại cho tôi vài niềm an ủi.

Trong nhửng ngày hoa niên sống xa gia đình, thiếu đủ thứ, chúng tôi cảm thấy thiếu nhất là tình thương của bà mẹ chúng tôi. Bà mẹ của Nghĩa sống với người con trai cả và cô con gái nhỏ ở một khu chợ kháng chiến gần thị xã Thái Nguyên. Anh của Nghĩa mở một tiệm bán thuốc Tây và chích thuốc ngay tại chợ. Trước kia anh là y tá trong Nhà Thương Phủ Doãn. Bà mẹ Nghĩa lo cơm nước, em gái Nghĩa phụ giúp ông anh bán thuốc. Tôi được biết anh của Nghĩa đã có vợ, cô vợ trẻ của anh chạy lạc trong đêm Hà  Nà nội “bùng nổ” chiến tranh.

o O o

Một trang trong tập Vũ Nữ Sài Gòn, xuất bản năm 1957. Tranh vẽ Duy Liêm.

Một trang trong tập Vũ Nữ Sài Gòn, xuất bản năm 1957. Tranh vẽ Duy Liêm.

Tôi nhớ buổi chiều thu xưa ấy, buổi chiều thu mười năm trước trong đời tôi, buổi chiều hoa niên mọi vật mơ hồ huyền ảo như trong giấc mơ, khi Nghĩa và tôi bước lên chiếc cầu gỗ. Bên dòng suối trắng nước trong như lọc, đôi mắt to, đen láy, mở rộng chờ đón chúng tôi.

- Anh..!

Nàng ngạc nhiên khi thấy anh nàng về. Ngạc nhiên và mừng rỡ, nàng nhìn tôi với ánh mắt thân mến như ánh mắt nàng nhìn Nghĩa.

Tôi chưa bao giờ nhận biết nét xinh đẹp trên khuôn mặt những cô em các bạn tôi, cho đến ngày tôi gặp em của Nghĩa. Trên 40 cây số từ cơ quan ở Đai Từ về nhà bà mẹ của Nghĩa, tôi không nghĩ gì đến em gái của Nghĩa. Nàng xinh quá. Nàng trạc 14, 15 tuổi, nước da thiếu nữ tản cư chưa mất mầu trắng của người thành phố quen sống với đèn điện, nước máy. Nàng, người em gái hậu phương với đôi mắt đen, mái tóc thề như nàng Tiên có phép nhiệm mầu chỉ một nụ cười, một ánh mắt cũng đủ làm sáng vùng trời đông băng giá của núi rừng Việt Bắc, làm ấm trái tim của những chàng trai đi kháng chiến vẫn nhớ hình ảnh Hà Nội xa với nước Hồ Gươm xanh ngắt.

Bẩy ngày sống trong nhà bạn ở Thái Nguyên êm đềm trôi qua trong sự cô đơn của tôi. Dù có về trong gia đình bạn thân tôi vẫn thấy tôi cô đơn. Nhưng đó là những ngày cô đơn hạnh phúc nhất trong những tháng năm xa gia đình đi kháng chiến của tôi. Mối tình thầm kín và trong trắng nhất đời tôi đến với tôi trong bẩy ngày ấy.

Những ngày vui qua mau. Đến buổi sáng chia ly, Nghĩa và tôi ra đi, bà mẹ của Nghĩa khóc, em gái của Nghĩa khóc. Tôi thấy những giọt nước mắt trong như thuỷ tinh trên những gò má. Nghĩa và tôi gượng làm ra vẻ thản nhiên để ra đi. Đi như chạy trốn, chúng tôi không đủ can đảm dừng lại ở đầu con đường để nhìn mái nhà lần cuối: Nghĩa sợ nhìn thấy mái tóc bạc trắng của bà mẹ, tôi sợ nhìn thấy đôi mắt của nàng.

Rồi Nghĩa và tôi xa nhau, mỗi đứa về một ngả rừng. Nàng không quên tôi. Một ngày gần Tết, ở một bản thổ Bắc Sơn, nàng gửi đến cho tôi môt gói quà: ve thuốc trong đựng 20 viên quinine gói trong chiếc khăn mùi-soa thêu tên tôi, và lá thư. Tôi thấy hiện ra những nét chữ mềm của nàng:

“Nếu trong những cuộc hành quân anh thấy môt đám mây bay theo anh, đó là hồn Vân bay theo anh.”

Nàng có cái tên đẹp là Mộng Vân – Trần Thị Mộng Vân – làn mây đẹp trong những giấc mộng của một thiếu niên si tình đang cần tình yêu. Nàng cho hồn nàng bay theo tôi trên những con đường kháng chiến tôi đi. Còn có gì thơ mộng hơn thế?

Rồi mười năm, mười năm vật đổi, sao dời, tôi lãng quên Mộng Vân, hình ảnh nàng phai nhạt dưới lớp bụi thời gian. Một hôm ở Sài Gòn, người bạn năm xưa cùng đi kháng chiến với tôi cho tôi biết về “Người em gái Thái Nguyên” của tôi:

“Mày còn nhớ Nghĩa chứ? Gia đình nó tản cư ở Thái Nguyên. Bây giờ tao không biết nó có vào đây không, tao nghe nói em gái nó nay làm gái nhẩy ở đăng-xinh Tout Va.”

Ngày tôi gặp lại “đám mây đẹp bay theo tôi” năm xưa xẩy ra vào giữa năm 1955: Lực lượng Bình Xuyên chưa bị đẩy ra khỏi Sài Gòn, sòng bạc Kim Chung chưa bị đóng cửa. Đêm đêm đăng-xinh Tout Va trong sòng bạc Kim Chung hoạt động đến 3 giờ sáng. Khoảng 1 giờ sáng tôi vào Tout Va. Vài ông khách được bạc hay thua bạc ngồi tâm sự với mấy cô vũ nữ, vài cặp dìu nhau đi trên sàn nhẩy theo nhịp nhạc của một dàn nhạc Ba Tầu. Tôi đến hỏi một cô em ế khách ngồi ngáp vặt trong góc phòng. Cô dương cặp mắt nhìn tôi, tôi nghe như có tiếng kẽo kẹt của đôi mắt chỉ chực nằm vật xuống.

Nàng hỏi:

“Vân nào? Sạc-lốt hay Jan-nét? Ở đây có hai cô Vân.”

Tôi không biết tên mới của nàng. May sao nghe có người hỏi cô Vân, Jan-nét Vân dẫn riệu đến. Không phải Mộng Vân của tôi. Ja-nét Vân nói:

“Anh hỏi Sác-lốt Vân. Nó ngồi đằng kia. Anh lại đó là thấy nó.”

Tôi phải nhìn xem Sác-lốt Vân có phải là Mộng Vân hay không trước khi mời nàng ngồi bàn. Sự thật làm tôi đau lòng “đám mây hồng bay theo tôi trong những ngày chinh chiến “đang ngồi kia, đang si súp trước tô cháo.

Chẳng biết nàng có nhận ra tôi là người xưa hay không, nàng cười:

“Anh chịu khó ngồi uống nước. Ăn xong em ra ngay với anh.”

Nhận nhau xong, nàng kể:

“Anh Cả em chết rồi, anh Nghĩa em mất tích. Nghe người ta nói anh Nghĩa em chết khi qua đường số 5, bị Tây nó phục kích. Mẹ em đưa em theo người quen hồi cư về Hà Nội. Bây giờ mẹ em và em ở bên Khánh Hội.”

Dưới ánh đèn mờ Nàng là cô vũ nữ nhà nghề chứng 25, 26 tuổi. Làn phấn son tôi điểm không che nổi những vết giang hồ trên khuôn mặt nàng, của người thiếu nữ mười năm trước, người em gái hậu phương trong một mùa đông kháng chiến gửi cho tôi 20 viên thuốc ký-ninh, một khăn tay, một lá thư với đôi lời thơ mộng: “Hồn em sẽ là đám mây hồng bay theo anh mãi..”

Mười năm trời trong đời nàng có thể tóm tắt trong mấy giòng: Mẹ nàng và  nàng hồi cư, căn nhà nhỏ đổ nát phải bán đi lấy số vốn mua căn nhà nhỏ ở ngoại ô và mở tiệm tạp hoá kiếm sống. Mẹ con chẳng biết buôn bán là gì nên càng ngày càng nghèo sơ sác. Cô con dâu năm xưa đi lạc tìm đến giúp mẹ chồng, em chồng. Chị là gái nhẩy ở Hà Nội. Chị đưa cô em chồng vào nghề.”

Nàng thở dài:

“Biết làm thế nào hở anh? Nếu mẹ con em còn anh Cả em, còn anh Nghĩa, chắc em không làm nghề này.”

Rồi có lẽ vì thấy bản mặt tôi còn buồn hơn cõi lòng buồn vô tận của nàng, nàng gượng vui:

“Thôi, quên chuyện cũ đi anh. Mình gặp lại nhau là mừng rồi. Anh đi với em bản Tango này cho anh tiêu sầu, cho em tiêu.. cháo.”

Lúc ấy một nhạc công chỉ mới xách cây kèn lên nàng đã biết ban nhạc sắp chơi nhịp Tango, mà quả nhiên là Tango thật. Tôi dìu “đám mây suốt đời bay theo tôi” đi trong tiếng nhạc, lòng buồn như kẻ sắp ngã lăn ra vì nhớ, vì thương.

Nàng trìu mến nhìn mặt tôi. Trong đôi mắt còn trong, còn đen, còn đẹp ấy tôi nhìn thấy những ý tình thương yêu còn sót lại từ những năm xưa của ngườii thiếu nữ một chiều thu trìu mến nhìn tôi bên suối.

“Tết năm ấy em có gửi cho anh cái thư.”

Mặt chúng tôi sát gần nhau. Qua hơi thở của nàng có mùi cháo gà, mùi hành chưa bay hết. Tôi trả lời nàng là mười năm trước tôi nhận được quà và thư của nàng: “20 viên ký-ninh, một khăn tay và một lá thư hồng.”

Tôi không dám cho nàng biết tôi còn nhớ những nết chữ tròn, mềm của nàng: “Nếu trong những cuộc hành quân anh thấy một đám mây bay theo anh thì đó là hồn Vân bay theo anh..”

Tôi cũng không nói cho nàng biết đám mây xưa ấy nay đã thành mưa làm ướt trái tim tôi trong đêm tôi gặp lại nàng.

o O o

10 giờ đêm 14 Tháng 11, 2013 khi tôi chép lại xong truyện ngắn trên đây, truyện ngắn tôi viết gần 60 năm xưa, năm tôi còn rất trẻ.

Tôi ngừng viết vài phút, tôi thả hồn tôi trở về dĩ vãng. Năm 1947 tôi làm liên lạc viên của Ban Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm – Ban Tình Báo phụ trách do thám phi trường Gia Lâm, phi trường quân sự lớn nhất Bắc Việt trong chiến tranh Việt Pháp – Chiến tranh nổ ra, gia đình tôi từ Hà Đông tản cư về làng quê tôi: làng Linh Quy, làng nằm giữa Đường Số 5 và sông Đuống. Những tháng đầu năm 1946 tôi ở trong ban Kịch Thiếu Nhi của Phủ Gia Lâm. Ban Kịch chúng tôi loe hoe 5 tên con trai trạc tuổi tôi – 13, 14 tuổi – Khi ban Kịch tan, tôi gặp các anh Tình Báo ngụ trong nhà bác tôi. Anh Tường Lan là Trưởng Ban. Tôi mến anh, tôi thường đi theo anh trong những chuyến anh đi công tác trong vùng. Một đêm anh Tường Lan qua sông Đuống về tổng đàn của anh ở Yên Phong, Bắc Ninh. Anh cho tôi đi theo anh. Tôi làm cái việc ngôn ngữ thời đó gọi là “thoát ly gia đình,” tôi bỏ nhà đi mà không nói cho mẹ tôi biết. Một lý do tôi không nói là tôi sợ mẹ tôi không cho tôi đi.

Tổng đàn của Ban Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm ở trong một làng tôi quên tên. Làng dường như là làng Núi vì ở sườn một trái núi đá nhỏ. Đầu làng có chợ tên là Chợ Núi. Tôi thành liên lạc viên của Ban từ đó. Lương tháng của tôi là 120 đồng, tiền ăn trong cơ quan một tháng là 50 đồng, đi công tác không ăn ở nhà bữa nào không phải trả tiền bữa đó.

Về Chợ Núi được mấy tháng thì anh Tường Lan chuyển công tác. Tôi nghe nói anh đi làm Trưởng Ban Tình Báo Đặc Biệt Lạng Sơn. Năm sau tôi được tin anh qua đời vì bệnh ở Lạng Sơn. Anh Tường Lan là người tôi mến nhất trong bốn năm tôi làm liên lạc viên qua những tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên. Tôi sống khoảng sáu tháng trong thành Cổ Loa.

Anh Trưởng Ban thay thế anh Tường Lan là anh Hồng Dân. Một hôm anh gọi tôi đến bàn anh, đưa cho tôi bức thư mẹ tôi viết cho tôi. Tôi đọc thấy mẹ tôi viết:

“Mẹ không có con như cái cây không có nước. Cây không có nước không thể sống được..”

Vừa đọc đến câu ấy tôi ngừng đọc. Linh tính cho tôi biết nếu đọc hết thư tôi sẽ về với mẹ tôi. Ở góc nhà có cây đèn dầu tây bên cái điếu bát thuốc lào, tôi đem thư đến đấy châm lửa đốt.

Anh Hồng Dân nhìn thấy tôi đốt lá thư.

Sau đó anh bảo tôi:

“Anh đọc thư của mẹ em gửi em. Anh biết em đọc thư đó em sẽ về nhà. Nhưng là thư của mẹ em gửi em, anh phải đưa cho em. Khi anh thấy em đốt thư, anh biết là em có thể đi với bọn anh.”

Anh Hồng Dân mến tôi. Một sáng anh bảo tôi:

“Có khoá huấn luyện ở Việt Bắc, anh gửi em đi học..”

Tôi mừng hết lớn. Nếu tôi khôn, tôi xin anh cho tôi cái màn, có thể anh cho tôi, nhưng vì quá mừng trước việc được lên Việt Bắc, tôi không xin gì cả. Tôi lên Việt Bắc học 8 tháng mà không có màn. May mắn tôi được ngủ chung màn với ông anh kết nghĩa trong trường.

Bí mật cá nhân được giữ kín tuyệt đối. Học viên không cho ai biết tên bí danh của mình, cơ quan mình. Buổi học thứ nhất tất cả xếp hàng ngoài sân. Tôi nhỏ tuổi nhất, thấp nhất, đứng hàng đầu, sau tôi là mấy chị, tôi số Một nên được gọi là chú Một, rồi chị Hai, chị Ba, đến những anh Mười Ba, anh Hai Mươi..vv.. Gọi tên bằng số như thế rồi quen đi.

Khi ở trường, tôi đã xa gia đình hai năm. Tôi nhớ mẹ tôi, tôi nhớ các em tôi mà tôi không biết. Có anh, có chị mến tôi, thấy tôi ngồi buồn, hỏi tôi:

“Sao em buồn thế..?”

Tôi không biết là tôi nhớ nhà.

Trường Huấn Luyện ở Đại Từ. “Những người lử khử, lừ khừ. Chẳng ở Đại Từ thì ở Võ Nhai..” Đại Từ nổi tiếng nước độc, tôi mang bệnh sốt rét từ Đại Từ vào tận Sài Gòn mới chữa dứt bệnh.

Liên Khu 1 tổ chức Đại Hội Tập. Khoá sinh chúng tôi được về thị xã Thái Nguyên dự Đại Hội Tập. Đi bộ từ sáng đến chiều mới đến thị xã Thái Nguyên. Đại Hội được mở ở một vùng quê bên ngoài thành phố. Phi cơ Spitfire của Pháp bay đến bắn phá, làm chết hai con bò. Quân dân – trong có tôi – được dịp ăn Phở. Khi có phi cơ Pháp đến, vọng canh trên núi đánh kẻng báo động, dân chúng kéo lên những đồi thông quanh thị xã. Một lần lên đồi tôi thấy một gia đình ngồi dưới rặng thông. Gia đình người thành phố tản cư. Ông bố, bà mẹ trạc tuổi bố mẹ tôi, ba, bốn em trai, em gái trạc tuổi các em tôi. Tôi nhìn gia đình đó mà nhớ mẹ tôi, nhớ các em tôi quá đỗi.

Thị xã Thái Nguyên thời đó có món “trứng đường”: tròng đỏ hột gà – hai tròng – cho vào cốc với đường cát, dùng thìa quấy lên thành một thứ như kem. Chợ họp đêm trong thị xã. Những thiếu nữ tản cư áo nâu cổ vuông, tóc thế – tóc xoã ngang vai – quần đen, bán hàng trong chợ giữa những ngọn đèn dầu tây.

Đoàn Văn Công Sao Vàng trình diễn hai đêm trong Đại Hội. Có máy điện chạy bằng xăng. Sân khấu có đèn điện. Những nàng văn công 18, 19 tuổi làm tôi đứng tim. Trở về trường cả tháng sau tôi còn mơ thấy cảnh đêm văn nghệ.

Mười năm sau, chưa đến mười năm, tôi lên Việt Bắc năm 1949, ở Sài Gòn, năm 1956, nhớ kỷ niệm Việt Bắc, Cầu Treo Đại Từ, Đồi thông thị xã Thái Nguyên, Đêm Văn Nghệ Đèn Điện, những thiếu nữ áo cánh nâu cổ áo vuông ở thị xã Thái Nguyên, tôi viết truyện “Người Em Gái Ngày Xưa.”

Trải qua một cuộc biển dâu
Những lời nghe thấy làm đau đớn lòng.

Từ năm 2000, ở Việt Nam, người ta gọi gái điếm là “ca ve.”

About these ads

6 Responses

  1. […] – NGƯỜI EM GÁI NGÀY XƯA (Hoàng Hải Thủy). […]

  2. […] hỏn ngoe nguẩy đuôi (Nguyễn Hoa Lư). – AI MUA THƠ TA BÁN THƠ CHO… (Ngô Minh). – NGƯỜI EM GÁI NGÀY XƯA (Hoàng Hải Thủy). – GIA LAI CÀ KÊ 4 (Văn Công Hùng). – NHỮNG VIÊN SỎI […]

  3. […] – NGƯỜI EM GÁI NGÀY XƯA (Hoàng Hải Thủy). […]

    • Anh Thuỷ ơi,
      Làng có chợ núi là làng Yên Phụ, thuộc tỉnh Bắc Ninh, gần những làng Vân Điềm, Quan đ2nh, Quan độ…
      Lục, Florida

      • Than gui Luc. Cam on Em. Dung lang Yen Phu. Toi quen nhung em nhac dung la toi nho ngay. O vung nay hoi ay co hai cho: Cho Nui, Cho Me hay la Cho Cho nua. Waitng Market. Em o vung do u? HHT

  4. Giá như đùng có chiến tranh? Đọc xong buồn.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 127 other followers

%d bloggers like this: