FBI và Gián Ðiệp VC

Trong nhiều năm tôi thấy trên Tuần báo “Ngày Mới-Phụ Nữ Mới” phát hành ở Virginia đăng Thông Cáo FBI:

FBI KÊU GỌI CỘNG ÐỒNG VIỆT HỢP TÁC

U.S. DEPARTEMENT OF JUSTICE FEDERAL BUREAU OF INVESTIGATION

THÔNG BÁO

Cơ quan an ninh Liên Bang (FBI) kêu gọi người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản tại Hoa Kỳ hãy tích cực giúp đỡ chính quyền trong công tác bảo vệ an ninh.

Kính thưa quí vị,

Trong những công việc và hoạt động của cơ quan FBI triệt để thi hành bảo vệ luật pháp Hoa Kỳ, công tác phản gián là một nhiệm vụ rất quan trọng. Trong thời gian qua, cơ quan FBI đã thành công với sự giúp đỡ của cộng đồng người Việt tị nạn Cộng sản tại Hoa Kỳ. Nay, trước sự gia tăng số người Việt Nam đến định cư  tại Hoa Ky, chúng tôi nghĩ rằng những hoạt động của cơ quan tình báo, gián điệp Cộng Sản Việt Nam cũng len lỏi gài cán bộ hoạt động gây rối và phá hoại an ninh trong cộng đồng người  Việt Nam tị nạn Cộng sản tại Hoa Kỳ. Ðể ngăn cản sự phát triển của những phần tử xấu này, Cơ quan FBI một lần nữa kêu gọi sự tích cực của người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản đã và đang có mọi liên quan đến sự giao dịch với chính quyền Cộng sản Việt Nam, biết rõ về sự hoạt động của những cán bộ Cộng sản nằm vùng, hoặc những người đã được chính quyền Cộng sản Việt Nam yêu cầu, khuyến dụ, dọa nạt, cưỡng bách, chỉ thị.. để thi hành bất cứ công tác nào trong lãnh thổ Hoa Kỳ, nay đã không còn tin tưởng và bất mãn với chế độ Cộng sản Việt Nam. Nấu quý vị muốn giúp đỡ chính quyền Hoa Kỳ và đồng bào Việt Nam hải ngoại tiêu diệt sự hoạt động hăm dọa và lộng hành ..của giới cán bộ tình báo Cộng sản Việt Nam nằm vùng tại Hoa Kỳ. Xin quý vị liên lạc với chúng tôi.

Những ai liên laic với cơ quan FBI để cung cấp tin tức, tài liệu liên quan đến những hoạt động tình báo của Cộng sản Việt Nam, tất cả sẽ được giữ kín và bảo mật danh tánh.

Những ai nói tiếng Việt và ở ngoài vùng Vịnh San Frncisco xin gọi điện thoại đến cơ quan FBI số : 1-510-451-9782 xin gặp FBI Agent (T. Nguyen) hoặc có thể viết thư cho chúng tôi bằng Anh ngữ hay Việt ngữ về địa chỉ :

To: FBI (Field Office)

180 Grand Ave. Suitr 1100

Oakland, CA 94162

Quý vị cũng có thể tìm số điện thoại của cơ quan FBI trong quyển niên giám điện thoại nơi bạn cư ngụ.

Hết Thông Cáo.

CTHÐ: Tuần báo Ngày Mới-Phụ Nữ Mới đăng Thông Cáo FBI trên đây dài dài đến nay đã 5 năm. Bản Thông Cáo FBI quí vị vưà đọc được đăng trong báo NM-PNM số ra tuần này – 14/12/2012. Thông Cáo này không có ngày tháng. Theo tôi, Thông Cáo này là Thông Cáo FBI thật, nhưng nó  chỉ có giá trị vào những năm 1980. Từ năm 2000 chính phủ Hoa Kỳ bỏ Cấm Vận Bắc Cộng, thi hành chính sách sống chung hòa bình với bọn Tầu Cộng, Việt Cộng – Tổng Thống Ðảng nào cũng theo chính sách hòa hoãn ấy, in hệt, trước là hoà với Cộng Tầu, sau là hòa với Cộng Việt – chính phủ Hoa Kỳ mời bọn Ðầu Xỏ Cộng Tầu, Ðầu Xỏ Cộng Việt đến thủ đô Washington D.C, đãi bọn Cộng như thượng khách, quốc khách. Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ mời bọn Tướng Tầu đến Pentagon, trình bầy cho chúng thấy nếu có chiến tranh xẩy ra Hoa Kỳ sẽ đánh như thế nào, sẽ dùng những võ khí gì. Bọn Cộng Tầu, Cộng Việt công khai đến Mỹ, phây phây như chúng đi chợ. Khi những việc như thế đã xẩy ra, FBI còn ra Thông Cáo kêu gọi người Việt cộng tác bắt bọn gián điệp Việt Cộng hành sự trên đất Hoa Kỳ làm chi nữa?

Năm 2010, chính phủ Mỹ chính thức mời tên Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Bộ Công An Việt Cộng, đến Washington coi chơi những cái gọi là bí mật quốc phòng của Mỹ. Cấp bậc của Lê Hồng Anh là “Ðại Tướng.” Trên Internet có nhiều bài kể tông tích và tài năng của “Ðại Tướng Cảnh Sát Lê Hồng Anh.” Toàn là những bài viết của những người trong nước. Lê Hồng Anh bị người trong nước chê là ngu, đần, vô học. Mời quí vị đọc một bài viết nhẹ nhất về nhân vật Lê Hồng Anh.

VUA HỀ LÊ HỒNG ANH

Ðại Tướng Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Bộ Công An Bắc Cộng.

Ðại Tướng Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Bộ Công An Bắc Cộng.

Vài tuần nay có thể nói chức “Vua Hề” nằm trong tay Chủ tịch nước VNCS Nguyễn Minh Triết với câu pha trò nổi tiếng:

“Có người ví von: Việt Nam Cuba như là được trời đất sinh ra. Một anh ở phía Ðông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hoà bình thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ.”

Nay thì vị Bộ trưởng Công an Lê Hồng Anh đã cướp cái chức Vua Hề này cách ngoạn mục chưa từng có. Việc đó đã xảy ra trong cuộc trao đổi với báo giới chiều ngày 4 tháng 11 bên lề kỳ họp quốc hội.

Hãy xem phóng viên Vietnamnet đã ghi được gì trong cuộc trao đổi đó.

Trước hết, người đọc ngay từ phút đầu đã phải cười đứt ruột khi ngài Lê Hồng Anh nói việc điều tra vụ PCI của công an ta là “CHẬM mà CHẮC”. Hẳn rồi, nhìn cái bộ mặt của Ngài Bộ trưởng là thấy ngay. Bộ mặt Ngài to và dày như một cái thớt lim, mặt Ðại Tướng Bộ Trưởng vừa có dáng vẻ của một cái mặt… heo (!) vừa giống mặt của một anh đồ tể hạng Một. Mặt cỡ đó thì có bắn đại bác vô cũng hổng suy suyển. Hèn chi mà từ khi phía Nhật cung cấp chứng cứ viên chức cao cấp Việt đòi tiền hối lộ tới giờ Ngài Bộ trưởng ta và các chiến sĩ công an chuyên chánh vô sản vẫn “bình chân như vại”, đâu có vội vã hấp tấp như mấy anh ở cái xứ mặt trời mọc  nôn nóng ấy! Chắc Bộ trưởng sẽ ‘ngâm’ vụ án hối lộ này lâu kỷ lục, để cả thế giới phải kính nể “Cái CHẮC made in VN”!

Kế đến, Ngài Lê Hồng Anh cho biết tốc độ và cường độ làm việc của các cơ quan dịch thuật ở Bộ Công an siêu đẳng ra sao. Không đầy hai năm trời mà toàn bộ lực lượng dịch thuật hùng hậu của cả cái Bộ đó đã dịch xong những gần 4000 trang tài liệu! Nếu là nước khác (như Mỹ chẳng hạn) mà  làm việc CHẮC như ta thì có lẽ người cả nước đổ xô vào cùng dịch cũng phải mất chừng thế kỷ ?

Thứ ba, ngài Bộ trưởng cho biết: dù những chứng cứ viên chức ta ăn hối lộ do phía nước ngoài cung cấp có xác thực mấy thì ta cũng chưa chắc đã xử, vì “mới là lần đầu tiên, chưa có tiền lệ, phải coi lại luật pháp của mình như thế nào”. Cho nên quý vị đừng có mà nổi cơn hâm, đòi xử vụ ăn hối lộ này bằng đượ! Quan chức của ta ăn cắp mà chứng cớ do nước khác cung cấp thì không phải là ăn cắp đâu nghen! Theo luật pháp của ta không chừng đó là việc tốt cần tuyên dương đó! (Cứ  xem vụ Vedan thì rõ!)

Rất hài hước mà cũng rất khiêm tốn, Ngài Bộ trưởng không tự ý kết luận đúng sai. Còn phải ‘ngửi’ ý kiến của mấy ông bên Viện Kiểm sát với bên Toà án, khởi tố kẻ có tội mà mấy ông Kiểm sát, Tòa án không ưng thìBộ trưởng công an bẽ mặt.

Vua Hề Lê Hồng Anh cũng không quên động viên mấy anh Nhật Bổn tuy nóng vội hơn phía ta nhiều nhiều nhưng các chứng cứ buộc tội của họ — người Nhật — cũng “CÓ CƠ SỞ”.

Về vụ Securency hối lộ ông Lương Ngọc Anh và cha con ông Lê Ðức Thuý, Vua Hề Lê Hồng Anh cũng diễn hài na ná như rứa.

Hài nhất là khi trả lời câu hỏi về việc tại sao quan chức cấp cao khi phạm tội tham nhũng được xử án rất nhẹ, Vua Hề Công An trả lời:

“… Cán bộ cấp càng cao, nói gì thì nói, dù sao tư tưởng cũng đỡ lệch lạc hơn cấp dưới. Cũng như trong gia đình, người cha, người mẹ cũng chững chạc hơn con cái.”

Noi gương hài hước của Vua Hề, tôi xin diễn giải rõ hơn:

“Cán bộ cấp cao thì tuy cũng thối nát lắm, nhưng dù gì thì cũng cứ đỡ thối nát hơn, đớp hít kín đáo hơn cấp dưới. Cũng như trong một gia đình vô phúc, dù sao thì cha mẹ cũng giỏi làm ra vẻ chững chạc hơn bọn con chút chút!”

Ðúng là Vua Hề Lê Hồng Anh (phát âm chuẩn là Lê Hòng Ăn) đã cho dân chúng một phen được cười nứt họng. Những câu phát ngôn của Ngài thì dù ai có thông thái mấy cũng không bao giờ nghĩ ra được.

Bởi nó vượt mọi tầng mức của… sự ngu xuẩn,đểu cáng và trơ trẽn!

06.11.2009

TRẦN NAM CHẤN

Mời quí vị đọc bài báo kể về tình trạng Cảnh Sát Giao Thông Việt Cộng đòi người dân nộp tiền hối lộ ngay tại công sở. Bài này đăng trên Tuần báo Công An Nhân Dân Bắc Cộng.

Nếu như Ðội trưởng đội Cảnh sát trật tự cơ động Q.6 (TP.HCM) “làm luật” với chủ xe tại quán nhậu, thì Ðội Cảnh sát trật tự cơ động – Công an Quận Bình Tân lại công khai hơn, ra giá với chủ xe ngay tại trụ sở công an.  Chủ xe chung tiền cho cảnh sát cũng ngay tại đồn cảnh sát.

Ðội trưởng Cảnh Sát Giao Thông Việt Cộng bắt chủ xe nộp tiền hối lộ ngay tại văn pbòng.

Ðội trưởng Cảnh Sát Giao Thông Việt Cộng bắt chủ xe nộp tiền hối lộ ngay tại văn pbòng.

Trong quá trình tìm hiểu nạn “làm luật” để mua đường, đi đâu, gặp tài xế nào chúng tôi cũng nghe kể vanh vách cách làm tiền trắng trợn, có tổ chức của Ðội Cảnh sát Công an Quận Bình Tân. Theo cánh tài xế, sau khi ngã giá xong mức chung chi hằng tháng, chủ xe phải đóng tiền, báo số lượng xe và biển số cho Trung tá Thiều Quang Văn, người được coi là “thủ quỹ” của Ðội Cảnh sát Công an Bình Tân.

 Anh H. là một tài xế xe mới bị hai cảnh sát bắt xe, nhưng không lập biên bản mà chỉ giữ giấy tờ. Trước khi cầm giấy tờ của tài xế phóng mô tô đi, hai cảnh sát dặn lại:

“Muốn gì thì tới đội làm việc.”

 Sáng 27.11, anh H. tới trụ sở Ðội Cảnh sát Công an Bình Tân. Vào đến phòng, thấy có 3 cảnh sát đang làm việc, H. nói:

“Hôm qua  hai anh Khoa và Mẫn giữ giấy tờ xe của em, nay em đến gặp để xin lại.”

 Mấy cảnh sát nói:

 “Muốn gặp Khoa và Mẫn thì 10 giờ mai đến đây.”

Trước đó, H. đã nghe nhiều tài xế khác nói “Thấy ai tên Chương thì  cứ đặt thẳng vấn đề”, nên H. nhìn và thấy một Trung tá ngồi ở bàn làm việc có bảng tên “Nguyễn Hoàng Chương – Phó đội trưởng đội CSTTCД. H. đặt vấn đề luôn với Trung tá Chương:

“Em có 7 chiếc xe tải chạy, nhờ anh giúp đỡ.”

 Nghe vậy, Trung tá Chương liền cho H. số điện thoại của Thiếu tá Hoàng Văn Khoa và dặn:

“Cứ điện thoại cho Khoa xưng là cháu chú Chương, nó sẽ trả lại giấy tờ.”

Khoảng 11 giờ, anh H. điện thoại cho Thiếu tá Khoa và được hẹn đến ngã tư quốc lộ 1A và Lê Trọng Tấn. Ðến nơi, Thiếu tá Khoa dẫn anh H. vào một quán nhậu và gọi mấy người bạn tới cùng nhậu với anh H. Nhậu xong, Thiếu tá Khoa trả lại anh H. giấy tờ xe và dặn:

“Ðến gặp ông Chương nhé!”.

Do bận nhiều việc nên hai ngày sau anh H. vẫn chưa lên gặp ông Chương. Sáng 28.11, Trung tá Chương điện thoại trực tiếp cho anh H. hẹn 7 giờ sáng 29.11 đến đồn  gặp ông Sáng sớm, anh H. điện thoại xin “gia hạn” thì ông Chương trách:

“Cả buổi hôm qua anh chờ mãi mà mày không tới, sáng nay mày đến đi, anh đợi ở cơ quan…”.

 Khoảng 7 giờ 30, anh H. bước vào phòng làm việc của Ðội Cảnh sát TTCÐ, lúc này bên trong đội có Trung tá Nguyễn Hoàng Chương (đội phó) và 3 cán bộ: Ðại úy Võ Minh Mẫn, Trung tá Võ Văn Lâm, Trung tá Thiều Quang Văn.

Trung tá Chương nói ngay:

 “Mày có mấy chiếc xe, ý mày muốn sao mày nói luôn đi, mày đăng ký số xe ra đây để anh em chúng tao  tính.”

Anh H. nói:

“Em có 7 chiếc xe nhưng đi vào địa bàn Bình Tân chỉ có hai chiếc thôi”.  Ðại úy Mẫn nói ngay:

“Ðăng ký 2 chiếc nhưng chiếc thứ 3 vô quận  thì sao?”

Ngồi bàn kế bên, Trung tá Lâm đưa ra phương án:

 “Thôi kệ nó, có 7 chiếc đăng ký 2 chiếc, tính 2 chiếc; còn xe ra vô, xe nào tính xe đó.”

 Ttrung tá Chương cảnh cáo:

“Có 7 xe mà chỉ đăng ký 2 xe hả. Nếu xe thứ ba vô bị phạt nặng ráng chịu.”

 Ðại úy Mẫn nói tiếp:

“Anh em đâu đó đàng hoàng, đăng ký hai chiếc ghi biển số xe, còn chiếc thứ 3 vào ráng chịu nha, anh em nói một là một hai là hai. Giờ sao, anh ghi số xe đi, tháng anh ủng hộ anh em bao nhiêu nào, nếu được thì bụp, còn không thì mình tính… cách khác.”

Anh H. nói:

“Mỗi xe năm trăm ngàn, được không ạ?

Ðại úy Mẫn nói thêm:

“Anh em nói thẳng nha, số tiền này chỉ là tiền chi cho cảnh sát trật tự thôi, còn giao thông và công chánh anh tự lo nha”.

Ngưng bài phóng sự.

CTHÐ: Tham nhũng ở Việt Nam: Không có thuốc chữa. Không phải “Hết Thuốc Chữa” mà là “Không có Thuốc Chữa.”

Mà có Thuốc, bọn Ðầu Xỏ Bắc Cộng cũng không dùng. Vì chúng nó tham nhũng, ăn cướp, ăn cắp từ Thằng Ðầu Xỏ xuống đến Thằng Tép Riu. Trong hai nước Tầu, Việt nay còn bọn đảng viên Cộng Sản cầm quyền, Tham Nhũng là Quốc Nạn, Quốc Bệnh. Tham Nhũng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà Xưa không đi đến đâu so với Tham Nhũng Xã Hội Chủ Nghiã.

Hoàng Hải Thủy Trả Lời Các Bạn

Tôi xin lỗi các vị đã gửi thư cho tôi trong bao lâu nay mà tôi chưa trả lời; từ ngày có hoanghaithuy.com tới nay, có thể đã 2 mùa thu lá bay. Xin kể vài dòng: hoanghaithuy.com có mặt ở đời là nhờ công phu cuả bạn trẻ Bắc Thần, một trong những người đọc tiểu thuyết phóng tác của tôi từ 30 năm xưa, người những năm 1991, 1992 đã nhân dịp từ Mỹ về Sài Gòn, tìm gặp tôi ở nhà tôi trong Cư Xá Tự Do, giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền, tôi cám ơn riêng bạn Bắc Thần. Không có Bắc Thần, cuộc đời không có hoanghaithuy.com.

Từ ngày có hoangaithuy.com tới nay dường như tôi chưa trả lời thư của bạn nào. Xin quí vị thứ lỗi.
 

US Embassy

Trước hết tôi phải đính chính: tôi đã kể sai khi viết “Toà Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ nay ở đường Hồng Thập Tự, Sài Gòn.” Số là năm 1994 khi vợ chồng tôi bánh xe lãng tử ÔĐiPi sang Hoa Kỳ, các con tôi không sống chung nhà với chúng tôi nên không có tên trong cái gọi Sổ Hộ Khẩu cùng với vợ chồng tôi. Luật ODP năm ấy không cho những người con không có tên trong Sổ Hộ Khẩu được sang Mỹ với cha mẹ. Vợ chồng tôi rứt áo ra đi, các con tôi ở lại Sài Gòn.

Những muà thu lá bay theo nhau qua, 8 năm sau, Thượng Nghị Sĩ John McCain đệ trình Quốc Hội Mỹ Dự Luật cho phép con những người Việt HO không sống chung nhà với cha mẹ nay được sang Hoa Kỳ đoàn tụ với cha mẹ. Dự Luật này được Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận. Bà Khúc Minh Thơ, người bảo lãnh cho vợ chồng tôi đến Virginia, làm dùm chúng tôi tất cả mọi thứ giấy tờ, thủ tục để bảo lãnh các con tôi. Sau 9 năm bị cha mẹ bỏ lại Sài Gòn, một đêm Tháng Ba 2003 các con tôi đến Washington DC. Trong một bức ảnh các con tôi chụp khi đến nơi phỏng vấn, tôi thấy các con tôi đứng trước một toà nhà không phải là Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tôi đã biết. Tôi cứ nghĩ đó là toà nhà nơi mặt sau Toà Đại Sứ Hoa Kỳ Cũ. Như thế Toà Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ phải ở đường Hồng Thập Tự. Mới đây tôi hỏi lại, các con tôi nói:

- Chúng con có nói Toà Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ nay ở đường Hồng Thập Tự đâu. Chúng con đi theo Chương Trình Tu Chính Án John McCain. Giấy tờ chứng nhận của Bố từ Mỹ gửi về, chúng con làm hồ sơ, gửi Bưu Điện đến địa chỉ ghi trong đơn xin. Chúng con được thư gọi đến phỏng vấn ở một vi-la đường Phan Đình Phùng. Người Mỹ mướn vi-la này để phỏng vấn riêng bọn đi Mỹ theo Tu Chính Án John McCain, chúng con không đến Toà Lãnh Sự Mỹ ở Sài Gòn.
 
US Embassy
 
Viết thêm: nhân viên phỏng vấn ở đây là người Việt được tuyển ở Hoa Kỳ.

Nhắc lại: tôi đã sai khi viết Toà Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ nay ở đường Hồng Thập Tự, Sài Gòn. Toà Tổng Lãnh Sư HK hiện nay là toà nhà bên phải Toà Đại Sứ Cũ.

Cám ơn các vị đã đọc hoanghaithuy.com và cho biết những chuyện viết sai, những lầm lỗi, những dzốt nát của tôi về Tiếng Tây, Tiếng U, dzốt về cả Tiếng Việt, xin quí vị bỏ qua cho tôi những chuyên tôi cao hứng phóng bút viết bừa tăng tít, những lời cợt nhả vô duyên, những hỗn xược tuy không cố ý nhưng vẫn đáng trích, những bút sa Gà không chết nhưng Gà bị chửi tắp bếp — Tôi sinh năm Quý Dậu, 1933, tuổi Gà. Đã Gà mà còn là Gà Què Ăn Quẩn Cối Xay kiêm Gà Mắc Dây Thun — trong bài này tôi trả lới một số các vị.

US EmbassyLại phải viết thêm về Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Ảnh Toà Đại Sứ Hoa Kỳ Cũ ở Ngã Từ Hàm Nghi-Võ Di Nguy, đối diện với Nhà Charterd Bank, và ảnh Toà Đại Sứ Hoa Kỳ cuối cùng ở đường Thống Nhất, Sài Gòn, làm tôi cảm khái. Tôi từng đến, từng vào trong hai Toà Đại Sứ ấy. Ảnh Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở đường Thống Nhất, Sài Gòn — Đây là Toà Đại Sứ Hoa Kỳ cuối cùng ở Sài Gòn — làm tôi nghĩ đến chuyện Thành, Trụ, Hoại, Không.

Toà Đại Sứ Hoa Kỳ được xây lên năm 1965: Thành. Nó Trụ trong 10 năm. Năm 1975 nó bắt đầu Hoại, năm 1999 nó mất tiêu: Không.

Vạn vật ở trong tình trạng Thành, Trụ, Hoại, Không. Trời, Đất, Trăng Sao.. Tất cả rồi sẽ mất hết. Có những vật Trụ được tương đối lâu như Angkor Vat, Kim Tự Tháp, Vạn Lý Trường Thành. Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn chỉ Trụ được trong có 10 năm.

Tôi xin trả lời các vị:

Muốn liên lạc với tôi qua E-mail, xin quí vị cho tôi trước E-mail của quí vị. E-mail của tôi chỉ nhận những E-mail bạn đã có trong AddressBox của tôi.

Xin gửi thư cho tôi về:

ĐỜI NAY.
Công Tử Hà Đông
P.O. Box 5061
Falls Churh. VA 22044.

* Em cháu ngoại Bà Bút Trà: Rất tiếc tôi không có một tài liệu nào về Nhật Báo SàiGònMới. Em có tấm hình nào của Bà Ngoại em, em gửi cho tôi. Mới đây trên Internet có một số hình Bà Ngô Đình Nhu và Hội Phụ Nữ Liên Đới những năm 1960. Trong số các bà hội viên Liên Đới trên ảnh có một bà giống bà ngoại em, giống thôi, không phải, bà ngoại em không ở trong Hội Phụ Nữ Liên Đới.

* Tất cả những tiểu thuyết phóng tác của tôi trước 1975 nay đều không còn quyển nào bán ở Hoa Kỳ. Vì truyện tôi không còn ai mua nên không thể tái bản. Kể cả việc đánh máy lại những truyện đó để post lên đây cũng là một khó khăn đối với tôi.

* Xin bà K.O. gửi cho tôi bài và ảnh LCM về Địa chỉ trên, ĐỜI NAY.

* Cám ơn bạn định gửi cho tôi toàn bộ Phim James Bond mới. Xin đừng gửi. Tôi không còn thích xem loại phim ấy nữa.

* Xin ông bạn có phim Le Couple Invisible gửi cho tôi phim này về Đời Nay. Cám ơn.

* Cư Xá Tự Do: Chắc bạn là dân Cư Xá Tự Do nên bạn muốn thấy tôi viết về Cư Xá này. Tôi sống trong căn nhà nhỏ dẫy A trong Cư Xá từ năm 1975 đến cuối năm 1994. Tôi cũng muốn viêt về Cư Xá nhưng ngại quá. Có nhiều nhà, nhiều người trong Cư Xá sống bê bối, sa đọa quá. Rất ít gia đình tôi thấy đàng hoàng như gia đình ông Lộc ở dẫy B. Bạn có biết ông Lộc không? Ông Lộc là hạ sĩ quan quan đội. Ông bà có 5 con còn nhỏ. Sau 1975 bà Lộc ngày ngày nấu hai thúng khoai lang gánh đi bán dạo. Cả nhà 7 miệng ăn chỉ trông vào tiền lời bán khoai lang của bà. Các con ông bà đói cơm xanh như những lá rau. Vậy mà gia đình sống rất tư cách, can đảm chịu đựng. Có thời ông Lộc làm kẹo bột cho con bán ở chợ Ông Tạ. Ông nấu kẹo, đập kẹo, vắt kẹo gần như suốt đêm. Tôi mến phục ông Lộc. Anh Trưởng Khu trong Cư Xá — vợ chồng tôi gọi là anh Trổng Khu — thì tư cách quá tệ. Anh này là Trung sĩ dậy đánh máy trong quân đội. Anh hân hạnh được làm Trưởng Khu. Nhà anh, đặt mấy cái máy chữ dậy đánh máy, treo 2 cái cờ máu. Gặp thằng Chủ Tịt Phường, anh khom lưng mặt anh xuống đến rốn nó để bắt tay nó.

Bên khu vi-la của Cư Xá có nhà Tướng Hồ Trung Hậu. Chiều tối ông Cựu Tướng nhậu sỉn, thường đi loạng quạng không nhớ đường về nhà, người nhà ông phải đi tìm, dắt ông về. Khi sỉn ông bạ đâu đái đó. Năm 1992, gặp ông, tôi thấy ông rất đàng hoàng. Chiều ông Cựu Tường ngồi trong một quán vắng, nghèo sơ xác trong hẻm, uống xị Rượp Nếp Than, nhấm nháp vài hạt lạc rang. Ông nhỏ nhẹ nói:

- Uống bia tôi không có tiền, uống đế tôi say, tôi làm bậy ngoài đường. Chiều buồn, tôi ra đây ngồi. Tôi uống thứ này là tốt nhất.

Ông thường ngồi một mình trong quán vắng đó từ 4, 5 giởi chiều đến 7, 8 giờ tối, ông lững thững về nhà. Nghe nói khi ông đến Văn Phòng ODP phỏng vấn đi HO sang Hoa Kỳ, nhân viên ODP cho ông biết ông sang Hoa Kỳ với tư cách bảo lãnh đoàn tự gia đình, một người con của ông ở Hoa Kỳ đã làm hồ sơ bảo lãnh gia đình sang Hoa Kỳ. Vì vậy ông không được sang Hoa Kỳ với tư cách là Cựu Tù Nhân Tị Nạn Chính Trị. Ông chửi toáng lên trong Văn Phòng ODP. Ít lâu sau tôi được tin ông Cựu Tướng từ trần ở Cư Xá Tự Do.

Ba tháng sau Ngày 30 Tháng Tư 1975, vợ chồng tôi về sống trong căn nhỏ dẫy A Cư Xá Tự Do, nhà này của mẹ tôi, vẫn bỏ không nhiều năm. Vợ chồng tôi không thích sống trong căn nhà này. Nhà thiếu tiện nghi, Tôi kỵ nhất là nhà liền mái, tiếng người nói trong nhà này vang sang nhà bên cạnh. Chúng tôi đi ở thuê nhưng Sổ Gia Đình của chúng tôi mang địa chỉ nhà này. Nhờ vậy sau ngày mất nước, vợ chồng tôi có chỗ chui ra, chui vào, nhà của mình, đỡ khổ hơn nhiều người không có nhà. Trong căn nhà nhỏ đó hai lần bọn Công An Thành Hồ đến bắt tôi đi, hai lần tôi từ Tù Ngục Cộng Sản trở về. Vợ chồng tôi sống lui cui bên nhau 19 năm trong căn nhà đó. Cứ mỗi trận mưa lớn đổ xuống là đường trong cư xá ngập nước đến đầu gối.

Đây là bài thơ tôi làm về Cư Xá Tự Do:

Như cánh lá vàng sau trận cuồng phong
Anh rạt về đây, xóm hẹp, người đông.
Nhà Em, Nhà Anh cách hai thước ngõ,
Những chiều mưa buồn, nước ngập như sông.
Em đứng mỏi mòn trước dàn ván gỗ
Như người chinh phụ ôm con đời trông.
Anh đứng võ vàng trong ô cửa sổ
Như người tù nhìn đời qua chấn song.
Anh đứng trông mây, Em đứng trông chồng.
Vắng chồng con bế, con bồng Em mang.

Cái bống là cái bống bang
Mẹ bống yêu bống, bống càng làm thơ.
Tiếng ru hờ, tiếng khóc ơ
Vương trên khung cưả bây giờ tang thương.
Đìu hiu cuối ngõ, cùng đường
Bên Anh tuyệt vọng, đoạn trường bên Em.
Ngày lại ngày, đêm lại đêm
Ngày rơi tàn tạ, đêm chìm phôi pha.
Buồn từ trong cửa buồn ra
Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về.
Ta đang sống, ta đang mê?
Hay ta đang chết não nề, Em ơi.

Tôi nhớ Cư Xá Tự Do có cái chợ nhỏ đầu cư xá. Chợ nhỏ nhưng đủ thịt cá, rau dưa. Tôi nhớ Cư Xá Tự Do có Bà Tư Răng có thời bán bánh xèo tôi cho là ngon nhất Sài Gòn. Tôi nhớ Cư Xá Tự Do trong nhiều năm có Tiệm Cầy Tơ nổi tiếng ở bên kia đường.

Đã có đủ bài để tôi làm thành SÀI GÒN VANG BÓNG Tập MỘT, tôi biết các vị không đòi hỏi tôi phải viết SGVB thật hay. Có SGVB là được nhưng tôi vẫn lần lữa chưa soạn thành Tập. Một trong những nguyên nhân làm tôi không sốt sắng trong việc soạn SGVB thành Tập là việc tôi không thể tự xuất bản, gửi sách đến các nhà xuất bản với lời đề nghị « Làm ơn xuất bản dzùm » tôi không thích.

Đến đây xin đăng vài E-mail của quí bạn.

Thư của ông Vincent Sou :

Năm 1978 tôi ở cùng với anh trong Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu. Tôi mấy lần thấy anh từ phòng biệt giam được ra sân phơi nắng. Anh như tầu lá chuối bị dội nước sôi. Năm ấy tôi tưởng anh không thể sống mà ra khỏi tù. Mừng anh sống sót.

Thư của ông Bùi Xuân Cảnh:

Tôi yêu CTHĐ không biết bao nhiêu. Ông đã viết hộ, nói thay cho nhiều người tị nạn chúng tôi. Không có ông, bọn phản phúc, bọn ăn cháo đá bát sẽ một mình một chơ, sẽ bốc thơm nhau, chúng sẽ tưởng chúng là “những nhà văn sâu sắc, đáng kính.”

Viết đi, CTHĐ. Ông chỉ còn 10 năm nữa để viết. Tôi nguyện cầm roi theo sau ngựa của ông. Thương ông rất nhiều.

* Phong Nhĩ, December 17th, 2008.

Kính thưa qúy độc gỉa,

Có phải qúy vị cũng đồng ý với bỉ nhân: Đọc những bài viết của Hoàng Công Tử, chúng ta được nhiều điều khoái không thể tả. Một trong những điều khoái đó là Hoàng Công Tử viết dùm ta những điều u uất ta muốn nói lên, muốn thét lên cho hả bao nhiêu điều chất chứa trong lòng. Trong cuộc đổi đời, tang thương dâu biển vừa qua, thật không kể xiết những đau thương tủi nhục, những khốn khó lọc lừa mà dân miền Nam ta phải gánh chịu. Trong vô số nỗi bất hạnh vì tan nhà , mất nước vào tay một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa đời đời, kiếp kiếp, ta có nỗi đau phải chịu đựng bọn “văn nhân vô hạnh, xướng ca vô loài” như Vương Hồng Sển, Á Nam Trần Tuấn Khải, Trịnh Công Sơn, Vũ Hạnh, Sơn Nam. Trong tuổi hoa niên, trước năm 1975, it nhiều chúng ta có yêu mến hoặc có cảm tình với những người ấy. Được chế độ Cộng Hòa ưu đãi, được chiến sĩ ta đổ xương máu cho họ bình an ngồi dũa văn, múa bút… nên họ có điều kiện tạo ra tên tuổi. Nếu họ chỉ có tri óc nhỏ như trí óc loài gà vịt, tất họ hiểu ngay rằng họ không thể có những văn phẩm, nhạc phẩm như họ đã có nếu họ sống ở cái gọi là miền Bắc Xã Hội Chủ Nghiã.

Bọn họ đã cố tình quên, hay vờ vịt không thấy cái sự thực hiên nhiên đó. Họ quay lưỡi liếm đit giặc, ngay cả khi giặc không muốn họ liếm. Họ trâng tráo, bịa đặt bỉ ổi để bôi xấu Quốc Gia VNCH., họ dùng “văn tài” ca ngợi cái xấu, cái ác. Nọc độc của bọn này có thể gây nguy hại cho những người trẻ tuổi, cho con cháu chúng ta, vì có thể hiểu lầm bọn họ là các nhà văn nhà báo nhớn., hay tưởng rằng tất cả những văn nhân Vệt Nam Cộng Hoà sau 1975 đều tồi tàn như họ.

Hoàng Công Tử đã vĩnh viễn chôn vùi bọn chúng trong đống rác ô uế. Đó chẳng là điều làm cho chúng ta khoái trá hay sao. Cảm ơn Công Tử!

* Michael Han, April 1, 2009.

Kính thưa Ông Hoàng-Hải-Thủy Công-Tử-Hà-Đông tự Con-Trai-Bà-Cả-Đọi, từ lâu tôi rất kính phục ông, với một lập trường kiên định đối với bọn Việt Gian Cọng-sản. Mỗi lần tôi đọc báo Sài Gòn Nhỏ, trước hết là tôi đọc bài báo của Ông, rồi đến bài báo của Cô Đào Nương Hoàng-Dược-Thảo, thế là xong tờ SGN. Ông có giọng văn cực kỳ hấp dẫn, có những danh từ Ông dùng mang đậm tính chất Hoàng-Hải-Thủy, và chỉ có Hoàng-Hải-Thủy … mới viết được như thế.

Chúc Ông được thật nhiều sức khỏe, để viết những bài báo thật hay.

Thân mến – Michael Hàn.

* Công Từ Hà Đông kính thưa quí vị,

Tôi ấm lòng trước cảm tình của các vị. Như Quân Tử Tầu nói:

- Tình nhiều quá thì không còn Lời để nói.

Tôi chỉ có thể nói với các vị một Lời: Cám ơn.

Và tôi đền đáp cảm tình của các vị trong những bài viết của tôi.

Kính chúc các vị và bảo quyến vui mạnh.

 

 

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

Rừng Phong. Tháng Tư 2009.

Toà Đại Sứ Xưa (bài 2)

 
Nhân đọc trên báo The Washington Post bản tin:

Hoa Kỳ sẽ xây Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Bagdad, Irak. Tòa Đại Sứ này sẽ là Toà Đại Sứ Lớn Nhất trong tất cả các Tòa Đại Sứ trên thế giới.

Trạnh niềm hoài cổ, nhớ lại Sài Gòn năm xưa, buồn chuyện biển dâu, tôi viết bài “Toà Đại Sứ Xưa.”
 

US Embassy
 
Trong bài “Tòa Đại Sứ Xưa” đăng trên Nhật Báo SàiGòn Nhỏ, tôi đặt 3 câu hỏi:

  1. Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, Thủ Đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, trước năm 1975, với 6 tầng lầu, 1 tầng hầm, sân thượng, cả ngàn văn phòng, có thể được coi là Toà Đại Sứ Hoa Kỳ Lớn Nhất Thế Giới thời đó không?
  2. Toà Đại Sứ Hoa Kỳ nay có còn ở Đường Thống Nhất, Sài Gòn, hay đã bị phá?
  3. Nếu Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn đã bị phá thì bị phá năm nào?

Bài đăng lên, tôi được ông Tư Ổi gửi Thư Điện cho biết ông tìm được trên Web mấy bài viết về Toà Đại Sứ Mỹ, có kèm ảnh, của một ông Mỹ. Ông Mỹ này là Cựu Trung Sĩ John Valdez của Quân Đội Mỹ. Ông từng là quân nhân bảo vệ Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn cho đến phút Đại Sứ Graham Martin cuốn cờ lên trực thăng bay đi. Ông là thành viên của một nhóm cựu quân nhân Mỹ 7 người trở lại Sài Gòn năm 1995 để nhận lại Tòa Đại Sứ.
 

US Embassy

 
Tôi, CTHĐ, trích vài đoạn trong bài viết của ông John Valdez:

In September 1995, seven former Marine Security Guards who experienced the Fall of Saigon, including Major James Kean, and myself, Master Sergeant John Valdez, returned to Ho Chi Minh City.

Dịch: Tháng Chín năm 1995, bẩy cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến Bảo Vệ An Ninh từng chứng kiến cuộc Sài Gòn thất thủ, trong số có Thiếu Tá James Kean, và tôi Trung Sĩ John Valdez trở lại Thành phố Hồ chí Minh.

Ông John Valdez viết tiếp:

I would like to share some U.S. Embassy, Saigon photos sent to me by Alex Acheimets, a gentleman who visited Ho Chi Minh City in 1992 and 1994 prior to The Embassy being torn down, and who was interested in sharing them with me since he had visited my association’s website -www.fallofsaigon.org – and was aware that I had served in Saigon during the evacuation. The Embassy had not been occupied or used since it was given back to the U.S. in 1994. Washington, D.C. and Hanoi normalized relations in 1995 and exchange ambassadors the following year. The Embassy, the site of a historic helicopter evacuation on April 30, 1975, where Americans and thousands of South Vietnamese fled before North Vietnamese took over, was eventually demolished. In 1997, the U.S. Government (State Department) opened a consulate in Ho Chi Minh City at a location separate from the old embassy.

Dịch: Tôi muốn chia xẻ vài tấm ảnh Toà Đại Sứ Hoa Kỳ do ông Alex Acheimets chụp và gửi cho tôi. Ông Archeimets đến Thành phố Hồø chí Minh năm 1992 và năm 1994 trước khi Toà Đại Sứ bị phá, ông gửi mấy tấm ảnh đó cho tôi vì ông có xem website www.fallofsaigon.org có tôi cộng tác, và biết tôi có phục vụ tại Sài Gòn trong cuộc di tản. Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn không được dùng kể từ khi nó được trả lại cho Hoa Kỳ năm 1994, Washington DC và Hà Nội bình thường hoá quan hệ năm 1995, trao đổi Đại Sứ năm sau.

Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, địa điểm lịch sử của cuộc di tản bằng trực thăng ngày 30 Tháng Tư, 1975, nơi người Mỹ và nhiều ngàn người Việt Nam ra đi trước khi Quân Bắc Việt vào chiếm Sài Gòn. Năm 1997, Chính phủ Hoa kỳ ( Bộ Ngoại Giao) mở một Lãnh Sự Quán ở một nơi xa cách Toà Đại Sứ cũ.

Ngưng trích.

chickenTổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn hiện nay ở đường Hồng Thập Tự, nó nhỏ bé, một tầng, không có cổng, không vuờn trước, vườn sau, mặt tiền u ám, hãm tài, nghèo nàn, mạt rệp, trông thật thiểu não. Nó khác hẳn Toà Đại Sứ cũng của nước nó ở Sài Gòn trước năm 1975.

Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn trước 1975 nhìn ra sông Sài Gòn, tức nhìn ra Biển, nhìn ra hướng Đông Mặt Trời Lên. Toà Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn hiện nay nhìn về phiá mặt trời lặn, về nước Kampuchia, u tì, nhọ hơn mõm chó, te tua hơn cái lá đa rách. Trông mặt mà bắt hinh dong. Chỉ cần nhìn cái Toà Đại Sứ hay Tòa Lãnh Sự của một nước là biết uy tín, địa vị của quốc gia chủ hai cái Toà ấy ra sao. Cứ nhìn cái gọi là Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ u tì ở Thành Hồ là thấy cái uy tín của Hoa Kỳ trong nước chủ nhà như cái giẻ rách.

Cơ Quan PetroViet Nam từng đặt văn phòng trong Toà Đại Sứ Hoa Kỳ. Nhìn ảnh bên trong Toà Đại Sứ, trước mấy cái xe ô-tô của bọn Petro, thấy có con gà. Gà của bọn bảo vệ nuôi, tôi nhớ những năm 1981, 1982 có những buổi chiều tôi trên xe đạp đi ngang trước Dinh Độc Lập, nhìn vào Dinh thấy vắng teo bóng người, thấy một đàn gà thả rong, cảm khái tôi làm mấy câu:

Phá Ngô, một lũ vào Dinh,
Om sòm tướng lãnh mặc tình ba hoa.
Đầy dinh vang tiếng hoan ca,
Bây giờ chỉ có toàn là Vi Xi.

Toà Đại Sứ của Đại Cường Quốc kiêm Đệ Nhất Cường Quốc Thế Giới Thế Kỷ 20 xây lên, đứng đó không đầy 10 năm! Không phải đến 100 năm toà Dinh Thự bê-toong bom đánh không đổ mới chuyển thành đất bằng, với Cọp Plastic Hoa Kỳ, thời gian “Thành, Trụ” chỉ là 10 năm!

Toà Đại Sứ Hoa Kỳ Lớn Nhất Thế Giới sắp được xây lên ở Bagdad, Irak, sẽ trụ ở đó được bao nhiêu năm?

Năm 2009, Nữ Thi Sĩ Quan Thanh sau nhiều năm xa cách đất nước, từ hải ngoại trở về thành phố Sài Gòn, đi qua Đường Thống Nhất xưa, Nữ Thi Sĩ thấy Toà Đại Sứ Hoa Kỳ năm xưa, năm bà hai mươi tuổi, đã mất, thay vào đó là một bãi đất hoang, cảm khái Nữ Thi Sĩ làm Thơ:

Tạo hoá gây chi cuộc chán chường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngưạ, Toà Đại Sứ,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương..
Mỹ vẫn trơ mày cùng Bắc Cộng,
Việt còn đau bẹn với tang thương.
Mười năm Toà cũ thay cờ đỏ,
Cảnh đấy, người đây muốn liệt dzường.

Tòa Đại Sứ Xưa

Ai về Toà Đại Sứ Xưa
Hỏi thăm cảnh sắc bi giờ ra sao?

Nhật báo The Washington Post, ngày 24 Tháng Hai, 2009, loan tin:

Hoa Kỳ sẽ xây Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Bagdad, Irak. Toà Đại Sứ này sẽ là Toà Đại Sứ lớn nhất trên thế giới.

Viết thêm: Không phải chỉ là Toà Đại Sứ Hoa Kỳ Lớn Nhất trong số những Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở nước ngoài, mà là Toà Đại Sứ Lớn Nhất trong tất cả những Toà Đại Sứ của các quốc gia trên thế giới.
 
US Consulate
 
Bản tin người Mỹ khoe Toà Đại Sứ của họ lớn, không phải lớn xuông mà là Lớn Nhất Thế Giới, làm tôi trạnh niềm hoài cảm, tôi ngậm ngùi cảnh cũ, chuyện xưa.

gateMời quí vị nhìn ảnh Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, Thủ Đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, những năm trước năm 1975. Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ quí vị thấy trong ảnh được xây lên khoảng năm 1965. Trong 10 năm có nó nằm ở đoạn đường đó, đoạn đường trung tâm thành phố thủ đô của tôi, có thể tôi đã đi qua đó cả ngàn lần, tôi đã nhìn thấy nó, cái Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ấy, ù cả ngàn lần, nhưng cho đến sáng nay, một buổi sáng đầu Xuân Kỷ Sửu Trâu Đánh Tránh Đâu, trời Virginia lạnh 2 Độ C, nhưng có nắng vàng, có mây trắng, gió nhẹ, trong phòng ấm xứ người, an ninh 500% , ngồi viết trước máy computer sáng choang, đèn vàng, 40 năm sau ngày có nó — Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn — tôi mới nhìn kỹ nó trong ảnh, mới đếm những tầng lầu của nó.

Mời quí vị cùng tôi đếm: Nó — Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn — có 6 tầng lầu. Tôi không biết nó dài, nó rộng bao nhiêu thước. Tôi chỉ có thể ước lượng trong 6 tầng lầu đó có cả ngàn văn phòng. Ta có thể cho cái Toà Đại Sứ đó là Toà Đại Sứ Hoa Kỳ Lớn Nhất Thế Giới được không? Có thể được lắm.

uy nhiemNăm 1989 xe tù Cộng sản đưa tôi, từ Nhà Tù Lớn Chí Hoà, đến Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, Ngã Ba Ông Đồn, Xuân Lộc, Đồng Nai. Tại đây tôi gặp lại Lê Vĩnh Xuân, bạn tôi. Xuân làm nhân viên Sở Mỹ nhiều năm, từng được cấp súng lục Smith-Wesson 5 viên hộ thân, trước Ngày 30 Tháng Tư 1975 Đen Hơn Mõm Chó bỏ nước chạy lấy người không kịp, bị Công An Bắc Cộng nó bắt, nó nghi là Gián Điệp My gài lại để hoạt động, nó cho tù mút chỉ cà tha kiêm mút mùa Lệ Liễu. Xuân bị Công An Bắc Cộng nó bắt ở Sài Gòn năm 1977, bị đưa lên Trại Z 30 A năm 1979. Như vậy đến năm 1989 Xuân đã ở trại này 10 năm. Xuân có chị đàn bà sống chung trước 1975 theo kiểu “già nhân ngãi, non vợ chồng.” Sau 1975 cả nước tan hàng, Xuân sống cu ky không vợ con, Xuân dzô tù VC không người thăm nuôi. 10 năm tù không một người đến thăm, không được người thân tiếp tế một đồng bạc Hồ Thổ Tả. Gặp tôi, Xuân nói:

- Mình cứ ở tù riết thôi, không có án, không biết ngày nào ra, chẳng thằng nào hỏi đến mình cả.

Xuân than:

- Mình 10 năm ở đợ cho Mỹ, mà nó tàn nhẫn bỏ rơi mình.

MartinTừ năm 1955 người Mỹ đến Sài Gòn, đến năm 1975 người Mỹ đi khỏi Sài Gòn, tôi có chừng 5 năm “ở đợ” cho Mỹ. “Ở đợ” theo nghĩa Lê Vĩnh Xuân dzùng đây là “làm bồi, làm đầy tớ” cho Mỹ. Tôi làm bồi cho Mỹ lần thứ nhất từ năm 1955 đến năm 1957 — nhân viên USOM, 35 Ngô Thời Nhiệm, tiền thân của USAID, tôi làm công cho Mỹ lần thứ hai từ năm 1973 đến Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, tôi làm trong ban biên tập — đúng ra là ban Dịch thuật – Tạp Chí Triển Vọng — Outlook — của USIS, Sở Thông Tin Hoa Kỳ.

Với tư cách là nhân viên USIS tôi có hai lần đến và vào bên trong Toà Đại Sứ Hoa Kỳ. Lần thứ nhất năm 1973, Hoa Kỳ giúp chính phủ VNCH bài trừ ma túy, một cuộc hoả thiêu Héroine, Cocaine — bạch phiến — bị cơ quan công lực VNCH bắt, tịch thu, được tổ chức ở Công Trường Con Ruà. Tôi và anh Lê Anh Tài, nhiếp ảnh gia quốc tế, nhân viên USIS, đến đó xem cuộc đốt những bao nylon bạch phiến, chụp ảnh, viết bài đăng trên Triển Vọng. Rồi tôi đến Toà Đại Sứ Hoa Kỳ, vào Phòng Narcotics của Toà Đại Sứ, hỏi và lấy tài liệu về những chương trình Hoa Kỳ giúp VNCH bài trừ ma túy. Xếp Mỹ của tôi xin gặp, hẹn trước, tôi cầm giấy giới thiệu của USIS vào Toà Đại Sứ bằng cổng đường Mạc Đĩnh Chi, được một Thủy Quân Lục Chiến Mỹ dẫn đến trước Bureau Narcotics. Cửa vào Bureau này khoá, ngay cả nhân viên Mỹ không có việc cũng không được vào. Đến đây, tôi lại trình giấy giới thiệu, trình Thẻ Nhân Viên USIS, mới được mở cửa cho vào. Tài liệu tôi lấy được chẳng có gì nhiều. Tất nhiên chỉ là những con số. Dù là tạp chí chính thức của USIS. Toà Đại Sứ Mỹ cũng không tiết lộ những việc làm cần giữ bí mật trong cuộc bài trừ ma túy ở Việt Nam. Trong chừng một tiếng trong Phòng Narcotics, tôi thấy trên tường văn phòng tôi vào có một cái window, một khung kính, trong gắn một bộ bàn đèn thuốc phiện thật đẹp. Không chỉ thật đẹp mà đẹp quá là đẹp. Đủ dọc tẩu, đèn, tiêm,móc, hộp ngà voi đựng thuốc, hộp sừng đựng sái, tả-bô, tức tapis: khăn lau. Đủ bộ. Từng là đệ tử của Cô Ba Phù Dung, tôi có đủ tư cách để nói tôi biết thế nào là một bộ bàn đèn giá trị. Nhìn bộ bàn đèn quá đẹp đó tôi théc méc không biết viên chức Việt Nam nào đã làm cái window trong có bộ bàn đèn ấy làm tặng phẩm cho người Mỹ? 1973-2009, 39 năm trời đã qua, hôm nay nhớ lại chuyện Toà Đại Sứ Xưa, tôi théc méc không biết người Mỹ có mang bộ bàn đọi ấy đi với họ về Mỹ không, hay họ bỏ lại? Nếu Mỹ bỏ lại, bộ bàn đọi ấy về tay anh Bắc Cộng nào?

Em ơi.. Em đẹp qúa đi mất. Bi giờ Em ở đâu? Em ở ví ai? Thằng nào làm chủ em?

Lần thứ hai tôi vào trong Toà Đại Sứ Hoa Kỳ là dịp ông Đại Sứ Graham Martin, vị Đại Sứ Hoa Kỳ Cuối Cùng của Sài Gòn, trồng trong vườn hoa trước Toà Đại Sứ cái cây gọi là Freedom TreeCây Tự Do — cây này chắc đem từ Mỹ sang. Lần này có anh Lê Anh Tài cùng đi, anh chụp ảnh, tôi viết bài. Một số quan chức Việt Mỹ chừng 10 người đến dự cuộc trồng Cây Tự Do. Ông Đại Sứ đãi khách chầu champagne trong đại sảnh Toà Đại Sứ. Rồi chính ông đào đất trồng Cây Tự Do.

Cây Tự Do — Freedom Tree — chắc chưa bén rễ, chưa ra được cánh lá nào thì Đại Sứ Graham Martin cuốn cờ Mỹ, lên trực thăng phú lỉnh khỏi Sài Gòn.

Từ đấy không người Mỹ nào còn đến Sài Gòn như những người Mỹ đến Sài Gòn trước Ngày 30 Tháng Tư 1975. Người Mỹ đến Sài Gòn trước 1975 để sát cánh với người Việt đánh lại bọn Bắc Cộng, người Mỹ đến Sài Gòn sau 1975 là để bắt tay với bọn Bắc Cộng.

Nghe nói, và mới đây có tin, tin không rõ rệt lắm, Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn ta thấy trong ảnh đã bị phá đi, phá thành đất bằng, phá trong êm đềm, phá mà chẳng có người Sài Gòn nào để ý. Tôi théc méc: có thật là Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn đã bị phá? Hay vẫn còn đó, vẫn trơ nóc mốc cùng tuế nguyệt? Nếu bị phá thì bọn Bắc Cộng phá nó bằng cách nào? Có cho nổ mìn làm đổ toà nhà lớn 6 tầng đó không? Nó chở sà bần: vôi gạch, đi đổ ở đâu? Ông bà Việt Kiều nào có dịp về Sài Gòn, xin tạt qua đường Thống Nhất, ghé mắt nhìn xem Toà Đại Sứ Hoa Kỳ còn đó không? Ông bà cho tôi biết, tôi cám ơn.

Cây Tự Do, Toà Đại Sứ Xưa, Sài Gòn Năm Tháng Cũ, tôi đi một đường cảm khái, tôi mần Thơ:

Ai về Toà Đại Sứ Xưa
Hỏi thăm cảnh cũ bi giờ ra sao.
Cây Tự Do trồng năm nào,
Năm nay, lá sám, lá đào, lá xanh?
Não nùng Đại Sứ Mác-tanh
Cuốn cờ làm cuộc lộn vành Uy-dza.
Tự Do.. Mình chẳng ra hoa.
Tự Do.. có biết rằng Ta nhớ Mình?

Một Thời Để Yêu

Phù vân, thật là phù vân.

Tất cả chỉ là phù vân. Lợi lộc gì đâu khi con người phải chịu bao gian lao vất vả dưới ánh nắng mặt trời? Thế hệ này đi, thế hệ kia đến, nhưng trái đất vẫn mãi mãi trường tồn. Mặt trời mọc rồi lặn; mặt trời vội vã ngả xuống nơi nó mọc lên. Gió thổi xuống phiá nam, rồi xoay về phiá bắc: gió xoay lui, xoay tới rồi gió đi, gió trở qua, trở lại lòng vòng. Mọi khúc sông đều xuôi ra biển, nhưng biển chẳng đầy. Sông chẩy tới đâu thì từ đó sông lại tiếp tục. Chuyện gì cũng nhàm chán, chẳng thể nói gì hơn. Mắt có nhìn bao nhiêu cũng chẳng thấy gì lạ, tai có nghe đến mấy cũng chẳng thấy gì mới.
 

ban tu

Trên đây là đoạn mở đầu Sách Giảng ViênEcclesiastes — trong Kinh Thánh. Bồi hồi tưởng nhớ những năm 1982, 1983 u ám khủng khiếp ở Sài Gòn, bọn ác ôn tịch thu tất cả những kho sách Kinh Điển Công Giáo, Tin Lành. Khi ấy, với những người Con của Thiên Chúa, và những người đau khổ tìm đến với Chuá, sách Kinh Thánh quí hơn vàng. Người ta mua vàng dễ dàng, mua bao nhiêu vàng cũng có, nhưng người ta không thể tìm mua được Kinh Thánh, vì không có nơi nào ở Sài Gòn những năm ấy có bán Kinh Thánh.

Các ngươi sẽ đói lời Ta từ bờ biển này tới bờ biển kia!” Thưa đúng như Ngài đã nói. Sau 1975, chúng tôi đói lời Chúa một cách thê thảm. Một nhóm tu sĩ tại gia chỉ in ronéo một số bài giảng, tập lịch đạo năm mới, phát cho tín hữu, bị bắt vào tù với tội “in ấn bất hợp pháp“. Ra toà năm 1985 ba ông thầy can tội “in ấn” lãnh mỗi ông ba cuốn lịch.

Tri SieuNoel năm 1983 trong căn gác nhỏ trong Cư Xá Tự Do ở Ngã Ba Ông Tạ, tôi ngồi dịch sách Ecclesiastes ra tiếng Việt. Tôi viết và trình bầy như một tập sách nhỏ, đem đến tặng các bạn ở nhà thờ, các bạn truyền tay nhau đọc, ai muốn có tập sách ấy chỉ cần chép lại hay đi chụp photocopy.

Hôm nay, tôi sống xa Ngã Ba Ông Tạ, xa Nhà Thờ Chí Hoà, Nhà Thờ Đồng Tiến, Nhà Thờ Tân Định, Nhà Thờ Dòng Chuá Cứu Thế, Vương Cung Thánh Đường… không biết bao nhiêu ngàn cây số. Trong căn phòng của vợ chồng tôi ở Rừng Phong hiện giờ có đến bốn, năm quyển Kinh Thánh. Sách Kinh Thánh quí nhất của tôi là bản tiếng Việt mới được dịch và xuất bản tại Sài Gòn. Trong số những vị dịch giả có Linh mục Nguyễn Công Đoan, Trưởng Dòng Tên Việt Nam.

Năm 1987, rồi năm 1989, tôi ở tù chung phòng với Cha Nguyễn Công Đoan ở Nhà Tù Chí Hoà và Trại Lao Động Cải Tạo Z 30 A, Xuân Lộc, Đồng Nai. Cha Đoan bị án tù 14 năm. Cha, cùng nhiều Linh mục, bị bắt năm 1982.

Những ngày như lá, tháng như mây… Chúng tôi ra khỏi tù, vợ chồng tôi sang Kỳ Hoa năm 1995. Tháng Tám 1999 Cha Đoan, từ Sài Gòn, đi công việc đạo sang Vatican, Roma, Ý Quốc, Cha ghé sang Hoa Kỳ, Cha đến Washington DC và Cha đến Rừng Phong gập vợ chồng tôi. Tôi đứng đón Cha dưới hàng cây trên lối vào Rừng Phong. Từng sống với nhau ở Nhà Tù Chí Hoà, Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, có bao giờ tôi tưởng tượng một buổi trưa mùa hạ tôi bồi hồi đứng trong con đường vắng, đầy bóng cây, trên đất Hoa Kỳ chờ Cha Đoan đến. Gập nhau mừng mừng, tủi tủi, Cha cầm tay tôi mãi như không muốn buông ra. Vợ chồng tôi ngạc nhiên khi thấy Cha không khác chút nào qua năm năm trời kể từ ngày chúng tôi đi khỏi Sài Gòn.

*****

Trong lần tù thứ hai của tôi — 6 năm, từ 1984 đến 1989, ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Nhà Tù Chí Hoà, Trại Tù Khổ Sai Z 30 A — tôi ở tù chung phòng, từng ăn chung với các Ông Tù Tôn Giáo:

Tu sĩ Thích Tâm Lạc, Tu sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tu sĩ Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Linh muc Nguyễn Công Đoan, Trưởng Dòng Tên Việt Nam, Linh mục Nguyễn Hoàng Hai, Thư ký của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, Linh mục Ngô Quang Tuyên, Thầy Sáu Lê Văn Bẩy, Mục sư Nguyễn Hữu Cương, Mục sư Hồ Hiếu Hạ, Thầy Truyền Đạo Lê Thiên Dũng.

Tôi sống trong 6 năm, mỗi ngày vanh cát syua vanh cát — 24/24 giờ, tức suốt ngày đêm — với các Tinh Hoa cuả Ba Tôn Giáo Phật Giáo, Thiên Chuá Giáo và Tin Lành. Không chỉ sống xuông, tôi hoà đời sống, buồn vui, sợ hãi, thất vọng và hy vọng của tôi với các vị tu hành tôi vừa kể. Trong 6 năm tù đầy, tôi không giúp gì được gì các vị, các vị giúp tôi thật nhiều.

Chiều nay, chiều cuối đông, trời Virginia lạnh đến 2 Độ C, trong phòng ấm, bình an viết những dòng chữ này, tôi bồi hồi sống lại trong vài phút cuộc sống xưa của tôi trong những Phòng Tù 7, Phòng Tù 6, Sà-lim 10, Sà-lim 6 Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Phòng Tù 9, Phòng Tù 10, Phòng Tù 20 Nhà Tù Chí Hoa, Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, tôi nhớ lại vẻ mặt, tiếng nói, tiếng cười của các vị.

Một điều hay là từ ấy đến nay, năm đầu là năm 1984, năm cuối là năm 1989, hai mươi năm đã qua, tất cả những vì tôi vừa kể tên đều còn sống. Tôi gửi lời cám ơn và lời chúc bình an đến các vị.

Ba tu sĩ Phật giáo Tâm Lạc, Trí Siêu, Tuệ Sĩ bị bắt vì tội gia nhập Tổ Chức Âm Mưu Lật Đổ Bàn Thờ Bác Hồ — Tổ Chức mua súng, định lập chiến khu — các thầy bị bọn Ác Cộng phang án rất nặng: Trí Siêu, Tuệ Sĩ bị án tử hình, sau xuống án 20 năm khổ sai, chịu án trong 15 năm mới được về chùa. Nói vì các tổ chức dân chủ, dân quyền, Phật giáo Quốc Tế đòi hỏi, làm áp lực nên bọn Ác Cộng phải nới tay đánh các thầy là không đúng. Chỉ có tội thành lập tổ chức, chưa giết được một thằng Ác Cộng, chưa bắn được phát súng, chưa rải được tờ truyền đơn, mà xử 2 án tử hình, án nhẹ nhất là tù 4 năm, 2 người tù tử hình xuống án 20 năm, ở tù 15 năm. Nó chịu áp lực, nó phải nhẹ tay chỗ nào?

Linh mục Nguyễn Công Đoan, cùng 9 linh mục, không có tội gì cả. Bọn Ác Công muốn chiếm Tu Viện Dòng Tên nên bắt các ông. Chúng chiếm Tu Viện Dòng Tên êm ru.

Linh mục Nguyễn Hoàng Hai, Linh mục Ngô Quang Tuyên bị bắt vì tội tổ chức vuợt biên.

Thầy Sáu Lê Văn Bẩy, đã học xong nhưng không được làm Linh mục, bị bắt cùng 2 ông thầy khác vì tội in ronéo mấy bài giảng phát cho giáo dân, và tội in ronéo tập lịch đạo. Ra toà, hai ông thầy kia lãnh mỗi ông 3 năm tù, ông chủ nhà in ronéo tù 2 năm, máy ronéo bị tịch thu. Riêng Thầy Bẩy, vì ông anh sĩ quan quen biết và ngưỡng mộ Nhà Văn Duyên Anh nên lãnh tác phẩm Đồi Fanta của Duyên Anh về nhà đánh máy ra nhiều tập. Khi bị xét nhà vì “tội in ấn bất hợp pháp” bọn Ác Cộng bắt được 1 bản đánh máy Đồi Fanta. Vì tội này Thầy Bẩy bị án 5 năm tù, cộng 3 năm tù tội in ấn, tất cả là 8 năm tù.

Hai mục sư Nguyễn Hữu Cương, Hồ Hiếu Hạ, Thầy Truyền Đạo Lê Thiện Dũng không có tội gì cả. Bọn Ác Cộng bắt các ông để chiếm Nhà Thờ Tin Lành đường Trần Cao Vân, chiếm Kho Sách Tin Lành ở Nhà Thờ An Đông, Sài Gòn.

*****

Tôi bị quyến rũ bởi lời và ý Sách Giảng Viên — những bản dịch Kinh Thánh trước dịch là Truyền Đạo — Những lời như Thơ, những ý tình man mác…

Trích trong Kinh Thánh, bản do Toà Tổng Giám Mục Sài Gòn xuất bản năm 1998:

Ở dưới bầu trời này
mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời:
một thời để chào đời, một thời để lìa thế;
một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây;
một thời để giết chết, một thời để chữa lành;
một thời để phá đổ, một thời để xây dựng;
một thời để khóc lóc, một thời để vui cười;
một thời để than van, một thời để múa nhẩy;
một thời để quăng đá, một thời để lượm đá;
một thời để ôm hôn, một thời để tránh hôn;
một thời để kiếm tìm, một thời để đánh mất;
một thời để giữ lại, một thời để vất đi;
một thời để xé rách, một thời để vá khâu;
một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng;
một thời để yêu thương, một thời để thù ghét;
một thời để gây chiến, một thời để làm hoà.

Chúng ta ra đời trong Thế Kỷ Hai Mươi đẫm máu; máu đẫm thế kỷ này từ những ngày đầu đến những ngày cuối. Hai tai hoạ lớn nhất của loài người cùng đến trong Thế Kỷ Hai Mươi: Hoạ Phát Xít và Họa Cộng Sản. Có nhiều quốc gia chỉ bị đau khổ vì một tai họa, Hoạ Phát Xít, hoặc Hoạ Cộng Sản, nước Việt Nam và nhân dân Việt Nam bị khổ sở vì cả hai tai họa. Dân tộc Việt Nam đau khổ trong gần trọn Thế Kỷ Hai Mươi. Thế Kỷ Hai Mươi Mốt đến, chúng ta mong ta được hưởng một thời để yêu thương.

Và đây những lời khuyên cuối của Vị Giảng Viên:

Giữa tuổi thanh xuân
bạn hãy tưởng nhớ Đấng đã dựng nên mình.
Đừng chờ đến ngày tai ương ập tới
đừng chờ cho năm tháng qua đi,
những năm tháng mà rồi bạn sẽ phải nói:
“Tôi chẳng có được một niềm vui nào trong thời gian đó cả.”
Đừng chờ đến khi mặt trời với ánh sáng,
mặt trăng cùng tinh tú đều trở thành tối tăm, và mây đen tụ lại khi cơn mưa đã dứt.
Ngày ấy, người giữ nhà sẽ run lẩy bẩy,
chàng trai vạm vỡ phải khòm lưng
các cô xay bột không còn xay tiếp vì không đủ người xay,
các bà nhìn qua cửa sổ: chỉ thấy lờ mờ.
Ngày ấy, cánh cửa ngó ra đường sẽ đóng lại
tiếng cối xay bột từ từ nhỏ đi,
người ta trổi dậy khi vừa nghe tiếng chim hót
và mọi cô ca sĩ sẽ phải lặng thinh.
Ngày ấy, đường hơi dốc cũng làm người ta sợ,
chân bước đi mà lòng thật kinh hoàng.
Ngày ấy, hoa hạnh đào nở ra trắng xóa,
loài châu chấu trở nên chậm chạp, nặng nề,
trái bạch hoa hết còn hương vị.
Bởi vì con người tiến đến nơi an nghỉ ngàn thu,
bên đường đầy những người khóc than ai oán.
Đừng chờ đến khi sơi dây bạc đứt, bình vàng vỡ,
vò nước bể ngay tại hồ chứa nước,
ròng rọc gẫy, vụt rơi xuống giếng sâu.
Đừng chờ đến khi bụi đất lại trở về với đất,
khi phàm nhân trả lại cho Thiên Chúa
hơi thở Người đã ban cho mình.

*****

Phù vân, quả là phù vân, mọi sự đều là phù vân cả !

Trên đây là bản dịch tiếng Việt theo bản văn Kinh Thánh Cổ. Đây là bản văn trên viết bằng tiếng Anh hiện đại, trích từ Good News Bible, Nhà Xuất Bản American Bible Society:

So remember your Creator while you are still young, before those dismal days and years come when you will say: “I don’t enjoy life.” That is when the light of the sun, the moon and the stars will grow dim for you, and the rains clouds will never pass away. Then your arms, that have protected you, will tremble, and your legs, now strong, will grow weak. Your teeth will be too few to chew your food, and your eyes to dim to see clearly.

Your ears will be deaf to the noise of the street. You will barely be able to hear the mill as it grinds or music as it plays, but even the song of a bird will wake you from sleep. You will be afraid of high places and walking will be dangerous. Your hair will turn white; you will hardly be able to drag yourself along, and all desire will be gone.

We are going to our final resting place, and then there will be mourning in the streets. The silver chain will snap, and the golden lamp will fall and break; the rope at the well will break, and the water jar will be shattered. Our bodies will return to the dust of the earth, and the breath of life will go back to God, who gave it to us.

Useless, useless, said The Philosopher. It is all useless…

Vậy hãy nhớ đến Đấng Tạo Tác ra anh trong khi anh còn trẻ, trước khi những ngày, những năm sầu thảm đến và anh nói: “Tôi sống không lạc thú.” Đó là khi ánh mặt trời, ánh mặt trăng và ánh sáng những ngôi sao mờ đi với anh, và mây đen cơn mưa không bao giờ tan đi nữa. Khi ấy cánh tay anh, những cánh tay vẫn bảo vệ anh, sẽ run run, và đôi chân anh, lúc này đang mạnh, sẽ trở thành yếu. Răng anh sẽ còn quá ít để có thể nhai thức ăn, mắt anh sẽ quá mờ để có thể nhìn rõ. Tai anh sẽ điếc với những tiếng động ngoài đường phố. Anh sẽ chỉ còn nghe được mơ hồ tiếng cối xay đang xay hay tiếng nhạc đang trổi, nhưng chỉ cần tiếng hót của con chim cũng làm anh thức giấc. Anh sẽ sợ hãi những nơi cao, việc đi lại sẽ trở thành nguy hiểm. Tóc anh sẽ bạc trắng; anh gần như chỉ còn có thể sống vất vưởng, và tất cả những ham muốn đều mất.

Chúng ta đi đến nơi an nghỉ cuối cùng, có tiếng than khóc bên đường. Sợi dây bạc sẽ đứt, chiếc đèn vàng sẽ rơi, sẽ vỡ, sợi dây thừng ở giếng sẽ đứt và bình nước sẽ tan tành. Thể xác ta sẽ trở về với bụi của đất, hơi thở của ta sẽ trở lại với Thượng Đế, Người đã ban nó cho ta.

Vô ích, vô ích. Nhà Hiền Triết nói. Tất cả là vô ích.

*****

Từ Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, một chiều nhớ quê hương, tiếc thương tuổi trẻ, tôi viết bài này, tôi gửi bài viết này đến Linh Mục Nguyễn Công Đoan, Thầy Sáu Lê Văn Bẩy, Tu sĩ Thích Tâm Lạc, Tu sĩ Thích Trí Siêu, Tu sĩ Thích Tuệ Sĩ, Giáo Sư Mã Thành Công, Kỹ Sư Lê Công Minh.

Tôi từng được tù chung phòng tù ở quê hương tôi với các vị trên đây, các vị hiện đều sống ở Sài Gòn. Mục sư Nguyễn Hữu Cương, Mục sư Hồ Hiếu Hạ, Thầy Truyền Đạo Lê Thiên Dũng nay là Mục sư, đang hầu việc Chúa ở Hoa Kỳ.

Bài Học Nặng Ký

Singers
 
Hôm nay — Ngày 26 Tháng Giêng Kỷ Sửu, ra giêng đã 26 ngày — tôi — CTHĐ — sẽ gần như không bàn loạn gì về những chuyện trong bài viết này. Xin chỉ trình bày mấy chuyện quí vị đọc qua rồi quên.

Trước hết là bài BÀI HỌC NẶNG KÝ, người viết Anderson Thái Quang. Tác giả là một trí thức Việt kiều Mỹ từng mang bạc triệu U Ét đa-la — Đô-la Mỹ — về Việt Nam làm ăn và… chào thua, và bỏ của chạy lấy người.

Bài Học Nặng Ký. Người viết Anderson Thái Quang. Trích:

Sài Gòn những ngày cận Tết mát lạnh và mang chút không khí của những ngày Giáng Sinh nơi Âu Mỹ. Đường Nguyễn Huệ và quanh khu du lịch của trung tâm thành phố, hoa tươi đang rộn rịp trang điểm cho mùa xuân, hoa và muà xuân là biểu tượng của hy vọng vào một thay đổi nào đó tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn. Nhưng nếu du khách rẽ vào ngõ hẻm từ một con đường lớn, những con chuột to bằng những con mèo, những con dán biết bay cùng ruồi muỗi, những ổ rác lộ thiên, những vũng nước ao tù… cho thấy một bộ mặt khác của Sài Gòn. Bộ mặt của nghèo khó, bất hạnh và tù túng đã không hề thay đổi suốt 70 năm qua, mặc cho bao nhiêu mùa xuân của hy vọng đã đến trong quá khứ.

Một chút ít về cái “tôi” để người đọc cảm thông thêm về tính cách chủ quan của lá thư này. Tôi đến Mỹ năm 1975 cùng làn sóng người tỵ nạn Cộng Sản sau khi miền Nam sụp đổ. Cha tôi là một Đại úy của Quân đội miền Nam; năm 1975 tôi mới 5 tuổi, tôi chưa hiểu biết chút gì về lịch sử hay chế độ của đất nước, của dân tộc tôi. Sang xứ Mỹ, cha mẹ tôi làm đủ mọi nghề, vất vả ngược xuôi, từ lao động chân tay đến mua bán tiểu thương, để sống và để nuôi anh em tôi. Sau 30 năm, ông bà đã lo xong cho con cái, đã về hưu với căn nhà nhỏ và cuộc sống ổn định. Tôi lớn lên như một trẻ Mỹ, đi học, chơi đùa và coi xứ Mỹ như quê hương chính thức, dù tôi vẫn biết nói tiếng Việt theo tiếng nói của cha mẹ tôi. Tốt nghiệp Thạc Sĩ về điện tử, tôi có công việc tốt, lấy vợ và sống cuộc đời trung lưu như cả triệu người Mỹ khác. Cha tôi và các bạn ông thường tụ họp bàn luận về tình hình Việt Nam, các ông hay nói với nhau về những thù ghét của các ông với nhà cầm quyền Cộng Sản, nhưng tất cả những chuyện đó đều rất xa lạ với tôi. Khi học lịch sử ở trung học, tôi có chút hãnh diện về Việt Nam, một quốc gia nhỏ bé đã đánh bại được hai cường quốc là Pháp và Mỹ. Hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là hai anh hùng trong ký ức của tôi.

Cuộc sống bình lặng đó thay đổi khi vợ tôi qua đời vì tai nạn xe cộ ba năm về trước. Không có con, thừa hưởng một số tiền bảo hiểm hơn 1 triệu đô-la, cộng với giá nhà đang tăng cao và một khoản tiền tiết kiệm khá lớn, tôi không còn thấy nhu cầu phải kéo cầy 11 tiếng mỗi ngày trước máy vi tính. Tôi quyết định trở về Việt Nam để làm ăn và tạo dựng một cơ nghiệp mới ở trong nước. Tất cả những gì tôi đọc được cho tôi thấy một nước Việt Nam đổi mới với những con số rất tốt về sự đầu tư của tư bản nước ngoài, về xuất khẩu, về cơ hội đầy tiềm năng của một “con rồng mới”. Cha tôi không phản đối việc tôi về Việt Nam làm ăn, ông chỉ cho tôi một lời khuyên:

- Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà coi những gì Cộng Sản làm.

Tôi về Sài Gòn vào tháng Mười năm 2007. Khi ấy chỉ số VNI của chứng khoán Việt khoảng 1,000 và đề tài thời thượng khắp nơi là cơn sốt địa ốc và số tiền thu nhập của các đại gia Việt Nam. Số tiền 2.5 triệu đô la của tôi thật nhỏ bé khiêm tốn khi tôi bàn chuyện đầu tư ở VN. Dường như ai cũng đầy tiền mặt và dự án, nhiều gấp mười lần khả năng của tôi. Dù vậy, tôi cũng rất hưng phấn cảm nhận niềm lạc quan vô bờ bến về sự thịnh vượng của nền kinh tế quốc gia.

Trong khi đó, dựa theo truyền thống khoa học từ đại học Mỹ, tôi nghiên cứu kỹ hơn các con số từ các doanh nhân cũng như từ chánh phủ. Tôi thấy ngay có rất nhiều điều sai trái và nghịch lý từ những con số, cũng như sự kiện thực tế về kết quả hoạt động. Sự nghi ngờ của tôi được xác nhận khi so sánh và định chuẩn theo mức sống thực sự của người dân, giàu cũng như nghèo. Việc chung đụng với mọi thành phần xã hội giúp tôi nhìn rõ hơn về thực trạng của quê hương. Những lời nói hoa mỹ, cũng như những biểu ngữ giăng kín thành phố, là một lớp son phấn rẻ tiền, che dấu một bộ mặt thật điêu tàn và thê thảm.

Tôi nhận ra rằng cái cơ chế “kinh tế thị trường” mà nhà cầm quyền hứa hẹn khi ký văn bản gia nhập WTO chỉ là hình thức. Tất cả những miếng mồi béo bở đều nằm trong tay bọn quan chức và cán bộ Đảng Cộng Sản, cũng như trong tay những bà con thân thuộc trong gia đình họ. Bộ Chánh Trị trung ương thì nắm chặt các công ty quốc doanh và bán quốc doanh, quan chức địa phương thì có những đặc lợi về ruộng đất, giấy phép, dịch vụ nhu yếu. Lãnh vực tư nhân chỉ được phép làm trong địa bàn nhỏ, nhiều rủi ro và những ai làm ăn có lời đều phải chia chác cho bọn quan chức bằng nhiều phong bì lớn nhỏ. Tầng lớp quan chức CS và gia đình họ, qua hệ thống tham nhũng tinh vi, đã thâu tóm phần lớn lợi tức quốc gia và có quyền hành không kém các quan lại của triều đại phong kiến.

Tôi nhận ra rằng cuộc chiến tranh dành độc lập với bao nhiêu xương máu của người dân chỉ là một cái cớ để Đảng Cộng Sản cướp chánh quyền. Những quốc gia láng giềng như Singapore, Mã Lai, Indonesia, đã dành độc lập mà không cần phải hy sinh xương máu và giờ đây, dân họ (nhờ một nền dân chủ minh bạch) đã trở nên giàu có. Ở VN thì những tay doanh thương ngoại quốc nay đang cấu kết với Nhà nước CS Việt để trở thành những chủ nhân lớn của nhiều đơn vị kinh tế bằng cách dùng đồng tiền mua lao động rẻ và tài nguyên định giá qua gầm bàn.

Tôi nhận ra rằng chế độ to mồm này thực sự sống nhờ phần lớn vào những khoản viện trợ nhân đạo của các nước tư bản (mà họ từng lên án và đánh đuổi); vào khoản tiền kiều hối của các cựu thuyền nhân (mà họ đã từng giam giữ tù đày khi kết tội phản quốc); vào mồ hôi nước mắt của những người nô lệ mới qua danh từ xuất khẩu lao động hay qua các cuộc hôn nhân mua bán áp đặt; vào những khoản lệ phí và sưu thuế đầy phi nghĩa, cũng như một con số khổng lồ về hối lộ.

Tôi nhận ra rằng cuộc sống của hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa mà chế độ đã dùng mọi thủ đoạn để biến họ thành thần thánh. Đọc kỹ tiểu sử của ông Hồ Chí Minh ta sẽ thấy ông ta là một chính trị gia quỷ quyệt, làm nhiều việc mờ ám, hoàn toàn không có một chút chân thật gì, dù nhìn ở bất cứ góc cạnh nào. Con người của ông Hồ có rất nhiều tên gọi; ông tự viết cả tiểu sử để ca tụng mình (Trần Dân Tiên); ông không nhìn nhận cha mẹ ông cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con rơi, con rớt sinh ra từ những cuộc tình của ông trên khắp thế giới; ông viết đơn cầu xin Thực dân Pháp ban ơn với những lời tâng bốc trơ trẽn (lá thư gởi Quan Toàn Quyền Pháp năm 1912); ông làm mật vụ cho Nga khi Pháp không đáp ứng lời khẩn cầu của ông, (chuyện kể do Cựu Giám Đốc KGB Nga Vladimir Kryuchkov); ông bỏ Nga theo Tàu khi ông thấy theo Tầu ông có lợi (Hồi ký của Li Zhi Sui); ông khoe là trọn đời sống độc thân để phục vụ tổ quốc trong khi ông có ít nhứt ba người vợ và bao nhiêu người tình, kể cả một tình nhân là vợ của một thuộc cấp (Nguyễn Thị Minh Khai, vợ Lê Hồng Phong). Gần đây, nhiều tài liệu lịch sử kết tội ông ra lệnh giết bà Nông thị Xuân và cô em bà Xuân, vì hai người này muốn tạo xì-căng-đan về mối tình khi chung sống với ông (tài liệu trong cuốn sách ‘Ho Chi Minh: A Life‘ của William Duiker và cuốn ‘Đỉnh Cao Chói Lọi‘ của Bà Dương Thu Hương). Chuyện ông Hồ thủ tiêu không biết bao nhiêu là đối thủ chánh trị có thể hiểu được vì ông làm chánh trị kiểu Cộng Sản, chỉ biết theo gương bậc thầy như Mao hay Stalin. Nhưng tôi thật khó chịu khi phải đi khắp Việt Nam và nhìn những biểu ngữ ca tụng “Gương đạo đức của Bác Hồ”.

Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì tôi không biết nghĩ sao khi đọc cuốn sách ‘China and the Vietnam wars‘ của Qiang Zhai. Tác giả Qiang Zhai cho biết là một Tướng Tàu, Tướng Wei Gouqing, nguyên cố vấn quân sự của Tướng Giáp, khẳng định là chiến thắng Điện Biên thực sự là do ông — Tướng Wei Gouqing, cố vấn, đặt chiến lược và điều khiển; ông Giáp và ông Hồ đã định đánh Pháp tại khu vực sông Hồng. Tướng Wei cũng tiết lộ là năm 1953, Hồ Chí Minh muốn thỏa hiệp với Pháp để đình chiến, nhưng Mao Trạch Đông ra lệnh cho Hồ là phải đánh đến cùng. Cuối cùng, Giáp và Hồ được nhận lãnh công lao về chuyện xảy ra trên đất Việt, Tướng Tàu không thể công khai xuất hiện ở Việt Nam. Một câu hỏi khác gây bàn tán là tài sản của con rể ông Giáp (Trương Quang Bình, người giàu nhứt nước) có bao phần là của ông Tướng Giáp?

Sau 1 năm ở Việt Nam, tôi hiểu được một sự thật căn bản của xã hội Việt thời này: tất cả mọi con người, mọi con số ở Việt Nam hiện nay đều là giả dối. Quan chức nói dối để giữ quyền hành, bổng lộc; doanh nhân nói dối vì quan chức đòi hỏi; người dân nói dối vì nói sự thực sẽ làm mình đau khổ rồi còn bị công an bắt. Nói dối trở thành một hiện tượng tự nhiên, như ăn uống; và không ai suy nghĩ gì về khía cạnh vô đạo đức của hiện tượng Nói Dối Cả Nước hiện nay.

Trong môi trường đó, tôi đã không làm gì được như dự tính. Suốt 14 tháng chạy theo các dự án đầu tư, các cơ hội dài và ngắn hạn, tôi đành chịu thua. Thêm vào đó, những thủ tục hành chánh rườm rà, bất cập và luôn thay đổi, tạo cơ hội cho tham nhũng, đã làm tôi nản lòng. Cũng may, tôi chỉ mất hơn 200 ngàn đô la; một giá quá rẻ cho bài học nặng ký. Tôi không tiếc than gì cho cá nhân tôi; tôi chỉ thấy chua xót và thương hại cho những người Việt hiện sống ở Việt Nam.

Anderson Thái Quang.

Nay mời quí vị đọc về tình trạng Ma Túy, Mãi Dâm hiện nay ở Việt Nam.

Tuần báo Tuổi Trẻ. Trích:

Trước ngày 28-2, UBND TP. HCM báo cáo Thủ tướng về tệ nạn mua bán, hút chích ma túy diễn ra hằng ngày trước mắt người dân tại thành phố, gây nhiều lo lắng cho cộng đồng dân cư, vụ này đã được báo Tuổi Trẻ phản ánh.

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt chỉ đạo của Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng – Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Phòng chống AIDS và Phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm.

Từ ngày 3-2, báo Tuổi Trẻ đã đăng tải loạt bài “Ma túy lại lộng hành!”. Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của loạt bài là phản ánh tình trạng mua bán ma túy công khai, lúc nào cũng có, ở thành phố Hồ Chí Minh.

Hơn 1/3 trung tâm cai nghiện không đạt điều kiện

Tại cuộc hội thảo về công tác cai nghiện- phục hồi năm 2009 vào hôm qua (19-2), ông Nguyễn Văn Minh – cục trưởng Cục Phòng chống Tệ nạn Xã hội (Bộ LĐ-TB&XH) – cho biết hiện nay có hơn 1/3 trung tâm cai nghiện trên địa bàn cả nước không đủ điều kiện về cơ sở vật chất đảm bảo quy trình cai nghiện.

Cũng theo ông Minh, các hoạt động dạy văn hóa, dạy nghề và tổ chức lao động sản xuất cho học viên trong thời gian chữa trị, cai nghiện tại các trung tâm cũng chưa hiệu quả.

Theo báo cáo của 46 tỉnh, thành phố đến cuối năm 2008, số người nghiện được quản lý, cai nghiện là 45.261 lượt người. Tuy nhiên chỉ có 1/3 số người đi cai nghiện là tự nguyện. Tỉ lệ tái nghiện có xu hướng giảm song vẫn ở mức khá cao, tại TP.HCM tỉ lệ tái nghiện là 14,94% và Hà Nội tới 53%.

Và đây là chuyện một số Ca sĩ Việt ở Mỹ trở về Sài Gòn.

Bài đăng trên Tuần Báo Thanh Niên, Sài Gòn:

Chưa năm nào ca sĩ hải ngoại về Việt Nam ăn Tết và biểu diễn nhiều như năm nay. Sở dĩ có “làn sóng” này là vì nước Mỹ đang bị nạn kinh tế suy thoái nên các show diễn cũng giảm. Về Việt Nam ăn Tết vừa vui, được thăm gia đình, bạn bè, vừa là cách kiếm thêm thu nhập.

Ngay từ những ngày đầu tháng 1-2009, nhiều ca sĩ hải ngoại đã có mặt tại Việt Nam để tham gia các show diễn tại phòng trà và các chương trình ca nhạc mừng xuân.

Duc HuyTại phòng trà Văn Nghệ, các ca sĩ Thanh Hà, Nhật Hạ, Mai Quốc Huy, Ái Vân, Kim Anh đã có lịch diễn liên tục từ ngày 9-1. Vợ chồng ca sĩ Lynda Trang Đài và Tommy Ngô, sau khi tham gia chương trình ca nhạc từ thiện Tiếng hát từ nguồn cội tại Hà Nội, đã bay vào TPHCM để diễn tại sân khấu Trống Đồng, phòng trà Không Tên, đến 25-1 lại tham gia một chương trình ca nhạc từ thiện. Từ Mùng 1 Tết đến Mùng 10 tết, Lynda Trang Đài và Tommy Ngô sẽ lưu diễn các tỉnh miền Tây.

Ca sĩ Phi Nhung có một đêm nhạc (20-1) tại Phòng trà Không Tên. Ca sĩ Tuấn Ngọc và Khánh Hà đang ráo riết tập luyện cho chương trình Gala Dinner tại Khách sạn Sheraton vào tối 18-1.

Ca sĩ – nhạc sĩ Đức Huy đang chuẩn bị hẳn một Tour diễn trong dịp Tết này, bắt đầu ngày 20-1 (25 Tết) anh diễn tại Hải Phòng, đêm giao thừa anh biểu diễn tại Hà Nội, sau đó về Phan Thiết và cuối cùng dừng lại tại TPHCM.

Ca sĩ Duy Quang chỉ tham gia các chương trình ca nhạc mừng xuân trên sóng truyền hình. Ca sĩ Lệ Thu có 3 đêm diễn (mùng 1, 2, 3 Tết) tại Phòng trà Văn Nghệ.

Ca sĩ Thái Châu có hai đêm diễn ngày mùng 1, 2 Tết tại Phòng trà Không Tên, sau đó từ Mùng 6 Tết anh tham gia các show diễn tại các tỉnh miền Tây. Sau Tết, nhạc sĩ – ca sĩ Trịnh Nam Sơn cũng sẽ về biểu diễn tại phòng trà Văn Nghệ.

Háo hức và hạnh phúc là tâm trạng chung của các ca sĩ hải ngoại khi có mặt tại Việt Nam trong dịp Tết này. Ca sĩ Tuấn Ngọc từng ăn Tết tại quê nhà trong dịp anh về nước thực hiện một DVD, nhưng lần này, anh nói:

- Tôi muốn cùng với chị tôi — ca sĩ Bích Chiêu, xuất hiện trở lại trên sân khấu quê nhà sau 40 năm. Ăn Tết tại Việt Nam cho tôi cảm giác vui và có ý nghĩa rất nhiều.

Duc HuyVới ca sĩ Lệ Thu, đây là lần đầu tiên chị được ăn Tết tại quê nhà sau gần 30 năm. “Tôi thật xúc động và thấy hạnh phúc lắm. Tôi chúc mọi người đều được may mắn, mạnh khỏe”, chị nói trong sự phấn khích. Chị bảo chị còn vui hơn nữa khi xuất hiện trong chương trình truyền hình Sức Sống Mới, phát sóng đúng dịp Tết.

Nhạc sĩ – ca sĩ Đức Huy đã là lần ăn tết thứ ba, nhưng anh bảo mỗi năm lại cho anh một cảm giác mới. “Xuân về, tôi thấy mình như trẻ lại. Năm nay, kết hợp với việc biểu diễn ngoài Bắc, tôi cũng sẽ đi thăm, chúc tết một số người thân của tôi ngoài ấy”.

Cách đây 2 năm, vợ chồng ca sĩ Lynda Trang Đài và Tommy Ngô đã có dịp ăn Tết tại quê nhà. Lịch diễn khá dày đặc, hai vợ chồng không thể đem con nhỏ theo nên cũng chạnh lòng.

Chị Lynda nói:

- Nhớ con lắm, nhưng phải chịu vì công việc mà. Về ăn Tết và biểu diễn tại quê nhà lần này, Lynda vui vì mỗi lần về lại thấy đất nước mình phát triển hơn, khán giả lúc nào cũng nồng nhiệt.

Ngưng trích báo trong nước viết về những Nam Nữ Xướng Ca Việt Nam từ Mỹ lộn về Sài Gòn.

Chiều xuống, trời lạnh nhưng có nắng vàng, tôi tắt máy viết để đi ra Rừng Phong.

Hẹn sẽ lại trò chuyện với quí vị ngày mai.

VIỆT NAM và NĂM BỔN LỀ

John Wayne
 
Ngày 17 Tháng 2, 2009 trên một số Website Việt có tin một bộ phim tài liệu của Mỹ về Chiến Tranh Việt Nam — tên phim VIETNAM! VIETNAM! — “sau 40 năm bị chính phủ Mỹ cấm không cho chiếu” nay mới được lấy trong két sắt ra và được cho trình chiếu.

John FordChuyện phim VIETNAM! VIETNAM! bị chính phủ Hoa Kỳ cấm chiếu được kể trong bản tin tiếng Việt, tôi không có bản tin tiếng Anh về chuyện này nên không được biết rõ ất giáp ra sao, tôi viết về phim VIETNAM! VIETNAM! với sự hiểu biết của tôi — những cái tôi cho là hiểu biết của tôi có thể không đúng lắm.

Thoạt thấy bản tin trên Internet, tôi chú ý ngay vì cái tên Đạo Diễn John Ford — Ông qua đời năm 1973 — Ông làm phim ở Hollywood từ năm 1917, những bộ phim đầu tay của ông là Phim Câm. 60 năm trước, ở Hà Nội, Sài Gòn, tôi xem 3 bộ phim nổi tiếng nhất của ông, cả 3 phim làm tôi mê mẩn:

- The Grapes of Wrath. Phim làm năm 1940 theo tiểu thuyết cùng tên cuả John Steinbeck, diễn viên Henry Fonda.

- How green was my valley. Phim làm năm 1941. Diễn viên Maureen O’Hara, Walter Pidgeon.

- The Quiet Man. Phim làm năm 1952, Diễn viên Maureen O’Hara, John Wayne.

Tôi xem 3 phim trên đây trong khoảng 4 năm — từ 1950 đến 1954 — Từ ấy 50 mùa thu lá bay đã qua đời tôi. Hôm nay, sáng Tháng Hai 2009 ở Virginia, trời xuống tuyết, trong phòng ấm, đèn vàng, viết những dòng chữ này, tôi nhớ lại những chi tiết của 3 phim trên mà tôi còn nhớ.
 
Henry Fonda
 
Trong phim The Grapes of Wrath, tôi nhớ cảnh phim đoàn người Mỹ đi tìm đất sống, đến vùng đồi xanh ấy đoàn xe dừng lại, trong đoạn ông già chết — ông già bố của chàng thanh niên Joad do Henry Fonda đóng — bà già muốn chôn ông già ở đây, bà nói — phim chuyển âm tiếng Pháp:

- Để ổng nằm ở đây đi. Ít nhất nơi này cũng có cây xanh, suối trong.

Trong phim How green was my valley — Thung lũng xưa xanh biết chừng bao — tôi xem 50 năm trước, trên màn ảnh rạp xi-nê Majestic, Hà Nội, tôi nhớ cảnh cô gái Maureen O’Hara yêu ông Mục sư Walter Pidgeon nhưng cô bị ông từ chối. Ông nói:

- Tôi không thể để em làm vợ tôi, vì làm vợ tôi, em sẽ khổ lắm.

Mục sư muốn nói — theo tôi hiểu – vì ông làm mục sư nên ông nghèo về tiền bạc, ông không muốn người đẹp Maureen O’Hara chịu khổ vì nghèo chung với ông.

Ngay khi nghe ông Mục sư nói câu đó trong rạp xi-nê, trong lòng tôi đã nổi lên sự phản đối. Tôi nghĩ: “Ê.. Cái nhà ông Mục sư này nói cái gì kỳ dzậy? Nàng biết dư ông là mục sư, ông nghèo, nhưng nàng yêu ông. Sao ông lại từ chối Tình Yêu của nàng? Làm mục sư đâu có đến nỗi nghèo không nuôi nổi vợ? Nghèo không bao giờ là lý dzo để người ta không yêu nhau!”

Năm nay 2009, 50, 60 năm sau, nhớ lại chuyện phim xưa, tôi vẫn nghĩ: “Mục sư nói kỳ bỏ cha đi. Mục sư làm mất Tình Yêu của người ta.”

Sau khi xem phim How green was my valley, tôi có đọc bản dịch truyện ra tiếng Pháp Qu’elle était verte ma valleé. Nếu tôi nhớ không lầm thì phim được làm theo tiểu thuyết cùng tên của Nhà văn Alain Paton.

HoNăm 1970 chính phủ Hoa Kỳ mở những cuộc đàm phán với Bắc Việt Cộng để chấm dứt chiến tranh Việt Nam, để đưa những tù binh Mỹ ở Bắc Việt ra khỏi tù và về nước, để rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam. Bằng mọi giá chính phủ Mỹ phải lấy được số tù binh Mỹ bị cầm tù đã 5, 6 năm ở xứ Bắc Cộng về nước. Thoả ước hoà bình giữa Hoa Kỳ và Bắc Công được ký năm 1972 ở Paris. Theo thoả ước ấy Hoa Kỳ cam kết không giúp Quốc Gia VNCH tiếp tục chiến tranh, chịu “ngừng mọi hành động tuyên truyền chống Bắc Cộng“. Tạp chí Thế Giới Tự Do của Mỹ ngưng ngang, thay vào đó là Tạp Chí Triển Vọng do Cơ quan USIS ở Sài Gòn điều hành, Triển Vọng không đả động gì đến chiến tranh, quân viện, chỉ có những bài về đời sống của người Mỹ, khoa học, kỹ thuật Mỹ, Đài Phát Thanh Tiếng Nói Tự Do từng đả kích Bắc Cộng trong nhiều năm bị Mỹ cho im tiếng, thay vào đó là Đài Mẹ Việt Nam.

Phim tài liệu VIETNAM! VIETNAM! của Đạo diễn John Ford không được đem chiếu 40 năm xưa là vì lý do lúc đó chính phủ Mỹ không đả kích Bắc Cộng nữa, rồi phim bị bỏ quên trong kho cho đến hôm nay. Chỉ có vậy thôi.

Không biết tôi nghĩ như thế có đúng hay chăng? Xin quí vị tìm xem phim VIETNAM! VIETNAM! và có những ý kiến về phim của quí vị.

*****

Bọn Đầu Xỏ Bắc Cộng có một cái “hay” là “nói mà không nói gì cả,” và “nói những câu vô nghiã.” Mời quí vị đọc bản tin:

Trích Nhật báo Sài Gòn Giải Phóng.

Chỉ đạo Hội nghị cán bộ toàn quốc, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nói:

Giữ vững nguyên tắc đi đôi với năng động, sáng tạo.

Ngày 12-2, tại TPHCM, Ban Tổ chức TƯ khai mạc Hội nghị cán bộ toàn quốc về công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2009. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Năm 2008, công tác tổ chức xây dựng Đảng triển khai khá đồng bộ; nhiều chủ trương, giải pháp quan trọng của Nghị quyết Đại hội X và các nghị quyết Trung ương được cụ thể hóa và đi vào cuộc sống. Hệ thống tổ chức tiếp tục được kiện toàn và làm rõ chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ, thẩm quyền, trách nhiệm…

Năm 2009, các đơn vị tập trung 3 nhiệm vụ trọng tâm: Tạo chuyển biến trong công tác cán bộ, đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và tham mưu chuẩn bị tốt đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tinh thần các nghị quyết Trung ương. Tiếp tục kiện toàn, nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ và xây dựng cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ trong sạch, vững mạnh về mọi mặt.

Phát biểu chỉ đạo, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cho rằng, công tác cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước để hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng và các nghị quyết của Trung ương, chuẩn bị phục vụ đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XI của Đảng.

Không những chỉ vô nghiã, em nhỏ lên ba cũng thấy những lời gọi là “phát biểu, chỉ đạo” của Nông Đức Mạnh là “lèm bèm, nhạt nhẽo, rẻ rách.”

Những năm trước 1980 bọn Bắc Cộng vẫn có những cái gọi là Kế Hoạch 5 Năm, trong Kế Hoạch có năm chúng gọi là Năm Bổn Lề. Như Kế Hoạch 5 năm từø1961 đến 1965, một kỳ Đại Hội Đảng Cộng, thì năm 1965 là Năm Bổn Lề, năm ấy làm bổn lề lật qua Kế Hoạch Năm Năm mới 1966-1970.

Những năm 1981, 1982, đời tôi nhọ hơn mõm chó, rách như cái lá đa ca dzao, dzậy mà mỗi lần nghe anh Đầu Xỏ Bắc Cộng nào nói đến “Năm Bổn Lề” tôi lại nhếch mép cười méo hẹo.

Mẹ bố cả Đảng nhà chúng nó! Năm gì không năm, Năm Bổn Lề!

Nông đức Mạnh có thể để dành bài phát biểu trên đây để sang năm khi cần phát biểu, anh thoải mái mở ra sài lại, chỉ cân đổi Năm Bổn Lề 2009 ra Năm Bổn Lề 2010.

Thực hiện lời thúc đít của Tổng Bí Lê Duẩn: “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc xuống Hố Rác Xã Hội Chủ Nghiã” năm Kế Hoạch Mõm Chó nào của Đảng Bắc Cộng cũng là Năm Bổn Lề.

*****

Tin Đài VOA — Voice of America: Tiếng Nói Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ trục xuất người Việt sống bất hợp pháp ở Mỹ

Bà Julie Myers, Giám Đốc cơ quan Di Trú và Hải Quan của Hoa Kỳ,

vừa bắt đầu cho thi hành việc trục xuất các di dân bất hợp pháp người Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Tin của Thông tấn AP — Associated Press — bà Julie Myers, người đứng đầu cơ quan này mới đây cho hay các di dân bất hợp pháp người Việt Nam đã sinh sống tại Hoa Kỳ trên 13 năm sẽ không bị trục xuất.

Bà Myers nói rằng thỏa thuận hồi hương ký giữa Hoa Kỳ và Việt Nm cho phép Hoa Kỳ trục xuất về Việt Nam những công dân Việt Nam đang sinh sống không có giấy tờ hợp lệ tại Hoa Kỳ. Phải mất 10 năm thương thảo hai nước mới đạt được thoả thuận này vì trước đây Việt Nam không muốn nhận lại những công dân Việt sống không hợp pháp ở Hoa Kỳ..

Đã có khoảng 6,200 người Việt Nam có lệnh bị trục xuất trước khi thỏa thuận này được ký kết, và có khoảng 1,500 người Việt Nam khác đang trong quá trình bị đưa trở về Việt Nam.

Thỏa thuận được Hoa Kỳ và Việt Nam ký hồi Tháng Giêng Tây — January 2009, nhưng phải 60 ngày sau mới có hiệu lực thi hành.

*****

Dân nước nào?

Một người Pháp, một người Mỹ và một người Việt Nam tranh luận xem Adam và Eva là người nước nào?

Người Pháp: “Trần truồng và mần tình ngay trước mặt Thượng đế như thế, chỉ có thể là dân Pháp”.

Người Mỹ: “Yêu tự do đến mức lẽ ra có thể sống hạnh phúc, chỉ cần đừng đụng đến trái táo, vậy mà họ vẫn không chịu sự cấm đoán thì chỉ có thể là dân Mỹ”.

Cuối cùng, người Viêt Nam nói: “Quần áo chẳng có, nhà cửa chẳng có, đến ăn một trái táo cũng bị cấm, thế mà vẫn bảo là sống trên thiên đường, thì chỉ có thể là dân Việt Nam…”

Đá Bát Sấp Ngửa

Trinh Da Bat
 

Ly Qui ChungKể từ ngày trên Internet có những cái gọi là Báo Điện chữ Việt, số người Việt đọc Báo Điện tăng lên thật nhanh. Người đọc Báo Điện có cái khoái là có thể gửi thư điện đến Báo Điện — không mất tem — nói lên ý kiến của mình, một việc mà thính giả, độc giả: người nghe Đài Phát Thanh, người đọc Báo Giấy, không làm được.

Ngày 14 Tháng Hai, 2009, Trang Báo Điện DCVonline đăng bài “Nhớ Núi“, người viết Zulu. “Nhớ Núi” viết về Trịnh công Sơn, Núi là Sơn. Dễ có đến 100 người dọc bài “Nhớ Núi” gửi điện thư về DCVonline góy ý. Tôi trích một số điện thư ấy:

Ý của Trần quang Hạ

Cách đây vài năm, tôi có dự buổi ca nhạc TCS tại San Jose, California. Có Khánh Ly, Cẩm Vân và một số ca sĩ khác. Chương trình không quảng cáo có lẽ sợ bị chống đối. Chưa khai mạc hội trường đã hết chỗ. Không biết khán giả biết bằng cách nào. Người đến sau ngồi dọc lối đi, đứng dựa vào vách. Khánh Ly hát liền 5 bài rồi ra taxi đi ngay, cô bị người quản lý hối vì sợ… trễ máy bay. Lúc đầu, âm thanh bị trục trặc, ban tổ chức luôn miệng cáo lỗi, nhưng không nghe ai phàn nàn. Những người ngồi bên tôi dễ thương kỳ lạ. Họ yên lặng nghe nhạc, vỗ tay nhiệt tình. Hình như những người thích nhạc Trịnh đều dễ thương một cách kỳ lạ.

Thế mới biết dù bị cay đắng chì chiết, những bản nhạc của TCS vẫn thu hút nhiều người. Tên tuổi anh vẫn được ngưỡng mộ. Buổi Ca nhạc tổ chức “lén” mà rạp hát hết ghế ngồi. Người nhạc sĩ “theo VC” vẫn được giới thức giả nể trọng, yêu mến. Không chỉ do tài năng mà còn do tư chất cao cả của anh nữa.

Cách đây khá lâu, có một bạn đọc DCV nói rằng: “TCS bay bỗng như đại bàng trên cao, cao vút. Những con chim sẻ ngu ngốc không hiểu và chẳng bao giờ hiểu được.”

Ý của Bạn đời của dân hèn

Cách đây khá lâu, có một bạn đọc DCV nói rằng: TCS bay bỗng như đại bàng trên cao, cao vút. Những con chim sẻ ngu ngốc không hiểu và chẳng bao giờ hiểu được.” Trích lời ông TQ Hạ…

Thưa, thường thì thứ rởm, dốt hay khoe giỏi. Khoe, mà lại chớp cái câu của anh La Quán Trung (qua nhân vật Khổng Minh) làm của mình để chửi thiên hạ, là… quá xá láo! Là đạo văn, là… ăn cắp!

Ý cuả Trần Cali

Nhạc Trịnh? Give me a break.

Phải nói đó là “nhạc đám ma“. Bản nào cũng toàn là tông thứ  (minor) nghe buồn thúi ruột. Từ Am Dm đến Em Gm rồi cứ dzậy mà làm tới. Tôi gần với nhạc Ngô Thuỵ Miên hơn. Đầy tình yêu, lãng mạn, và trẻ trung.

Ý của Vân Anh

Bởi vì là “nhạc đưa đám ma” nên VNCH mới chết để cho Hồ già nhảy vào. Ai khen nhac họ Trịnh hay chứ cứ nhìn cái mặt nó là tôi muốn ói rồi

Ý của Sóng Bạc Đầu

TCS là nhạc sĩ, ông đã ra đi,để lại cho đời nhiều tác phẩm tuyệt vời. Là một người nghe nhạc, tôi cám ơn Trịnh Công Sơn đã cho tôi những bản nhạc làm phong phú tuổi thơ tôi ngày mới lớn, và ký ức đó vẫn còn trong tôi cho đến hôm nay.

Nhưng về một người đàn ông tên Trịnh Công Sơn, lại là một chuyện khác. Tôi đã có dịp gặp và biết anh, và tôi… không thích anh, vì những yếu đuối và nhu nhược của anh, có đôi lúc tôi rất bực mình vì anh hơi hèn (trong những năm ở Huế sau 1975 và trước khi thoát vô được Sài Gòn sau đó). Nhưng, chưa bao giờ tôi ghét anh. Nói khác đi, tôi chấp nhận con người anh như thế.

Tôi rất bình tâm khi ngồi viết những dòng chữ này, tôi nhớ lại một buổi chiều anh cùng tôi ngồi bên bờ sông Hương, ở cái công viên nhỏ bên cạnh Đài Phát thanh, trước Khách sạn Saigon-Morin bây giờ, suốt hai giờ đồng hồ không ai nói với ai một câu. Chỉ trước khi về anh nói: “Moa thích bài Chủ Nhật buồn” (Sombre Dimanche?)

Hiện tại, Nhà nước Việt Nam vẫn cấm hát, cấm in public những bản nhạc phản chiến của anh. Dĩ nhiên, ở các quán café thì người ta vẫn nghe tưng bừng nếu muốn.

Lần rồi về Huế, tôi nghe Nhà nước định đặt tên một con đường vinh danh TCS. Tôi nói với “mấy ông”, đó là một thái độ “Ngụy công tử của mấy anh, của những người cộng sản. Cách vinh danh có gía trị nhất là bỏ lệnh cấm hát nhạc phản chiến của TC Sơn.” Hãy để cho ba phần tư người Việt hôm nay, cái thế hệ sinh sau 1975, không nợ nần gì tới cuộc chiến ngày xưa được nghe và phán đoán, chọn lựa.

Ý của Tâm Việt

Vào thời gian phong trào nghe nhạc Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly được phổ biến, tôi đã có cảm giác buồn vời vợi và lo lắng cho tương lai đất nước, cho dũng khí của thanh niên đồng lứa với tôi. Và y như rằng, đám thanh niên trong đó có một, hai người bạn rủ tôi tham gia vào việc biểu tình đòi chấm dứt chiến tranh, ném chai xăng, gạch đá vào cảnh sát, đập phá xe cộ tại Sài Gòn. Tôi đã kiếm cớ không tham dự và đến bây giờ tôi th61y việc tôi từ chối là đúng. Nhạc Trịnh Công Sơn là món khai vị trước khi ra bãi biểu tình chống chính phủ.

Ý cuả Nguyễn Bình

Trước năm 1975, hầu hết mọi người sống bên này vĩ tuyến 17 đều yêu nhạc Trịnh vì họ thù ghét chiến tranh, ghét bạo tàn, chém giết…, với bản chất hiền hoà, mơ mộng, họ yêu nhạc và mến luôn chàng nhạc sĩ… Khi chàng phản chiến, chống đối chính phủ VNCH, không đi quân dịch bằng cách nhịn ăn để không đủ cân nặng cho khỏi bị vào lính, chàng can trường biết mấy! Vậy mà sau khi được sống dưới sự  “chăm sóc” của Nhà nước XHCN, chàng bỗng dưng… biết sợ. Tôi được nghe Khánh ly nói trên radio, khi được Đài SBS Úc châu phỏng vấn, TCS được phép xuất ngoại để thăm thân nhân và KL tìm đến gặp Trịnh. Tôi không nhớ rõ nguyên văn câu nói của KL, nhưng đại ý là “TCS tuy được đi ra nước ngoài nhưng đang bị theo dõi và anh Sơn sợ lắm…” Nhiều người nghe cuộc phỏng vấn này, không phải chỉ có một mình tôi. Thì ra Chàng nhạc sĩ này cũng biết đi theo con đường “biết sợ” của văn sĩ Nguyễn Tuân.

Ý của Vô Sắc

TCS không theo VC! “Ông chỉ là một nhạc sĩ miền Nam phản chiến, muốn thấy đất nước hòa bình (mà không có giải pháp hợp lý cùng chính đáng). Một người đi giữa hai lằn đạn.” Đó là nhận định của biết bao nhiêu người thân thiết, bao nhiêu nhà nghiên cứu về ông đưa ra trong nhiều tài liệu, sách báo. Tôi có nhiều, hay đã đọc qua rất nhiều, những tài liệu đó. Trong đó, có những dẫn chứng rất khả tín.

Một số điểm tôi nhớ lại cho thấy:

- TCS làm bài “Hát trên những xác người” (Những hố hầm chôn xác anh em), lên án cuộc thảm sát tại Huế thay vì ca tụng cuộc Tổng tiến công, tổng nổi dậy tại đây;

- Ông viết bài “Hát cho người nằm xuống” thương tiếc Cố Chuẩn tường Không Quân VNCH Lưu Kim Cương. Theo VC thì không thể cầu chúc một sĩ quan cao cấp phe địch sau khi tử trận được lên thiên đàng (Xin cho một người vừa nằm xuống thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang);

- Ông dùng chữ “nội chiến” (20 năm nội chiến từng ngày) cho cuộc chiến VN. Đó là điều cấm kỵ của phe Cs, (phải là chống xâm lăng);

- Sau 1975, khi ở Huế, ông bị đày đi nông trường lao động, dù có nhiều bạn bè thân thiết là VC (cứ nhìn cơ thể ông mà đi lao động thì biết khổ ải đến mức nào), cho đến khi được Võ văn Kiệt cứu đưa về SG;

- Ông không có bài hát nào ca ngợi “Quân giải phóng” như những nhạc sĩ theo VC nằm vùng;

- Rất nhiều bài hát của ông vẫn bị cấm hát, trong khi thời VNCH thì được hát khắp nơi, dù không chính thức; tập nhạc Ca Khúc Da Vàng bán khắp các nhà sách

- Bản chất con người nghệ sĩ và tiểu tư sản của ông không thể hợp với chủ nghĩa Cs. Tôi chưa nghe nói lần nào ông tán tụng Đảng csVN.

Ông, cũng như một số trí thức miền Nam, hay một số người hiếu động ở các quốc gia tự do thời chiến tranh lạnh, có khuynh hướng thiên tả (nhưng đa số không là Cs, hay chỉ là Cs một thời gian ngắn rồi vỡ mộng). Vì mê muội một phần; vì muốn bênh vực kẻ yếu, chống lại kẻ mạnh áp bức; v.v… ; và vì sự tuyên truyền mạnh mẽ ngày trước của cái chủ nghĩa “nói một đàng làm một nẻo này.” Do đó nhiều người trí thức bị lầm lạc. Ông TCS có một số bạn bè tại Huế theo VC, muốn lôi kéo, nhưng ông không theo. Sau này thấy tài danh của ông thì lại “thấy người sang bắt quàng làm họ” (như với ông Sơn Nam), ra vẻ ông cùng lập trường chính trị với họ.

Ý cuả Vô Sắc

TCS thời đó có trốn lính nhưng không bị bắt giam (dù cảnh sát biết ông ở đâu). Bạn bè thân thiết của ông, ngoài nhóm Bửu Chỉ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường, Bửu Ý, v.v… ở Huế, ông cũng có nhiều bạn bè thân thiết là sĩ quan VNCH ở Sài Gòn (Lưu Kim Cương, Văn Quang, v.v…). Các em ông cũng là sĩ quan VNCH.

Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ

TCS, một con người nghệ sĩ với những mơ mộng tình cảm thật say đắm, lại chất chứa đầy triết lý về cuộc sống, cuộc đời, như thế không thể nào là (làm) Cs được.

Ý của Hà Châu

Tình cảm con người nó lạ lắm…

Nhiều tướng tá VNCH đỡ đầu cho TCS, trong đó có ông Râu Kẽm. Ông này nói với TCS: “Anh hát phản chiến nó vừa vừa thôi, kẻo lính nó đánh cho bỏ mẹ.” Râu Kẽm phủ dụ TCS, rồi cho ra về.

Tin Tình Báo cho hay: TCS là “gián điệp hai mang”, từng được Tình Báo VNCH gởi vô bưng tìm tin về MTGPMN.

TCS có lãnh tình báo phí hàng tháng.

Ý của Sean Nguyễn

Phải công nhận đây là một bài viết khá hay về TCS. Tôi định nghĩa hay ở đây không mang màu sắc chính trị, mà hay chỉ vì nó diễn tả được một phần con người của TCS, một nhạc sĩ tài năng. Nhưng sanh ra không phải thời.

“Quê hương ta có ba cụm núi. Cụm anh thư, hào kiệt làm nên lịch sử oai hùng. Cụm tao nhân mặc khách đưa văn hoá dân tộc vào vùng sáng, mở ra những chân trời lạ, thênh thang, những con đường vui bất diệt, và cũng là cái hàn thử biểu xác định tồn vong của giống nòi. Cụm nghĩa mẹ, tình cha đem tuổi thơ vào đời, với tiếng hát, câu hò và biết bao tình tự nuôi ta khôn lớn đưa ta về với quê hương, dân tộc.” Cách so sánh và diễn đạt hay.

Trong chiến tranh người ta có thể xem nhạc TCS là “phản chiến”. Trong “Cách Mạng” người ta xem nhạc ông như mộng mị làm mất sức chiến đấu. Nhưng trong lúc bình tĩnh lắng lòng, người ta mới cảm thụ hết chiều sâu của những lời ca, như những tiếng vọng của kiếp người, những cái mong manh muốn vươn về miền bất tận. Cái hay trong các câu ca của ông là ông “thánh hóa” được những cái tưởng chừng rất bình thường, như giọt nước mắt, tình yêu, hạt bụi, nỗi đau, sự trống vắng…..

Tôi cho rằng thật thiếu công bằng khi mang nhãn quan chính trị để đánh giá nhạc và con người của TCS vì ông đã không chọn chính trị làm lẽ sống mà vẫn phải tồn tại trong chính trị. Đó chính là cái hệ lụy mà nhạc TCS phải gánh chịu.

Dĩ nhiên trong suốt cuộc đời của một nghệ sĩ tài danh nào cũng không tránh khỏi có những bài rất dở như một số bài ông viết sau 1975. Nhưng bảo đó là thái độ chính trị của ông thì không đúng cho lắm. Tôi cho rằng ông đã chọn âm nhạc làm lẽ sống và đã sống trọn vẹn một cuộc đời nghệ sĩ giản dị dễ hài hòa dù ở thể chế chính trị nào chứ không chọn chính trị hay quyền thế. Thậm chí ông cũng không có ý định dùng danh tiếng của mình để mưu cầu hạnh phúc lớn lao gì hơn là một nhạc sĩ bình dị pha chút thiền vị cho cuộc đời.

Ý của Tàng

Có những bài rất dở như một số bài ông viết sau 1975.”

Nè, mí cha đừng có phét lác, sau 1975 mà Trịnh không “ca tụng Bác và Đảng” thì Trịnh cũng “ối mê ly đời ta, sáng cà phê hạt diệp tối là lá la khoai sùng…” mà Trịnh thì “nhát như con chuột” dù cho có tài viết như có người đặt là “phù thuỷ của ngôn từ.” … Vì vậy muốn sống còn thì phải bưng bô có thế thôi, ai không thích ngửi thì đừng có lại gần … Nói vậy thì cũng có người cãi :”đã vậy sao không chạy ra nước ngoài?” ….. Ra nước ngoài vào những năm đầu thì Trịnh chỉ có mà “độn thổ”, phong trào chống Cộng đang ở “tột đỉnh,” Trịnh mà ló mặt ra thì cái răng húp cháo không còn……

Người nghệ sĩ xin quí vị đừng đòi hỏi họ phải có cái đức của người quân tử … nếu không thì sao ông bà mình thường hay nói “xướng ca vô loài” ?!

Ngưng trích DVConline.

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG sao y bản chánh.

Lính Mà Em

Linh Cong Hoa
 
Ra Giêng, trời đất vào Xuân — Dzù Trời Hoa, đất Mỹ ngày tháng đông mãi cũng phải vào Xuân, Nắng Vàng trở lại trên Rừng Phong. Buổi sáng, mở computer thấy bài viết về Người Lính Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà — người viết Nguyên Trân — hay quá là hay.

Ôi.. Xứ người, thương nhớ biết bao giờ nguôi. Con chim phải xa nước của nó, nó cũng nhớ thương, nó đậu ở cành cây phiá Nam hướng về nước nó, con ngựa Đất Hồ thấy gió đông thổi đến, nhớ nước nó còn hí lên, huống chi là tôi. Tôi là người. Đọc bài viết này, chỉ đọc lời ca, chưa cần nghe nhạc, tôi nghe vẳng bên tai lời ca, tiếng nhạc tôi từng nghe 50 năm xưa, 40 năm xưa — những lời ca những năm tôi còn trẻ, thời gian tóc tôi xanh, mắt tôi sáng — tôi không đi một đường cảm khái, tôi không ngất ngư con tầu đi sao được.
 
Linh Cong Hoa

 Bài viết Lính mà Em làm tôi xúc động. Và từ lâu tôi vẫn hành xử theo qui luật tự giác, tự nguyên — tự tôi đặt cho tôi — “Lộc bất khả hưởng tận“. Chỉ riêng “Lộc” mình đã không nên hưởng hết một mình, mình phải chia với người, nay tôi có” Lộc” mà lại có cả “Lạc” — có niềm vui trong Lộc — tôi phải chia với quí vị. Tôi đăng lại ở đây bài Lính mà Em của người viết Nguyên Trần để quí vị cùng thưởng thức. Tôi tìm được bài này trên Website nguoivietboston. Tôi đăng lại mà không xin phép tác giả, tôi biết dù tôi có không xin phép, tác giả cũng cho phép thôi.

Mời quí vị đọc:

LÍNH mà EM. Người viết Nguyên Trần, nguoivietboston.com

Vài hàng gởi anh trìu mến
Vừa rồi làng có truyền tin
Nói rằng nước non đang mong
Đi quân dịch là thương nòi giống

Bức tâm thư — Nhạc và Lời Lam Phương.

Bài hát nầy nổi tiếng một thời, có người sửa lời lại là:

Vài hàng gởi anh trìu mến
Vừa rồi em tắt cái đường kinh

Mấy chàng họ Sở mà nghe câu nầy chắc phải áp dụng chước thứ 36 trong Tam Thập Lục Kế của Tôn Tử là “tẩu vi thượng kế“, nôm na là “quất ngựa truy phong.”

Công Tử Hà Đông: Lẽ ra thì không được bàn loạn ngang xương trong bài viết của người, nhưng hào hứng quá chịu không nổi, xin góp đôi câu:

Vài hàng gửi anh yêu quí
Tháng này Em tắc tị đường kinh

Tí síu Lẩy Kiều:

Đến kỳ vẫn sạch lòa loà
Thất kinh, Em chửa, biết là làm sao?

Thoáng bóng áo hoa của Nàng T.T.K.H:

Rồi một ngày kia tôi tắt kinh,
Bảo chàng, chàng lại cứ mần thinh.

Trở lại bài viết đàng hoàng của ông Nguyên Trần:

Chàng trai giã từ người yêu, xóm làng để tòng chinh diệt giặc:

Tôi tiễn anh lên đường trời hôm nay mưa nhiều lắm
Mưa thắm ướt vai gầy, mưa giá buốt con tim
Mình cầm tay nhau, chưa nói hết một câu
Thôi đừng buồn anh nhé! Tiếng còi đã ngân dài

Một người đi — Nhạc và Lời Mai Châu

Ra đi nhưng chàng trai vẫn không quên nhắn nhủ bạn bè thân tình còn ở lại là chàng chỉ về khi quê hương sạch bóng quân thù:

Rồi đây mai nầy ai hỏi đến tên tôi
Bạn ơi! Hãy nói khoác chiến y rồi
Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên
Giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền
Có về là khi nước non vui bình yên

Biệt kinh kỳ — Nhạc và Lời Minh Kỳ

Vào quân trường với phút đầu bỡ ngỡ nhưng sau đó chàng trai quen đi với nếp sống “thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu“. Sau thời gian huấn nhục, chàng tân binh mong chờ người đẹp đến thăm:

Hôm nay ngày chúa nhật, vườn Tao Ngộ, em đến thăm anh
Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi
Mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên rồi

Vườn Tao Ngộ — Nhạc và Lời Nhật Hà

*****

Ta là đàn chim bay trên cao xanh
Khi nhìn qua khỏi những kinh thành tan
Đôi cánh tung hoành vuợt trên mây xanh
Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng

Không Quân Hành Khúc

Có chàng thì theo những đoàn tàu chiến thỏa mộng hải hồ giữ yên vùng sông biển:

Thân phơi trên Nam Băng Dương
Nước xanh hồn Thái Bình Dương
Ra khơi sóng vang dạt dào
Mênh mông sóng va thân tàu

Hải Quân Việt Nam

Nhưng đa số đều in gót chân trên khắp nẽo đường quê hương để lùng diệt giặc:

Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn
Đoàn hùng binh tung sương lướt gió reo vang

Lục Quân Hành Khúc

Những chàng trai lính rất dũng cảm trên chiến trường nhưng trên tình trường, chàng cũng lãng mạn đa tình hào hoa một mực:

Anh là lính đa tình
Tình non sông rất nặng
Tình hải hồ ôm mộng
Tình vũ trụ ngát xanh
Và mối tình rất êm đềm
Là tình riêng trong lòng anh yêu em
Có lúc muốn lấy hoa rừng
Anh gửi về em thêu áo
Và ngàn vì sao trên trời
Kết thành một chuỗi em đeo
Dù rằng đời lính không giàu
Mà chắc không nghèo tình yêu

Lính đa tình Nhạc và Lời Y Vân

Và còn gì lãng mạn hơn là:

Nếu em không là người yêu của lính
Ai sẽ đón em chủ nhật trời xinh
Em sẽ nhớ ai đêm sương lạnh lùng
Và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng

Người yêu của lính Nhạc và Lời Trần Thiện Thanh

Cũng vô cùng tình tứ:

Nếu vắng anh ai dìu em đi chơi trong chiều lộng gió
Nếu vắng anh ai đợi chờ em khi sương mờ nẻo phố
Nếu vắng anh ai đón em khi tan trường về

Nếu vắng anh — Nhạc và Lời Anh Bằng.

Và cũng vì cái tính đào hoa hào hùng nên lính được nhiều người đẹp yêu mến:

Dù cho sông kia quên bến cũ
Bóng chinh nhân không phai mờ cõi lòng
Dù cho non cao hay suối vắng
Tim em theo cùng

Mơ người lính chiến — Nhạc và Lời Mai Sơn

Và mơ ước lứa đôi:

Chiến sĩ của lòng em đắm đuối ước mơ
Ở chiến trường xa dãi nắng dầm mưa
Nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em
Trong khi vang ca say theo chiến trường

Chiến sĩ của lòng em — Nhạc và Lời Trịnh văn Ngân.

Đời lính có những vui buồn dễ thương nhưng cũng có cái đau hơn hoạn như sau thời gian dài giữ đồn, hành quân, chàng được phép cuối tuần về gặp người yêu hay vợ trẻ đang phơi phới xuân tình. Chàng đã lau chùi súng ống, nạp đạn sẵn sàng để chuẩn bị kích hỏa thì mồ tổ thằng Việt Cộng mò về quấy phá xóm làng làm vị chỉ huy trưởng ra … lệnh Cấm Trại 100%. Xin các bạn nghĩ xem trên đời có cái gì đau khổ hơn không? Thà chết sướng hơn. Và bọn Việt Cộng thật là tội ác ngút trời:

Một trăm em ơi ! Chiều nay một trăm phần trăm
Một trăm em ơi ! Chiều nay một trăm phần trăm
Người yêu anh ơi ! Chiều nay lại cấm trại rồi
Nào đâu nào biết tâm tư đời lính
Lòng anh nao nao mỗi khi ta hẹn nhau … Với em tâm tình

100% — Nhạc và Lời Vũ Chương

Có những cuộc hành quân kéo dài cả hai, ba tuần lễ thế nên trong khi chờ xe đưa về hậu cứ nghỉ ngơi, người lính đã vội viết thư cho người yêu:

Sau ngày hành quân, anh về vui trong chiến thắng
Súng còn mang vai đã viết thư cho người yêu
Em ơi ! Thư vắn hơn tình
Xin em đừng buồn, xin em đừng hờn
Chớ bảo không thèm, không đọc thư anh

Sau ngày hành quân — Nhạc và Lời Lê Dinh.

Người lính chiến ra đi biền biệt, dãi dầu sương gió nơi tiền đồn heo hút để người em hậu phương mòn mỏi nhớ thương đợi chờ cho đến lúc nàng vì tình yêu người trai thời chinh chiến đã lặn lội vào nơi địa đầu giới tuyến để thăm chàng:

Em đến thăm, áo anh mùi thuốc súng
Ngoài trời mưa lê thê qua ngàn chốn sơn khê

Mấy dặm sơn khê — Nhạc và Lời Nguyễn văn Đông

Cũng có lúc ngồi gác giặc mà người lính mơ ước ngày về với kết nối duyên thề:

Chiến tuyến người trai ôm súng ước mơ
Rủ chinh y trọn ước với câu thề
Theo lối về thôn cũ đường thắm hoa
Gió trăng lạnh tình không phai niềm nhớ

Mấy độ thu về — Nhạc và Lời Minh Kỳ

Khi người lính trở về thành phố thăm người yêu thì mặc cho mưa gió mịt mờ trời đất, họ vẫn quấn quít bên nhau để bù lại những ngày xa cách nhớ nhung và chạy đua với những giờ nghỉ phép phù du mong manh :

Hôm mình đi ciné về mưa nhiều
Áo dài xanh bên áo trắng hoa biển
Anh che cho em đừng làm ướt áo
Anh quen rồi mưa gió ” lính mà em”

Lính mà em — Nhạc và Lời Anh Thy

Thời gian về phép của người lính rất quý báu, nó được tính từng giờ vì “tân thú bất như viễn quy” cơ mà:

Bốn giờ đi dài thêm bốn giờ về
Thời gian còn lại anh cho em tất cả em ơi!
Ta đưa ta đến vùng tuyệt vời

Hai mươi bốn giờ phép — Nhạc và Lời Trúc Phương.

Cũng có lúc vì những sự việc bất thường trong đơn vị, người lính đã phải lỗi hẹn với người yêu để nàng khắc khoải đợi chờ:

Chinh chiến nên anh cuối tuần không đến
Một lần xa cách trăm vạn lần thương
Gục đầu nghe tiếng tình yêu dỗi hờn
Những chiều không anh đến tìm
Thương dài từng bước cô đơn

Nếu đời không có anh — Nhạc và Lời Hoàng Trang

Lênh đênh giữa sóng nước đại dương, chàng lính thủy nhìn những con sóng trắng xóa bạt ngàn rồi tưởng chừng một loài hoa biển tặng người yêu:

Tại em khi xưa yêu hoa màu trắng
Tại em suy tư bên bờ vắng
Nên đêm vượt trùng anh mong tìm gặp hoa trắng về tặng em
Cho anh thì thầm: Em ơi! Tình mình trắng như hoa đại dương

Hoa biển — Nhạc và Lời Anh Thy

Đồn anh đóng ven rừng mai
Nếu mai không nở, anh đâu biết xuân về hay chưa?

Đồn vắng chiều xuân — Nhạc và Lời Trần Thiện Thanh

Giữa lúc muôn người nô nức đón xuân sang với pháo đỏ rượu nồng, với cao lương mỹ vị, với muôn hoa rực rỡ , với lời chúc tốt đẹp thì người lính:

Đón giao thừa một phiên gác đêm
Chào xuân đến súng xa vang rền

Phiên gác đêm xuân — Nhạc và Lời Nguyễn văn Đông

Anh! Anh! Nhớ anh trời làm cơn bão
Anh! Anh! Tiếc anh chiều rừng thay áo
Ôi! Vết đau nào nào đưa anh đến
Ngàn đời của nhớ thương
Hỡi bức chân dung trên công viên buồn

Người ở lại Charlie — Nhạc và Lời Trần Thiện Thanh

Và hỡi các anh hùng vị quốc vong thân! Các người không bao giờ chết, không bao giờ chết trong lòng những người Việt Nam yêu chuộng tự do, công bằng, nhân bản trong và ngoài nước:

Anh, anh không chết đâu em
Anh chỉ về với mẹ mong con
Anh vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người tiếc thương đời lính

Anh không chết đâu em — Trần Thiện Thanh

Trước khi kết thúc bài viết nầy, người viết xin các bạn một giây phút lắng đọng tâm hồn để cùng nhau thắp nén hương lòng tưởng niệm tất cả anh linh các Quân, Dân, Cán, Chính đã bỏ mình vì lý tưởng Tự Do trong cuộc chiến tàn ác phi nhân của lịch sử nhân loại.

Toronto Jan 27, 2009. Mồng 2 Tết Kỷ Sửu

Nguyên Trần

Cựu Sinh Viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, khoá 11 ĐS (1963-1966). Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Bộ Binh Thủ Đức, khóa 23 (1966 -1967)

*****

Năm 1946 trên những đường phố vắng trong thị xã Hà Đông có dòng Nhuệ Giang hiền hoà chẩy ngang, chú thiếu nhi là tôi năm ấy 13, 14 tuổi, vừa đi vưà hát những lời ca:

Ta là đàn chim bay trên cao xanh
Khi nhìn qua khói những kinh thành tan
Đôi cánh tung hoành vuợt trên mây xanh
Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng
Đây đó hồn nước ơi!
Không Quân Việt Nam lướt trên ngàn mây gió
Ù.. ù.. u.. u.. ú.. ú..
Không Quân ra đi cánh bay rợp trời.

Hình ảnh chú thiếu niên ấy, âm hưởng lời ca ấy, làm tôi hôm nay — ông già tóc bạc, răng giả, khuôn mặt cằn cỗi in hằn những vết roi đời — viết đến những dòng chữ này, bỗng ưá nước mắt.

Tôi mượn bài viết của ông Nguyên Trần để kính gửi tình tôi đến anh hồn các vị tử sĩ, để thưa với các vị tôi cám ơn các vị — các vị đã chết đề tôi và các con tôi được sống — xin các vị biết chúng tôi không quên công các vị.

Tôi đăng bài này để gửi đến quí vị Lão Ông Sáu Bó, Bấy Bó, Tám Bó sống ở bẩy phương trời, tám phương đất, mười phương biển, mười ba phương núi, hai mươi phương rừng hải ngoại thương ca, để quí vị nhớ lại thời quí vị 10, 20, 30 tuổi quí vị từng hát, từng nghe những lời ca trong bài viết này.

Tôi đăng bài này để nói với những người Việt Nam, bẩy trăm năm nữa đến cõi này, biết rằng chúng tôi, những người Việt ra đời những năm 1930, từng hát, từng nghe, từng xúc động vì những lời ca nhạc trong bài này.

Tác giả Nguyên Trần không để tên nhạc sĩ, tôi để thêm:

Không Quân Hành Khúc. Lời và Nhạc Văn Cao

Hải Quân Hành Khúc. Lời và Nhạc Văn Cao

Lục Quân Hành Khúc. Lời và Nhạc Lưu Hữu Phước.

Dzi Chúc Dzởm

Alex
 
Nhà Văn Alexandre Solzhenitsym: “Khi thấy thằng cộng sản nói láo, ta phải có can đảm đứng lên nói nó nói láo, nếu ta không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên đi ra, không ở lại nghe nó nói láo, nếu ta không có can đảm bỏ đi, ta phải ngồi lại, ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác.”

——————–

Những năm 1980 trong ngôn ngữ của người Sài Gòn có tiếng “Dzởm” để gọi những vật phẩm làm giả. Tiếng “Dzởm 1980” của dân Sài Gòn khác với tiếng “Rởm” trong ngôn ngữ dân Bắc Kỳ những năm trước 1954.

Từ năm 1985, tiếng “Dzởm” chuyển thành tiếng “Dzỏm” và tiếng “Dzỏm” được dân Sài Gòn sài đến bây giờ.
 
Ho Chi Minh
 
Cái gọi là đời tư — văn huê là cuộc đời ái tình và sự nghiệp — của Chủ Tịt Hồ chí Minh đầy những cái Dzỏm. Hồ chết, trong số những cái Lá Đa Rách gọi là Dzi Chúc của Hồ có nhiều bản dzỏm. Đây là một chuyện về Dzi Chúc Dzỏm của Hồ được đăng trên Internet.

Dzi Chúc của Hồ Chủ Tịt:

Bản gọi là Dzi Chúc của Hồ chí Minh được báo Con Ong Tỵ Nạn tại Paris tung ra vào năm 1981. Sau đó được báo Thức Tỉnh của ông Nguyễn văn Nghi ở San Diego đăng lại nguyên văn. Nghe nói chữ viết trong bản chúc thư đã được đưa cho kiểm tự Pháp để kiểm chứng và đã được xác nhận là đúng chữ viết của Hồ chí Minh. Toàn bộ bản di chúc của Hồ chí Minh được công bố có nội dung như sau:

Thời xưa ở bên Trung Quốc người ta thường nói, “Con chim trước khi chết thì tiếng kêu thương, còn người trước khi chết thì lời nói phải.”

Tôi tự xét mình chẳng còn sống bao lâu nữa, nên cố gắng viết di chúc này, mong rằng những điều viết ra không phải là những điều sai quấy.

Vừa mới đây, Lê Duẩn có đi với Trần Quốc Hoàn tới gặp tôi, ép buộc tôi phải viết bản di chúc theo ý muốn của họ. Tôi đã viết mà trong bụng vẫn tấm tức vô cùng.

Nay tôi viết thêm tờ di chúc này, xin coi là chính thức. Ngoài ra tôi không công nhận bất cứ bản di chúc nào khác. Tôi ước mong một ngày nào đó, bản di chúc tôi viết đây sẽ được mọi người biết tới, thì ở thế giới bên kia tôi mới được thỏa lòng.

Ho quy goi Tôi vốn con nhà nghèo nhưng từ bé đã nuôi mộng đảo lộn sơn hà, và đem lại vẻ vang cho nòi giống, nên tôi bôn ba hải ngoại bao nhiêu năm không hề quản ngại khó khăn, gian khổ, vào tù ra khám, chỉ mong có ngày tổ quốc ta độc lập, giàu mạnh, dân ta hạnh phúc, tự do.

Tôi thường đọc lịch sử nước Việt Nam ta, thấy có ông Trần Thủ Độ là một tay hào kiệt hiếm có trên đời, đã không quản ngại làm việc ác, làm phản mà gây nên cơ nghiệp hiển hách của nhà Trần, đuổi giặc Nguyên, đem lại vinh quang cho cả dân tộc về cả văn minh và đời sống.

Không lường sức mình, không đo tài mình, tôi đã hành động như ông Trần Thủ Độ nên đất nước mới tan nát, nhân dân ta mới điêu linh, mà đầu mình thì nặng nề không biết bao nhiêu tội ác, không thể nào tha thứ được.

Cái nhầm tai hại nhất của tôi là đi theo Cộng sản Mác Xít mà không biết là chủ nghĩa này chẳng qua chỉ là giả bộ, để đánh lừa giai cấp nghèo mà cướp lấy chính quyền cho nước Nga khi đó.

Tôi cũng ngay tình mà dùng những người hợp tác với tôi. Tôi cứ tưởng những người đó quý yêu tôi, đâu ngờ họ đều là mật thám của Nga sô, vây quanh tôi chỉ là để kiểm soát tôi, khéo léo hướng dẫn tôi đi theo con đường Nga đã vạch sẵn. Họ đề cao và tâng bốc tôi để khi nào làm điều gì độc ác thì tôi phải chịu hết trách nhiệm với dân tộc. Nhiều khi họ quyết định mà không hề cho tôi hay biết gì, như vụ cải cách điền địa ở Bắc Bộ chẳng hạn, bây giờ nhân dân có quyền rủa oán trách tôi không biết để đâu cho hết.

Dù sao tôi vẫn là người có tội, tôi không dám chối cãi, chỉ dám mong lịch sử sau này xét kỹ cho tôi mà đừng lên án tôi quá nặng nề.

Đầu năm 1963, hồi đó tôi còn chưa bị bọn quanh tôi bao vây chặt chẽ quá, tôi có nhờ mấy nhân viên Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến chuyển vào Nam bộ hai cành đào lớn rất đẹp để tặng cụ Ngô đình Diệm, kèm theo một bức thư, trong thư đó, tôi có chân tình yêu cầu cụ Ngô cùng tôi thảo luận trong tình anh em, để hai bên cùng lo cho dân chúng hai miền, trên căn bản thi đua làm cho dân giàu, nước mạnh, theo đường lối riêng của từng người.

Truyện này lộ ra, làm cụ Ngô bị giết trong Nam, còn ở ngoài Bắc thì tôi bị kiểm soát rất khắt khe, không có quyền quyết định điều gì nữa cả. Đáng lý ra tôi có thể bị giết ngay từ hồi đó rồi, nhưng tên tuổi còn được thế giới biết đến, nên họ còn phải lợi dụng mà để tôi sống thêm. Tôi đã già rồi, râu tóc đã bạc mà còn phải sống trong cảnh tù giam lỏng, cứ nghĩ đến điều này làm tôi ứa nước mắt. Họ đã không giết tôi nhưng sai ông Bác sĩ Tôn thất Tùng cho tôi uống thuốc độc để tôi không thể đi đâu được nữa, mà cũng không thể tiếp xúc với những người mà tôi muốn tiếp xúc. Tôi chưa chết ngay, nhưng là chết dần, chết mòn, ở biệt lập một nơi để đợi ngày tắt thở.

Thật cũng tiếc, khi về già, biết mình sai lầm, muốn chuộc lỗi mà không được nữa.

Trước khi viết phần cuối của tờ di chúc này, tôi xin thú nhận, tôi là một người không phải thần thánh gì nên khi tôi còn sống cũng đủ “bảy tình” như kinh nhà Phật đã đề cập. Tôi không có vợ, nhưng cũng có được đứa con gái lai Pháp. Tôi ước mong con gái tôi, khi đọc tờ di chúc này sẽ tha thứ cho tôi đã không đủ bổn phận làm cha, nhưng phụ tử tình thâm, tôi luôn nhớ tới con gái tôi với muôn vàn âu yếm.

Ai cũng tưởng tôi là con người vô thần, nhưng riêng Đức Cha Lê hữu Từ thì biết tôi rất tin có Đấng Tạo Hóa. Vì tin có ông Trời nên tôi xin khẩn cầu cho nước ta và các nước Cộng sản khác trên thế giới sớm thoát ách Cộng sản.

Tôi cũng xin ông Trời cho tờ di chúc này có ngày được phổ biến khắp nơi.

Cuối cùng, tôi xin lẩy Kiều, dùng hai câu thơ của cụ Nguyễn Du để tỏ lòng hối hận trước cao xanh:

Rằng con biết tội đã nhiều
Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam

Hà Nội 14-8-1969

Tên ký: Hồ chí Minh

Công Tử Hà Đông: Miễn phê bình.

Mời quí vị đọc chuyện Nhà Văn Trần Khải Thanh Thủy, Hà Nội, và chuyện Nhà Văn Alexandre Solzhenitsyn, Nga Sô:

Mấy ngày đầu năm Trâu Đánh, có một số người đến thăm Nhà Văn Trần Khải Thanh Thủy ở Hà Nội. Bọn Công An đến bắt đi mấy người khách của bà Nhà Văn. Bà viết kể lại chuyện:

Du Xuân gặp Du Côn. Người viết Trần Khải Thanh Thủy.

Không khí căng thẳng, ngột ngạt như trong lò lửa, giữa mùa đông mà người cứ nóng hần hập, tê đờ. Biết đối thoại mấy cũng vô ích, nhất là với một người mà bọn chúng coi là ngoan cố, lộng ngôn như tôi, nên bọn chúng cứ kéo anh Nguyễn Kim Nhàn và Vương Trí Kiều đi theo chúng.

Ra cưả, Vương Trí Kiều bất ngờ hô lớn:

- Đả đảo Đảng Cộng Sản!
Đả đảo bọn tham nhũng!
Đả đảo bọn Công An bắt người vô cớ!

Trước những cặp mắt nhìn tò mò, ngỡ ngàng của những người dân vây quanh, hô xong Vương Trí Kiều lớn tiếng:

- Tôi chống tham nhũng mà bị chúng nó bắt. Xã hội này là xã hội gì?

( Không trích một đoạn. Mọi người trong nhà TK Thanh Thủy lo âu chờ tin về hai người bị bọn Công An đến bắt lên đồn. Chừng 3 tiếng đồng hồ sau..)

Nghe tiếng động và thấy bóng người ngoài cửa, tôi mừng rỡ:

- Kiều về.

Vương Trí Kiều dáng vẻ vừa mệt mỏi vừa phấn khích, vào nhà, ngồi xuống ghế, nói:

- Chúng xét túi thổ cầm của em, lấy mất tờ báo Tổ Quốc Số 56 và quyển sổ tay của em. Chúng lập biên bản, bắt em ký, em xé tờ biển bản làm tư. Chúng xông đến định đánh em, nhưng rồi chúng không dám đánh.

Ngưng trích bài viết của Trần Khải Thanh Thủy.

Chuyện bà TK Thanh Thủy kể về cảnh bọn Công A Bắc Cộng bắt người ở Hà Nội — người bị bắt hô “Đả đảo Đảng Cộng Sản” ngay trước cưả nhà, và hỏi những người Viêt chứng kiến vụ bắt người:

- Tôi chống tham nhũng mà chúng nó bắt tôi. Tôi có tội gì?

Làm tôi nhớ lại những vụ bọn Công An Thành Hồ bắt những văn nghệ sĩ Sài Gòn Viêt Nam Công Hoà những năm 1976, 1977 và dzài dzài những năm sau đó. Những văn nghệ sĩ Sài Gòn, và những người Sài Gòn bị Công An VC bắt, đều im re, đều líu ríu đưa tay chịu còng, đi theo chúng ra khỏi nhà. Những văn nghệ sĩ VNCH bị bọn VC phang những cái án năm, mười năm, nhiều người bị bắt, bị án vài năm chỉ vì làm một bài thơ, một bản nhạc, nhiều người chẳng có tội gì cả. Nhưng năm nay, 2009, ta thấy bọn Công AN VC “sìu” rồi, chúng chỉ còn hung hăng con bọ xít dzoạ dzẫm người dân, người bị bắt hô “Đả đảo Đảng Cộng” ở giữa đường phố Hà Nội, ngay trước mũi chúng mà chúng chỉ giữ đương sự có vài tiếng đồng hồ là thả về.

Tôi nhớ lời kể của Nhà Văn Nga Alexander Solzhenitsyn khi ông bị bọn Mật Vụ Nga đến tận đơn vị Pháo Binh ở mặt trận biên giới Ba-lan-Đức bắt ông đầu năm 1945, Nhà Văn năm ấy là Đại Úy Pháo Binh. Hai tên Mật Vụ giải Đại Uý về Moscow. Về tới nhà ga thủ đô, chúng không biết đường đến Nhà Tù Lubyanka. Nhà Tù Nga này năm 1945 cũng như Nhà Tù Chí Hòa với dân Sài Gòn những năm 1980. Ông Đại Úy bị bắt kể trong Tiểu Thuyết The First Circle – Tầng Đầu Địa Ngục – của ông:

- Tôi phải chỉ đường cho chúng đưa tôi đến Nhà Tù. Trên đường đi, nhiều lúc tôi muốn đứng lại, nói to với mọi người chung quanh: “Tôi bị bắt. Tôi không làm tội gì cả mà chúng bắt tôi.” Tôi muốn nói với mọi người rằng tôi bị bắt oan, nhưng rồi tôi không nói. Vì tôi nghĩ lúc ấy tôi nói có nhiều lắm là vài chục người nghe, sẽ có ngày tôi nói tôi bị bắt oan với cả triệu người nghe.

Ông Đại Úy bị phang 7 năm tù, 10 năm lưu đày ở Siberia, ông bị ung thư nhưng ông không chết, ông trở thành Nhà Văn. Không phải Nhà Văn Thường, Nhà Văn Suông mà là Nhà Văn Lớn, Nhà Văn Tố Cáo Tội Ác của Bọn Cộng Sản. Ông thực hiện được ý muốn khi ông mới bị bắt:

Có ngày tôi nói với cả triệu người rằng tôi bị bắt oan.

Nhà Văn Alexandre Solzhenitsyn không chỉ tố cáo tội ác của bọn Cộng Nga với một triệu người, ông nói chuyện ấy với cả trăm triệu người đủ mọi mầu da trên thế giới.

Nhưng.. than ôi.. Cả trăm triệu người bị bọn Công sản bắt đi tù chỉ có một Nhà Văn Alexandre Solzhenitsyn là được như thế, 999.999.999 người kia chết thảm trong tù.

Thư Ngỏ: Sen-Đầm Quốc Tế

Fidel Castro and Krushnev
 
Fai-đeo và Kút-xép trong thời Tình hữu nghị Cu-Nga đang mặn nồng. Năm 1960, Kút cho đặt dàn hoả tiễn nguyên tử trong lãnh thổ Cu. TT. Kennedy đòi và doạ: “Đem hoả tiễn đi ngay, nếu không Mỹ sẽ đánh vào đất Cu.” Fai-đeo nói: “Hoả tiễn trong đất Cu là của Cu. Nga cũng không có quyền mang đi.” Nhưng rồi Kút phải nhượng bộ, đem hoả tiễn về Nga.

——————–
 
Open Letter
 
Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, Ngày 16 Tháng Giêng Kỷ Sửu.

Nhật báo The Washington Post, ngày 9/1/2009 đăng nguyên một trang báo bức Thư Ngỏ gửi Tổng Thống Hoa Kỳ. Nguyên văn Thư Ngỏ:

OPEN LETTER

An Open Letter to

HIS EXCELLENCY BARACK OBAMA

The President of the U.S.A

You have come to the office with a promise of change. May we ask this change includes the politics of Palestine-Israel.

Your Excellency, they say Hamas fires rockets and they attack killing over two thousand soul, including women and children, using the most sophisticated American arsenal and breaking all interrnatinal laws. The don’t answer the crucial question why the rockets are fired, the answer being that they have occupied their land, closed their borders and put them under siege.

Exellency, we beg of you to just be fair, how would you feel if there was an occupation in America.

THƯ NGỎ (Phỏng dịch)

Thư Ngỏ gửi

NGÀI BARACK OBAMA

Tổng Thống Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

Ngài nhiệm chức với lời hưá sẽ thay đổi. Chúng tôi xin hỏi sự thay đổi này có bao gồm chính sách về Palestine-Israel.

Thưa Ngài, họ nói Hamas bắn hoả tiễn nên họ tấn công, giết chết hơn hai ngàn người, trong số có đàn bà, trẻ em, họ xử dụng kho võ khí hiện đại nhất của Hoa Kỳ, họ phá tất cả những luật quốc tế. Họ không trả lời câu hỏi quan trọng tại sao hỏa tiễn lại bắn, câu trả lời là tai vì họ chiếm đất của người ta, họ đóng cửa biên giới của người ta và đẩy người ta vào tình trạng bị bao vây.

Thưa Ngài, chúng tôi mong Ngài xử sự công bằng, Ngài sẽ nghĩ gì nếu Hoa Kỳ bị chiếm đóng.

CTHàĐông: Thư Ngỏ — không ký tên hội đoàn — gợi tôi nhớ những năm xưa, 1950, bọn Nga Cộng luôn mồm tố cáo Hoa Kỳ là tên Tư Bổn Đế Quốc Khả Ố chuyên can dự vào nội tình các nước trên thế giới. Thời ấy, bọn Nga Công gọi Hoa Kỳ là “Tên Sen-đầm Quốc Tế ,” — Sen-đầm: Gendarmes, tên gọi Cảnh Binh Pháp ở Bắc Kỳ trước năm 1945- Nga Cộng đả kích kịch liệt việc Hoa Kỳ can thiệp vào những tranh chấp trên thế giới.

Thế rồi, đến những năm 1980, tôi thấy bọn Nga Công đả kích Hoa Kỳ cái tội “không can thiệp vào những tranh chấp trên thế giới, làm lơ, ích kỷ, trốn trách nhiệm, không chịu giúp những nước nhỏ v..v..”

Những năm 1950 tôi thấy chính quyền Mỹ hoan nghênh những người Cuba liều mạng vượt biển, vượt biên sang Hoa Kỳ, những người Cuba này được các giới chức trong chính quyền Mỹ đề cao là “những chiến sĩ Tự Do.”

Dòng thời gian dài một ánh bay.. Những ngày như lá, tháng như mây.. Đến những năm 2000 tôi thấy chính quyền Mỹ lắc đầu quầy quậy với những người Cuba đào thoát Thiên Đừơng Cu Cộng; những người Cuba bỏ quê hương của họ chạy sang sống nhờ lân bang Mỹ Quốc Tự Do bị chính quyền Mỹ từ chối, trả về nước. Vì Cuba quá gần Mỹ, sát nách, tầu biển chỉ chạy có mấy giờ dồng hồ là đi từ biển Cu đến biển Mỹ Miami, chính quyền Mỹ có cả một đội tầu biển đi tuần suốt ngày đêm ở hải phận Florida nhìn sang Cuba. Độäi tầu tuần này không tuần tiễu để ngăn ngưà bọn đạo tặc Cuba làm bậy mà để bắt những tầu bè dân Cuba dùng để vượt biển từ Cu sang Mỹ. Mỹ có Luật Nước đàng hoàng: Dân Cu bị bắt trên đường sang Mỹ là không oong đưa Tự Dzo Tự Dziếc Tị Nạn Tị Nung Chính Chị Chính Em Chống Cộng Chống Càng gì cả, bị Mỹ cho trở về bờ biển nước Cu liền một khi.

Chắc vì khi muối mặt làm việc từ chối tồi tệ ấy một số viên chức Mỹ cũng thấy ngượng — họ ngượng vì từ ngày dựng bức Tượng gọi là Tượng Nữ Thần Tự Dzo ở Cảng New York, Ông cha họ đã lỡ hưá — theo một ý trong Kinh Thánh — kêu gọi người thế giới bị áp bức, bị sợ hãi, bị đói rét.. hãy đến với Mỹ Quốc, Xứ Sở của Tự Dzo, No Ấm, Mỹ Quốc Tự Do bao giờ cũng mở rộng vòng tay chào đón dân tứ phương, nên nay họ từ chối tiếp nhận những người đi tìm Tư Do, họ cũng thấy lương tâm họ, đôi khi, cắn cấu họ, nên trong Luật Cấm Dân Cu vào Hoa Kỳ có thêm khoản luật nhỏ:

- Người Cu nào đặt chân lên được lãnh thổ Mỹ thì được xét, nhân cho sống ở Mỹ, người Cu nào bị bắt trên biển thì không được xét, nhận.

Vì điều Luật ác ôn này nên có những chiếc thuyền dân Cu Tị Nạn Phai-đeo vào được bờ biển Florida, bị tầu tuần Mỹ chặn, nhiều dân Cu trên tầu nhẩy đại xuống biển, bơi vào bờ. Ở lại trên tầu, họ bị đưa trở về Cuba, bơi được lên bờ biền Mỹ, họ được ở lại Mỹ, chết chìm dưới biển họ cũng thoát được Nạn Phai-đeo Ác Ôn.

Nhật báo The Washington Post từng có bài kể chuyện một toán người Cu vượt biển lên được một cây cầu tầu bằng gỗ ven biển Florida, tưởng như dzậy là thành công toán người này ngồi yên trên cầu tầu chờ được đón vào đất Mỹ. Nhưng họ bị trả về nước Cu, viên chứ dzi dzân Mỹ viện lẽ: họ chưa đặt chân lên đất Mỹ, cầu tầu gỗ vẫn ở ngoài biển, phần đầu cây cầu dính vào đất liền đã bị gẫy, trôi mất từ lâu.

Cũng những người dân ấy, cũng hai nước ấy, hai bờ đất chung một biển ấy, 40 năm trước họ được chào đón nồng nhiệt, nay họ bị lạnh lùng từ chối, tàn nhẫn trả về. Việc này làm tôi nhớ câu nói: “Bỉ nhất thời, thử nhất thời: Ngày ấy khác, ngày nay khác” của ông Tầu Mạnh Kha.

Và sáng nay, một sáng đầu thời gian gọi là Xuân Trâu Đánh — ra giêng mới đuợc mười sáu ngày, “ra giêng” nói theo ngôn từ người Bắc Kỳ thời tôi mới,năm, sáu tuổi — tôi thấy trên Nhật Báo The Washington Post đăng lá Thư Ngỏ To Tổ Bố, thư đăng nguyên một trang báo — tôi nghe nói một trang Nhật Báo The Washington Post giá 50.000 đô-la — của người Palestine gửi Tổng Thống Mỹ Barack Obama.

Thư Ngỏ xin Tổng Mỹ can thiệp làm tôi ngậm ngùi. Tổng Thống Mỹ hưá có sự thay đổi là thay đổi — phần lớn — về chính sách điều hành kinh tế nước Mỹ của chính phủ Mỹ, cũng có thể có sự thay đổi trên chính sách của Mỹ với các nước trên thế giới, nhưng sẽ rất ít — Tổng Thống Mỹ nào cũng hành động có lợi cho nước Mỹ, hoặc ít nhất làm những việc không gây hại cho nước Mỹ, người Mỹ.

Người Palestine và người Do Thái thù hận nhau từ muôn kiếp, hai dân tộc ấy không thể sống chung vơi nhau nhưng họ cứ bị bắt buộc phải sống chung với nhau. Nhiều ông Tổng Thống Mỹ từng lo việc xây dựng hoà bình cho dân Palestine và dân Do Thái. Dưới thời TT Clinton, trong 8 năm, hai, ba lần hai nhà lãnh đạo Do Thái, Palestine, đến White House bắt tay nhau cam kết hoà nhau trước mặt Tổng Thống Mỹ và trước bàn dân thiên hạ. Mỹ chi nhiều tỷ đô cho những cuộc hoà đàm này. Hoà rồi lại Chiến, rồi lại Hoà, lại Chiến. Tổng Thống Hoa Kỳ không thể bắt dân Palestine ngừng bắn hoả tiễn vào đất Do Thái, Tổng Thống Hao Kỳ dù quyền lực đến mấy cũng không thể cấm dân Do Thái ngừng đánh bom dân Palestine.

Do Thái nói: Chúng nó bắn hoả tiễn vào dân Do, chúng tôi phải đánh sang nước chúng nó. Palestine nói: Chúng tôi phải dùng hoả tiễn đánh chúng nó vì chúng nó làm hại dân nước tôi.

Việc hai dân tộc thù hận nhau phải sống chung với nhau làm tôi nhớ đến chuyện Bát Đại Khổ Não: Tám Đau Khổ Lớn.

  • Sinh, Lão, Bệnh, Tử là Khổ — 4 .
  • Muốn có mà không thể có là Khổ — 5.
  • Có mà không giữ được là Khổ — 6.
  • Yêu thương nhau mà không được sống với nhau là Khổ — 7.
  • Thù hận nhau mà cứ phải sống với nhau là Khổ — 8.

Mời quí vị sang Món 2: Xi-la-ma Mỹ.

KateHai bộ phim được quảng cáo là Đại Xuất Phẩm Trong Năm do cô đào Kate Winslet đóng vai chính: The ReaderRevolutionary Road được đưa ra chiếu cùng một lúc, tuy vắng khách nhưng vẫn chiếu sang tuần lễ thứ ba.

Vì cảm tình với Kate Winslet — qua phim Titanic — tôi theo dõi việc trình chiếu 2 bộ phim mới của cô. Thật không ngờ hai phim mới do Kate Winslet đóng vai chinh lại vắng người xem đến thế: qua 3 tuần chiếu, không tuần lễ nào phim The Reader, hay phim Revolutionary Road lọt vào danh sách 10 Phim Thu Tiền Nhiều Nhất trong Tuần, dù là lọt vào mà đúng hàng thứ 7, thứ 8.

Đây là bản danh sách 10 Phim thu nhiều Đô nhất trên Nhật báo The Washington Post Ngày Thứ Hai 9 Tháng 2, 2009:

  1. He’s Just Not That Into You — Chiếu tuần đầu, thu 27.500.000 đô
  2. Taken. Chiếu tuần 2, thu 20.300.000 đô, tổng số thu sau 2 tuần chiếu 53.4000.000 đô
  3. Coraline, Chiếu tuần đầu, thu 16.300.000 đô.
  4. The Pink Panther 2, Chiếu tuần đầu, thu 12 triệu đô.
  5. Paul Blart: Mall Cop, Chiếu tuần thứ tư, thu 11 triệu đô, tổng số tiền đã thu sau 4 tuần chiếu 97 triệu đô.
  6. Push, Chiếu tuần đầu, thu 10. 200.000 đô.
  7. Gran Torino, Chiếu tuần thứ 9, thu 7.400.000 đô, tổng số tiền đã thu 120.300.000 đô.
  8. Slumdog Millionaire, Chiếu tuần thứ 13, thu 7.400.000 đô, tổng số tiền đã thu 77.400.000 đô.
  9. The Uninvited, Chiếu tuần 2, thu 6.400.000 đô, đã thu 18.400.000 đô.
  10. Hotel for Dog, Chiếu tuần thứ 4, thu 5.800.000 đô, đã thu 55.200.000 đô.

Kỹ nghệ Xi-nê Mỹ vẫn sống mạnh, vẫn thu tiền lời đều đều và nhều nhều.

Trên lãnh thổ Mỹ có khoảng 3000 màn ảnh, viết rõ hơn theo tiếng Việt là nước Mỹ có 3000 rạp xi-nê. Có những phim cùng chiếu một ngày, một lúc trên cả 3000 màn ảnh, có những phim chiếu ít rạp hơn. Phim xi-nê chiếu ở các rạp bây giờ không còn cái cảnh một rạp có 1 bộ phim nhựa như xưa. Những năm 1965-19 70 khi cái gọi là “cao trào phim võ hiệp Hồng Kông” xâm chiến màn ảnh Sài Gòn, ta thấy có những bộ phim Tầu cùng chiếu một tuần, một ngày ở 3 hay 4 rạp, bobine phim — cuộn phim đựng trong hộp sắt to như cái mẹt vưà chiếu xong ở Rex được một chuyên viên chạy phim cho lên Honda cấp tốc đưa đến Việt Long hay Thanh Bình, Khải Hoàn. Đại khái như thế, nên nhiều khi phim chạy rạp đưa đến rạp không kịp, đèn trong rạp bật sáng, nhiều cặp tình nhân ngưng hôn nhau, nhiều khán giả nhìn nhau v..v.. Nay — nghe nói — các rạp xi-nê Mỹ chiếu phim qua máy phát điện tử, như những phim chiếu trên TiVi. Việc in phim ra phim nhựa đem chiếu từng rạp vừa tối tiền vừa dễ hư, cũ thời xưa không còn nữa.

Tôi mất công viết lại danh sách 10 phim Mỹ thu nhiều tiền bán vé nhất trong mấy tuần nay đế quí vị thấy 2 phim do cô đào Kate Winslet đóng vắng khách đến cái độ không tuần nào được lọt vào bản danh sách ấy. Tôi không viết phim do Kate Winslet đóng không hay, tôi ghi nhận phim vắng khách. Và phim vắng khách là tiền bán vé không nhiều. Giá trị hấp dzẫn hay không của cô đào vai chính được quyết định ở số khán giả đến xem phim — khán giả bỏ tiền mua vé, khoảng 7 đô — không phải ở những giải thưởng. Thường thì những phim được Giải Oscars là những phim giá trị, đông khách, nhưng cũng có nhiều phim được năm, bẩy Giải Oscar mà dzở ẹt, bị khán giả chê, như phim American Beauty. Tôi sẽ viết về hai phim American Beauty, The Bridges of Madison County trong một bài tới.

Không thể nói đào kép xi-nê bất cần biết phim mình diễn đem chiếu có nhiều người đến xem hay ít, cứ thu tiền cát-xê là xong, mặc mẹ bọn bỏ tiền ra làm phim chịu lỗ. Phim mình diễn vắng người bỏ tiền mua vé xem, giới làm phim bị lỗ vốn sẽ không bỏ tiền triệu ra mời mình diễn nữa.

Có thể vì tôi là người viết truyện nhà nghề, tôi viết truyện để giải trí cho đồng bào tôi, tôi không làm Văn, nên tiêu chuẩn định giá trị tác phẩm của tôi rất thực tiễn. Và thấp. Riêng về Phim Xi-nê, tôi cho những phim nhiều người coi là Hay — như phim Titanic – nhưng cũng có nhiều phim nhiều người coi mà tôi thấy dzở òm — như phim Hidden Dragon, Crouching Tiger, tên Việt Tầu là Long tàng, Hổ phục — tôi sẽ kể với quí vị những cảm nghĩ của tôi về 2 phim Tầu có cô đào Chương Tử Dzi đóng vai chánh: Long tàng, Hổ phụcTứ Diện Mai Phục.

Hôm Nay Là Xuân

Gai Xuan

 
Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Xuân đã sang đò nhớ cố nhân.
Người ở bên kia sông cách trở
Có về Chiêm quốc như Huyền Trân ?
Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Phơi phới mưa sa nhớ cố nhân…

Nhạc Xuân. Thơ khai bút năm Canh Thìn, 1940 của Thi sĩ Nguyễn Bính. Bài thơ ra đời đã sáu mươi chín năm, đã sống qua hơn nửa thế kỷ biển dâu và sẽ còn sống không biết bao nhiêu năm nữa.

Thi sĩ ta thường cảm khái và làm thơ về mùa thu. Cũng có thi sĩ ta làm thơ cảm khái mùa xuân. Nhưng ít và thường chỉ là thoáng qua mùa xuân, như Thi sĩ Đinh Hùng :

Em đi rừng núi vào xuân
Áo thiên thanh dệt trắng ngần hoa bay
…..
Tiếng trống làng xa dồn mặt nước
Tháng giêng, quê bạn, hội đêm rằm.
Hương đồng tỉnh giấc, ta ngồi dậy
Nhìn ánh trăng xuân đẹp chỗ nằm…

Theo tôi Thi sĩ Nguyễn Bính là nhà thơ làm nhiều thơ về mùa xuân nhất:

Đã thấy xuân về với gió đông
Với trên mầu má gái chưa chồng.
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong…
…..
Cao tay nâng chén rượu hồng
Mừng em em sắp lấy chồng xuân nay!
Uống đi ! Em uống cho say
Để trong mơ sống những ngày xuân qua…
…..
Em như cô gái hãy còn xuân
Trong trắng chưa vương chút bụi trần.
Xuân đến hoa mai, hoa mận nở
Gái xuân rũ lụa bên sông Vân.
Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng.
Đôi tám xuân đi trên mái tóc
Đêm xuân cô ngủ có buồn không ?

Tôi đọc Thơ Nguyễn Bính từ những năm 1940, khi tuổi đời tôi chưa đầy Một Bó. Những mùa xuân hồng qua đi, những mùa thu vàng tới.., hôm nay mái tóc không xanh nữa tôi viết những bài Xuân trong căn phòng nhỏ có khung cửa sổ rộng nhìn ra Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, Virginia Đất Tình Nhân. Tôi nhớ những đêm buồn và tuyệt vọng nằm đọc lại những trang truyệân, những trang thơ còn sót lại sau cơn binh lửa, cơn dâu biển trong căn gác nhỏ ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn — Sài Gòn thành phố thân thương mà tôi đã không giữ được — trong một đêm buồn ấy tôi đọc bài thơ Nhạc Xuân của Nguyễn Bính và tôi nghĩ đến chuyện tại sao các thi sĩ ta rất ít người làm thơ về Công Chúa Huyền Trân ?

Ao DaiKhi cảm khái về chuyện người đàn bà Việt phải lấy chồng là người nước ngoài, phải theo chồng đi sống xa quê hương, các thi sĩ, các nhà văn ta chỉ nghĩ đến Chiêu Quân — Chiêu Quân Cống Hồ — Chuyện Chiêu Quân đi vào văn học ta, vào đời sống tình cảm của nhân dân ta đã từ lâu lắm, có thể coi Chiêu Quân là chuyện của ta. Nhưng ta có Huyền Trân — Bà Công Chuá này là Thủy tổ, Thánh tổ của những người đàn bà Việt lấy chồng ngoại nhân — tại sao ta cứ thương tiếc Chiêu Quân — dù sao Chiêu Quân cũng vẫn là đàn bà Tầu — mà ta không thương tiếc, không ca tụng Huyền Trân của ta? Hơn hẳn Chiêu Quân của Tầu, Huyền Trân của ta là Công Chúa, Huyền Trân của ta đi lấy chồng người nước ngoài và qua việc lấy chồng nàng mang về cho đất nước hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm. Trong lịch sử bốn ngàn chín mươi chín năm văn hiến của ta làm gì có người đàn bà Việt nào làm được như Huyền Trân ?

Những đêm buồn những năm 1981, 1982 tôi dịch, phóng tác một số Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhiệm. Đây là bài thơ tôi phóng tác từ bài thơ vịnh Huyềân Trân của Ngô Thì Nhiệm. Rất tiếc tôi không có nguyên bản chữ Hán:

Huyền Trân khóc hết lệ u sầu
Trên mai thành tiếng mưa đêm thâu.
Nước nhà tình bạc thù son phấn,
Chồng ngu số vắn tủi minh châu.
Ngàn dặm giai nhân sầu kiếp trước,
Hai châu lễ vật đẹp đời sau.
Oán hờn theo ngọn triều lên xuống,
Mưa đêm than lạnh bến sông đầu !

Từ 1975 đến 2009… hơn ba mươi năm sáu chìm, chín nổi, mười mấy cái lênh đênh, mái tóc tôi không còn trắng hơn được nữa, nét mặt cằn cỗi in hằn những vết roi đời, sống đời lưu vong nơi đất Mỹ, quê người Mỹ, năm năm cứ đến ngày gần Tết, khi viết bài xuân, đăng báo xuân, tôi lại nhớ và lại thấy bài thơ Nhạc Xuân của Nguyễn Bính làm tôi cảm khái:

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Xuân đã sang đò nhớ cố nhân
Người ở bên kia sông cách trở
Có về Chiêm Quốc như Huyền Trân !

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Phơi phới mưa sa nhớ cố nhân.
Phận gái ví theo lề ép uổng
Đã về Chiêm Quốc như Huyền Trân !

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Lăng lắc đường xa nhớ cố nhân
Nay đã vội quên tình nghĩa cũ
Mà về Chiêm Quốc như Huyền Trân!

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Một cánh đào rơi nhớ cố nhân
Cung nữ như hoa Vườn Thượng Uyển
Ai về Chiêm Quốc với Huyền Trân !

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Rượu uống say rồi nhớ cố nhân
Đã có yêu nhau là đến thế
Đừng về Chiêm Quốc nhé Huyền Trân !

Đừng về Chiêm Quốc nhé Huyền Trân
Ta viết thư này gửi cố nhân
Năm mới, tháng giêng, mồng một Tết
Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân.

Huyền Trân ơi,
Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân rồi
Giờ đây chín vạn bông trời nở
Riêng có tình ta khép lại thôi.

Hình ảnh trong Thơ Xuân Nguyễn Bính là hình ảnh quê hương miền Bắc và nhân dân miền Bắc những năm thanh bình từ 1930 đến 1940. Thời ấy thực dân Pháp đang làm chủ nước ta và nhân dân ta sống dưới cái gọi là “ách đô hộ” của ngoại nhân. Nhưng thơ văn thời ấy phản ánh một đời sống thật là thơ mộng, thật chân quê và thật Việt Nam:

Có chiếc thuyền nằm trên cát mịn
Có đàn trâu trắng lội ngang sông.
Có cô thợ ruộm về ăn Tết
Sương gió đường xa rám má hồng.

Nguyen BinhKhoảng năm 1942 Nguyễn Bính lên xe hỏa — xe hỏa, xe lửa, không phải xe hoa — vào Nam Kỳ. Những năm trước 1945, ngay cả trước 1954, Nam Kỳ là miền đất xa lạ với người dân miền Bắc. Thời xưa ấy có những người nông dân miền Bắc, sống không nổi với đồng đất quê nghèo, phải bỏ làng quán, đến những nhà gọi là Sở Mộ Phu, ký giấy đi vào Nam Kỳ làm công nhân đồn điền cao su. Đa số những người này một đi là không bao giờ trở lại. Việc mộ phu vào Nam Kỳ ở các tỉnh miền Bắc những năm 1940 là thủy tổ của Chương Trình Ra Đi Trong Trật Tự — ODP: Orderly Departure Program — những năm 1990. Với những phó thường dân miền Bắc trước 1945 chuyện bỏ quê cha, đất tổ đi vào Nam sinh sống được coi như việc đi sang một nước khác, ít nhất cũng là một cuộc phiêu lưu nhiều bất trắc. Có thể nói Nguyễn Bính đã làm cuộc di cư vào Nam sớm hơn cuộc di cư 1954 đến 12 năm. Thi sĩ vào Nam Kỳ và chúng ta có những bài thơ Xuân Tha Hương:

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Chao ôi.. Tết đến mà không được
Trông thấy quê hương thật não nùng…
….
Vườn ai thấp thoáng hoa đào nở
Chị vẫn môi son, vẫn má hồng?
Áo rét ai đan mà ngóng đợi !
Còn vài hôm nữa hết mùa đông.
Cột nhà hàng xóm lên câu đối
Em đọc tương tư giữa giấy hồng…

Tôi thấy đó là những lời thơ nhớ thương quê hương tuyệt nhất, tha thiết nhất của những người xa quê.

*****

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Phơi phới mưa sa nhớ cố nhân…

Năm năm cứ đến những ngày gần Tết tôi lại bận bịu với việc viết những bài gọi là bài Xuân cho những số Báo Tết. Tôi làm công việc viết bài Xuân, bài Tết thường xuyên từ năm 1956. Việc làm của tôi đột ngột bị ngưng ngang trong năm 1975. Từ đó đến năm 1994 — hai mươi mùa xuân vàng võ, thảm thê tôi sống ở Sài Gòn, thành phố thương yêu của chúng ta mà chúng ta đã không giữ được — những ngày gần Tết tôi không có niềm hạnh phúc được viết bài Xuân, được nằm khểnh đọc bài viết của mình đăng sáng, đẹp trên những trang báo Xuân. Trong hai mươi năm sống tối tăm ở Sàigòn, thành phố thân thương của chúng ta bị đổi tên, tôi đã tưởng tôi sẽ chẳng còn bao giờ được viết bài Xuân nữa trong đời.

Thế rồi bánh xe lãng tử đưa tôi một chiều thu muộn năm 1994 đến Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Từ đấy năm năm cứ đến những ngày gần Tết tôi lại được hưởng hạnh phúc viết bài Xuân.

Năm Trâu Đánh đến cửa, buổi sáng ngồi ngắm Rừng Phong mờ sương, nghĩ chuyện Trâu để viết bài Xuân, Trâu, tôi cảm khái làm bài thơ:

Năm năm cứ đến Ngày gần Tết
Lại viết bài Xuân đăng báo Xuân.
Chẳng thấy Xuân đâu, chưa thấy Tết
Đã rộn bài Xuân, loạn báo Xuân.
Mấy chục mùa xuân, mấy chục Tết
Năm Mèo Xuân, năm Chó cũng Xuân.
Hoài mộng quê hương thời có Tết
Ngậm ngùi tưởng nhớ viết thương Xuân.
Xuân sang chẳng lẽ làm lơ Tết,
Đời chẳng còn Xuân vẫn phải Xuân !
Thôi thì gắng viết dăm bài Tết,
Cho Tình Nhân đọc chuyện Tình Xuân.
Năm Sửu, Tháng Giêng, Mùng Một Tết
Còn nguyên vẹn cả một mùa Xuân.
Em ơi… Chín vạn Bông Trời Tết
Xuân đẹp Tình Ta nở nụ Xuân !
Tết Trâu Xuân đến Em dzui Tết
Coi chừng Trâu rượt.. tụt lưng quần !

Bại trận, không dám chết, bỏ chạy, sống nhờ, còn mặt mũi nào, lòng dạ nào vui đón Xuân? Chắc nhiều người Việt tha hương cũng nghĩ như tôi, cũng buồn như tôi, nhưng người cứ buồn thương mà Xuân vẫn cứ đến..

Áo Vàng Hoa 2009

Ao Dai

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Ngày Mười Ba Tháng Giêng Kỷ Sửu.

Sáng mở computer, làm việc đầu tiên: Check mail. Xem Thư. Người bạn trẻ Bắc Thần gửi cho tôi thư:

Bác cho em hỏi Bác có biết nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật không ạ? Ông Nguyễn Hữu Nhật có bài thơ tựa đề là “Áo Dài“, nhạc sĩ Trần Quang Lộc phổ nhạc lấy tên là “Ngày Nào“, một bản nhạc em thấy là rất hay, em đã ra công kiếm rất là lâu đến bây giờ mới tìm ra nhờ có chị HV tìm giúp. Em chắc bản nhạc “Ngày Nào” được nhạc sĩ Ngọc Chánh Shotguns cầu chứng tại tòa, giữ bản quyền phổ biến nên không có ai thu băng lại. Do đó bản nhạc “Ngày Nào” mới khó tìm.

Ao DaiTheo Nhà văn Nguyễn Đình Toàn thì bài thơ “Áo Dài” ở đoạn cuối không có cảnh bán áo nuôi nhau. Nhạc sĩ Trần Quang Lộc thêm vào đoạn này dựa theo ý của một bài văn mà Bác (HHT) đã viết sau 1975. Nhà văn Nguyễn Đình Toàn viết:

“Đó là ý từ một bài viết của Nhà văn Hoàng Hải Thủy, kể rằng, xưa, ông có mua tặng vợ một xấp vải để may áo cưới. Nhưng đến ngày cưới lại không dùng tới, bà đã đem cất làm kỷ niệm. Sau 30 Tháng Tư 1975, vì cần tiền, hai vợ chồng đã phải mang xấp vải ra chợ trời bán.”

Có đúng như vậy không bác?

Lời bản nhạc “Ngày Nào” như sau. Khi nào em post lên YouTube xong sẽ mời Bác thưởng thức.

Ngày nào mới mặc áo dài
Em tay run quá chẳng cài nổi khuy
Chuyện giờ kể có khác đi
Run tay anh cởi hết khuy em cài

Ngày nào mới thở hương người
Em say ngây ngất rụng rời ngón tay
Chuyện giờ kể có khác đi
Tay em buông thõng mỗi khi nhớ người

Ngày nào anh cũng làm thơ
Dù em là chiếc gương mờ đã lâu
Trước khi đi ngủ, chải đầu
Để trong giấc ngủ gặp nhau đàng hoàng

Ngày nào mắt ngọc xanh tình
Đêm mưa anh nhớ dịu dàng mắt em
Chuyện giờ kể có khác đi
Mi xanh mắt ngọc bút chì tô quanh

Ngày nào mới mặc áo dài
Soi gương trông bóng tự cài lấy khuy
Chuyện giờ kể có khác đi
Không đem bán áo lấy gì nuôi nhau

Hết Thư BT.

Công Tử Hà Đông trả lời:

Tôi biết tiếng Nhà Thơ Nguyễn Hữu Nhật, tôi không được quen ông. Tôi có bài thơ Áo Vàng Hoa kể chuyện chiếc áo dài có hoa vàng của vợ chồng tôi, em nhắc đến nó, nay tôi kể sự tích tôi làm bài thơ đó.

Son SonEm là một trong những người đọc nhiều truyện, nhiều bài tôi viết, chắc em thấy trước 1975 tôi chỉ viết tiểu thuyết — đa số là tiểu thuyết phóng tác — phóng sự, chỉ thỉnh thoảng lắm em mới thấy tôi viết một, hai bài tùy bút, những bài viết được gọi là Tạp Ghi — tên Tạp Ghi do ông Ký Giả Lô Răng — ông Phan Lạc Phúc, hiện ở Sydney, Úc — đặt ra trên Nhật Báo Tiền Tuyến. Thời xưa ấy, những năm từ 1956 đến 1975, tôi viết tiểu thuyết cung cấp các nhật báo, tuần báo cả ngày, suốt tháng, quanh năm, viết không ngừng nghỉ, những ngày thứ bẩy, chủ nhật tôi viết nhiều hơn những ngày trong tuần; tôi viết nhiều như thế mà vẫn còn chưa đủ bài đăng báo, tôi còn tâm trí, tâm hồn đâu mà viết những bài tùy bút văn ngệ, văn gừng, tâm sự lòng thóng, tình ý vẩn vương, tôi lại càng không còn hồn trí thơ mộng để mần Thơ.

Thời gian viết nhiều như thế, những năm trước 1975, đôi khi suy nghĩ, tôi thấy tâm trí tôi khi ấy như cái giếng nước, mỗi ngày nước giếng bị múc lên nhiều quá, giếng lúc nào cũng cạn. Do đó tôi không còn tâm hồn để viết Tùy Bút, tôi lại càng không thể mần Thơ.

Ngày 30 Tháng Tư 1975 đến — trời long, đất ngả nghiêng — đang viết nhiều, viết túi bụi, viết loạn cào cào — đột nhiên tôi bị ngưng viết. Cuộc sống u ám, nặng nề kéo dài với những buồn khổ, âu lo. Tôi đau khổ và tôi căm hận thấy tôi mãi mãi không còn được viết — viết là hạnh phúc của tôi, là việc tôi thích làm nhất – viết những truyện tình trong có những ngươài đàn bà đẹp, sang, thơm như múi mít, chung tình, coi Tình Yêu là trên hết, sống chết với Tình, những truyện tình tôi viết trước năm 1975. Tôi buồn quá đỗi. Lúc ấy tôi như giếng nước bị cấm không được xả nước, giếng nước quá đầy. Không muốn làm thơ, tim tôi tự động làm thơ.

Trên xe đạp đi lang thang trong những đường phố Sài Gòn vắng tanh, vắng ngắt tôi làm thơ. Buổi sáng đứng trước chợ Tân Định, nhìn những sạp soài vàng trong nắng, tôi mần Thơ:

Mình Anh ăn miếng soài này,
Năm năm soài chín, nhớ ngày Em đi.
Phải cùng chăng, tiếc làm chi
Năm năm soài chín, chợ thì vắng Em.
Tưởng Em xa nước Em thèm,
Còn Anh soài đỏ, soài đen, quản gì!
Chúng ta vùi một cơn mê,
Có bao giờ tỉnh? Còn gì là ta!
Hướng dương Em có như hoa,
Hồn Anh nắng đã chiều tà, Em ơi.
Có còn nhau nữa hay thôi?
Yêu nhau ta hãy hẹn lời: Kiếp sau.

Đêm mưa. Đèn tắt. Thành phố tối đen. Trên xe đạp đi ngang chợ Ông Tạ, tôi thấy đoàn người — trong có tôi — lầm lũi đi trong bóng đêm như đi trên đường xuống Địa Ngục, tim tôi bồi hồi, những lời Thơ đến với tôi:

Ở đấy mộ người toàn cỏ trắng
Riêng mộ người yêu cỏ sắc xanh.
Đêm mưa, đèn tắt, thành xưa vắng
Thương nhớ Tình Ta chỉ một Anh.
Em đi mùa ấy mưa hay nắng?
Đời vắng Khanh đời chỉ nhớ Khanh.
Lầu vàng, nhà cỏ rồi yên lặng
Phố chợ, rừng hoang cũng vắng tanh.
Người yêu, người ghét đều quên lãng
Chẳng còn Em cũng chẳng có Anh.
Mồ Em cỏ ấy vàng hay trắng?
Anh biết mồ Anh cỏ sắc xanh.

Đi trong thành phố đèn tắt, mưa rơi, thành phố thương yêu tả tơi dưới gót sắt của bọn xâm lăng, tôi nhớ chuyện Chiêu Quân. Chuyện do người Tầu bầy đặt: Chiêu Quân chết ở đất Hồ. Ở đấy trời lạnh, cỏ trên những nấm mồ đều có mầu trắng của tuyết, riêng cỏ trên mộ Chiêu Quân có mầu xanh. Và tôi làm Thơ.

Khoảng 10 giờ một buổi sang, tôi vào Nhà Bưu Điện Sài Gòn. Năm 1976, cảnh ở đây vẫn như cảnh năm trước, chỉ có khác là có ảnh ông Hồ to tổ bố ở giữa nhà, và ở môt ghi-sê có những bà mẹ già, những bà vợ trẻ đến gửi quà cho những người bị bọn xâm lăng bắt đi tù, vẫn hai dẫy bàn dành cho khách viết thư, dán keo, vẫn dẫy ghế gỗ cho khách ngồi hai bên. Tôi ngồi đấy, hút năm, nbẩy điếu thuốc — thuốc Vĩnh Hảo, do tôi vấn lấy, mang theo trong cái bao vải cùng cái bật lửa, cặp kính lão, xâu chià khoá — tôi thấy một thiếu phụ, trạc 29, 30 tuổi, dáng người thon thả, mặt trái soan, mặc sơ-mi trắng dài tay, tay áo sắn lên, quần jeans xanh nhạt, đi đôi giép da đế bằng. Nàng đang viết thư. Tôi nhìn Nàng và tôi làm Thơ

Những chiếc bàn Bưu Điện
Em ngồi trong Bưu Điện viết thư.
Trời đang mưa, thành phố âm u.
Mặt bàn hoen vết hồ loang lổ,
Em buồn mơ nửa phút sầu tư.

Em viết thư cho người tình cũ?
Cho chồng Em phiêu bạt giang hồ?
Người bên kia biển? Người ngồi rũ
Trong lao tù? Người sống tự do?

Em viết cho ai? Anh thầm nhủ
Em đã yêu, đã thương người đó.
Người Em yêu nay phải xa Em
Đang nhớ Em từng sớm, từng đêm.

Anh tới đây ngày tháng ưu phiền
Thấy bao nhiêu dòng lệ triền miên
Bao nhiêu đau khổ, bao ly tán
Nhiều nhớ thương và ít lãng quên.
Đã về trên mặt bàn Bưu Điện
Từ thưở trời long, đất ngả nghiêng.

Em thương sầu, Em thấy không Em?
Lệ Em rơi nên mặt bàn hoen!
Ai bảo cỏ cây không hiểu chuyện,
Này Em gỗ đá cũng oan khiên!
Vì Em trên giấy nghiêng âu yếm
Nên mặt bàn Bưu Điện cũng nghiêng.

Ba tháng sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 vợ chồng tôi về sống trong căn nhà của mẹ tôi ở Cư Xá Tự Do, giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền — căn nhà khoảng năm 1991, 1992, em, Bắc Thần, từ Mỹ về Sài Gòn Em đến thăm tôi — căn nhà không ai ở từ mấy năm trước, vợ chồng tôi không thích ở nhà ấy, sau ngày cuộc đời đen hơn mõm chó mực, chúng tôi có căn nhà ấy để chui ra, chui vào là may. Căn nhà tối nên phòng khách ban ngày có khách đến cũng phải bật đèn. Một buổi sáng tôi thấy vợ tôi mở tủ áo xem lại mấy cái áo dài của nàng. Nàng đứng trước gương, ướm cái áo lên người, thấy tôi nhìn, Nàng nói:

- Áo đẹp quá.

Và Nàng nói:

- Mình giữ mãi cái áo này.

Tôi nói:

- Bao giờ Em chết, Anh mặc cho Em cái áo ấy.

Nàng xúc động, Nàng lại hỏi:

- Lỡ mình phải bán cái áo này để mua gạo cho các con?

Tôi không trả lời được câu hỏi ấy của Nàng. Buổi chiều, đạp xe lang thang trên những đường phố vắng, tôi làm bài Thơ:

Áo Vàng Hoa.

Sáng cuối năm, trong căn nhà tối
Em mở từ nhìn đời ngày cuối.
Mắt Em buồn bừng sáng mầu hoa
Em nhớ lại ngày may áo mới.

Đây áo hoa vàng, Anh chọn, Em may
Như giọt nước trong dòng Tình Ái
Trong ưu phiền mắt lặng nhìn nhau
Em thầm hẹn: Áo này giữ mãi!

Em yêu dấu ngày Em trở lại
Đất ngàn năm như cỏ, như hoa
Anh sẽ mặc cho Em lần cuối
Áo hoa này rồi tiễn, rồi đưa!

Em lại hỏi: có ngày ta phải
Chia áo này cho các con ta?
Em yêu dấu, Em ơi đừng ngại
Mặc cho đời tháng lại, ngày qua.

Trong xương thịt ta còn giữ mãi
Những cái gì riêng của đôi ta.
Khi Em nằm xuống, khi tàn lưả
Trong hào quang của những tiên nga

Khi xe hạc vàng nhung đến cửa
Đón Em về xa cõi trời xa
Anh sẽ mở hồn Anh lấy áo
Mặc cho Em chiếc áo vàng hoa.

Trung u ám một ngày mây phủ
Nặng những sầu đau, những xót sa
Em khép cửa hồn, che áo mới
Và ra đường trong chiếc bà ba.

Năm 1974, 1975 tôi là nhân viên USIS — Sở Thông Tin Hoa Kỳ — cùng làm việc ở một phòng với tôi có bà thư ký có ông chồng là sĩ quan cảnh sát. Ông này được đi Hong Kong hay Singapore, Bangkok, ông mua về mấy cái áo dài tặng bà vợ. Vì quá nhiều hay vì tiếc tiền, bà bạn đồng sở của tôi mang vào sở vài cái áo bán đi lấy lại tiền. Tôi mua một áo, 10.000 đồng, với điều kiện đến kỳ Pay tôi mới trả tiền, tôi mang áo về tặng vợ tôi. Xấp hàng có hoa mầu vàng nên chúng tôi gọi là Áo Vàng Hoa.

*****

Nếu Em, Bắc Thần, hỏi tôi:

- Sao lâu rồi không thấy bác làm Thơ nữa?

Tôi trả lời Em dzễ thôi:

- Tôi làm Thơ vì định luật “Bất bình tắc minh.” Đời làm mình uất hận, sầu buồn, mình kêu lên. Đôi khi Tiếng Kêu ấy là Thơ. Từ sau ngày tôi thấy tượng Lenin, tượng Stalin ra nằm ở bãi rác, tôi không còn uất hận nữa. Bọn chúng nó thua, tôi thắng, tôi ở trong số những người thắng, tôi còn cay cú gì nưã mà tôi mần Thơ?

Đến đây tạm chấm dzứt Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum!

CỘNG và BỢ CỘNG

Brian DoanNhững ngày đầu Năm Trâu Đánh có một chuyện thuộc loại “ấm ớ hội tề” xảy ra ở Cali, Hoa Kỳ. Một người Việt tên là Brian Đoàn, lấy danh nghĩa của Hội VAALA, mở một phòng triển lãm. Trong những vật phẩm trưng bày triển lãm có bức ảnh một thiếu nữ Việt bân cái áo thun mầu đỏ in hình sao vàng, ảnh bầy bên tượng ông Hồ chí Minh.

Nhiều người Việt biểu tình chống tấm hình trên. Cuộc triển lãm phải ngưng ngang. Ngày 6 Tháng 2, 2009, Trang Báo Điện DCV Online có bài viết về nhân vật Brian Đoàn và dư âm của cuộc Triển Lãm VAALA. Mời quí vị đọc ý kiến của người Việt phát biểu trên tờ báo điện.

Trích trên DCV Online. Thứ Sáu 6 Tháng 2, 2009.

Cộng sản là bọn tội đồ của nhân loại. Nạn nhân của Cộng Sản VN nhìn thấy hình ảnh Hồ chí Minh và cờ đỏ sao vàng (cờ… con của cờ mẹ Trung Cộng), là…. muốn xỉu! Y hệt như anh cựu tù người Do Thái từng bị sống trong các trại tập trung của Đức Quốc Xã, 20 năm sau, thấy cái áo tù của trại tập trung, té xỉu tại toà án. (Toà xử tội phạm chiến tranh Đức Quốc Xã)

Nhìn thấy hình Hồ chí Minh và cây cờ máu, những nạn nhân cùa Cải Cách Ruộng Đất, những nạn nhân của trận quân Bắc Cộng đánh vào Huế Tết Mậu Thân, những nạn nhân của các Trại tập trung cải tạo, những nạn nhân của các cuộc vượt biên, những nạn nhân của bo bo, cám sú… ai yếu tim thì… xỉu liền tại chỗ, ai hiền hiền thì… né chỗ khác, ai có nhiều thân nhân bị CSVN tàn sát thì… nổi điên!…

Ý kiến của Minh Đức:

Brian DoanVề phản ứng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở Califonia, Brian nói:

“Chủ đích của tôi không phải làm bất kỳ điều gì khiến cộng đồng phẫn nộ. Có thể tôi ngây thơ, ngờ ngệch. Tôi không sống trong cộng đồng người Việt. Tôi không nghĩ chuyện lại đến thế này.”

Đúng là vì tác giả không sống trong cộng đồng người Việt nên tác giả không biết cách suy nghĩ của người Việt tị nạn về lá cờ đỏ và hình ông Hồ. Đây là vấn đề khác nhau trong ngôn ngữ diễn tả nghệ thuật. Cái ngôn ngữ mà Brian Doan dùng trong đó có cờ đỏ và tượng ông Hồ mang một ý nghĩa khác đối với người Việt tị nạn. Brian Đoàn có lẽ cũng cần biết rằng CSVN thường dùng cờ đỏ để đánh dấu vùng ảnh hưởng của CS. Trong thời chiến tranh, tại miền Nam CSVN thường lén treo cờ đỏ tại các vùng quê để chứng tỏ sự có mặt của cán bộ CS tại khu vực đó.

Brian Doan cũng cần tìm hiểu lịch sử để biết rằng sau khi Hiệp Định Ba Lê đã ký kết, vì quân đội CS vẫn còn đóng tại miền Nam mà không phải rút về miền Bắc nên đã xảy ra cảnh giành dân, chiếm đất. Cả hai bên lấn chiếm vùng ảnh hưởng của nhau và đánh dấu vùng ảnh hưởng bằng lá cờ. Tại nhiều vùng, chính quyền VNCH ra lệnh dân vẽ cờ quốc gia lên mái nhà để chứng tỏ khu vực đó do chính quyền VNCH kiểm soát. Vì CS sử dụng lá cờ đỏ để đánh dấu lãnh địa của CS nên người quốc gia xem sự xuất hiện của lá cờ đó là dấu hiệu CS muốn công khai ra mặt hoạt động, coi như đó là khu vực thuộc về quyền kiểm soát của CS.

Brian Đoàn cũng cần tìm hiểu về chính trị để biết đối với phía CS ông Hồ chẳng phải chỉ là một chính trị gia hay một nhân vật lịch sử như các nhân vật khác. CSVN coi ông Hồ là một ông Thánh vói những tín đồ là những người theo chế độ CS. Sự xuất hiện hình ảnh ông Hồ là dấu hiệu tôn vinh Giáo chủ đạo “Thờ Hồ”, mà người dùng hình ảnh ông Hồ trong tác phẩm nghệ thuật được xem như là một tín đồ sùng bái “Giáo chủ Hồ Chí Minh”.

Ý kiến của Dư Âm:

“Tôi hoàn toàn không phải là cộng sản như nguời ta dán nhãn cho tôi.” – Brian Doan

Phải! Tôi tin em hoàn toàn không phải là cộng sản bởi vì em có cha là ‘ngụy’ quân. Tôi nghĩ em chỉ bị CS lợi dụng khi mà danh lợi đã làm mờ con mắt. Thật tiếc! Thật tiếc! “Hổ phụ sanh cẩu tử”.

Trăm năm bia đá thì mòn,
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Ý kiến của Tàng:

“Tôi hoàn toàn không phải là cộng sản như nguời ta dán nhãn cho tôi.” – Brian Doan

Đúng là “mơ ngủ” cái thứ như anh thì “có muốn là CS, chúng nó cũng chẳng cho”… Nghèo mà ham …. Vào thời của lão đang ở Sài Gòn, mấy thằng như Huỳnh tấn Mẫm, NTTài, Phạm trọng Cầu …. từng vận động xuống đường chống chính quyền VNCH, khi bị bắt vô Tổng Nha CSQG, chúng cũng nói như anh vậy đó: “chúng tôi chỉ tranh đấu cho dân tộc” (sic). Dân tộc nào cần chúng nó tiếp tay với Giặc phương Bắc phá rối an ninh….. Cái thứ các anh thì cũng vậy, nghệ thuật gì mà “ngủ mơ” cho CS nó lợi dụng ???

Chán cho cái ông bố của B. Đoàn, gặp tôi thì tôi: đóng cửa, mời anh ra ngoài đường mà làm nghệ thuật, trong nhà đứa nào thích “kiểu nghệ thuật” đó thì đi theo nó … còn nếu không thì “đó nhà đó, tụi bay làm gì thì làm … tao đi…..” (Vào phòng đóng cửa, uổng công 10 năm lao tù – cắn lưỡi mà chết quách, sống chỉ thêm nhục cho gia phong và đồng đội)….

Ý kiến của Minh Đức:

Về những cuộc biểu tình phản đối, Brian Doan cho rằng điều này biểu lộ một sự phẫn uất sâu xa hơn, sự bất lực của một số người không thể quên được niềm đau mất nước, mất quê hương, và mất căn cước của chính mình. Nhưng Brian lại nói: “tại Mỹ cách ứng xử phải khác.”

Nói rằng phản ứng của người Việt tị nạn như là “biểu lộ một sự phẫn uất sâu xa hơn, sự bất lực của một số người không thể quên được niềm đau mất nước, mất quê hương, và mất căn cước của chính mình” thì Brian Doan cũng vẫn chưa hiểu người Việt tị nạn. Sở dĩ có phản ứng của người Việt trước sự xuất hiện của cờ đỏ và hình ảnh Hồ Chí Minh vì người Việt tị nạn xem việc dùng hình ảnh cờ đỏ và hình Hồ Chí Minh là phương cách tuyên truyền cho chế độ CS, là hành động công nhận chế độ CS là tốt, là đáng ủng hộ. Đó là vì Brian Doan không biết rằng CSVN thường dùng lá đỏ cờ và hình Hồ Chí Minh để tuyên truyền.

Ý kiến của Lat Lai:

Cuộc chiến VN đã gây chia rẽ ngay trong từng gia đình, cho đến bây giờ vẫn chưa dứt dù họ đang sống ở Mỹ! Đây là sự đổ vỡ tình huyết thống vì cái phi lý chiến tranh do CS gây ra. Thử xem gia đình họ Đoàn tạm giải quyết ra sao !

Ông bố nằm trong phòng riêng, cửa phòng đóng khi anh con về nhà sum họp Tết, sau đó ông cũng chịu ra vui Tết với con cháu, không ai trong gia đình đề cập đến FOB II! Ông bố đã cố dẹp cái riêng để gia đình “tạm” có Tết. Anh con có nghĩ là anh cũng cần phải “giới hạn cái riêng” của anh vì cái chung của gia đình anh hay không?

Tôi muốn nói rộng hơn: cái chung đó là tình cảm cá nhân của anh con với cộng đồng Việt mà trong đó ông bố anh đang sống, đang cùng quan điểm?

Ai cũng nhân danh Tự Do! CS cũng bảo họ tự do “gấp vận lần tư bản” cơ mà! Như vậy là rơi trở lại từ đầu về định nghĩa thế nào là Tự Do!

Vụ nầy trước mắt là CSVN hưởng lợi! CSVN hưởng lợi trên cái ngây thơ của những người trẻ chỉ biết phục vụ cho cái “Tôi tự do” là “Tôi muốn làm gì thì làm”! Dư luận Mỹ chắc sẽ có khuynh hướng ủng hộ cái kiểu “tự do” nầy (đây là điểm bất lợi về lâu, về dài cho cộng đồng NVHN nếu NVHN không thay đổi phương cách đối phó trước những “khiêu khích có chủ ý” của CS). Người Mỹ không là nạn nhân trực tiếp nên không thể hiểu nỗi đau tiềm ẩn, dằng xé nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn các nạn nhân! Cái đau nầy là cái đau của người mẹ lao xuống hố huyệt và bảo mọi người hãy chôn tôi đi chứ đừng chôn con tôi! Dửng dưng trước nỗi khổ của người mẹ vì mọi người đều thấy hành động “vô lý” của người mẹ, nhưng ai đó tâm cảm sự mất mát không có gì có thể thay thế được của-một-người-mẹ-mất-con thì nhịp tim họ mới hiểu được cái “hợp lý” của hành động nầy!

Cho nên ông nghệ sĩ cứ ôm cái nghĩa đen của “Tự do” thì chính loại Tự do nầy đã phi nhân tính trước nỗi khổ đau của đồng bào ông!

Ý kiến của Dư Âm:

“Họ hành xử với tôi y như cộng sản. Chúng ta phải tốt hơn người cộng sản chứ. Đây là xứ sở của nhiều, rất nhiều cơ hội. Tôi may mắn đã có thể làm như thế. Nhưng tôi tin rằng còn nhiều người Việt Nam vẫn mắc kẹt trong cái bẫy hận thù.” – Brian Đoàn

Qua câu nói “Họ hành xử với tôi y như cộng sản”, rõ ràng chú nhóc này chẳng hiểu biết gì về CS. Nếu Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại hành xử với cháu y như cộng sản, thì cháu sẽ không có cơ hội mà ba hoa trên báo chí như vầy đâu. Cháu về nhà hỏi ông già từng ở tù CS10 năm thì rõ.

Cháu lại nói: “Nhưng tôi tin rằng còn nhiều người Việt Nam vẫn mắc kẹt trong cái bẫy hận thù”. Giả sử cha của cháu bị CS hành hạ đến thân tàn ma dại như bị đui què, rồi gia đình cháu vượt biên tìm tự do, mẹ và chị em cháu bị hải tặc làm nhục hoặc bỏ thây ngoài biển cả, liệu cháu có XẢ bỏ hận thù bọn Cộng không? Cháu hãy thử đặt mình vào hoàn cãnh như vậy, xem cháu có “quên” được không? Rồi hãy phê phán người khác.

Ý kiến của La Giang

BRIAN ĐOÀN GIẢ ĐIÊN, TẠI SAO?

Tâm hồn nghệ sĩ luôn có vài nét khác người. Đôi lúc họ có ý tưởng điên rồ: Phải làm một cái gì đặc biệt để người ta biết đến họ.

Nhưng Mỹ thuật không phải là cái thùng rác để người ta có thề bỏ bất cứ cái gì vào trong đó. Thường thường trong số người làm mỹ thuật chẳng có mấy người bình thường. Có tật thì có tài là đó.

Ý kiến của Tàng:

BRIAN ĐOÀN GIẢ ĐIÊN, TẠI SAO?

Tôi thì cho là tên này còn khôn hơn cả La Giang và Tàng nhiều, nó có thể làm sư tổ của chúng ta về “khôn lỏi” … nó nói “ít tham gia với cộng đồng người Việt nên không lường được phản ứng của cộng đồng” …. Vậy thử hỏi “ít tham gia” thì sao lại đem “chất độc” vào chỗ cộng đồng người ta ??? Sạo, mà không có căn … muốn “nổi tiếng” ta đây là “hàng độc” thì nói cha nó ra đi … bày đặt … biện bác…

Brian Đoàn cũng có thái độ như bọn Sinh Viên SG trước 1975, bước đầu là “đấu tranh cho ra vẻ …”, sau đó là sẽ được mua, thằng thì Mỹ mua như Đỗ ngọc Yến, thằng thì Vẹm mua như bọn thằng Huỳnh tấn Mẫm…, thằng thì Nguyễn văn Thiệu mua … nói chung chúng là bọn “chớp thời cơ” để kiếm ăn. Trước đây Brian Đoàn làm cuốn sách về người tị nạn bị bỏ quên ….. Sự tthực hắn cũng như Trịnh Hội lấy danh nghĩa lòng nhân đạo giúp người tị nạn để “nổi tiếng” rồi đầu tư cho tương lai ….. Tôi biết nói ra vậy sẽ có nhiều người phản đối cho là tui “quá khích” nhưng tui từng sống ở những trại tị nạn khi bị thế giới “bỏ quên” (nói bỏ quên thì oan cho người ta … thực sự là: chán ngấy đến tận cổ…) Mấy ông thiện nguyện đi tới, đi lui cũng giống như mấy bà lớn VNCH hồi xưa vô bệnh viện thăm thương bịnh binh làm việc soa dầu cù là cho thương binh vậy thôi … còn thực sự giúp dân tị nạn thì chỉ có mấy nhà truyền đạo và mấy ông luật sư Mỹ hay luật sư bản xứ…… Có điều cũng nhờ họ lên tiếng mà cộng đồng hải ngoại người Việt mới ngó lại để thực thi câu ông bà truyền lại “giọt máu đào hơn ao nứơc lã” ….. tiếc rằng khi “giọt máu đào” có đô la thì “mùa xuân này ta về thăm…. lăng Bác”. Khiếp quá …..

Ý kiến của La Giang:

Tục ngữ Tây phương có câu

Dans la maison des pendus, il ne faut pas parler de la corde.

Trong nhà có người treo cổ, không nên nói tới giây thừng.

Mỹ thuật và Tự do mỹ thuật không phải là lý do để bỏ qua cách đối xử cần phải có trong lúc cư xử với kẻ khác. Nhất là đối với những kẻ đang khóc.

Ý kiến của Võ Bình:

“Chúng ta phải tốt hơn người cộng sản chứ!”. Vâng! chúng ta tốt hơn CS là cái chắc rồi. Brian Đoàn vẫn đem được bức tranh cô gái sắp sửa bị đem tế cho Bác về nhà, có ai làm gì hắn đâu.

Nếu chúng ta như CS hả, chúng ta nên đem 100 công an tới cùng xe thùng tới chở hết mấy bức tranh làm tổn hại tới thanh danh Bác (nghe nói tới chết Bác vẫn chưa biết mùi gái gẩm), rồi bắt luôn tác giả vô trại cải tạo để giúp hắn ta trở thành một công dân tốt.

Ngưng trích DCV Online.

Tôi nhắc lại một câu:

Dans la maison des pendus, il ne faut pas parler de la corde:

Trong nhà có người treo cổ, không nên nói tới giây thừng.

Tôi góp một chuyện:

Trên Thiên Đình, Ngọc Hoàng phán:

- Bọn đảng viên cộng sản dưới trần làm nhiều việc ác độc gây đau khổ cho nhân dân, ta đã cảnh cáo chúng nhiều lần nhưng chúng không chịu nghe, nay ta phải trừng phạt chúng.

Bèn ra lệnh cho Thiên Lôi:

- Khanh xuống trần đánh chết hết những thằng cộng sản cho ta.

Thiên Lôi vâng lệnh, xách buá xuống trần, gặp ngay một cuộc hội họp của bọn cộng sản, bèn vung buá tầm sét đánh chết hết những thằng cộng sản trong cuộc họp.

Trong cuộc họp có một anh không phải là đảng viên cộng sản. Anh bị sét đánh chết oan, anh kêu oan, anh kiện lên đến tận Ngọc Hoàng.

Ngọc Hoàng cho điều tra, thấy quả thực anh nọ chết oan, anh không phải là đảng viên cộng sản, Ngọc Hoàng gọi Thiên Lôi đến, hỏi:

- Ta sai khanh xuống đánh chết những thằng cộng sản, sao khanh đánh chết cả thằng không phải là cộng sản?

Thiên Lôi phân trần:

- Ngài ra lệnh cho tôi đánh chết những thằng cộng sản, tôi thấy bọn cộng sản đang hội họp, tôi đánh chúng nó, tôi đâu biết trong đó có thằng không phải là cộng sản.

Thiên Lôi không có lỗi, mà anh chết oan cứ nhèo nhẹo nèo nẹo kêu anh chết oan, anh đã chết rồi đến Ngọc Hoàng cũng không làm cho anh sống lại được, mà để anh chết như thế thì oan cho anh. Không biết phải giải quyết làm sao, bực quá Ngọc Hoàng nói:

- Mày không phải là đảng viên cộng sản thì mày đến chỗ bọn cộng sản làm gì? Mày đến đó mày ngửi dzắm các bố mày à? Ngu như mày chết là đáng, còn oan cái gì.

Đến đây tạm chấm dzứt Chương Trình Văn Nghê Tạp Lục của Ban Tùm Lum.

LỜI CHÚC TẾT từ NGỤC TỐI

VIỆT BÁO Online February 4, 2009.

Qua người con trai là anh Nguyễn Trí Dũng, ông Điếu Cày từ Phòng Biệt Giam của Nhà Tù Chí Hoà, đã gửi lời cám ơn đến tất cả các cơ quan truyền thông, các báo, đài quốc tế, các tổ chức, cá nhân trên toàn thế giới, các anh chị em, bằng hữu gần xa đã chân thành ủng hộ, trao giải thưởng và lên tiếng bênh vực cho trường hợp cuả ông.

Dieu CayNhân dịp Năm Mới Kỷ Sửu, ông Điếu Cày chân thành chúc cho dân tộc Việt Nam sẽ có một tương lai tốt đẹp, tươi sáng; chúc Phong Trào Dân Chủ của Việt Nam vững vàng tiến bước; chúc tất cả anh chị em giữ ngọn lửa yêu nước nồng nàn; chúc tất cả anh chị em trong Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do (CLBNBTD) và các Blogger luôn giữ ngòi bút ngay thẳng, trong sáng, giữ khí tiết và lòng can trường trước mọi hoàn cảnh. Đặc biệt ông gửi lời cám ơn chị Phương Thy ở hải ngoại đã đại diện ông để nhân Giải Nhân Quyền Việt Nam trao tặng Ngày 14 Tháng 12, 2008.

Hiện tại, dù bản án của phiên tòa phúc thẩm đã tuyên y án, ông Điếu Cày vẫn bị biệt giam như còn trong giai đoạn hỏi cung, không được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Để giữ tinh thần minh mẫn, ông Điếu Cày làm thơ và dùng những túi nylon gói đồ của thân nhân gửi thăm nuôi để se sợi kết thành những chiếc nhẫn rất chắc chắn, xinh đẹp. Điều đáng lưu ý là ông còn bị 3 tên tù “đại bàng” giam chung phòng suốt ngày đêm gây sự để có cớ đánh đập ông. Xin mọi người tiếp tục lên tiếng cho Nhà Dân Báo Điếu Cày.

Nguồn CLBNBTD

CT Hà Đông bàn loạn: Quí vị vừa đọc bản tin về Nhà Đấu Tranh Dân Chủ lấy tên là Điếu Cày đang bị bọn Cộng Phỉ bỏ tù ở quê hương; từ trong nhà tù ông Điếu Cày gửi lời ra cám ơn và chúc Tết những người cùng chí hướng với ông.

Nha TuBản tin này cho tôi thấy như vậy là ông Điếu Cày, người Hà Nội, từ Hà Nội vào sống ở Sài Gòn — Bắc kỳ 90 – bị Cộng Phỉ bắt ở Sài Gòn, ông bị giam ở Nhà Tù Lớn Nhất Đông Dương là Nhà Tù Chí Hoà, và từ Nhà Tù này ông gửi lời ra cám ơn và chúc Tết đồng bào.

Không thấy bản tin cho biết ông Điếu Cày từ trong nhà tù VC gửi lời ra ngoài bằng cách nào? Bọn Cai Tù Chí Hoà nhân Tết Nguyên Đán cho ông Tù ra gặp mặt con ông, ông nói những lời Cám Ơn Chúc Tết đó vơi con ông, hay ông viết thư ra??? Chuyện Ông Tù gọi phone ra thì chắc là — sẽ có thôi nhưng nay thì — chưa có ở Nhà Tù Chí Hoà.

Với tư cách là Cựu Tù Nhân Nhà Tù Chí Hoà — tôi nằm phơi rốn trong Nhà Tù đó 4 năm — tôi góp vài chuyện vô thưởng vô phạt:

Bọn Cộng Việt bắt chước bọn Cộng Tầu gọi những phòng giam nhỏ dùng để giam một người trong các nhà tù là phòng biệt giam. Nó là cái sà-lim theo tiếng cellule của người Pháp. Trước khi các quan Đại Pháp đến nước tôi để khai phóng dân tộc tôi, những nhà giam trong nước tôi không có sà-lim.

Tôi chắc Người Tù Điếu Cày bị giam ở Khu gọi là Khu Kiên Giam trong Khu ED Nhà Tù Chí Hoà. Khu Kiên Giam ED gồm những phòng giam nhỏ, không có chấn song nhìn ra sân như những phòng giam tập thể. Tôi không bị giam trong Khu Kiên Giam ngày nào, tôi chỉ nghe những người tù bị giam trong đó khi ra ở phòng tập thể kể chuyện.

Tôi không biết trước 1975 viên chức Quốc Gia VNCH gọi khu giam tù này là khu gì. Tiếng “Khu Kiên Giam” do bọn Cai Tù VC đặt ra. Mỗi phòng kiên giam có thể nhốt được 3 người tù, có cầu tiêu ngay trong phòng, có lu chứa nước cho tù tắm. Theo lệ người tù chỉ bị giam trong khu kiên giam trong thời gian thẩm vấn, có án rồi người tù được ra phòng tập thể. Người tù quan trọng, hay nguy hiểm, bị giam trng phòng Kiên Giam.

Cũng theo như tôi biết bọn Cai Tù VC không giam tù hình sự, tức tù trộm cướp, giết người chung phòng với tù chính trị; ở những phòng giam tù chinh trị không có nạn “đại bàng”. Nhưng đó là tình trạng Nhà Tù Chí Hoà những năm từ 1985 đến 1989, thời gian tôi nằm phơi rốn ở đấy.

Bọn Cai Tù VC không muốn có nạn “đại bàng: tù hiếp tù, tù đánh tù, tù bắt tù phục vụ” trong những nhà tù của chúng nhưng chúng không dẹp được. Ở những phòng giam tù hình sự, bọn “đại bàng” muốn đánh ai là đánh, chúng không cần kiếm cớ để đánh. Chi tiết trong bản tin về Người Tù Điếu Cày cho biết ông bị giam cùng phòng biệt giam với mấy tên tù thuộc loại “đại bàng” và mấy tên tù này luôn gây sự để kiếm cớ đánh ông làm tôi nhớ một bài viết của Bà Dương Thu Hương cách đây mấy năm.

Trong bài viết này bà Dương Thu Hương kể chuyện nhiều người dân Thái Bình vì biểu tình chống bọn cán bộ cướp đất, bị giam tù, bị bọn VC giết ở trong tù bằng cách cho tay sai giả làm tù vào ở chung phòng, kiếm chuyện gây sự rồi nửa đêm trùm chăn — mền – giết người tù chúng muốn giết bằng cách đóng cây đũa vào mang tai người tù.

Tôi nghĩ, và tôi từng viết: bọn Cộng Việt đã làm nhiều tội ác với dân Việt quá rồi, ta không cần và không nên bịa thêm ra tội ác gán cho chúng. Bọn Cộng Việt có thể giam người tù đến chết nên chúng không cần giết người tù trong những nhà tù của chúng, chuyện trong tù nửa đêm trùm mền, đóng cây đũa vào lỗ tai là chuyện tù giết tù trong nhà tù những năm trước năm 1954.

*****

Ngày 4 Tháng Hai Tây 2009 trên Internet có bản tin về anh Cựu Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản VN Lê khả Phiêu.

Có ai đó chụp vài tấm ảnh trong nhà riêng của Lê khả Phiêu gửi cho Đài BBC. Mấy tấm ảnh cho thấy cảnh sống xa hoa kiểu Dzua Chuá của anh cộng sản không có tài cán gì cả, trong số ảnh có ảnh Tượng đồng Lê khả Phiêu là chướng mắt nhất.

Le Kha PhieuTổng Phiêu có tượng đồng, chắc Tổng Duẩn còn có nhiều tượng hơn. Quốc gia VNCH của tôi không làm một Tượng nào của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Tôi kể một chuyện về ảnh Hồ chí Minh.

Chuyện xẩy ra ở Làng Báo Chí Quốc Gia VNCH. Tôi không mua nhà ở đó, tôi không sống trong làng, tôi nghe chuyện này từ một ký giả:

Những năm 1976, 1977, toàn dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà bị đói, những người sống trong Làng Báo Chí cùng bị đói với nhân dân. Nhiều nhà trong làng không người ở, có một số con em các ký giả, vì đói, lén gỡ những tấm tôn lợp nhà không người ở đem đi bán.

Nạn tháo gỡ tôn trong làng trầm trọng đến nỗi các ông bà trong làng phải mở một cuộc họp mong ngăn chặn. Trong cuộc họp, họ nói với ông Ký giả Người Làng có con bị bắt gỡ trộm tôn mấy lần:

- Ông phải ngăn các con ông lấy trộm tôn. Nếu không, chúng tôi phải báo với công an là bọn con ông lấy trộm nhiều tôn nhất.

Ông Ký giả bị đe doạ nói tỉnh queo:

- Các ông, các bà cứ tố con tội lấy trộm tôn đi, tôi sẽ tố với công an con các ông, các bà bôi c. lên ảnh Bác Hồ.

Thì ra trong phòng hội của làng có hình Bác Hồ trên tường, đám thiếu nhi trong làng công kênh nhau lên bôi c. tèm lem lên mặt Bác Hồ. Dân làng biết chuyện, gỡ ảnh Bác xuống, dấu nhẹm chuyện bôi c. lên mặt Bác, tên Công An Khu Vực chưa biết vụ này.

Người kể chuyện kết luận: Nghe nó dọa thế, bọn tôi im re, không ai dám tố cáo mấy thằng con nó tội gỡ tôn mái nhà.

Quí vị vưà đọc một Chuyện Dzui về Lang Báo Chí VNCH năm 1976-1977.

Đến đây tạm chấm dzứt 4 Món Ăn Chơi.

ĐÁ GÀ, ĐÁ NGƯỜI

Alexander SolzhenitsynLiên Xô đi tướt kiêm đi tầu suốt, thế giới còn có hai nước gọi là đại cường quốc: Mỹ, Tầu. Lãnh đạo Mỹ, Tầu cùng bị nhân dân cho ăn món ngon gọi là Giày Da Bò..

Tổng Thống Mỹ George Bush bị ném giày vào mặt ở Irak, Thủ Tướng Tầu Cộng Ôn Gia Bảo đần Năm Trâu, xuất hành gặp giờ Mõm Chó, bị ném giày vào mặt ở Đại Học Cambridge, Anh Quốc.

Từ Xuân Năm Trâu, người Việt Nam ở hải ngoại không vứt bỏ những đôi giày cũ nát của họ vô thùng rác nữa, họ để dành chúng để ném vào măt bọn Đầu Xỏ Cộng Việt khi họ thấy mặt chúng.

——————–

Kỳ Hoa Đất Trích Ngày 12 Tháng Giêng Kỷ Sửu.

Mời quí vị đọc vài tin thời sự trên Internet sáng nay.

SYDNEY, Úc – Hai người đàn ông Việt bị đâm thiệt mạng trong vùng Bankstown tại thành phố Sydney vào đêm Chủ Nhật vừa qua. Cảnh sát nghi ngờ vụ này có dính líu đến tiền thắng của hai người tại máy đánh bài poker.

Da GaTheo tin Nhật báo The Daily Telegraph, hai nạn nhân đã thắng khoảng $2,500 đô-la Úc ($1,575 Mỹ kim) tại máy đánh bài trong sòng bài của Khách sạn Oscar Hotel, Bankstown.

Sau khi ra khỏi sòng bài khoảng bốn phút, họ bị bốn người đàn ông tấn công bằng dao. Hai nạn nhân bị nhiều vết đâm và bị chảy máu đầm đìa. Họ tắt thở trên đường đến bệnh viện. Vụ tấn công xảy ra vào khoảng 9 giờ 20 tối 1 Tháng Hai, 2009.

CTHà Đông: Bản tin trên làm tôi nhớ đến phim xi-nê Long Hổ Tranh Hùng, bộ phim tôi cho là phim mở đầu phong trào Màn Ảnh Sài Gòn bị Phim Võ Hiệp Tầu Hồng Kông xâm chiếm và cái gọi là Cao Trào Khán Giả Xi-nê Sài Gòn mê xem phim võ hiệp Tầu.

Như tôi đã viết một lần, hôm nay tôi viết lại: Tôi nhớ chuyện xưa, nhưng chuyện xưa quá dzồi, xưa đến nửa thế kỷ, xưa đã quá 50 năm, ký ức phai nhoà trong dòng thời gian sám trắng, tôi chỉ còn nhớ đại khái phim Long Hổ Tranh Hùng do Vương Vũ trong vai chính, mở đầu phim là cảnh sòng bạc ở một thị trấn bên Tầu, một anh Tầu hiền lành nhưng máu me cờ bịch, đánh bạc ăn nhiều tiền, ban đêm trên đường ôm tiền về nhà anh bị bọn du đãng sòng bạc đuổi theo, đánh anh chết, giữa đường, cướp hết số tiền được bạc của anh. Vương Vũ vào phim, làm người hùng, ra tay trừ bạo, an dân, diệt bọn côn đồ Sòng Bài.

Với những sòng bạc có tổ chức đường hoàng, việc cho tay sai đón đường khách được bạc, hành hung, cướp lại tiền là chuyện gần như không bao giờ xảy ra. Những sòng bạc đúng nghĩa là sòng bạc thường có nhân viên an ninh bảo vệ thân chủ.

Cờ bịch chỉ có hại cho người. Chuyện chết người vì Cờ Bịch xảy ra ở Bankstown trong những ngay đầu năm làm tôi bùi ngùi: Chỉ vì 1.000 đo-la mà hai người Việt Nam phải chết. Bọn giết người, cướp của cũng có thể là người Việt Nam.

Mời quí vị đọc chuyện Người Việt Đá Gà:

LAKE WORTH, Florida – Bảy người gốc Việt, ở Lake Worth, Florida, tổ chức một chầu đá gà độ trái phép. Tối Chủ Nhật 1 Tháng 2 thì cả nhóm bị cảnh sát bắt.

Da GaDanny Pham là người đứng tổ chức. Ông bị cáo buộc tội dàn xếp đá gà trong sân nhà ở đường Palomino. Cả bảy người bị truy tố “tội tàn ác với thú vật.”

Ông Danny Pham khai ông chỉ tổ chức cuộc đá gà để vui với anh em bạn, và gần một trăm con gà ông nuôi là để bán kiếm tiền nuôi gia đình. Cảnh sát đưa ra một số bằng chứng buộc tội ông Pham tổ chức đá gà lấy tiền. Khi khám nhà và xe của ông này, cảnh sát phát giác “võ đài” gà, cùi biên lai thu tiền cá độ, lông gà, xác gà, kể cả những chiếc cựa bằng thép bén nhọn mà người ta thường đeo ở chân gà để gà đả thương đối thủ. Người hàng xóm nghe tiếng hò reo từ đám đá gà, liền báo cảnh sát, và nhóm đá gà bị bắt.

Hồi thập niên 1990, một số người Việt ở Mỹ hay qua tiểu bang Arizona chơi trò đá gà, vì ở đó không cấm. Đến năm 1998, cử tri tiểu bang này mới thông qua dự luật 201 cấm tiệt Trò Đá Gà và trường nuôi gà trọi.

CT Hà Đông: Đến đây, mời quí vị đọc bài phiếm luận về chuyện Đá Gà, Đá Người của ông Phan Khôi.

Những năm 1928, 1929, 1930, ông Phan Khôi sống ở Tân Định, Sài Gòn, ông viết bài phiếm luận cho tờ Đông Pháp Thời Báo. Phiếm luận của ông tuyệt hay, tôi thấy phiến luận của ông mới thật là phiếm luận viết cho nhật báo.

Đá gà với đấu võ.

Phan Khôi. Phiếm luận trên Đông Pháp Thời Báo. Số 754, ngày 9 tháng 8, 1928.

Đã lâu nay ở Sài Gòn chánh phủ ra lịnh cấm đá gà.

Cấm là phải, vì trong cuộc đá gà hay sanh sự rầy rà, huống chi có hai con gà đá nhau dập dầu, chẩy máu rồi người ta vỗ tay mừng rỡ và nhờ đó mà được tiền, thì thật là xấu quá, cho nên cấm là phải.

Song le mấy người ưa đá gà mà bị cấm đi thì họ buồn lắm.

Tôi nói với mấy người ấy rằng nếu họ buồn thì sao bữa 4 Aout mới rồi không đi coi đấu võ? Dầu đấu võ là người ta đá người ta song cũng chẳng khác đá gà là mấy. Coi đấu võ cũng như coi đá gà.

Bắt đầu hai võ sĩ ra trận, hươi tay trước mặt vừa xây vòng vưà giữ miếng nhau, ngó như hệt hai con gà vô hồ nạp và soi nhau. Một chặp, người giám thị gõ cái “keng” ra dấu mãn một hiệp, ấy là như đá gà mà mãn hồ.

Đá gà mãn một hồ thì đem gà ra bồng nước, bên “đá người” cũng vậy. Mỗi võ sĩ có hai “tay nước” chờ sẵn, võ sĩ ra hiệp thì ngồi soải tay chân trên ghế, được hai tay nước vuốt ngực, bóp tay, bóp chân. Nực cười họ lấy khăn ướt ướt vắt nước vào miệng võ sĩ như người ta vắt nước vào họng gà vậy.

Bồng nước xong thì thả vô lại. Khi võ sĩ này đánh võ sĩ kia trúng một đòn mạnh thì bao nhiêu người ngồi coi vỗ tay, cười reo lên, tỏ ra khoái lạc vô cùng. Nếu cú đấm mạnh đến làm cho nngười bị đấm sặc máu hay hộc cơm ra thì người coi càng vỗ tay, reo hò nhiều hơn, nghiã là người ta tỏ vẻ vui mừng khi thấy một người như mình bị người khác cũng như mình đánh cho sặc máu, hộc cơm.

Bên đá gà có ăn thua về tiền bạc thì bên “đá người” cũng vậy, luôn luôn là những người tổ chức được ăn còn những người coi bị thua.

Những người tổ chức nhờ việc sặc máu, hộc cơm cuả đồng loại mình mà được tiền; những người đi coi chịu bỏ tiền ra để thấy đồng loại mình sặc máu, hộc cơm mà lấy làm khoái. Cái tâm lý của loài người lạ thay. Vậy thì cho đá gà còn hơn.

Có người bảo: Nói làm vậy là nhà quê quá. Đồ gà nó ngu, nó chỉ biết đá nhau chí tử mà thôi, còn người ta khôn hơn, lúc hai võ sĩ đánh nhau sặc máu rồi thường ôm hôn nhau và bắt tay nhau để tỏ tình thân ái, “nhân vi vạn vật chi linh” là ở đó. [1]

Ừ phải. Hèn chi chánh phủ cấm đá gà mà không cấm “đá người”. Hèn chi chánh phủ cho mở những cuộc đấu võ luôn luôn.

Tân Việt.

Người viết Phan Khôi ký những bài viết của ông cái tên Tân Việt. Ông viết bài trên, và nhiều bài nữa, năm 1928, năm tôi chưa cất tiếng khóc chào đời, năm cõi đời nay chưa có tôi. Bài viết này đã sống tới năm nay là 80 năm. Lời văn vẫn trẻ, vẫn mới toanh, nó còn hay ở chỗ nó tự ghi được năm tháng nó ra đời: trong những bài báo viết những năm 1935 đến 1940 của ông Phan Khôi, ông Tản Đà, tôi thấy các ông ghi ngày tháng bằng tiếng Pháp: 4 Aout: ngày 4 Tháng Tám Tây. Truớc năm 1945, người Bắc kỳ quen viết thư ghi ngày tháng bằng tiếng Pháp. Như bài này, nếu là thư tôi gửi quí vị, tôi đề ở đầu bài:

Rung Phong, Le 6 Février 2009.

Tôi coi Ký giả Phan Khôi là Tổ Sư Phiếm Luận của Làng Báo Việt Nam. Phiếm luận như phiếm luận cuả Phan Tiên sinh mới là phiếm luận viết cho nhật báo. Tôi viết rõ: phiếm luận viết cho nhật báo khác với phiếm luận viết cho tuần báo, tạp chí. Phiếm luận nhật báo nặng tính thời sự, ngắn gọn, sắc xảo, dễ hiểu, phiếm luận tuần báo, tạp chí thiên về văn học, dài hơn, lời văn hoa hoè, hoa sói.

Mới quí vị đọc thêm một bai Phiếm Luận Nhật báo của Ký giả Phan Khôi, bài viết thật ngắn, thật hay:

Nửa câu đáng tội

Hôm Toà Thượng Thẩm xử ông Vũ Đình Dy về vụ tờ báo Jeune Indochine mới rồi, ông Biện lý đã cho là báo này phản đối quá tay và có nói giữa toà rằng:

- Tôi không cần phải đọc lại hết thẩy các bài đã gây nên tội, song chỉ nhắc lại mấy câu tư tưởng mà bao ấy in làm “manchette” đã là đủ. [2]

Rôi ông kể ra trước tòa ba câu như vầy:

  1. Quand le peuple opprimé s’agite et proteste, on le décrète rebelle. Et s’il se lève, on dit que la haine de race le fanatise. Henri Barbusse.
     
  2. Laissez-vous blamer, condamner, emprisonner, lassez-vous prendre, mais publiez votre pensée. Ce n’est pas un droit, c’est un devoir. Paul Louis Courrier.
     
  3. Salut Mère Patrie !
    Il n’y a pas de Vie sans Liberté, et il n’y a pas de Vie sans Swaraj ou gouvernement de soi par soi. Lala Lajpa Rai.

Ông Biện lý kể ba câu ấy rồi kết luận ngay rằng :

- Tôi xin Toà cứ việc y theo án một năm tù không treo mà Toà Tiểu Hình đã kết tội ông Vũ Đình Dy.

Toà Kiểm duyệt bỏ hết một đoạn.

Đông Dương Thời Báo. Số 773. Sài Gòn ngày 25.9.1928.

Tạm dịch :

  1. Nhà Văn Henri Barbusse nói: Khi dân chúng bị áp bức xao động, phản kháng, người ta bảo là dân chúng làm loạn. Nếu dân chúng nổi dậy, người ta bảo là hận thù về chủng tộc làm cho dân chúng cuồng khích.
     
  2. Ký giả Paul Louis Courrier nói: Bạn cứ để bạn bị trách cứ, kết tội, bỏ tù, bạn hãy để bạn bị tước đoạt, nhưng bạn công bố những tư tưởng của bạn. Đó không phải là một Quyền mà là một Nghĩa Vụ.
     
  3. Nhân sĩ Lala Laipa Raz nói: Chào Mẹ Tổ Quốc. Không có đời sống mà không có Tự do, không có đời sống không có Swaraj hay không có sự cai quản mình bởi chính mình.

Tôi — CTHĐ — không biết Swaraj là gì, tôi cũng không biết Lala Lipa Raz là người nước nào.

Tôi sẽ trích nhiều bài Phiếm nữa cuả Nhà Văn Phan Khôi.

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG.

 

 

 

———————
[1] Nhân vi van vật chi linh: con người khôn linh hơn vạn loài khác.

[2] Manchette — nơi đầu trang nhất, nơi in tên tờ báo, theo ngôn từ Làng Báo Sài Gòn Xưa, trước năm 1975, manchette là tên tờ báo, có khi là tin manchette, đồng nghĩa với tin vedette: tin 8 cột.

TAI – TƠ – NÍCH

Titanic

Tuổi già hạt lệ như sương
Hơi đâu chuốc lấy mấy đường đắng cay..

Vẫn biết già hay trẻ cũng không nên khóc, nhưng khóc là một hình thức biểu hiện cảm xúc của cơ thể con người. Khi xúc động người ta có muốn không cười, không khóc cũng không được. Buổi sáng đầu năm , tôi viết về chuyện Khóc khi xem phim xi-nê, chuyện Phim Hay, chuyện Đào Kép và chuyện Nhà Đạo Diễn.

Tôi mê xi-nê từ nhỏ. Cùng với ước mơ mai sau lớn lên sẽ làm văn sĩ viết truyện tiểu thuyết như các ông Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương, những năm 11, 12 tuổi tôi còn mơ làm tài tử xi-nê, tức mê đóng phim xi-la-ma.

TitanicKý ức chìm loãng, mờ nhạt trong dòng thời gian, tôi chỉ nhớ tôi có ước mơ làm tài tử xi-nê trong một buổi chiều những năm 1941 hay 1942, tôi xem cuốn phim tôi không nhớ đúng tên — phim L’Incendie de Chicago, hay phim San Francisco — chỉ nhớ phim do Clark Gable và Jeannette MacDonald đóng vai chính.

Trong phim Clark Gable là một thanh niên hào hoa phong nhã, một mẫu người Playboy chỉ sống để ăn miếng ngon, uống rượu quí, hút sì-gà đậm, mặc y phục đẹp và yêu những người đàn bà nhan sắc, đa tình thơm như múi mít; Jeannette McDonald là một nữ ca sĩ đẹp, trẻ có giọng hát mê hồn. Clark Gable yêu Jeannette McDonald nhưng nàng không vui lắm, không sốt sắng đáp ứng lắm với Tình Yêu — viết hoa hai chữ T, Y — của chàng, vì nàng thấy chàng là người vô đạo, báng bổ và quá đỗi ăn chơi . Nàng là gái ngoan đạo, là nữ ca sĩ nhưng vẫn giữ mình và tâm hồn, linh hồn, trong sạch không vướng bụi trần.

JamesThế rồi, tôi không nhớ là thành phố bị hỏa hoạn hay bị động đất. Tai hoạ xẩy ra, thành phố đổ nát, nhiều chỗ bốc cháy, đám dân thành phố thoát chết dắt díu nhau chạy lên một ngọn đồi bên ngoài thành phố. Trên sườn đồi ấy, trước cảnh thành phố đổ nát, Nữ Ca Sĩ Jeannette McDonald, y phục trắng, quì xuống cất lời ca tạ ân Thiên Chuá đã cứu cho một số người được sống. Đúng lúc Nàng Ca Sĩ hát, Chàng lãng tử Clark Gable cũng lên sườn đồi. Nghe tiếng ca của Nàng, trong vắt bay lên trời mây, Chàng xúc động, Chàng quì gối xuống, mở trái tim hào hoa của chàng chào đón hồng ân Thiên Chuá.

Mèn ơi..! Dù bạn có khó tánh hay có bi quan đến mấy bạn cũng, ít nhất, nhìn nhận với tôi rằng cảnh sau tai hoạ, trên sườn đồi, gần xa kia là thành phố đổ nát, Nàng Ca Sĩ đẹp như Thiên Tiên, y phục trắng, quì gối chắp tay hát lời ca ngợi Thiên Chuá, Chàng Lãng Tử Hào Hoa ria mép con kiến quì xuống theo Nàng, quì gần bên Nàng, khuôn mặt lãng tử ăn chơi nay tỏ ra ăn năn, tràn đầy những nét thành kính — cảnh ấy là một cảnh đẹp.

C3nh đẹp ấy làm chú nhỏ 10 tuổi là tôi nghĩ: Đóng phim như Clark Gable có gì khó? Toàn ăn chơi, bận đồ đẹp, yêu đàn bà đẹp, được đàn bà đẹp yêu. Đóng phim như thế không những không khó mà còn là dzễ ợt. Và tôi ước mơ lớn lên tôi cũng đóng phim xi-nê như Clark Gable.

Từ 1950 đến 1954, ở Hà Nội, ở Sài Gòn, gần như không ngày nào tôi không vào rạp xi-nê. Hà Nội: những rạp xi-nê Majestic, Eden, Philharmonique, Trung Quốc, Porte d’Or, Moderne, Olympia, Ciro’s, Dũng Lạc; Sài Gòn: những rạp xi-nê Rex, Majestic, Eden, Cinéma Catinat, Bonard, Đại Nam, Khải Hoàn, Thanh Bình, Nam Quang, Olympic, Nam Việt là những nơi tôi quen thuộc. Không thể biết tôi đã chi bao nhiêu tiền vào việc mua vé xi-nê trong 4 năm từ 1950 đến 1954.

Cùng với tuổi tác nhiều hơn, việc đi xem phim của tôi ít đi. Sau Ngày 30 Tháng Tư Đen Hơn Mõm Chó Mực, bị kẹt lại, bị xem mấy phim xi-nê cuả Nga Cộng và Bắc Cộng: Mười Hai Vị Thần Thánh, Lút-mi-lan và Rút-mi-lăng, Đại tá Vô-lô-dzốt-ki, Đến Hẹn Lại Lên, Người Bộ Đội Trẻ, Kim Đồng, tôi khó chịu, tôi tự hứa: sẽ không bao giờ bước chân vào rạp x-nê xem phim cộng sản, tôi chỉ lại đi xem phim khi nào tôi sống ở một thành phố nào đó của phe tư bổn Âu Mỹ.

20 muà lá rụng mỏi mòn sống ở Sài Gòn cờ máu, ảnh Hồ, trong số có 8 năm nằm phơi rốn trong nhà tù cộng sản, bánh xe lãng tử muộn màng đưa tôi sang Kỳ Hoa Đất Trích, tôi đã qua tuổi làm nhiều trò, không phải chỉ qua tuổi đi xem xi-nê.

Vuot SongỞ Kỳ Hoa, xứ sở của Bơ Sưã và Xi-nê, tôi rất ít đi xem xi-nê ở rạp. Ít đi không phải là không đi mà là không đi nhiều, trong 10 năm, xem chừng 20 phim ở rạp, tôi đã khóc hai lần: lần thứ nhất tôi khóc khi xem phim Titanic, đoạn chàng thanh niên Jack bị vu tội lấy trộm sợi dây bích ngọc, bị còng tay vào cây cột sắt, khi tầu sắp chìm, nước tràn vao tầu, Nàng Rose chạy trong khoang tầu vắng tìm người yêu, cứu chàng khỏi chết, và tôi khóc lần thứ hai khi xem phim Vượt Sóng. [1]

Tôi không muốn khóc, nhưng những lúc ấy nước mắt tôi tự động ứa ra, tim tôi thổn thức trước cảnh người ta yêu nhau, người ta sống chết vì nhau, tim tôi đau nhói khi thấy đồng bào bất hạnh của tôi phải chịu nhiều đau khổ quá vì bọn Cộng sản.

Phim Titanic là một phim Hay, phim vưà thành công về nghệ thuật vừ thành công về lợi nhuận, tức có nhiều người đi xem, có số tiền bán vé cao kỷ lục. Phim được thực hiện năm 1998, được trao nhiều Giải Oscars năm 1999. Đôi diễn viên Kate Winslet – Leo DeCaprio hợp đôi tuyệt vời. Tôi không biết tại sao những nhà làm phim không khai thác đôi diễn viên ấy ngay sau khi phim Titanic thành công, phải đợi 10 năm sau — đến năm nay, 2009 — họ mới cho Kate Winslet và Leo DeCaprio, đôi tình nhân của phim Titanic làm nhiều người khóc, gặp lại nhau trong một phim mới: Revolutionry Road.

Nghĩ rằng phim có Kate và Leo đóng sẽ lại ăn khách, lại có nhiều người đi coi, tuy không thể nhiều khán giả bằng phim Titanic nhưng chắc phải là phim đông khách nhất trong tuần, tôi theo dõi việc chiếu bộ phim thứ hai của Kate Winslet và Leo DeCaprio trên báo Mỹ.

Cùng trong hai tuần lễ cuối tháng January 2009 người ta tung ra chiếu 2 bộ phim mới có Kate Winslet trong vai chính: phim Revolutionary Road với Leo DeCaprio, và phim The Reader, Kate Winslet đóng với nam diễn viên Ralph Fiennes. Việc chiếu hai phim cùng một nữ diễn viên đóng vai chính trong cùng một lúc như thế là việc làm tối kỵ của giới khai thác phim ảnh.

Hai phim Revolutionary Road, The Reader cùng là phim tình, cốt truyện không có gì đặc biệt, và cả hai phim cùng không có khách đi coi. Giới khai thác phim ảnh gọi việc đào kép đang nổi tiếng, vừa có phim hốt bạc, ra phim mới bị thất bại thê thảm về tiền bạc là một cái flop.

Với bộ phim mới Revolutionary Road, Kate Winslet và Leo DeCaprio bị “flop: rơi xuống” thảm hại. Trước đó người ta tưởng việc đôi diễn viên Vàng Y đó gặp lại nhau trong bộ phim mới sẽ gây ra sự chú ý của khán giả, những người bị xúc động vì họ trong phim Titanic sẽ đi xem phim mới của họ, nhưng sự việc diễn ra không như thế. Hai phim Revolutionar Road, The Reader chiếu trong 2 tuần lễ không phim nào đứng vào bảng danh sách 10 phim thu nhiều tiền nhất trong tuần.

Mỗi Thứ Hai trong tuần Nhật báo The Washington Post đăng bản Tổng Sắp 10 phim thu nhiều tiền vé nhất trong tuần, tức có đông khán giả nhất, sáng Thứ Hai này là tuần thứ ba, tôi thấy hai phim có Kate Winslet đều ở ngoài bản. Phim Revolutioanary Road, sau 2 tuần vắng khách, đã phải ngừng chiếu.

Lâu rôi tôi đã thấy sự quan trọng cuả nhà đạo diễn điện ảnh, phim hay là do đạo diễn, không phải do diễn viên. Phim Titanic và phim Revolutionary Road càng cho tôi thấy tôi nghĩ như thế là đúng. Phim Titanic do Đạo diễn James Cameron thực hiện. Tôi đã xem phim True Lies của ông trước phim Titanic. Phim True Lies, với Arnold Shwarenegger, là tuyệt đỉnh cuả loại phim Action Âu Mỹ, phim Action mà đến như True Lies là nhất.

Cứ khoảng 10 năm Đạo diễn James Cameron làm một phim, mà phim ông làm là tuyệt phẩm. Chỉ được biết tài ông qua có 2 phim, tôi thán phục ông. Tôi viết bài này để vinh danh ông: Đạo diễn phim James Cameron.

Trước năm 1970 tôi xem phim vì diễn viên, cứ thấy Lana Turner, Kim Novak, Marilyn Monroe, Elizabeth Taylor, Audrey Hepburn là đi xem. Tôi mù tịt về Nhà Đạo diễn. Tôi không biết sự quan trọng của Nhà Đao Diễn Điện Ảnh. Việc đó chứng tỏ sự ấu trĩ của tôi và của khán giả. Đa số khán giả xi-nê thường làm như thế, chỉ đánh giá phim chắc là Hay trên diễn viên.

Tôi cũng viết bài này để chia buồn với Nữ Diễn Viên Kate Winslet. Với cô, phim Revolutionary Road có thể được gọi là phim Tơi-tả-nách.

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

 

 

———————
[1] Vượt Sóng. Journey from the Fall, Đạo diễn-Viết Truyện Phim Hàm Trần

Một ngày xuân Em trở lại vườn xưa

Eden
 
Hôm nay, Ngày 31 Tháng January Mỹ, là ngày Mồng Sáu Tết Ta.

Hôm Mồng Ba Tết là ngày Thứ Tư 28 January — tôi, — CTHà Đông — làm cuộc xuất hành đầu năm, đến Trung Tâm Eden chào quốc kỳ, rồi vào một nhà gửi tiền gửi 100 đô về Sài Gòn lì sì cho anh cháu nội của tôi.

Thường thì tiền gửi ở Virginia — hay ở bất cứ nơi nào trên Xứ Mỹ – gửi ban ngày thì đêm hôm đó, tức ban ngày hôm sau ở Sài Gòn, tiền gửi được đưa đến nhà người được gửi. Như trường hợp của tôi thì con tôi nhận được tiền mang đến lúc ban ngày, buổi tối nó gửi I-Meo cho tôi, sáng hôm sau mở Internet, tôi thấy thư con tôi gửi sang:

Cám ơn Bố. Con nhận được tiền Bố cho hôm nay.

Thường thì như thế. Nói rõ hơn: gửi tiền về Sài Gòn hôm nay, sáng mai tôi được điện thư của con tôi gửi từ Sài Gòn cho biết nó đã nhận được tiền. Nhưng năm nay, gửi tiên hôm Mồng Ba Tết, sáng Mồng Bốn Tết, mở Internet, tôi không thấy thư con tôi báo nhận được tiền như mọi lần trước, qua sáng Mồng Năm rồi sáng Mồng Sáu Tết vẫn không thấy gì cả. Tôi có thể I-Meo hay phôn về Sài Gòn cho con tôi — dzễ thôi — nhưng tôi không làm thế, để con tôi bất ngờ nhận được tiền lì sì Tết, nó sướng hơn.

XuanĐây là việc làm cái trò gọi là surprise mà ông cha tôi học được từ các quan Đại Pháp văn minh, truyền đến tôi là đời thứ hai. Tôi cũng có thể phôn hỏi nhà gửi tiền nhưng nhân có việc lại đến Trung Tâm Eden, tôi ghé vào hỏi cô chủ văn phòng gửi tiền, cô nói:

- Xin lỗi chú. Cháu quên không nói để chú biết trước là ngàyThứ Hai, Mồng Một February, là ngày Mồng 8 Tết, ở Sài Gòn người ta mới làm việc. Nên tiền chú gửi hôm rồi đến ngày Thứ Hai Mồng Một Ferbruary, người ta mới phát ở Sài Gòn.

Một bà khách gửi tiền nói:

- Ở quê nhà Mồng Bẩy Tết mới hạ cây nêu, hạ nêu rồi mới hết Tết.

Sì ra sế. Sì ra người Việt ở Mỹ Ba Ngày Tết Nguyên Đán vẫn đi cày, chẳng có nghỉ ngơi, ăn chơi Tết nhất gì cả, trong kh ở Sài Gòn người Sài Gòn ăn Tết lu bù kèn.

Lại nhớ đến thời vàng son ngày xưa người Việt ăn Tết, vui Tết, chơi Tết đến những ba tháng:

Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,
Tháng Hai cờ bạc, Tháng Ba hội hè.

Người Việt ở Mỹ, Tết Nguyên Đán đến, nghỉ chơi ba tháng, có mà ăn đất.

*****

Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu?

Tôi mười tuổi năm 1943 Thế Kỷ 20, tôi không được dự một hội hè đình đám nào cả. Quê tôi ở Gia Lâm, bên bờ sông Đuống, từ làng tôi đến làng Phù Đổng, làng của Thánh Gióng, ở bên kia sông Đưống, đi bộ, đi đò qua sông, mất khoảng 2 giờ đồng hồ. Gần thôi.

Gia Lâm không có núi đồi, nhưng qua sông Đuống là Tiên Du — Vùng này cảnh đẹp đến nỗi các nàng Tiên trên Thượng giới phải rủ nhau xuống chơi, vì vậy có tên là Tiên Du. Từ Gia Lâm đi theo sông Đưống ra biển là phủ Thuận Thành, rồi đến huyện Lang Tài trong Thơ Hoàng Cầm.

4 năm đi kháng chiến, từ 1947 đến 1950, tôi đã sống ở trong làng Phù Đổng, trong làng Phù Chẩn. Làng Cháy là tên tục của làng Phù Chẩn, làng này cách làng Phù Đổng một cánh đồng. Tục truyền khi Thánh Gióng vươn vai thành đại lực sĩ, bận giáp sắt, cầm cây thương sắt, nhẩy lên ngựa sắt, thúc ngựa phóng đi đánh giặc Ân, ngựa sắt chồm lên, hí vang, miệng ngựa phun lửa làm cháy làng Phù Chẩn, từ đó làng Phù Chẩn có tên là làng Cháy.

Tôi đã đi qua Thuận Thành, đến huyện Lang Tài. Tôi chỉ được đến gần núi Thiên Thai mà không được lên núi, vì lúc tôi đến đấy quân Pháp đóng đồn trên núi.

Trai Cầu Vồng, Yên Thế
Gái Nội Duệ, Cầu Lim.

Trong 4 năm kháng chiến nhiều đêm tôi ngủ ở Yên Thế, Nội Duệ, nhưng tôi không có dịp được nghe một bài hát quan họ nào.

*****

23 Tháng Chạp là ngày Ông Táo về chầu trời, báo cáo với Ngọc Hoàng về những chuyện xẩy ra trong nhà ông Táo có phận sự canh giữ. Tôi không biết chuyện Táo Quân Hai Ông Một Bà có phải là chuyện Tầu mà ông cha tôi lấy làm chuyện của dân mình hay không? Hay đó là chuyện ông cha tôi sáng tác?

Tôi théc méc khi hai Táo Ông về chầu Trời, Táo Bà có đi theo hai ông chồng không? Tôi lại théc méc Táo Quân khác với Thổ Công hay Táo Quân cũng là Thổ Công? Đã có Thổ Công giữ đất, giữ nhà, còn cần có Ông Vua Bếp làm báo cáo làm chi nữa?

Đầu năm, mời quí vị đọc chuyện vui về Thổ Công.

Thổ Công phải đòn.

– Người viết Tản Đà.

Trong một xứ, một khoa thi có hai chuyện.

Một nhà có con gái đã hưá gả cho một người học trò nghèo và trong nhiều năm nuôi người học trò này ăn học. Nhưng thi khoa ấy, anh học trò hỏng thi, bị nhà cô gái chê không gả con.

Cùng khoa thi ấy, anh con nhà kia đi thi, đỗ, về nhà anh bỏ vợ.

Cuối năm, sổ gia thư đệ lên Thiên Tào. Ngọc Hoàng xem sổ, giận lắm, cho đòi hai Thổ Công hai nhà ấy lên hầu, Ngọc Hoàng phán:

- Ta cho các người xuống làm Thổ công nhà người ta, ngày giỗ, ngày Tết, Mồng Một, Ngày Rằm, khi dựng nhà, lúc bán lợn, hai ngươi đều được cơm no, rượu say. Chức vụ hai ngươi phải giữ cho nhà người ta ăn ở có đạo đức. Sao lại để xẩy ra chuyện chỉ vì thi cử trúng, trượt mà con nọ bỏ chồng, thằng kia rẫy vợ? Như vậy các ngươi ở trong nhà đó làm chi?

Ngọc Hòang truyền nọc cổ hai Thổ công, đánh mỗi ông 30 roi, cách chức, rồi lại truyền lệnh cho Nam Tào:

- Việc thi cử ở trần gian chỉ làm hại cho đạo đức, luân lý. Từ nay cấm thi.

Vậy là từ đó trần gian không còn nạn thi cử nữa.

Hai Thổ Công bị đòn, bị cách chức, bỏ đi biệt tích.

Hai Táo Quân ở nhà chờ mãi không thấy Thổ Công về, đi tìm nên biết chuyện. Hai Táo Quân bảo nhau;

- May cho chúng ta, lúi húi trong bếp, ăn xó mó niêu, quanh năm chẳng rượu thịt gì nhưng được cái không bị ăn đòn.

Hai Táo Quân cảm khái làm bài thơ:

Trần gian đổi vợ với thay chồng
Ba chục roi đòn đít Thổ Công.
Nhắn bảo trần gian cho chúng biết:
Thi chi cho bận đến phường ông.

– Tản Đà

Tản Đà Tiên sinh viết chuyện chửi đời qua việc Thi Cử cũng phải thôi, vì ông thi truợt nên ông có ác cảm với việc thi cử. Ông đi thi mà cả cái bằng Tú tài như ông Tú Xương ông cũng không có. Thi cử ngày xưa đỗ Tú tài coi như không đỗ đạt gì cả. Nếu ông Tản Đà đỗ Tú tài người đời đã gọi ông là ông Tú Tản Đà hay ông Tú Hiếu. Môt ông làm thơ rất hay mà đi thi không đỗ Tú tài là ông Nhà Thơ Nguyễn Du. Ông Phan Khôi có đi thi chữ Nho, có đỗ Tú tài, nhưng ít khi cái tên Tú Khôi của ông được dùng.

Cứ theo chuyện Tản Đà Tiên sinh kể thì mỗi nhà có hai Ông Táo,một Bà Táo, một Ông Thổ, Nam kỳ gọi là Ông Địa. Những năm 1940 tôi 10 tuổi, Ngày 23 Tết đến, tôi thấy nhiều nhà cúng bộ y phục để hai ông Táo lên chầu trời. Y phục Ông Táo làm bằng giấy xanh đỏ, gọi là hàng mã, gồm mũ cánh chuồn, áo bào, đôi hia, nhưng không thấy có quần. Y phục Táo Ông không có quần chắc y phục Táo Bà cũng không có quần. Vì vậy — tôi nghe nói — thời xưa ấy, những năm trước năm 1940 — có ông làm thơ trào phúng, tức Thơ Riễu:

Vợ chồng Ông Táo dạo chơi xuân
Đội mão, đi hia, chẳng mặc quần.
Ngọc Hoàng phán hỏi: Sao lại thế?
Thưa rằng hạ giới chúng duy tân.

Lại nghe nói bài thơ tả Ông Táo đội mão, đi hia, chẳng mặc quần là do các ông báo Ngày Nay, Phong Hoá làm ra.

Nhắc lại théc méc: Không biết chuyện vợ chồng Táo Quân Hai Ông Một Bà là chuyện riêng của dân tộc An Nam hay chuyện của Tầu? Những năm 1960 ở Sài Gòn tôi biết — chính tôi biết, tôi thấy, không phải tôi nghe ai nói — có hai ông, một bà sống chung một nhà. Bộ ba này hơn tôi khoảng 10 tuổi, dân Bắc kỳ di cư. Họ sống chung với nhau êm ru bà rù. Năm 1980 gặp một ông bạn của họ, tôi hỏi thăm về họ, ông bạn nói:

- Lúc đầu ba đưá chúng nó sống với nhau, bọn moa đều khó chịu, thằng nào cũng bảo không được. Nhưng chúng nó sống với nhau êm đẹp đến nỗi bọn moa phải phục, bọn moa phải chapeau.

“Phải chapeau” tức phải ngả nón, cúi đầu chào thán phục.

Virginia is for Lovers nghe nói có một bà có hai, ba ông chồng sống chung một nhà, ông chồng nào cũng ngoan — có ông nghe nói xưa là Tá, Tướng — các ông Táo đi cày về có check nộp cho bà vợ chung, không ông nào bày đặt ghen tuông, tranh dành chi cả. Tôi viết rõ: tôi nghe nói, không biết chuyện Vợ Chồng Ông Táo Hai Ông Một Bà Virginia có thật không? Hay là chuyện người ta đồn?

*****

Tôi thấy Xuân và Thời Gian đi qua mỗi khi tôi đọc bài Thơ này.

Mời quí vị cùng đọc Thơ, không biết Thơ có làm quí vị cảm thấy như tôi không?

Vuờn Xưa

– Thơ Tế Hanh

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc.
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao hôm sao mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim em đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua.
Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về anh hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Lá như môi thầm thỉ gọi anh về.
Lần sau anh trở lại một ngày hè
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh.

Mản vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ờ hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Sao y bản chánh Thơ Tế Hanh.

Tình, Xe La Mua

Eva
 
Đầu năm Kỷ Sửu, khi viết bài “Có Về Đâu Nữa Sài Gòn Ngàn Năm,” tôi ngỏ lời than tiếc về việc trăm năm một thưở, năm 1963, trong buổi tối Bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân ra đi làm cuộc giải độc dư luận Âu Mỹ, Bà có cuộc trả lời báo chí phỏng vấn Bà ở Phòng Khánh Tiết Phi cảng Tân Sơn Nhất. Năm 1963 ấy tôi là phái viên của Nhật báo Sàgònmới, tôi có mặt trung cuộc họp báo đưa tiễn ấy nhưng vì không muốn bon chen len lách, tôi không vào đứng cạnh ghế Bà Trần Lệ Xuân ngồi nên không có tôi trong bức ảnh Phái viên Tạp Chí Life chụp tối ấy. Tôi tiếc ơi là tiếc.

Bài viết đăng lên, có vị độc giả gửi điện thư khuyên tôi không nên tiếc quá, vị độc giả này muốn chụp chung với tôi một tấm ảnh — tôi, Công Tử Hà Đông — từ lâu rồi mà vì xa cách, không thực hiện được.

Tôi viết trả lời và xin các vị độc giả không nên gặp tôi là hơn, vì bi giờ nhan sắc tôi tàn phai quá đỗi, tôi như ông Tầu Già có cái Thùng Nước Lèo trước bụng. Gặp tôi các vị sẽ chán lắm. Bài trả lời được đăng lên, một số độc giả gửi I-Meo khuyên tôi đừng buồn vì Tuổi Già, vì Thùng Nước Lèo. Tôi trích đăng một số điện thư ấy:

– Nguyễn Dũng, January 28, 2009.

Bố già ơi ! Tuy thời gian làm “bố” thành ông “Tầu Già Thùng Nước Lèo” nhưng tôi thấy bác vưỡn còn phong độ hơn cả triệu ông Tầu già thùng nước lèo khác…. Bác vẫn còn đôi tay khoẻ mạnh gõ bài đều đều cho đồng bào đọc. Văn phong của bác vẫn còn trẻ trung và “verry.. very Hoàng Hãi Thủy.” …

Nỗi buồn của bác đâu phải của riêng bác, ngay cả tôi thua bác gần 2 bó mà cũng đã là anh “Tàu Thùng Nước Lèo” rồi. Thế thì đừng buồn nữa, tương lai có ra sao mặc mẹ nó, nghe bác. Cùng nhau chúng ta vui cái Tết này, nay ta còn có nhau; chúng tôi vẫn còn “Bố già” Công Tử Hà Đông Hoàng Hãi Thủy mạnh khoẻ, minh mẫn, ngồi computer gõ bàì đều đều cho những… “Anh Con Rởm” cuả Bố đọc mệt… xỉu. Cám ơn… Bố.

—–

– Phương Lê, January 27, 2009:

Dẫu dung nhan Bố có tàn tạ đến đâu thì vẫn chưa thể thê thảm bằng ông Bố (đẻ) của tôi ngày ông đi tù cải tạo về! Dẫu có giống ông “Tầu Già Thùng Nước Lèo” đi nữa thì Bố vẫn sống khỏe và viết khoẻ. Vạn lần diễm phúc cho bản thân, gia đình và độc giả xa gần của Bố. Diễm phúc hơn ông Bố (đẻ) của tôi vì ông mất đã lâu rồi.

—–

– Kaily Ngô, January 28, 2009.

Bây giờ là Mùng Hai Tết ở đất Orange. Kính chúc Nhà văn và gia quyến hạnh phúc, bình an và tràn đầy Ân phúc. Bất kể thế nào, 3 đời nhà cháu vẫn thích đọc những bài viết của Nhà văn.

—–

– Nguyen Anh Thang, on January 24, 2009:

Bài nhận định văn học của Nhà văn Nguyễn Đình Toàn quá hay Ông thẩm thức văn chương HHT như chuyện tri kỷ giữa Bá Nha và Tử Kỳ Ai đã qua thập tử nhất sinh, ai đã từng bị CS đày đoạ, đã phải qua đủ loại truân chuyên của 50 năm qua, sẽ thấy mình thấp thoáng đâu đó trong những trang viết của HHT. Như đọc truyện Kiều ta thấy hay, vì thi ca ngôn ngữ đã hay, mà ta còn thấy thấp thoáng thân phận con người của chính ta trong đó. Hôm nay Ngày 29 Tết ở Đất Trích Houston, được đọc Nguyễn Đình Toàn và Hoàng Hải Thủy là một hạnh phúc trong Tháng Giêng vang vang trời vào Xuân (mượn lời Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền)

—–

– Phan Tan Thach, January 25, 2009:

Tôi đọc văn HHT đã lâu, từ thời Nhật báo Ngôn Luận của Đệ Nhất Cộng Hoà miền Nam VN, rồi trên Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi đọc HHT chỉ để giải trí, tôi đánh giá văn HHT thuộc loại “phơi-giơ-tông”, văn “Sến.”

Theo thời thượng lúc bấy giờ, văn chương phải nhuốm màu hiện sinh, chữ nghĩa rối rắm, khó hiểu bắt người đọc phải nặn óc ra mà “thưởng thức”. Loại văn chương này đầy dẫy trong các tác phẩm cùa TTT, DNM, NTH, NXH, PCT,… trong khi đó văn HHT đã và vẫn được liệt vào văn phóng sự, mua vui cũng được một vài trống canh, thế thôi. Hưởn thì đến nhà cho thuê sách Cảnh Hưng lấy truyện HHT về nhà đọc xong rồi trả, không thể xếp sách của HHT vào “Tủ Sách Gia Đình”

Thế rồi đứt phim 30 Tháng Tư 1975, mấy năm đầu 1980 nghe tin HHT bị bắt vào tù CS vì gửi bài viết ra hải ngoại. Một số bài của HHT đăng trên Tuyển tập Tắm Mát Ngọn Sông Đào. Tôi đọc nhưng vẵn chưa thấy mặn mà với văn chương của ông, chỉ thấy thích vì những bài viết này chửi bọn CSVN đọc thấy quá đã thế thôi.

Rồi thấy HHT tị nạn Hoa Kỳ Đất Trích; lâu lâu tôi vớ được vài bài tạp văn cũa ông, vưỡn chưa thấy giá trị văn chương gì sất. Tôi vẫn thích Tạp văn của tác giả BBT trong những Thư Gửi Bạn Ta, nhưng, bỗng một ngày thấy mùi vị những bài văn này nhàn nhạt bởi tác giả BBT đi mãi trong đường xưa lối cũ cũa chính ông. Phong cách mòn cũ, mùi vị nhàn nhạt vì thiếu chất sống hay kinh nghiệm sống. Đọc đầu bài đã đoán được cuối bài kết thúc ra sao, thì còn gì là thích thú cho người đọc.

Một hôm tình cờ tôi đọc được bài viết về học giả VHS của HHT đăng trên báo Con Ong ở Houston. Tôi kinh ngạc vì HHT dẫn dắt người đọc của Saigon Năm Xưa đi khắp mọi miền quá khứ, và đặc biệt HHT dắt tôi đi theo bằng ngòi bút lôi cuốn của riêng HHT. Nếu ta lấy một đoạn bài viết của HHT, dấu tên người viết, làm cuộc “đố vui,” hỏi ai viết bài này, nhiều người sẽ nhận ra bài đó “Made In HHT.”

Tôi đồng ý với Nhà văn Nguyễn Đình Toàn: HHT là đại cao thủ của Tạp Văn ở hải ngoài bây giờ.

Ba Muơi Tết ở Houston, xin mượn câu thơ cũa Nguyễn Đình Toàn: “Trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết?” nhờ đọc bài viết quá hay của ông về HHT.

—–

– Tiên Phụng, January 26, 2009.

Nói đến Tình C’est l’Amour, tôi nhớ một truyện của bác đăng trên Nhật báo Ngôn Luận năm xưa tên là TÌNH. Nhân vật chính trong truyện tên là Tình — Vũ thị Tình, Marie Tình, một em “poule de luxe” — Truyện Tình được in lại ở Hoa Kỳ khoảng năm 1980. Tôi có 1 quyển nhưng khi dọn nhà từ Montreal đến Calgary, tôi đã làm mất. Bác có còn nhớ gì về truyện này không?

Công Tử Hà Đông: Cám ơn các vị đã gửi thư, tôi ấm lòng khi được các vị chú ý. Quí vị khen hay chê với tôi đều tốt. Được khen tôi lên tinh thần, bị chê, tôi sửa.

JeanneHôm nay nhân ông Tiên Phụng nhắc đến quyển truyện xưa, tôi nhớ tôi có tập truyện TÌNH để trong đáy tủ Tàng Kinh Các Rừng Phong. Như quí vị thấy trang truyện Tình tôi in cùng bài này là một trang truyện đăng nơi trang 4 Nhật báo Ngôn Luận, Sài Gòn, khoảng năm 1960. Nhật báo Sài Gòn thời ấy 4 trang. Ngày ấy tôi nhờ anh đưa báo tháng cho những nhà trên đường có nhà tôi khi anh đến toà báo Ngôn Luận lấy báo, anh lấy thêm cho tôi 3 tờ Ngôn Luận — Nhà báo cho tôi, không tính tiền anh phát báo — anh đem 3 tờ báo mỗi ngày bỏ ở nhà tôi, mỗi tháng vợ tôi chi anh 1 tháng tiền công giao báo, như tiền anh bán 1 tờ báo cho nhà tôi. Vợ tôi cắt những trang báo truyện của tôi, viết xong vài truyện, tôi mang những tập truyện ấy đến nhà đóng sách nhờ đóng thành tập bìa cứng. Gần như tiểu thuyết phơi-ơ-tông nào của tôi đăng ở báo Ngôn Luận trong năm, bẩy năm trời thanh bình ấy, tôi cũng có một tập đóng bià cứng như thế.

Qua 50 năm, bao nhiêu đổi thay, mất mát, tôi không biết vì nhân duyên nào tập truyện Tình của tôi không bị mất như những tập truyện khác, không những không bỏ tôi nó còn theo tôi đến Rừng Phong, Kỳ Hoa Đất Trích, để hôm nay có người nhắc đến nó, tôi kéo nó ra từ đáy tủ, đưa lên Scan chụp nó một trang, cho lên báo và viết đến nó như tôi đang viết.

TÌNH là tiểu thuyết EVA của James Hadley Chase. Sang Mỹ hơn 10 năm, tôi không thấy tác phẩm EVA ở đâu, tôi cũng không nghe ai nói đến nó, nay mới thấy một ông nhớ nó là ông Tiên Phụng.

Eva được thực hiện thành phim, tôi không được xem phim này, tôi chỉ thấy trên báo xi-nê cô đào Pháp Jeanne Moreau trong vai Eva. Jeanne Moreau đóng phim cùng thời với Brigitte Bardot, hai Nàng trạc tuổi nhau, nay hai Bà, với Elizabeth Taylor, Gina Lollobrigida, Sophia Loren, Kim Novak — những Người Đẹp Xi-La-Ma thời tôi 30 tuổi, còn sống ở cõi đời này.
 

Ngon Luan
 
Tôi đăng lại trang Rao Vặt của Nhật báo Ngôn Luận để các vị thấy cảnh Sài Gòn vang bóng một thời. Quảng cáo Rao Vặt mở đầu trên Nhật Báo Ngôn Luận, sau khi Ngôn Luận bị đóng cưả vì tội “Cấu kết với Nhà Ngô“, Nhật báo Chính Luận ra đời. Trang Rao Vặt phồn thịnh nhất trên Nhật báo Chính Luận. Quảng Cáo Rao Vặt Sài Gòn chấm dứt với Ngày 30 Tháng Tư 1975. Mời quí vị đọc lại vài mục trong Trang Rao Vặt được in lại ở đây hôm nay:

Salon ViệtNam. 115 Trần Quang Khải. Tân Định. SG.

BÁN Vauxhall NBT, Plymouth EA, Borward BR, Opel 4 cửa EA 98, Volks Microbus EC, JeepLandRover EA, Jeep Willis..v..v..

CẦN BÁN 1 căn phố trệt, có gác, số 69/13 đường Phát Diệm, Sài Gòn. Xin hỏi 245/6 Võ Tánh, Sài Gòn.

Nhắn tin: Thưa quí bà quí cô. Kể từ nay tôi chịu trách nhiệm điều khiển phòng uốn tóc Thiên Nhiên tại số 89 Cộng Hoà. Ngang chợ cũ (Nancy). Chú Sính kính mời.

TẠI SAO quí ông mau già? Có một thân hình đẹp. Mặc một bộ đồ mới chưa đủ. Phải có một mái tóc làm nổi bật gương mặt. Mời quí ông đến ngay phòng hớt tóc Lệ Hoa có chuyên viên ở Pháp mới về hợp cùng những thợ đợt sóng mới tài năng làm những mái tóc bồng bềnh gợn đẹp như tóc tự nhiên. Có đủ loại thuốc Âu Mỹ, tóc cứng làm mềm, tóc đứng làm nằm, tóc đỏ làm hết đỏ. Bỏ bào, hớt kéo, tỉa giao, sấy mái tóc thuôn bóng giá 15 đ. Phòng hớt tóc Lệ Hoa 49 Trần Hưng Đạo, Sgon, mở cửa 7g30 đến 21 giờ.

Rao Vặt Sài Gòn Vang Bóng có thể làm một số quí vị — tuổi đời trên Sáu Bó — nao nao thương tiếc thành phố thủ đô xưa và tuổi trrẻ, tôi xin ngừng ở đây.

Tôi sẽ viết một bài riêng về tiểu thuyết TÌNH.

Ngàn Năm Bia Miệng

Ho Chi Minh

Tháng Giêng, 2009, tôi viết một bài về tác phẩm “Việt Sử Đương Đại qua 200 Câu Vè” của Người viết Nguyễn Ngọc Phách. Đó là bài Phò Mã Tốt Áo, đăng trên Tuần Báo SàGòn Nhỏ và trên Trang Web hoanghaithuy.com.
Trong bài, tôi có hỏi tác giả Việt Sử Đương Đại 2 câu:

1 – Xin ông cho biết “lai căn” hay “lai căng”? Tôi hỏi vì thấy ông viết là “lai căng.”

2 – Trong sách, tác giả viết chuyện “Người đảng viên Cộng sản Lý Thụy bán Nhà Yêu Nước Phan Bội Châu cho Mật Thám Pháp.” Tôi hỏi ông có tài liệu, văn kiện, bằng chứng gì về việc trên không, hay ông chỉ nghe người ta nói, chỉ đọc những chuyện người ta viết?

Tôi hỏi thế vì nếu viết để giải trí, người ta đọc qua rồi quên như những bài viết của tôi thì không nói làm gì nhưng nếu chuyện cho vào Sử Sách thì lại khác.

Hôm nay tôi nhận được Thư trả lời của ông Nguyễn Ngọc Phách. Tôi đăng nguyên Thư:

Thư của ông Nguyễn Ngọc Phách, tác giả Việt Sử Đương Đại.

——————–

Melbourne, Australia, Mồng Một Tết Kỷ Sửu

Kính gửi Công-tử Hà-đông

Trước hết, cám ơn Công-tử đã có bài phê-bình cuốn VIỆT-SỬ ĐƯƠNG-ĐẠI QUA 200 CÂU VÈ BẤT-HỦ tôi vừa cho tái-bản.

Tuy biết bài “Phò-mã Tốt Áo” Công-tử vừa cho đăng trên diễn đàn điện tử cá nhân, hoanghaithuy.com, mới chỉ là Phần I một bài điểm sách nhiều kỳ, tôi cũng xin ghi nhận hai “théc méc” của Công-tử:

  1. Tại sao tôi lại viết lai căng chứ không viết lai căn? Và
  2. Chi-tiết lịch-sử tôi đề-cập ở trang 253 Cụ Phan Bội Châu bị Mật-vụ Pháp bắt cóc ở Thương-hải là vì Hồ Chí Minh, hồi đó có tên là Lý Thụy, đã “bán” cụ cho Pháp là do tôi bịa đặt hay lấy ở đâu, nghe ai nói?

Xin trả lời từng điểm:

[1] Lai căng hay lai căn?

Khi viết bài “Hồ tư loạn tưởng” trong sách đã dẫn (trang 74-75), tôi đã có ý phân vân về chữ căn hay căng như Công-tử. Vì thế mà tôi đã tra năm bảy cuốn từ-điển, kể cả những cuốn in hồi đời xửa đời xưa, hồi tiền-chiến, hồi Quốc – Cộng Phân-tranh và những cuốn in thời hậu-chiến ở ngoài Bắc, ở trong Nam, và ở cả bên Tây, bên Tàu nữa.

Alexander SolzhenitsynTrong tất cả những cuốn tôi có, chỉ có bộ Việt-nam Tự-điển của Lê Văn Đức (do nhà tầm-nguyên-học Lê Ngọc Trụ hiệu-đính) là viết lai căn và giảng là “người thuộc hai giống dân” và “nửa nạc nửa mỡ, nửa tiếng mẹ đẻ, nửa tiếng ngoại-quốc”. Không kể những bộ từ-điển lớn nhưng không có mục-từ này, chẳng hạn như cuốn của Hội Khai Trí Tiến Đức, thì tất cả đều viết lai căng và có cuốn còn giảng căng là “một loài khỉ đuôi dài”. Theo Từ-điển Tiếng Việt của Viện Ngôn-ngữ-học ở Hà-nội thì “lai căng” là “có pha tạp nhiều yếu-tố ngoại-lai sống sượng, trở nên lố lăng”. Cũng nên biết Từ-điển Việt – Hán của Thương-vụ Ấn-thư Quán ở Bắc-kinh, Việt – Hán Từ-điển Tối-tân của Huỳnh Minh Xuân (in từ trước 1975), và Từ-điển Việt – Hán Thông-dụng của Nhà Xuất-bản Trẻ ở Sài-gòn đều viết là lai căng cả.

Lại cũng nên biết là trong mục-từ “căng”, Từ-điển Từ và Ngữ Việt-nam của Nguyễn Lân, do Nhà Xuất-bản Thành-phố Hồ Chí Minh in ấn, còn giảng cha căng chú kiết là “người lạ, không biết là ai” và Từ-điển Thành-ngữ và Tục-ngữ Việt-nam, của cùng một tác-giả, đã ghi căng “là một loài khỉ” rồi mới giảng cả thành-ngữ là “người không quen thuộc gì, không thể tin được” và trong Từ-điển Thành-ngữ Việt-nam, thì tập-đoàn tác-giả lại đặt cha căng chú kiết thành một mục-từ riêng và giảng là “người không rõ lai lịch, tung tích hoặc người xấu, không đáng tin cậy, kém cỏi trong xã-hội.”

Chỉ xin trình thêm Công-tử là chính tôi cũng không biết chữ nào đúng, chữ nào sai, mà muốn đề-cập đến những chi-tiết như chữ nào đúng mà đúng ở đâu, và chữ nào sai mà sai ở chỗ nào thì phải viết hai ba chục trang mới đặt được vấn-đề cho rõ chỉ mới đặt được vấn-đề mà thôi nên trong trường-hợp này, tôi đành phải xin theo đa-số.

Vậy thì chữ nào không chỉnh, chữ nào mới chỉnh, xin để hạ hồi phân-giải.

[2] Ai bán Cụ Phan Bội Châu cho Pháp?

Công-tử hỏi tôi về vai trò của Hồ Chí Minh trong vụ Cụ Phan Bội Châu, lãnh-tụ Việt-nam Quang-phục Hội, bị Mật-vụ Pháp bắt cóc ở Thượng-hải năm 1925 khiến tôi cũng hơi… khó ăn khó nói.

Sự việc này đã đành là đã xẩy ra trong vòng bí-mật và đến bây giờ còn hoàn toàn ở trong bóng tối nên không ai đi đâu mà có thể biết tất cả tình tiết. Hơn nữa, đây đâu có phải là một vụ án bình-thường mà giới điều-tra có thể phanh phui ra nhiều tình-tiết cụ-thể hay bằng-chứng bất khả chối cãi. – Chẳng hạn, Tần Thủy Hoàng thực sự là họ Dinh hay họ Lữ? Đây là một nghi-vấn lịch-sử trọng-đại hơn hai ngàn năm sau chưa được ai giải-đáp thỏa đáng nhưng tôi chưa thấy ai trách Tư-mã Thiên đã nêu lên nghi-vấn đó.

Lịch-sử có rất nhiều vụ án bí-hiểm như vậy nên ai muốn tìm hiểu cho vỡ lẽ cũng chỉ còn cách đặt cả câu chuyện trong một bối-cảnh rộng rãi trong trường-hợp này là tình-hình cuộc đấu-tranh chống Pháp hồi giữa Thập-kỷ Hai Mươi thế-kỷ trước, khi Hồ Chí Minh hồi đó còn mang tên Lý Thụy mới được Quốc-tế Cộng-sản cử về Á Đông, bề ngoài thì chỉ làm thông-dịch-viên cho Mikhail Borodin, đại-diện Nga ở Trung-hoa Dân-quốc, nhưng thực ra là để thi-hành một sứ-mệnh khác.

Hơn nữa, từ ngày đó đến giờ tính ra cũng đã gần một thế-kỷ, mà chúng ta đều là hậu-sinh cả nên chỉ có thể dựa vào dăm ba chi-tiết bàng-cận và xem những chi-tiết đó như những bàng-chứng để phát-hiện ra sự thực (the facts of the matter). Chỉ vì thế mà khi viết sách VIỆT-SỬ ĐƯƠNG-ĐẠI, tôi đã đặc-biệt lưu ý đến những chi-tiết chuyên-từ luật-học Anh Mỹ gọi là circumstantial evidence (bằng-chứng)1 như sau:

[1] Trước năm 1925, Cụ Phan Bội Châu đã tính đi tìm sự ủng-hộ của các nước Âu-châu nên Cụ đã tìm cách liên-lạc với các nhà ngoại-giao Đức và Liên Xô và thực tế đã gặp một số người nhưng công việc chưa đi tới đâu thì Nguyễn Ái Quốc được Quốc-tế Cộng-sản cử sang Trung-hoa tham-gia Phái-đoàn Borodin với tên Lý Thụy ngoài mặt là để liên-lạc với Chính-phủ Tôn Dật Tiên nhưng bên trong là để súc-tiến Cách-mạng Cộng-sản trong vùng Đông Nam Á, nhất là ở Việt-nam. Do đó, Cụ Phan đã bỗng dưng trở nên “địch-thủ” số một của Nguyễn Ái Quốc.

Nhưng động-lực (motive) xui khiến Nguyễn Ái Quốc có hành-vi táng tận lương-tâm không phải chỉ có thế!

[2] Cụ Phan đến Thượng-hải mà lại vào ngay vùng Tô-giới Pháp là theo lời mời của Nguyễn Ái Quốc và Lâm Đức Thụ mà hai nhân-vật này lúc đó cầm đầu tổ-chức Cộng-sản Việt-nam ở Hoa Nam. Cũng nên biết là Cụ Phan vốn biết Quốc là Cộng-sản nhưng Cụ lại cứ nghĩ Cộng-sản thì cũng yêu nước và Thụ thì đã có thời đại-diện cho Quang-phục Hội ở Hương-cảng nên Cụ không đề-phòng gì.

[3] Vụ Mật-vụ Pháp bắt cóc Cụ Phan không phải là một sự-cố đơn lẻ. Từ cả trước thời-điểm này ba bốn năm, những thanh-niên yêu nước có ý xin Quang-phục Hội giới-thiệu để theo học Hoàng-phố Quân-sự Học-hiệu đều phải nộp cho Lâm Đức Thụ một bản khai lý-lịch và hai tấm ảnh bán thân. Trong thời-gian học-tập, ai nấy còn bị cán-bộ Thanh-niên Đồng-chí Hội trường-kỳ bao vây, tuyên-truyền. Ai chịu rời bỏ Quang-phục Hội và gia-nhập tổ-chức tiền thân của Đảng Cộng-sản Đông-dương thì được yên thân, còn ai cứ nhất định trung-thành với lý-tưởng quốc-gia dân-tộc thì khi học xong, chỉ về đến biện-giới là bị Pháp bắt bỏ tù.

[4] Sau ngày Cụ Phan thọ nạn, nhiều chiến-sĩ Cách-mạng Dân-chủ Dân-quyền mới liên-tưởng chuyện nọ với chuyện kia, tiếng Anh là put two and two together, và họ mới vỡ lẽ: hàng-ngũ chống Pháp đã bị một tên gián-điệp hai mang, xâm-nhập, làm chỉ-điểm-viên cho Pháp. Vì Lâm Đức Thụ “làm cách-mạng” mà sống rất xa-hoa ở Hương-cảng hắn chỉ ở khách-sạn sang, uống huýt-ki như nước lã, và có thói ăn cơm xong là phải hút xì-gà nên nhiều người bắt đầu nghi hắn ta. Họ đã có lý! Nhưng khi Quang-phục Hội và các đảng-phái quốc-gia khác biết mà đề-phòng thì hàng-ngũ đã tan hoang, chỉ còn các tổ-chức Cộng-sản là còn bảo toàn được lực-lương.

[5] Người Việt mình biết những chi-tiết vừa kể không phải là ít nhưng không ai biết đủ để nhiều viết thành sách. Hơn nữa, trước 1945 thì ai lại đi vạch áo cho người (Pháp) xem lưng và sau 1945 thì chỉ hé răng một tý cũng mang họa vào thân là cái chắc. Chỉ có tác-giả Hoàng Văn Chí là người cùng quê với Hồ Chí Minh mà lại quen biết nhiều nhà cách-mạng lão-thành như Cụ Lê Dư, một người đã du-học ở Đại-học Waseda tại Nhật và từng lưu lạc ở Hoa Nam, là ở thế biết nhiều hơn cả. Với những nguồn tin như thế, tác-giả Hoàng Văn Chí đã tổng-kết xú sự độc nhất vô nhị này như sau:

Giới Cách-mạng Việt-nam ở Trung-quốc đều biết rõ việc này và (theo) một đồ đệ của Ông Nguyễn Ái Quốc (thì) ông đã giải-thích hành-động của ông như sau:

“Cụ Phan đã già lẫn, không còn ích-lợi gì cho Cách-mạng. Việc Pháp bắt cụ và xử án cụ tất nhiên sẽ gây phong-trào phản-đối trong quốc-nội, rất có lợi cho tinh-thần cách-mạng. Sau hết, tiền nhận được của Pháp sẽ dùng để đưa thêm thanh-niên trong nước xuất ngoại.” (TỪ THỰC-DÂN ĐẾN CỘNG-SẢN, trang 38).

Chính tôi có quen biết ông Hoàng Văn Chí nên về chuyện này, có những suy nghĩ như ông.

[6] Nguyễn Ái Quốc và Lâm Đức Thụ được Pháp “trả công” số tiền 100.000 đồng Đông-dương (hồi đó một con trâu cày trị-giá có 5 đồng!) thì một tác-giả Mỹ như David Halberstam cũng rõ, nhưng cặp lừa thày phản bạn kia đã dùng tiền đó làm gì thì không thấy ai nói. Sau này, mới có người viết là Lâm Đức Thụ có sẵn tiền nên tiếp tục cuộc sống xa-đọa chứ ngay tác-giả Hoàng Văn Chí, con người hiểu biết Cộng-sản là thế mà cũng khen nhân-vật về sau lấy tên là Hồ Chí Minh: “Về phần Ông Nguyễn Ái Quốc thì thật quả ông dùng tất cả phần tiền của ông để chi cho Thanh-niên Cách-mạng Đồng-chí Hội do ông tổ-chức ở Quảng-châu.” Nhưng sự thật có thế hay chăng?

[7] Không biết ai khác thì sao chứ tôi thì tôi nghi quá à! Vào thời-điểm đó (1925), Nguyễn Ái Quốc có bí-danh Lý Thụy và say mê một thiếu-nữ Tàu trẻ đẹp, tên là Tăng Tuyết-minh. Như Hoàng Tranh, tác-giả cuốn HỒ CHÍ MINH VÀ TRUNG-QUỐC, kể thì hồi mới đầu, cả thân-mẫu lẫn bào-huynh Tuyết-minh đều phản-đối nhưng cả hai chỉ gặp Lý Thụy có mấy lần thì đã bị Lý Thụy mua chuộc đến cái rụp. Hoàng Tranh không nói Lý Thụy có bửu-bối gì mà được về làm rể họ Tăng nhưng tôi cũng nghĩ là nhờ có món tiền bán Cụ Phan cho thực-dân, Lý Thụy chắc đã dùng một phần để mua chuộc cánh nhà Tăng với những món quà đắt tiền và một tiệc cưới linh đình, tổ-chức ở nhà hàng sang trọng nhất Quảng-châu. Theo Hoàng Tranh thì tiệc cưới Lý Thụy – Tăng Tuyết-minh có nhiều bộ mặt lớn tham dự, tỷ dụ như Đặng Dĩnh-siêu, vợ của Chu Ân-lai.

Vì những bằng-chứng trên, chỉ xin Công-tử Hà-đông tự đặt vài ba câu hỏi như Lý Thụy đào đâu ra tiền mua chuộc mẹ và anh Tuyết-minh? và tiệc cưới Lý Thụy rất đắt, có lẽ tốn kém bạc vạn, thì hắn lấy đâu ra? thì Công-tử sẽ thấy những bàng-chứng kia rõ rệt có giá-trị như những bằng-chứng đích-thực (positive evidence).

Thế rồi, như tôi còn nghĩ thì khi liên-kết tất cả mấy chi-tiết trên với việc Việt Minh giết Lâm Đức Thụ ở Thái-bình (1950) thì bất cứ phụ-thẩm-đoàn nào ở một nước có nền tư-pháp lành mạnh cũng phải xem những tình-tiết thoạt xét chỉ có thể coi là bàng-cứ thực sự ra lại là những bằng-chứng các tòa án thường xem như khả-tín, có thể xác-định tội-trạng một cách rõ rệt nhất.

Biết vậy rồi thì Công-tử Hà-đông có đồng ý với tôi hay không?

Không biết bạn đọc của Công-tử có chấp-nhận lập-luận của tôi hay không?

Nhưng trước khi chấm dứt, tôi cũng phải trình với mọi người tác-giả Hoàng Văn Chí là một trong những nghiên-cứu-gia đáng kính nhất ở nước ta từ trước đến giờ. Thành-tích của ông thì rất nhiều nhưng ở đây, tôi chỉ xin kể đến hai cái đặc-biệt:

Gần 10 năm tham-gia kháng-chiến chống Pháp, ông đã có công đúc tiền và lập nhà máy điện ở vùng Việt Bắc nên được Chính-phủ Hồ Chí Minh tuyên-dương công-trạng. Nhưng khi biết Hồ chỉ là tay sai Cộng-sản Quốc-tế, ông thì đã bỏ vào Nam.

Suốt những năm còn lại trong đời, ông đã viết sách báo-động về hiểm-họa đỏ nhưng những cuốn như TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC và TỪ THỰC-DÂN ĐẾN CỘNG-SẢN đã không được chính-phủ Miền Nam đưa vào chương-trình giáo-dục phổ-thông nên đa-số chúng ta vẫn không hiểu Việt-cộng là gì. Ta đã mất nước chỉ là vì thế.

Thế thì bao giờ chúng ta mới chịu tin những người sáng suốt như Hoàng Văn Chí?

Năm mới, kính chúc Công-tử được mọi sự như ý và tiện đây, cũng xin độc-giả ráng nhận-định tình-hình trong nước thật sáng suốt để cho bọn con cháu Hồ Chí Minh hết còn có thể lừa gạt được chúng ta thêm một lần nữa.

Kính thư,
Nguyễn Ngọc Phách.

——————–

Quí vị vừa đọc Thư của Tác Giả Việt Sử Đương Đại. Tôi chắc quí vị có những hiểu biết sâu rộng hơn tôi nên có những nhận xét, suy luận, quyết đoán đúng, hợp lý hơn tôi nên tôi không dám lạm bàn chi nhiều. Chỉ xín viết cái théc méc “ấu trĩ” — tức “Con nít, Ngớ ngẩn, Hiểu biết đựng không đầy cái lá đa” — của tôi là :

Nếu nhiều người Việt biết đảng viên CS Lý Thụy “bán” Nhà Yêu Nước Phan Bội Châu cho Mật Thám Pháp lấy số tiền 100.000 đồng bạc Đông Dương những năm 1938, 1939, thì chắc Mật Thám Pháp họ cũng biết người “bán” là Lý Thụy, và Lý Thụy là Hồ chí Minh. Số tiền 100. 000 đồng thời ấy rất lớn, Mật Thám Pháp ở Đông Dương không thể tự tiện chi ra số tiền lớn ấy — Rất có thể muốn chi số tiền ấy Toàøn Quyền Pháp ở Đông Dương phải xin phép Chính phủ Pháp. Văn kiện về việc này phải có trong Văn Khố Pháp — Tại sao năm 1945, 1946 Thực Dân Pháp không đưa chuyện “Bán Phan Bội Châu” của Hồ chí Minh ra trước công luận?

Tôi không tin Hồ chí Minh “yêu thương” Tăng Tuyết Minh. Theo tôi con người ấy không yêu thương ai cả, đàn bà ông ta lại càng không yêu thương.

Nay mời quí vị đọc đoạn chuyện ngắn viết về Cô Tư Hồng tôi tìm thấy trên Net:

Mừng Cô Tư Hồng

Có tàn, có tán, có hương án thờ vua, danh giá lẫy lừng băm sáu tỉnh
Nào biển, nào cờ, nào sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người

Tư Hồng tên thật là Trần thị Lan, quê ở Phủ Lý (Hà Nam) lấy người Hoa Kiều là chú Hồng ở Hải Phòng, sau lấy người cố đạo phá giới là Croibier Huguet, còn gọi là Cố Hồng.

Cô Tư Hồng đã nhận thầu đập phá những mảnh tường thành Hà Nội lấy gạch xây nhà cho thuê nhờ thế mà trở nên giàu có. Về sau Tư Hồng buôn gạo lậu thuế bị bắt, nói dối là đem phát chẩn, được bọn thực dân đề nghị với triều đình phong kiến cho thị hàm “Tứ phẩm cung nhân” và cho cả bố thị hàm Thi độc. Tư Hồng về làng ăn khao linh đình, có người mừng câu đối:

Tứ phẩm sắc phong hàm cụ lớn
Trăm năm danh tiếng của bà to

Tương truyền câu đối của Nguyễn Khuyến.

CT Hà Đông bàn loạn: Buôn gạo lậu thuế bị bắt là buôn gạo lậu thuế bị bắt, làm sao khai là đem gạo phát chẩn cho được. Gạo phát chẩn cũng phải đóng thuế. Buôn gao lậu và phát chẩn gạo là hai việc khác hẳn nhau. Chính phủ Pháp ngày xưa không cho phép dân An Nam đánh lừa dễ như thế.

Lại có sự trùng hợp khó tin là Cô Tư Hồng trước lấy Chú Khách tên là A Hồng, sau lấy ông thầy tu phá giới cũng có tên Việt là Cố Hồng? Trùng hợp vô lý.

Tôi nghĩ — ấu trĩ — vì người ta ghét cô Tư Hồng nên người ta bịa ra chuyện cô Tư Hồng buôn gạo lậu bị bắt. Đây là trường hợp:

Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ!

Bia đá thì mòn nhưng ít nhất cũng còn bia đá mòn. Bia miệng thì — đôi khi — độc ác và vô bằng cứ.

Một trăm năm sau, hai trăm năm sau, có người Việt Nam viết Sử Việt Nam trong 50 năm đầu Thế kỷ 20 sẽ viết:

Trong thời gian ấy có người đảng viên Đảng Cộng sản tên là Hồ chí Minh làm nhiều việc ác độc với nhân dân nên bị người ta ghét, người ta biạ ra chuyện ông ta từng “bán” Nhà Yêu Nước Phan Bội Châu cho Pháp. Nhiều người Việt đương thời, vì oán ghét Cộng sản, nên tin chuyện này có thật.

Hai trăm năm, ba trăm năm sau, có người Việt nào viết như thế không?

Năm trăm năm sau có người Việt Nam nào đọc những dòng chữ in này không?

Tại sao lại không?

Ngưu Ma Vương: Thuyền Trưởng Hai Tầu

Nguu Ma Vuong
 
Trên đường sang Tây Trúc thỉnh kinh, thầy trò Đường Tăng gặp Hoả Diệm Sơn — núi lửa — chặn đường. Lửa nóng không ai có thể đến gần, nói gì đến chuyện đi qua. Mà đường sang Tây Trúc bắt buộc phải qua đây. Tôn Ngộ Không gọi Thổ Địa lên hỏi về Núi Lửa.

Thổ Địa kể chuyện năm trăm năm xưa:

- Núi lửa này do chính Đại Thánh gây ra, vì Đại Thánh mà có. Năm xưa ông đại náo Thiên Cung. Bị thiên tướng bề hội đồng, ông chui vào nấp trong Lò Bát Quái luyện linh đan của Thái Thượng Lão Quân. Khi ông nhẩy ra khỏi lò, ông làm đổ lò, lửa lò trên trời rơi xuống, làm thành núi lửa này.

Alexander SolzhenitsynRồi Thổ Địa nói muốn làm tắt lửa Hoả Diệm Sơn để có thể đi qua nơi đây phải muợn cây quạt Ba Tiêu — Ba Tiêu Phiến, hình dáng như tầu lá chuối nên có tên là Quạt Ba Tiêu — của Bà La Sát, bà này là vợ Ngưu Ma Vương, bà còn có tên là Thiết Phiến Công Chúa; chỉ có Quạt Ba Tiêu của Bà La Sát mới có thể quạt tắt lửa Hoả Diệm Sơn.

Tôn Ngộ Không nghe nói đến Bà La Sát lòng không mấy vui vì trên đoạn đường đi trước đó Hồng Hài Nhi là con trai của Bà La Sát, hung hăng con bọ xít chặn đường bắt Đường Tăng để ăn thịt, đã bị Hành Giả nhờ Quan Âm Phật Bà hàng phục, chắc chắn là Bà La Sát ôm lòng thù hận sẽ không cho muợn quạt, nhưng không còn cách nào khác, Ngộ Không vẫn phải tìm đến Động Ba Tiêu

Thiết Phiến Công Chúa — La Sát Phu nhân — nghe nói đến tên Tôn Ngộ Không, tức thời nổi giận, mặt đỏ phừng, hét lên: “Thằng khỉ lớn mật, dám tìm tới động ta.” Bà truyền a huờn lấy giáp sắt nai nịt chỉnh tề, cầm cặp gươm ra cửa động, kêu lớn:

- Tôn Ngộ Không ở đâu?

Tôn Hành Giả vái chào:

- Lão Tôn đây. Kính chào tẩu tẩu. Bà chị vẫn được mạnh?

La Sát:

- Thằng khỉ bất nhân, nói bậy. Ai là chị dâu mi mà mi chào tẩu tẩu?

Tôn Ngộ Không cười mơn:

- Ngưu đại ca kết nghĩa huynh đệ với Lão Tôn, Công Chúa là vợ chánh của anh tôi, nên tôi kêu tẩu tẩu là đúng lễ. Sao chị lại cự tôi?

La Sát hầm hè:

- Ngươi biết nói đến tình nghĩa anh em, sao ngươi lại hại con ta? Con ta là Hồng Hài Nhi, bị ngươi hại đó. Ta đang định đi tìm ngươi báo cừu, ngươi lại đến đây nạp mạng.

Tôn Ngộ Không phân trần:

- Xin chị xét cho, vì lịnh lang quyết bắt Sư phụ tôi để ăn thịt. Nhờ ơn Quan Âm cứu thầy tôi, lại đem lịnh lang về làm đệ tử. Nay lịnh lang làm Thiện Tài, sống dài lâu cùng trời đất, khoái lạc muôn phần. Chị chẳng trả ơn mà lại trách Lão Tôn?

La Sat phu nhanNgộ Không hỏi mượn quạt Ba Tiêu, La Sát không cho. Hai người giao chiến trước cửa động từ sáng đến tối, La Sát đánh không lại, lấy quạt Ba Tiêu ra, quạt một cái, Ngộ Không bị gió cuốn bay mịt mù trời đất.

Bay suốt một đêm, nhờ có phép Cân Đẩu Vân, Ngộ Không mới hạ xuống được một đỉnh núi, gặp Linh Kiết Tiên Ông ở núi này, Tiên Ông cho Ngộ Không viên thuốc Định Phong, Ngộ Không uống vào, gió thổi không bay.

Ngộ Không trở lại Động Ba Tiêu, đánh nhau với La Sát một trận nữa. La Sát lấy quạt Ba Tiêu ra quạt, Ngộ Không đứng tỉnh queo. La Sát thua, chạy vào động, Ngộ Không hóa ra con bồ hóng bay vào theo. La Sát uống nước, bồ hóng Ngộ Không bay vào ly nước, theo nước trôi vào bụng La Sát. Ngộ Không hiện hình nhỏ síu trong bụng La Sát, hét lớn:

- Tẩu tẩu có cho tôi mượn quạt Ba Tiêu hay không?. Tôi bây giờ ở trong bụng chị, đứng giữa tim gan chị. Chị khát nước; để tôi mời chị uống trà.

Nói rồi đấm đá lung tung gan ruột La Sát. Chịu đau không nổi, La Sát phải chịu cho mượn quạt Ba Tiêu. Ngộ Không vác quạt về, đưa Đường Tăng, Bát Giới, Sa Ngộ Tĩnh đến gần Hoả Diệm Sơn. Ngộ Không đưa quạt Ba Tiêu lên quạt, nhưng lửa không tắt mà lại bốc lên dữ dội, thầy trò Đường Tăng chạy lửa gần chết.

Ngộ Không lại gọi Thổ Địa lên hỏi. Thổ Địa xem quạt, nói quạt Ba Tiêu đó là quạt giả, Đại Thánh bị bà La Sát đánh lừa. Thổ Địa mách nước cho Ngộ Không đi gặp Ngưu Ma Vương, ông chồng bà La Sát, nhờ Ma Vương nói với bà vợ cho mượn quạt.

Thổ Địa kể:

- Ngưu Ma Vương là chồng La Sát, hai năm nay qua ở bên núi Tích Lôi, Động Ma Vân, Chúa động ấy là Hồ Ly Tinh đã chết. Con gái của Hồ Ly Tinh là Ngọc Diện Công Chúa thay mẹ làm chủ động, Công Chuá có nhan sắc rất đẹp, lại chịu làm vợ bé Ngưu Ma Vương. Theo tôi nghĩ, chỉ có Ngưu Ma Vương mới có thể nói để bà La Sát cho Đại Thánh mượn quạt.

Ngộ Không bay đến Động Ma Vân, gặp ngay Ngọc Diện Công Chuá đang cùng ba bốn em tì nữ hái hoa ngoài cửa động. Ngộ Không tự nhận là người của Bà La Sát, được sai đến rước Ngưu Ma Vương về Động Ba Tiêu có việc nhà, Ngọc Diện Công Chúa nổi cơn ghen, quay vào Động khóc lóc, rày rà Ngưu Ma Vương.

Ngưu Ma Vương ra gặp Ngộ Không, tuyên bố không tình nghĩa anh em chi cả, giao chiến với Ngộ Không. Nhưng hai bên đang đánh nhầu thì có tiểu yêu đến mời Ma Vương đi nhậu, văn huê là đi phó yến. Ma Vương ngưng đánh, trở vào Động thay y phục, nhẩy lên lưng con thú Bích Thủy, bay đi mất. Ngộ Không lén bay theo, đến Bích Ba Đàm ở Loạn Thạch Sơn. Nguyên có một nhà Rồng Tinh sống dưới đáy đầm sâu thẳm này. Lão Rồng Tinh mời Ngưu Ma Vương đến uống rượu.

Ngộ Không thấy con thú Bích Thủy của Ngưu Ma Vương buộc trên bờ đầm, bèn hoá thành Ngưu Ma Vương, nhẩy lên lưng con Bích Thủy, bay về Động Ba Tiêu.

Ngộ Không giả làm Ngưu Ma Vương, đàng hoàng vào động. Bà La Sát thấy chồng về, mừng vui, sai dọn tiệc rượu, cùng ăn uống với chồng, bà kể chuyện mình bị Tôn Ngộ Không đến hỏi mượn quạt, đánh nhau mấy trận, bị Ngộ Không biến thành con bồ hóng, bay vào bụng, phải cho Ngộ Không mượn quạt nhưng đưa cây quạt Ba Tiêu giả cho Ngộ Không. Ngưu Ma Vương Dzởm, không dám uống rượu, ăn thịt, chỉ ăn trái cây, khen vợ mưu trí, thông minh rồi nói lâu quá không thấy, nay muốn xem lại quạt Ba Tiêu. Bà La Sát lấy quạt ra cho chồng xem. Cây quạt dắt trong mình Bà La Sát nhỏ síu, đuợc Bà làm phép cho lớn lên như tầu lá chuối. Ngưu Ma Vương Giả cầm được quạt Ba Tiêu Thật, hiện nguyên hình là Tôn Ngộ Không, cười ha hả vác quạt bay ra khỏi động.

Ngưu Ma Vương đang ăn tiệc, chợt có tiểu yêu hốt hoảng chạy vào báo có người cưỡi con Bích Thủy bay đi mất. Ngưu Ma Vương đoán biết kẻ lấy trộm con thú của mình là Tôn Ngộ Không, bèn bay về Động Ba Tiêu, vào gặp bà vợ. Được biết Tôn Ngộ Không giả hình mình, lừa lấy được quạt Ba Tiêu, Ngưu Ma Vuơng lập tức đuổi theo, đòi lại.

Ngộ Không lấy được quạt Ba Tiêu nhưng không biết phép làm cho quạt thu nhỏ lại, nên cứ vác cây quạt lớn như tầu lá chuối mà bay. Ngưu Ma Vương đằng vân bay theo, thấy Tôn Ngộ Không vác quạt Ba Tiêu, mặt mày hớn hở, kinh hãi nghĩ rằng: ” Bây giờ nó có quạt, làm sao mình đánh thắng nó? Nó quạt mình một cái, mình bay không biết đến chân trời nào. Phải dùng mưu mới có thể lấy lại quạt. Nó có thằng em là Trư Bát Giới. Mình phải làm cách này…. Nghĩ rồi rùng mình biến thành Trư Bát Giới, đón đường Ngộ Không, bước ra nói:

- Sư phụ thấy anh đi lâu về, sai tôi đi đón anh.

Rồi hỏi líu tíu:

- Làm cách nào anh lấy được quạt hay quá vậy? Mà quạt này là quạt Ba Tiêu thật hay lại là quạt giảo đây?

Ngộ Không kể chuyên giả làm Ngưu Ma Vương lưà Bà La Sát lấy được quạt, Bát Giới Giả cười hì hì rồi đon đả:

- Sư huynh mệt nhọc quá chừng mới lấy đặng bảo bối. Thật là hảo hán. Anh đưa quạt tôi vác, anh đi cho khỏe.

Ngộ Không đưa quạt, Bát Giới Giả — Ngưu Ma Vương biết thần chú thu nhỏ quạt Ba Tiêu — cầm quạt, niệm chú thâu quạt nhỏ lại như lá liễu, ngậm trong miệng, hiện nguyên hình là Ngưu Ma Vương, lớn tiếng mắng:

- Thằng khỉ ngu đần, thấy bản lãnh của Lão Ngưu chưa?

Ngộ Không bị lừa, giận quá, hươ thiết bổng đánh nhầu. Hai người đánh nhau trên mây. Bát Giới Thật đến trợ chiến, Ngưu Ma Vương đánh không lại, bỏ chạy về Động Ma Vân với Ngọc Diện Công Chuá, rồi lại chạy về Động Ba Tiêu với bà La Sát. Nhưng cả Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới đánh mãi cũng không bắt được Ngưu Ma Vương. Sau cùng, Phật Tổ phải nhờ Lý Thiên Vương và Na Tra Thái Tử đến giúp. Ngưu Ma Vương hiện nguyên hình là con Trâu khổng lồ. Ngộ Không thấy Trâu Thần cũng phải sợ.

Na Tra Thái Tử nói;

- Coi tôi bắt nó!

Nói rồi hét lên một tiếng, hiện ra ba đầu, sáu tay, cầm sáu món binh khí, nhảy lên lưng Trâu, rút gươm Trảm Yêu, chém đầu Trâu rụng xuống! Nhưng trong cổ Trâu mọc ra một cái đầu trâu khác, hai mắt rực lửa, họng phun khói đen thui. Na Tra nổi giận chém gươm thứ hai, đầu Trâu lại rụng nhưng ngay tức thì từ cổ trâu mọc ra đầu khác, Na Tra chém mười mấy kiếm, Trâu cứ mọc đầu mãi!

Na Tra nổi giận, xin Lý Thiên Vương soi Kính Chiếu Yêu, giữ chặt Ngưu Ma Vương tại chỗ, rồi lấy bánh xe Hỏa Luân máng trên sừng trâu, hét lên một tiếng, lửa cháy rần rần, Ngưu Ma Vương bị lửa đốt đầu, chịu không nổi, đành phải năn nỉ;

- Đừng giết tôi. Tôi xin theo Phật!

Na Tra quát:

- Ngươi muốn sống thì đưa quạt Ba Tiêu ra đây.

Ngưu Ma Vương nói:

- Cây quạt còn tại Động Ba Tiêu, hỏi vợ tôi thì có.

Từ lúc này Ngưu Ma Vương không còn hình ngươi nữa, hiện nguyên hiành là con Trâu Đực, bị Na Tra lấy dây Phược Yêu xỏ mũi, dắt về Động Ba Tiêu.

La Sát biết ông chồng bị bắt sống, liền cởi bỏ giáp sắt, bỏ bộ đồ võ mầu đen, để binh khí lại trong động, mặc áo trắng như các đạo cô, xoã tóc, cầm cây Quạt Ba Tiêu ra trước cửa động, quì xuống, thưa rằng:

- Xin các vị tha chết cho chồng tôi, tôi xin cho Tôn Thúc thúc mượn cây quạt mà quạt tắt lửa Hỏa Diệm Sơn.

Tôn Ngộ Không lấy cây quạt, đằng vân với chư thần đến Hỏa Diệm Sơn. Đến nơi, Ngộ Không chuyển thần lực quạt một quạt, lửa đã tắt rồi, bèn quạt một cái nữa, nghe gió thổi rao rao, mát mẻ hết thảy, quạt cái thứ ba trời mưa rào rạt, chỗ nào có lửa thì mưa, chỗ nào không lửa thì nắng. Thầy trò Đường Tăng đồng lạy tạ ơn chư thần.

Lý Thiên Vương và Na Tra dắt Trâu Ngưu Ma Vương qua cõi Phật. Chư thần đều bay đi. Chỉ còn Thần Thổ Địa giữ bà La Sát ở đó

Ngộ Không hỏi:

- La Sát tẩu tẩu sao không đi, còn đợi gì nữa?

La Sát quỳ thưa:

- Đại Thánh hỏi mượn quạt trị lửa, nói dùng xong sẽ trả lại cho tôi. Bởi tôi không chịu vâng lời nên sanh sự như vầy, nay ăn năn thì việc đã rồi. Xin Đại Thánh nhớ lời hứa trả quạt cho tôi, đặng tôi về núi tu luyện.

Thổ Địa nói:

- Đại Thánh nên nhân dịp này trừ tuyệt căn lửa ở núi này, trong núi vẫn còn nhen nhúm lửa, sợ có ngày nó lại cháy lên. Đại Thánh cứu muôn dân, phước đức nhiều lắm.

Bà La Sát chỉ cách: muốn làm lửa Hỏa Diệm Sơn thật tắt thì quạt liền 44 cái. Ngộ Không quạt xong, lửa trong núi tắt ngúm, trả quạt Ba Tiêu cho bà La Sát. Bà này vào núi tu luyện, về sau cũng đạt thành chánh quả.

Hoả Diệm Sơn tắt lửa, thầy trò Đường Tăng đi tiếp về phương Tây.

Công Tử Hà Đông phụ đề Việt Ngữ:

Quí vị vừa xem đoan Phim Video Tây Du Ký “Tôn Ngộ Không thần thông đoạt Ba Tiêu Phiến”. TẾT Năm SỬU là Năm Trâu, xem phim, đọc truyện có TRÂU là đúng sách vở. Tôi rất thích đoạn truyện Tây Du có vợ chồng Ngưu Ma Vương – La Sát Phu nhân.

Trước khi tôi đọc truyện Tây Du, năm 1941 hay 1942, tôi mười tuổi, tôi được xem phim hoạt hoạ Tây Du Ký — phim vẽ đen trắng — trên màn ảnh rạp Xi-nê Majestic ở thị xã Hà Đông, phim vẽ kể sự tích Tôn Ngộ Không trổ thần thông đoạt Ba Tiêu Phiến. Truyện vui, linh động, nhân vật dễ thương. Một đoạn truyện mà có ba lần những nhân vât giả hình, lừa nhau, bị lừa, những mưu lừa thật hay, người đọc không thể ngờ trước, mà rất tự nhiên, có lý:

Lừa lần thứ nhất: La Sát Phu Nhân đưa Quạt Ba Tiêu Dzởm cho Tôn Ngộ Không.

Lần thứ hai Ngộ Không giả làm Ngưu Ma Vương, lừa La Sát Phu nhân.

Lần thứ ba Ngưu Ma Vương giả làm Trư Bát Giới, lừa Tôn Ngộ Không.

Tuyệt cú mèo!

Vai chính Ngưu Ma Vương lại là Thuyền Trưởng Hai Tầu: là chồng Bà La Sát nhưng Ma Vương phây phây sang Động Ma Vân sống dzui với Vợ Bé Ngọc Diện Công Chuá thơm như múi mít. Trong cả trăm Yêu Quái thành Tinh sống, ăn nhậu, vợ chồng, yêu thương, thù hận, tham, sân, si, tu và làm bậy y như Người của Tây Du Ký — hình như chỉ có Ngưu Ma Vương Thuyền Trưởng Hai Tầu.

Nhiều vị văn sĩ người Việt từng viết về Tây Du Ký, từng luận về những nhân vật Tây Du Ký, phải chăng người nêu bật tính cách Thuyền Trưởng Hai Tầu của nhân vật Tây Du Ngưu Ma Vương là tôi — Công Tử Hà Đông — chăng?

Ngôn ngữ Bắc Kỳ xưa — tôi từng nghe nói từ những năm tôi mười tuổi — có câu: “Mụ ấy như bà La Sát! Làm cái gì mà như là Bà La Sát!” Cái tên “Bà La Sát” làm cho tôi nghĩ Bà La Sát là người đàn bà ác độc, tàn nhẫn. Nhưng không. Bà La Sát có tên là La Sát nhưng bà không La Sát một ly ông cụ nào. Không những bà không La Sát, bà còn rất Hiền, Bà lại rất Đẹp. Về đức tính Hiền Bà hiền hơn Ma Sơ. Không cần tôi phải chỉ ra chắc quí vị cũng thấy đức tính Hiền ơi là Hiền của Bà La Sát.

Ngưu Ma Vương, ông chồng bà, làm Thuyền Trưởng Hai Tầu, nôm na là ông có vợ bé. Bà có quyền Ghen, bà có thể, bà có quyền, bà thừa tư cách, bà dzư điều kiện, đường hoàng đến cửa Ma Vân Động, gọi Thuyền Trưởng Hai Tầu Ngưu Ma Vương và Vợ Bé Ngọc Diện Công Chuá Hồ Ly Tinh ra bà hỏi tội. Bà dùng Quạt Ba Tiêu bà quạt cho Thuyền Trưởng một quạt, Thuyền Trưởng bay qua biển Đông sang tít mú tận Xứ Kỳ Hoa Man Dzã, năm trăm ngàn Hằng Hà Sa Số Kiếp không sao về được đất Tầu, không đượcï ăn nửa miếng tofu, bà quạt cho Ngọc Diện Công Chuá một quạt, Công Chuá bay tít mút sang tân xứ Pha-Lãng-Sa đàn ông, đàn bà mắt xanh, mũi lõ, ăn thịt bò người ngợm hôi rình. Bà làm thế dzễ thôi, rất dzễ, nhưng Bà không làm thế. Ông chồng bỏ bà, bỏ động, bỏ bảo bối Quạt Ba Tiêu, sang sống với Vợ Bé, bà để cho ông sống yên dzui, ông chồng bà về động, bà cười tươi, bà mở tiệc đón ông. Trên cõi đời nay bà vợ nào có thể Hiền như Bà La Sát? Hiền bằng một nửa, bằng một phần ba, bằng một phần mười cũng không có.

Tôi trịnh trọng vinh danh: La Sát Phu Nhân — viết Hoa bốn chũ L,S,P,N — là Bà Vợ Hiền Lý Tưởng của những ông Thuyền Trưởng Hai Tầu trên cõi đời này.

Hoan hô La Sát Phu Nhân.
La Sát Phu Nhân muôn năm.

Cả những ông chồng không phải là Thuyền Trưởng Hai Tầu cũng cần có những Bà Vợ Hiền như Bà La Sát!

Chớ chi tất cả — hay 50/100, hay 30/100, hay 20/100 — bà Vợ Việt trên Cõi Đời Tục Lụy Ghen Tuông Ác-xít Boa-nha này Hiền như La Sát Phu Nhân, cuộc đời của nhưng ông Thuyền Trưởng Hai Tầu đỡ vất vả biết là chừng bao!

Bèn có Thơ Vịnh Quạt Ba Tiêu:

Này Ba Tiêu Quạt tự ngàn xưa,
Từ Tây Du Ký đến bây giờ.
Phôm phốp mở ra tầu lá chuối.
Vỏn von thu lại cánh hoa mơ.
Mát mặt Hát Ô khi nắng cực,
Mướt đầu Thuyền Trưởng lúc sa mưa.
Hiền ngu, khoẻ yếu ai không muốn
Có Ba Tiêu Quạt đẹp như Thơ!

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Năm Sửu, 2009.

Tháng Giêng Ngon Như Một Cặp Môi Gần

Vuong Quan
 
Hôm nay Ngày Mồng Ba Tết.

Tết đã về, sáng mai Mồng Bốn Tết, Tết đi. Bi giờ ta thôi không chúc mừng nhau năm mới, năm me nữa. Tôi — người viết khiêm tốn và hạnh phúc nhất đời ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, xin hẹn quí vị người Việt ở khắp tám phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca:

Mồng Ba Tết Năm Dzần 2010, quí vị lại đọc những lời tôi Viết gửi quí vị trên báo.

Tết Kỷ Sửu tôi không về Sài Gòn ăn Tết nên tôi không thể tả cảnh đồng bào ta ở Sài Gòn, Thủ Đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà Xưa của tôi, ăn Tết năm Kỷ Sửu như thế nào, tôi mượn vài bức ảnh Sài Gòn Tết, và một đoạn viết về Tết Sài Gòn Kỷ Sửu của Người Viết Văn Quang — hiện sống ở Sài Gòn — gửi đến quí vị.

Văn Quang. “Càng đói càng hoành tráng.” Trích:

Trở lại thành phố Sài Gòn vào giữa buổi trưa nắng đẹp, từ Ngã Tư Hàng Xanh, không khí Tết có vẻ chộn rộn hơn nhiều. Mọi con đường đều là chợ, là hoa cảnh, là bánh mứt, là những gian hàng xanh đỏ với những giỏ quà gói sẵn treo lủng lẳng. Trong những giỏ quà bao giấy bóng kính xanh đỏ trông đẹp mã đó, không thiếu những sản phẩm quá “đát”, kém chất lượng, bởi hầu hết khách hàng mua đều để đem tặng, đem biếu cho đủ “lệ bộ”, cho “xong chuyện đời”, chứ khách không mua về để thưởng thức loại quà gói sẵn này. Cho nên được tặng quà Tết chưa chắc đã là “hạnh phúc”. Nhìn ở đâu cũng vậy thành quen mắt, nên những giỏ Quà Tết đó không mời gọi được ai. Tuy vậy cũng vẫn có vài người săm soi, trả giá, mỗi phần quà loại “bình dân” này giá chừng vài trăm ngàn đồng.

Càng về gần trung tâm thành phố, không khí Tết càng chan hoà hơn. Tuy nhiên, chỉ những con đường lớn, đường chính, mới được “trang điểm nhan sắc” theo cái kiểu càng “hoành tráng” càng tốt. Như tôi đã có dịp nhận định rằng “Càng đói càng cần hoành tráng“. Bởi người dân tiết kiệm, không mua sắm xa sỉ hoặc chẳng có tiền mua hoa, nên được nhìn hoa, ngắm cảnh, xem pháo hoa rực trời cũng đủ “lãng quên đời” hay nói cho rõ hơn là “nhìn cho quên đói”… Đỡ tủi thân với những “đại gia” chơi cành hoa bạc tỉ, uống chai rượu vài triệu đồng, đưa vợ con đi nghỉ Tết tận trời Tây.

Cái khoảng cách giàu nghèo cứ dãn ra theo năm tháng. Thôi thì chịu khó ngóc cổ lên nhìn đường hoa… cũng đỡ khổ. Vậy đó là một nhu cầu có thật.

Mời quí vị xem cảnh Tết Sài Gòn qua 2 bức ảnh của Văn Quang. Tôi cảm khái trước ảnh người nữ hoạ sĩ Sài Gòn vẽ hình cho khách ở công viên. Nếu tôi đến trước chỗ Nàng, tôi sẽ nhờ Nàng vẽ chân dung tôi. Không phải tôi muốn nhờ nét vẽ của Nàng ghi hình ảnh tôi để lại đời mà là vì tôi muốn Nàng có dịp kiếm được ít tiền nhờ tài Vẽ của Nàng.
 

Girl Drawing
 
50 năm sống chết với nghề làm báo, viết truyện, tôi từng qua vài năm đói dzài, đói dzẹt ở Sài Gòn. Tuy cái Đói những năm xưa của tôi và vợ con tôi chưa đói bằng ai song với tôi đó cũng là những năm tháng đói, nên tôi cảm thương những Nghệ sĩ Viả Hè. Năm 2002 tôi đến Paris. Anh bạn đưa tôi đến Khu Monmartre. Nhiều hoạ sĩ dựng lều bán tranh, vẽ chân dung cho khách trong công viên của Khu. Những hoạ sĩ này có đóng thuế cho thành phố. Nhiều hoạ sĩ không đóng thuế phải đứng chờ khách — toàn khách du nhờ vẽ chân dang — ở một ngã tư gần Giáo đường. Anh bạn bảo tôi:

- Bọn này ở Đông Âu sang, đói lắm.

Chừng 20 nam nữ hoạ sĩ, toàn ở tuổi trung niên, đứng giữa trời lạnh từng nhóm hai, ba người chờ khách, mỗi người ôm một cặp carton giấy vẽ, họ dùng cặp carton làm giá vẽ, họ vẽ bằng bút chì. Tôi mời một bà hoạ sĩ vẽ cho tôi một bức, vẽ ngay trên vỉa hè, hoạ sĩ và khách cùng đứng. Bà này vẽ xong, tôi mời một bà hoạ sĩ khác vẽ chân dung tôi. Tôi không nhớ tôi trả công hai bà bằng Dollar Mỹ hay Franc Pháp, chỉ nhớ giá mỗi bức vẽ khoảng 20 dollar Mỹ. Tôi hiện giữ 2 bức Vẽ ấy, khổ giấy Vẽ quá lớn tôi không scan đuợc trong máy scan cuả tôi nên hôm nay tôi không thể mời quí vị xem “dzung nhan mùa đông” của tôi — ghi ở Paris — trên trang báo này.

Mời quí vị xem bức ảnh Người Viết Mướn ở Viả Hè Sài Gòn Tết. Bức ảnh này làm tôi cảm khái, bởi vì năm xưa khi tôi từ Liêu Dương trở về Vườn Thúy, thấy cảnh vuờn vắng tanh, vắng ngắt, trước sau nào thấy bóng nguời, chỉ thấy hoa đào năm trước còn cười gió đông, hỏi thăm tôi mới biết:

Hỏi ông, ông mắc tụng đình,
Hỏi Nàng? Nàng đã bán mình chuộc cha!
Hỏi nhà? Nhà đã rời xa,
Hỏi Vương Quan với cùng là Thúy Vân?
Đều là sa sút, khó khăn,
May thuê, viết mướn, kiếm ăn lần hồi.

Người Viết Mướn quí vị thấy trong ảnh là Vương Quan, em của Thúy Kiều, Thúy Vân. Trước năm 1945 ờ nước tôi, mỗi khi Tết đến. Người ta lại thấy ông Đồ già, bày mực Tầu, giấy bản, bên hè đông người qua, viết chữ bán cho khách trang hoàng nhà trong dịp Tết — nay, 2009 — Tết đến quê hương tôi không còn ông Đồ già bán chữ, nay ở quê tôi Tết đến có những người Viết muớn, Vẽ mướn trẻ tuổi.

Mời quí vị đọc vài bài Thơ Xuân:

Pippa’s song

– Robert Browning

The years’s at the Spring,
And Day’s at the Morn;
Morning’s at Seven,
The Hill-side’s Dew-pearl’d,
The Lark’s on the Wing;
The Snail’s on the Thorn,
God’s in His Heaven,
All right with the World.

Ước

Suốt năm là mùa Xuân,
Suốt ngày là buổi Sáng
Sương trên Hoa thơm ngần,
Trời trong và mây trắng.
Tình Yêu cho Tình Nhân,
Hoa mưa và rượu nắng,
Chim hót trên Tằm Xuân,
Đời trôi trong Yên lặng.
Chúa vui trong Thiên Ân.
Tối, Đêm, Trưa, Chiều, Sáng
Em bên Anh thơm ngần.

– HHThủy, 16-11-1989, Z 30 A.

Tháng Giêng ngon..

– Xuân Diệu

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm, Thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần.
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng Hạ mới hoài Xuân.
.. .. ..
Hỡi Xuân Hồng, Ta muốn cắn vào Xuân.
Xuân của Đất, Trời nay mới đến,
Trong tôi Xuân đến đã lâu rồi.
Tự thưở Yêu nhu Hoa nở mãi
Trong Vuờn thơm ngát của Hồn tôi.

Và đây là Thơ của Riêng Chúng Tôi.

Xin tặng những vị có cùng Tình Yêu Trọn Đời và tâm trạng.

Đôi ta lưu lạc Kỳ Hoa này
Mười mấy mùa qua, én nhạn bay.
Tết đến xứ người hoa chẳng nở,
Nên Em với Ta buồn lắm thay.
Hạc vàng, tuổi trẻ không về nữa.
Đoan trường đôi ta tay trong tay.
Năm mươi năm lẻ thơm hương lửa,
Trời vẫn xanh trong trắng những ngày

Muà Thu mây trắng xây thành,
Tình Em mầu ấy có xanh da trời?
Hoa lòng Em có về tươi?
Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?

Yêu nhau ngày tháng qua nhanh
Năm mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.
Từ xanh đến bạc mái đầu
Tình Ta nước biển một mầu như xưa.
Yêu bao giờ, đến bao giờ?
Thời gian nào rộng cho vưà Tình Ta?
Lòng Em hoa vẫn tươi hoa,
Môi Em thắm đến Em già chưa phai.
Ngày Mồng Hai Tết, sớm mai
Nhớ Lời Anh dặn một hai;
Dù Em đi trước, Anh đi trước.
Ta đã yêu nhau trọn kiếp này.

Mồng Hai Tết Kỷ Sửu

Tết Nha Trang

Năm 1956, Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong ra đời, tôi viết phóng sự tiểu thuyết VŨ NỮ SÀI GÒN đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong từ số 1. Kể từ ngày ấy đến hôm nay, ngày 28 Tháng Giêng Tây 2009, thời gian qua đã 53 năm.
 
train
 
Mới đây, một nữ độc giả của tôi, bà KD, ở Cali, người rất mê Sách, cho tôi biết Thư Viện Cornell có quyển Vũ Nữ Sài Gòn của tôi, bà sẽ nhờ nhân viên thư viện chụp copy quyển sách để gửi cho tôi.

Thư Viện Cornell có nhiều tác phầm tiểu thuyết của những Nhà văn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Quyển Vũ Nữ Sài Gòn của tôi, sau khi đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong, được xuất bản thành sách năm 1957. Không biết vị nào, người Việt hay người Mỹ, năm 1957 đã mua Vũ Nữ Sài Gòn trong một tiệm sách ở Sài Gòn, gửi về Hoa Kỳ cho Thư Viện Cornell.

Không biết người mua sách xưa nay ở đâu, tôi xin thay mặt những người viết tiểu thuyết Việt Nam có tác phẩm được tồn trữ ở Thư Viện Cornell, hôm nay nói lời cám ơn Người.

Bà KD nhờ người chụp copy Vũ Nữ Sài Gòn. Những ngày cuối năm 2005, những trang Vũ Nữ Sài Gòn đến Rừng Phong. Tôi bùi ngùi đọc lại những trang truyên tôi viết 50 năm trước, ngày tôi mới ngoài hai mươi tuổi. Tôi đăng lại một truyện trong Vũ Nữ Sài Gòn để tặng liệt quí vị độc giả thân mến của tôi.

Hôm nay Ngày Đầu Năm kiêm Ngày Đầu Xuân, mời quí vị đọc truyện tình Xuân muộn “Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy.” Tôi đặt tên lại cho truyện ngắn này là:

TẾT NHA TRANG

Rồi một sớm tôi trở lại Nha Trang, nơi có những cảnh nên thơ và những triền cát trắng. Con tầu rời Sài Gòn từ chập tối đêm qua đến khoảng sáu giờ sáng hôm sau đã phăng phăng lăn bánh sắt trên bờ vịnh Cam Ranh. Núi biển rừng trùng điệp chạy dài ngoài khung kính cửa tầu trong buổi bình minh dịu mát tuy không lấy gì làm hùng vĩ cho lắm nhưng cũng đủ gây một cảm hứng mới lạ cho một thị dân quanh năm, suốt tháng chỉ nhìn thấy những ánh đèn đỏ, đèn xanh nhấp nháy trên những ngã tư đường, và những cuộc viễn du xa nhất chỉ là đến Hồ Bơi Thủ Đức.

PosterNàng bồng con đến đón tôi ở sân ga, như đón người tình từ lâu ngay cách trở, mưa bụi lất phất bay khi con tầu dừng hẳn. Tôi đã nhìn thấy Nàng qua khung kính phòng tầu, với đưá con nhỏ trên tay, với đôi mắt đen lay láy của Nàng đang mở rộng tìm kiếm, và đôi vẻ lo âu thoáng hiện trên nét mặt của Nàng.

Tôi biết Nàng đang lo âu sợ tôi không đến. Và trong một phút, tôi vưà muốn dơ tay vẫy Nàng vưà muốn chậm xuống tầu để cho Nàng đợi chờ, để cho Nàng lo lắng thêm dăm phút nữa.

Nha Trang Châu thành miền Nam Trung Việt có phải là nơi đèo heo, hút gió nào cho cam, nhưng từ ngày đem con ra trốn tránh nơi đây cho tới bây giờ ngày tháng qua đã hai năm trời đằng đẵng, nàng chẳng được một người thân nào từ Sài Gòn ra thăm, Bởi vậy nếu nói Nàng mừng chẩy nước mắt thì các độc giả, nhất là những nữ độc giả, sẽ bảo lá tôi nói ngoa, nhưng thật tình là phút nhìn thấy tôi, Nàng cảm động. Và nếu một người cảm động chân thành thì nước măt tự động cưa ra, và nói rất ít.

- Em đã tưởng anh lại sai hẹn như mấy lần trước, mẹ con cái Lan lại bị nhỡ tầu lần nữa, đã định đưa nhau về.

Câu nói đầu tiên của Nàng sau 2 năm mới gặp lại nhau lại chính là lời than thở. “Một lời tả oán” thì đúng hơn, nếu nói theo kiểu “Vũ Nữ Sài Gòn”, nhưng đây là một lời “tả oán” dịu dàng, an phận và cũng chưá đựng biết bao là buồn.

Tôi nhìn bé Lan, đưá bé mà đêm nào mẹ nó lẩn trốn ra đi, nó mới là một hài nhi 6 tháng. Ngày ấy, thấy nó ốm o ho hen quá, tôi đã có lần đề nghị Nàng gửi nó vào Viện Dục Anh. Thế mà bây giờ nó đã thành một đưá bé kháu khỉnh, sạch sẽ, da dẻ hồng hào, đang nhìn tôi mà cười.

Tôi nhìn Nàng, người thiếu nũ Sài Gòn kiêu sang khoảng năm, bảy năm về trước, người thiếu nữ đẹp, kiêu có thể nói là đã thản nhiên bước trên những mảnh tim vụn nát của nhiều người, nay là một thiếu phụ cô đơn, thông cảm và sợ hãi với nỗi cô đơn của mình trong cuộc đời.

Tôi bế Bé Lan, cố gắng nghe xem nó muốn nói gì qua từng tràng bi bô của nó. Trong khi ấy, Nàng vẫy một chiếc xích lô, trả giá cẩn thận, và chúng tôi cùng ngồi một xe về nhà.

******

Tôi với Nàng không phải là anh em nhưng cũng chẳng phải là đôi người tình. Nàng là cô em gái của bạn tôi, một người con gái không may gặp nhiều sa đọa trong những ngày vưà mới nhớn, tuổi dậy thì của Nàng bắt đầu vào những niên kỷ 1950, 1951.

Tôi biết anh của Nàng, và gia đình Nàng, đã từ lâu rồi. Đó có thể nói là một gia đình cổ kính, quí phái và giầu có. Nhưng mãi đến nững năm sau khi ông thân sinh Nàng qua đời, gia đình Nàng thiếu người dẫn dắt, nên mới bắt đầu đi xuống dốc.

Mẹ Nàng, một bà già tính đồng bóng, hình như chỉ sống để làm có ba việc: đi lễ chùa, lên đồng và đánh bài. Con cái: một trai, một gái, bà nuôi cho ăn học đầy đủ, tháng tháng phát tiền bạc đều đều, muốn gì được nấy, thế là bà yên trí.

Bạn tôi thiếu bàn tay kiềm chế cứng rắn nhưng đầy thương yêu của ông Viên-ngoại, đã thành một con ngựa bất kham, gã trẻ tuổi mới ngoài hai mươi bắt đầu bước chân vào cái xã hội chơi bời của Sài Gòn những năm đầu thập niên 1950. Cái xã hội lấy đêm làm ngày có những Trụ sở chính: Tiệm Nhẩy, Sòng Bạc, Tiệm Hút… và những nhà Nuôi gái.

Ăn chơi, kéo bè, kết đảng, vì tranh dành những vũ nữ, gã trẻ tuổi bạn tôi cùng lũ bạn của gã thường ẩu đả với những bọn tay chơi khác. Những vụ xung đột xảy ra ở những nơi ăn chơi làm cho bạn tôi thấy gã cần phải kết bạn với bọn anh chị mới mong khỏi bị đời át giọng. Trên con đường chơi bời, gã tìm đến kết hợp với những tay chơi trong hàng ngũ Bình Xuyên. Gã lấy gái nhẩy rồi bỏ, rồi lấy, cứ như thay áo. Gã tổ chức những “Ban đờ pha-mi”, nói là để nhẩy nhót trong nhà với nhau, nhưng chỉ cốt để đưa những cô gái nhẹ dạ vào cạm bẫy.

Trong khi Gã tán tỉnh những cô gái mới lớn, thì cô em gái gã bị nhiều thằng khác tán tỉnh. Bạn tôi chẳng bao giờ thèm nghĩ rằng chính em gái gã cũng sẽ bị chung số phận với những người con gái bị gã lừa dối và lợi dụng.

Tiền thì bạn tôi không kiếm ra được một đồng, gã chỉ giỏi xoay tiền của mẹ. Cậy tủ ăn cắp tiền, lấy đồ mang đi cầm cố..vv… là những những thủ đoạn thông thường cuả anh con trời đánh này. Nhưng ăn cắp tiền nhà mãi cũng phải hết, cho đến một ngày gã bị bè bạn kéo vào những cuộc làm ăn bất lương.

Tôi được biết không rõ lắm về chuyến làm ăn cuối cùng của gã. Gã làm cuộc đỡ tay trên của một chú Ba Tàu Chợ Lớn dăm chục ký thuốc phiện chú nhờ gã, và bọn gã, đi lãnh dùm. Đến cái phút gã và đám bạn thanh toán xong suôi, đã chia nhau sài gần hết tiền câu chuyện mới trở thành nguy hiểm. Lúc đó gã mới biết là tên Hoa Thương nọ lại là bồ bịch với một tay tổ của bọn Bình Xuyên, và tên này đang ra lệnh cho đàn em tìm bắt gã.

Những tên Bình Xuyên vẫn nhận bảo đảm cho gã đột nhiên trở thành những con tôm, con tép bên cạnh tay Bình Xuyên Đầu Xỏ, chúng đua nhau bỏ rơi Gã. Gã đã yên trí cuộc đời tàn ngay từ phút ấy, nhưng may sao có một vị cứu tinh dẫn Gã đến lậy lục Tay Đầu Xỏ Bình Xuyên

Mọi việc rồi huề cả làng. Để đổi lấy sự an ninh của gã, trong một đêm hoan lạc say vì rượu, vì âm nhạc, vì ánh sáng mơ hồ của ngọn đèn ngủ mầu xanh nhạt: Nàng, cô em gái bạn tôi, đã ngả mình trong cánh tay dâm đãng của Con Qủy Dâm Dục nọ, nàng trở thành cô vợ bé tí ti của Hắn.

Trong một đêm kinh hoàng của thời phiến loạn Bình Xuyên chuẩn bị khởi hấn, đánh lại quân chính phủ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, Nàng ôm con run rẩy đến căn gác nhỏ của tôi nhờ chỗ nương thân. Tên Bình Xuyên phiến loạn nọ, biết trước tình thế xẩy ra sẽ ra sao, nên ép Nàng bồng con qua Pháp, mà Nàng thì lại không muốn rời quê hương. Nàng ẵm con, con của tên Bình Xuyên, mang theo nột số bạc không biết là bao nhiêu, với tất cả những nữ trang tên nọ cho Nàng, đến nhờ tôi giúp Nàng ẩn trốn. Tôi viết vội một lá thư, và tối hôm sau tôi gửi vội Nàng đi Nha Trang.

Nàng đi được hai đêm thì đạn nổ vang cầu chữ Y, rồi đô thành qua mấy ngày khói lửa. Anh Nàng chết trong cơn binh lửa, rồi bà mẹ Nàng, vì buồn phiền, qua đời trong cô độc. Tên Bình Xuyên trốn được sang Pháp.

Đến bây giờ, Nàng ngồi đây, bên tôi, trong một chiếc ghế vải trên bãi biển.

Nha Trang trong một đêm cuối năm không trăng, châu thành mờ ảo chạy dài dưới những ánh đèn điện châp chờn dọc bờ biển dài 5 cây số. Gió về khuya thổi không mạnh lắm, chỉ đủ gây lạnh, nhưng tiếng sóng biển càng về khuya nghe càng lớn.

Có lần tôi đã mơ làm chủ nhân một quán cà phê nho nhỏ, xinh xinh, nơi họp mặt của các bạn tôi. Vậy mà nay tại sao tôi lại không về Nha Trang, sống với Nàng, và làm chủ quán cà phê sẵn có của Nàng?

Nàng sẽ không còn mong gì hơn. Chúng tôi đã mến thương nhau từ những ngày đôi lứa còn thơ ấu. Qua mười lăm năm trời, cả hai cuộc đời đều đã hư hỏng, mà hư hỏng một cách rất tầm thường, rất tồi tàn. Tại sao qua bao nhiêu đểu giả, tôi lại không dẹp được tự ái để thương Nàng, để sống với Nàng như với một người vợ hiền..?

*****

Nha Trang 1955… với dăm quán cà phê, vài khách sạn, 2 tiệm phở, một tiệm bánh cuốn, với những đường phố ngắn hẹp, ngang tắt giống như một tỉnh lỵ miền Bắc Việt, Nha Trang… một bờ biển dài, sóng động ầm ầm nghe như tiếng bom nổ trong những ngày sóng lớn cuối năm, với Viện Hải Học có một con Bạch Tuộc đã qua đời vì lẻ bạn, và một Hòn Chồng cần nhiều tảng đá mới để cho du khách kẻ tên, viết tuổi… Đó tất cả hình ảnh của Nha Trang trong những ngày đau yếu cuối năm tôi sống bên Nàng.

Mỗi chuyện đều có một đoạn kết, nhất là những chuyện tình. Rồi một chiều sẩm tối, tôi lại lủi thủi lên tầu trở về Sài Gòn.

Nỗi vui mừng gặp mặt tưởng như mới xẩy ra hồi nẫy, chỉ làm tăng vẻ thê lương cho phút: “Ôi..! Cảnh biệt ly sao mà buồn vậy..!”

Từ hàm răng, mái tóc, từ đôi mắt đến ngón tay của Nàng cũng làm tôi bâng khuâng luyến tiếc ngang với những mái nhà ấm nơi quê hương.

Rồi con tầu từ từ trôi trong mầu tím nhạt của buổi chiều hoàng hôn nơi duyên hải. Những khối bánh sắt nghiến trên đường sắt đã nghiến đứt sự gần gũi của đôi thân thể, nhưng không làm chia cách được những dây tình cảm ràng buộc đôi tâm hồn.

Tầu đi…, mọi vật nhòa trong bóng tối. Hình ảnh Nàng mờ sau tất cả. Trong một phút, tôi tưởng như tôi đang chạy ngược con tầu về phiá Nàng chờ, và Nàng sẽ thổn thức nói với tôi một câu, như trong một chuyện tình:

- Anh ở lại ăn Tết với Em, nếu anh về Sài Gòn thì cho mẹ con Em về theo với chứ!

Bốn Không 2009

January 2009, trên Internet có bản tin:

Kêu gọi “Tẩy Chay Truyền Thông Nhà Nước Tầu Cộng.”

Một nhóm trí thức Trung Hoa — trong số có nhiều người ký tên ủng hộ Hiến Chương 08 — lên tiếng đòi Nhà Nước Cộng sản Trung Quốc cải cách dân chủ, và kêu gọi nhân dân tẩy chay những chương trình phát thanh tin tức trên hệ thống truyền hình Nhà Nước của Trung Quốc. Họ cho việc phát thanh, truyền hình của Nhà Nước CS Trung Quốc là trò ” tuyên truyền hạ cấp.”

Execution
Thư Ngỏ của 22 học giả và luật sư Trung Quốc chỉ trích sự độc quyền truyền hình của Nhà Nước Công Sản Trung Quốc đã làm lơ không đưa tin về những bất ổn xã hội xảy ra trong nước, trong khi đó lại thanh minh thanh nga quá nhiều giờ về những chuyện thường phạm như vụ Sữa nhiễm độc.

Thư Ngỏ kêu gọi Tẩy Chay Tầu Cộng có đoạn viết:

Vì những lẽ đó chúng tôi tuyên bố chính sách Bốn Không:

Không xem,
Không nghe
Không tham gia những chương trình tuyên truyền.
Không bàn luận về những chương trình này.

Công Tử Hà Đông bàn loạn:

Bốn Không thì cũng tốt thôi, nhưng Tượng Sịt-ta-lin xuống nằm ở ống cống, Tượng Lê-nin ra nằm bãi rác, bọn đảng viên Cộng sản bị nhân dân nước chúng đánh bạt tai, đá đít, đuổi đi từ những năm 1990 mà đến năm nay — 2009 — 19 muà thu lá bay sau — một số ông gọi là “trí thức Tầu” mới bảo nhau “tẩy chay” — không chơi — với bọn Tầu Cộng thì quả là muộn quá. Xong “muộn” còn hơn “không”. Tôi nhắc lại: Đến bây giờ mới “tẩy chay” chúng nó thì muộn nhưng cũng tốt thôi.

Người thế giới nay không còn phải “tẩy chay, tẩy mặn” bọn Cộng sản nưã, vì với thế giới cái gọi là “Tai họa Cộng sản” đã bị dzep — không dzẹp thường mà là Dzẹp Lép — việc dzẹp bọn Cộng sản nay chỉ còn là việc phải làm của người Việt, người Tầu.

Từ năm 1990, tôi đã nghe nhiều người Sài Gòn nói họ có Bốn Không:

- Không đọc báo Bắc Cộng.
- Không xem TiVi Bắc Cộng.
- Không nghe radio Bắc Cộng.
- Không bàn luận về những chuyện bọn Bắc Cộng khoe chúng làm.

Bốn cái Không đó, như đã nói, cũng Tốt thôi, nhưng xét ra đó là thái độ chống đối thụ động. Ba mươi năm trước, những năm 1970, 1980, người dân nào có thái độ lừng khừng, lởm khởm như thế bị bọn Công An Cộng Sản cho là “phản động”, kết tội “chống phá cách mạng”, bắt, cho đi tù mút chỉ cà tha. Đến những năm 1990, cái gọi là Chủ nghĩa Cộng sản như cái khố rách, bọn Cộng Nga đi một đường bị gậy, vợ chồng Tổng Bí Lỗ Sô-sét-cu bị dân Lỗ lôi cổ ra, dí súng vào mang tai, nổ bụp.. bụp, anh em Na-dzi-bu-la ở Ác-ga-nít-tan — anh là Tổng Bí Đảng Ác Cộng kiêm chức Thủ tướng, em là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng, bị dân Ác lôi ra treo cổ toòng teng ở cột đèn đường phố Thủ đô Kaboul, mấy tên Việt Cộng Đầu Xỏ sợ đái ra máu, chúng mừng rơn khi thấy người dân Việt chỉ chống chúng bằng thái độ tiêu cực Bốn Không.

Alexander SolzhenitsynĐến đường cùng, thấy cái Chết lù lù trước mắt, bọn Bắc Cộng không còn muốn gì hơn là người dân Việt chỉ làm cái việc chống chúng lơ mơ mà không làm cái việc kéo nhau đến lật đổ bàn thờ Bác Hồ của chúng, lôi cổ chúng ra trước chợ, bắt chúng đền tội ác. Nhân dân không hợp tác với chúng, chúng không sợ, chúng hoan nghênh; nhờ nhân dân chỉ Bốn Không, bọn Cộng Việt, Cộng Tầu kéo dài được thời gian ngắc ngoải của chúng, chúng bám víu quyền hành, chúng để mặc cho cuộc diễn biến chính trị đưa Đảng Cộng của chúng vào Chết — Chết, nhưng Chết êm đềm; chúng khoan khoái làm cuộc “Hoà Bình diễn biến“, chúng để cho bọn Cộng đến sau chúng chịu hậu quả khốn nạn, nếu có.

Tôi viết lại: “Chắc chắn phải có.”

Nhưng nhân dân Việt, nhân dân Tầu không nên để cho bọn Cộng Việt, Cộng Tầu kéo dài cuộc ngắc ngoải của chúng. Tôi nhớ đến Nhà Văn Nga Alexandre Solzhenitsyn. Giữa Tháng Tư năm 1975, ông Nhà Văn này nói:

Nếu Cộng Sản chiếm được Miền Nam Việt Nam, trọn vùng đất này sẽ biến thành một trại tù khổ sai khổng lồ.

Lời nói trên của ông Nhà Văn Nga đăng trên Nhật Báo Chính Luận trong số báo ra vài ngày trước ngày bọn Lính Bắc Cộng kéo vào Sài Gòn. Tôi đọc tin ấy trên nhật báo Chính Luận.

Rồi.. những ngày như lá, tháng như mây.. Những mùa thu qua chậm, qua mau.. Hai mươi năm sau — năm 1996 ở xứ người, tôi đọc thấy Nhà Văn Solzhenitsyn kêu gọi những người phải sống trong gông cùm cộng sản phải làm những việc như sau:

Khi thấy thằng cộng sản nói láo, ta phải có can đảm đứng lên nói nó nói láo, nếu ta không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên đi ra, không ở lại nghe nó nói láo, nếu ta không có can đảm bỏ đi, ta phải ngồi lại, ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác.

Thái độ Chống Đối của Nhà Văn Nga mạnh hơn việc Bốn Không của những ông trí thức Tầu rất nhiều. Tuy việc chống Cộng như thế chưa đủ nhưng chúng mở đường cho việc nhân dân dùng sức mạnh cho bàn thờ Hồ, Mao xuống cống.

Bọn Cộng Việt làm đúng theo những trò bọn Cộng Tầu làm — Bà Nhà Văn Duơng Thu Hương viết: “Bọn Hà Nội chuyên ngửi dzắm bọn Bắc Kinh..” thật đúng. Bọn Cộng Tầu hoan hỉ chui vào Lò Hoà Bình Dziễn Biến với bọn Tư Bổn Lề Mỹ trước bọn Cộng Việt đến 10 năm. Những năm 1980, bọn Cộng Việt còn dzài mồm ra chửi bọn Cộng Tầu bán rẻ sức lao động của dân Tầu cho Tư Bổn Lề Mỹ. Để dzồi, khi đói dzài mõm ra, bọn Cộng Viêt lóp tóp theo đít bọn đàn anh Bắc Kinh, vẫy đuôi chồn lùi, hí hởn, sung sướng chui vào vòng Dziễn Biến.

Prostitution

Mời quí vị xem lại bức hình bọn Công An Cộng Tầu còng tay những em gái điếm Tầu đem ra cửa chợ làm cuộc trinh diễn và đấu tố. Bức ảnh làm tôi bất nhẫn, tôi muốn hỏi bọn đầu trâu, mặt ngựa:

- Mấy em gái có tội gì mà chúng mày đối xử với các em tàn ác quá đến như thế ? Các em đói, các em phải làm điếm là vì bọn Cộng sản ác ôn chúng mày để cho các em phải đói. Chúng mày không biết tội của chúng mày? Chúng mày không biết nhục!

*****

Cuộc đời nhiều nỗi âu sầu,
Đời buồn, Người có vui đâu bao giờ!

Dù Người Buồn hay Người Vui, Xuân, Tết vẫn cứ đến. Tôi gửi đến bạn bài Thơ Xuân tôi phóng tác trong những đêm tôi nằm ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A.

Down by the Salley Gardens

Thi sĩ William Butler Yeats

Down by the salley gardens my Love and I did met;
She pass’d the salley gardens with little snow-white feet.
She bid me to take Love easy, as the leaves grow on the tree;
But I, being young and foolish, with her would not agree.

In the field by the river, my Love and I did stand,
And on my leaning shoulder she laid her snow-white hand,
She bid me to take Life easy, as the grass grows on the weirs;
But I was young and foolish, and now am full of tears.

Thơ Công Tử Hà Đông

Trong Vuờn Xuân

Trong vuờn xuân tôi gặp người yêu,
Đôi chân trắng ngọc, Nàng đi trong nắng chiều,
Nàng bảo tôi hãy yêu dễ dàng như lá mọc trên cây;
Tôi không nghe Nàng, tôi trẻ, tôi ngây.
Bên hồ thu tôi đứng với người yêu,
Trên vai tôi Nàng đặt bàn tay trắng ngọc,
Nàng bảo tôi hãy sống dễ dàng như bờ hồ cỏ mọc.
Tôi trẻ, tôi ngây, bây giờ tôi khóc.

Năm Trâu đến, bao nhiêu người làm bao nhiêu Câu Đối về Trâu, câu nào cũng hay. Tôi vốn đã vô duyên, Tết Trâu đến không có Câu Đố, Câu Thơ nào trong có Trâu gửi đến tặng độc giả, tôi càng thấy Sự Dzô Dzang của tôi là không thể nào tha thứ được.

May sao tôi cũng có một Câu về Trâu, bèn gửi đến quí vị:

Ai ơi.. Nên lấy Bắc Kỳ,
Nó ăn rau muống nó đì như Trâu.

Đì” là “làm việc“, “đì như Trâu” là làm việc khoẻ như Trâu. Anh Chồng, hay anh Tình nhân cũng rưá, có sức khoẻ như Trâu, chịu làm như Trâu, đời nào, chế độ nào — Cộng Sổn Lề Lối, Tư Bổn Lề Lối — cũng rất tốt cho người đàn bà.

Cho nên đời mới có câu rỉ tai rất Tốt cho Đàn bà Việt:

Ai ơi.. Nên lấy Bắc Kỳ
Nó ăn rau muống, nó đì như Trâu.

Ai ơi.. Nên lấy Trung kỳ
Nó ăn mắm ruốc, nó đì như Trâu

Ai ơi.. Nên lấy Nam kỳ
Nó ăn giá sống, nó đì như Trâu.

Năm Trâu, chúc các cô đọc 4 Món Ăn Chơi chưa chồng lấy được chồng như Trâu.

Xin mách các bà có chồng mà chồng sìu, muốn cho chồng khoẻ như Trâu thì nếu Him là Bắc kỳ, cho Him ăn rau muống, nếu Him là Trung kỳ, cho Him ăn mắm ruốc, nếu Him là Nam kỳ, cho Him ăn giá sống.

Bảo đảm Him sẽ như Trâu!

Bố Già Vất Vả

Thấm thoắt dzậy mà đã mười mấy mùa lá rụng vợ chồng tôi sống ở Kỳ Hoa.

Sáng nay, buổi sáng cuối năm ở xứ người, khi viết những dòng chữ này, tôi tưởng như thấy lại cảm giác lạ kỳ, khó tả của tôi trong buổi trưa 13 năm xưa bánh xe lãng tử đưa vợ chồng tôi đến Phi trường National — nay là Phi Trường Reagan — ở Washington DC.

The GodfatherThân hữu đến phi trường đón vợ chồng tôi buổi trưa ấy khoảng 20 vị, nay có đến 5 vị trong số không còn ở cõi đời này.

Buồn, nhớ thương ..

Nghe dzồi, biết dzồi, khổ lắm, than mãi..!

Thưa vâng, tôi đã than nhiều, xin không than nữa, xin viết vào chuyện. Những ngày đầu Năm Tây 2009, cuối Năm Ta Chuột Nhâm Tý, tôi được một vị quí nhân gửi cho khoảng 10 tấm ảnh — của Phái viên Tạp Chí LIFE — ghi cảnh Bà Trần Lệ Xuân, Dân Biểu Quốc Hội Việt Nam Cộng Hoà — tức Bà Ngô Đình Nhu — trả lời phỏng vấn của nhà báo ở phi trường Tân Sơn Nhất Tháng 10 năm 1963.

Tôi từng viết bài về cuộc tiễn đưa này, xin tóm luợc:

Như Con Chuồn Chuồn.

Bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân nói vì nhiều người Âu Mỹ hiểu sai về tình hình Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà nên, với tư cách dân biểu — bà sang Pháp, sang Mỹ làm “chuyến đi giải độc dư luận Âu Mỹ.”

Tại Phi trường Tân Sơn Nhất, truớc khi lên phi cơ, phóng viên truyền thông hỏi bà dự đinh sẽ ở Pháp bao lâu, ở Mỹ bao lâu. Bà Lệ Xuân trả lời bà chưa đinh, và bà mỉm cười, nói:

Tôi như con chuồn chuồn.
Khi vui thì đâu, khi buồn thì bay.

Lúc ấy tôi — Công Từ Hà Đông — phóng viên Nhật Báo Sàigònmới, đứng cạnh ghế bà Lệ Xuân, nhờ ánh đèn cực sáng chiếu vào bà đề người ta quay phim bà, tôi nhìn rõ những nét răn nơi đuôi mắt bà — những nét răn của đàn bà đẹp được ông cha tôi gọi văn huê là những vết chân chim — tôi nhìn rõ hàm răng của bà.

Vị quí nhân gửi cho tôi những tấm hình của phóng viên Tạp Chí LIFE ghi dưới bức ảnh Bà Trần Lệ Xuân trả lời nhà báo câu hỏi:

- Ông kể lúc ấy ông đứng bên ghế bà Trần Lệ Xuân, trong ảnh này ông ở đâu?

Tôi hồi hộp xem thật kỹ bức ảnh, xem đi, xem lại, nhưng ảnh không có tôi là — dù tôi có xem kỹ đến mấy — ảnh vẫn không có tôi. Tôi nhớ là lúc đầu tôi không len lách vào gần bà Trần Lệ Xuân, chỉ khi cuộc họp báo đã gần xong, tôi mới chen vào đứng gần bà — tôi đến gần bà như tôi thầm nói tôi chào bà — vì vậy khi phóng viên Tạp Chí Life ghi ảnh không có tôi.

Tôi viết tôi tiếc ơi là tiếc, tôi đã bỏ lỡ — trăm năm một thưở — cơ hội không phải vàng y mà là kim cang — được chụp ảnh chung với bà Trần Lệ Xuân.

Bài viết đăng lên Nhật Báo SàiGòn Nhỏ, rồi lên hoanghaithuy.com, Take2Tango.com.

Ít ngày sau tôi được điện thư:

Phương Lê, January 19, 2009:

Bố già CTHĐ cũng đừng buồn phiền chi nhiều vì hụt cơ hội chụp ảnh chung với Madame Ngô Đình Nhu. Tôi cũng mong ước được gặp mặt Bố Già và chụp chung với ông một tấm hình mà chắc chẳng bao giờ được, vì không có cơ hội, Bố tin không?

Công Tử Hà Đông: Cám ơn bạn Phương Lê, tôi cảm khái vì có người muốn chụp ảnh chung với tôi, lại gọi tôi là Bố Già. Cám ơn bạn lần nữa.

Để xin viết trước về tiếng “Bố Già.”

Nhiều người Việt thích đọc tiểu thuyết từng đọc truyện “Bố Già” do Ngọc Thứ Lang dịch tiểu thuyết The Godfather của Văn sĩ Mỹ Mario Puzo. Truyện Bố Già được dịch và xuất bản ở Sài Gòn khoảng năm 1970, truyện bán chạy, được bọn Việt Cộng Sài Gòn tái bản nhiều lần sau năm 1990.

Ngọc Thứ Lang tên thật Nguyễn Ngọc Tú chết ở Trại Tù Khổ Sai Phú Khánh — Phú Yên Khánh Hòa — khoảng năm 1986, 1987.

Tôi — CTHĐ — vì mái tóc bạc sớm nên khi vào tù Cộng sản, được nhiều bạn tù trẻ gọi là Bố Già. Cũng vì mái tóc tôi bạc trắng, có những ông tù nhiều tuổi hơn tôi mà xưng Em với tôi.

Trong tù tôi thường nói với những anh Con Rởm của tôi:

- Bây giờ nếu chúng nó nói “Lôi thằng già nhất trong bọn tù này ra bắn,” chắc tao bị chúng lôi ra. Nếu chúng nó nói “Xem thằng nào già nhất trong bọn tù này, thả nó ra,” chắc là tao được thả.

James DeanTrong thời gian bố con tôi xa nhau, trong những thư tôi gửi cho Kiều Giang, tôi thường ký “Bố Già Vất Vả,” trong những thư viết cho tôi, con tôi ký là “Con Gái Te Tua.”

Năm 1984 tôi bị bọn Công An Thành Hồ bắt vì tội “viết bài diễn tả cuộc sống cực khổ của nhân dân Sài Gòn gửi ra nước ngoài.” Bị bắt cùng một lúc với tôi, cũng vì tội như tội của tôi, là các ông Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Hoạt Hiếu Chân, Dương Hùng Cường Dê Húc Càn, Duy Trác, Trần Ngọc Tự và cô Lý Thụy Ý.

Các ông vừa kể, cô Lý Thụy Ý, và tôi, bị ghép chung vào một bọn, bị bắt trong một đêm, đưa ra Toà xử một lần.

Cô Lý Thụy Ý là nữ ký giả, từng giữ Trang Kaki của Tuần Báo Văn Nghệ Tiền Phong trước năm 1975. Cô bị bắt vì ” tội làm bài Thơ” trong có hai câu:

- Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh?

Và:

- Tôi kiêu hãnh vì tôi là Ngụy.

Cô Lý Thụy Ý bị giam trong Phòng Giam Tù Nữ Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn của Sở Công An Thành Hồ. Phòng Nữ có cửa lưới nhìn ra con đường ra vô Khu Phòng Thẩm Vấn, nên các vị nữ tù ngồi trong phòng tù, sau cửa lưới, có thể nhìn thấy khá dễ và rõ những người tù ra vô Khu Thẩm Vấn.

Sau một năm bị giam ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Tháng 6 năm 1985 tôi được chuyển theo các ông Nhà Văn Biệt Kích Cầm Bút sang Nhà Tù Lớn Chí Hoà.

Trên xe chở tù anh em chúng tôi mừng tủi sau một năm không được gặp nhau, tuy ở cùng trại tù chúng tôi mỗi người ở một phòng.

Cô Lý Thụy Ý nói với tôi:

Có mấy con nhỏ trong phòng em là độc giả của anh, chúng nó muốn trông thấy anh. Chúng nó nhờ em hôm nào thấy anh đi làm việc thì cho chúng nó biết. Sáng hôm ấy em nhìn thấy anh đi làm việc, em cho chúng nó biết, chúng nó chờ để nhìn anh khi anh đi làm việc về. Sau đó, chúng nó nói với em:

- Chị đừng cho bọn em nhìn thấy ông ấy thì hơn, không thấy ông ấy chúng em vẫn có thể tưởng tượng ông ấy hào hoa phong nhã, nay thấy ông ấy, chúng em chán quá!

Nghe Lý Thụy Ý nói thế, tôi buồn ơi là buồn, tôi chán ơi là chán.

Trên xe tù Việt Cộng, nghe cô em văn nghệ nói về mình, về những nữ độc giả ái mộ mình nghĩ về con người xương thịt của mình, như thế — thưa bạn Phương Lê, thưa liệt quí vị độc giả — tôi còn có thể có nỗi buồn nào buồn hơn?

Ôi chao..! Nghe câu nói ấy từ một buổi trưa giữa năm 1985, đến nay đã hơn 20 muà sầu riêng nứt vỏ, nhớ lại, tôi lại thấy ruột tôi bị đứt ra 126756 đoạn.

Tôi có bức ảnh chụp tôi năm 1970 ở Pleiku, trong ảnh tôi bận áo paraverse, quấn khăn phu-la, Pleiku gần Tết lạnh như ở Đàlạt. Qua hai lần bị bọn Công An Thành Hồ khám xét tại nhà, tịnh thu tài liệu làm tang vật, tôi vẫn giữ được bức ảnh Pleiku 1970. Ảnh theo vợ chồng tôi sang Kỳ Hoa.

Năm 2000, một nữ lang vưà là bạn vưà là em văn nghệ của vợ chồng tôi, đến căn phòng nhỏ của vợ chồng tôi ở Rừng Phong, thấy bức ảnh HHT Pleiku 1970 , nữ lang chỉ vào ảnh, nói:

- James Dean.

Nữ lang buông nhẹ hai tiếng “James Dean” rồi thôi, cô nói sang chuyện khác.

Nhưng hai tiếng “James Dean” cô nói làm tôi thấy năm 1970, tôi tuổi đời Bốn Bó, tôi giống James Dean quá đi mất. Tất nhiên là tôi không đẹp trai như James Dean, nhưng cũng khổ người, dáng người , y phục, kiểu đứng, vẻ mặt, ánh mắt.. Mèn ơi.. Sao tôi thấy tôi giống James Dean quá đi mất.. Giống quá chời, quá đất..

Nhưng.. lại “Mèn ơi..Không Mèn ơi không được..” Đó là chuyện năm 1970. Năm 2005 khi nhìn mấy tấm ảnh tôi mới chụp, tôi tá hoả tam tinh. Mèn ơi.. là Mèn ơi..! Ông Tầu Già có Thùng Nước Lèo trước bụng này mà là Tôi ư? Là Tôi, Công Tử Hà Đông???

Mới năm 1970 tôi còn có dáng vẻ giống như James Dean? Mà nay tôi như vầy ư?

Tầu Già Thùng Nước Lèo?

Hết nước nói.

Tôi kể lể dzông dzài để bạn Phương Lê, và liệt quí vị độc giả, biết cho rằng bây giờ, năm nay — 2009 – quí vị không nên gặp tôi, gặp tôi có thể quí vị sẽ chán lắm.

Thời gian..! Ôi.. Thời gian tàn phá tất cả!

Đời.. C’est la Vie.
Tình .. C’est l’Amour.
Tiền .. C’est l’Argent.
Tù.. C’est Prison.
Thời gian.. C’est le Temps.

Với Con Người, không có gì độc hại như Thời gian.

So với Thời gian thì Ma Túy, Sì Ke, Choác, Lắc, Rượu..không đi đến đâu. Thời gian tàn nhẫn khủng khiếp! Thời gian ác độc như Cộng sản. Không thể kể được một phần nghìn tội ác của Cộng sản, cũng không thể kể được một phần nghìn tội ác của Thời gian.

Nhưng tất cả mọi người đều bị Thời gian tàn phá, chẳng riêng mình tôi. Chỉ có điều người khác già đi, xấu đi, tôi cho là chuyện tự nhiên, nhưng tôi già đi, tôi xấu đi, tôi đau lòng, tôi buồn lắm lắm.

Thong thả, chiều vàng thong thả lại,
Rồi đi, đông sám tới dần dần.
Cứ thế mà đi cho đến hết
Những ngày, những tháng, những mùa xuân.

Trăm năm thấm thoắt..
Trong một chớp mắt, một hơi thở..

Tout passe, tout casse, tout lasse

You told me you loved me, when we were young, one day.

Chúc Mừng Năm Mới.

Xin hẹn quí vị qua năm, ngày rộng, tháng dzài, tôi sẽ viết hầu quí vị toàn chuyện Tình c’est l’Amour, những chuyện TÌNH viết Hoa 4 chữ, Hoa luôn dấu Huyền, những bài tôi kết tội bọn Cộng sản cũng là những chuyện Tình: Tình Hận, Tình Người, Tình Nước.

Bài này là bài cuối cùng tôi viết trong năm Nhâm Tý.

Sáng mai trời đất vào Xuân
Thương thì thương nhé..

Xin quí vị làm tiếp cho 4 tiếng còn thiếu, để làm thành 2 câu Thơ 4 Món tròn trịa, ta cùng đón Xuân.

Đến đây tạm chấm dzứt Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục Nhâm Tý của Ban Tùm Lum!

Ai Về Hoàng Hải..?

Độc tại Kỳ Hoa vi nạn khách
Mỗi phùng Nguyên Đán bội thương sầu.

Sống ở Kỳ Hoa làm khách nạn,
Năm năm Tết đến lại thương sầu.
Thương về đâu, nhớ về đâu?
Hà Đông Công Tử bạc đầu Rừng Phong!

Năm tàn, tháng muộn, đất khách, nhớ quê, tuổi già, mấy câu thơ tìm thấy trên trang sách cũ làm tôi cảm khái. Tôi lấy mấy điện-thư – I-Meo – của bạn đọc tám phương trời, mười phương đất viết cho tôi và tôi dành bài 4 Món Ăn Chơi ngày cuối năm này để viết về TÔI.

I-Meo của bạn Tien Phung, gửi ngày May 15, 2008:

Trong Vong Tay Du DangKính Bác Công Tử Hà Đông,

Tôi năm nay Sáu Bó tuổi đời, từng đọc hầu hết những tiểu thuyết, phóng sự, những bài viết ngắn của bác trước và sau 1975. Với tôi bác là “Numero Uno“. Có một bài thơ tôi đọc đâu đó, dường như trên báo Văn Nghệ Tiền Phong, không nhớ có phải là thơ của bác hay của ai. Tôi nhớ mấy câu. Bài thơ như sau:

Như Chuyện Thần Tiên đã hết rồi
Máu Đen Vàng Đỏ chảy không thôi
Đỉnh núi Kiều Giang nghe gió lộng
Bẫy Yêu xập xuống, Gã Thâm ngồi

Tôi quên phần giữa. Chỉ nhớ hai câu cuối:

Ai về Hoàng Hải tim vang sóng
Khi Thủy Triều lên có nhớ người?

Xin Bác cho biết về bài thơ này.

HHThủy trả lới:

Kính bác Tiên Phụng.

Cám ơn bác khen tặng. Bài thơ ấy của tôi, làm về những tiểu thuyết tôi đã in báo, xuất bản thành sách. Đây là toàn bài thơ, tôi cũng nhớ lại, có thể không đúng lắm với bài thơ bác đã đọc:

NHƯ CHUYỆN THẦN TIÊN

Như Chuyện Thần Tiên đã kết rồi,
Máu Đen, Vàng Đỏ chẩy không thôi.
Đỉnh núi Kiều Giang nghe Gió Hú,
Bẫy Yêu sập xuống, Gã Thâm ngồi.
Người Yêu em có Đi Tìm bóng,
Còn nét Môi em Thắm Nửa Đời.
Ngoài Cửa Thiên Đường sầu chất đống
Chiếc Hôn Tử Biệt lạnh vành môi.
Bây Giờ Tháng Mấy, đời ngưng đọng
Bóng Tối Đen Hơn một nửa trời!
Ai về Hoàng Hải tim vang sóng
Khi Thủy triều lên, có nhớ Người?

Những tiểu thuyết viết, đăng báo trong những năm từ 1956 đến 1975, được xuất bản thành sách: Như Chuyện Thần Tiên, phóng tác The Scorpion Reef của Charles William, Máu Đen, Vàng Đỏ, truyện James Bond 007 của Ian Fleming, Đỉnh Gió Hú, phóng tác The Wuthering Heights của Emily Bronte, Kiều Giang, phóng tác Jane Eyre của Charlotte Bronte, Bẫy Yêu, truyện James Bond 007, Gã Thâm, phóng tác The Deep của Mickey Spillane, Đi Tìm Người Yêu, nguyên bản The Citadel của A.J. Cronin, Môi Thắm Nửa Đời, tiểu thuyết sáng tác, Ngoài Cửa Thiên Đường, phóng tác Malentendu của Boileau-Narcezac, Chiếc Hôn Tử Biệt, tiểu thuyết phóng tác thứ nhất, nguyên bản A Kiss before Dying của Ira Levin, Bây Giờ Tháng Mấy, Hồi ký, Đen Hơn Bóng Tối, nguyên bản Piège pour Cendrillon, tác giả Jose Giovanni.

Dinh Gio HuNhững truyện không được kể trong bài thơ rên đây: Người Yêu, Người Giết, nguyên bản La Seconde Souffle của José Giovanni, Bóng Người Áo Trắng, phóng tác The Lady in White của William Collins, truyện này không được xuất bản thành sách, Trong Vòng Tay Du Đãng, phóng tác No Orchid for Miss Blandish của James Hadley Chase, Định Mệnh An Bài, truyện của James Hadley Chase, phóng tác theo bản tiếng Pháp Retour de manivelle, Thầy Nô, Doctro No, và Phục Vụ Nữ Hoàng, Điệp Vụ Hỏa Cầu, Công Tác Đại K, truyện Điệp Viên James Bond 007 của Ian Fleming, Tình Mộng, viết theo phim Vacance Romaine, Nửa Kiếp Giang Hồ, quên tên nguyên bản, Tiếng Cười Trong Đêm Tối, phóng tác Laughter in the dark của Vladimir Nabokov, Hồng Loan, Hồng Ngọc, nguyên bản The Pink Panther, quên tên tác giả, Dữ Hơn Rắn Độc, nguyên bản Deadlier than the male, quên tên tác giả, Vòng Tay Yêu Tinh, quên tên truyện Mỹ, quên tên tác giả, Yêu Mệt, phóng tác tiểu thuyết Le Repos du Guerrier của Christiane Rochefort, Người Vợ Mất Tích, quên tên nguyên bản, Yêu Nhau Bằng Mồm, sáng tác, Gái Trọ, Vợ Chồng Son, hai truyện viết theo phim Hollywood.

Bản tổng kết này chưa có đủ tất cả những tên truyện của tôi.

Kính chúc bác và bảo quyền năm mới 2009 an khang.

Tien Phung, May 20th, 2008:

Nửa Kiếp Giang Hồ, nếu tôi nhớ không lầm, được làm thành phim xi-nê, tên phim tiếng Pháp là La Scoumoune, diễn viên Jean-Paul Belmondo trong vai chính, tiểu thuyết viết bằng tiếng Ý của Jose Giovanni.

Nguyễn V.N. May 26, 2008:

Cám ơn bác Hoàng Hải Thủy về những bài thơ văn phong Việt Nam chính hiệu. Cháu rất thích bài thơ “Căn nhà không có mùa xuân.”

Hoàng Hải Thủy. Jan 16, 2009.

Cám ơn bạn Nguyễn V.N. Xin tặng bạn bài “Căn nhà không có mùa xuân” tôi làm Tết 1977:

Căn Nhà Không Có Mùa Xuân

Ngày xưa tôi đọc thơ người lạ
Bài thơ sầu muộn một tình buồn.
Tôi nhớ ý thơ, không nhớ cả
Bài thơ tôi đọc một mùa xuân.

Mùa xuân xưa lắm, tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương, biết nợ nần.
Đời chỉ có hoa và mật ngọt,
Da thịt thơm mùi phấn ái ân.

Tôi đã buồn vương, đã cảm thương
Bài thơ sầu mộng ý như sương
Người yêu một tối rời nhân thế
Thi sĩ đau mê chuyện đá vàng.

Đóng cửa nhà xưa quên gió nắng
Đàn xưa để mặc nhện tơ dăng.
Năm mòn, tháng mỏi thời gian vắng,
Trong căn nhà không có mùa xuân.

Ở giữa căn nhà u tịch ấy,
Đời sống buồn trôi với tối tăm.
Cho đến một chiều nghe pháo nổ,
Người sống bừng cơn mộng cuối năm.

Tay gầy vén bức màn cô quạnh.
Nhìn ra thiên hạ đón xuân sang.
Mới biết từ đêm tình tuyệt mệnh
Căn nhà mình không có mùa xuân.

Từ đấy hoa tàn và khói lạnh,
Bóng tối trùm lên lưới nhện dăng.
Vĩnh viễn mùa xuân không trở lại
Trong căn nhà không có mùa xuân.

Năm nay mái tóc không xanh nữa,
Tôi đã đau thương, đã nợ nần.
Một tối rùng mình tôi cũng thấy
Sao nhà mình không có mùa xuân.

Sao nhà tôi không có mùa xuân?
Bạn ơi… người bạn mới qua đường
Xin dừng chân lại cho tôi hỏi
- Sao nhà tôi không có mùa xuân ?

bắcthần, August 25, 2008:

Em cũng chụp được một bài thơ khá hay từ trong một bài viết của Bác. Không biết tác giả là ai.

Tôi vẫn biết Em là người mộng
Em là tiên trên động Bồng Lai
Lỡ tay trong tiệc Dao Đài
Đánh rơi chén ngọc, đầu thai xuống trần.
Tôi vẫn biết tiền nhân, hậu quả
Tôi cùng Em nợ trả chưa xong
Tiên cung lòng tưởng nhớ lòng
Nhớ nhung Em xuống vợ chồng với tôi.
Tôi vẫn biết nghiệp trời có thế
Mười năm qua, trích lệ đã qua
Xe mây tung cánh hạc già
Bách thần mở tiệc hoàng hoa tẩy trần.
Vẫn biết đấy là xuân muôn thưở
Xuân ngàn năm rực rỡ không cùng
Nhưng nơi Nước Nhược, Non Bồng
Em còn tơ tưởng vợ chồng nhân gian ?

HHThủy thân gửi Bắc Thần: Tôi đọc bài thơ trên trong tập Báo Xuân 1952. Báo Số Tết 1952 của nhật báo Tia Sáng ở Hà Nội. Tôi đọc bài thơ một lần rồi nhớ mãi, nhưng quên mất tên tác giả. Thân chúc Em và gia đình vui mạnh trong năm mới.

Bạn Văn Băng Đình, Wychita, Kansas, làm bài Thơ Một Vần về Hoàng Hải Thủy:

Bẩy Bó Gân Gà.

Bẩy Bó Gân Gà Hoàng Hải Thủy
Nhóc tì Sông Nhuệ, lớn sông Nhĩ
Thành danh Vàm Cỏ sông Sàigòn
Lính tráng leo tới cấp Trung sĩ
Võ Trang Tuyên Truyền thưở bán khai
Tiền thân ngành Chiến Tranh Chính Trị
Thầy Đội khó nuốt cơm nhà banh
Tháo lon tự khoác nghiệp văn sĩ
Hóa thân bướm lượn cõi hoa hương
Làm văn chương ma, thi phú quỉ
Mà khiến người mê, khiến thần sầu
Chữ nghĩa vung vít thật phỉ chí
Sáng tác, tối tác, phóng tác luôn
Ngòi bút chẳng bao giờ tắc tị
Dẫu “Lời quê góp nhặt dông dài..”
Miễn góp tiếng cười vui một tí
Giặc vào..”Sắc đỏ rũa mầu xanh..”
Hoa tàn khám lạnh tưởng mút chỉ
Tại Ngục Vịnh Kiều thêm Phóng Dao
Chiếu phim bạn tù nghe mệt nghỉ
Mơ màng khói lửa hít tô phe
Tiên ông ép rệp bất đắc dĩ
Mấy bó cũng về một bó xương
Duy thưở trần ai có tri kỷ
Trẻ trung vay mượn lắm ân tình
Già lão nợ nần gậy với bị
Bánh xe lãng tử đến Rừng Phong
Hát Ô.. Hát Ô Vàng Mít Mỹ
Chữ nghĩa lại vào Hội Gió Mưa
Độc giả năm châu vẫn khoái tỉ
Xuân thu nhị kỳ gọi thăm nhau
Bạn rầu mần thơ sao vận bí
Này này ai có khác chi ai
Ta chán thi văn, nản hồi ký
Ta chán người, chán luôn cả ta
Cẩm như đồng bào chán đồng chí
Ta cũng nhiều phen bẻ bút thơ
Suy đi, xét lại song thầm nghĩ
Thân tàn, đời mạt kiếp lưu vong
Giấy rách khiến bao người hóa khỉ
Chỉ còn Nàng Thơ quấn quít ta
Chẳng rượu mà say đến túy lúy
Nhớ nhau gửi chút tình cho nhau
Bớ Hoàng Hải Thủy, chớ tịch hĩ !

BĂNG ĐÌNH. 30-3-2001

Tôi trở về với ý thơ đã gợi cho tôi viết bài Ai về Hoàng Hải chiều cuối năm nay:

Độc tại Kỳ Hoa vi nạn khách
Mỗi phùng Nguyên Đán bội thương sầu.
Sống ở Kỳ Hoa làm khách nạn,
Năm năm Tết đến lại thương sầu.
Thương về đâu, nhớ về đâu?
Hà Đông Công Tử bạc đầu Rừng Phong!

Kính chúc liệt quí vị và bảo quyến Năm Mới an khang, vui mạnh.

Khi Vui Thì Đậu (Bài 2)

Tran Le Xuan
Nhật báo SàiGòn Nhỏ, số ra ngày 15 Tháng Giêng, 2009, đăng bài “Có về đâu nữa Sài Gòn nghìn năm,” tôi viết về chuyện năm 1963, bà Trần Lệ Xuân, Dân biểu Quốc Hội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, trả lời phỏng vấn của nhà báo ở phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn, trước khi lên phi cơ sang Pháp, sang Mỹ làm “cuộc giải độc dư luận Âu Mỹ về tình hình Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà” . Mời quí vị đọc một đoạn trong bài viết đó:

Tối đầu thu, mưa gió trên Rừng Phong, tôi hoài tưởng một buổi tối năm xưa, năm 1963, vào giờ này — 9 giờ tối — tôi lên phi trường Tân Sơn Nhất, không phải để “đưa” mà để “xem” người ta đưa tiễn bà Dân biểu Trần Lệ Xuân đi “giải độc dư luận các nước Âu Mỹ“. Bà nói có nhiều người Âu Mỹ hiểu sai, biết sai về tình hình Quốc Gia VNCH. Tối ấy, trong phòng khánh tiết phi cảng, bà Lệ Xuân bận áo dài trắng hồng, ngồi trong cái ghế bành da nâu, phóng viên truyền thông bao quanh bà, những ánh đèn cực sáng được rọi vào bà để người ta quay phim bà. Một phóng viên báo chí hỏi bà dự định ở Pháp bao lâu, ở Mỹ bao lâu, bà trả lời bà chưa định, bà mỉm cười, nói:

- Tôi như con chuồn chuồn. Khi vui thì đậu, khi buồn thì bay…

Tran Le XuanLúc ấy tôi đứng ngay bên cạnh ghế của bà, nhờ ánh đèn sáng của máy quay phim tôi nhìn rõ những nếp răn nơi đuôi mắt bà, tôi nhìn rõ hàm răng của bà. Có lẽ trên cõi đời này hôm nay chỉ còn tôi là người duy nhất còn nhớ buổi tối năm xưa trước khi đi khỏi nước bà Trần Lệ Xuân nói câu phong dao Như Con Chuồn Chuồn đó.

Buổi tối ở phi cảng Tân Sơn Nhất ấy — Tháng 10, 1963 — cách hôm nay 45 năm. Nhiều người trong ảnh đã qua đời, bà Trần Lệ Xuận hiện sống trầm lặng ở Paris. Tháng 12 năm 2008, một trong những người từ nhiều năm thích đọc những bài tôi viết, gửi cho tôi khoảng 10 tấm ảnh ghi Cuộc Ra Đi Không Về của bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân ở phi cảng Tân Sơn Nhất. Dưới tấm ảnh bà Trần Lệ Xuân trả lời phỏng vấn — đăng cùng bài này — người gửi ảnh ghi câu hỏi:

- Công Tử kể ông đứng ngay cạnh bà Lệ Xuân! Sao trong ảnh này không thấy ông đâu cả?

Tôi — CTHĐ — hồi hộp xem kỹ bức ảnh trên màn hình computer. Xem đi, xem lại. Đúng là không có tôi đứng cạnh bà Trần Lệ Xuân — bên phải của bà — trong ảnh. Đau quá là đau. Tôi từng tiếc hận vài lần trong đời nhưng chưa bao giờ tôi tiếc hận vì chuyện tôi đã không bon chen len lách vào đứng bên ghế bà Lệ Xuân ngay từ phút đầu, khi phái viên Tạp Chí LIFE chụp bức ảnh này. Tôi có cái tật không giống ai là không thích bon chen. Khi người ta tranh nhau xúm lại quanh bà Trần Lệ Xuân, tôi đứng ở ngoài. Chỉ khi cuộc phỏng vấn đã gần xong, tôi mới đến đứng cạnh ghế bà Trần Lệ Xuân.

Tiếc ơi là tiếc. Cái Tiếc này không có Tiếc nào có thể Tiếc hơn.

Ảnh xưa gợi nhớ chuyện xưa, tôi đi một đường cảm khái:

Ấy ai như con chuồn chuồn,
Khi vui thì đậu, khi buồn thì bay?
Đẹp người mà nết lại hay.
Nhìn ai, ta nhớ những ngày vàng son.
Thương ai biển cạn, non mòn,
Có về đâu nữa Sài Gòn ngàn năm!

Bài viết đăng trên Nhật Báo SàiGòn Nhỏ, rồi đăng trên hoanghaithuy.com Take2Tango.com. Tôi nhận được một số ý kiến của quí vị bạn đọc về bài viết, về Bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân. Tôi mời quí vị đọc một số những điện thư ấy.

Một độc giả hoanghaithuy.com gửi thư cho tôi:

Chu, January 16, 2009:

Cháu nghĩ Bác Nhà Báo tiếc là phải, không phải là để “vinh váo chừng bao!” đâu, Bác chỉ khéo đùa. Thật đấy, nếu cháu là Nhà Báo thì cháu sẽ rất lấy làm thích thú được chụp ảnh với bà Trần Lệ Xuân. Cháu thích đứng gần những người có tư cách, dù chỉ vài ba giây phút phù du.

Bà Trần Lệ Xuân, một đời đã qua hay cũng sắp qua, bây giờ càng nhìn lại càng thấy là một người có tư cách đáng nể. Và như Bác Nhà Báo viết, bà đúng là “Vị Đệ Nhất Phu Nhân duy nhất của Việt Nam từ bốn mươi nămxưa.”

Dưới đây là một số điện thư trích từ Take2Tango.com:

Thư của độc giả Trinh Hoàng.

Đọc bài viết của ông HHT về Bà Trần Lệ Xuân tôi cảm thấy ngậm ngùi, thương tiếc cho bà Trần Lệ Xuân, một phụ nữ tài ba, đức hạnh mà phải chịu những đối xử độc ác, bất công của những kẻ ngu muội. Từ xưa đến nay, tôi không thấy một phụ nữ Việt Nam nào vượt trội hơn bà Trần Lệ Xuân về mặt đàn bà và đức hạnh.

Thư cuả độc giả Bacho.

Kính ông HHT. Con chuồn chuồn “Đẹp người mà nết lại hay” của ông, theo tôi chính là một trong những nguyên nhân làm cho gia đình họ Ngô phải tan nát, sụp đổ. Tôi thấy ông quá khen bà ta với danh vị “Đệ Nhất Phu Nhân”. Toàn thể nhân dân Việt Nam thời bấy giờ không ai có một chút thiện cảm với người đàn bà này, nhất là sau khi bà tuyên bố các vị sư Phật giáo tự thiêu là một cuộc BARBECUE. ( Chắc ông còn nhớ đoạn phim này, nếu quên, mời ông xem trong YouTube sẽ rõ.) Gia đình bà đã cố tình biến hóa nước Việt Nam theo đướng hướng Thiên Chuá Giáo ( cấm ăn thịt heo ngày Thứ Sáu, cấm Ly dị.) Đó là những biểu hiệu ĐỘC TÀI của gia đình họ Ngô. Cái gì cũng có nhân, có quả, ông HHT ạ.

Thư cuả độc giả Nguyễn Văn Tàng.

Đọc mấy câu kết của ông HHT tôi thấy bà Ngô Đình Nhu tự ví mình “như con chuồn chuồn” quả là siêu. Con chuồn chuồn người Mỹ gọi là “dragonfly“, ta có thể cho sang tiếng Việt là “con rồng bay.” Chỉ cần một câu nói thôi cũng đủ nói lên nguồn gốc cuả dân Việt là “con rồng, cháu tiên.” Dễ mấy ai sâu sắc được như bà Trần Lệ Xuân.

Tuy nhiên, ngay từ ngày xưa ấy, tôi đã không chấp nhận cái mà thiên hạ (các ông nhà báo) bơm, thổi, nịnh bà Trần Lệ Xuân với cái danh xưng “Đệ Nhất Phu Nhân.” Tiếng Mỹ “First Lady” chỉ dành cho Phu nhân của Tổng Thống. Bà TL Xuân là vợ ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, còn Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì giữ mình “trong trắng” để phục vụ quốc gia, dân tộc. Vì vậy nếu gọi bà TL Xuân là “Đệ Nhất Phu Nhân” thì quả là mang tiếng cho TT Ngô Đình Diệm và cho cá nhân bà TL Xuân. Ta có câu “nâng quá hóa thốn,” tôi nghĩ bà Dân biểu Trần Lệ Xuân chắc phải “đỏ mặt, tía tai” mỗi khi nghe người ta gọi mình là “Đệ Nhất Phu Nhân.”

Thư của bạn Phụng Ng.

Thưa ông Tàng. Sao ông hiểu tiếng Đệ Nhất Phu Nhân hẹp quá thế? Dù bà Trần Lệ Xuân không phải là bà vợ Tổng Thống Ngô Đình Diệm nhưng công việc giúp Tổng Thống tiếp đón phu nhân của những vị quốc khách từ các nước bạn đến thăm Việt Nam Cộng Hòa thì đó là việc của bà Đệ Nhất Phu Nhân. Xin ông biết cho tác giả HHT không viết về “danh vị” mà viết về “chức vụ” của bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân khi bà giúp ông Tổng Thống chu toàn việc nước. Ông dễ “đỏ mặt” quá đấy.

Thưa ông Bacho. Mới hơn 40 năm mà lịch sử đã soi sáng được đôi điều, tôi mong ông trường thọ để chứng kiến những sự việc sẽ xẩy ra sau thời gian đất nước ta có nhiều nhiễu nhương. Riêng về việc làm Luật của bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân, xin ông nhìn nó trong bối cảnh xã hội Việt Nam cách nay gần nửa thế kỷ, xin nhớ lại vai trò của người phụ nữ Việt thời ấy trong gia đình, ngoài xã hội. Là người phụ nữ mới trưởng thành tôi thấy Luật Bảo Vệ Hôn Nhân, Cấm Đa Thê năm xưa đó là những luật thực sự bảo vệ chúng tôi, hơn là bây giờ người ta nói phụ nữ chúng tôi được tự do tuyệt đối, tự do cả trong việc giết trẻ sơ sinh, giết cả con chúng tôi sinh ra. Về chuyện tôn giáo, tôi thấy ông chưa hiểu đến nơi, đến chốn.

Thư của độc giả Nước Mắt Mùa Xuân.

Giữa bà Trần Lệ Xuân và bà Đặng Tuyết Mai, tôi ngưỡng mộ và tôn trọng bà Trần Lệ Xuân. Nhân vô thập toàn. Dù sao bà Trần Lệ Xuân cũng xứng đáng với danh vị Đệ Nhất Phu Nhân hơn bà Đặng Tuyết Mai dù bà TL Xuân còn rất trẻ khi gia đình họ Ngô bị tai hoạ, bà đã sống ẩn dật trong khi bà ĐT Mai lộn ổ, lấy đệ tử của phu quân, từ Phu nhân xuống hạng ca sỹ loại Z, bon chen, đua đòi với bọn con cháu. Bà ĐT Mai còn dám vác mặt về VN làm trò chơi rẻ tiền mong được nổi đình đám, không như bà TL Xuân “Có Về Đâu Nữa Sài Gòn nghìn Năm.” Nhân cách, danh tiếng bà TL Xuân in đậm trong trí nhớ người dân trong khi bà ĐT Mai không có một chút gì gọi là sĩ diện của một Cựu Phu Nhân Phó Tổng Thống.

Thư của độc giả Trần Đăng Khoa.

Bà Trần Lệ Xuân và bà Hillary Clinton có nhiều điểm giống nhau. Hai bà là những phụ nữ có tài góp sức cùng ông chồng lo việc nước. Bà Hillary Clinton là Thượng Nghị Sĩ First Lady, Bà Trần Lệ Xuân là Dân biểu tuy không phải là First Lady xong bà đảm trách công việc đó trong thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Cái không may cho bà TL Xuân là bà sống và làm việc nước trước thời đại, xã hội Việt Nam lúc đó còn phong kiến, người Việt chưa chấp nhận việc đàn bà làm chính trị. Người ta phê phán từng lời phát biểu của bà mặc dù là dân biểu, bà có quyền lên tiếng, những kẻ phản phúc giúp sức ngoại nhân làm đảo chính, giết chết anh em ông Tổng Thống, rồi đổ tội oan cho bà là nguyên nhân của đảo chính.

Sau khi ông chồng chết, bà Ngô Đình Nhu tay trắng, chẳng có tài sản gì. Ông Ngô Đình Nhu thanh liêm. Hãy so sánh tài sản của hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu với tài sản của những người trong Bộ Chính Trị Đảng Cộng sản Việt.

Tôi ở tuổi con bà Trần Lệ Xuân, tôi rất ngưỡng mộ bà. Cám ơn ông HHT đã viết bài này. Cám ơn người ghi những bức ảnh quí giá về bà Trần Lệ Xuân. Tôi nghĩ toàn dân Việt cũng nghĩ như tôi: kính trọng Tổng Thống Ngô Đình Diệm, kính và thương bà Ngô Đình Nhu-Trần Lệ Xuân.

Mong bà Trần Lệ Xuân lên tiếng nói chuyện với chúng tôi, dù bà không muốn, dù chỉ một lần.

Thư của độc giả Mai X Nguyễn.

Cám ơn Công Tử Hà Đông về bài viết thật cảm động. Tôi xin gửi đến bà Ngô Đình Nhu — Trần Lệ Xuân lòng ngưỡng mộ và kính trọng của tôi. Xin Thiên Chuá bảo toàn bà và quí gia đình.

Ngưng trích Điện thư Take2Tango.com.

Tôi nhắc lại lời ông Trần Đăng Khoa:

Mong bà Trần Lệ Xuân lên tiếng nói chuyện với chúng tôi, dù bà không muốn, dù chỉ một lần.”

Đi một đường cảm khái, tôi có mấy lời Thơ:

Cùng một lứa bên trời lận đận,
Nhìn ảnh nhau càng thấy thuơng nhau.
Từ xa Nước Cũ bấy lâu,
Kỳ Hoa, Pháp Quốc gối sầu hôm mai.
Nhớ ai rồi lại thương ai.
Không duyên nợ cũng thương hoài trăm năm.

Năm Tàn Đời Lạnh

Kieu Phong
 
Sáng cuối năm, mở Internet, làm việc check mail, thấy i-meo:

kiềuphong1109, January 12th, 2009:

Hôm nay đọc được bài này về kiềuphong hay quá. Cảm ơn bạn về bài viết. Mình cũng thấy nhân vật Kiều Phong rất hay nên chọn Kiều Phong làm nick name. (http://www.kieuphong.net)

CTHàĐông: Cái tên Kiều Phong làm tôi nhớ, nghĩ ngay đến ông Ký Giả – Thi sĩ Kiều Phong Cao Tần hiện ở Caly Xứ Vàng Y. Ông Kiều Phong dùng bút hiệu Kiều Phong từ những năm 1965 trên các báo Sài Gòn, sang Kỳ Hoa, ông vẫn dùng bút hiệu Kiều Phong cho những bài viết của ông.

Ông Kiều Phong tác giả Meo “kiềuphong1109” đọc bài viết về Kiều Phong trong Trang Nhà “www.hoanghaithuy.com“. Đó là bài “Bắc Kiều Phong” trong tập Thiên Long Tình Sử, viết về những nhân vật trong tiểu thuyết Thiên Long Bát Bộ, ông thích bài viết, ông gửi Meo bầy tỏ sự đồng ý của ông với bài viết.

Đây là một đoạn trích trong bài “Bắc Kiều Phong“:

Khi những ân oán giang hồ diễn ra trong Thiên Long Bát Bộ, triều đại nhà Tống đang trên dốc suy vong, Trung Quốc sắp bị ngoại nhân — Nhà Nguyên, Mông Cổ — chinh phục và đô hộ. Những anh người Hán từ ngàn xưa vẫn tự phụ, tự phong đất nước mấy ảnh là nước trung tâm vũ trụ — Trung Quốc — tất cả những nước khác đều là phụ thuộc giống như hàng rào, phên dậu, tất cả những giống dân khác đều là Man, Di, Nhung, Địch .. — nôm na là Mán, Mọi — thua xa dân Hán mấy ảnh.

Tự kiêu vậy mà trong lịch sử hai ngàn mùa lá rụng dân Hán mấy ảnh bị ngoại nhân đô hộ những hai lần. Lần đầu mấy ảnh mất nước vì Nhà Nguyên Mông Cổ, lần thứ hai mấy ảnh mất nước vì Nhà Thanh Mãn Châu.

Kiều Phong — cùng Du Thản Chi — là hai nhân vật đau khổ, bất đắc chí nhất Thiên Long. Được người Hán nuôi dưỡng trên đất Hán, Kiều Phong vẫn tự hào chàng là người Hán, vẫn thù và khinh bỉ dân Khiết Đan. Chàng yêu nước và sẵn sàng chết vì Trung Quốc nhưng chàng bị đất nước Trung Hoa và dân Hán ruồng bỏ, khinh bỉ, thù hận vì chàng là người Khiết Đan. Trời đất mênh mang nhưng Kiều Phong, con người bất đắc chí ấy, không những chỉ không có ai là tri kỷ mà còn không có cả đất để đặt chân.

Võ lâm Thiên Long có câu: “Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung..” Người võ công cao nhất miền Bắc Trung Hoa là Kiều Phong, người võ công cao nhất miền Nam Trung Hoa là Mộ Dung Phục. Mộ Dung Công Tử làm người đọc thất vọng còn cuộc đời ái tình và sự nghiệp của Kiều Phong làm người đọc cảm khái. Nhân vật đại hiệp bản lĩnh võ công lệch đất, nghiêng trời không một lần chiến bại cuối cùng phải tìm cái chết để tránh định mệnh của mình.

Đại hiệp sống vì sự tồn vong của Cái Bang và của Trung Quốc, Đại Hiệp sống không cần có Tình Yêu, không cần đàn bà. A Châu yêu Kiều Phong, Kiều Phong thương A Châu nhiều hơn là chàng yêu nàng. Cho đến khi chàng chết dưới núi Thiếu Thất, Kiều Phong vẫn không biết A Tử yêu chàng.

KIỀU PHONG

Cái Bang Bang Chủ vị chí tôn
Lý lịch sưu tra: Rợ Khiết Đôn.
Đi khắp Thiên Long không chiến bại
Bắc Kiều Phong, tuyệt thế võ công.
Đào hoa nhưng dại không mê gái
Mã phu nhân xuân sắc phải lòng.
Nàng yêu mù tịt không yêu lại
Danh liệt vì đâu, có biết không?
Kiều đã không xong, Tiêu tất vong
Nghiêng trời bản lĩnh cũng long đong.
Đã Thím A Châu thừa vất vả
Sẵn Dì A Tử lại đèo bòng
Hươu vẫn đợi người về đuổi thỏ
Nhạn môn quan nhạn vẫn phiêu bồng.
Anh hùng khó vượt tình nhân ải
Em vợ yêu, Anh có sướng không?

Ngưng trích Thiên Long Tình Sử, mời quí vị đọc 2 bài thơ của ông Thi sĩ Cao Tần, ông này là anh em cùng vợ với ông Ký giả Kiều Phong. Sang Kỳ Hoa, ông Kiều Phong làm thơ, ký bút danh Cao Tần. Thơ ông – nghe nói – nổi đình đám ở Kỳ Hoa những năm 1980-1990, nhất là trong thời gian trong công đồng người Việt tị nạn Cộng sản ở Kỳ Hoa có phong trào võ trang trở về nước phục quốc. Ở đây tôi trích đăng 2 bài thơ năm xưa của Thi sĩ Cao Tần:

Ta Làm Gì Cho Hết Nửa Đời Sau ?

dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn
gánh sơn hà toan chất thử lên vai
chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn
dọn tinh thần : cưa nhẹ đỡ ba chai

rừng đất khách bạt ngàn màu áo trận
xong hiệp đầu mây núi đã bâng khuâng
hào khí bốc đủ mười thành chất ngất
chuyện vá trời coi đã nhẹ như không

một tráng sĩ vung ly cười ngạo mạn
nửa đời xưa ta trấn thủ lưu đồn
nay đất khách kéo đời tàn rất nản
ta tính sẽ về vượt suối trèo non…

sẽ có lúc rừng sâu bừng chuyển động
những hùm thiêng cựa móng thét rung trời
và sông núi sẽ vươn mình trỗi dậy
và cờ bay trên đất nước xanh tươi

một tráng sĩ vô êm chừng sáu cối
ThầnTự Do giờ đứng ở nơi nào?
ta muốn đến leo lên làm đuốc mới
tự đốt mình cho lửa sáng xem sao …

Thần Tự Do giơ hoài cây đuốc lạnh
ta tiếc gì năm chục ký xương da
sẽ làm đuốc soi tìm trong đáy biển
những oan hồn ai bỏ giữa bao la…

bình minh tới một chàng bừng tỉnh giấc
thấy chiến trường la liệt xác anh em
năm tráng sĩ bị mười chai quất gục
đời tha hương coi bộ vẫn êm đềm

sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
những hào hùng uất hận gối lên nhau
kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới :
‘Ta làm gì cho hết nửa đời sau ?’

CTHĐ: Dưới bài thơ có hàng chữ “Tháng 3.1977.” Như dzậy là ở Kỳ Hoa, đầu năm 1977, đã có những người Việt có ý định mang súng trở về lấy lại quê hương? Tháng 3, 1977, ở quê hương trời đất, ngày đêm, chỉ có một mầu Sám Sịt, cả những giấc mơ của người Việt Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà cũng sám sịt một mầu. Tháng 3, 1977, tất cả các sĩ quan, tướng lãnh quân đội nước tôi, các vị dân biểu, tổng trưởng, bộ trường, thẩm phán, các vị lãnh tụ tôn giáo, đảng phái chính trị, những vị văn, thi sĩ nước tôi, cả triệu người, quằn quại trong gông cùm ngục tù cộng sản. Xin cho tôi viết riêng tư chút síu: Trong Tháng 3, 1977, tôi thâý — mắt tôi nhìn thấy: như thị ngã kiến — các vị Thượng Toạ Quảng Độ, Thượng Toạ Huyền Quang, Linh mục Nguyễn Văn Vàng, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn, Học giả Hồ Hữu Tường, Chủ Báo Đồng Nai Huỳnh Thành Vị, Chủ Báo Quyết Tiến Hồ Văn Đồng, Chủ Báo Đại Dân Tộc Võ Long Triều, ông Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin Lê Khải Trạch, Nhà Thầu Trần Ngọc Trình bị bọn Công An Thành Hồ bắt giam trong Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu; tháng ấy, năm ấy – Tháng 3, 1977 – tôi – CTHĐ – nằm phơi rốn trong Xà-lim Số 6 Khu C1 Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu.

Tháng 3, 1977, nhiều vị người Việt ở Kỳ Hoa họp nhau tính chuyện trở về lấy lại quê hương, hào khí bừng bừng, các vị uống rượu, và:

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.

Rượu vào, trời đất vào theo. Lẽ tự nhiên là thế. Các sị say, các vị ngủ, sáng dậy, các vị quên. Đâu có sao. Với tôi, việc sống yên ổn ở xứ người, các vị nhớ, nghĩ đến quê hương, muốn về chiếm lại quê hương, làm tôi ấm lòng. Hơn là các vị ở xứ người sẵn rượu, no đủ, các vị họp nhau uống say, các vị vui hưởng lạc thú sự đời, các vị “lạc bất tư Việt“, các vị chẳng tưởng nhớ gì đến quê hương. Chỉ có điều có một lời Thơ Cao Tần làm tôi bất nhẫn, tôi ngậm ngùi là tại sao Thi sĩ lại gọi những người Việt mơ chuyện trở về chiếm lại quê hương ấy là “dăm thằng khùng“? Theo tôi, “thằng khùng” tưởng nhớ quê hương “người” hơn những “thằng tỉnh” mà phủi đít, qua biển đấm b. vào nước cũ.

Thơ Cao Tần làm tôi nghĩ lan man đến chuyện nếu Ngày 30 Tháng Tư 1975 tôi bỏ nước chạy thoát được người, sang Kỳ Hoa, nững năm 1976, 1977, 1978, tâm trạng tôi ra sao? Tôi nghĩ gì về quê hương, về thân phận tôi? Tôi làm những trò gì? Tôi nói những lời gì? Tôi sống có khá hơn mấy ông Chiến Sĩ Johnny Walker trong Thơ Cao Tần hay tôi sống tệ hơn?

Đó là đề tài khác. Phải có một bài viết về chuyện ấy. Xin hẹn quí vị ở bài sau. Nay, mời quí vị đọc lại bài Thơ thứ hai của Thi sĩ Cao Tần:

Thư Quê Hương

Thư quê hương như tên hề ốm nặng
Hồn tang thương sau mặt nạ tươi cười
Son phấn hân hoan phủ nghìn cay đắng
Mắt lệ đầy, miệng hát những lời vui …

Ta biết thư em vượt muôn cửa ải
Mắt sài lang soi nát cả linh hồn
Em chẳng được khóc cùng ta bằng chữ
Thì gửi chi dăm khẩu hiệu buồn nôn?

Gửi cho anh vài sợi tóc mẹ già
Rụng âm thầm trên hiên chiều hiu quạnh
(Nuôi một bầy con cuối đời vẫn lạnh)
Cho anh hôn ơn nặng một thời xa …

Anh muốn thở mùi nhọc nhằn nô lệ
Gửi cho anh manh áo rách con thơ
Con chào đời: ta rừng sâu lính trẻ
Ta non cao, con tập nói u ơ …
Giờ bước đầu đời chân non vấp ngã
Sao nâng con qua triệu lớp sương mù?

Gửi cho anh viên sỏi nhỏ bên đường
Anh sẽ đọc ra trăm nghìn lối cũ
Gửi cho anh vài nhánh cỏ quê hương
Anh sẽ đọc đất trời ta đã thở …

Và gửi cho anh một tờ giấy trắng
Thấm nước trời quê qua mái dột đêm mưa
Để anh đọc: Mênh mông đời lạnh vắng
Em tiếc thương hoài ấm áp gối chăn xưa …

CTHĐ: Hai bài Thơ Cao Tần ghi lại được cảnh sống, tâm trạng, cảm xúc của một số đông người Việt bỏ nước chạy sang Kỳ Hoa những năm từ 1980 đến 1990. Với tôi, Thơ dzậy là Hay dzồi. Tôi không đòi – tôi không có quyền đòi – gì nhiều hơn ở Thơ của những người Việt sống ở hải ngoại. Lại hẹn với quí vị trong một bài khác tôi sẽ kể với quí vị chuyện những người Việt bị kẹt trong nước viết thư ra nước ngoài trong 10 năm sau năm 1975. Nay xin thưa với quí vị:

Người viết Meo “kiềuphong 1109” không phải là ông Kiều Phong – Cao Tần ở Caly, Xứ Vàng Y. Tôi dzô http://www.kieuphong.net xem, thấy ông Kiều Phong này ở trong nước; “kieuphong.net” chuyên về quảng cáo hoá phẩm.

Đến đây chấm dzứt Chương Trình của Ban Tùm Lum!

Có Về Đâu Nữa Sài Gòn Ngàn Năm

Tran Le Xuan   Bánh xe lãng tử muộn màng năm 1995 đưa tôi sang Kỳ Hoa, khoảng năm 2000 tôi, ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, viết bài “Như Con Chuồn Chuồn” về bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân. Hôm nay, một ngày đầu năm 2009, tôi trích vài đoạn trong bài viết ấy mời quí vị đọc: * Người sống sót trong tai họa ghê rợn của nhà Ngô Đình là bà Trần Lệ Xuân, bà vợ ông Ngô Đình Nhu. Trước ngày xảy ra cuộc đảo chính một tháng, với tư cách Dân Biểu Quốc Hội VNCH, bà Trần Lệ Xuân rời Sài Gòn đi Pháp, bà nói bà đi làm “cuộc giải độc dư luận các nước Tây phương về tình hình chính trị VN“; bà nói nhiều người Âu Mỹ hiểu sai tình trạng đang xẩy ra ở VNCH. Bà dự định sau thời gian ở Pháp bà sẽ sang Hoa Kỳ. Chín giờ tối một ngày cuối thu ở phòng khánh tiết phi trường Tân Sơn Nhất, trước khi lên phi cơ bay đi, bà Lệ Xuân nói câu cuối với các phóng viên báo chí đến đưa tiễn bà khi có người hỏi bà dự định sẽ ở lại bao lâu ở Pháp, bao lâu ở Mỹ:

Tôi như con chuồn chuồn Khi vui thì đậu, khi buồn thì bay…

Tran Le XuanBà đi, và như con chuồn chuồn bay đi, không bao giờ bà trở lại Sài Gòn, nơi một thời gian dài bà là Đệ Nhất Phu Nhân; theo tôi bà là vị Đệ Nhất Phu Nhân duy nhất của Việt Nam Gần bốn mươi năm qua — ( tôi viết bài này năm 2000 ) — tôi vẫn nhớ hình ảnh thanh tú, sắc xảo của bà Lệ Xuân trong những cuộc họp báo của bà. Tôi chỉ gặp bà, đúng hơn là tôi chỉ nhìn thấy bà, nghe bà nói, trong những lần bà mở cuộc hội báo. Tôi không một lần thấy bà ở nơi nào khác. Thời bà là Đệ Nhất Phu Nhân, tôi là phóng viên nhật báo Sàigònmới, bà Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, bà chủ báo của tôi, vì muốn lấy lòng bà Lệ Xuân nên rất chăm đi dự những cuộc hội báo của bà Lệ Xuân. Và tôi, là phóng viên báo Sàigònmới, tôi bắt buộc phải đến dự những cuộc họp báo của bà Trần Lệ Xuân để viết bài tường thuật. Trong những lần xuất hiện nơi công chúng bà Lệ Xuân thường mặc áo dài mầu trắng hoặc mầu hồng nhạt. Ngoài việc “lăng xê” mốt “áo dài hở cổ”, bà là người khởi đầu phong trào các bà mệnh phụ phu nhân Sài Gòn mang nữ trang bằng ngọc thạch. Các bà nhà giầu Sài Gòn trước đó vẫn mang nữ trang kim cang, bắt chước bà Lệ Xuân, các bà mới chơi nữ trang ngọc thạch. Trong một cuộc hội báo ở phòng khánh tiết Tòa Đô Chánh Sài Gòn, tôi thấy bà Lệ Xuân mang ở hai cổ tay mỗi cổ tay một chiếc vòng ngọc thạch. Thường thì các bà, các cô Việt Nam chỉ mang ở cổ tay trái một chiếc vòng ngọc. Tran Le XuanBà Lệ Xuân, với tư cách dân biểu quốc hội, là tác giả luật cấm phụ nữ Việt hành nghề mãi dâm và luật cấm đàn ông Việt có vợ bé, cấm ly dị. Bà là người phụ nữ Việt Nam bị người đời phỉ báng nặng nhất lịch sử. Người cùng thời kháo nhau rất nhiều chuyện không đẹp về đời tư của bà. Anh Đạo Văn Hoàng Trọng Miên viết cả một quyển truyện năm, bẩy trăm trang để mạ lỵ bà. Truyện Đệ Nhất Phu Nhân của anh ăn cắp văn Hoàng Trọng Miên được đăng trên nhật báo Quyết Tiến, Sài Gòn, được in thành sách, được tái bản ở Hoa Kỳ. Tôi thương bà Trần Lệ Xuân. Bà phải sống để chịu quá nhiều kỷ niệm đau thương và ghê rợn. Tối đầu thu, mưa gió trên Rừng Phong, tôi hoài tưởng một buổi tối năm xưa, năm 1963, cũng vào giờ này- 9 giờ tối – tôi lên phi trường Tân Sơn Nhất, không phải để “đưa” mà để “xem” người ta đưa tiễn bà Dân biểu Trần Lệ Xuân đi “giải độc dư luận các nước Âu Mỹ”. Tối ấy, trong phòng khánh tiết phi cảng, bà Lệ Xuân bận áo dài trắng hồng, ngồi trong cái ghế bành da nâu, phóng viên truyền thông bao quanh bà, những ánh đèn cực sáng được rọi vào bà để người ta quay phim bà. Một phóng viên hỏi bà dự định ở Pháp bao lâu, ở Mỹ bao lâu, bà trả lời bà chưa định, bà mỉm cười nói:

Tôi như con chuồn chuồn. Khi vui thì đậu, khi buồn thì bay…

Lúc ấy tôi đứng ngay bên cạnh ghế của bà, nhờ ánh đèn sáng của máy quay phim tôi nhìn rõ những nếp răn nơi đuôi mắt bà, tôi nhìn rõ hàm răng của bà. Có lẽ trên cõi đời này hôm nay chỉ còn tôi là người duy nhất còn nhớ tối năm xưa trước khi đi khỏi nước bà Trần Lệ Xuân nói câu phong dao Như Con Chuồn Chuồn đó. Buổi tối năm 1963 ấy cách buổi tối hôm nay gần bốn mươi năm. Năm ấy bà Trần Lệ Xuân ba mươi tám tuổi, tôi ba mươi tuổi. Ngưng trích Bài Xưa viết năm 2000, tôi viết những dòng mới: Như quí vị vừa đọc, trên giấy trắng, bằng mực đen, tôi kể :

Lúc ấy tôi đứng ngay bên cạnh ghế của bà, nhờ ánh đèn sáng của máy quay phim tôi nhìn rõ những nếp răn nơi đuôi mắt bà, tôi nhìn rõ hàm răng của bà.

Buổi tối ở phi cảng Tân Sơn Nhất ấy — Tháng 10, 1963 — cách hôm nay 45 năm. Nhiều người trong ảnh đã qua đời, bà Trần Lệ Xuận hiện sống trầm lặng ở Paris. Tháng 12 năm 2008, một trong những người từ nhiều năm thích đọc những bài tôi viết, người tôi xưng tụng là Nữ Hiệp Vương Ngọc Anh, cô em của Nữ Hiệp Vương Ngọc Yến, người đẹp Thiên Long biết tất cả những bí kíp võ công trong thiên hạ, gửi cho tôi khoảng 10 tấm ảnh ghi Cuộc Ra Đi Không Về của bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân ở phi cảng Tân Sơn Nhất. Dưới tấm ảnh bà Trần Lệ Xuân trả lời phỏng vấn — đăng cùng bài này – Nữ Hiệp Vương Ngọc Anh ghi câu hỏi:

Công Tử kể ông đứng ngay cạnh bà Lệ Xuân! Sao trong ảnh này không thấy ông đâu cả?

Tôi — CTHĐ — hồi hộp xem kỹ bức ảnh trên màn hình computer. Xem đi, xem lại. Đúng là không có tôi đứng cạnh bà Trần Lệ Xuân — bên phải của bà — trong ảnh. Đau quá là đau. Tôi từng tiếc hận vài lần nhưng chưa bao giờ tôi tiếc hận vì chuyện tôi đã không bon chen len vào đứng bên ghế bà Lệ Xuân ngay từ phút đầu, khi phái viên Tạp Chí LIFE chụp bức ảnh này. Tôi có cái tật không giống ai là không thích bon chen. Khi người ta tranh nhau xúm lại quanh bà Trần Lệ Xuân, tôi đứng ở ngoài. Chỉ khi cuộc phỏng vấn đã gần xong, tôi mới đến đứng cạnh ghế bà Trần Lệ Xuân. 50 năm cuộc đời, hôm nay tôi mới biết việc đêm xưa ấy khi bà Trần Lệ Xuân sắp đứng lên đi ra phi cơ tôi đến đứng gần bà là việc tôi thầm lặng chào bà. Trong ảnh, ông bận veston đen, mang kính cận trắng, ngồi bên trái bà Trần Lệ Xuân là ông Trần Tấn Quốc, Chủ nhiệm-Chủ Bút Nhật Báo Tiếng Dội. Người thanh niên bận veston sám đứng sau, bên trái bà Trần Lệ Xuân, bên phải ông Trần Tấn Quốc, là Ký gỉa Phan Nghị, Nhật báo Ngôn Luận. Ký giả Phan Nghị, ông Chủ Báo Trần Tấn Quốc, đã ra người thiên cổ. Tôi, sống lưu đày ở Xứ Người, tôi tiếc hùi hụi, tôi tiếc ơi là tiếc: 45 năm xưa — trăm năm một thưở — tôi đã dzô dzang đến cái độ lởm khởm không chịu bon chen, nên không có tôi trong bức ảnh tôi cho là Ảnh Lịch Sử. Nếu ảnh có tôi, hôm nay tôi trưng ảnh lên trang báo này để khoe với quí vị — vinh váo chừng bao! Nhưng buổi tối 45 năm xưa làm sao tôi biết, làm sao tôi ngờ, 45 năm sau, trong những ngày cuối đời tôi, tôi tiếc ngẩn ngơ vì buổi tối 45 năm xưa tôi đã không chịu chen vào đứng bên ghế bà Trần Lệ Xuân! Tiếc ơi là tiếc. Cái Tiếc này không có Tiếc nào có thể Tiếc hơn. Tôi từng viết tôi chỉ thấy bà Trần Lệ Xuân bận áo dài Việt Nam, tôi không thấy, dù một lần, bà bận âu phục — robe đầm, jupe, sơ-mi, áo pull, quần jeans — Ấy là tại tôi không được thấy. Bà Trần Lệ Xuân khi bà bận âu phục, như trong ảnh bà đứng với ông Ngô Đình Nhu, ông chồng bà, ở Đàlạt năm xưa. Ảnh xưa gợi nhớ chuyện xưa, tôi đi một đường cảm khái:

Ấy ai như con chuồn chuồn, Khi vui thì đậu, khi buồn thì bay? Đẹp người mà nết lại hay. Nhìn ai, ta nhớ những ngày vàng son. Thương ai biển cạn, non mòn, Có về đâu nữa Sài Gòn ngàn năm!

Cây Đu Tết

Nhún mình như thể nhún đu,
Càng nhún càng dẻo, càng đu càng mềm…

Danh DuCâu ca dao về chuyện đánh đu ở những làng quê miền Bắc ngày xưa. Lời ca dao quá đỗi gợi tình: “Nhún mình như thể nhún đu..!” “Nhún” như là “dún.” Trò chơi đánh đu của nhân dân ta nay không còn nữa. Những người Việt mai sau chỉ được biết sơ sơ về trò đánh đu được tả trong những trang sách, trong thơ văn, có thể mai đây có những làng quê miền Bắc tổ chức trò đánh đu ngày Tết để nhớ lại những trò chơi của ông cha, hay một nhà làm phim cho diễn lại cảnh đánh đu để thu vào phim tài liệu. Ngày xưa, những năm trước năm 1940, nhiều làng quê miền Bắc ngày Tết có trồng cây đu cho trai gái trong làng lên đánh đu, có tổ chức cuộc thi đánh đu, người nào rướn đu cao nhất là được giải. Cây đu thường được trồng ở trước sân đình, hay ở bãi cỏ đầu làng.

Những người ra đời trước tôi 15, 20 tuổi, như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Phạm Duy, Hoàng Cầm, Vũ Bằng.. vv.. chắc có được thấy cảnh đánh đu ngày Tết bẩy, tám mươi năm xưa. Hoàng Cầm làm thơ về Đu:

Thi đánh đu

Luồn tay ôm say giấc bay lay đỉnh núi
Tuột hàng khuy lơi yếm, tóc buông mành
Đùi chẩy búp dài thon nhún vội
Bàng hoàng tia chớp liệng ngang xanh

Đánh đu là trò chơi ngày Tết của dân quê. Không phải bất cứ lúc nào muốn người dân quê cũng có thể chơi trò đánh đu. Trò đánh đu chỉ được tổ chức vào những ngày Tết Nguyên Đán. Tôi không một lần được tận mắt nhìn thấy cây đu với người đánh đu, dù chỉ là nhìn thấy một lần. Tôi sinh trưởng ở thành phố, những ngày tôi còn nhỏ, trước năm 1945, mỗi năm tôi chỉ được về quê có một lần, chuyến về quê trong một ngày, sáng về làng, chiều trở ra tỉnh, thường là vào ngày Mồng Hai Tết, ngày thầy tôi về quê lễ gia tiên và thăm bà nội tôi. Ngày giỗ ông nội tôi được làm ở nhà tôi ở Hà Đông, bà nội tôi, các ông chú, bà cô, bà thím tôi từ làng quê tôi ở phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, sang tỉnh lỵ Hà Đông ăn giỗ. Những năm từ 1947 đến 1950 tôi sống ở đồng quê thì đang thời chiến tranh, tất cả những hội hè, đình đám ngày Tết đều không được tổ chức, nên tôi chỉ nghe nói đến chuyện ngày Tết đánh đu mà không một lần được thấy cây đu, thấy người đánh đu.

Tôi tưởng tượng cảnh đánh đu những ngày Tết xưa ở quê hương tôi qua những lời thơ được nói là của Nữ sĩ Hồ Xuân Hương:

Bốn cột khen ai khéo khéo trồng.
Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông.
Trai co gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,
Hai hàng chân ngọc ruỗi song song.
Chơi xuân có biết xuân chăng tá?
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

Tôi thấy bài thơ Đánh Đu, không biết có phải của Hồ Xuân Hương làm hay do một người nào khác làm được người đời cho là của Hồ Xuân Hương, có chuyện cần nói. Đó là chuyện “…Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới..” Quần đàn bà, con gái mới là “quần hồng“, quần của thanh niên không thể là “quần hồng“. Và con gái lên đu phải mặc quần, không thể mặc váy mà đánh đu như hình vẽ trong trang này. Gái mặc váy mà đánh đu thì gió nó thốc váy lên đến mặt.

Trò Đánh đu ngày xưa được ghi trong bài thơ:

Kià Hội Thăng Bình tiếng pháo reo,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Bà quan tênh nghếch xem bơi chải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Cạây sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Khen ai khéo vẽ trò vui thế.
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!

Bit Mat Bat DeThơ Tam Nguyên Yên Đổ. Hội Thăng Bình đây là ngày Cát Tó Dzuy-dzê — 14 Juillet – ngày hội của dân Pháp. Bài thơ ra đời khoảng những năm 1910 của thế kỷ trước, thế kỷ 20 trần ai khoai củ. Không biết Ngày 14 Juillet ở xứ Nam Kỳ thuộc địa quang cảnh ra sao, bài thơ trên cho ta thấy chuyện các quan Đại Pháp ở xứ Bắc Kỳ bảo hộ cho tổ chức những trò vui để mừng ngày lễ lớn ấy của nước Pháp. Dường như từ năm 1935 những trò chơi Ngày Cát Tó Dzuy-dzê như Leo cột mỡ, Nhẩy bị, Bịt mắt bắt dê, Đánh đu, Bắt chạch.. vv.. không còn được tổ chức nữa. Năm 1956 người Pháp đi khỏi Đông Dương, từ đó Ngày 14 Juillet không còn trở lại với dân Việt. Sau gần một thế kỷ năm nào công chức, học sinh Việt Nam cũng được nghỉ Ngày 14 Juillet, từ năm 1956 dân Việt quên Ngày 14 Juillet. Dư ảnh, dư âm Ngày Lễ Lớn của cái nước một thời được dân Việt gọi là Mẫu Quốc chỉ còn lại trong những trang sách cũ, những bài thơ xưa như bài thơ trên đây của Tam Nguyên Yên Đổ.

Tieu Long NuĐánh đu không phải là trò chơi dân gian riêng của dân Việt. Đánh đu là trò chơi của dân Tầu, dân Việt bắt chước. Mời quí vị đọc đoạn truyện được trích trong KIM BÌNH MAI, tác phẩm tiểu thuyết của Trung Hoa, được viết trong thời gian trước sau năm 1600, trước tác phẩm tiểu thuyết HỒNG LÂU MỘNG khoảng một trăm năm. KIM BÌNH MAI bị coi là dâm thư mà cũng được coi là một trong những Tài Tử Thư của Trung Hoa. Vai chính của truyện là Tây Môn Khánh, Võ Tòng và Phan Kim Liên.

Đọc Kim Bình Mai tôi thấy bằng chứng trò chơi đánh đu là của người Tầu, đọc Hồng Lâu Mộng tôi thấy không phải chỉ có dân Việt Nam ở xứ Bắc kỳ có tục ăn trầu, nhiều nhân vật Hồng Lâu Mộng ăn trầu, mang túi trầu cau theo mình và mời nhau ăn trầu. Chuyện Hồng Lâu Mộng xẩy ra ở Bắc Kinh thời Thanh triều, khoảng những năm 1500. Như vậy việc nhuộm răng đen không phải vì việc ăn trầu, người Tầu cũng ăn trầu nhưng họ có nhuộm răng cho đen đâu.

KIM BÌNH MAI. Tác giả Tiếu Tiếu Sinh. Hồi 26.

Tiết hoa đăng đã qua, tiết thanh minh sắp tới, Tây Môn Khánh được bọn Ưng Bá Tước, Tôn Thiên Hoá rủ đi chơi. Trước đó Nguyệt Nương đã cho dựng một cây đu tại hoa viên để những lúc Tây Môn Khánh không có nhà thì cùng đám tiểu thiếp ra đu chơi nhân tiết xuân ấm áp. Hôm ấy Tây Môn Khánh đi khỏi nhà thì Nguyệt Nương cùng đám tiểu thiếp kéo nhau ra hoa viên. Nguyệt Nương và Ngọc Lâu lên đu một hồi rồi bảo Kiều Nhi và Kim Liên lên đu. Kiều Nhi từ chối, nói là trong người không khoẻ. Nguyệt Nương lại bảo Bình Nhi và Kim Liên lên đu. Ngọc Lâu nói:

- Để tôi cùng lên cho vui.

Ba người leo lên cây đu, Nguyệt Nương sai Xuân Mai và Huệ Liên đẩy vài cái cho có đà. Kim Liên vui thích cười khanh khách. Nguyệt Nương nói:

- Đừng cười vội, lát nữa đu bổng, chóng mặt, chưa biết rơi vào nơi nào, lúc đó tha hồ mà cười.

Kim Liên vẫn cười mà nhún nhẩy lấy đà. Không ngờ miếng gỗ dưới chân quá trơn, Kim Liên lại đi giày cao, nên truợt chân ngã xuống, may là còn nắm chắc được cái dây. Mọi người hoảng hốt kìm đu lại. Ngọc Lâu nói:

- May quá, chưa việc gì.

Nguyệt Nương nói:

- Tôi đã nói mà, đang đu mà cười là không được. Phàm đánh đu không bao giờ được cười, cười thì hai chân mình mềm đi, rất dễ trượt chân. Hồi tôi còn con gái ở nhà, vườn nhà bên cạnh của Chu đại gia có một cây đu như thế này. Hôm đó vào tiết tháng ba, Chu tiểu thư rủ tôi cùng vài người bạn gái tới đu chơi. Chu tiểu thư đứng trên cây đu mà cười khanh khách rồi trượt chân mà ngã ngồi xuống thanh gỗ dưới chân, hai chân xoạc ra hai bên. Về sau, Chu tiểu thư lấy chồng, bị chồng chê không còn là con gái, sống không nổi ở nhà chồng phải trở về nhà cha mẹ. Đấy đánh đu mà cười nguy hiểm như thế đó. Cho nên mấy người có đánh đu thì kỵ nhất là cười.

Cuộc đánh đu đang vui, Trần Kính Tế vào vườn, cười nói:

- Đánh đu vui quá nhỉ..!

Nguyệt Nương nói:

- Hiền tế đến thật đúng lúc. Mấy đưá a hoàn yếu sức lắm, hiền tế lại đẩy cho hai nương nương đi.

Kính Tế cởi áo ngoài, bước tới cây đu, kéo nhẹ ống quần Kim Liên mà nói:

- Nương nương đứng cho vững, tôi đẩy nhé.

Đoạn lấy hết sức mà đẩy, bàn đu bay bổng lên, Bình Nhi sợ, kêu:

- Cao quá rồi, đừng đẩy nữa, tôi sợ lắm.

Kính Tế đứng dưới ngửa mặt lên, những ống quần rộng của Kim Liên và Bình Nhi bay phấp phới, để lộ những bắp chân trắng nõn…

Ngưng trích KIM BÌNH MAI.

Tôi định trích những đoạn hấp dẫn nhất của Truyện KIM BÌNH Mai, đăng trên SàiGòn Nhỏ, với lời bàn loạn của tôi. Không biết quí vị độc giả có ai thích đọc không?

Chén Đắng Cuối Năm 2008

No Hanoi!  
 
Kính thưa quí vị
: Hoa Kỳ mở Toà Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Sài Gòn, bọn Bắc Cộng mở Tổng Lãnh Sự Quán của chúng ở San Francisco. Nay Hoa Kỳ muốn mở Toà Lãnh Sự Mỹ ở Đà Nẵng, bọn Bắc Cộng sẽ mở Lãnh Sự Quán của chúng ở Houston. Chúng ta — những người Việt tị nạn CS ở Hoa Kỳ — có thể làm được những gì để ngăn không cho thành phố Houston có Lãnh Sự Quán Bắc Cộng?

——————–

Hôm nay, tôi đi một đường Tâm viên, Ý mã. Đã một lần tôi viết về nghĩa của “Tâm viên, Ý mã”: Tâm của người như con ngựa chạy lung tung, Ý của người như con vượn luôn nhẩy nhót. “Đi một đường Tâm viên, Ý mã” là tôi viết linh tinh, nhớ chuyện gì, thích viết chuyện gì, tôi viết chuyện đó, tôi viết nhiều chuyện nhỏ trong một bài.

[1] Năm 1920, Lenin khoe:

Tự Do Vô Sản tốt đẹp gấp trăm lần Tự Do Tư Sản.

Sự thật: Cộng sản làm gì có Tự Do! Nói “Tự Do Vô Sản” là nói láo.

Câu nói của Lenin trên thực tế là:

Bọn Cộng Sản cầm quyền khốn nạn, tàn ác, xấu, bẩn, đểu gấp trăm lần bọn Tư Sản.

[2] Tháng 7, 2007, báo Tuổi Trẻ của bọn Bắc Cộng, loan tin:

Thất thoát gần 4 tỷ đồng trong việc làm Từ Điển Bách Khoa Việt Nam.

Từ năm 1998 đến năm 2004, bọn làm Từ Điển Bách Khoa ở Hà Nội chi ra 8 tỷ đồng bạc Hồ chí Minh không có chứng từ hồ sơ, không ghi số tiền thu bán sách 1 tỷ đồng, không chứng minh được số tiền 1600 triệu đồng chi linh tinh ngoài dự án. Tổng số tiền thất thoát nay là 4 tỷ đồng, chưa kể 500 triệu đồng hai anh Nguyễn hiền Lương, Kế toán trưởng, và Trần hồng Hạnh, Thủ quĩ, lấy chia nhau.

Chỉ là việc làm một quyển sách, bọn Sán Lải Văn Hóa Cộng Sản Hà Nội đã làm mất tiêu 4 tỷ đồng bạc. Dù là tiền giấy Hồ chí Minh Thổ Tả cũng vẫn là tiền. Hai anh Cộng Già Vũ Khiêu, Huy Cận, trong những ngày tàn cuộc đời của hai anh, được bọn Cộng đàn em cho vào làm việc trong cái gọi là ban biên soạn Từ Điển Bách Khoa.

[3] Nhật báo The Washington Post, ngày 23 Tháng Bẩy, 2007:

Thượng Nghị sĩ Henri M. Reid, Democrat, Nevada, Trưởng Khối Đa Số Thượng Viện, nói:

When I have dealings with people, and they tell me one thing and do something else, they’re not telling the truth. What else do you have to call them?

Thượng Nghị sĩ Reid nói câu trên trong cuộc phỏng vấn ông do Thông Tấn CBS thực hiện, Tns Reid gọi Tổng Thống Bush là “liar: kẻ nói láo.” Có nghị sĩ đồng viện đề nghị ông rút lời kết tội ấy lại, Tns Reid không chịu. Ông nói :

Khi tôi phải giao tiếp với những kẻ nói thế này mà làm thế khác, họ không nói thật. Ta phải gọi họ bằng cái tên gì?

Tns Reid vẫn gọi Tổng Thống Bush là “liar: kẻ nói láo.”

[4] TT Bush đến Hà Nội dự Hội Nghị APEC, cười toe, cụng ly rượu máu với Nguyễn tấn Dũng, cụng ly rượu mủ với Nguyễn minh Triết. Trước ảnh TT. Bush cụng ly rượu máu với Thủ Tướng VC Nguyễn Tấn Dũng, tôi làm hai câu:

- Uống đi Dzõng, uống cho hay
Rượu này pha máu dân mày, dân tao.
- Uống đi Bớt, uống cho hào
Rượu này pha máu dân tao, dân mày.

Ở Hà Nội, TT Bush đến đứng dưới Tượng Hồ chí Minh, ông khen những thành quả kinh tế của Việt Nam, ông tỉnh queo, ông không nói nửa lời về tình trạng Nhân Quyền tàn tệ ở Việt Nam, về chuyện bọn Cộng Đầu Xỏ Đàn Áp, Bắt Tù những Người Tranh Đấu cho Dân Quyền. Họp APEC xong ở Hà Nội, ông bay vào Sài Gòn. Ông cũng không làm gì cả ở thành phố một thời là Thủ Đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, thành phố từng có Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ lớn nhất Đông Nam Á, thành phố từng nhuốm máu những chiến binh Mỹ, ông vừa bay đi khỏi Sài Gòn, bọn Đầu Xỏ VC Triết, Dũng lập tức xuống tay đánh những người Việt tranh đấu cho Dân Quyền, viết rõ hơn là “những người Việt chống và dziệt Cộng sản.”

Nguyen Minh TrietChúng đánh thẳng tay, đánh không khoan nhượng, đánh không nể ngại, đánh ngạo ngược, đánh hung hăng con bọ xít, đánh cho dân Việt và nhân dân thế giới thấy chúng có toàn quyền muốn làm gì thì làm, chúng đàn áp dân mà chúng không chút e ngại hay nể sợ dư luận quốc tế- hình ảnh Thô Bạo nhất trong lịch sử Cộng Sản đàn áp Người Dân là cảnh tên Công An Việt Cộng dùng bàn tay nhớp nhúa bịt miệng Người Tù Nguyễn Văn Lý khi ông tù này bị chúng đưa ra tòa ở Huế, vụ bịt miệng dân công khai xảy ra chỉ vài ngày sau khi Hội Nghi APEC họp xong.

[5] Trong Lịch Sử Nâng Bi của bọn Cộng Thế Giới, bọn Cộng Việt chiếm hai Giải “Cao Quí” nhất:

– Giải “Thơm Như Múi Mít” với bài thơ ” Ông Sịt-ta-lin ơi..” của Tố Hữu.

– Giải “Bịt Mồm Nhân Dân” với bức ảnh Công An Cộng bịt mồm Linh Mục Nguyễn văn Lý ở giữa Tòa án.

Trước khi bọn Cộng xuống tay đàn áp, một Sở Thông Tấn Tây Âu có nhân viên ở Sài Gòn, mở cuộc phỏng vấn Hòa Thượng Thích Quảng Độ về việc TT Hoa Kỳ đến Việt Nam.

Hòa Thượng Quảng Độ nói ngay:

Ông Bush nói một đằng, làm một nẻo. Ông Bush đã phản bội chúng tôi.

Nhà lãnh đạo phải có “phản ứng nhanh, sắc, đúng” như Hòa Thượng Quảng Độ. Thế rồi TT. Bush, PTT Cheney, sau khi bọn Cộng Việt phóng tay đàn áp tàn nhẫn các nhà Dân Chủ Việt Nam, mời một số nhân vật Việt Nam tranh đấu cho Nhân Quyền Việt Nam ở Hoa Kỳ, đến Nhà Trắng, trong cuộc nói chuyên tầm phơ, tầm phất có câu TT Bush hỏi:

– Các ông muốn chúng tôi làm gì?

Hỏi thế rồi thôi, không hứa hẹn cũng không làm gì cả, tôi cho đó là trò vuốt đuôi nhạt nhẽo, trơ trẽn.

Nếu tôi được ông Tổng Bush hỏi:

– Ông muốn chúng tôi làm gì để giúp đồng bào ông?

Tôi sẽ trả lời:

– Tổng Thống còn phải hỏi tôi câu ấy ư? Trước khi ông đến Hà Nội, chúng tôi đã nhiều lần thưa với ông cbúng tôi mong ông làm gì ở nước chúng tôi. Chúng tôi thật không mong ông làm nhiều, chỉ mong khi ông đến Hà Nội, Sài Gòn, nếu ông không mời một vài nhà tranh đấu cho Nhân Quyền, Dân Chủ, Tự Do nào của chúng tôi đến gặp ông, nếu ông không đến gặp các ông ấy, xin ông nói đến việc làm của họ, ông nói cho vài câu thôi. Chúng tôi mong nếu ông không làm việc ấy, bà Ngoại Trưởng Rice sẽ làm. Nhưng ông đến nước chúng tôi, ông cụng ly rượu với bọn Cộng Đầu Xỏ, những tên đàn áp, bóc lột, làm khổ đồng bào tôi, ông đến đứng dưới tượng người chúng tôi căm thù nhất là Hồ chí Minh; ông và bà Rice, không biết gì đến những lời xin, những mong muốn của chúng tôi. Ông vừa bay ra khỏi nước tôi, bọn Cộng phóng tay đàn áp thật nặng những người bất đồng chính kiến với chúng. Nay thì còn nói chi nữa.

Trả lời như thế là hờn dzỗi. Mần chính trị mà hờn dzỗi thì chỉ vỡ mặt. Vì hay hờn dzỗi nên tôi không thể mần chính trị. Nhưng, nếu được hỏi và phải trả lời, tôi sẽ nói theo lời Hòa Thượng Quảng Độ:

– Ông nói một đằng, ông làm một nẻo. Ông đã phản bội chúng tôi.

Chuyện tôi thấy kỳ cục, nếu không gọi là nham nhở, là việc ngay sau khi bọn Cộng Việt đàn áp những người Việt bất đồng chính kiến làm người thế giới phẫn nộ, TT Bush đến Hội Nghị Prague, lên diễn đàn khoe thành tích giúp thành lập những thể chế Dân Chủ trên thế giới, không chút ngượng mồm, ông tự nhận ông là “Tổng Thống của Bất Đồng Chính Kiến.”

Tôi không đặt nặng việc trách TT Bush đã không lý gì đến những mong muốn ông sẽ làm, sự chờ đợi những lời vàng ngọc ông sẽ nói của người Việt Hải Ngoại, ông đang rối trí vì chiến tranh Irak, ông còn tinh thần đâu mà lo đến tình trạng Nhân Quyền Rách Hơn Cái Váy Nát của Bà Cả Đọi Việt Nam, bíết thế nhưng tôi vẫn phải viết sự thật về ông:

TT Bush nói một đằng, làm một nẻo!

Và nói riêng với ông: Ông làm tôi đau lắm!

Nghe nói sau khi Chủ Tịt Nguyễn minh Triết đến Nhà Trắng, vài ông nhân viên chính quyền Mỹ làm cái việc vuốt ve những ông Việt Nam Chống Cộng ở Mỹ, mấy ông Mỹ nói:

– Khổ lắm. Chúng tôi đã làm đủ mọi cách để ông Triết bỏ không đến Mỹ: không đón như quốc khách, không thảm đỏ, không 21 phát đại bác, không quốc yến. Nhưng ông ấy vẫn cứ đến.

Tôi không được ông Mỹ nào nói với tôi một câu như thế. Nếu có, tôi sẽ nói:

– Nó đến chứ. Sao nó lại không đến! Nó đến có lợi lớn cho nó. Bắt nó bò lết từ vỉa hè vào Nhà Trắng nó cũng bò. Đồng bào tôi ở trong nước chỉ thấy cảnh nó ngồi ngang hàng với ông Tổng Thống Hoa Kỳ trong Phòng Quốc Khách của Nhà Trắng, thấy nó dzơ tay, vác mặt lên nói ý của nó giữa Nhà Trắng, thấy nó không có vẻ gì kém cạnh ông Tổng Thống Hoa Kỳ. Việc các ông phải làm là từ chối không cho nó sang, không phải là việc chờ nó bỏ cuộc, chờ nó tự ý không sang.

Tôi nói với tôi:

– Tôi đau lắm. Trong ba năm, ba tên Đầu Xỏ Việt Cộng vào ngồi trong Nhà Trắng. Chúng ngồi ngang hàng với Tổng Thống Hoa Kỳ.

Năm 1956, Tổng Thống Ngô Đình Diệm nước tôi được mời đến Hoa Kỳ. Năm xưa ấy — Những ngày như lá, tháng như mây…, phi cơ đưa Tổng Thống Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa từ Sài Gòn, Việt Nam, đến phi trường New York, Hoa Kỳ. Tổng Thống Hoa Kỳ Dwight Eisenhower từ Washington DC lên New York đón Tổng Thống Việt Nam Ngô Đình Diệm.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm là Người Việt Nam Thứ Nhất làm Thượng Khách của Bạch Cung Hoa Kỳ.

Trong nhiều năm bao nhiêu anh em tôi chết để bảo vệ Tự Do của chúng tôi, anh em chúng tôi chết để chặn không cho bọn Cộng Sản kéo xuống các nước Đông Nam Á Châu, xương anh em tôi chất cao như núi, máu anh em tôi chẩy dài như sông, nước mắt các bà mẹ, bà vợ Việt Nam nhiều hơn nước biển Thái Bình.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của tôi không một lần được đến Nhà Trắng.

Năm 1956 Phó Tổng Thống Richard Nixon đến nước tôi, năm 1961 Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson đến nước tôi, năm 1968, giữa lúc chiến tranh ác liệt, Tổng Thống Lyndon B. Johnson bay từ Hoa Kỳ đến Căn Cứ Quân Sự Chu Lai gặp quân lính Mỹ ngay tại sân bay, trong mấy tiếng đồng hồ rồi bay về Mỹ. Cũng năm 1968, Tổng Thống Lyndon B. Johnson bay từ Washington DC sang đảo Midway, Hawai, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ bay từ Sài Gòn đến đảo Midway, các nhà lãnh đạo Việt Mỹ gặp nhau ở hải đảo này. Trong 20 năm — 1954-1974 — không một Tổng Thống Hoa Kỳ nào đến Sài Gòn, Thủ đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.

Không nhớ năm 1972 hay 1973, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu được Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon mời đến Nhà Nghỉ Hè của Tổng Thống ở San Clement, Texas.

Nghe nói có 21 phát đại bác chào đón Tổng Thống Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu ở San Clement.

Tôi đau lắm.

Tổng Thống đến Hoa Kỳ là phải đến Thủ đô Washingtton DC, phải được Tổng Thống Hoa Kỳ tiếp ở Whitehouse, 21 phát đại bác chào mừng phải nổ ở Thủ Đô Mỹ.

Anh em tôi chết cả triệu người, Tổng Thống của tôi chỉ được mời đến San Clement. Trong khi chúng nó, bọn có tội với đồng bào tôi, trong 3 năm, đã 3 tên vào Nhà Trắng.

Chiều tha hương cuối năm trời mùa đông Mỹ Quốc sám nhợt, tôi uống chén đắng cuối năm của tôi. Tim tôi đau nhói.

Lính Đa Tình

Đất Trích đêm cuối năm, loạng quạng trên Net tình cờ gặp tấm Thiếp Chúc Tết Xuân Quí Sửu của Lực Lượng Biệt Cách Nhẩy Dù Việt Nam. Cảm khái cách gì khi tính ra năm Quí Sửu là năm 1973, nay chỉ còn vài ngày nữa là đến năm Kỷ Sửu 2009 — 38 mùa Xuân đã đến, đã đi qua cuộc đời kể từ ngày có tấm Thiếp Xuân Biệt Cách trên đây.

Đêm nay tôi tạm quên sầu muộn, tự làm lắng đọng cảm giác ngậm ngùi khi tưởng nhớ những Người Lính của Quân Đội tôi xưa. Sầu khổ nhiều rồi, tôi mời quí vị bạn đọc ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca nghe lại vài bài ca về những Người Lính Việt Nam Đa Tình chúng ta từng nghe 40 năm về trước.
 

Phi Hanh Doan
 
Những Lời Ca Đẹp, Trữ Tình, Thơ Mộng Năm Xưa ấy nay nghe lại làm tôi cảm khái quá chừng.

Anh là lính đa tình
Tình non sông rất nặng
Tình hải hồ ôm mộng
Tình vũ trụ ngát xanh
Và mối tình rất êm đềm là tình riêng trong lòng anh yêu em …

Có lúc muốn lấy hoa rừng, anh gửi về em thêu áo
Và ngàn vì sao trên trời, kết thành một chuỗi em đeo
Dù rằng đời lính không giầu, mà chắc không nghèo tình yêu …

Anh là lính đa tình
Tình non sông rất nặng
Tình hải hồ ôm mộng
Tình vũ trụ ngát xanh
Và mối tình rất êm đềm là tình riêng trong lòng anh yêu em …

Và mối tình rất êm đềm là tình riêng trong lòng

Anh Yêu Em …

Tôi — CTHĐ — không tìm được tên Nhạc sĩ tác giả bài ca Lính Đa Tình trên đây. Mời quí vị nghe lại lời ca của Nhạc sĩ Y Vân trong:

Tình Yêu Thủy Thủ

Mắt em màu trùng dương.
Tóc em như sóng cồn.
Gió nhẹ tựa như hơi thở của người yêu buồn mà duyên dáng.
Anh là thủy thủ mang lòng biển cả trao về tình em.

Đã đành em yêu anh.
Sao bằng anh thương em.
Như biển đông lai láng.
Ví bằng đất nước mình.
Nên bể dâu hoang tàn.
Nhưng tình không tan biến.

Nhớ em điểm sao đêm.
Đếm sao mà vấn lòng.
Vấn lòng càng thương hơn.
Tình nào cho Em, tình nào cho Nước ?

Anh là thủy thủ yêu đời biển cả như người tình chung.

Mắt em màu trùng dương …..

Và Nhạc sĩ Y Vũ kể chuyện:

Thủy Thủ Và Biển Cả

Với biển cả anh là thủy thủ…
Với lòng nàng anh là hoàng tử…
Nhớ chuyện ngàn đêm xứ Ba Tư
Và chuyện thần tiên bao thế hệ
Cho anh bao giây phút say sưa, cho anh thêu muôn giấc mơ hoa, cho anh luôn yêu đời hải hồ …

Càng đi xa anh càng nhớ em
Trước đại dương ngát xanh muôn trùng
Kìa ngư nhân in hình trên sóng
Bao nàng công chúa dưới thâm cung
Em ơi ! Ảo hình kia lôi cuốn, nhưng anh đã nói anh yêu em thì ngàn kiếp vẫn không thay lòng

Với biển cả anh là thủy thủ…
Với lòng nàng anh là hoàng tử…
Nhớ chuyện ngàn đêm xứ Ba Tư
Và chuyện thần tiên bao thế hệ
Cho anh bao giây phút say sưa, cho anh thêu muôn giấc mơ hoa, cho anh luôn yêu đời hải hồ

Và Lời Nhạc của Nhạc sĩ Anh Thy

Hoa Biển

Ngày xưa em anh hay hờn giỗi . Giận anh khi anh chưa kịp tới
Cho anh nhiều lời, cho anh bồi hồi , Em cúi mặt làm ngơ
Không nghe kể chuyện. Bao nhiêu chuyện tình đẹp nhất trên trần đời

Tại em khi xưa yêu hoa màu trắng. Tại em suy tư bên bờ vắng
Nên đêm vượt trùng Anh mong tìm gặp hoa trắng về tặng em
Cho anh thì thầm: Em ơi tình mình trắng như hoa đại dương

Trùng khơi nổi gió lênh đênh triền sóng thấy lung linh rừng hoa
Màu hoa thật trắng, ôi hoa nở thắm ngất ngây lòng thêm
Vượt bao hải lý chưa nghe vừa ý lắc lư con tàu đi
Chỉ thấy bọt nước tan theo ngọn sóng dáng hoa kia mịt mùng

Biển khơi không mang hoa màu trắng
Tàu anh xa xôi chưa tìm bến
Nên em còn hờn, nên em còn buồn
Sao chưa thấy anh sang
Em ơi giận hờn xin như hoa sóng tan trong đại dương.

CTHĐ: Không phải là Lính Đa Tình, 40 năm xưa tôi ngất ngư con tầu đi mỗi lần tôi nghe những lời nhạc ca tụng Lính Đa Tình trên đây, năm nay — 40 năm sau — ở vào buổi tối của cuộc đời nhớ lại Lời Nhạc Xưa, trái tim tôi ấm lại.

Mời quí vị nghe Người Lính Chu Tất Tiến kể chuyện “Anh là Lính Đa Tình.” Đoạn truyện quí vị đọc ở đây được trích trong một bài Nhà Văn Chu Tất Tiến viết về những ngày hoa niên xưa trong cuộc đời Lính Đa Tình của ông. Ngày ấy ông là Thiếu Úy Chiến Tranh Chính Trị ở Quân Trường Thủ Đức:

Chu Tất Tiến. Trích:

thiepNhưng mọi khó khăn đó chỉ là “chuyện nhỏ” so với việc tiếp các ca sĩ, các cô Huấn Đạo đến sinh hoạt đêm đêm và các cô nữ sinh đến bán báo Xuân. Các ca sĩ, vũ công “sếch xi” thì rất lì lợm. Trình diễn xong một màn 75%, (100% là không còn chi, 75% thì còn chút xíu!) thì thân thể các cô lấm lem, phải chạy vào phòng Sĩ Quan của Trung Úøy T. mà tắm! Phòng riêng của T. chỉ có một cái góc nhà để tắm, không có cửa, không có vách che. Em đứng mở nước tắm ào ào trong góc đó, T. đứng ở cửa canh chừng không cho tay nào nhào vô, ngó “chùa”! Anh quay lưng lại, nghe tiếng tay của em đập đập, kỳ cọ tấm thân Vệ Nữ của em mà lửa như đốt trong lòng! Lạy Trời cho em tắm mau xong… Xong buổi trình diễn, có khi em lại nói:

-Trung Úy ơi! Chở em về nhà nheng?

Màn này mới kinh hoảng. Để em ngồi sau xe Vespa, phóng từ Thủ Đức về Sài Gòn, đường ban đêm vắng vẻ, em lại sợ té, cứ ôm cứng lấy T. làm tay anh cũng căng cứng như thép. Răng thì nghiến lại, lưng thì cố uỡn ra đằng trước, tránh được.. bộ phận mềm mại kia chút nào hay chút ấy! Trời ơi là trời! T. chỉ muốn quành tay ra đàng sau…

Còn các em Huấn Đạo thì khác. Các em là những ca sĩ, vũ công hoặc là mê đời lính, hai là không thành công trong văn nghệ, thì chịu làm Huấn Đạo Viên, đi sinh hoạt tiền đồn hay với quân trường. Ở đây, sinh hoạt xong thì khoảng 10 giờ đêm. Không thể để các em về nhà vào giờ khuya ấy, T. phải để các cô ngủ trong phòng mình. Thường thì lúc nào cũng hai cô. T. nhường cái giường độc nhất cho hai cô ngủ, anh nằm dưới đất. Khi các cô tắm, anh phải đứng ngoài cửa, vừa nhịp nhịp chân mà run. Lúc ngủ, anh nằm thẳng cẳng dưới sàn, mặc cho hai cô léo nhéo, chọc ghẹo:

-Trung úy ơi! Nằm đất lạnh không? Có muốn ấm thì.. lên đây!

T. nạt ngang:

-Thôi, ngủ đi! Đừng lộn xộn. Tui kêu quân cảnh nhốt bây giờ!

Cô D. cười khúc khích:

-Trung Úy muốn nhốt em trong phòng này hoài hở? Em chịu liền..

Rồi lại cười khúc khích, rồi kéo chăn, kéo quần áo xột xoạt. T. cố nhắm mắt, làm bộ ngáy khò khò cho mấy cô im đi, chứ thật tâm, là một thanh niên trai tráng, lòng anh cũng rực lên như có quả lựu đạn đang nổ! Anh chỉ muốn nhấc chân lên, ngồi dậy. Hai tay anh phải bám xuống chiếu cho khỏi co lên…

Và những quả lựu đạn ấy lại nổ thật, không phải ở các cô vũ công sếch-xi, không ở các cô Huấn Đạo, mà ở một người con gái, một nữ sinh Lê Văn Duyệt.

Mỗi năm, hoa đào nở..” anh phải tiếp nhiều phái đoàn nữ sinh các trường trung học đến bán báo Xuân. Phái đoàn nào cũng diễm lệ, yêu kiều. Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Quốc Gia Nghĩa Tử.. Cô nào cũng đẹp và lanh. Có cô nói nhanh đến nỗi miệng không kịp mọc da non. Cô lại hiền như Ma Sơ, chỉ tủm tỉm cười. Vai gầy như “cánh vạc bay” cũng có, mà nẩy nở như B.B. cũng không thiếu. Có cô vừa gặp đã rủ đi chơi:

-Anh! Đưa em đi xem phim đi!

Một cô bé QGNT, đi theo hai chị, mới có 14 tuổi rưỡi, đã bạo kinh người. Cặp mắt lá răm nheo nheo:

- Anh bán giùm báo cho chị em đi, rồi.. anh muốn gì, em cũng chịu!

T. bủn rủn cả người, quay đi, thở dài. Cũng cô bé đó, một hôm phóng lên, kiếm cớ thăm anh, rồi ở lại đến chiều, bắt anh đưa về:

-Em sợ đi xe đò lắm! Anh chở em về, kẻo du đãng bắt nạt em!

Không có ai cứu bồ, T. phải miễn cưỡng chở em về. Anh vừa ngồi lên yên xe Vespa, cô bé đã leo lên ngồi cùng yên với anh, hai tay ôm chặt như hai gọng kìm. Anh phải vội dẫy ra, bước xuống, nghiêm nghị:

-Em phải ngồi xuống yên sau. Ngồi như vậy, anh không đưa em ra cổng đâu.

Cô bé ngúng nguẩy, hờn dỗi tuột xuống yên sau, nhưng chỉ vài phút sau khi xe chạy, là lại quặp lấy anh cứng ngắc, cố ấn những gì mềm mại mà em có vào lưng anh. Tóc gáy T. dựng đứng lên, anh ráng giữ cho xe khỏi nghiêng ngả và cố lết về tới nhà em cũng ở đường Lê Văn Duyệt. Căn nhà nhỏ trong ngõ hẻm, có hai phòng, phòng khách và phòng trong ngăn cách bởi một tấm “ri-đô” mỏng. Anh ngồi ở ghế sa-lông đặt ngay cạnh cửa ra vào, hướng vào tấm rèm. Cô bé 14 rưỡi đứng ngay tấm rèm, nhìn anh, từ từ bấm những cái cúc áo “tẹt tẹt” ra, khoe hết một nửa những gì cần khoe, rồi cười nhí nhảnh:

-Ấy, chết! Em quên!

Trong tất cả các cô “Tình cho không, biếu không” ấy, anh có thể “quên” đi — thật ra, đến giờ này, vẫn nhớ như in từng khuôn mặt — có một dáng dấp, anh không thể nói là “quên” được. Một cô nữ sinh Lê Văn Duyệt 17 tuổi, có tất cả những câu trả lời cho một bài hát của Trịnh Công Sơn: “Nắng có hồng bằng đôi môi em, mưa có buồn bằng trong mắt trong, tóc em từng sợi nhỏ, rớt xuống đời làm cõi lênh đênh.”

Còn tên em? Tên của em là tên một vầng mây xanh, B.V. Giọng nói em dịu dàng, “bàn tay năm ngón, em vẫn kiêu sa” làm T. vừa mới gặp đã chới với. Trong tấm áo dài xanh biếc, em như Nữ hoàng Cleopatre, em quyến rũ như B.B., xa cách như C.C., hấp dẫn như M.M., em làm anh choáng ngợp. Tuy ý chí anh vẫn sắt thép từ xưa với tất cả mọi mời mọc con gái, anh cảm thấy như tấm sắt bảo vệ trái tim anh đang từ từ tan chẩy.(.. .. ..)

Anh đã uống đi hết kỷ niệm, và nhất định chạy theo lý trí, chạy xa em mãi mãi.. Bao nhiêu năm, vẫn thấy trong kỷ niệm thanh xuân, hiện diện một đôi mắt thăm thẳm, xanh biếc như mầu áo xanh của cô nữ sinh Lê Văn Duyệt mặc hôm nào.

Chu Tất Tiến.

Như đã viết: lời kể chuyện Lính Đa Tình và Những Thiếu Nữ Sài Gòn Yêu Lính VNCH của Thiếu Úy CTCT Chu Tất Tiến làm tim tôi ấm lại. Bài viết tuyệt vời. Những lời ca tụng của tôi là Thưà. Tôi chỉ có thể viết góp một chuyện và đặt một câu hỏi:

- Viết thêm cho rõ: Quyến rũ như Brigitte Bardot, xa cách như Claudia Cardinale, hấp dẫn như Marilyn Monroe.

- Nàng mời Thiếu Úy lên giường nằm với Nàng cho ấm, Nàng có tôi gì đâu? Sao Thiếu Úy lại dzoạ gọi Quân Cảnh đến bắt Nàng?

Bóp Vú Cô Tiên

Bóp vú cô tiên, lấy tiền đong gạo…
Bóp vú bà lão, lấy gạo thổi xôi…

Sách Tục Ngữ – Phong Dao của Tiên sinh Nguyễn văn Ngọc không có câu tục ngữ trên đây. Kể cũng lạ. Lẽ ra sách phải có vì câu “Bóp vú cô tiên, lấy tiền đong gạo. Bóp vú bà lão, lấy gạo thổi xôi..”, là một câu rất quen thuộc trong ngôn ngữ người Việt miền Bắc nước ta. Những Công Tử Bắc Kỳ năm nay tuổi đời Sáu Bó trở lên đa số đều biết câu “Bóp vú cô tiên, lấy tiền đong gạo. Bóp vú bà lão, lấy gạo thổi xôi..” Các công tử được nghe câu nói đầy hứa hẹn đó từ những năm tuổi đời mới bốn, năm Que.

MariaĐầy hưá hẹn bởi vì câu nói cho các công tử thấy cuộc đời dễ sống, thơ mộng và hào hứng quá chời. Không có tiền đong gạo, các công tử chỉ cần bóp vú cô tiên — cô tiên đây là những thiếu nữ đẹp mười sáu, mười bẩy tuổi — không vất vả, không mất sức lao động bao nhiêu mà việc có tiền đong gạo là bảo đảm chăm phần chăm. Không có cô tiên thì các công tử chịu khó bóp vú bà lão. Bóp vú bà lão các công tử không có tiền nhưng cũng dễ dàng có gạo thổi xôi. Và bóp vú cô tiên hay bóp vú bà lão thì kết quả cũng như nhau: bóp vú cô gái lấy tiền để đong gạo, bóp vú bà già tuy không có tiền nhưng có gạo ngay, khỏi mất công đi đong.

Nhưng, tiếc thay, việc “bóp vú: có tiền, có gạo” trong tục ngữ-phong dao của cha ông ta không biết xẩy ra vào thời đại vàng son nào. Điều ta biết chắc chắn, chắc là chuyện bóp vú ra tiền, ra gạo ấy không xẩy ra trong thời đại chúng ta, trong cái gọi là Thế Kỷ Hai Mươi Trần Ai Khoai Sùng và Thế kỷ Hai Mươi Mốt Hồng Trần Mướp Đắng.

AngelinaNhiều nhà Phi-lô-zốp cho rằng con người có cái tật nuối tiếc dĩ vãng, coi dĩ vãng đẹp hơn hiện tại, và nuối tiếc như thế là ngu xuẩn. Nhưng, thưa quí vị, đâu phải tự dưng, vô cớ mà chúng ta nuối tiếc dĩ vãng, ta chán chường hiện tại. Ta nuối tiếc dĩ vãng bởi vì cuộc sống của con người trong dĩ vãng tươi sáng, tốt đẹp, dễ dàng, thơ thới, hân hoan, ta nuối tiếc dĩ vãng vì con người thời dĩ vãng được sống sung sướng, no ấm, thảnh thơi, không phải làm việc tối tăm mắt mũi mới có cái ăn như chúng ta. Cuộc sống thần tiên biết chừng bao khi ta không phải cầy cuốc chi ráo trọi, để sống ta chỉ cần bóp vú cô gái đẹp, bóp vú bà già là ta có ăn.

Trong khổ cực chúng ta có thể mộng mơ cho ta đỡ khổ. Ta tưởng tượng ta được sống trong thời kỳ việc “bóp vú cô tiên lấy tiền đong gạo, bóp vú bà lão, lấy gạo thổi xôi” là chuyện có thật, chuyện xẩy ra từng ngày, chuyện tự nhiên. Cần tiền, cần gạo chúng ta chỉ cần mần cái việc bóp vú cô tiên, bóp vú bà lão. Khi ấy chắc chúng ta sẽ thích bóp vú cô tiên hơn. Sự ưa thích này hoàn toàn do thực tế quyết định: chúng ta coi vú cô tiên hay vú bà lão cũng thế thôi, cũng giống y hệt nhau. Vú nào cũng là vú, nhưng bóp vú cô tiên ta có tiền nên ngoài việc đong gạo, ta có thể dziếm đi một ít để chi vào những thứ không phải là gạo như cà-phe, thuốc lá, bia, phở… vv Trong khi bóp vú bà lão ta chỉ có trần sì một thứ là gạo.

Đời xưả, đời xưa ông cha ta có diễm phúc bóp vú cô tiên, lấy tiền đong gạo, bóp vú bà lão, lấy gạo thổi xôi. Còn đời ta đen hơn mõm chó mực, câu tục ngữ xanh rờn ấy — than ôi — đã đổi thành:

Bóp vú cô tiên, hết tiền đong gạo.
Bóp vú bà lão, hết gạo thổi xôi.

Ta còn phải chú ý đến sự kiện quan trọng trước khi bóp là cô tiên có bằng lòng cho ta bóp không đã, bà lão thì dễ cho hơn nhưng ta cũng phải cẩn thận. Cô tiên, bà lão không cho mà ta cứ bóp thì tiền gạo chẳng thấy đâu, ta chỉ thấy ta vỡ mặt.

Chương trình của ban Tùm Lum chuyển sang chuyện Tiền.

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm, tráng chí dĩ mang nhiên.
Xuân lan, thu cúc thành hư sự,
Hạ thử, đông hàn đoạt thiếu niên.
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,
Bạch vân ngọa bệnh Quế Giang biên.
Thôn cư bất yếm tần cô tửu,
Thượng hữu nang trung tam thập tiền.

Người tráng sĩ tóc bạc buồn nhìn trời. Hùng tâm, sinh kế mờ mịt. Lan mùa xuân, cúc mùa thu, thú thưởng ngoạn thanh nhàn ấy nay đã thành chuyện hão. Nóng mùa hạ, rét mùa đông cướp đi tuổi trẻ. Dắt chó vàng mải vui dưới chân núi Hồng. Nằm bệnh trong vùng mây trắng ven sông Quế. Nơi thôn quê mua rượu mãi không chán. Trong túi còn có ba mươi đồng tiền.

Năm 1802 Nhà Nguyễn Gia Long diệt nhà Nguyễn Tây Sơn, chiếm Bắc Hà, thống nhất đất nước. Trong năm 1802 Tố Như Nguyễn Du ra làm quan với Nhà Nguyễn Gia Long. Năm 1813 Thi sĩ đi sứ sang Nhà Thanh, Bắc Kinh, Trung Quốc. Trên đường đi về qua xứ người Thi sĩ cảm hứng làm nhiều bài thơ vịnh những nhân vật lịch sử. Trong số có bài Tô Tần Đình.

Tô Tần, người đời Đông Châu, giai cấp bình dân xuất thân. Vào thời Tô Tần nhà Tần cường thịnh toan tính diệt tất cả các nước để thống nhất Trung Hoa. Chiến tranh xẩy ra liên miên. Tô Tần khởi xướng thuyết Hợp Tung –các nước liên kết lại về quân sự — theo kiểu Liên Phòng Đông Nam Á SEATO, Liên Minh Bắc Đại Tây Dương NATO — Tần đánh nước nào, ba bốn nước trong Hợp Tung sẽ cùng đánh Tần. Nhờ chiến lược này, trong nhiều năm, nước Tần sợ không dám gây chiến, Tô Tần được cử làm Tung Ước Trưởng, giữ chức Tướng Quốc của 6 nước.

Không phải Tô Tần được thành công ngay. Lần thứ nhất đi du thuyết lục quốc, tin ở tài mình, Tô Tần bỏ tiền nhà ra sắm xe ngựa tốt, áo hồ cầu đắt tiền, mang vàng bạc theo chi dụng trong khi chờ đợi thuyết phục được Vua và được Vua dùng. Nhưng, thời gian chưa chín mùi để cho thuyết Hợp Tung được vua chúa các nước thấy đúng và hoan nghênh, chẳng có ông vua nào chịu theo kế sách của Tô Tần. Tiền hết, Tô Tần phải bán xe, bán ngựa, mặc cái áo hồ cầu rách, đi bộ thất thểu trở về nhà. Khi Tô Tần thất bại về đến nhà vợ Tô không thèm chào đón, cứ ngồi tỉnh queo dệt cửi, bà chị dâu của Tô không thổi cơm cho ăn, bố mẹ không hỏi đến. Không nản chí Tô Tần đóng cửa luyện lại những hiểu biết của mình. Ra đi lần thứ hai Tô Tần thành công, mang ấn Tướng Quốc 6 nước như đã nói. Tô Tướng Quốc đi ngang quê nhà. Tiền hô, hậu ủng, cờ xí rợp đường. Cha mẹ ông ra đứng bên đường chào đón, bà chị dâu quỳ lết, vợ Tô Tần không dám nhìn mặt chồng…

Đây là ý bài thơ Nguyễn Du làm khi đi ngang đền thờ Tô Tần:

Áo cầu của Quí Tử đã rách, đành đi bộ, đeo túi, trở về. Vợ không xuống khung dệt, chị dâu không thổi cơm cho ăn, bố mẹ không thèm nhìn. Coi nhau như người gập nhau ở ngã ba đường.

Trượng phu lúc thất chí, cốt nhục đều lìa tan. Một mai vận lớn đến. Ấn Tướng Quốc sáu nước buộc dây lưng, vàng trăm nén, ngọc trăm đôi, xe đi theo hàng ngàn cỗ.. Cha mẹ ra đón tận bên đường, chị thì quì lết, vợ chỉ dám lấm lét nhìn trộm. Chí nguyện một đời thỏa mãn trong lúc này. “Trước ngạo, sau kính”.. lời ấy thật là bỉ tiện. Kế hợp tung chẳng phải để chống nước Tần mạnh mà là để kiêu ngạo giàu sang với người thân. Than ôi.. Người ấy lượng nhỏ mọn thay..!

Người ấy nhỏ mọn thay.. — Ta hồ.. Thử nhân tiểu tai khí..! Nguyễn Du chê Tô Tần nhỏ mọn, căn cứ trên việc khi thấy mình được người thân quá kính sợ, Tô Tần hỏi bà chị dâu:

Trước kia sao mọi người khinh rẻ tôi quá mà bi giờ lại kính sợ tôi quá dzậy?

Câu hỏi của Tô Tần trở thành một thành ngữ của người Trung Hoa. Đó là thành ngữ “Tiền cứ, hậu cung“. Cũng là một người đó thôi nhưng thiên hạ đối với người đó lúc thì khinh, lúc thì kính trọng. Tại sao vậy?

Tôi không thấy có lý do gì để nói Tô Tần kiêu căng phú quí với những người thân, chính Tô Tần cũng ngạc nhiên khi thấy trước đây mình bị khinh khi, nay mình được kính trọng. Tô Tần hỏi và bà chị dâu của Tô trả lời:

– Tại vì bi giờ Thúc thúc giầu sang, có quyền, có tiền…

Và Tô Tần than một câu để đời:

– Đồng tiền thật là quan trọng. Người đàn ông ở đời không nên không có tiền.

Trăm tội ở đời không gì nặng bằng tội không có tiền.

Xin kể vài chuyện về mấy anh Con Trai Bà Cả Đọi Tầu vì không tiền nên bị vợ bỏ.

Chu Mãi Thần, người đời Hán, thi trượt dài dài, nghèo mạt rệp, phải kiếm củi đem bán.. Đói khổ quá chịu không nổi vợ Chu Mãi Thần xin bỏ chồng để đi lấy chồng khác, Chu nói:

– Nàng nên cố gắng.. Số tôi đến năm tôi năm mươi tuổi nhất định sẽ giầu sang…

Chị vợ thở dài:

– Vài năm nữa là tôi chết đói rồi, làm sao sống nổi đến năm anh năm mươi tuổi.

Chu đành để vợ đi. Những mùa táo Tầu theo nhau qua.. Chu được làm Thái Thú Cối Kê. Một hôm Chu Thái thú cưỡi ngựa đi trong phố. Người vợ cũ của Chu đón đường xin Thái thú cho trở về đoàn tụ gia đình. Thái thú sai quân hầu lấy bát nước đổ xuống đất trước đầu ngựa, bảo vợ:

– Nàng hốt được chỗ nước đổ này trở lại bát thì ta để nàng trở về sống với ta.

Chuyện vợ chồng Chu Mãi Thần để lại hai thành ngữ diễn tả sự tuyệt tình, đoạn nghĩa: “Phúc thủy nan thu“: Nước đổ khó hốt, và “Mã tiền bác thủy“: Đổ nước đầu ngưạ.

Vì đói khổ và vô vọng chị vợ Chu Mãi Thần có thể bỏ chồng. Vẫn biết khi thấy người chồng chị đã bỏ lúc nghèo hèn nay vinh hiển, phú quí chị xin trở về là không nên, ta cũng không thể không phê phán hành động ác độc của Chu Mãi Thần. Chu Thái thú không cho vợ cũ trở về cũng được đi, nhưng dù sao cũng là tình xưa, nghĩa cũ, tại sao Thái thú không chi cho nàng khoản tiền, giúp nàng có cái nhà, vài mẫu ruộng để nàng sống? Đoạn cuối câu chuyện có chi tiết chị vợ Chu Mãi Thần vì xấu hổ nên tự tử chết.

Và đây là chuyện đàn ông không tiền bị vợ bỏ thứ hai:

Sách Vân Thê hữu nghị ghi chuyện: Dương Chí Kiên nghèo, chị vợ xin đi. Không những chỉ xin đi lấy chồng khác mà thôi, chị vợ Kiên còn xin chồng cho chị ít chữ.

Ngày xưa xa lắm ở bên Tầu có lệ khi anh chồng bỏ vợ cho vợ tờ giấy làm chứng, gọi là tờ ly thư. Dương chí Kiên thuộc loại thi sĩ vườn chân chính nhưng lại có tài mần thơ mọi lúc, mọi nơi, bèn làm bài thơ tứ tuyệt. Chuyện ly kỳ là bài thơ của thi sĩ vườn ấy đã sống với đời cả ngàn năm nay:

Kim thoa nhiệm ý liêu tân phát,
Loan kính tòng tha biệt họa mi.
Thử khứ tiện đồng hành lộ khách,
Tương phùng tức thị hạ sơn thì.
…..
Tự ý thoa vàng cài tóc mới,
Gương loan người khác vẽ mày nhau.
Một đi như khách qua đường lạ,
Gập lại chăng là ở kiếp sau.

Những năm 1960 xanh thắm ở Sài Gòn.. Vào một tối cuối năm ông chủ báo đãi anh em ký giả chúng tôi ăn tất niên ở nhà hàng. Anh em chúng tôi năm ấy là Trọng Nguyên, Hoài Việt Bằng, Mạc Tử — ba anh đã qua đời — Vũ Bình Thư Lã Phi Khanh, Dương Hà Bên Dòng Sông Trẹm, và tôi. Năm ấy anh em chúng tôi đều trên dưới ba mươi tuổi. Ông chủ báo của chúng tôi trạc sáu mươi. Trong cuộc mạn đàm về “tiền, tình, đàn bà” ông chủ báo đi một đường cảm khái. Gần bốn mươi năm trôi qua cuộc đời, sáng nay ngồi viết ở Rừng Phong, Xứ Mỹ, quê người Mỹ, tôi vẫn còn mường tượng được vẻ mặt và giọng nói của ông; buồn nhưng không quá đáng, thoáng chút mỉa mai, cũng tiếc thương hoa niên nhưng cam phận. Ông nói:

- Bây giờ khi đàn bà nói họ yêu các anh là họ yêu các anh. Còn đàn bà nói họ yêu tôi là họ yêu tiền của tôi chứ họ yêu gì tôí!

Vi nhân nan. Làm người khó! Quân tử Tầu đã nói. Đúng vậy thay. Anh đàn ông không có tiền bị người khinh, vợ bỏ. Anh đàn ông giầu tiền cũng tủi thân vì thấy đàn bà không yêu thương con người thật của anh, đàn bà chỉ cho anh hưởng thụ thân xác đổi lấy đồng tiền của anh.

Đời nay đàn ông không tiền vẫn bị vợ bỏ dài dài nhưng có thêm một chuyện bù trừ là đời nay những anh đàn ông giâu tiền cũng bị vợ bỏ soành soạch

Trong bảng danh sách những người nhiều tiền nhất Hoa Kỳ Donald Trump chỉ đứng sau có Bill Gates, Vua Microsoft. Chị vợ Donald đưa ra lý do chị không thể sống với Donald vì anh chồng bận lo kinh tài suốt ngày đêm không nhìn nhõi gì đến chị và con chị. Chị nói với nhà báo:

– Tôi muốn có người chồng tối tối đọc truyện cho con tôi nghe, người chồng khi ngồi ăn sáng với tôi không nhìn, nghe tin tức tài chính trên TiVi..

Lý do vớ vẩn đưa ra cho có mà thôi, em nhỏ lên ba, cụ già chín bó đều biết những chị vợ tỷ phú ly dị chồng vì tiền.

Anh đàn ông không có tiền bị vợ bỏ…

Anh đàn ông giầu tiền cũng bị vợ bỏ…

Đàn ông nghèo hèn mà có vợ đẹp, đa tình là một tai họa. Đàn ông nghèo hèn có thể bị mất mạng vì chẳng may có vợ đẹp. Như Võ Đại Lang pánh pao trong Thủy Hử.

Đời nay đàn ông giầu tiền chỉ còn bị vợ bỏ và mất tiền, đàn ông giầu tiền không còn dễ dàng bị mất mạng vì đồng tiền của mình nữa. Xã hội và pháp luật bảo vệ rất kỹ mạng sống của những người có tiền. Nói đúng hơn là đồng tiền bảo vệ rất kỹ người nào làm chủ nó..

Và đời nay chuyện “Bóp vú cô tiên, lấy tiền đong gạo. Bóp vú bà lão, lấy gạo thổi xôi” chỉ là huyền thoại. Huyền thoại bao giờ cũng đẹp, cũng thơ mộng. Hôm nay câu hỏi của chúng ta là:

– Trong lịch sử bốn ngàn bẩy mươi năm văn hiến của dân tộc ta có thời nào ông cha ta được hưởng cái lạc thú “Bóp vú cô tiên, lấy tiền đong gạo, bóp vú bà lão, lấy gạo thổi xôi” hay không?

Chắc phải có chứ! Nếu không có tại sao ta lại có câu:

Bóp vú cô tiên, lấy tiền đong gạo…
Bóp vú bà lão, lấy gạo thổi xôi..!

Chưởng Môn Phóng Phét

Vu Trong KhanhTháng Ba 2008 tôi viết một bài Viết ở Rừng Phong, đăng trên Tuần Báo SàiGòn Nhỏ, về một Quái nhân Cali. Ông này xưng tên là Vũ Trọng Khanh — tức Đại Tá Vũ Lăng – tự nhận là con của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng. Ông nói bà mẹ ông — bà vợ Nhà Văn Vũ Trọng Phụng — là em ruột của Cố Luật Sư Trần Văn Tuyên, ông kể năm 1940 ông bác ruột ông là ông Trần Văn Tuyên nói với bà mẹ ông là đưa ông sang Pháp, nhưng ông TV Tuyên lại đưa ông sang Tầu, năm 1950 Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn đưa ông từ Tầu về Sài Gòn..vv..vv.. Thấy Quái nhân nói linh tinh quá, nhất là trước việc một Đài TV Việt ở Cali làm cuộc phỏng vấn Quái nhân, coi như Quái nhân đúng thực là một Đại Tá Quân Lực Quốc Gia VNCH, và Đại Tá là con trai Nhà Văn Vũ Trọng Phụng, nên tôi thấy bất nhẫn, tôi viết một bài về Quái nhân.

Tôi trích vài đoạn trong bài Đại Tá Vũ Lăng — đã đăng trên Tuần báo SàiGòn Nhỏ Tháng Ba 2008 — để quí vị chưa biết gì về Quái Nhân biết qua Quái Nhân nói những chuyện gì.

Trích bài Đại Tá Vũ Lăng:

Ngày tháng qua đi.. Tháng 2, 2008 tôi lại thấy ông Vũ Trong Khanh trên màn ảnh truyền hình SBTN, ông VT Khanh này không phải là anh thanh niên Bắc Kỳ đẹp trai Vũ Trọng Khanh tôi gặp ở Sài Gòn cuối năm 1975 hay đầu năm 1976. Ông Vũ Trọng Khanh San José 2008 được Đài SBTN giới thiệu bằng cái tên có cấp bậc quân đội là Đại Tá Vũ Lăng.

Ông Vũ Trọng Khanh Đại Tá Vũ Lăng San José 2008 trạc Sáu Bó tuổi đời, bận quân phục Ông có vẻ đau yếu, dường như ông ngồi không vững, ông nói khó khăn, ông có bà vợ trẻ ngồi bên đỡ lời, nói dùm.

Ký giả phỏng vấn, dường như là ông Tường Thắng, phăng phăng la tuy-líp coi người được phỏng vấn đúng là ông con của Nhà Văn. Ông ký giả cũng phoong phoong gọi người được phỏng vấn là Đại tá.

Ông Vũ Trọng Khanh Đại Tá Vũ Lăng San Jose, và bà vợ, kể nhiều chuyện kỳ cục quá đỗi là kỳ cục. Tôi nghe chuyện ông bà kể mà chịu hổng có nổi. Tôi kể lại những lời ông bà nói như sau, tất nhiên tôi chỉ kể đại khái thôi, tôi không thể kể hết hay kể thật đúng từng tiếng trong những lời ông bà nói, nhưng tôi kể không sai.

Ông Đại Tá Vũ Lăng kể ông bị bọn Bắc Cộng bắt sống năm 1961, ông bị tù giam 22 năm ở Bắc Việt, năm 1982 ông trở về Sài Gòn, năm 1985, 1986 ông vượt biên bằng đường bộ sang Thái Lan, người ta đón ông sang Hoa Kỳ. Trong thời gian chịu tù đày ở Bắc Việt, ông bị bọn Cai Tù Bắc Cộng tra tấn, chúng đánh ông thủng ba lỗ ở đầu, rút hết 10 móng tay ông.

Ông kể:

- Lúc đầu Bộ Trưởng Công An Bùi Thiện Ngộ và Thiếu Tướng Công An Dương Thông hỏi cung tôi, rồi đến ông Đại Tá Bùi Tín. Khi nghe tôi nói tôi là con Nhà Văn Vũ Trọng Phụng, Đại Tá Bùi Tín đập bàn, quát :

- Mày nói láo. Nhà Văn Vũ Trọng Phụng làm gì có thằng con phản động như mày !

Tôi nói :

- Ông Bùi Bằng Đoàn cũng làm gì có thằng con mất dậy như Bùi Tín.

Ông ấy móc súng Côn ra dọa bắn nát đầu tôi nhưng rồi ông ấy không dám bắn.

Ông kể bà vợ Nhà Văn VT Phụng, bà mẹ ông, là em gái Luật Sư Trần Văn Tuyên, em cùng cha, khác mẹ. Ông kể năm ông 9 tuổi, Luật Sư Trần Văn Tuyên nói với bà mẹ ông là đưa ông sang Pháp, nhưng ông TV Tuyên lại đưa ông sang Vân Nam bên Tầu. Ông sống ở đất Tầu mấy năm cho đến khi ông được ông Nguyễn Mạnh Côn đưa từ Vân Nam về Hong Kong rồi về Singapore. Chính quyền Singapore giúp phương tiện cho ông về Sài Gòn. Từ Sài Gòn ông lên Tòa Thánh Tây Ninh.

Ông kể :

- Ở Tây Ninh tôi gặp lại ông Trần Văn Tuyên. Ông ấy đang là Cố vấn Pháp Luật của Đức Hộ Pháp Pham Công Tắc. Ông ấy bảo tôi: “Mày đừng nói với ai mày là cháu tao. Ở đây chúng nó kỳ thị, chúng nó thù ghét Bắc Kỳ. Đừng nhận họ để khi nếu nó giết tao thì nó không giết mày, nó giết mày thì nó không giết tao.”

Tôi được Tướng Trịnh Minh Thế nhận là em nuôi, cho tôi đi học Khóa 4 Trường Sĩ Quan Đà Lạt. Những năm 1960, 1961 có một số cán bộ, binh sĩ Việt Cộng gài lại trong Nam sau Hiệp Định Geneve được đưa ra Bắc chỉnh huấn, Tình Báo tổ chức cho tôi nhập vào những toán đó để ra Bắc hoạt động. Tôi ra Bắc năm 1961, bị bắt, bị tù đến năm 1982 mới trở về Sài Gòn.

Ngưng lời kể của Đại Tá Vũ Lăng.

Cố Luật Sư Trần Văn Tuyên có ông con là Trần Tử Thanh. Tôi, qua điện thoại, hỏi ông Trần Tử Thanh về chuyện ông Đại Tá Vũ Lăng San José nói bà mẹ ông ta là em gái Cố Luật sư Trần Văn Tuyên, tức bà là bà cô ruột của ông, và như dzậy Đại Tá Vũ Lăng Vũ Trọng Khanh San José là anh em con cô, con cậu với ông, ông Trần Tử Thanh cũng đã biết về cuộc phỏng vấn của Đài SBTN, ông kêu :

- Làm gì có chuyện đó. Bà vợ ông Vũ Trọng Phụng đâu phải là em ông cụ tôi. Ông cụ tôi có bao giờ đến Tòa Thánh Tây Ninh đâu. Hoàn toàn bịa đặt. Anh em chúng tôi sẽ phải lên tiếng về vụ này.

Ông Trần Tử Thanh gửi cho tôi bức thư ngỏ :

THƯ NGỎ

Đồng kính gửi :

- Các cơ quan truyền thông, truyền hình, báo chí, các mạng Internet.

- Quí vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, quí vị chủ tịch các đảng phái quốc gia, quí vị Chủ Tịch Công Đồng, các Tổ Chức, Hội Đoàn người Việt Quốc Gia tại hải ngoại.

- Bà con thân thuộc và Bằng Hữu của Gia Đình Cố Luật Sư Trần Văn Tuyên.

Mới đây trong cuộc phỏng vấn kéo dài 4 phần trên Đài Truyền Hình SBTN ở Quận Cam và được báo Việt Nam Exodus đưa lên mạng, có một người xưng là Vũ Trọng Khanh, tự Vũ Lăng, Cựu Đại Tá QLVNCH, tốt nghiệp Khóa 4 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt ( ? ), con của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng ( ? ) – không hiểu vì lý do gì, đã mạo nhận là cháu của Luật Sư Trần Văn Tuyên.

Vì sự việc có liên quan đến thân phụ và giòng tộc chúng tôi, chúng tôi xin minh xác :

1 - Họ và tên người này nêu ra trong cuộc phỏng vấn để chứng minh liên hệ với gia đình Luật Sư Trần Văn Tuyên là hoàn toàn xa lạ với gia đình chúng tôi và không có trong gia phả của giòng họ Trần.

2 - Những sự kiện liên quan đến thân phụ chúng tôi là những sự kiện hoàn toàn bịa đặt một cách trắng trợn.

Tất nhiên khi tạo dựng những sự kiện nêu trên, người được phỏng vấn hẳn có mưu đồ đen tối nào đó.

Vì vậy, chúng tôi xin gửi bức thư ngỏ này thông báo tới toàn thể bà con trong gia tộc, các bằng hữu quen biết gia đình chúng tôi, cùng mọi giới để cảnh giác đề phòng và tránh mọi ngộ nhận trong tương lai.

Thay mặt gia đình Cố Luật Sư Trần Văn Tuyên.

Luật Sư Trần Tử Huyền, Trưởng Nam.

California, ngày 17 Tháng Hai năm 2008.

Quí vị vừa đọc vài đoạn trích trong bài Viết ở Rừng Phong về Đại Tá Vũ Lăng. Tháng 12, 2008, Website Ánh Dương đăng một bài của Đại Tá Vũ Lăng, như sau:

Trích Ánh Dương. Người viết: Hoàng Văn 27/12/2008

Thật là hoang đường – Phuonghang Duongthi và Vũ Trọng Khanh

Thưa quý vị độc giả Ánh Dương,

Để trả lời bức thư của ông Hoàng Hải Thủy ( Công Tử Hà Đông ) viết về Vũ Trọng Khanh, cặp vợ chồng Vũ Trọng Khanh trả lời bằng bài viết dưới đây .

Chắc quý vị cũng thấy là hết sức hoang đường, vì ông VTK biết rất nhiều “tai to mặt lớn” miền Nam, nhưng hầu hết đều quá vãng và không thể đính chính, đồng thời họ bôi bác Tô Kiều Ngân và Hòang Hải Thủy; ông Tô Kiều Ngân là người rất lịch sự, bạn của anh tôi, không khi nào ông ấy có thể hành động khiếm nhã giống như PHDT + VTK mô tả.

Bút Vàng

Vũ Trọng Khanh viết như sau:

Lý do mà tôi phải gọi HOÀNG HẢI THỦY là một nhà văn LƯU MANH bởi vì các lý do sau đây:

+ Vào năm 1952, tôi Vũ Trọng Khanh AKA Thiếu Úy Vũ Lăng vừa mới tốt nghiệp khóa 4 VÕ BỊ LIÊN QUÂN ĐÀ LẠT, đã được đưa về phục vụ tại Phòng 6 do Trung Tá Trần Đình Lan làm Trưởng phòng và được phái ra công tác tại Hà Nộị. Khi ra tới Hà Nội tôi đã gặp Nhà văn Nguyễn Minh Lang. Anh Nguyễn Minh Lang sinh năm 1926, lớn hơn tôi 4 tuổi đã từ chiến khu Việt Bắc bỏ về Hà Nội. Nhà văn Nguyễn Minh Lang còn là bậc thầy của nhà báo Nguyễn Thanh Chiểu có bút hiệu là Thanh Thương Hoàng, hiện nay đang sống ở San José. Cũng ngày hôm đó anh Nguyễn Minh Lang đã giới thiệu với tôi một thanh niên ốm tong ốm teo như một gã HO LAO:

- Khanh, tao giới thiệu vói mày đây là thằng đệ tử của tao. Nó cũng đang tập tành viết lách nhưng chưa đi đến đâu cả

Tôi bắt tay người thanh niên có dáng vẻ HO LAO đó và hỏi:

- Chú em tên gì?

Hắn đáp:

- Kính thưa Thiếu úy, tên em là Hoàng Hải Thủy

Tôi nói vói hắn:

- Ngồi xuống đâỵ Muốn ăn gì, uống gì cứ tự nhiên kêu đị Anh mời

Hắn khép nép ngồi xuống và kêu một đĩa cơm chiên và một chai 33.

Trong lúc chờ đợi thức ăn dọn ra, anh Nguyễn Minh Lang hỏi Hoàng Hải Thủy:

- Mày biết ông Thiếu úy này là ai không?

Hoàng Hải Thủy trả lời:

- Mới gặp ông ta ở đây làm sao em biết ông ta là ai?

Anh Nguyễn Minh Lang nói:

- Ông này là nhà văn và cũng là nhà thơ Trúc Khanh. Tên ông ta là Vũ Trọng Khanh. Ông ta là con trai của nhà văn Vũ Trọng Phụng, là anh cùng cha khác mẹ với con Vũ Mỹ Hằng khi mẹ đẻ ra ông ta mất lúc ông ta được 4 tuổi . Ông ta đã lưu lạc sang Trung Hoa từ năm 1941 đến 1946 về Hà Nội. Tao quen biết vói ông ta qua sự giới thiệu của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và Từ Linh.

Hoàng hải Thủy hỏi tôi:

- Thưa Thiếu úy, ông Từ Linh là ai?

Tôi đáp:

- Ông Từ Linh lúc ban đầu là tài xế lái xe ôtô cho ông Đoàn Chuẩn trong thời gian ông Đoàn Chuẩn làm công chức cho Sở Bưu Điện Hànội – Mỗi ngày ông Đoàn Chuẩn soạn nhạc nhưng không đặt lời. Sau giờ làm việc về đến nhà ông Đoàn Chuẩn chỉ cầm cây đàn Guitar ra ngồi ngoài trước sân khảy đàn nhưng không có lời hát. Từ Linh ngồi bên cạnh đã thuộc hết các giai điệu âm nhạc của ông chủ và Từ Linh đặt ra những lời ca và hát cho ông chủ nghe. Đoàn Chuẩn thích quá viết ngay những lời hát đó vào những bản nhạc của ông ấy và đề rõ ràng Nhạc Đoàn Chuẩn và Lời Từ Linh. Bút hiệu Từ Linh là do nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đặt cho anh tài xế. Từ Linh có nghĩa là người đặt lời. Thêm vào đó, Đoàn Chuẩn có một cô em gái rất xinh đẹp chưa có ai để ý tới và Đoàn Chuẩn đã gả em gái cho Từ Linh.

+ Đó là giai đoạn đầu để cho Hoàng Hải Thủy biết Thiếu úy Vũ Lang này là ai. Đến năm 1954 phong trào di cư cho những người từ miền Bắc muốn bỏ CỘNG SÃN VIỆT GIAN BÁN NƯỚC chạy vào miền Nam là một phong trào rất lớn. Đa số những người Bắc di cư lúc bấy giờ phải tụ tập tại nhà HÁT LỚN ở Saigon, trước cửa Tòa ĐÔ CHÍNH và sau này trở thành TRỤ SỞ QUỐC HỘI – Tôi, Vũ Trọng Khanh, đi lên nhà Hát Lớn để tìm một số bạn VĂN NGHỆ SĨ của tôi từ ngoài miền Bắc di cư vào miền Nam. Người thứ nhất mà tôi đã gặp là Nhạc sĩ Y Vân cùng với một mẹ già trên 80 và một cô em gái tên là Phi Nhung. Người thứ hai mà tôi đã gặp là nhà báo Lê Văn sau lấy bút hiệu là Vũ Bắc Tiến khi nhà báo Lê Văn được chính phủ Ngô đình Diệm mời làm CHỦ BÚT Tuần Báo Tin Bắc của Bộ Công Dân Vụ Người thứ ba mà tôi đã gặp là nhà báo Tô Văn Bùi Bá Nhân được chính phủ Ngô đình Diệm mời giữ chứùc vụ Chủ nhiệm Tuần Báo Tin Bắc. Người thứ tư mà tôi đã gặp là Hoàng Hải Thủy, một kẻ vô danh tiểu tốt lúc đó đang lêu bêu đói rách. Trong thời gian này tôi đang phụ trách trang Kịch Trường Sân Khấu của nhật báo LẼ SỐNG do ông Ngô Công Minh làm Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút, Hoàng Hải Thủy đã nhờ tôi giói thiệu cho anh ta vào làm việc cho Báo Lẽ Sống để NUÔI THÂN nhưng ông Ngô Công Minh không nhận vói một lý do là anh ta chưa có tên tuổi gì trong làng báọ Sau đó tôi phải giói thiệu anh ta qua làm việc vói Nhật Báo Saigon Mới do ông Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận làm Chủ Nhiệm. Ông Bút Trà hỏi tôi:

- Khanh, thằng này nó viết được cái chi?

Tôi không trả lời được câu hỏi của ông Bút Trà vì sự thật tôi không biết rõ khả năng viết lách của Hoàng Hải Thủy. Thấy tôi ngồi im lăng không trả lời, ông Bút Trà nhìn tôi gắt tướùng lên:

- Thôị đừng có mang nó tói đây nữa.

Khi ra đường tôi móc túi đưa cho Hoàng Hải Thủy 200 đồng bạc Đông dương và nói:

- Cầm đỡ để sống qua ngày cho tới khi có việc làm.

Từ đó tôi không gặp lại cái tên Hoàng Hải Thủy nữa. Mãi đến năm 1982, khi tôi đi tù từ miền Bắc về đến Saigon vào một buổi sáng trên đường Gia Long tôi tình cờ gặp lại Thanh Thương Hoàng cũng đang lêu bêu đói rách sau khi đi tù về, và một người bạn chí thân đồng hương của tôi là nhà thơ Hoàng anh Tuấn, tôi rủ Thanh Thương Hoàng và Hoàng anh Tuấn ghé vào một quán ruợu bụi đời ở bên vỉa hè đường Gia Long. Không ngờ ông chủ quán rượu lại là Văn thi sĩ Tô Kiều Ngân, một trong những bạn văn thơ rất thân của tôi. Tô Kiều Ngân cho tôi và Thanh Thương Hoàng uống rượu và anh ấy nói:

- Rượu này miễn phí. Tao cho hai thằng mày uống khỏi phải trả tiền. Nhưng mỗi thằng chỉ được uống đúng ba ly mà thôi.

Tôi và Thanh Thương Hoàng mới uống được hai ly thì bất ngờ có một tên đến. Tên này đứng sau lưng Thanh Thương Hoàng và lên tiếng:

- Còn tiền không cho tao uống với.

Tô Kiều Ngân thấy tên đàn ông này tới bèn lên tiếng chửi:

- Cút mẹ mày đi. Đừng đến ám tao. Lớ ngớù đến đây tao thoi cho vỡ mặt bây giờ.

Tôi nhìn gã này, nhận ra ngay hắn là Hoàng Hải Thủy. Tôi nói vói hắn:

- Ngồi xuống.

Tôi móc túi đúa cho hắn 5 đồng.

- Đâỵ cầm lấy 5 đồng mà uống.

Tô Kiều Ngân lên tiếng chửi lần nữa:

- Đi chỗ khác mày. Ruợu của tao không bán cho cái thứ hủi như mày.

Hoàng Hải Thủy cầm 5 đồng đi mất. Rồi từ đó tôi không hề gặp lại tên hủi này nữa.

Đây là những sự thật mà tôi đã biết và đã nhớ về con người của Hoàng Hải Thủy và tôi cũng tin rằng Hoàng Hải Thủy cũng khó có thể quên được Vũ Lăng tức Vũ Trọng Khanh này là con trai của cố văn hào Vũ Trọng Phụng bởi vì tôi đã là ân nhân của hắn không những một lần mà là nhiều lần.

Bây giờ hắn, Hoàng Hải Thủy không muốn nhận ra tôi cũng không hề gì bởi vì hắn sợ tôi nói ra những sự thật này về con người của hắn, hắn tự nhận mình là CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG nhưng hắn phải biết tôi là ai. Những ai còn thắc mắc về gia thế của tôi là con trai của cố văn hào VŨ TRỌNG PHỤNG thì cứ hỏi thẳng Thanh Thương Hoàng hay là cụ Hà Bỉnh Trung có tên thật là Vũ Văn Phiên mà tôi phải gọi cụ bằng chú. Cụ Hà Bỉnh Trung là một nhà báo lão thành nổi tiếng ở Việt Nam. Cụ cũng là một trong những Giáo sư giỏi của Đại Học Văn Khoa Saigon. Cụ sẽ cho mấy người biết rõ là tôi, Vũ Lăng túc Vũ Trọng Khanh phải gọi Giáo sư Vũ Khắc Khoan bằng gì và Cố Luật sư Trần Văn Tuyên bằng gì.

Thôi nhé tôi nói thế cũng đã là quá nhiều về cái tôi đáng ghét của một sĩ quan Quân Lực Việt nam Cộng Hoà bị bắt làm tù binh từ cuối năm 1960 – 1982 mà mọi người cũng rất ghét tôi mà tôi không hề biết vì lý do gì.

Nhân Mùa Giáng Sinh của năm 2008 và năm mới sắp đến của năm 2009 chúng tôi xin kính chúc qúy vị được tràn đầy ơn khôn ngoan.

Duongthi PhuongHang 1476 & Vũ Trọng Khanh ( ĐT Vũ Lăng)

Đây là một thư điện tử được gửi qua http://anhduong.info/joomla từ: Trần văn Bài.

Tôi là một ngừơi sống tại Sacramento hơn 20 năm nay. Do đó tôi rất biết cái tên lừa gạt giả danh con trai của ông Vũ Trọng Phụng. Tên Vũ Trọng Khanh này sống ở Sacramento gặp ai cũng khoác lác tự xưng là con trai VTP, được Mỹ đón trực tiếp bằng phi cơ trực thăng từ trại cải tạo đến Mỹ. Thành tích chuyên môn lừa gạt đồng hương. Thành tích bẩn thỉu nhất là share phòng bà Vân Hồng không trả tiền, khi dọn đi ăn cắp nguyên một tủ rượu quý của chồng bà ta. Chuyện này cả Sacramento đều biết.

Trân trọng thông báo cho quý báo cẩn thận khi tiếp xúc với tên lừa gạt này. Không tin quý vị cứ liên lạc với một số văn nghệ sĩ tại Sacramento hỏi về tên lưu manh này thì rõ.

Ngưng trích Ánh Dương.

*****

Kính gửi Đại Tá Vũ Lăng Vũ Trọng Khanh,

Về mục Phóng Phét, Anh không chỉ là Đàn Anh của Em, Anh là Sư Phụ của Em, Anh là Chưởng Môn Phóng Phét Phái.

Năm mới, Em kính chúc:

Chưởng Môn Phóng Phét Đại Sư Phụ Vũ Tướng công Trọng Khanh,
Đại Sư Mẫu Phóng Phét Dương Phu nhân Phương Hằng,
Thọ tỷ Nam Sơn,
Phúc như Đông Hải.
Công Tử Hà Đông kính bái.

Sài Gòn Mới, Sài Gòn Cũ

Saigonmoi
 
Trước năm 1956 đường tên là đường Colonel Grimaud. Từ năm 1956 đến năm 1975, đường tên là đường Phạm Ngũ Lão.

Đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn, khởi đầu từ Ngã Ba có Rạp Xi-nê Khải Hoàn, Trụ Sở Hội Dục Anh, nơi gặp nhau của ba đường Nguyễn Trãi, Cống Quỳnh, Phạm Ngũ Lão. Đường có chợ Thái Bình, rạp xi-nê Thanh Bình, toà soạn nguyệt san Văn, nhà in Nguyễn Đình Vượng, xóm Sáu Lèo, một đoạn đường một bên là dẫy tường Nhà Ga Hoả Xa Sài Gòn, một bên liền một dẫy năm, bẩy nhà in, toà soạn nhật báo, tuần báo. Ở đoạn đường này những năm 1970 có nhà in Thư Lâm Ấn Quán của ông con rể ông Đông Hồ, toà soạn tạp chí Phổ Thông của ông Nguyễn Vĩ, với Thi Đoàn Bạch Nga, một thời đặt trong nhà in Thư Lâm, toà soạn nhà in tuần báo Điện Ảnh của ông Mai Châu, toà soạn nhà in tuần báo Kịch Ảnh, nhật báo Tiếng Vang của ông Quốc Phong, toà soạn-nhà in Thế Giới của ông Nguyễn Văn Hợi..vv…

carToà soạn – nhà in nhật báo Sàigòn Mới ở số nhà 39 cuối đường Phạm Ngũ Lão, đoạn đường này nằm lửng lơ con cá vàng giữa ba đường Phạm Ngũ Lão, Trần Hưng Đạo và Hàm Nghi. Dẫy nhà một tầng lầu, toà báo Sàigòn Mới gồm ba căn, tầng trệt là nhà in, tầng lầu là toà soạn và nơi cư ngụ của ông bà Bút Trà. Có vi-la ở đường Nguyễn Huệ, Phú Nhuận, sau năm 1963 đổi tên là đường Thích Quảng Đức, ông bà Bút Trà vẫn sống ở toà báo đường Phạm Ngũ Lão.

Tại sao hôm nay, buổi sáng mùa hè năm 2005, sống ở xứ người xa Sài Gòn, xa đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn, không phải là một mà hai biển lớn, tôi bỗng dưng lại thấy hiển hiện bầu trời Sài Gòn chuyển mưa xanh sám buổi chiều những năm 1960?? Những năm tôi đang thời son trẻ, những năm phong độ nhất của đời tôi! Bốn mươi tám năm xưa rồi còn gì?

Sáng nay, buổi sáng cuối năm ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi đi môt đường cảm khái nhớ Sài Gòn xưa, nhớ toà báo cũ, là vì đêm hôm qua tôi đọc bài Tạp Ghi của Ký Giả Lô Răng, ông ký giả này là “anh em cùng vợ” với ông Cựu Trung Tá Phan Lạc Phúc. Bài Tạp Ghi được viết, được đăng báo ở hải ngoại chắc đã tám, chín năm trước, ông Ký giả kể chuyện xưa: năm 1974 ở Sài Gòn, ông và các bạn ông tổ chức một Đêm Vinh Danh Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Ngoài việc vinh danh, các ông trong ban tổ chức có ý quyên một khoản tiền giúp ông bà Thi sĩ. Trong buổi vinh danh sẽ bán đấu giá một số thi văn phẩm của Vũ Thi Bá. Trong bài có vài dòng viết về nhật báo Sàigòn Mới và bà Bút Trà. Như vầy:

Đêm Vũ Hoàng Chương. Trích:

Phải cần đến những Mạnh Thường Quân (MTQ) chi cho những giá đặc biệt. Những MTQ này không tự nhiên mà có, phải tìm, phải mời. Tôi nghĩ tới những đối tượng tôi có thể tiếp cận được, những ông chủ báo, những chủ nhân nhà sách, nhà xuất bản, nhà phát hành. Giới chủ báo tôi nhờ Hà Chuởng Môn (nhà thơ Hà Thượng Nhân). Ông chủ nhiệm thở dài sườn sượt “cứt sắt cả, không cạy được đâu”. Tôi mới gợi ý: “Bà Bút Trà gửi mình mấy đưá con, cháu, đưá làm ty trị sự, đưá nhà “chữ”, bà cứ mời mình hoài mà mình chưa có dịp nào. Nhà phát hành Đồng Nai cũng vậy. Bây giờ đêm Vũ Hoàng Chương, mình mời tham dự, mỗi người trả cho vài giá đặc biệt, một công hai việc, nên quá đi chứ?” Chừng như vỡ lẽ, Hà chưởng môn mới nói: “Để tôi bảo Viêm Hồng”. Người anh em Viêm Hồng trong toà soạn chúng tôi chỉ là trung sĩ nhất nhưng anh lại là “quân sư quạt mo” của Sàigon Mới, xưa nay dealing việc gì với Sàigòn Mới cũng xong.

Chuyện trăm năm cũ kể chi bây giờ..! Đúng hay sai một tẹo có gì là quan trọng! Chỉ vì ông Ký giả viết đến nhật báo Sàigòn Mới, tờ báo có tôi làm nhân viên cho đến ngày báo bị đóng cửa, vì ông viết đến bà Bút Trà, bà chủ báo của tôi, nên tôi đi một đường cảm khái, tôi sầu nhớ lại ngày xưa, những ngày tôi tuổi đời Ba Bó, tôi đang thời xuân sắc, tôi cảm thương nhan sắc tôi tàn phai, nên hôm nay, ở xứ người, tôi sầu nhớ và tôi buồn viết những dòng này.

Ông Ký Giả kể Đêm Vinh Danh Thi Bá Vũ Hoàng Chương được tổ chức năm 1974 và năm 1974 ông đang làm việc trong tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến, ông Hà Thượng Nhân đang là chủ nhiệm báo Tiền Tuyến. Nếu tôi nhớ không lầm thì năm 1974 ông Ký Giả không còn làm việc trong toà soạn nhật báo Tiền Tuyến, ông Hà Chưởng Môn, tức ông Thi sĩ Hà Thượng Nhân, không còn là chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến. Năm 1974 chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến là ông Đại tá Nguyễn Hữu Hùng.

Lúc 11 giờ trưa ngày 11 Tháng 11, năm 1961, hay ngày 1 Tháng 11 năm 1961, khi những ông sĩ quan làm đảo chính Nguyễn chánh Thi, Vương văn Đông, Phạm văn Liễu..vv.. đã lên phi cơ bay sang Nam Vang, một tuyên cáo ủng hộ phe đảo chính được đưa tới toà báo Sàigòn Mới. Tuyên cáo do một số nhân sĩ ký tên, trong số có ông Nguyễn Tường Tam. Báo đăng Tuyên Cáo này hay không? Người quyết định đăng hay không là ông Bút Trà. Ông nói nhà báo không ủng hộ phe nào cả, có tin là nhà báo đăng. Và nhật báo Sàigòn Mới đã đăng bản Tuyên Cáo ấy. Hình như cả làng báo Sài Gòn hôm ấy chỉ có báo Sàigòn Mới đăng Tuyên Cáo ủng hộ phe Quân Nhân Làm Đảo Chính Hụt. Những người ký tên trong Tuyên Cáo ủng hộ phe đảo chính, không phải nhật báo Sài Gòn Mới ủng hộ, nhưng vì đăng bản Tuyên Cáo đó báo Sàigòn Mới “có tội” với chính phủ. Báo không bị đóng cửa nhưng bị một phen xính vính. Sau đó bà Bút Trà bảo vệ tờ báo bằng cách đề nghị với Phủ Tổng Thống, Bộ Thông Tin “giúp cho” toà báo một, hai “chuyên viên coi sóc đường lối chính trị” của tờ báo. Báo Sàigòn Mới trả lương tháng cho những chuyên viên ấy nhưng mấy ổng chẳng có quyền hành mẹ gì mà cũng chẳng có việc mẹ gì làm trong toà soạn. Bọn ký giả nhà nghề chúng tôi, làm việc và sống bằng tài năng và công sức của mình, coi thường những người được chính quyền đưa vào ăn không ở toà báo. Không ai trong bọn họ được coi là “quân sư quạt mo” của báo Sàigòn Mới. Tôi không nhớ ông Trung sĩ Nhất Cục Tâm Lý Chiến Viêm Hồng có thời nào lĩnh lương của báo Sàigòn Mới hay không, tôi biết chắc nếu có thì việc đó xẩy ra những năm 1962, 1963, việc đó không thể xảy ra năm 1974 khi Đêm Vũ Hoàng Chương được tổ chức. Năm 1974 thủ đô Sài Gòn không còn báo Sàigòn Mới mà cũng chẳng còn bà Bút Trà như bà Chủ Báo Bút Trà năm 1960.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bắn chết, buổi trưa ngày hôm sau Tượng Đồng Hai Bà Trưng ở Công Trường Mê Linh bị đám đông kéo xuống, Tượng Hai Bà bị cưa cổ, đầu Tượng bị cho vào xe xích lô chạy diễu trên đường Tự Do, cùng lúc ấy toà báo Sàigòn Mới bị một nhóm người kéo đến đập phá. Một anh nào đó, anh này mới thực là quân sư quạt mo, trong bọn cố vấn cho đám tướng lãnh làm đảo chính, biết lời chỉ thị của Lenin: “Khi ‘cách mạng’ thành công, nếu nhân dân có vì căm thù mà trả thù bọn cầm quyền cũ hay bọn nhà giàu thì đừng cấm. Cứ để họ làm.” Nhân dân không căm thù, không trả thù thì bọn đảo chính cho bọn tay sai đi phá phách. Khi bọn đập phá kéo vào, chị hầu của bà Bút Trà đưa cho bà cái nón lá, bà đội nón theo chị đi ra khỏi toà soạn. Những người đi phá phách chắc cũng không hãnh diện chi lắm với việc làm của họ, nên họ chỉ đập phá qua loa rồi rút êm. Chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ không đóng cửa nhật báo Sàigòn Mới.

Bốn tháng sau, khoảng Tháng Hai, Tháng Ba năm 1964, Nguyễn Khánh làm cuộc binh biến gọi là chỉnh lý. Trong cuộc họp báo thứ nhất của nhóm chỉnh lý, ủy viên của nhóm là Đỗ Mậu – hình như lúc đó còn là Đại tá – đọc lệnh đóng cửa ba nhật báo Sàigòn Mới, Ngôn Luận, Đồng Nai vì “tội cấu kết với Độc Tài Nhà Ngô.”

Nhật báo Sàigòn Mới, nhật báo Ngôn Luận, hai tờ báo chính của tôi, bị đóng cửa, thời phong độ của tôi chấm dứt, cuộc đời tôi bắt đầu đi xuống.

Ơi.. Người đọc những dòng chữ này ở tám phương trời, mười phương đất, tôi mời Người đọc:

TRUYỆN NGƯỜI THỢ NỀ VƯƠNG THỪA PHÚC.

Tác giả Hàn Dũ. Theo bản dịch của Nguyễn Hiến Lê

Nghề thợ nề hèn mọn mà lại khó nhọc. Có người làm nghề đó mà vẻ mặt lại như tự đắc, nghe lời nói thì giản ước mà thấu triệt. Hỏi thì đáp họ Vương, tên Thưà Phúc, đời đời làm nghề nông ở đất Tràng An, hạt Kinh Triệu. Hồi loạn Thiên Bảo, làm lính mộ, cầm cung tên mười ba năm, có công lao, có thể được thăng quan, nhưng bỏ mà về nhà; vườn ruộng mất hết, làm nghề thợ nề để nuôi thân, đã trên ba chục năm. Ở trọ một nhà tại chợ, mà trả tiền nhà, tiền cơm đều phải chăng. Tuỳ tiền nhà, tiền cơm đắt hay rẻ mà tăng hay hạ tiền công thợ nề, có dư thì cho những kẻ nghèo đói, phế tật.

Người thợ nề ấy nói:

- Nghề thợ nề dễ làm, tuy khó nhọc mà không có gì phải thẹn, lòng tôi được yên. Dùng sức thì dễ, dùng tâm thì khó mà cần có trí. Kẻ dùng sức để người ta sai khiến, kẻ dùng tâm sai khiến người, cũng là đáng vậy. Tôi chọn làm cái nghề dễ làm mà không xấu hổ.

Ôi..! Tôi cầm bay vô các nhà phú quí đã nhiều năm rồi. Có nhà tôi tới một lần, lần sau đi qua thì đã thành đất hoang, có nhà tôi tới hai, ba lần, lần sau đi qua thấy không còn nữa. Hỏi người láng giềng, có người nói: “Ôi..! Chủ nhà bị tội, chết rồi!” Có nơi đáp: “Chết rồi! Con cháu không giữ được gia sản.” Có người nói: “Chết rồi. Gia sản bị tịch thu!” Tôi lấy đó mà ngẫm thì chẳng phải ăn mà làm biếng nên bị vạ trời đấy ư? Chẳng phải là gắng dùng trí mà không đủø sức, không biết xét tài năng có xứng không mà mạo hiểm làm đấy ư? Chẳng phải là làm nhiều điều đáng xấu hổ, biết là không nên mà cứ làm đấy ư? Hay là phú quí khó giữ vì công lao thì ít mà hưởng thụ lại quá hậu chăng? Hay là thịnh suy có thời, hết thịnh đến suy không thể thịnh hoài được chăng? Nghĩ vậy tôi sợ lắm, cho nên tôi lựa cái nghề vừa sức tôi mà làm. Thích giầu sang mà ghét nghèo hèn, tôi nào có khác chi người.

Lại nói:

- Kẻ công lao nhiều thì cung phụng cho mình cũng nhiều; vợ con đều trông vào ta mà sống. Sức tôi yếu mà công tôi nhỏ, tôi không có vợ con cũng phải. Hạng người lao lực mà có vợ con thì thêm lao tâm. Một thân mà gánh vác hai việc, bực Thánh cũng không làm được.

Hàn Dũ tôi thoạt nghe còn nghi hoặc, sau ngẫm kỹ thì thấy người đó là bực hiền, là hạng mà người ta gọi là “độc thiện kỳ thân.” Nhưng tôi có chỗ chê người đó là vị mình thì quá nhiều, vị người thì quá ít. Người đó cho việc có gia đình là lao tâm, không chịu nhọc tâm để nuôi vợ con thì có khi nào chịu lao tâm vì người không? Tuy nhiên so với bọn người đời chỉ lo đắc thất, mong thoả mãn dục vọng một đời, tham tà mà quên đạo đến nỗi táng thân, thì người thợ nề đó còn hơn xa. Tôi lại nghĩ lời người đó có thể răn tôi được nên tôi chép lại truyện này.

Từ năm 1940 khi tôi bắt đầu ghi nhận được chuyện đời, tôi thấy ở nước tôi không có nhà nào giầu sang được hai đời. Hai đời thôi, không lâu đến ba đời, năm đời như những nhà công hầu quí tộc thời Đông Chu bên Tầu. Như nhà họ Hoàng, ông bố Hoàng Cao Khải, ông con Hoàng Trọng Phu, hai đời Tổng Đốc Đại Thần, nhưng đời Tổng Đốc Hoàng Trọng Phu không được trọn vẹn. Chính quyền Nam Triều và Nhà Nước Bảo Hộ Đại Pháp tiêu tán thoòng, quay cu lơ, ngủm cù đeo, phe lơ mò khi Tổng Đốc Hoàng Trọng Phu còn sống. Năm 1942 ông Tổng Đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu về hưu, nhường chức Tổng Đốc Hà Đông cho ông Vi văn Định, rồi ông Hồ đắc Điềm. Tổng Đốc Hoàng Trọng Phu qua đời không kèn, không trống ở Ấp Thái Hà năm 1946.

Sau năm 1945 những nhà giầu nước tôi, giầu thôi, không nói sang, không lâu được một đời. Như ông bà Bút Trà chủ báo Sàigòn Mới. Tờ nhật báo Sài Gòn ra đời từ những năm 1925, 1926, sau năm 1945 đổi tên là báo Sàigòn Mới. Báo sống được nhưng không huy hoàng, không phải là báo bán chạy, mãi đến năm 1957 nhờ sáng kiến tặng phụ bản bản đồ Việt Nam, bản đồ thế giới rồi phụ bản mầu đủ thứ chim cò, ngao sò ốc hến của anh con thứ năm là Năm Thành, báo Sàigòn Mới tăng vọt số báo bán. Anh con thứ sáu là Sáu Khiết xuất bản Tuần báo Phụ Nữ Ngày Mai. Tiền đổ vào nhà Sàigòn Mới như nước. Bà Bút Trà xây và làm chủ Rạp Xi-nê Kim Châu đường Nguyễn Văn Sâm.

Giang sơn Sàigòn Mới chỉ thịnh được có bẩy, tám năm, từ 1957 đến đầu năm 1964. Rồi tan. Rồi nát. Rồi không còn qua một dấu vết. Sau ngày tờ báo bị bức tử, ông Bút Trà đi sống với bà vợ nhỏ, bà Bút Trà về sống với nhà bảo sinh có từ trước của bà ở gần Trường Tiểu Học Bàn Cờ đường Phan đình Phùng. Tôi nghe nói sau năm 1975, ông Bút Trà chết trong nghèo đói. Ông bà Bút Trà không làm việc gì gian tham, thất đức, ông bà, những anh con của ông bà, không lười biếng, không phải là hạng người chỉ ăn mà không làm, không phải là những người làm mà không lượng sức, cũng không làm những trò gian dâm, không mê cờ bạc, không nghiện hút, không cả uống rượu, nhưng cuộc giầu có của họ vẫn không được bao năm. Ôi… Phải chăng như lời ông Thợ Nề Vương Thưà Phúc nói: “Thịnh suy có thời, không thể thịnh mãi!” Tôi chỉ ngậm ngùi vì chuyện ở đời tôi những thời gian Thịnh của những người sống cùng thời với tôi sao ngắn quá!

Những ngày như lá, tháng như mây…! Sài Gòn 1960, Sài Gòn Đẹp Lắm Sài Gòn ơi.., Virginia is for American Lovers, Xứ Tình Nhân Mỹ, Kỳ Hoa Đất Trích năm 2008.. Chiều cuối năm, 4 giờ trời đã tối… Thấm thoắt dzậy mà đã 48 muà lá rụng đi qua cuộc đời, trong 234 sát-na tôi trở về đứng trên hành lang trên lầu toà soạn nhật báo Sàigònmới, nhìn trời Sài Gòn chiều chuyển mưa xanh sám trên chợ Bến Thành, tôi nghĩ:

- Trong một chiều trời đất buồn như thế này, Từ Hải dừng bước giang hồ để trở về với Kiều!

Tôi trở lại là tôi năm tôi ba mươi tuổi, tôi trở về toà báo Sàigònmới 48 năm xưa của tôi chỉ vì đêm qua tôi đọc vài dòng ông Ký Giả Lô Răng viết về Bà Chủ Báo năm xưa ấy của tôi là bà Bút Trà.

Nhũn Như Con Chi Chi

Chan Ca
 
Bốn trong 120 cây bài Chắn – Tổ Tôm: Chi chi, Nhị sách, Bát sách, Cửu vạn. Vì cây Chi chi giá trị thấp nhất trong 120 cây bài nên người Việt miền Bắc thường nói “nhũn như con chi chi”, cây Nhị sách chống gậy, bị coi là quân Ăn mày, cây Bát Sách, không biết tại sao có tên là Anh Gàn- Gàn Bát Sách, từ những năm 1990 người Bắc gọi những người hành nghề khuân vác hàng ở biên giới, ở bến xe, bến đò là Cửu Vạn. Cây bài Cửu vạn vác thùng đồ trên vai. Không lâu nữa chắc cỗ bài này sẽ mất vì sẽ không còn người Việt nào chơi bài Chắn Cạ, Tài Bàn, Tổ Tôm.

——————–

Từ năm 1970 đến ngày ta mất nước, ngoài việc viết bài thường xuyên cho Đài Phát Thanh Quốc Gia, anh Nguyễn Mạnh Côn giữ mục bình luận thời sự cho tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, anh đặt tên mục của anh là “Bảy ngày đêm tính quẩn chuyện đời“, ký tên Đằng Vân Hầu. Trong bài anh viết về một số sự việc xảy ra trong tuần ở trong nước, trên thế giới. Năm 1973, sau Hiệp Định Paris, người Việt Quốc Gia bắt đầu nói đến chuyện sắp có hoà bình, anh Côn viết tác phẩm “Hoà Bình. Nghĩ gì? Làm gì?” Năm 1995 trong một tiệm sách ở Hoa Kỳ tôi nhìn thấy quyển “Hoà Bình! Nghĩ gì? Làm gì?” được in lại ở Mỹ.

Hôm nay một ngày cuối năm 2008, sống bình yên ở Hoa Kỳ, ý nghĩ đến với tôi : tại sao tôi không viết những bài theo kiểu “Bảy ngày đêm tính quẩn chuyện đời“? Không viết về một chuyện mà viết về nhiều chuyện nho nhỏ? Chẳng hạn như:

- Tại sao ta gọi đồng “franc” của Pháp là đồng “quan”?

- Cái tên “câu-lạc-bộ” ở đâu ra? Tiếng gì của người Tây phương làm ngôn ngữ ta có tiếng “câu-lạc-bộ”?

cardĐây không phải là việc “phơi bầy hiểu biết“. Tôi đã viết nhiều lần: Chữ nghĩa, hiểu biết của tôi đựng không đầy cái lá mít. Từ ngày bánh xe lãng tử sang Kỳ Hoa Đất Trích tôi không làm việc gì khác ngoài việc « đọc » và « viết », hai việc tôi yêu thích nhất. Thấy trên những trang sách có chuyện gì hay hay, lạ lạ, những chuyện tôi chưa biết, những chuyện đến lúc đọc trong sách tôi mới được biết, tôi nghĩ chắc nhiều người cũng không biết như tôi, chắc những người đó khi đọc và biết những chuyện ấy cũng thích thú như tôi, nên tôi ghi chép và hôm nay tôi kể lại ở đây vài chuyện.

Tôi vẫn nghe nói câu “Khoẻ như vâm“, tôi cũng thường nói “Khoẻ như vâm“, nhưng tôi không biết “vâm” là con vật gì. Mới đây đọc “Tuyết Xưa” của tác giả Trần Ngọc Ninh tôi mới biết “vâm” là “voi“. “Vâm” tiếng gọi con voi của dân Hà Tĩnh. “Khoẻ như vâm” là “Khoẻ như voi“. Từ bao năm tôi vẫn nghe nói, vẫn nói “luá chiêm, gạo chiêm” nhưng nếu ai hỏi “Tại sao gọi là luá chiêm, gạo chiêm?” tôi không trả lời được. Cũng nhờ ông Trần Ngọc Ninh tôi được biết “lúa chiêm” là lúa của người Chiêm Thành, là giống luá, mùa luá cuả người Chiêm, trồng theo thời vụ và cách thức của người Chiêm. Trước đời Lý nước ta không có lúa chiêm, vụ chiêm; từ đời nhà Lý ông cha ta vào chiếm đất Chiêm Thành mới biết cách và làm theo cách trồng lúa của người Chiêm nên từ đó ta gọi mùa lúa đó là vụ chiêm, thứ gạo đó là gạo chiêm.

Những chuyện linh tinh tôi kể ở đây có thể có chuyện không đúng. Tình thật, tôi thấy trên sách thế nào, tôi chép lại như thế, tôi không bịa ra những chuyện này.

Tại sao ta gọi đồng “franc” là đồng “quan“?

Bến Nghé Xưa. Sơn Nam: Một quan tiền của ta (600 đồng) được người Pháp trị giá ngang với một đồng frăng của họ, vì vậy, đồng frăng (âm là phật-lăng) gọi là đồng quan.

Tại sao đồng bào ta gọi tem thư là “cò thư“, dán tem vào thư là “dán cò?” Tiếng “cò thư” chỉ có ở miền Nam. Vì cái tem thư thứ nhất người Pháp phát hành ở Nam kỳ in hình con cò, nên người Nam gọi tem thư là «cò thư », dán tem là dán cò. Tiếng “tem” – timbre — ta dùng quá quen, coi như tiếng Việt, như tiếng “đi gác, đứng gác, phiên gác“, từ tiếng garde của Pháp.

Câu-lạc-bộ: Tiếng Club của người Anh, người Tầu phiên âm là “Cơ-lơ-bơ”, ông cha ta bắt chước người Tầu, thành “Câu-lạc-bộ.”

Câu-rút: Trong nhiều sách kinh Thiên Chuá Giáo xưa ta thấy viết “Chuá Cứu Thế chịu nạn trên câu-rút!” Câu-rút là tiếng phiên âm của tiếng Cross.

Ba gai. Tiếng để gọi những anh lính vô kỷ luật. Ba gai, ba đồ..! Ba gai từ tiếng pagaille của Pháp. Trong “Tự Vị Tiếng Việt Miền Nam” tác giả Vương Hồng Sển viết “tiếng ba gai có lẽ do tiếng Pháp bagarre“, không đúng.

Nhũn như con chi chi: Thành ngữ của người Bắc kỳ. Cỗ bài tổ tôm, cỗ bài chắn có 120 cây, có chữ Hán và hình người, từ hàng nhất đến hàng cửu, tức từ số một đến số chín. Có năm quân bài số một, quân chi chi là quân bét nhất, kém hạng nhất trong số 5 quân bài hạng bét ấy. Nói “nhũn như con chi chi” là nói thái độ của người biết mình hèn kém. “Nhũn” đây là nhũn nhặn, không phải mềm nhũn. Có ông viết trên báo giải thích “nhũn như con chi chi” : “chi chi” là tên một giống cá mềm nhũn!

Gàn bát sách: Cũng tiếng của người Bắc; người Trung, người Nam không biết “gàn bát sách” là cái gì. Trong cỗ bài Chắn có cây bát sách. Không biết vì sao người Bắc cho quân bài này là gàn, nên gọi những ông gàn dở trên cõi đời này là những ông Gàn Bát Sách. Người Bắc có tục lệ bỏ cỗ bài Chắn – cỗ bài này cũng dùng để đánh Tổ Tôm – vào quan tài người chết, để “bọn quân bài theo hầu hạ người chết“, nhưng bỏ cây bát sách ra vì sợ “thằng Bát Sách nó gàn, nó làm những việc,nó nói những lời gàn dở làm người chết khó chịu.”

Hình như người Bắc chỉ cho những lá bài Chắn – Tổ Tôm vào quan tài những người chết đàn ông. Khi ông thân tôi qua đời, bà mẹ tôi cho cỗ bài Chắn vào quan tài của ông, tôi hỏi để làm gì thế, bà mẹ tôi nói “Để bọn này chúng nó hầu ông cụ.” Tôi không nói gì, tôi nghĩ thời gia đình tôi có nhiều người hầu nhất là những năm 1940 ở thị xã Hà Đông, những năm ấy ông thân tôi là thông phán Dinh Tổng Đốc, ông có nhà lầu, có xe tay nhà, thường thì trong nhà có hai người làm: một anh đàn ông vừa kéo xe đưa đón ông thân tôi đi làm, vừa gánh nước ở máy nước công cộng, vừa làm bếp nấu ăn, một vú già hay một chị sen đi chợ, giặt quần áo, phụ gánh nước. Nay ông thân tôi mất, cho những 119 quân bài theo hầu ông, ông lấy gì nuôi ăn đám hơn một trăm người hầu ấy?

Cây: tiếng dùng thay cho tiếng “lạng”. Một “cây vàng” là một lạng vàng. “Cây” tiếng lóng, xuất từ ngôn ngữ của giới kỳ bẽo Sài Gòn – “Kỳ bẽo”: cờ bịch, cờ bạc – Giới tổ chức những sòng xóc đĩa ở Sàigòn – tất cả những người trong giới xóc đĩa là dân Bắc kỳ ri cư – từ khoảng năm 1960 có lệ xếp sẵn những chồng giấy bạc 50.000 đồng để khách dùng đánh bạc. Mỗi cọc tiền 50.000 đồng, được chằng dây cao su, như thế được gọi là “một cây“. Sau khi bọn quân đội Bắc Cộng xâm chiếm Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, phong trào vượt biên tự phát, người cả nước vượt biên. Đồng tiền Hồ đã không có một xu giá trị nào lại còn mất giá thê thảm, mất giá dài dài, những người tổ chức các cuộc vượt biên không lấy tiền người đi vượt biên mà lấy vàng. Tiếng “cây” được người cả nước dùng.

Ai là người Việt Nam ở tù lâu năm nhất? Quán quân ở tù Việt Nam, người Việt Nam tù lâu Vô Địch có lẽ là ông này:

Trương Kỳ. Truyện nôm cuả Trương Quốc Dụng, quan nhà Nguyễn, có tên đường ở Sài Gòn. Trích:

Ông nội tôi là Trãi Hiên tiên sinh không ưa đạo Phật và thuật số. Cuối đời Lê, cụ đỗ hương cống. Cụ hay làm thơ về thời thế, thường có ý vị thương đời.

Cụ không chịu luồn cúi kẻ quyền quí, bị Đoàn Nam Vương Trịnh Khải bắt giam. Từ trong tù cụ gửi thư ra cho bạn, trong thơ cụ có câu:

Ngày nào Long Phúc đổi
Ngày ấy đón tôi về.

Người ta coi cụ là danh sĩ nên không nỡ hại cụ đến tính mệnh. Đến khi họ Trịnh bị diệt, cụ mới được tha. Tính ra cụ bị tù 47 năm. Xã tôi tên là Long Phúc. Vì Nguyễn Huệ có tên giả là Phúc nên phải đổi là Long Phú.

Như chuyện ông Trương Quốc Dụng viết thì người tù Trãi Hiên Trương Quốc Kỳ có tài tiên tri, ở trong tù mà biết có ngày tên làng mình sẽ đổi, và ngày tên làng mình đổi là ngày mình được tự do. Không thấy ghi rõ ông làm gì, ông chống Chuá Trịnh như thế nào mà ông bị Chuá Trịnh bỏ tù đến 47 năm. Chắc tình trạng tù đầy ngày xưa, hay cảnh tù của Ông Tù Trương Quốc Kỳ nói riêng, không đến nỗi man rợ như cảnh tù đầy thời Việt Cộng. Nói là bị tù, rất có thể Ông Tù Trương Quốc Kỳ chỉ bị Chuá Trịnh quản thúc ở một nơi nào đó, ông vẫn sống thoải mái như ở nhà ông, ông không phải sống trong ngục như những tù phạm thường dân. Nguyễn Huệ đánh ra Thăng Long, Đoan Nam Vương Trịnh Khải chạy lên Sơn Tây, bị dân bắt nộp cho quân Tây Sơn, Trịnh Khải dùng dao đâm cổ tự vẫn. Nhà Trịnh đến Trịnh Khải là hết. Ông Tù Trãi Hiên trở về nhà ông.

Chuyện câu đối giữa Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhiệm. Khi còn hàn vi ở Thăng Long, họ Đặng làm bài thơ về chuyện vay tiền:

Lẩn thẩn Đồ Thường đã tới đây.
Có tiền cho giật tạm năm chầy.
Năm chầy không được, ba chầy vậy.
Phiếu mẫu đền ơn cũng có ngày.

Đồ Thường vào Nam theo Gia Long ; năm 1802 Gia Long thống nhất đất nước, Đồ Thường được làm Tổng Trấn Bắc Thành. Có tư thù với Ngô Thời Nhiệm, Đặng Tổng Trấn cho bắt Ngô Thời Nhiệm và Phan Huy Ích, em rể của Ngô Thời Nhiệm, kết tội “là nho sĩ mà làm quan với Nhà Ngụy Tây Sơn,”, nhà Nguyễn Gia Long gọi nhà Nguyễn Tây Sơn là “Ngụy”. Việc kết tội, hành tội là do lệnh của Gia Long. Hai ông Ngô, Phan bị căng nọc ở Văn Miếu đánh đòn vì tội trên. Ông Ngô Thời Nhiệm bị đòn đau, chết ngay, ông Phan Huy Ích sống sót. Vài năm sau Gia Long Nguyễn Ánh phát động chiến dịch giết hại công thần, vu cho Đặng Trần Thường tội phản nghịch, ra lệnh treo cổ Đặng Trần Thường. Đồ Thường huynh hoang mấy năm rồi bị giết còn thê thảm hơn Ngô Thời Nhiệm. Thành phố Sài Gòn có tên Ngô Thời Nhiệm trên bảng tên đường nhưng không có bảng tên đường Đặng Trần Thường. Người đời truyền tụng chuyện họ Đặng chiến thắng hiu hiu tự đắc ra câu đối:

Ai công hầu, ai khanh tướng? Trong trần ai ai dễ biết ai!

Người chiến bại Ngô Thời Nhiệm đối:

Thế Chiến quốc, thế Xuân thu! Gặp thời thế thế thời phải thế!

Câu đối tuyệt hay. Nhưng tôi nghi trong số người đương thời có người cảm khái vì chuyện Ngô Thời Nhiệm-Đặng Trần Thường mà làm ra đôi câu đối đó, không phải do Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhiệm làm. Như nhiều người tôi chỉ biết có đôi câu đối trên của Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhiệm, mới đây tôi được biết Ngô Thời Nhiệm, trước khi chết, có để lại một bài thơ nói về số mệnh của họ Đặng. Bài ấy như sau:

Ai tai Đặng Trần Thường!
Chân như yến xử đường.
Vị Ương cung cố sự,
Diệc thị nhữ thu trường.

Thương thay Đặng Trần Thường!
Như con chim én sống nhờ nơi đầu nhà.
Việc cũ xẩy ra ở Cung Vị Uơng.
Cũng sẽ là số phận của ngươi!

Con chim én làm tổ nơi đầu mái nhà, nhà cháy, chim én bị vạ lây. Đời Hán, Vua Hán Lưu Bang và vợ giết hại công thần ở Cung Vị Ương, Đặng Trần Thường rồi cũng sẽ bị giết như những công thần nhà Hán.

Tôi nghi câu trên cũng là do người đời sau đặt ra, không phải do Ngô Thời Nhiệm để lại. Nếu câu đó là của họ Ngô thì ông là người biết trước việc họ Đặng sẽ bị Gia Long treo cổ, ông biết trước cái chết của người mà ông chẳng biết gì về cái chết, cái sống của ông, ông không biết nhà Nguyễn Tây Sơn chỉ trị nước được có 14 năm, ông không biết đến năm đó ông gặp tai hoạ mà mất mạng. Không có lý!

Kỳ Hoa Đất Trích

4 Món Ăn Chơi hân hạnh trả lời I-Meo của một số bạn đọc.

* Thư của Bạn Xa. December 17, 2008.

Kính gửi Nhà Văn. Cháu mong được nhà văn giải nghĩa câu “Kỳ Hoa Đất Trích“. Sáng nay, trên Radio vùng Orange County, ông Bùi Bảo Trúc giải rằng “Nhà Văn HHT dùng chữ  “Đất Trích” để nói lên tình trạng Nhà Văn bị lưu đày tới đất Kỳ Hoa.”

Cháu vẫn chưa hiểu rõ, và cháu chưa thấy ai dùng từ ngữ  “đất trích” trước đây. “Đất trích” là đất gì? Mong ông cho biết. Xin ông gửi trả lời cho riêng cháu theo email của cháu. Vì sự dốt này mà “bị” cả diễn đàn đọc thấy thì quê lắm. Cám ơn Nhà Văn rất nhiều.

Công Tử Hà Đông: Tôi đã cẩn thận đổi tên bạn ra là Bạn Xa. Bạn yên trí không ai cười bạn là dzốt vì không biết “Đất Trích” là “Đất “gì. Nếu bạn đọc Trang này chắc bạn thấy tôi nhiều lần bị chê là “dzốt“, viết sai tùm lum. Tôi không phiền hà gì vì tôi “dzốt” thật.

Về câu “Kỳ Hoa Đất Trích” thì có nhiều người không biết, tôi đã hơn một lần được bạn đọc hỏi về “Đất Trích“, tôi cũng hơn một lần viết về “Kỳ Hoa Đất Trích.” Nay bạn hỏi, xin viết lại:

Đất trích” xuất từ tiếng “Trích điạ” trong Thơ Tỳ Bà Hành của Thi Sĩ Tầu Đường Bạch Cư Dị:

Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân,
Tương phùng hà tất tằng tương thức.
Ngã tòng khứ niên từ đế kinh,
Trích cư ngoạ bệnh Tầm Duơng thành.

Thi Sĩ Việt Phan Huy Vịnh dịch:

Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai.

Ngày xưa, những ông quan có lỗi thường bị Vua phạt bằng cách đổi đi làm quan ở những nơi xa đô thị, ở những vùng hoang vắng khỉ ho, cò gáy, chó ăn đá, gà ăn muối, người ăn sắn. Quan lại Tầu gọi việc viên quan bị đày đi xa là bị “biếm trích“, gọi nơi vị quan bi đày đến là “trích địa.”

Ngày xưa quan chức bị đày đi làm ở những nơi xa — bị biếm trích, nặng hơn là bị lưu đày — là một tai hoạ, một chuyện không may, chẳng ai muốn đi. Trong đời tôi, tôi thấy với nhiều người Việt việc bỏ nước đi đày là một may mắn, nhiều người hối hả chạy chọt để được đi đày. Ngày xưa, quan lại Ta, quan lại Tầu có bị đi đày — biếm trích – xa lắm cũng chỉ ở trong nước các ông, trong Thế Kỷ 20 những người Việt Nam bị đày sang tít mút một nước lạ ở bên kia biển lớn, xa sôi như vậy nhưng người ta hăng hái, sung sướng đi đày.

Cảm khái, tôi phóng tác Thơ:

Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp lại nhau càng xót thương nhau.
Từ xa Tổ Quốc bấy lâu,
Kỳ Hoa Đất Trích gối sầu hôm mai.

Tôi ở Virginia. Người Mỹ gọi Virginia là “Virginia is for Lovers.” Tôi ghi trên những bài viết của tôi ở Hoa Kỳ là “Viết ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.”

* Lê văn Tuấn, July 4, 2008.

Nó có cả một bộ máy tuyên truyền cực mạnh; các báo, các nhà xuất bản, truyền thanh, truyền hình.”

Cháu thật xúc động khi đọc những dòng chữ ấy. Viết nữa đi nhá bác HHT, bác viết càng nhiều càng tốt. Để thế hệ sau biết, nhớ và sẽ tiếp tục sự nghiệp diệt trừ Cộng sản của những người đi trước.

Chế độ bạo tàn độc ác nào rồi cũng phải qua đi, nhường chỗ cho sự thật và lẽ phải. Cám ơn bác nhiều lắm.

* Topa, December 5, 2008:

Dã man, dã man, quá dã man!

Tàn ác tàn ác… quá tàn ác!

Tội nghiệp Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn. Đọc chuyện kể về cái chết thê thảm của ông trong ngục tù cộng sản tôi cứ đau như chính tôi bị bỏ cho đói khát đến chết.

Bọn Việt Cộng, chắc chắn… 500/100, bị toàn thể người Việt Nam trong và ngoài nước oán hận, chỉ trừ một thiểu số người của chúng nó và những tên trở cờ là mong chúng nó không chết.

Tôi rất mong, và cầu xin Bề Trên cho Hoàng Lão Công Tử được chứng kiến ngày bọn Việt Cộng bị toàn dân Việt Nam hỏi tội.

* Phạm Thái, December 10, 2008:

Hậu bối có lời thăm hỏi sức khỏe của CTHĐ, chúc ông luôn được an mạnh. Đọc bài “Con Ong Sài Gòn“, tôi có vài điều muốn ông viết thêm về Thương Sinh Duyên Anh.

CTHĐ viết: “Thời oanh liệt của Con Ong đã qua, Con Ong là của Thương Sinh. Con Ong chỉ oanh liệt vì có Thương Sinh, người đời chỉ sợ Con Ong của Thương Sinh. Thương Sinh bỏ Con Ong, Con Ong chỉ còn cái xác.”

Theo tôi Thương Sinh khơng nổi tiếng bằng Chu Tử với mục Ao Thả Vịt, cũng không có tiếng tăm nhiều như Tư Trời Biển, Sức Mấy, Kiều Phong v..v.. Vậy thì Thương Sinh “ghê “đến như thế nào khiến Con Ong một thời oanh liệt?

Lúc viết cho Con Ong, Duyên Anh không dùng tên Thương Sinh, mà dùng tên Nã Cẩu, Trương Vô Kỵ… Mong CTHĐ cho biết lý do tại sao? Và vì duyên cớ gì Duyên Anh rời Con Ong để ra tờ “Người” mà nội dung cũng châm chích thiên hạ như Con Ong?

Tác phẩm “YÊU TIỀN” để tên tác giả “Thương Sinh- Hoàng Hải Thủy“. Như vậy có phải ông viết chung với Duyên Anh phóng sự trên? Nếu phải mong ông cho post YÊU TIỀN lên trang Web nầy cho độc giả thưởng thức. Ông có viết chung với Thương Sinh tác phẩm nào nữa hay không?

Công Tử Hà Đông: Xin thưa: Tuần báo, nhật báo, tối kỵ việc một người viết hai bài đăng trong một số báo. Duyên Anh bao sân — một mình viết nhiều bài — trên cùng một số Con Ong nên phải ký nhiều bút danh. Duyên Anh bỏ Con Ong ra tuần báo Người vì Con Ong là của Minh Vồ Nguyễn Văn Minh, Duyên Anh muốn làm tờ báo do chính anh làm Chủ nhiệm kiêm Chủ Bút.

Những năm 1980 một số nhà xuất bản ở Hoa Kỳ cho tái bản những sách truyện xuất bản ở Sài Gòn trước 30 Tháng Tư 1975 bằng cách đưa lên máy chụp những trang sách, cho in, không tốn công xếp chữ lại. Do đó có nhiều trang sách chữ quá nhỏ, lem nhem.

Yeu TienNhững năm 1958, 1959 tôi viết mấy cái gọi là “phóng sự tiểu thuyết” tôi đặt tên là Tây Đực, Tây CáiBà Lớn, Yêu Tì đăng trên Nhật Báo Ngôn Luận. Đúng ra mấy cái chuyện đó không phải là “phóng sự tiểu thuyết“, cũng không phải là “tiểu thuyết phóng sự“; chúng là những truyện tôi viết tếu — toàn chuyện bịa, chuyện vớ vẩn, chuyện tầm phào — tôi viết để người đọc giải trí, cười vui. Bạn đọc thích đọc, Chủ nhiệm Hồ Anh biết những cái gọi là phóng sự tiểu thuyết ấy của tôi có người đọc, “ăn khách”, nên để tôi viết thả dàn. Nhiều tiểu thuyết phóng tác của tôi, sau khi đăng báo, được xuất bản thành sách, nhưng ba phóng sự tiểu thuyết Tây Đực, Tây CáiBà Lớn, Yêu Tì thì không được xuất bản.

Năm 1994, bánh xe lãng tử đưa tôi sang Kỳ Hoa, Vợ chồng tôi đến Cali trong Lễ Giáng Sinh. Trong Nhà Sách Tú Quỳnh, tôi ngạc nhiên và cảm khái khi thấy quyển YÊU TIỀN bầy trên giá sách.

Nhà Xuất bản Xuân Thu in Yêu Tiền, tôi chắc nhà xuất bản phải cho người vào Thư Viện Mỹ tìm Yêu Tì trong những trang báo Ngôn Luận năm xưa, chép lại, đem về in, hay lấy được bài trong những số báo Ngôn Luận xưa lưu lạc theo người Vệt tị nạn sang Hoa Kỳ. Yêu Tiền thiếu nhiều đoạn, sách in 260 trong, nếu in trọn bộ phải là 600 trang.

Tôi không biết tại sao Nhà Xuân Thu lại đổi YÊU TÌ thành YÊU TIỀN và cho tên THƯƠNG SINH làm đồng tác giả. Tôi không viết chung với ai truyện nào.

Ở Kỳ Hoa Đất Trích, 50 năm sau đọc lại YÊU TÌ nhiều đoạn làm tôi nghĩ: “Bậy quá đi mất. Tại sao mình viết bậy quá thế này? Tại sao mình viết láo đến thế này mà ngày đó vẫn có nhiều người chờ đọc, chẳng ai phản đối chi?”, nhiều lúc khác tôi tủm tỉm cười, nghĩ: “Ngày đó mình chưa 30 tuổi, mình ngu thấy mồ đi, sao mình lại bịa ra được những chuyện ly kỳ, hay ho đến như thế này, sao mình lại viết được câu có duyên quá xá này, sao mình lại có thể ný nuận sự đời có vẻ phi-lô-dzốp đến như thế này?”

* Phương Lê, December 11, 2008 at 1:50:

Cám ơn Bố Già CTHĐ. Tôi chưa thấy ai diễn tả về bọn VC ăn cướp làm cho tôi tâm đắc như bố! … “Chúng bóc hết, chúng lột hết, chúng mút hết, chúng liếm hết“… Sự thật quả đã xảy ra như thế, xảy ra một cách trắng trợn ngay trước mắt người dân Sài Gòn. Bọn Bắc Cộng thực hiện những thủ đoạn ăn cướp của dân dưới đủ mọi chiêu bài và mỹ từ như: “Truy quét tàn dư văn hóa đồi trụy phản động Mỹ Ngụy, Thực hiện nếp sống mới XHCN“… Tiếp theo đó là những đợt đổi tiền, đánh “tư sản, mại bản” dai dẳng hết năm này qua năm khác khiến người dân miền Nam xơ xác, không còn cả miếng ăn. Để rồi những tàn dư phản động của Mỹ Ngụy và tài sản của bọn “tư sản mại bản” đi đâu hết? Đi vào nhà, vào túi của bọn chúng chứ còn đi đâu nữa?

Bọn Cộng thú vật đội lốt người tha hồ hoành hành. Đã ngang nhiên cướp đoạt của dân ngay giữa ban ngày, chúng còn đẩy chồng, cha, con của họ đi tù cải tạo không có án và không có ngày về. Chưa hết, còn nhiều thủ đoạn lắm, không bút mực nào tả hết! Những cái tội ấy tôi có thể quên và tha thứ cho chúng được. Nhưng có một điều mà cho đến chết tôi không thể quên được là cái tính chất đểu cáng của bọn Cộng ăn cướp này. Đó là vừa ăn cướp của dân, chúng vừa bắt người dân treo hình tên Đầu Xỏ giặc ở chỗ cao trọng nhất trong nhà để… thờ!

Cứ nhớ tới hình ảnh Lão Giặc Già ngồi trên bàn thờ ngó xuống coi bọn đàn em lão đang “ăn hàng” mà cười cười là tôi lại buồn mửa chịu không nổi!

* Phong Nhĩ, December 17, 2008:

Kính thưa qúy độc giả,

Có phải qúy vị đồng ý với bỉ nhân: Đọc những bài viết của Hoàng Công Tử, chúng ta được hưởng nhiều sướng khoái không thể tả. Một trong những sướng khoái đó là CTHĐ viết dùm ta những điều u uất ta muốn nói lên, muốn thét lên cho hả giận. Trong cuộc đổi đời, tang thương dâu biển vừa qua, thật khơng kể xiết những đau thương tủi nhục, những khốn khổ mà dân miền Nam ta phải gánh chịu. Trong vô số nỗi bất hạnh vì tan nhà, mất nước, vì bị bọn ác ơn côn đồ hành hạ, bọn đáng bị nguyền rủa đời đời, kiếp kiếp, ta còn nỗi đau phải thấy bọn “văn nhân vô hạnh, xướng ca vô loài” như Vương Hồng Sển, Á Nam Trần Tuấn Khải, Trịnh Công Sơn, Sơn Nam, Vũ Hạnh muối mặt mạ lỵ Quốc Gia Việt Nam Cộng cong lưng bợ đít bọn chủ Cộng của chúng.

Được chế độ Cộng Hòa ưu đãi, được chiến sĩ ta đổ xương máu cho chúng bình an ngồi rũa văn, múa bút, cuộc sống an ninh ở những đô thị đã giúp chúng có được tên tuổi. Chỉ cần chúng có trí khôn nhỏ như trí khôn cuả gà vịt, tất chúng phải biết chúng không thể có những văn phẩm, nhạc phẩm như chúng đã có nếu chúng “may mắn” được sống ở miền Bắc xã hội chủ nghiã.

Những tên ăn cháo, đá bát đã cố tình quên, hay vờ khơng biết chuyện đó. Chúng quay lưỡi liếm đit giặc, ngay cả khi giặc không muốn chúng liếm. Chúng trâng tráo, bịa đặt bỉ ổi, dùng “văn tài” của chúng ca ngợi cái xấu, cái ác. Nọc độc của bọn này có thể gây nguy hại cho những người trẻ tuổi, cho con cháu chúng ta. CTHĐ vạch mặt và kết tội bọn chúng. Đó chẳng phải là điều làm cho chúng ta khoái trá hay sao?

Ngưng trích I-Meo Bạn Đọc.

Kính chúc liệt quí vị Một LỄ GIÁNG SINH VUI và YÊU THƯƠNG.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Tại Sao Tôi Không Làm Thơ?

Em có nghe mùa thu mưa giăng, lá đổ,
Em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương ?
Và Em có nghe.. khi mùa thu tới
Mang ái ân mang Tình Yêu tới…
Em có nghe… nghe hồn thu nói:
Mình yêu nhau nhé!.

Falling LeaveMùa Thu cho Em. Nhạc và Lời Ngô Thụy Miên – Thụy Anh.

Tôi hay kể Thơ trong những bài tôi viết. Thơ tôi kể đây không phải là Thơ của tôi mà là Thơ của những Thi sĩ tôi yêu mến: Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Hoàng Cầm. Đã hơn một lần tôi kể trong những năm tôi muời sáu, mười bẩy tuổi tôi có mần Thơ — đa số những người viết tiểu thuyết khi tuổi đời chưa ngoài Hai Bó đều có ít nhiều mần thơ — Hai mươi tuổi tôi bước vào làng báo với chân phóng viên Nhật báo Ánh Sáng — Sài Gòn 1952 — rồi Cuộc Sống, Tình Yêu và Việc Làm cuốn tôi trôi đi trong dòng đời. Từ năm 1954 đến năm 1975, hai mươi năm tuổi trẻ và tuổi đẹp nhất đời tôi, tôi sống không có gì đáng kể là phiền muộn. Vật bất kỳ bình tắc minh. Không chỉ vật gặp bất bình mới kêu lên, người gặp bất bình kêu lớn hơn vật. Cuộc đời đãi tôi thật hậu, đời và người không làm gì để tôi phải bất bình, tôi lại không phải là thi sĩ nên tôi chẳng có lý do gì để mần thơ.

TranhNói cho đúng hơn và nói nghiêm túc hơn, một trong những nguyên nhân làm tôi không mần Thơ là tôi viết được Truyện. Có tâm tư hay có bất bình, tôi bầy tỏ, tôi kêu lên trong những bài tôi viết. Tôi không cần phải kêu lên trong Thơ.

Và cũng hơn một lần tôi viết tôi không mần Thơ vì tôi đã có sẵn Thơ — không phải là Thơ Suông mà là Thơ Rất Hay — bất cứ lúc nào trái tim tôi rung động, tôi ngất ngư đi một đường cảm khái, tôi cần Thơ, tôi có ngay những lời Thơ Tuyệt Đẹp diễn tả tâm tình tôi một cách tuyệt vời. Chẳng hạn như xa nhau mươi mấy mùa thu lá bay — Nàng theo chồng sang Mỹ Quốc trước Ngày Oan Nghiệt Ba Mươi Tháng Tư — sau cuộc biển dâu trời long, đất ngả nghiêng, một đêm buồn chúng tôi gập lại nhau ở Sài Gòn, thành phố chúng tôi yêu nhau ngày xưa, thành phố nay bị quân thù chiếm đóng, bị cưỡng bức đổi tên. Tôi không còn trong tuổi đang xoan nữa, tôi đã sống muời lăm năm u ám trong lòng thành phố thủ đô của tôi đỏ chói mầu cờ máu, tôi đã bị tù đầy hai lần, mái tóc tôi không phong sương mà bạc trắng, khuôn mặt tôi cằn cỗi in hằn những vết roi đời, tôi bồi hồi thấy Nàng vẫn trẻ, vẫn đẹp như năm xưa. Khi Nàng đi ra khỏi cuộc đời tôi, và đi xa Sài Gòn, Nàng ba mươi tuổi, thời gian đi qua không để lại dấu vết gì trên nhan sắc của Nàng, hai mươi mùa xuân qua cúng tôi gặp lại nhau, Nàng vẫn ba mươi tuổi. Tim tôi xúc động và tôi làm Thơ:

Phải chăng từ độ ấy quan san
Trời đất cùng đau nỗi hợp tan,
Chỉ có mình Ta phai áo lục,
Còn Em sau trước vẫn hồng nhan?

Thơ diễn tả tâm tình tôi tàn khốc đến như thế thì đích thị là Thơ của Tôi rồi chứ còn gì nữa! Nhìn người yêu xưa môt thời hoa niên, nhớ lại những ngày xưa thành phố thân thương của ta, quân đội của ta, cảnh sát anh em ta, xa lộ của ta, mặt trời, trăng sao, mây trắng, nước trong, trời xanh, những hàng dừa bên cầu xa lộ của ta. Của ta tất cả…! Không khí của ta..! Em nhớ không Em?

Em có nhớ những chiều thu xa lộ
Tuổi hoa niên anh lót áo –

áo đi mưa xanh Không quân Mỹ viện trợ

– Em nằm ?

Tôi thương tiếc Tuổi Trẻ, Tình Yêu của chúng tôi và tôi mần Thơ:

Mắt lặng nhìn nhau từ dĩ vãng,
Chợt xanh mầu áo nhớ thương xưa.
Bóng Em khoảnh khắc thành hư ảo,
Buồn lướt hàng mi thấp thoáng mưa…

Từng nhớ, từng thương, từng chụm đầu,
Từng chung dòng lệ thấm vai nhau.
Mà trong mắt liếc ngờ quan ải,
Nhịp thở ân tình cũng biển dâu.

Thơ Đinh Hùng. Lẽ ra tôi không cần viết Thơ Đinh Hùng, bạn phải biết đó là Thơ Đinh Hùng, bạn không biết là bạn có lỗi. Tôi chắc bạn đồng ý với tôi: đã có sẵn Thơ và Thơ đã hay đến như vậy tôi còn vất vả, ì ạch mần Thơ làm chi nữa? Đó là một trong những lý do làm tôi không làm thơ. Nếu bạn từng đọc những bài tôi viết, chắc bạn thấy một chuyện: tôi hay kể Thơ nhưng tôi ít kể những Lời Nhạc trong những bài tôi viết.

Có những bản Nhạc Tình nhạc sĩ đặt lời tuyệt vời như Thơ, như lời Thơ Nhạc của Đoàn Chuẩn, như lời bản Mùa Thu Cho Em của Ngô Thụy Miên – Thụy Anh tôi kể trên đầu bài viết này. Mùa Thu đến, mùa Thu đang ở, mùa Thu sắp đi qua Rừng Phong của tôi, trái tim tôi bồi hồi đi một đường cảm khái, tôi muốn thốt lên Thơ và nhạc sĩ làm Thơ dùm tôi:

Em có hay… hay mùa thu tới…
Hồn Anh ngất ngây…
Nắng úa dệt mi Em
Và mây xanh thay tóc rối
Nhạt môi môi Em thơm nồng
Tình yêu vương vương má hồng..
Sẽ hát bài cho Em
Và ru em yên giấc tối.
Ngày mai khi mưa ngang lưng đồi
Chờ Em Anh nghe mùa thu tới…

Tôi không kể Lời Nhạc nhiều như tôi kể Lời Thơ vì một lý do giản dị là tôi không nhớ Lời Nhạc bằng tôi nhớ Lời Thơ, và trong Tàng Kinh Các của tôi ở Rừng Phong không có nhiều bản nhạc.

Tháng 11 năm 1994 khi bánh xe lãng tử muộn màng, khấp khểnh đưa vợ chồng tôi đến Xứ Tình Nhân này mùa Thu đẹp vừa đi qua Rừng Phong, rừng lá phong vàng đỏ không còn nữa. Nhưng năm nay khi tôi viết những dòng này mùa Thu đang rất đẹp ở đồng đất Virginia của Những Người Yêu. Và những ngày như lá, tháng như mây, Thơ Thanh Nam, thấm thoắt vậy mà vợ chồng tôi đã sống mười niên ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn. Tôi kể Thơ của Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn để tả cảnh Rừng Phong thu đã.. của tôi:

Với bao tà áo xanh đây mùa Thu
Hoa lá tàn hàng cây đứng hững hờ
Lá vàng từng cánh rơi từng cánh
Rơi xuống âm thầm trên đất xưa.
Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi bướm muôn mầu về hoa
Gửi thêm ánh trăng,
Mầu xanh lá thư
Về đây với Thu trần gian…

Các thi sĩ của ta thường mù tịt về Nhạc, nhưng ta có một số nhạc sĩ làm Thơ rất hay. Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn là một trong những nhạc sĩ làm Thơ Hay ấy. Với tôi Đoàn Chuẩn là nhạc sĩ làm Thơ Hay Nhất. Thơ trong Nhạc Đoàn Chuẩn, cũng như Thơ trong Nhạc của nhiều nhạc sĩ khác, không bị gò bó niêm luật, không bị hạn chế số chữ như Thơ trong những bài thơ. Không bị lệ thuộc niêm luật nhưng Thơ Nhạc vẫn không phải là loại Thơ viết như văn xuôi, nhạt huyếch, vô duyên, rời rã, tối om, không chấm phết, gọi là thơ tự do, thơ mới. Thơ trong Nhạc của nhiều nhạc sĩ hay hơn thơ trong thơ của nhiều thi sĩ.

Ơi…! Người bạn Hát Ô Sáu Bó, Bẩy Bó đang đọc những dzòng này, tôi chắc dù khó tánh đến mấy ông cũng đồng ý mí tôi rằng khi tôi đã có những lời Thơ Đẹp đến như vầy để tả cảnh Thu Vàng tôi còn nhăn nhó nặn ra những lời thơ dở ẹt để tả cảnh Thu Vàng làm chi nữa:

Thu đi cho lá vàng bay…
Lá rơi cho đám cưới về
Ngày mai người em nhỏ bé
Ngồi trong thuyền hoa
Tình duyên đành dứt…
Có những đêm về sáng
Đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi…
Đã vội chi men rượu nhấp đôi môi
Mà phung phí đời Em không tiếc nhớ…

Mèn ơi.! Thơ đến như dzậy chắc tôi chít mất, bạn ơi, người bạn ở chín phương trời, mười phương đất. Nàng lên xe bông về nhà chồng tôi đã đứt ruột, nàng lên thuyền hoa về nhà người ta, tình duyên đành dứt..! Làm sao tôi sống được! Tim tôi vỡ ra làm năm mươi mấy mảnh! Ruột đứt may ra còn vá được, tim vỡ thì không thể chắp lại. Vô phương. Chết là cái chắc. Tôi chẳng nói ra bạn cũng biết: tôi là thành viên Hội Cơm Nhà, Quà Vợ, trung kiên, thuần thành, gương mẫu. Nói huỵch toẹt ra là cả đời tôi chẳng có và chẳng biết nhân tình, nhân bánh là cái khỉ khô gì, người đàn bà kiếp trước mắc nợ tôi nên kiếp này làm vợ tôi để trả nợ thì sống liền tù tì bên tôi suốt đêm, suốt ngày, tức “chăm phần chăm”, vảnh-cát suyệc vảnh-cát, vingt quatre sur vingt quatre, 24/24. Đọc những bài tôi viết đôi khi bạn thấy tôi vi vút phóng bút loạn cào cào, châu chấu về một vài hình ảnh đàn bà đã tha thướt đi qua đời tôi rồi đi mất hút, những nàng “Em vẫn Kiều Thu tròn tuổi nguyệt,” tôi chắc bạn dư biết đó toàn là những chuyện tôi bịa ra, chuyện hổng có thật. Đúng dzậy đó, thưa bạn. Tôi chân chỉ hạt bột chuyên nghiệp dzậy mà bạn ơi, đôi khi tim tôi vẫn cứ thổn thức:

Có những đêm về sáng
Đời sao buồn chi mấy cố nhân ơí!
Đã vộâi chi men rượu nhắp đôi môi
Mà phung phí đời nhau không tiếc nhớ!
Lá đổ muôn chiều.. ôi lá uá
Phải chăng là nước mắt người đi?
Em ơi.. đừng dối lòng
Dù sao chăng nữa không nhớ đến tình đôi ta…

Nhưng mà tôi nghĩ… Cơm nhà, quà vợ, chân chỉ hạt bột, cả đời chỉ biết có một cái.. Mình đâu có tội gì. Cả đời chỉ biết có một cái cũng đâu có gì là xấu. Biết năm bẩy cái hay biết một, hai cái cũng sập xí, sập ngầu như nhau thôi. Mình tưởng tượng mình yêu đương ra rít, mình Tình chỉ đẹp những khi Tình dzang dzở, mình tiếc nuối, mình thương khóc, mình cũng đâu có tội tình gì. Cơm nhà, quà vợ là một chuyện, tiếc thương nhân tình, nhân bánh là một chuyện khác. Ai cơm nhà, quà vợ hơn tôi, dzậy mà nhờ thiên tài của Nhạc sĩ tôi vẫn rất ư là hào hoa phong nhã gửi tới Nàng — NÀNG viết hoa cả bốn chữ, hoa luôn dấu huyền:

Gió bay từ muôn phía, tới đây ngập hồn anh, rồi tình lên chơi vơi,
Thuyền anh một lá ra khơi…
Về em phong kín như mây trời…
đêm đêm ngồi chờ sáng mơ ai.
Mộng nữa cũng là không..
Ta quen nhau mùa thu,
ta thương nhau mùa đông,
ta yêu nhau mùa xuân,
để rồi tàn theo mùa xuân..
Người về lặng lẽ sao đành!

Thu Vàng ở Rừng Phong, đọc lại những lời thơ nhạc vợ chồng tôi yêu từ những năm mươi mấy mùa thu trước, tôi nói với Alice:

Nhớ nhau từng phút, yêu từng giây..! Thơ đến như vầy thì.. chặc chệt, chặc chệt.. em ơi..! Anh sẽ viết bài “Nhớ nhau từng phút, yêu từng giây” tặng Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Anh cám ơn ông ấy đã làm dzùm anh những lời Thơ Tả Tình Anh Tuyệt Cú Mèo. Em có thấy kỳ diệu không em ? Năm1954 .. Ta quen nhau mùa thu.. Ta thương nhau mùa đông.. Ta yêu nhau mùa xuân rồi ta yêu nhau liền tù tì sáu, bẩy chục mùa xuân, mùa thu, mùa đông.. Ta yêu nhau luôn cả mùa hạ.. Khi anh gập em, em đã biết, em đã nghe, em đã yêu Tà Áo Xanh, Thu Quyến Rũ, Chuyển Bến. Ta yêu Thơ Nhạc Đoàn Chuẩn năm đời ta Hai Bó lẻ Hai, Ba Que.. Năm mươi mùa lá rụng đến và đi, đôi ta ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh, tuổi đời đôi ta cộng lại sỉu sỉu gần Mười Lăm Bó. Em vẫn còn xoan, dự thi Hoa Hậu Lão Bà tuổi đời Sáu Bó Gập lên đến Chín Bó, Hoa Hậu thì không chắc lắm song chắc như bắp là em sẽ dzô chung kết, tức em là fi-nan-lít: Em Á Hậu. Anh thì nhan sắc tàn phai, mái tóc phong sương, khuôn mặt cằn cỗi in hằn những vết roi đời, chẳng nói làm chi. Chỉ cần nói có biết bao nhiêu cái ta yêu mê thời ta Hai Bó nay ta coi rẻ hơn cái bí-tất rách, nhưng ta vẫn yêu Nhạc Đoàn Chuẩn y như năm xưa. Em thấy hay không Em? Nhớ nhau từng phút, yêu từng giây.. Mèn ơi.. Chặc chệt.. Chặc chệt…!

Mèo Già Hóa Cáo

Những năm 1952, 1953 Đại Uý Nguyễn Ngọc Loan từ Hà Nội vào làm việc ở Sài Gòn. Những năm ấy tôi cũng sống ở Sài Gòn nhưng tôi không được quen biết Đại Úy Nguyễn Ngọc Loan. Mười mấy năm sau, khi ông là Thiếu Tướng, tôi mới được biết những năm 1952, 1953 ông có sống ở Sài Gòn khi tôi nghe Thanh Nam nói với một ông bạn:

- Hồi thằng Loan nó ở với chúng mình ở nhà Nguyễn Bá Châu, nó hiền như cục đất, sao bây giờ nó dữ thế?

Bo DoiTôi không biết những năm 1952, 1953, Đại Uý Nguyễn Ngọc Loan đã có vợ chưa. Khi tôi lần đầu gặp Thanh Nam, năm 1952, anh độc thân, ở trọ, ăn cơm tháng ở nhà anh Trúc Giang, đường Frère Louis, sau năm 1956 là đường Võ Tánh, khoảng gần Ngã Sáu Gia Long. Trúc Giang được kể là thi sĩ, nghe nói từng là bạn thân của Nguyễn Bính. Sau đó, Thanh Nam sang ở nhà anh Nguyễn Bá Châu, Nhà Xuất Bản Á Châu, đường Lê Lai. Đại uý Nguyễn Ngọc Loan, từ Hà Nội vào Sài Gòn làm việc, cũng ở nhà anh Nguyễn Bá Châu.

Nguyen Ngoc LoanThế rồi trong một tiệc tất niên — sau Tết Mậu Thân — của Nhật báo Tia Sáng trong một nhà hàng Tầu ở Chợ Lớn, Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan ghé qua buổi tiệc. Ông chỉ ở lại chừng mươi, mười lăm phút, việc ghé qua của ông là một vinh dự cho ông chủ nhiệm Nhật báo Tia Sáng. Anh em ký giả sau đó kể cho nhau nghe chuyện trong tiệc tất niên ấy, Thanh Nam, ngồi uống rượu, rung đùi như những ông đồ sồn sồn, râu rậm, những móng tay dài đóng ghét đen sì, lưng quần mùa đông lổm ngổm đầy rận ở xứ Bắc Kỳ ngày xưa — Thanh Nam chuyên môn rung đùi, Hoài Bắc kể Thanh Nam ngay cả khi đứng, tay cầm ly rượu, cũng rung đùi — Thanh Nam lớn tiếng gọi Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan:

- … Ê.. Loan..! Lại đây uống với tao một ly, mày..!

Năm 1952 tôi gặp Phạm Huy Khuê qua Thanh Nam. Khuê, văn nghệ văn gừng, từ Hà Nội vào, quen Thanh Nam từ Hà Nội, ở nhà anh Trúc Giang với Thanh Nam. Khuê trạc tuổi tôi, chúng tôi hai mươi tuổi những năm ấy, Khuê trắng trẻo, vẻ người thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ, có duyên, dễ mến. Nghe nói Khuê từng viết báo xi-nê ở Hà Nội, có mộng ra một tuần báo chuyên về xi-nê ở Sài Gòn. Rồi ngày tháng qua… Sau ngày ký Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước, tôi được tin Khuê về Hà Nội.

Di Cu

Ba tháng sau ngày ký hiệp định Geneve, Việt Minh về Hà Nội, nhưng cả năm sau chính quyền Quốc Gia, và quân đội Pháp, vẫn còn ở Hải Phòng. Rồi tôi được tin Khuê trở vào Sài Gòn, đem theo nhiều sách Việt Minh cho người nọ, người kia. Khuê đem đến cho tôi quyển Thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Tôi không bằng lòng:

- Mày đem bao nhiêu sách hay vào, mày cho chúng nó hết, không nhớ gì đến tao. Cho tao có quyển này thôi à?

Khuê an ủi tôi:

- Yên trí. Tao còn về Hà Nội lần nữa. Rồi tao vào ở luôn. Lần này vào tao mang thật nhiều sách văn nghệ vào cho chúng mày.

Khuê trở về Hà Nội lần thứ hai, nhưng không thấy anh trở vào Sài Gòn như anh nói. Tôi quên Khuê. Cho đến một buổi sáng cuối năm 1975, tôi ngồi trong căn nhà tối nhìn ra thấy có người đến cửa. Tôi ra mở cưả, câu đầu tiên tôi nói với người đến là câu hỏi:

- Khuê hở mày?

Phạm Huy Khuê từ Hà Nội trở vào Sài Gòn, chuyến trở vào chậm đúng hai mươi năm. Khuê không đổi khác mấy, tôi nhận ra Khuê ngay. Tôi hỏi Khuê:

- Sao ngày đó mày nói mày trở vào? Mày đổi ý mày ở lại à?

Khuê cho biết khi anh từ Hà Nội đi sang Hải Phòng để vào Sài Gòn, anh mang theo quá nhiều sách báo Việt Minh. Giữ đúng lời hứa với anh em, Khuê mang số văn hoá phẩm ấy vào Sài Gòn làm quà tặng bọn chúng tôi. Tầu hỏa Khuê đi từ ga Hàng Cỏ Hà Nội đến ga Phạm Xá giữa đường Số 5 thì dừng lại, đổi tầu, nhân viên Hoả xa Hải Phòng, phe Quốc Gia, lên đoàn tầu từ Hà Nội xuống, đưa tầu về Hải Phòng, nhân viên hoả xa Hà Nội, phe Việt Minh, lên đoàn tầu từ Hải Phòng lên, đưa tầu về Hà Nội.

Tầu đến ga Hải Phòng, cảnh sát Quốc Gia kiểm xoát, Khuê bị giữ lại vì anh mang theo nhiều sách báo Việt Minh. Hiệp Định Geneve có điều hai phe không được cho người tuyên truyền sang địa phận của nhau. Vì mang theo một lô sách báo Việt Minh, Khuê bị nghi là cán bộ tuyên truyền Việt Minh xâm nhập Hải Phòng. Khuê bị giữ trong nhà tù Hải Phòng. Pháp và nhân viên chính quyền Quốc Gia đi khỏi Hải Phòng, Việt Minh vào thành phố Cảng, Khuê ra khỏi tù, anh ở lại Hà Nội.

Câu “Nhất ẩm, nhất trác giai do tiền định..” thật đúng trong trường hợp bất đắc dĩ phải sống với “Bác và Đảng” trong hai mươi năm của Phạm Huy Khuê. Sau cùng Khuê cũng trở vào được Sài Gòn, chỉ có điều là anh vào Sài Gòn chậm hai mươi năm, lẽ ra anh trở vào Sài Gòn năm 1955 chứ không phải năm 1975.

Ở Virginia, tôi có vài lần được nói chuyện với ông Phạm Huy Ty, vị Cựu Đại Sứ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà ở Trụ sở Liên Hiệp Quốc. Có lần tình cờ tôi nói đến Phạm Huy Khuê, ông Phạm Huy Ty nói:

- Nó là cháu tôi nhưng nay nó là trưởng tộc họ Phạm Huy chúng tôi đấy.

Ông Cựu Đại Sứ đã qua đời. Tôi nhớ một lời ông nói, một chuyện ông kể. Ông nói:

- Mình chửi cộng sản, mình chửi mình nghe, chúng nó có nghe đâu.

Ông kể những năm 1948, 1949 ông Bảo Đại, khi ấy là Quốc Trưởng, mới về nước, ông làm việc trong văn phòng Quốc Trưởng ở Đàlạt. Thời ấy ông Bảo Đại thường được những cận thần gọi bằng cái tên “Ngài ngự“, “Ngài ngự hồi loan, Ngài ngự tuyên bố..” Một hôm ông Bảo Đại cần cây bút, ông hoàng thân hầu cận ông Bảo Đại ra văn phòng bảo đưa cây bút cho Quốc Trưởng dùng. Mấy ông nhân viên văn phòng quíu lên vì văn phòng chỉ có mấy cây bút Bic, không có cây bút nào xứng đáng để Quốc Trưởng dùng cả. Ông hoàng thân trách:

- Các ông phải có sẵn bút để “Ngài ngự” dùng chứ.

Ông Phan Huy Ty kết thúc câu chuyện:

- Sau đó chúng tôi nói với nhau: “Ngài ngự” có viết cái gì bao giờ đâu mà cần có bút!

Ông Phan Huy Ty nói thật đúng về “Ngài ngự,” quả thật là cả đời “Ngài ngự” chẳng viết một chữ nào. Hồi ký của “Ngài ngự” do một ông Tây viết.

Phạm Huy Khuê nói cho tôi nghe nhiều chuyện linh tinh của miền Bắc Xã Hội Chủ nghiã, anh dặn tôi:

- Với bọn cộng sản thì tội nào cũng có thể tha thứ được, chỉ có tội xúc phạm Bác Hồ của chúng nó là chúng nó không tha. Mày nhớ đấy, đừng bao giờ đụng đến Ông Hồ!

Những ngày u ám ghê khiếp liên tiếp theo nhau đến với tôi.. Sống quẩn quanh ngày tháng nó nặng triền triền… Ngày qua ngày muộn, đêm phiền theo đêm.. Những năm1976, 1977…, tôi buồn quá đỗi, buồn đến không thể nào chịu được, đến không sao có thể sống được. Tôi đâu có muốn làm thơ. Tôi biết sống trong gông cùm của cộng sản mà làm thơ sầu buồn, oán hận, cộng sản ác ôn nó vớ được là mình không chết cũng khốn khổ khốn nạn mí nó. Sống với nó mình chỉ than buồn thôi nó đã đem mình đi nó cất kỹ năm, bẩy năm. Nhưng vì sầu buồn quá đỗi tâm trí tôi cứ tự động làm thơ, trái tim tôi làm thơ mà phớt lờ khối óc. Tôi làm mấy bài Vịnh 12 Con Giáp:

Gà què ăn quẩn cối xay
Đùi teo, cật lép lại hay động tình.
Đêm không chịu ngủ một mình,
Ngày thì gạ mái cứ inh cả nhà.
Cà-ri ta đến tiệm Chà,
Mua ngay mấy gói cho gà đi đoong!

HEO

Nhiều loài ở bẩn hơn tôi,
Sao tôi chịu tiếng để đời: như heo!
Chủ về chẳng kịp đi theo,
Não nùng cám mốc gặp bèo phôi pha.
Chán chường vì nỗi người ta,
Lợn lành đem chữa hoá ra lợn què!

NGỰA

Đường dài hay sức ngựa phi,
Một thời tuyệt-phích, dzô-kề đã xa.
Ngựa già cho đến ba-toa,
Ngựa non cám mốc, roi da đã đời!

MÈO

Mèo già đuôi lại dài đuôi,
Đã không bắt chuột lại lười, ngủ trưa.
Lưỡi dài chỉ giỏi liếm bùa,
Bao giờ hóa cáo cho ra Ba Đình.

Ta có câu “dán bùa l.. mèo” để gọi những việc làm qua loa, qua quít. làm cho có làm, làm được ít ngày là hỏng ngay, như việc dán lá bùa vào l.. em mèo cái, em này liếm một cái là lá bùa rơi ra liền một khi. Lại có câu “mèo già hóa cáo.” Với mấy câu vịnh Mèo tôi ngầm nhắc đến Già Hồ, nhiều người gọi Già Hồ là Cáo Hồ. Con mèo trong bài Thơ vịnh 12 Con Giáp của tôi bao giờ hoá cáo sẽ được tôi cho ra Ba Đình, nơi có lăng Cáo Hồ, để nằm với Cáo Hồ.

Bọn Công An Thành Hồ đến nhà bắt tôi vớ được tập Thơ của tôi trong có ghi mấy bài Vịnh 12 Con Giáp. Những đêm dài nằm trằn trọc trong xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, nhớ đến bài Mèo Già, và nhớ đến lời Phạm Huy Khuê: “Xúc phạm Bác Hồ của chúng nó là chúng nó không tha..!” tôi ân hận ơi là ân hận. Trong đời tôi có làm vài việc để tôi phải ân hận, nhưng không có việc nào làm tôi sợ bằng việc tôi làm Thơ đặt loài Mèo Lưỡi Dài Liếm Bùa ngang hàng với “Bác Hồ muôn kính, ngàn yêu” của bọn Bắc Cộng. Tôi ân hận và tôi sợ. Sợ quá là sợ. Tôi nghĩ: Nó tó được bài thơ mình chửi Bác chúng nó, chúng nó sẽ không tha mình. Chúng nó sẽ cho mình đi tù mút mùa không có ngày về..! Mình.. chắc chít quá..!

Nhưng qua hai lần tù đày — 8 niên — tôi không chết. Nhiều người tù đày ác liệt, ghê khiếp gấp không phải trăm lần mà gấp ngàn lần tôi, nhưng những người ấy vẫn không chết. Hôm nay, một ngày cuối năm ở Xứ Người, tôi vẫn sống để viết những dòng chữ này.

Tôi thả hồn trở về những khu cư xá đèn vàng của Sài gòn thương yêu. Mắt tôi thấy đèn sao Noel sáng trước cửa những căn nhà Sài Gòn, tai tôi nghe tiếng Nhạc Silent Night, Jingle Bell..

Đêm Giáng Sinh vẫn năm năm trở lại Sài Gòn!

BABY DOLL

4 Món Ăn Chơi đăng bài viết về những Nữ Minh Tinh Nhà Táng Xi-nê Xưa. Trong những thư góp ý về bài này của bạn đọc bốn phương có thư của Ông Phan Sĩ Nghị. Thư như sau:

Ngoài những tên tuổi Hoàng huynh kể trong bài viết, đệ xin kể thêm: Elizabeth Taylor, Gina Lolobrigida, Sylvana Mangano, Vivien Leigh, Caroll Baker, Audrey Hepburn. Liz Taylor thì quá nổi tiếng và còn thọ đến nay, Sophia Loren cũng còn tại thế và được xem là giai nhân đẹp lão nhất thế gian.

Caroll BakerTiểu đệ xem một phim của Gina Lollobrigida kể chuyện một phụ nữ Mỹ gốc Ý từ Mỹ về thăm quê ở Ý, Gina diễn xuất thật hay. Nàng về thăm quê bằng xe Hoa Kỳ dài thòn, nửa đường xe hết xăng, phải mướn hai con bò kéo xe!…

Và đến màn tắm trong phim của Gina thì y bản màn tắm của Thúy Kiều — đạo diễn phim này chắc có đọc Truyện Kiều hay chuyện Chử Đồng Tử – Tiên Dung? — nên cho quây màn làm phòng tắm cho Gina phô bày thân thể sau bức màn voile “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà, dầy dầy sẵn đúc một toà thiên nhiên“!…

Rossana Podesta thì “ngon” hơn, ngồi trong bồn tắm trong phim Hélène de Troie — quản giáo VC đọc là Hé-nè-ne — đưa bờ vai trần ướt nước cho khán giả chiêm ngưỡng.

Caroll BakerSophia Loren thì lặn xuống đáy biển, tìm cái tượng cậu bé cỡi trên lưng con cá heo; xem phim tôi nhớ mãi bộ ngực vĩ đại của Sophia căng căng, lồ lộ sau làn vải mỏng, và bài hát “Boy on a dolphin” lời Pháp: “Un garcon s’est noyé pour une ombre, sous la mer, sous la mer…” mà bây giờ không còn nghe hát nữa dù âm điệu thật hay.

Nói về bài hát, thì Sylvana Mangano hát bản Lamento Boricano trong phim Anna buồn ơi là buồn. Cũng trong phim đó có bản El Negro Zumbun, điệu Baion giựt gân rất vui…. [1]

Vivien Leigh thì ai cũng biết trong Gone with the wind, nhưng đệ muốn nhắc đến bà trong phim Waterloo Bridge — đúng là cái tên phim này dở hơn La Valse dans l’ombreĐiệu Vũ Trong Bóng Mờ. Đệ xem phim này nhiều lần ở rạp Lê Lợi, thấy mấy bà mấy cô — Bà ít hơn Cô, vì rạp này gần như dành cho Học sinh, Sinh viên cúp cua vào xem — khóc sụt sịt, làm đệ cũng chảy nước mắt…. Đó là cảnh Vivien lao vào xe nhà binh để tự vận.

Audrey Hepburn thì nội cái phim Vacance RomaineRoman Holiday, với Gregory Peck — đã hớp hồn giới trẻ Việt Nam chưa kể Breakfast at Tiffany, War and Peace, Sabrina….

Còn Đào Caroll Baker thì chắc ít người Việt ta biết hay còn nhớ. Nàng đóng trong phim The MiracleQuand la terre brule — chữ brule có dấu ^. [2]

Năm 1960, tôi xem The Miracle tại rạp Kinh Đô, đường Lê Văn Duyệt, đầu đường Bùi Thị Xuân, ngang Công viên Tao Đàn, nay có quán Café Chim Chích Choè. Trong phim The Miracle, người đẹp Caroll Baker đóng vai Soeur Teresa tu trong một Tu viện ở Spain. Chiến tranh, quân Anh vào thành phố, chàng sĩ quan Anh đẹp trai Michael — Roger Moore đóng — mê Ma Soeur, Soeur Teresa cũng bị “coup de foudre” — sét ái tình — nên bỏ Tu viện đi theo chàng. [3]

Phép lạ xẩy ra: Tượng Đức Mẹ Maria trong tu viện đổ xuống, tượng biến thành Soeur Teresa để tu thế cho nàng. Cuộc tình Teresa-Michael không kéo dài vì chiến tranh, Michael phải ra mặt trận, Teresa trôi dạt theo bọn Gypsy, được một tay Matador, đấu bò, nổi tiếng mê, và họ yêu nhau. Michael ra trận bị thương, chàng Matador bị bò húc chết. Teresa theo bọn Gypsy đi ca hát, trôi dạt qua Âu châu. Tại Áo, nàng cặp bồ với một sĩ quan, chàng này tử trận ngay sau đó. Rồi nàng gặp lại Michael, họ lại yêu nhau. Teresa được tin quê nhà nàng đang bị hạn hán, dân chúng đói khổ.

Gina LollobridaTeresa vì yêu Michael nên nàng không muốn thấy chàng phải chết như những người tình của nàng trước đây. Nàng bỏ chàng, nàng về Tây Ban Nha, thấy làng quê xơ xác tiêu điều, tu viện đìu hiu, không ai chăm sóc. Nàng vào nhà thờ, quỳ trước tượng Chúa, và cầu nguyện. Trong lúc Teresa nằm sấp dưới gạch, dang hai tay ra hình thánh giá, xưng tội và nguyện trở về tu viện thì bên ngoài, trời mưa như trút nước. Cũng trong lúc Teresa đang cầu nguyện, thì bên Áo, chàng Michael ra trận. Một quả đạn pháo nổ gần chàng, chàng té ngựa, nhưng may mắn chỉ bị thương….

Câu chuyện phim huyền bí, vì tôi thích nhạc gypsy, ca hát, nhảy điệu flamenco, cảnh đấu bò nên tôi xem tới, xem lui phim The Miracle mấy lần, đến nỗi khi tôi thuật chuyện phim lại cho ba mẹ tôi nghe, tôi hào hứng nói thao thao bất tuyệt.

Ông bố tôi chỉ nói một câu ngắn mà tôi nhớ đời:

- Hèn chi mầy thi rớt kỳ rồi, bài thi đâu có hỏi chuyện phim với tên tài tử, phải không?

Caroll Baker còn sống, ở Pennsylvania, Hoa Kỳ. Nàng nay 77 cái xuân xanh, đã ba đời chồng, cả ba ông đều chết sớm, y như chuyện xẩy ra trong phim The Miracle!

Phan Sĩ Nghị.

Trường hợp ông Phan Sĩ Nghị vì mê xem phim xi-nê mà thi trượt giống như trường hợp vì mê hát cô đầu mà thi trượt của ông Trần Kế Xương:

Có phải rằng ông chẳng học đâu,
Mỗi năm ông học một vài câu.
Ví dù Vua mở khoa Thi Trống,
Lạc nhạn, Xuyên tâm đủ ngón chầu.

Trong thơ, ông Tú Xương nói nếu Nhà Vua mở Khoa Thi Đánh Trống Cô Đầu, ông có thể đỗ Tiến sĩ.

Nếu có Cuộc Thi Kể Chuyện Phim, Chuyện Đời Tư Nữ Minh Tinh Nhà Táng Xi-nê-ma, ông Phan Sĩ Nghị có thể có Chứng Chỉ Thạc sĩ.

Xin tặng ông 4 câu:

Đâu phải rằng ông chẳng biết gì.
Truyện phim, tài tử ông nắm kỹ.
Thi Xi-nê nếu có ở đời.
Chắc như bắp ông vồ bằng Phi.Đí. — Ph.D.

Nếu ông Phan Sĩ Nghị đỗ Thạc sĩ, tôi — Công Tử Hà Đông — có thể đỗ Tú Tài.

Tiếc thay!

 

 

 

——————–

[1] Silvana Mangano có hai phim đến màn ảnh Sài Gòn: Phim Riz Amer, năm 1952, phim Anna, năm 1956.

[2] Carroll Baker nổi tiếng từ phim Baby Doll. Chuyện ông chồng 40, 50 lấy cô vợ 17, 18, Vợ Nhí Nhõng Nhẽo. Phim này đến màn ảnh Sài Gòn năm 1960.

[3] Rạp Xi-nê Kinh Đô, một rạp tối tân, đẹp, xây cất năm 1958 ở Sài Gòn. Sau Toà Đại Sứ Hoa Kỳ mướn rạp làm chỗ chiếu phim cho viên chức Mỹ và thân nhân ở Sài Gòn đến xem. Năm 1960, Kinh Đô bị nổ mìn plastic. Rạp đóng cửa và dẹp bỏ luôn. Thay vào đó là toà nhà USAID nhiều tầng.

Con Ong Sài Gòn

Duyen Anh Vu Mong LongChuyện xưa: Tuần báo CON ONG Sài Gòn do Duyên Anh khai sinh khoảng năm 1966. Nếu Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà còn chính phủ Ngô Đình Diệm, tuần báo Con Ong không thể ra đời.

Minh Vồ Nguyễn Văn Minh là chủ nhiệm Con Ong, Duyên Anh Thương Sinh Vũ Mộng Long là chủ nhân đích thực của Con Ong, là linh hồn, là trái tim, là xương sống của Con Ong. Một mình Thương Sinh bao sân Con Ong. Dê Húc Càn, bút hiệu của Dương Hùng Cường, nổi lên ở Con Ong với mục Cà Kê Dê Ngỗng. Hoạ sĩ Hĩm Đinh Hiển vẽ hình trang bià và tranh minh hoạ trang trong.

Tôi không có mặt trong Con Ong những số đầu. Chỉ khi Duyên Anh bỏ Con Ong ra làm tuần báo Tuổi Ngọc, tôi mới có trang viết ở Con Ong. Tôi dùng hai tên Công Tử Hà Đông và Gã Thâm ký những bài tôi viết ở Con Ong. Cái tên Công Tử Hà Đông ở lại với tôi đến hôm nay.

Con Ong Sài Gòn, sau thời gian sống mạnh dưới sự biên tập của Thương Sinh Duyên Anh, chết khoảng năm 1972 khi chính phủ Nguyễn văn Thiệu ban hành cái gọi là Luật Báo Chí. Luật này bắt nhật báo phải đóng tiền ký quỹ 20 triệu đồng, tuần báo phải đóng 10 triệu đồng mới được phép ra báo. Tiền này nói là để bồi thường khi tờ báo bị thua kiện phải bồi thường tiền cho người bị tờ báo làm thiệt hại.

Chủ nhiệm Con Ong Minh Vồ không có 10 triệu đồng nên — như những tuần báo khác — Con Ong bị bức tử, chết queo. Tôi được biết Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong có tiền nên ký quỹ 10 triệu đồng; các tuần báo khác chết hết nên Văn Nghệ Tiền Phong một mình một chợ. Luật Báo Chí TT. Nguyễn Văn Thiệu là một trong những nguyên nhân làm VNTP bán được, có nhiều người mua, ông Chủ Nhiêm Hồ Anh đã giầu lại giầu thêm..

Sau khi báo Con Ong chết có vài lần Minh Vồ ra Con Ong nhưng báo làm theo lối ấn phẩm, xin Bộ Thông Tìn kiểm duyệt và cấp giấy phép ra mỗi số nên báo nhạt hơn nước ốc. Thời oanh liệt của Con Ong đã qua, Con Ong là báo của Thương Sinh. Con Ong chỉ oanh liệt vì có Thương Sinh viết, người đời chỉ sợ Con Ong của Thương Sinh. Thương Sinh bỏ Con Ong, Con Ong chỉ còn cái xác.

Duyên Anh Thương Sinh Vũ Mộng Long, Minh Vồ Nguyễn Văn Minh, Dê Húc Càn Dương Hùng Cường, Hĩm Đinh Hiển, bốn người chủ chốt của Con Ong Sài Gòn từ số Một. Ba người trong số đã qua đời. Ba cái chết thê thảm. Dê Húc Càn Dương Hùng Cường là sĩ quan Không Quân, đi cải tạo sĩ quan, về năm 1980. viết bài tố cáo chế độ cộng sản tàn ác với nhân dân gửi ra nước ngoài, DH Cường là một trong số văn nghệ sĩ Sài Gòn bị bọn Công An Thành Hồ gọi là bọn Biệt Kích Cầm Bút, DH Cường bị bắt lại năm 1984, chết năm 1986 trong xà-lim ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, trung tâm thẩm vấn nhân dân của bọn công an Thành Hồ. Minh Vồ bị bắt trong chiến dịch khủng bố văn nghệ sĩ Sài Gòn Tháng Ba năm 1976, nằm phơi rốn ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu một năm, được thả, qua đời năm 1993 sau ba năm nằm liệt một chỗ. Đám tang Minh có một số anh em văn nghệ sĩ, ký giả đi đưa từ Chuà Xá Lợi đến nghĩa trang ở Lái Thiêu: Doãn Quốc Sĩ, Thanh Thương Hoàng, Tô Ngọc, Cao Nguyên Lang, Sao Biển, Mai Anh…

Bà quả phụ Nguyễn Văn Minh bảo tôi viết điếu văn. Chưa bao giờ tôi viết điếu văn, cả đời tôi chỉ viết một điếu văn tiễn Minh Vồ. Chị Minh nói:

- Nhà tôi sinh năm Thìn..

Tôi nói:

- Tôi không viết điếu văn cho anh ấy theo kiểu điếu văn của người ta đâu. Chúng tôi là văn nghệ sĩ, điếu văn của chúng tôi viết theo kiểu điếu văn văn nghệ sĩ.

Nguyễn Văn Minh là Thuyền Trưởng Hai Tầu, anh có vợ hai. Những năm bị liệt Minh nằm trong nhà vợ hai ở đường Ngô Tùng Châu, Phú Nhuận. Tôi ở tù về năm 1990 Minh đã nằm liệt giường hai năm. Tôi đến thăm Minh. Minh ở trần, bận quần cụt, nằm trên cái giường nhỏ trong căn phòng nhỏ ở nhà vợ nhỏ. Với bà vợ lớn Minh có bốn, năm con, với bà nhỏ anh có thêm bốn con gái, một con trai. Chỉ có chị vợ Minh — chị Hai — có thể hầu chồng. Buổi tối chị bán xe phở ở đầu ngõ. Không có nghề, xe phở vắng khách, nước phở trắng như mắt ma. Minh bị liệt hai chân, hai tay vẫn cử động được, tinh thần vẫn sáng, nói không ngọng. Đặc biệt là nằm một chỗ mà gần như chuyện gì xẩy ra ở bất cứ đâu — kể cả chuyện xẩy ra ở Mỹ — Minh cũng biết. Khi tôi kể chuyện vừa xẩy ra trong giới văn nghệ sĩ ở Mỹ, Minh nói ngay:

- Chuyện ấy nó như thế này này, để tao nói cho mà nghe…

Bị liệt, Minh vẫn uống cà phê, hút thuốc lá. Chúng tôi đến thăm là dịp để Minh uống cà phê, hút thuốc lá và nói nhiều hơn. Khi tôi ra về, Minh thường bảo tôi:

- Dấu cho tao mấy điếu ở quanh giường, dưới nệm, chỗ này này, lúc nào tao muốn hút tao lấy.

Có lần Minh bảo:

- Lần sau đến mang cho tao điếu Pall Mall. Tao thèm Pall Mall, một điếu thôi.

Chị Minh Hai nói:

- Không phải tôi cấm nhà tôi hút thuốc. Các anh đến, nhà tôi uống cà phê, hút thuốc nhiều, nói nhiều, các anh về nhà tôi lên cơn, vật vã, khổ lắm.

Hôm Minh qua đời, tôi đến nhìn mặt Minh lần cuối, chị Minh Cả kể:

- Hôm qua là ngày giỗ ông thân nhà tôi, tôi mang sôi chè sang cho nhà tôi. Nhà tôi nói: bà ạ, có thằng nhỏ nào nó lấp ló sau cái cửa sổ kia, nó cứ thò tay vào kéo chân tôi. Thằng nào thế, bà đuổi nó đi cho tôi. Đến nửa đêm nhà tôi đi.

Tôi đến bên giường nhìn Minh nằm đó. Minh to lớn hơn tôi, Minh ăn to, nói lớn. Nay nằm dưới cái khăn giường trắng, tôi thấy Minh nhỏ síu, trên bụng Minh để nải chuối xanh. Chuối đã héo. Không mang hàm răng giả, miệng Minh móm xệu.

Hôm đưa đám Minh từ Chuà Xá Lợi đi, khoảng 12 giờ trưa, gặp trận mưa lớn trên xa lộ. Mưa tối trời, tối đất. Bác tài lái chiếc xe ca nhà đám muớn chở khách trong số có tôi loanh quanh mãi mới đến được nghĩa trang. Mưa vừa tạnh. Những hàng cây lá xanh um ướt nước mưa làm cho khung cảnh quanh căn nhà nhỏ giữa nghĩa trang có cảnh sắc thật lạ. Có đội kèn bu-dzích đi theo. Tiếng kèn đồng te te vang lên, tiếng trống bùng bùng, người đi đưa túm lại trong nhà quàn. Tôi đọc điếu văn.

Không thể ca tụng Nguyễn Văn Minh, ông chủ nhiệm tuần báo Con Ong, là người chồng tốt, tôi ca tụng Minh là người bạn tốt. Mà Minh là người bạn tốt thật. Những lúc Minh có lộc, nói rõ là những khi Con Ong có người đến nộp tiền để báo đừng chửi — nộp tiền để báo đừng chửi họ, đừng tố cáo họ, đừng nói đụng đến họ, không phải nộp tiền để báo chửi người khác — Minh vẫn chia lộc cho anh em chúng tôi.

Khi đã nằm liệt nghe chúng tôi nói đến Hĩm ở Mỹ — Hĩm vuợt biên sang Mỹ năm 1978 — Minh nói:

- Tổ sư ông Hĩm. Tôi trả tiền nhà thổ cho ông ấy không biết bao nhiêu lần!

Trước quan tài Minh ở một nghĩa trang trên Lái Thiêu, khoảng 2 giờ một buổi trưa trời mới đổ trận mưa lớn, tôi đọc bản điếu văn duy nhất tôi viết trong đời tôi, tôi kết thúc điếu văn bằng câu:

- Minh ơi..! Khi người ta đi ra khỏi cõi đời này, người ta đi lên, hay người ta đi xuống. Khi chúng ta ra khỏi cõi đời này, chúng ta đi ngang. Minh sang bên ấy trước, chúng tôi sang sau.

Tôi vỗ lên quan tài Minh ba cái, rồi châm lửa đốt tờ điếu văn.

Duyên Anh tù cải tạo 5 năm, nằm phơi rốn ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Nhà Tù Chí Hoà, rồi Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc, trở về Sài Gòn năm 1980, vượt biên đi thoát năm 1983, sang Pháp với vợ con. Sang Pháp Duyên Anh lại viết, và viết rất mạnh. Có tiểu thuyết làm phim. Vợ con Duyên Anh được bảo lãnh sang Pháp năm 1980. Những năm 1987, 1988 Duyên Anh bị đánh ở Cali, liệt nửa người. Oan nghiệt dễ sợ. Sau tai họa, Duyên Anh viết bằng tay trái, qua đời năm 1996 hay 1997 ở Pháp.

Tứ trụ tòa soạn Con Ong Sài Gòn đã ra đi ba người, nay còn Hĩm Đinh Hiển ở Cali.

Dòng thời gian dài một ánh bay..! Bánh xe lãng tử sang Mỹ tôi lại viết cho Nguyệt San Con Ong, Chủ nhiệm Phạm Thông, ở Houston, tôi lại dùng bút hiệu Công Tử Hà Đông. Tưởng như tôi mới viết cho Con Ong Houston Texas ngày hôm qua. Dzậy mà đã 10 năm. Thời gian qua thật mau. Mới đấy mà Con Ong Houston, Texas đã sống được mười năm…! Mới đấy mà vợ chồng tôi đã sống mười năm ở Mỹ..!

Năm 2006, Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, Chủ nhiệm Bán Nguyệt San Văn Nghệ Tiền Phong, từ trần ở Virginia, thọ 84 tuổi. Uyên Thao, Tạ Quang Khôi, Vương Đức Lệ và tôi tiễn đưa Hồ Anh tới nghiã trang. Lúc trở về, trong xe, tôi nói:

- Bốn thằng mình đây, không biết thằng nào đi trước?

Tạ Quang Khôi nói ngay:

- Tao đi trước.

Vương Đức Lệ nói:

- Chưa chắc.

Ba năm sau, Vương Đức Lệ là người “đi trước” trong 4 anh em chúng tôi.

Trước linh cũu Vương Đức Lệ, tôi nói lời tôi đã nói với hương linh Minh Vồ Nguyễn Văn Minh ở Sài Gòn năm 1992:

- Khi người ta đi ra khỏi cõi đời này, người ta đi xuống hay người ta đi lên, khi chúng ta ra khỏi cõi đời này, chúng ta đi ngang. Lệ sang bên ấy trước, chúng tôi sang sau.

Sau đám tang Hồ Anh, tôi làm bài thơ:

Trước, Sau

Chưa biết thằng nào trước thằng nào,
Thằng nào đi trước, thằng nào sau.
Đi sau, đi trước cùng đi cả,
Thằng thì đi trước, thằng đi sau.
Không thằng nào nói tao đi trước,
Không thằng nào nói tao đi sau.
Thằng đi sau lậy thằng đi trước,
Thằng đi trước kệ thằng đi sau.
Đi sau, đi trước rồi đi cả.
Théc méc làm chi chuyện trước sau!

Bin-Đinh Cửu Long

Sai Gon 1970Theo tôi biết Sài Gòn trước năm 1975 có 2 Bin-đinh nổi tiếng: Bin-đinh Cửu Long đường Hai Bà Trưng, Bin-đinh Everest, trên đường D’Ypres, con đường ngắn từ đường Nguyễn Trãi sang đường Lê Lai. Tôi không nhớ tên Việt của đường này.

Từ sau năm 1956 ngôn ngữ người Sài Gòn có tiếng “Bin-đinh.” Building, nhà nhiều tầng, nhiều phòng. Cả hai Bin-đinh Cửu Long, Everest đều có nhiều ký giả, văn nghệ sĩ là thân chủ. Bin-đinh Cửu Long được Quân Đội Pháp xây lên khoảng năm 1948, dùng làm nơi ở của những Nữ Trợ Tá Quân Đội Pháp. Sau năm 1956, người Pháp đi khỏi Sài Gòn, người Việt vào ở Bin-đinh Cửu Long và những vi-la của người Pháp ở quanh Bệnh Viện Grall.

Đa số người ở Bin-đinh là người độc thân: chưa vợ, chưa chồng. Phòng ở một người vừa vặn, hai người thì hơi hẹp. Tôi có vợ năm 1954, tôi chỉ đến Bin-đinh Cửu Long chơi với các bạn tôi, không có thời gian nào tôi mướn phòng ở đó.

Hôm nay tôi tìm được bài viết của Ký giả Phan Nghị về Bin-đinh Cửu Long, về những em Ca-ve từng sống trong Bin-đinh đó. Mời quí vị cùng tôi trở về Sài Gòn thăm Bin-đinh Cửu Long Xưa. Phan Nghị đã qua đời ở Sài Gòn.

CA VE SÀI GÒN. Phóng sự – Hồi ký của Phan Nghị. Viết ở Sài Gòn.

Bắt đầu từ những con đường chính của thành phố. Khu Catinat — Charner — Tự Do-Nguyễn Huệ với những Dancing Majestic, Maxim’s, Croix du Sud sau đổi là Tự Do. Bên đường Nguyễn Huệ có Đêm Màu Hồng của Trần Quí Phong, Rex của Ưng Thi, rồi Queen Bee. Phía gần bờ sông, có Dancing Mỹ Phụng. Sau năm 1975 người ta thấy bà chủ Mỹ Phụng ngồi bán bánh giày, bánh giò ở đầu cầu Mac Mahon. Ở đường Hàm Nghi có Dancing Victory rồi Đại Nam của Tú Vopco., thêm Dangcing Tabarin. Từ đầu đường Trần Hưng Đạo vào tới Chợ Lớn thì nhan nhản Dancing: Côte d’Ivoire, Au Chalet — bây giờ là một trạm xăng, không còn vết tích một tiệm nhảy — Moulin Rouge, nay là tiệm thuốc Bắc, rồi Arc en Ciel, Đại Kim Đô, Lai Uyn. Viết về Dancing Sài Gòn thì hông thể không nhắc đến Dancing Baccara của Mông sừ Hợp Béo ở đường Trần quí Cáp, với sàn nhảy nhỏ như cái lỗ mũi, và Ma Cabane ở xế cổng Vuờn Tao Đàn.

Tính sơ sơ, số các em hành nghề ca-ve ở Sài Gòn — từ 1960 đến 1970 — từ 400 đến 500 em! Hôm nay các em ở đâu, sinh sống ra sao? Em nào còn, em nào mất? Có em nào phải ca bài “Quê em miền Nancy, chiều ra bến xe đò, về vùng kinh tế mới” không? Gọi là các em, chẳng qua là quen miệng, bởi người ít tuổi nhất trong các em là Tâm Điệu, năm nay cũng đã ngoài 50, và nhiều tuổi nhất, bà Hạnh 76 tuổi, ca-ve nhảy ở Fantasio (Hà Nội) từ trước 1954. Lại cũng có người trở thành bà cố, như Minh Châu (Croix du Sud): cháu ngoại nàng 21 tuổi mới sinh hạ một bé trai.

Những ngày tươi sáng của Ca- ve Sài Gòn diễn ra từ 1956 đến 1960. Những năm ấy chiến tranh chưa dữ dội, Sài Gòn chưa bị đánh mìn, chưa có cuộc binh biến đảo chính nào, chưa có thiết quân luật! Người ta nhảy đầm vung vít. Giá 100 đồng một ticket tại những tiệm nhẩy cao cấp như Maxim’s, Arc en Ciel, và 30 tì, tại những nơi bình dân như Lai Uyn.

Thời điểm ấy, dân giang hồ tay chơi thường tụ tập ở Bin-đinh Cửu Long mà những kẻ nghịch ngợm gọi là Bin-đinh “9 Con Rồng Lộn”. Bin-đinh Cửu Long do Tây xây. Tây về nước, dân Mít tới thay thế. Bin-đinh có 4 tầng: tầng trệt, tầng A, tầng B, tầng C.

Tại lầu C Bin-đinh Cửu Long có hai em ca ve: Vinh và Hòe. Ba văn nghệ sĩ Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư ở phòng C5, C7 bên cạnh phòng Nhân Mũi đỏ, xế cửa phòng Võ Đức Duy. Trần đình Lâm, nhân viên Hãng TiVi Mỹ ABC ở bên số chẵn, Phòng 16, cạnh phòng em Vinh, người nấu cơm tháng, mang đến phòng, cho tất cả những khưá nào muốn ăn cơm nhà ở Bin-đinh.

Từ trưa thứ bẩy, Bin-đinh Cửu Long đã bắt đầu mở hội. Ai muốn chơi Xì Phé thì tới phòng Võ Đức Duy, muốn uýnh Chắn thì tới chỗ Trần Đình Lâm. Chợ chưa họp các em đã có mặt vì sợ mất chân! Đôi khi Cúc, Mỹ kéo theo một, hai em đồng nghiệp. Các em, người mặc đầm, kẻ mặc áo dài, cậu Lâm, chủ phòng kiêm chủ phòng, cho may 3 bộ pyjama cho các em mượn mặc, ngồi chơi bài cho thoải mái. Nhưng thật ra cậu có ý đồ: cậu dùng lưỡi lam rạch một đường dài ở đũng quần. Ca-ve Mỹ, tinh ma quỷ quái nhất trong bọn, là người đầu tiên phát hiện ra cái trò rạch đũng quần ma tịt đó, bèn giở ngay chiêu số Gậy ông đập lưng ông. Khi nào “ù xịa”, nàng chỉ việc ngồi xổm, hai tay huơ lên, miệng cười toe. Các cậu trố mắt ra nhìn cái vết quần rách, đâu còn thiết gì đến chuyện kiểm soát bài của em. Sau này, khi bể mánh, Mỹ nói tỉnh bơ:

- Nhảy với người ta thì phải trả tích-kê, còn xem của người ta cũng phải trả tiền chứ bộ!

Một hôm, mọi người đang mải mê chơi bài, chợt có tiếng đập cửa thình thình. Hỏi: “Ai?” Tiếng đập cửa dữ dội hơn, kèm theo mấy tiếng quát: “Mở cửa!” Thế là các cậu, các mợ, mạnh ai nấy chạy: leo cửa sổ chuồn sang những phòng bên cạnh. Mỹ, tuy chậm chân, nhưng cũng cố leo ra được thành cửa sổ. Nhưng khi từ trên cao nhìn xuống phía dưới thấy sâu thăm thẳm, khiếp hãi quá, nàng cứ bám chặt lấy thành cửa rồi khóc um lên! Rút cuộc, không phải Cớm đi bắt bạc, mà là Nhân Mũi Đỏ, say rượu bét nhè, đập của đòi vào phòng. Số là thời bấy giờ đang có Chiến dịch Bài trừ Tứ đổ tường. Cờ bịch, hút xách, đĩ điếm, đều bị bắt bỏ bót và có thể bị lôi ra tòa, lãnh án.

Trên cõi đời này, lên voi mãi rồi cũng phải xuống chó! Năêm 1961, sau cuộc đảo chính hụt, ông Nhà nước bèn ra cái lệnh “Cấm nhảy đầm“. Đăng-xinh biến thành phòng trà, ca-ve trở thành nữ tiếp viên. Khách chơi không còn được nhảy mà chỉ được ngồi nghe ca nhạc rồi tán gẫu với các em, để rồi uống Cái Xanh hoặc Cái Đỏ. Cái Xanh là pippermint, một loại rượu nhẹ pha với nước có màu xanh lợt, còn Cái Đỏ la Cognac, Whisky. Cái Xanh, Cái Đỏ xuất hiện trong Dancing Sài Gòn cùng một thời với Đô-la Xanh, Đô-la Đỏ.

Sau cuộc đảo chính lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm, Tháng 11-1963, Tướng Tôn Thất Đính, khi ấy là Tổng Trưởng Bộ Nội Vụ, nói với đám ký giả nhà báo chạy theo ông để hỏi về vụ Sài Gòn Nhảy Nhót:

- Trên thế giới này không có nước nào cấm Nhảy Đầm. Các bạn cứ việc nhảy líp ba-ga.

Cuộc đời các ca-ve lên hương trở lại. Và Bin-đinh Cửu Long nhộn nhịp hơn xưa. Tuy nhiên, cũng có một vài thay đổi. Hai kép ở lầu C, bên số Lẻ, chán đời nhưng không dám nhảy lầu, nốc cả chục viên Valium để phiêu diêu miền cực … khổ. Kép Thanh Nam, tác giả “Cuộc đời một thiếu nữ” (Hà Nội 1953), cười toe, giã từ Bin -đinh, đi mướn nhà xây dựng tổ ấm với Nữ tác giả “Tôi nhìn tôi trên vách“. Cậu Thái Thủy đi làm con rể Mông-sừ Mặc Thu mặc dù trước đó họ toa moa búa xua với nhau. Trần Đình Lâm cũng bỏ Bin-đinh để đi lấy vợ.

Sau 30-4, 1975, 3 chị em Ca-ve Lệ Hằng bán cà phê ở Vườn Hoa Tao Đàn. Em Th. Tàu — người đã từng dùng giầy cao gót đập lủng trán Ca sĩ Hiền Lương, chủ tiệm thuốc mọc râu mọc tóc — mở một quầy bán đồ hộp. Em Mỹ, thì vồ được một kép làm ở Kiểm Lâm, nên trong nhà, từ cầu thang đến bàn ghế, giường tủ, đều làm bằng những thứ gỗ đắt giá. Em Cúc có một dạo mở quán bia ôm. Một hôm tình cờ gặp Cúc ở giữa đường, bèn hỏi:

- Dạo này ra sao?

Nàng trả lời:

- Vũ như Cẩn! Vẫn một mình nuôi con.

Nói lái: vẫn như cũ.

- Thế bố nó không phát tiền cho em à?

Tức thì nàng cong cớn đáp:

- Thỉnh thoảng nó phát cho vài ba trăm (ngàn) không đủ tiền mua xà phòng rửa…

Tính Cúc vẫn thế. Đanh đá, chua ngoa, mỗi khi nhắc tới những người tình cũ, nàng đều bắt đầu bằng câu: “Tiên sư cha nó..”

Chỉ có Minh Châu là khá nhất. Hôm đi ăn phở Bà Dậu, gặp nàng ở đầu ngõ, thấy nàng vẫn cười tươi như hoa cứt lợn, ngồi xe Dream — Dân Saigon đi xe Honda Dream là dân có cuộc sống dư giả — nàng ngúng ngóay cái mông rồi kêu lên: “Ố… Ố.. Bernadine!” Nàng giải thích:

- Khi vui cũng như khi buồn, em đều “sủa” bài ca ấy để nhớ Phụng Cao Bồi, và hồi tưởng lại những ngày xa xưa!

- Phụng Cao Bồi còn sống hay “đai” rồi? Tôi hỏi.

- Không dám đâu! Còn lâu mới “đai”. Anh ấy đi Tây, đi Canada như người ta đi chợ Bến Thành.

Minh Châu nhất định trả tiền phở, không những thế còn mua một gói bánh rán cho tôi mang về, đồng thời mời tôi đến nhà nàng.

- Hồi này coi bộ em sống dễ thở hả?

- Anh đến chơi, rồi anh thấy.

Nhà Minh Châu ở Cư xá Hàng Không Việt Nam, gần ngay Phở Dậu. Ở sân trước và nhà trong chật ních những xe máy. Nàng nói:

- Nhà em giữ xe. Gửi xe lấy ngay trong ngày thì 2000đ một xe, nếu gửi tháng thì mỗi tháng trả em 40.000 đồng. Tháng nào em cũng có thu nhập hơn một triệu đồng.

Có tiếng trẻ con khóc. Nàng chạy vào buồng, bế ra một bé trai kháu khỉnh.

- Không phải cháu em đâu, chắt em đấy. Em thành bà cố rồi chớ bộ!

Thằng bé vẫn khóc. Nàng vỗ nhẹ vào mông nó và khe khẽ ru nó bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt: “What will be will be. Muốn ra sao thì ra…” Nàng cười:

- Thằng nhóc này chỉ thích nghe nhạc nhảy đầm. Dỗ nó bằng những bài hát ru em Việt Nam, nó không chịu, cứ khóc hoài!

Gĩã từ Minh Châu. Ra tới đầu cổng cư xá, tiếng hát của nàng vẫn còn đuổi theo ở sau lưng “Muốn ra sao thì ra…”

Ừ phải. Muốn ra sao thì ra! Đó là thái độ thật đúng đối với cuộc đời, nhất là trong thời loạn hay trong thời bình mà xã hội có nhiều thay đổi.

Phan Nghị

Tôi — CTHĐ — viết thêm:

500.000 Lính Mỹ vào Việt Nam, Quân Đội Mỹ in giấy đô-la mầu Đỏ cho Lính Mỹ sài. Đô-la Đỏ không có giá trị bên ngoài những căn cứ, cửa hàng PX Mỹ.

Military Dollar
Một trong những cư dân nổi tiếng của Bin-đinh Cửu Long là anh Trần Văn Hiếu, em ông Trần Văn Chương, chú của bà Trần Lệ Xuân. Anh có cái ve ở tai nên có tên là Hiếu Ve. Sau Ngày 30 Tháng Tư, 1975, anh chán đời, anh từng nói với nhiều người anh sẽ nhẩy lầu tự tử. Một đêm anh lên sân thượng của Bin-đinh, nhẩy xuống.

Tôi biết có 2 cư dân Bin-đinh Cửu Long hiện sống ở Mỹ: Thi sĩ Thái Thủy, ở Cali, và Trần Đình Lâm, ABC, ở Virginia.

Thi sĩ Thanh Nam, năm 1978, ở thành phố Seattle, Kỳ Hoa, thương nhớ Sài Gòn, làm bài Thơ trong có 2 câu:

Lầu hoa từng buổi đuà nhan sắc,
Giấc ngủ thềm sương rộn tiếng hài.

Lầu hoa” là Bin-đinh Cửu Long, “Thềm sương” là thang lầu Bin-đinh, “Tiếng hài” là tiếng giày cao gót của các em Ca-ve gõ lách cách trên những bậc thang. Còn “Nhan sắc” tôi không biết Thi sĩ muốn nói đến ai, hay cái gì.

Năm xua, Thi sĩ Nguyễn Bính làm Thơ:

Hôm nay có một người du khách,
Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên.

Người anh em cùng vợ với tôi — H2T — cảm khái làm Thơ:

Kỳ Hoa có một người ly khách,
Không Cửu Long mà nhớ Cửu Long.

Người anh em cùng vợ của tôi mần thơ, cảm khái, tôi — CTHĐ- tôi cũng mần Thơ:

Anh không ở Bin-đinh Cửu Long,
Tại sao anh thuơng nhớ Cửu Long?
Tại vì Cửu Long như Vũ Nữ,
Nên không Cửu Long mà nhớ Cửu Long!

DỄ và KHÓ

 

Ảnh ghi cảnh Cai Tù Pháp thẩm vấn Tù Nhân Chiến sĩ Quân Đề Thám, Bắc kỳ năm 1915. Cảnh bày ra để chụp ảnh: Cai Tù Pháp, nón cối, không thể hỏi thẳng người tù bằng tiếng Pháp. Tuy dàn cảnh để chụp ảnh nhưng ảnh cũng cho ta thấy được cảnh Tù ngày xưa.  Prison

————————-

Những năm 1960, 1961, tôi đọc toàn bộ truyện Đông Chu Liệt Quốc. Những năm ấy tôi 30 tuổi, đời tôi chưa có nhiều đau thương, lỗi lầm, ân hận nhưng tôi đã biết suy nghĩ. Nhiều chuyện trong Đông Chu Liệt Quốc làm tôi cảm khái, như chuyện anh em Công Tử Thọ.

Sáng cuối năm, Rừng Phong trời lạnh, nắng vàng, tôi viết lại chuyện Công Tử Thọ Đông Chu Liệt Quốc mà không mở sách Đông Chu ra coi — tôi viết lại theo chuyện trong trí nhớ của tôi:

Ngày xưa, ở một nước trong bẩy, tám nước lớn bên Tầu thời kỳ Sử Tầu gọi là thời Đông Chu, bà Hoàng Hậu sinh hai con trai, bà yêu người con thứ mà ghét người con trưởng. Muốn cho con thứ lên ngôi vua, bà sai người con lớn đi xa, rồi ngầm sai người đi thuyền đuổi theo, giết đi. Hoàng Tử thứ hai biết được quyết định ấy, ông xuống thuyền đuổi theo thuyền ông anh.

Đêm trăng, thấy bóng thuyền của ông Hoàng Anh trước mặt, ông Hoàng Em hồi hộp khấn:

- Lậy Trời cho anh tôi chưa bị giết.

Thuyền của ông Hoàng Anh ngừng lại, ông Hoàng Em lên thuyền. Ông Hoàng Anh biết chuyện bà mẹ sai người đuổi theo giết mình nhưng ông không sợ, không chạy trốn. Hai anh em ngồi uống rượu ở trên thuyền, trong ánh trăng giữa dòng sông mênh mang. Ông Hoàng Em nói:

- Xin anh cho em được chết thay anh.

Ông Hoàng Anh nói:

- Anh cám ơn Em. Nhưng em để cho anh được chết.

Ông Hoàng Em khóc, nước mắt rỏ vào ly rượu ông cầm trên tay.

- Cho anh uống ly rượu có nước mắt của em.

Ông Hoàng Anh nói rồi đỡ ly rượu có nước mắt của ông Hoàng Em, uống cạn.

Thuyền của bọn được sai đi giết người đuổi đến. Hai Ông Hoàng cùng nói:

- Ta là Thế Tử. Chúng mày phải giết ta.

- Ta mới là Thế Tử. Chúng mày giết lầm người là chúng mày cũng phải chết.

Bọn giết người thấy hai người tranh nhau chết, sốt ruột, chặt đầu cả hai anh em, đem về báo công với Hoàng Hậu.

Tôi cảm khái vì tình anh em của hai hoàng tử Tầu ngày xưa. Chuyện Đông Châu Liệt Quốc thứ hai làm tôi cảm khái là chuyện Việt Vương Câu Tiễn.

Đọc những bài bàn loạn về nguồn gốc dân Giao Chỉ tôi thấy dân tộc tôi là một thứ dân “Năm Cha, Ba Mẹ“:

1 – Tổ tiên tôi từ Động Đình Hồ lếch thếch đi xuống miền Nam, trụ lại ở lưu vực sông Hồng.

2 – Tổ tiên tôi từ nước Nam Dương bi giờ, loạng quạng đi lên phiá Bắc và cũng dừng lại ở vùng đất trong lòng Hồng Hà.

Thuyết nào cũng có những lý luận chắc như bắp. Chỉ có chuyện Câu Tiễn là Vua nước Việt thời Xuân Thu — thời Đông Chu cũng rưá — nhưng không thấy có ông người Việt viết Sử Việt nào nhận Câu Tiễn là “tổ tiên” của mấy ông. Tôi sẽ viết về Câu Tiễn trong một bài khác, hôm nay tôi chỉ viết về cuyện Câu Tiễn không sợ chết.

Khi quân Việt bị quân Ngô đánh bại, Vua Ngô Phù Sai ra lệnh cho Vua Việt Câu Tiễn phải sang Ngô làm tù binh. Câu Tiễn có thể tự tử chết nhưng ông thấy ông không thể chết, ông phải sống để phục quốc, để dân Việt không bị diệt vong. Khi cùng bà vợ đem thân sang Ngô, Việt Vương Câu Tiễn nói:

- Ai cũng sợ Chết, ta không sợ chết. Với ta, Chết thật dễ, Sống mới khó.

50 mùa thu xanh xưa, ở Sài Gòn, tôi cảm khái vì câu nói của Câu Tiễn: “Chết thật dễ! Sống mới khó!” Đêm qua, tôi nhớ câu nói của Câu Tiễn khi trong phòng ấm, đèn vàng, an ninh 500/100, tôi nằm đọc Hồi Ký THI TÙ TÙNG THOẠI của Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng, gặp chuyện nước tôi năm 1908, một số nhân sĩ Việt bị chính quyền Thực Dzân Pháp bắt về tội làm quốc sự. Trong số nhân sĩ bị Pháp bắt có ông Châu Thơ Đồng — Ông Tù Chính Trị Việt Nam Tuyệt Thực Trong Tù Chết Trong Tù Thứ Nhất của Dân Tộc Việt Nam — Ông Tù Huỳnh Thúc Kháng kể khi ông ở Nhà Ngục Hội An, Ông Tù Châu Thơ Đồng được giải đến.

Thi Tù Tùng Thoại. Huỳnh Thúc Kháng. Trích:

Châu Thơ Đồng tiên sinh tên là Thượng Văn, người Minh Hương, ở Faifo, là bạn thiết của Tiểu La tiên sinh. Nhà Châu quân ở giữa thành phố Faifo, là nơi cửa hàng nhiều khách mua qua, bán lại. Nhà này tiện đường giao thông, nhân sĩ Nam Bắc đi qua Quảng Nam thường ghé, ngụ tại nhà Châu quân, thư từ các nơi gửi cho Tiểu La cũng do Châu quân nhận rồi đưa lại.

Cuộc Dân Biến năm Mậu Thân xẩy ra, Châu quân bị bắt hạ ngục. Ngay ngày đầu vào ngục, Châu quân tuyệt thực. Những ngày đầu Châu quân bị giam ở Ngục Faifo rồi giải sang Nhà Giam tỉnh. Quan Tây và Quan Ta cùng tra hỏi, Châu Quận khẳng khái nhận những việc ông làm, không chối, không giấu giếm.

Ông nói:

- Tôi là người chủ mưu đưa người nước tôi sang Nhật bản, tôi chủ xướng việc kêu gọi dân nghèo xin giảm thuế, bãi xâu.

Toà án Nam triều kết án Châu quân tù chung thân, đày đi Nhà Tù Lao Bảo. Kể từ ngày bị bắt đến ngày bị kết án, 20 ngày, ông không ăn một hạt cơm, chỉ mỗi ngày uống vài chén nước trà pha loãng, nước trà này do con ông đưa vào nhà ngục.

Trong tù khi nghe tin Châu quân không ăn, tôi sợ ông không sống được. Khi ấy tôi và Tiểu La tiên sinh vẫn ở trong Nhà Ngục Faifo. Một ngày kia, khoảng 11 giờ trưa, cửa phòng giam tôi mở toang, lính tập đưa 5, 6 người tù vào phòng, lại có hai người dân khiêng một cái võng trong có người tù bị đau nằm.

Những người tù mới vào này nói họ bị đày đi Nhà Tù Lao Bảo, họ bị đưa vào đây chờ ngày mai lên xe hoả. Lúc ấy có đoạn đường xe hoả Faifo-Tourane đi về phiá núi Ngũ Hành.

Lính giải tù đi ra, cửa phòng giam khoá lại, tôi đến chỗ người tù đau nằm, thấy mặt ông đen như bôi than, hai mắt nhắm, người gầy trơ xương. Tôi nhìn ngây một lúc mới nhận ra người đó là Châu Thơ Đồng tiên sanh. Ông gần chết, ông đã tuyệt thực 20 ngày.

Tôi gọi ông:

- Châu tiên sinh! Châu tiên sinh! Ông nhận ra tôi là ai không?

Châu quân mở mắt, nhìn tôi một chốc lâu rồi nói nhỏ:

- Mính Viên quân. Tôi làm cái dễ, anh em các vị gánh lấy sự khó.

Hai giờ trưa ngày hôm sau, Châu quân bị đưa lên võng, khiêng ra nhà ga, lên tầu ra Huế. Châu quân chết trong Nhà Lao Phủ Thừa.

Người tù quốc sự bị giam trong ngục mà nhịn ăn, từ Thánh Cam Địa Ấn Độ về sau, không phải là chuyện lạ. Chuyện phải ghi là Châu Thơ Đồng Tiên sanh trong tù làm việc tuyệt thực trước ông Cam Địa Ấn Độ; Ông Châu tuyệt thực đến chết, cao hơn ông Cam Địa một bậc.

Tôi có điếu Châu quân câu đối:

* Nhân giai úy tử, quân độc bất tham sanh! Bát xích tu mi, tu dĩ hà sơn dinh nhất bão.
Thuỳ vi kỳ nan, quân nãi vi kỳ dị! Nhất phần trách nhiệm, các tương tâm huyết cáo đồng bào.

* Cái chết ai không sợ, người lại không tham cái sống suông, tám thước mày râu, thẹn với non sông dành bữa gạo.
Việc khó ai dám đương, người bỗng lãnh ngay làm việc dễ. Một phần gánh vác, quyết đem tâm huyết cáo bà con.

Người Tù Yêu Nước bị Triều đình nhà Nguyễn xử tử trước nhất, theo tôi, là ông Trần Quí Cáp.

Người Tù Yêu Nước Thứ Nhất tuyệt thực đến chết trong tù, theo tôi, là ông Châu Thơ Đồng. Ông Châu tuyệt thực đến chết năm 1908, ông Gandhi, Ấn độ, tuyệt thực chống sự cai trị củaThực Dân Anh những năm 1935-1940.

Theo tôi, Người Tù Chính Trị Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Mạnh Côn là Người Tù Việt Nam Thứ Hai — sau Ông Tù Châu Thơ Đồng — tuyệt thực đến chết trong Ngục tù Cộng Sản.

Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn viết mục “Bẩy Ngày Đêm Tính Quẩn Chuyện Đời“, ký tên Đằng Vân Hầu, đăng trên Tuần Báo Văn Nghệ Tiền Phong cho đến ngày 30 Tháng Tư 1975.

Ông bị bọn Công An Thành Hồ đến nhà bắt trong một đêm Tháng Ba 1976. Ông bị giam ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn của Sở Công An CS Thành Hồ, rồi qua Nhà Tù Chí Hoà, cuối cùng ông bị đưa đến Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc. Năm 1979 tại Trại Tù Xuyên Mộc, ông tuyệt thực đòi bọn Cai Tù phải trả tự do cho ông. Áp dụng biện pháp trấn áp Tù Tuyệt Thực của bọn Tầu Cộng, bọn Cai Tù Xuyên Mộc giam riêng ông, không cho ông uống nước, chúng để ông đói, khát đến Chết.

EM vẫn KIỀU THU

Trong bài 4 Món Ăn Chơi NGÀY XƯA NGƯỜI ĐẸP tôi viết chuyện khán giả Sài Gòn — trước 1975 — đi xem xi-nê vô duyên nhất là xem những xuất chiếu từ 2 giờ trưa đến 4 giờ chiều. Từ rạp máy lạnh ra đường phố nắng loá mắt, nóng đến ngất ngư; tôi viết ở Sài Gòn đi xem xi-nê thú nhất là xuất từ 9 giờ tối đến 11 giờ đêm. Tôi viết về những Nữ Minh Tinh Điện Ảnh Đẹp Mê Hồn thời tôi 20 tuổi: Pier Angeli, Rossana Podesta, Rita Hayworth, Ava Gardner, Kim Novak..vv..vv.. Tôi théc méc không biết năm nay, 2008, những Người Đẹp ấy có còn hay không trên dương thế?

Bài đăng lên, trong I-Meo của tôi có 2 điện thư:

Nguyễn phú Xuân, November 26, 2008: “Không biết Pier Angeli có còn trên dương thế?” Thưa CTHĐ, Người Đẹp Pier Angeli từng đi vào giấc ngủ của ông năm ông 20 tuổi đã qua đời ngày 10/10/1971 ở Beverly Hills CA. Có tin đồn Pier Angeli tự vẫn nhưng tin này không được xác nhận, tuy nhiên Nàng qua đời vì dùng quá liều lượng ma túy. Nếu còn,sống năm nay Nàng 76 tuổi.

Nguyễn phú Xuân, November 27, 2008: “Không biết Pier Angeli, Rossana Podesta, Claudia Cardinale hôm nay có còn trên dương thế? Xin trả lời: Cụ bà Rossana Podesta năm nay 74, còn sống tại Ý Quốc, Cụ bà Claudia Cardinale, 70, còn sống tại Pháp.

girlsCám ơn ông Nguyễn phú Xuân. Đọc Meo của ông ý nghĩ đầu tiên của tôi là:

- Pier Angeli của tôi chết rồi sao? Nhưng nhờ ông tí. Người Đẹp của tôi chết, tại sao tôi không biết? Nàng qua đời năm 1971? Năm 1971 tôi còn sống mà? Năm 1971 tôi chưa mất Sài Gòn! Năm 1971 đời tôi còn nhiều vui tươi. Tại sao tôi lại không biết Pier Angeli giã từ cuộc sống? Để xét xem tin Nàng chết có đúng không. Xét dzễ thôi. Dzùng computer. Tôi dzô google.com, đánh tên Pier Angeli, nhấn Go. Và thế là tiểu sử của Pier Angeli hiện lên trên màn ảnh.

Than ôi! Nàng chết thật dzồi. Tôi thương tiếc, tôi ân hận quá đi thôi. Năm 1971 tôi làm gì, tôi sống ra sao mà tôi không biết Pier Angeli qua đời ở Mỹ??

Những dòng chữ như đẫm lệ rung động truớc mắt tôi:

Date of Birth: Anna Maria Pierangeli was born June 19, 1932 in Caglieri, Sardinia, Italy.

Date of Death: 10 September 1971, Beverly Hills, Los Angeles, California USA (barbiturate overdose).

Pier Angeli không còn nữa từ Tháng Chín 1971, dzậy mà 38 năm sau tôi mới biết Nàng không còn nữa. Tội quá thì thôi! Tôi can tội vô tình với Nàng. Nhiều lần tôi viết thương khóc Marilyn Monroe. Tôi không viết thương khóc Pier Angeli vì tôi không biết Nàng đã chết. Cho đến hôm nay..

girlsNhưng làm sao Nàng lại có thể chết sớm đến như thế? Không phải là Thầy Tướng, chưa giáp mặt Nàng lần nào, chỉ thấy Nàng trên màn ảnh thôi, tôi cũng dư sức tiên đoán được những hạnh phúc trong cuộc đời hoa gấm của Nàng. Nàng mặt trái soan, mũi dọc dừa, môi hồng, mắt sáng, lông mày lá liễu, răng trắng, dung nhan diễm lệ, thanh tao, tươi vui mà không lả lơi, không khêu gợi dục vọng, Nàng là hình ảnh Người Tình Thơ Mộng kiêm Người Vợ Hiền. Ôi! Làm sao Người Tươi Vui như Nàng lại có thể gặp bất hạnh trong đời?????

Pier Angeli đóng phim thứ nhất ở Ý Quốc năm 1950, nàng 16 tuổi. Hollywood mời Nàng sang Mỹ, năm 1953 Nàng và James Dean yêu nhau. Họ là đôi tình nhân đẹp đôi nhất Hollywood.

Nhưng yêu nhau, đẹp đôi là một chuyện, thành vợ chồng mí nhau lại là chuyện khác. Không phải cứ yêu nhau tha thiết là thành vợ, thành chồng. Bà mẹ của Pier Angeli sang Mỹ sống với con gái. Bà không ưa James Dean, vì chàng ngổ ngáo, chàng bất cần đời, chàng không ngoan đạo, chàng không phải là anh con rể mà những bà người Ý ngoan đạo muốn có. Bà mẹ Pier Angeli ưa Ca sĩ Vic Damone, chàng này là người Mỹ gốc Ý, hiền, ngoan đạo. Ngày 24 Tháng 11, 1954, Pier Angeli làm lễ thành hôn với Vic Damone.

Khi hôn lễ diễn ra trong Nhà Thờ, bên ngoài James Dean bận áo jacket đỏ, quần jeans, ngồi trên xe mô-tô. Khi cô dâu, chú rể ra khỏi nhà thờ, nắm tay nhau lên xe bông, James Dean rồ máy xe, phóng đi.

Một năm sau, Ngày 30 Tháng 9, 1955, James Dean chết trong tai nạn xe ô-tô ở Los Angeles.

Cuộc hôn nhân của Pier Angeli với Vic Damone không bền, năm 1958 họ ly dị. Năm 1962 Pier Angeli lấy ông chồng thứ hai. Cũng không lâu, họ ly dị năm 1969.

Năm 1969, ba năm trước ngày chết, vì chích quá liều thuốc an thần, trả lời phỏng vấn của Tạp Chí National Enquirer, Pier Angeli nói:

I have loved one person in my whole life, and that was James Dean.

He wanted me to love him unconditionally, but Jimmy was not able to love anyone in return. I loved Jimmy as I have loved no one else in my life, but I could not give him the enormous amount that he needed. Loving Jimmy was something that could empty a person.

* Tôi yêu một người trong đời, người đó là James Dean. Chàng muốn tôi yêu chàng vô điều kiện, nhưng Jimmy lại không có thể yêu được ai. Tôi yêu Jimmy như tôi không từng yêu ai khác trong đời tôi, nhưng tôi không thể đem đến cho chàng số lượng Tình Yêu lớn như chàng cần có. Yêu Jimmy là một chuyện làm cho người ta cạn kiệt.

Điện thư thứ hai của ông Nguyễn Phú Xuân gọi các Nàng là Cụ: Cụ Bà Rossana Podesta, Cụ Bà Claudia Cardinale..! Nhưng, với tôi:

Có những vợ chồng
Không là trăm năm
Mà tình thương yêu
Sông ơi..! Dài sao..
Rộng ơi..! Biển cả..
Thôi Em! Nước mắt
Đừng rơi lã chã!

Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa!

Thơ Quang Dũng

Với tôi, mãi mãi các Nàng hai mươi tuổi, trong tôi các Nàng trẻ mãi không già! Ôi.. những Nàng Kiều Thu:

Em vẫn Kiều Thu tròn tuổi nguyệt
Trần ai nào lấm được thơ ngây.

Riêng gửi Anh Hồn Người Đẹp Pier Angeli:

Tôi với Nàng ta không gặp nhau,
Mà tôi thương tiếc bởi vì đâu?
Người Đẹp như Nàng mà chết yểu
Không để Công Tư thấy bạc đầu.

Nàng không muốn Công Tử Hà Đông thấy Nàng già lão, nên Nàng đi khỏi cõi đời này năm Nàng mới 38 xuân xanh. Thôi thì:

Kiếp này đã chẳng Em, Anh
Hẹn nhau kiếp khác chúng mình thành đôi.

Nàng sống đẹp, chết thiêng, tôi biết Nàng nghe Tiếng Hẹn của Tôi vời vợi bay qua không gian tới cõi Bồng Lai Tiên Cảnh.

Tư Mã Phượng Cầu

Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu,
Nghe ra như oán, như sầu, phải chăng?

Đêm ấy Tư Mã Tương Như nằm buồn ở lữ quán, khuya, dzễ đến một, hai giờ sáng, nghe tiếng gõ cửa phòng. Tiếng gõ nhẹ thôi:

Cạch! Cạch!

Chàng ra mở cửa, thấy nàng — Văn Quân đến, nàng nói:

- Anh yêu em, em đến với anh, em đi theo anh. Em làm vợ anh.

.. .. ..

- Rồi sao?

- Rồi chàng đưa nàng đi, họ trở thành vợ chồng.

- Dzậy thì còn như oán, như sầu gì nữa?

- Thưa chuyện Phượng Cầu Hoàng còn dài nhưng bài viết đến đây đã đủ dài. Kể vắn tắt chuyện mất hay. Xin hẹn số báo ngày mai. Sẽ tiếp:

Khúc đâu Tư Mã Phương Cầu,
Nghe ra như oán, như sầu! Tại sao?

Trên đây là đoạn cuối của bài 4 Món Ăn Chơi hôm qua — bài Phượng Cầu Hoàng — kể lại chuyện:

HondaNgày xưa, đời Hán, ở bên Tầu, cách nay đã gần 2000 năm, ở Huyện Lâm Cùng có nàng Trác Văn Quân, con nhà giầu, đẹp, đa tình, nhưng như nhiều giai nhân từ xưa đến nay, từ ngày Loài Người có Đàn Bà Đẹp, Người Đẹp Trác Văn Quân vất vả về đường chồng con; nàng lấy chồng, ông chồng nàng cũng con nhà giầu nhưng số mệnh nhợt nhạt lại mỏng như cái lưỡi mèo nên ông có vợ đẹp mà ông không được hưởng sự đời, cưới vợ chưa đầy một niên ông đi một đường tầu suốt, ông bận bộ Veston Gỗ, ông ra nằm ở Nhị Tỳ. Trác Văn Quân trở thành Sương Phu năm nàng hai mươi tuổi xuân. Mới có chồng có 12 tháng, nàng còn trinh nguyên 97/100. Nàng trở về nhà sống với ông bố.

Sắc đẹp của Trác Văn Quân nổi tiếng đương thời. Thế rồi, cùng thời ấy — thời Vua Hán Võ Đế — dân Tầu có chàng Tư Mã Tương Như, danh sĩ, một cây văn chương, thi phú xanh rờn. Tương Như sinh trưởng ở Thành Đô, kinh đô đất Thục, nơi Khổng Minh Gia Cát giúp Lưu Bị dựng vương nghiệp đời Tam Quốc. Tương Như ái mộ nhân vật Lạn Tương Như đời Xuân Thu nên lấy tên hiệu là Tương Như, Tư Mã là chức quan của chàng. Tương Như quyết định đi vào kinh đô Lạc Dương, thi thố văn tài để cầu công danh, nôm na là để làm quan. Ngày đi khỏi Thành Đô, qua cây cầu biên giới, Tương Như dừng xe, chỉ tay xuống cầu mà thề:

- Không có công danh, không trở về qua cầu này.

1800 năm sau, Nguyễn Bính, người làm thơ ở nước Việt Nam, nhắc đến Cầu Tư Mã trong Thơ:

Lời thề buổi ấy Cầu Tư Mã,
Mà áo khinh cừu không ai may.

Cây cầu đó được người đời sau gọi là Tư Mã Kiều: Cầu Tư Mã.

Tương Như vào kinh đô nhưng không phải cứ đến kinh đô là chàng có công danh ngay, chàng lận đận vất vả trong vài năm. Nhờ nổi tiếng về văn tài, chàng có nhiều ông bạn nhà giầu ái mộ, chiêu đãi.

chao longMùa thu vàng ấy Tư Mã Tương Như được ông bạn ở Huyện Lâm Cùng gửi vé máy bay mời đến chơi. Tương Như sốt sắng đến Lâm Cùng, chàng nghe nói địa phang này có ông nhà giầu họ Trác — Trác Phú Ông – có cô con tuyệt đẹp, mới goá chồng tên là Trác Văn Quân, Tương Như ôm mộng có Văn Quân làm vợ. Chàng muốn tỏ tình với nàng. Nhưng ngày xưa, các tiểu thư quí tộc, con gái nhà cự phú, cả đời sống trong nhà, không ra ngoài xã hội, không giao thiệp với người lạ. Làm sao Tương Như có thể tỏ tình với Văn Quân, làm cách nào chàng có thể nói để nàng biết chàng yêu nàng, chàng yêu nàng lắm chứ không phải yêu vừa, chàng muốn có nàng làm vợ?

Tương Như không phải là môn đồ của Tôn Võ Tử, cũng không phải là học trò của Tôn Tẫn, nhưng chàng lên kế hoạch tấn công chinh phục trái tim bạch kim, và thân thể thơm như múi mít của nàng Sương Phụ Trác Văn Quân một cách thần sầu độc đáo.

Đến Lâm Cùng, Tương Như yêu cầu ông bạn của chàng đến gặp Trác Ông, ngỏ lời muốn Trác Ông mở tiệc rượu ở nhà, mời Tương Như đến khoản đãi. Ông bạn của Tương Như nể bạn nên làm theo lời. Trác Ông vốn không ưa gì văn chương, ông lại càng không thích giao thiệp với những người làm văn nghệ, nhưng nể ông bạn nhà giầu cùng huyện, ông cũng mở tiệc mời Tư Mã Tương Như đến nhà.

Văn Quân được biết ngày ấy, tối ấy Danh sĩ Tư Mã Tương Như đến nhà nàng. Nàng nấp sau màn, lén nhìn dung mạo Tương Như trong bàn tiệc. Thế rồi, Tương Như lại dặn trước ông bạn khi tiệc rượu nửa chừng, khoe chàng có tài đàn và yêu cầu chàng trổ tài đờn một bản để tạ tình chủ nhân.

Tương Như cầm ghi-ta đàn bản Phượng cầu Hoàng. Văn Quân nghe đàn mà ngất ngư con tầu đi.

Phượng hề.. Phượng hề.. Qui cố hương,
Bôn lưu tứ hải cầu kỳ Hoàng..

Ngày xưa tôi trẻ, tôi tưởng Phượng Hoàng là tên con chim Phượng Hoàng. Đọc chuyện Tư Mã Tương Như – Trác Văn Quân, qua bản nhạc Phượng cầu Hoàng, tôi mới biết cùng một loài chim Phượng là tên con chim trống, Hoàng là tên con chim mái. Bản Nhạc Phượng cầu Hoàng có lời ca tả chuyện con chim Phượng đi tìm con chim Hoàng..

Phượng ơi.. Phượng ơi.. Về quê thôi..
Bay đi bốn biển tìm chim Hoàng.
Nhưng tìm không thấy.
Về quê thôi.
Có người Đẹp tuyệt ở trong nhà này,
Nhưng ta không thể gặp được nàng để nói ta yêu nàng..
Tim ta xót đau..!
Làm sao ta với nàng vợ chồng với nhau?

Đại khái lời bản Phưọng cầu Hoàng như thế. Văn Quân nghe mà — tài thay — biết Tương Như yêu nàng, biết chắc hơn bắp rang, hơn cua gạch là chàng tỏ tình với nàng. Nàng quyết định thật nhanh. Nhanh và Bạo. Bạo cách gì! Tất nhiên là không cho ông bố biết, đêm ấy nàng lặng lẽ gom nữ trang, y phục, phấn son, làm thành một bọc, cùng em thị nữ thân tín lẻn ra khỏi Trác Gia Trang, vẫy taxi tìm đến lữ quán, hỏi số phòng Tư Mã Tương Như.

Và chuyện xẩy ra như ta đã biết. Đêm ấy, dự tiệc ruợu, khẩy đàn, về lữ quán nằm xuông, Tương Như thao thức không ngủ được. Chàng tin là Văn Quân có nghe chàng khẩy đờn nhưng chàng không thể biết phản ứng của nàng ra sao. Kế hoạch chinh phục Sương Phụ Trác Văn Quân đã được thực hiện tốt phần đầu. Nhưng sau màn khẩy đờn, chàng sẽ làm gì tiếp? Đang théc méc như thế thì chàng nghe tiếng gõ cửa phòng.

Cạch..! Cạch..!

Tiếng gõ cửa của Tình Yêu. Tiếng gõ cửa của Định Mệnh!

Bỏ nhà đến với Tương Như như dzậy, Văn Quân làm chuyện theo trai, một việc làm tối kỵ trong xã hội loài người đời xưa; đời nay có con gái bỏ nhà theo trai các ông Bố vẫn cay đắng nhưng các ông phải chịu thôi, các ông không làm gì được. Thay vì cứ chịu khó ở yên trong nhà, nhắn người nói với Tương Như: “Nếu chàng yêu em, chàng nhờ người đến xin bố em cho cưới em..” Chắc cũng xong thôi, cũng thành vợ chồng, nhưng Văn Quân đốt giai đoạn. Có thể nàng nghĩ rằng vì Tương Như nghèo, xin cưới nàng ông Bố nàng sẽ không gả, rắc rối, lôi thôi, nên nàng bỏ nhà theo chàng cho gọn nhẹ.

Trác Phú Ông trở thành Ông Bố có con gái bỏ nhà theo trai, ông cay cú, ông trừng phạt cô con bằng trò Cấm Vận, ông không cho nàng một xu teng. Nàng đi là ông cho đi luôn. Tương Như đưa vợ về quê chàng. Văn Quân biết Danh sĩ Nghèo nhưng nàng không ngờ chàng lại Nghèo đến thế. Nhà chàng được tả là “tứ đồ bích lập: bốn vách trống không.” Về làm vợ Tương Như, nàng tin thể nào ông Bố nàng cũng cho nàng số tiền gọi là hồi môn, làm vốn. Nhưng ông không cho. Như đã viết: một xu teng ông cũng không cho. Không cho là không cho.

Bi giờ đến lượt vợ chồng Tương Như – Văn Quân cay cú. Ông bố giầu nứt đố, đổ vách mà con gái đi lấy chồng không cho một xu. Vô lý. Không thể chấp nhận. Vợ chồng Danh sĩ – Sương Phụ Giai Nhân đói dzài, đói dzẹt bèn dựng lên một kế hoạch làm cho ông Via phải lòi tiền ra. Họ đưa nhau trở lại Huyện Lâm Cùng. Họ mở Quán Sống Trên Đời ở chợ Huyện.

Sống trên đời ăn miếng dzồi chó. Chết xuống Âm Phủ biết có hay không? Đó là Lời Chiêu Khách viết trên giấy đỏ dán ở cửa Tiệm Sống Trên Đời ngày tiệm khai trương. Vợ chồngTương Như – Văn Quân mở quán thịt chó. Tương Như làm chó — cả câu là “làm thịt chó” — Văn Quân ngồi két bán ruợu, thu tiền. Trong xã hội phong kiến, nghề bán đồ nhậu là nghề — trong sạch, đàng hoàng — nhưng bị coi là tệ mạt. Khưá Hạ Cờ Tây không phải là loại khách phong lưu, đa số là bình dân, thô lỗ, ăn tục, nói phét. Khưá đùa rỡn với bà chủ quán đẹp nõn, đẹp nà, bà chủ quán cũng phải đáp ứng thuận chiều bằng cách vui vẻ đùa rỡn với khách.

Người họ Trác trong huyện — những ông chú, bà cô, luôn cả những ông cậu, bà dzì, bà thím có dính líu dòng họ với họ Trác — kéo đến Trác Gia Trang, họ nhăn nhó oán trách:

- Ông làm sao chứ ông để con gái ông nó biêu dziếu chúng tôi như thế này đâu có được. Chúng tôi xấu hổ quá. Con gái họ Trác bán thịt chó! Thật là nhục. Hết nước nói.

- Gặp chúng tôi, người ta cứ cười cười, hỏi: Ở chợ mới có Quán Cầy Tơ ngon hết xẩy. Bác đến ăn chưa? Chúng tôi mắc cở chết được.

- Ông không cho vợ chồng nó xu nào. Chúng nó chỉ làm thế để ông phải mất mặt, ông phải chi. Chỉ có thế thôi!

- Thôi thì ông chi cho chúng nó đi mà. Khổ lắm. Ông ăn thua với chúng nó làm ký gì. Dù sao thì chúng nó cũng là con gái ông, là con rể ông. Ông chi cho chúng nó dắt nhau đi chỗ khác, chúng tôi nhờ. Tội chúng tôi quá, ông ơi.

Sau cùng, Trác Ông phải chi. Có tiền, vợ chồng Tương Như-Văn Quân bỏ nghề Cầy Tơ Năm Món: Thịt Hấp — Chả Nướng — Lòng Dzồi — Rựa Mận — Xáo Măng — Lá Mơ — Mắm Tôm Chanh Ớt — Riềng Mẻ. Họ đưa nhau đi sống yêu thương nhau đến mãn đời. Về sau Tương Như được Vua Hán vời ra làm quan, vinh hiển, phong lưu môt đời.

Chuyện tình Phượng cầu Hoàng như thế thì quả thật là chẳng có gì để oán, để sầu. Hỏi chuyện như thế tại sao lại oán, lại sầu là đúng. Chuyên Tình dân gian truyền tụng trong cả hai ngàn năm thì lãng mạn, ly kỳ, gay cấn như thế nhưng chuyện được ghi trong Sử Sách thì lại khác. Mời quí vị đọc Sử:

Un Poète de Cour sous les Han. Tác giả Yves Hervenet, sách xuất bản ở Paris năm 1964 :

Bọn quí tộc, quan liêu được nâng đỡ trong việc khẩn hoang, miễn phụ đảm. Do đó có nhiều địa chủ giàu lớn, có tới 800 nông nô, có hồ câu cá, có rừng để săn. Như Châu Âu thời trung cổ, giới quí tộc Trung Hoa đời Hán rất thích săn bắn, di tích của lối sống của thời kỳ chưa có nông nghiệp. Thời Hán Võ Đế, khi Tư Mã Tương Như sống chung với nàng Trác Văn Quân, được ông bố vợ cho 100 nông nô và 1 triệu đồng tiền vàng — khoảng 72 kí-lô vàng.

Rất có thể chuyện Tương Như đàn bản Phượng cầu Hoàng để tỏ tình, chuyện Trác Văn Quân theo trai, chuyện vợ chồng Tương Như – Văn Quân mở Tiệm Mộc Tồn để nã tiền ông Bố Vợ là chuyện do người đời sau bày đặt, nhưng chuyện Trác Ông chi 72 ký-lô Vàng Y cho cô con là chuyện có Thật.

Công Tử Hà Đông tôi không ăn nhậu gì đến Số Vàng 72 Ký Trác Văn Quân — số Vàng nặng hơn tấm thân Sương Phụ Đa Tình của Nàng, Nàng ở đây viết Nàng – Không kể y phục, nữ trang, Sương Phụ Văn Quân chỉ nặng có 48 cân thôi – nhưng vì tôi suốt một đời ca tụng TÌNH YÊU — TÌNH YÊU viết Hoa Năm Chữ, Hoa cả dấu Huyền, dấu Mũ — nên tôi thích chuyện Tương Như – Văn Quân. Tôi ấm lòng khi thấy Tình Yêu chiến thắng.

Và tôi :

- Hoan hô Văn Quân.

- Hoan hô Ông Bố Vợ Chịu Chi.

- Hoan hô Những Người Yêu Nhau săng phú tú lơ mo trên cõi đời này.

Hẹn gặp lại quí vị trong số báo ngày mai.

Phượng Cầu Hoàng


Phượng Tìm Hoàng – Thái Thanh (3MB)

——————–

Ăn cơm mới, nói chuyện cũ!

Sống ở Mỹ, ăn gạo Thái Lan, nói chuyện Sài Gòn xưa.

Robert McNamaraBa tháng sau khi giết TT. Ngô Đình Diệm, bọn Tướng Hèn chưa biết xoay trở ra làm sao, đang loanh quanh như chó nằm chổi, người Mỹ đã cho, cũng bọn Tướng Hèn tay sai, làm cuộc đảo chính thứ hai. Một lô những anh tướng — tôi không viết hoa chữ tướng trong đoạn này — bị bọn tướng đảo chính bắt đi nhốt một nơi. Thời ấy giới ký giả Sài Gòn gọi bàn tay người Mỹ là “bàn tay lông lá“, bàn tay lông lá ấy quả thực đã rất lông là và đã khống chế, bóp nặn tình hình chính trị Quốc Gia VNCH. Vài anh Mỹ đến Sài Gòn những năm ấy muốn làm gì thì làm, muốn làm gì cũng được. Hơn bốn mươi muà cóc chín đã qua, nhớ lại mà đau lòng, những thương cùng tủi.

Những “của nợ” Minh, Đôn, Kim, Đính, Vỹ, Xuân bị bọn tướng làm đảo chính, gọi là “chỉnh lý” — Nguyễn Khánh, Đỗ Mậu theo lệnh Mỹ, đưa đi chỗ khác chơi, năm anh tướng phản bị bắt đưa lên giam giữ ở Đàlạt. Kép mới được bàn tay lông lá Mỹ đẩy ra sân khấu. Kép mới này có ngoại hình của một Kép Hề: Nguyễn Khánh, người có bộ râu dzê không anh tướng Việt nào có.

Người Mỹ ở Sài Gòn những năm ấy, những năm từ 1963.., muốn đưa ai lên làm Thủ Tướng, làm Tổng Thống, là đưa. Trong số những tướng lãnh thời đó tướng Nguyễn Khánh không có gì nổi cả. Nhưng người Mỹ đưa ông lên, và ông đã lên bàn độc ngang xương. Thời gian ngắn ông mần Thủ tướng là thời gian chính trị Sài Gòn hỗn loạn, nát như tương, chua như mẻ, thời gian ấy mở đầu một chuỗi những hỗn loạn chính trị do người Mỹ gây ra ở Sài Gòn, ở Huế, ở Đà Nẵng.

Khoảng năm giờ một buổi chiều, với tư cách phóng viên nhà báo tôi lên phi trường Tân Sơn Nhất xem cuộc tiễn Bộ Truởng QP Robert McNamara về Mỹ. Khi ấy nhật báo Sàigònmới đã bị đóng cửa, tôi dạt sang làm tờ nhật báo Ngày Nay của anh Hiếu Chân.

Những tháng giữa năm 1964, tình hình Sài Gòn còn rất an ninh, thường dân ra vào phi trường Tân Sơn Nhất tự do, đường ra vào không một trạm kiểm xoát. Một trung đội binh sĩ Nhẩy Dù dàn chào, một bục gỗ nhỏ được dựng lên trước toà nhà phi cảng, người đến dự khoảng một trăm mạng. Bộ Trưởng McNamara đến cùng với TT. Nguyễn Khánh. TT Khánh bận quân phục, BT McNamara không mặc com-lê mà mặc veston hàng tweed khác mầu với quần, ông đeo kính trắng, tóc chải rẽ ngôi ở giữa đầu, brillantine bóng loáng. Năm ấy ông ngoài bốn mươi tuổi. Năm ấy đàn ông thế giới còn quen dùng mỡ brillantine bôi tóc.

Hai ông Việt-Mỹ đứng bên nhau trên bục gỗ, ông Khánh, tay cầm cây gậy chỉ huy — baton de commandement – nói vài câu, ông McNamara đọc một tuyên cáo ngắn, đại khái nói hai bên Mỹ Việt đã thảo luận và đã đồng ý với nhau về nhiều vấn đề, mọi chuyện đều tốt.

Đọc xong bản tuyên cáo, ông McNamara nắm tay ông Khánh, vừa giơ lên vừa hô:

Việt Nam muôn năm..!

Ông hô ba câu “Việt Nam muôn năm!

Buổi chiều nắng vàng mùa hạ năm 1964 ở trước toà nhà phi cảng Tân Sơn Nhất, Sài Gòn, Việt Nam, buổi sáng đầu thu nắng vàng năm 2008 ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ..! Bốn mươi bốn năm trôi qua cuộc đời. Tôi thấy lại hình ảnh ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara 40 năm xưa khi ông nắm tay ông Nguyễn Khánh giơ lên với tiếng ông hô “Việt Nam muôn năm..!” Ông đã nhờ một người Việt Nam dậy ông hô bốn tiếng đó. Trước khi vào xe đi đến phi trường chắc ông còn dượt lại tiếng hô đó mấy lần.

Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ hô “Việt Nam muôn năm..!” Tốt thôi. Nhưng… thương thay! Lời chúc lành không đi đến đâu! Mười một năm sau buổi chiều Bộ Trưởng Robert McNamara hô “Việt Nam muôn năm” ở phi trường Tân Sơn Nhất, một chiếc phi cơ do Nga Sô chế tạo bay từ Hà Nội đến, đổ xuống phi trường Tân Sơn Nhất bọn đầu xỏ Việt Cộng: Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Tố Hữu, những người chủ mới của Sài Gòn.

Thời gian “Việt Nam Muôn Năm” của Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara chỉ là 11 năm, từ 1964 đến 1975.

Dinh HungKể chuyện xưa buồn quá đi thôi. Làm quí vị buồn, tôi xin lỗi. Ta nói với nhau chuyện Thơ, chuyện Nhạc. Nếu không vui cũng đỡ buồn hơn. Mấy năm trước, Nhạc sĩ Châu Kỳ từ Sài Gòn sang chơi Cali. Sự xuất hiện của Nhạc sĩ ở Mỹ làm tôi nhớ đến bản nhạc PHƯỢNG CẦU HOÀNG, một bản nhạc của ông tôi thấy thật hay tôi nghe từ những năm 1957, 1958. Nhạc hay, Lời hay. Tôi biết Châu Kỳ phổ Nhạc lời Thơ của Thi sĩ nào đó nhưng tôi không nhớ tên Thi sĩ.

Tôi bèn phone hỏi ông bạn tôi, Thi sĩ Thái Thủy.

Thái Thủy ở Cali, tôi ở Virginia, xa cách nhau một chều dzài — gọi là chiều ngang cũng được — của lãnh thổ Kỳ Hoa Đất Trích, trăm núi, ngàn sông, nhưng dùng phone thì như ngồi nói cạnh nhau, chỉ không trông thấy mặt nhau.

Tôi hỏi:

- Ai làm Thơ Phượng Cầu Hoàng thế ?

Thi sĩ Thái Thủy trả lời:

- Đinh Hùng. Năm ấy có dự định dựng vở Kịch Thơ Phượng Cầu Hoàng. Đinh Hùng viết, nhưng nửa chừng dự định phải bỏ. Nên Đinh Hùng chỉ mới làm có bài thơ ấy thôi. Châu Kỳ lấy phổ nhạc.

PHƯỢNG CẦU HOÀNG

Em, biết đến bao giờ Em tới?
Có theo chim Hoàng đưa lối
Cây mùa Xuân nối vòng tay
Ôi gió nào hôn khẽ làn tóc
Tóc nào anh quấn vai này?
Trăng nào tô chuốt đôi mày?

Em gót chân yêu kiều in dấu
Cánh chim phiêu bồng về đâu
Sông nào in bóng hình nhau?
Ôi núi còn dung nhan mười sáu?
Mây đoàn viên lướt ngang đầu
Đưa hồn lên những tinh cầu

Ngàn đời còn thương ai thương nhớ phút sánh vai
Lời thề cùng tương lai ghi gió nước ra khơi
Hỡi em hoa trang đài
Sao sáng đôi vai gầy
Lời nguyền anh chép vào mây

Em giấc xuân đêm nào lưu luyến
Có nghe cung đàn kỳ duyên
Đưa tình sang bến thuyền quyên
Ôi phút kề môi trong tiền kiếp
Tay cầm tay đón Nghê Thường
Cho trần gian hoá Thiên Đường.

Tôi nghe Lời Thơ Nhạc Phượng Cầu Hoàng năm tôi 30 tuổi, năm tôi bẩy mươi tuổi, nghe lại bản Thơ Nhạc Phượng Cầu Hoàng tôi thấy hay quá là hay. Hay hơn cái hay tôi cảm 40 năm xưa.

Nhưng mà:

Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu,
Nghe ra như oán, như sầu, phải chăng?

- Tư Mã nào?

- Tư Mã Tương Như!

- Tư Mã Tương Như Phượng Cầu Hoàng nào?

- Thưa Tư Mã Tương Như Phượng Cầu Hoàng Trác Văn Quân!

- Phượng Cầu Trác Văn Quân ra nàm thao, phượng cầu như thế lào?

- Thưa.. Trác Văn Quân đẹp, con nhà giầu, cao số, lấy chồng mới có một năm, còn gần như mới nguyên, chồng chết, trở thành Sương Phụ, trở về nhà ông bố. Tư Mã Tương Như danh sĩ, nổi tiếng văn chương, tài hoa đàn địch. Tư Mã nghe nói Trác Văn Quân rất đẹp nên ôm mộng được yêu nàng, làm người tình và người chồng nàng. Nhờ người bạn ở địa phương vận động, Tư Mã được Trác Phú Ông, ông bố của Văn Quân, mời đến nhà dự tiệc rượu. Vì Tư Mã có tài đàn cầm nên trong tiệc, Trác Chủ nhân yêu cầu chàng cho nghe đàn. Kế hoạch chinh phục trái tim Sương Phụ Văn Quân được tiến hành đúng từng khoản một. Sương Phụ Văn Quân biết Tư Mã Tương Như là danh sĩ tài hoa nên đứng nấp sau màn lén nhìn chàng trong bàn tiệc. Chàng đàn bản nhạc Phượng Cầu Hoàng. Lời nhạc làm nàng ngất ngư con tầu đi. Đó là lời tả chuyện con chim Phượng = chim trống — đi tìm con chim Hoàng = chim mái. Chỉ nghe nhạc thôi nàng biết chàng chơi bản đàn ấy cho nàng nghe, chàng yêu nàng, chàng muốn có nàng làm vợ.

Đêm ấy Tư Mã Tương Như nằm buồn ở lữ quán, khuya nghe tiếng gõ cửa phòng. Mở cửa, thấy nàng — Văn Quân đến:

- Anh yêu em, em đến với anh, em đi theo anh.

- Rồi sao?

- Rồi chàng đưa nàng đi, họ trở thành vợ chồng.

- Dzậy thì còn như oán, như sầu gì nữa?

- Thưa chuyện Phượng Cầu Hoàng còn dài nhưng bài viết đến đây đã đủ dài. Kể vắn tắt chuyện mất hay. Xin hẹn số báo ngày mai. Sẽ tiếp:

Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu,
Nghe ra như oán, như sầu! Tại sao?

Sài Gòn Có Gì Lạ?

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi nhận được thư này từ một bạn đọc của tôi:

Kính thưa bác Hoàng Hải Thủy,

Book CoverCháu tên là HV, cháu đọc bài “Tắm Mát Ngọn Sông Đào” của bác Viết Từ Rừng Phong. Nghe bác nói bác muốn đọc lại những bài viết của bác những năm 1977, 1978 từ Sài Gòn gửi ra nước ngoài. Rất may cháu có cất giữ 2 bài viết của bác, cháu cắt hai bài này từ tờ báo “Hồn Việt” số 151 tháng 11 năm 1982 và tờ “Nguồn Việt” (Hồn Việt mới) số 5 tháng 8 năm 1983 với tựa đề “Saigon có gì lạ không em?” (đính kèm) ký tên tác giả là “Dương Hồng Ngọc” (?) . Dù bài để tên khác nhưng cháu đọc là cháu nhận ra văn phong của bác ngay. Cháu muốn gửi biếu bác 2 bài viết này.

Cháu vẫn thường đọc lại những bài viết này để vưà cười lại vừa khóc một mình. Cháu rời VN từ tháng 4/1975 nên những bài báo của bác là những hình ảnh sống động vẽ ra cho cháu thấy cảnh sống khốn khổ của người thân mình còn kẹt lại bên nhà. Đọc để thương nước mình thương dân mình nhiều hơn. Cháu cảm ơn bác đã viết thiên phóng sự này, và cảm ơn bác qua 20 năm sống bẩy nổi, chín chìm như bác tả, đến nay bác vẫn còn tiếp tục Viết Từ Rừng Phong cho cháu được đọc mãi .

Vài hàng tin bác biết, chúc bác và gia đình nhiều vui khỏe an khang .

Kính thư, HV

9 Giờ tối Thứ Hai. Miền Tây Bắc Xứ Cờ Hoa

Bác Hà Đông kính mến,

Bác ơi… có tin vui, copy ra cháu mới biết là trong file cháu giữ có đến 4 bài của bác lận, ôi.. cháu sung sướng quá và cháu bèn khen cháu một phát. Dù mấy hôm trươcù khi biết bác muốn đọc lại những bài viết cũ, cháu đã tự chửi cháu là ngu quá, đã biết cắt bài để dành mà không để dành cho nhiều; hồi đó cháu làm biếng không ráng giữ hết tất cả những bài báo của bác để bây giờ hối tiếc thì than ôi đã muộn rồi!

Cháu thắc mắc sao ông Trần Tam Tiệp lại không giữ lại những bài báo quí giá này nhỉ? Độc giả thì khó mà ai giữ được, lý do mỗi lần dọn nhà là một lần thanh lọc, tổng vệ sinh, phải vứt bỏ một mớ đồ vật, sách báo cũ, băng nhạc cũ, tất cả a-le hấpâ cho vào sọt rác dù có tiếc đứt ruột; ở apartment thì còn có thể bê bối chứ mới mua cái nhà cả mấy trăm ngàn mà ôm cái đống đồ cũ đó vào nhà thì mất mặt bầu cua quá xá… Không ngờ có ngày tóc lấm chấm bạc lại nhớ những món đồ cũ đó mà xót sa, nhất là tiếc những tờ báo năm xưa, đôi khi tình cờ mò ra đâu đó được tờ báo cũ là vồ lấy đọc ngấu nghiến.

Tin vui thứ hai: nghe bác nói bác sẽ gõ lại những bài viết này, thêm lời phụ đề năm nay 2004 của bác rồi cho đăng báo lại, cháu cảm động quá. Vậy thì cháu sẽ phụ với bác, hai bác cháu cùng gõ cho vui và cho nhanh, Nhà cháu cũng sẽ phụ một tay.

Nghe bác kể lúc bác viết những bài đó bác sợ hãi vì có thể bị nguy hiểm như thế nào cháu thương quí bác hơn. Lâu nay cháu vẫn muốn biết làm sao bác ở Sài Gòn mà gửi những bài viết này ra ngoại quốc được? Ai mang đi gửi cho bác? Ai mà dám làm việc đó?

Mấy tuần nay cháu không được đọc bài Viết ở Rừng Phong nào của bác, vì cháu làm biếng đi chợ, hôm đi chợ muộn thì hết báo, tờ báo Sàigon Nhỏ chạy quá, bác ạ, phải đi chợ sáng Thứ Bẩy chứ chiều mới đến là coi như không còn báo, thế là cháu phải đợi bài lên Net mới đọc được, hay là đợi mượn bên nhà ông anh cháu. Nếu bác có bài Viết ở Rừng Phong tuần trước và tuần này, xin bác gửi cho cháu.

Bác nhớ câu này không:

Trăm nghìn gửi lậy tình quân
Tấc lòng can đảm có ngần ấy thôi…

Bác mà đăng lại bài có câu đó với lời phụ đề năm nay thì đọc lại cháu sẽ là người khóc trước nhất.

Cho cháu gửi lời hỏi thăm cô Alice, cháu nhớ nhất là Kiều Giang.

Kính quí, HV

———-

SÀIGÒN CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM ?

Dương Hồng Ngọc Viết Từ Thành Phố Hồ Chí Minh

Anh có một cặp cá tai tượng, khoảng hai mươi con cá vàng, nuôi trong cái hồ nước ngoài sân bếp. Buồn quá không có việc gì làm thì nuôi chơi vài con cá. Vài ngày anh lại ra chợ mua bèo tấm về cho cá ăn.

Ở những chợ quanh Sài Gòn, có những bà già, em nhỏ chịu khó đi vớt bèo tấm bán cho những người nuôi vịt, nuôi cá. Một thúng bèo tấm bán hết ít nhất cũng được 10 đồng. Làm nghề này không cần vốn, chỉ mất công, hôm nào hàng họ có ế cũng không sợ lỗ, vì bèo để hôm sau vẫn còn tươi, còn bán được. Mỗi lần mua bèo, anh thường mua 50 xu tức 250 đồng cũ, về cho cá ăn.

Sáng nay khi đi qua chợ anh phải dắt xe đạp, vì vỉa hè trước chợ bị bà con chiếm kín để bán hàng, người đi bộ cũng phải đi dưới đường. Sài Gòn hiện có 3 triệu xe đạp, 1 triệu xe xích lô đạp. Mới có 6 năm xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa mà gần như mọi người dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có được một chiếc xe đạp, mười năm nữa thôi những người dân ấy sẽ tiến lên, mỗi người sẽ có một chiếc ô tô bương. Thành phố rất vui nhộn và hoạt động, vì đầy người đi xe đạp. Nhưng sáng nay, sở dĩ anh đi mua bèo cho cá vất vả hơn mọi lần vì con đường qua trước chợ đã chật, đã luôn luôn đầy người nhất là vào những buổi sáng, riêng sáng nay lại còn kẹt hơn vì ở đó có nhà có đám ma.

Dam MaNhà có đám ma sắp động quan, đầy con cháu, khăn trắng, khăn vàng. Xe tang đậu bên đường, hai dàn nhạc trên vỉa hè: dàn kèn tây với đủ trombone, trompette, clarinette, trống cà rùng, một dàn kèn bát âm tò tí te dân tộc. Hai dàn kèn đồng thi nhau trình tấu. Ở Sài Gòn bây giờ, muốn nghe nhạc kèn đồng chơi những bài Paloma, La Cumparsita, Lô-ve-sì-to-ri v.v… người ta chỉ việc đi theo những đám ma có dàn kèn. Trước 1975 nhiều đám ma ở Sài Gòn cũng có những dàn kèn đồng đưa đi như thế, nhưng ngày đó chúng ta điên đầu, nhức óc vì những băng nhạc, chúng ta vất vả vì công ăn việc làm, nên mỗi lần đi đường gặp đám ma là chúng ta tìm đủ mọi cách chạy cho mau, cho xa, để tránh nạn kẹt xe. Sáu năm rồi những máy quay băng không còn nhiều nữa, chúng ta ít có dịp được nghe nhạc kèn đồng nên chúng ta đâm ra thèm. Dàn kèn đám ma thường biểu diễn cả cái bài Nắng Chiều ngày xưa em thích:

… Qua bến nước xưa… lá hoa về chiều…

Dàn kèn đồng, thường thuộc các phường Thiên Chúa Giáo, bây giờ tiến bộ lắm. Anh mù tịt, điếc đặc về âm nhạc nên anh có cảm tưởng như các nhạc công toàn là những tay trứ danh, nhà nghề, biểu diễn thần sầu, quỉ khốc, nhạc công Mỹ đen New Orleans chơi kèn đồng cũng chỉ cừ đến thế là cùng. Nhiều dàn kèn đưa đám ma chuyên nghiệp, có tổ chức đàng hoàng, bận đồng phục mầu đen, đi giày vải đen, còn có cả những anh dẫn nhạc cầm gậy đầu bịt đồng vàng choé, múa may, tung lên, bắt lại, kiểu các em Marjoret của các dàn nhạc kèn đồng ở Mỹ, trông vui ra gì.

Sáng nay, khi dắt xe qua cửa nhà đám ma, anh nhìn tấm ảnh chắc vừa phóng đại đêm trước, để trên xe tang, thấy người ra đi là một bà cụ già vấn khăn kiểu Bắc kỳ di cư, nếu bà cụ có chụp tấm ảnh này 20 năm trước thì khi chụp chắc bà cụ cũng đã phải 60 tuổi. Anh tức cảnh sinh tình, vừa dắt xe đi vừa làm bốn câu thơ:

Cả đời chẳng biết tiếng tò te
Chết rồi, tai điếc lấy gì nghe?
Con cháu mừng rơn, con cháu khóc
Tò le nhạc trổi bản Lô-ve

Anh mở đầu cuộc kể chuyện bằng một chuyện đám ma là có chủ ý. Các cụ ta có câu “sinh dữ, tử lành”, sao anh thấy hay quá, đúng quá. Trời đất này, chẳng cứ gì ở Sài Gòn hay Bắc Kinh, mà là ở khắp thế giới, dân số gia tăng vòn vọt, người ta nhung nhúc, nhiên liệu cạn dần, diện tích đất đai để canh tác thâu hẹp so với số người cần đào đất để trồng cái ăn. 20 năm trước trên báo Paris Match đã đăng phóng sự kèm hình ảnh ở Ấn Độ người ta khuyến khích đàn ông “treo chim,” – cắt ống dẫn tinh — những trạm y tế “treo chim” lưu động được mở ở những nhà ga, cửa chợ. Đàn ông vào “treo chim” không những miễn phí mà còn được chánh phủ tặng tiền, ai không lấy tiền thì có quyền lấy cái radio transistor về nghe nhạc chơi cho đỡ buồn. Chuyện dân số khủng hoảng cũng như các cuộc lạm phát võ khí hạch tâm hiện nay chắc ở bên ấy em biết rõ hơn anh. Vậy anh chỉ nói chuyện ở đây thôi. Ở đây “tử” là một vấn đề khó khăn, phiền nhiễu mà “sinh” lại là vấn đề gay cấn, dữ dội hơn. Chết thì chỉ phải lo có một lần thôi, lấp đất hay thiêu xong là hết, còn sinh ra một tí nhau là phải lo dài dài. Một hộp sữa Nestlé thứ thiệt, nhập khẩu hiện được bán ở vỉa hè Thành Hồ với giá 40 đồng, một hộp sữa bột Vitalait bán với giá trên 200 đồng. Lương công nhân nhà nước trung bình một tháng là 200 đồng, cộng 12 ký gạo mua rẻ theo giá cung cấp 40 xu một ký. Người công nhân đẻ con lấy gì nuôi con ? Trong gia đình người nào cũng phải làm, mà đi làm cũng vẫn không sao đủ ăn. Em hãy nghe lời ca một bài hát phổ biến của Xã Hội Chủ Nghĩa Miền Bắc Việt Nam:

Cháu lên ba… cháu vô mẫu giáo
Cô thương cháu… cháu không khóc nhè
Sáng ban mai… cha vào nhà máy
Mẹ trồng rau trái… ông bà lo cấy cầy
La lá la… Lá la… la…la

Người nữ công nhân có con nhỏ buổi sáng phải dậy sớm từ 5 giờ, nấu cơm cho vào lon để chồng và mình mang đến công xưởng ăn trưa, đạp xe máy đưa con gửi ở nhà giữ trẻ, chiều 4 giờ 30 tan xưởng phải ghé chợ mua mớ rau, miếng đậu, về nhà trẻ đón con, về nhà nấu cơm. Đi về một ngày hai lượt, mỗi lượt mất cả tiếng đồng hồ. Đường thì xa, xe đạp thì tã, xe hư không có tiền thay đồ mới. Bởi vậy, những người công nhân ở miền Bắc mới có câu mô tả đời sống của họ như sau:

- Ăn cơm qua loa, mặc áo chuyên gia, đi xe cố vấn

Em đoán, em hiểu câu đó muốn nói gì? Em không thể hiểu hay đoán đúng được, ngay anh sống ở đây đã 6 năm, khi được nghe câu nói đó và được hỏi là hiểu ra sao, anh cũng giải nghĩa nó ra như vầy:

- Người công nhân miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa ăn uống qua loa thôi, tức là ăn uống ít, làm việc với tư cách là chuyên gia, chuyên viên, đi làm thì đi nhờ xe của các cố vấn khối Xã Hội Chủ Nghĩa.

Nhưng hiện thực trong câu đó được giải đúng như thế này:

- Ăn cơm qua loa là ăn tập thể trong công xưởng, đến giờ ăn thì có loa phóng thanh gọi đi ăn, mặc áo chuyên gia là … chuyên mặc áo da, tức cởi trần, quần xà lỏn, đi xe cố vấn là đi xe đạp vỏ ruột xe bị vỡ banh ta-lông, lòi phèo, không có tiền thay vỏ mới phải lấy dây cao su quấn lại đi tạm.

Đó là chuyện đời sống công nhân, còn đời sống nhân dân thành phố Hồ chí Minh thì khác hẳn. Đời sống ở thành phố này đầy những mâu thuẫn, những sự kiện trái ngược hẳn nhau, muôn mặt mà mặt nào cũng đầy nhũng dễ hiểu và khó hiểu. 80% dân thành phố không làm ăn qua một việc gì cả, cả mấy năm không kiếm ra tiền. Có nhiều người như anh từ 6 năm nay không kiếm ra được một xu. Ai cũng kêu đói khổ nhưng các quán ăn, quán nhậu mọc lên như nấm, quán cà phê, quán chè chiếm hết vỉa hè, chỗ ăn uống nào cũng đông nghẹt những người khi chiều xuống và nắng tắt. Có những quán thit cầy mà muốn ăn người ta gần như phải tranh cướp chỗ ngồi, giành giựt từng đĩa chả, tô rựa mận. Mỗi đĩa cầy tơ 5 đồng, một tô bún bò giò heo 8 đồng. Phở thì tạm kể 4 tiệm phở có tiếng, đông khách nhất: Phở Tàu Bay vẫn ở chỗ cũ đường Lý Thái Tổ, phở Hòa vẫn ở chỗ cũ đường Pasteur, phở Collete ở khoảng giữa trường Colette cũ và bệnh viện Da Liễu đường Hồ Xuân Hương, đây là tiệm phở mới mở sau 1975, phở Bắc Huỳnh ở nhà ga Đà Lạt di tản xuống nay ở đường Võ Tánh cũ, cạnh cà-phê Hòa nhìn sang nhà thờ Phú Nhuận. Hiện nay đó là 4 tiệm phở đông khách nhất của Sài Gòn. Phở Hòa mỗi ngày tiêu thụ 200 ký thịt bò. Phở Colette là nơi có nhiều Việt Kiều Yêu Nước Ngoài về thăm quê hương đến ăn cho biết. Ở những tiệm này giá mỗi tô standard là 10 đồng, một tô extra-qualité là 12 đồng — 5 đồng, 6 đồng một tô phở, người Sàigòn vẫn ăn như điên. Thuốc lá 555 bán lẻ 3 đồng một điếu, Lucky Strike, Pall Mall 2 đồng 50 xu một điếu, người Sài Gòn vẫn hút rất tỉnh. Một bộ đồ jeans complet gồm 1 blouson, 1 quần jeans hiệu Tegwood hay Levi’s loại tốt nhất được bán với giá 2.000 đồng = 1 triệu đồng cũ, người Sài Gòn vẫn mua tỉnh bơ.

Và đám cưới — Bây giờ là những tháng cuối năm, bây giờ là mùa cưới xin ở Sài Gòn. Vẫn những sáng chủ nhật nếu em đạp xe đi trong dòng xe đạp cuồn cuộn như nước trên một con đường dài nào đó của Sàigòn, như đường Trần Hưng Đạo, đường Lê văn Duyệt nay là đường Cách Mạng Tháng 8 chẳng hạn, em có thể gặp liền một lúc 3 đám rước dâu. Cô dâu vẫn đến những nhà trang điểm cô dâu trước khi lên xe bông. Và vẫn xe bông Hoa Kỳ Chevrolet, Chrysler sơn hai mầu đỏ trắng, uống xăng như uống nước. Giá một lít xăng do nhà nước bán ra cho dân hiện nay ngang với giá chợ đen, có khi còn đắt hơn giá chợ đen nữa, là 25 đồng. Giá mướn xe bông hiện nay là 300 đồng một giờ. Nhà đám thường mướn xe nhiều nhất là 2 giờ đồng hồ, vừa đủ thời gian để rước dâu, đưa cô dâu, chú rể đến nhà thờ làm lễ nếu có đạo, đưa cô dâu chú rể đến nhà hàng. Tới nhà hàng là trả xe vì ăn uống xong, tan hàng, mạnh ai nấy về bằng mọi phương tiện vận chuyển, cô dâu có thể về bằng Honda do chú rể lái, hay Honda ôm, các cụ về bằng xích lô đạp. Có lần anh gặp nguyên một đám rước dâu đi trên một chiếc ô tô buýt. Cô dâu mang vương miện, voan trắng, bao tay trắng, ngồi với chú rể vét-tông cà-la -hoách ở ghế đầu, gần tài xế. Tiện gọn mà vẫn đẹp như thường. Ít tiền thì rước dâu bằng xe lam cũng thuê giờ. Nhưng đa số đám cưới cô dâu vẫn đi bằng xe bông Huê Kỳ .

Sáu năm cả nước xếp vào hàng
Cứ tưởng bà con đói cả làng
Ai ngờ đám cưới Em ra rít
Em vẫn khăm voan vẫn xuyến vàng

Sáu năm vất vả ở thành Đồng
Cứ tưởng rằng em ế chổng mông
Ai ngờ đám cưới em ra rít
Em vẫn xe bông vẫn pháo hồng

Những nhà hàng chuyên tổ chức tiệc cưới lớn nhỏ ngày xưa Văn Cảnh, Lê Lai, Á Đông, Bát Đạt..v.. v.. nay là Quốc Doanh, thuộc quyền nhà nước quản lý và kinh doanh, xong đa số người làm cũ vẫn còn được ở lại làm, những nhà hàng này vẫn nhận đám cưới ăn uống linh đình theo giá ngoài thị trường, tức là theo giá chợ. Cán bộ, công nhân viên nếu làm việc ở các cơ sở, cơ quan nhà nước, khi lấy vợ, lấy chồng, nếu có giấy giới thiệu của cơ quan và khéo xoay xở, được giảm tiền một phần nào, được mua một số thuốc lá, nước ngọt theo giá nhà nước cung cấp, để đãi khách.

Chưa bao giờ câu “gạo châu, củi quế” lại đúng cho bằng ở Thành Hồ hôm nay. Người ta thường nói gạo thịt đắt như vàng nhưng theo anh thì gạo thịt còn đắt hơn vàng nữa. Em bỏ 18.000 đồng ra mua vô một cây vàng, nhưng vàng còn nguyên đó, nửa năm sau cần tiền em bán đi, có thể em sẽ thâu về được 25.000 đồng. Còn gạo thịt em mua về thì hôm sau nó tiêu tan ngay. Em ơi ….

———-

SÀIGÒN CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM ?

Dương Hồng Ngọc Viết Từ Thành Phố Hồ Chí Minh

Muốn tắm mát thì lên ngọn con sông đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
Em đi anh ở lại Thành
Muốn đi nhưng giấy thông hành chưa cho
Nằm suông, mộng biển mơ hồ
Tiền đò ngại tốn, con đò ngại xa
Em đi anh ở lại nhà
Năm ngàn ký gạo, ký cà tám trăm.

Anh buồn phiền nên thỉnh thoảng làm vài câu thơ con cóc. Nói là làm thơ, nói tếu, cho đỡ buồn, nhưng thật ra nhiều khi còn thấy buồn hơn. Như em thấy đó, trước 1975 anh có biết thơ thẩn là cái quái gì đâu. Bây giờ bỗng dưng anh làm thơ. Trường hợp anh không khác gì trường hợp làm thơ của 20 triệu người dân miền Nam từ sau 1975. Không biết bao nhiêu là người đầu hôm sớm mai ngủ dậy bỗng thấy mình thành thi sĩ. Nhiều người làm thơ nghiệp dư, danh từ mới XHCN gọi những văn nghệ sĩ tài tử, không chuyên nghiệp, có một nghề làm ăn gì đó lúc rảnh rỗi thì ca hát, đóng kịch, làm thơ v…v… Anh gặp nhiều người làm thơ, làm nhạc tài tử sáng tác những bài thật hay, thật sống, xúc động. Xong những người sáng tác nghiệp dư này thường chỉ làm được một, hoặc nhiều lắm là hai bài hay mà thôi. Họ kém các văn nghệ sĩ nhà nghề ở chỗ làm đến bài thơ, bài nhạc thứ ba là họ làm rất dở. Sự kiện này càng làm cho anh thấy rõ rằng con người có xúc động, có đau khổ thì mới ra thơ ca hay, con người lúc thỏa mãn thì chỉ làm nỗi loại thơ thù tạc, nhạt nhẽo, không sức sống và loại thơ ca đó sẽ chết yểu, sẽ không được người đời yêu mến. Sự kiện vừa nói cũng chứng minh rằng không phải thơ làm cho người ta đau khổ, cùng khốn mà là ngược lại, con người có đau khổ cùng khốn mới có thơ hay.

Trở lại chuyện cưới xin ăn uống ở thành Hồ. Anh muốn nói rõ thêm rằng không phải ở đây thực phẩm, vật giá đắt đỏ là vì thiếu thực phẩm. Không, thực phẩm, vải lụa, quần áo, bơ sữa, rượu tây, thuốc tây v…v… ở thành Hồ hiện nay có rất nhiều, rất sẵn, như thuốc tây chẳng hạn. Em ra bất cứ cửa chợ lớn, chợ nhỏ nào của Sàigòn và quanh Sàigòn, em cũng thấy bán đủ loại thuốc tây, mua tự do không cần toa bác sĩ. Lyncocin Injectable 20 đồng một hũ, nếu có tiền em mua liền 1000 hũ cũng có đủ ngay. Nếu ngày mốt em lên xe bông, em muốn đãi họ hàng ăn uống thật long trọng, ăn ngập mày, ngập mặt, chỉ cần sáng nay em đem đến cho anh một cái sắc trong đựng đầy ảnh “Bác Hồ”, anh mượn xe Honda đổ xăng phóng đi một vòng lo cho em, sáng mốt em có đủ 2 con bò, 5 con heo quay, vài chục gà, vịt, rượu tây đủ thứ từ Johnny Walker, đến Napoleon. Tình trạng này chứng tỏ rằng thực phẩm, đồ vật đắt đỏ là vì nạn lạm phát tiền tệ trong nước chứ không phải vì khan hiếm. Thực phẩm, đồ vật có thể đắt giá vì hai nguyên nhân, một là vì khan hiếm không có mà mua, hai là vì số lượng tiền tệ lưu hành… tệ quá, nhiều quá. Ở đây, trong những bài báo, những bài đọc trên tivi, radio để giải thích về nạn thực phẩm, vật dụng tăng giá, người ta nói đủ các thứ nguyên nhân, người ta thường đổ lỗi cho gian thương, nhưng tuyệt nhiên không thấy nói gì đến chuyện tiền lạm phát. Anh thấy có vẻ người ta sợ hai tiếng lạm phát lắm. Cùng lắm là người ta nói đến hai tiếng “phát hành”. Ông Tố Hữu có nói đến hai tiếng phát hành: “Chúng ta không sợ phát hành. Chúng ta nắm được phát hành và sẽ giải quyết tốt tình trạng này…”. Hình như từ bao nhiêu năm nay, anh cũng chưa nghe thấy qua một chính phủ tư sản nào thú nhận rằng họ không nắm được nạn lạm phát tiền tệ và họ sẽ không thể giải quyết được nạn đó. Chỉ có điều khác là ở chế độ tư bản, chính phủ nào để cho nạn lạm phát trở thành quá trầm trọng là quốc hội và nhân dân nước đó mời xuống, ngồi chơi xơi nước, để cho tập đoàn khác lên nắm chính quyền và giải quyết nạn đó; tập đoàn nào hứa ẩu là sau một thời gian dài ngắn nào đó lại lủi thủi đi xuống, nhường chỗ cho tập đoàn khác. Xã hội tư bản đó chỉ được yên ổn khi nào nạn lạm phát được giải quyết ổn thỏa mà không có hại lắm cho đại đa số nhân dân.

Một tình trạng ly kỳ nữa xảy ra ở Thành Hồ mà chúng ra không ai tưởng tượng trước được là bây giờ trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa đang ở trong thời kỳ quá độ, phong trào phụ nữ sửa sang nhan sắc không những không bị tiêu diệt mà còn phồn thịnh, đông khách, kiếm được nhiều tiền hơn trước 1975. Các bác sĩ và chuyên viên thẩm mỹ kiếm tiền như nước. Phụ nữ Sài Gòn sắp ra đi chính thức hay đi chui, tức vượt biên, nghĩ rằng họ sửa mắt, sửa mũi, lột da mặt ở Sài Gòn rẻ hơn, qua nước ngoài làm những trò này đắt tiền lắm. Phụ nữ miền Bắc XHCN vào được đến Thành phố Hồ chí Minh cũng đổ xô đi sửa mắt, mũi, bơm vú, bơm mông, sửa vòng eo, cắt mỡ bụng, ủi mặt rỗ, lột da mặt, uốn tóc, làm móng chân, móng tay. Những thẩm mỹ viện lớn như Crystal, Cẩm Thạch v…v… trên bề mặt thì đóng cửa, giải nghệ, nhưng sự thật thì phân tán mỏng về các tiệm uốn tóc nhỏ, về nhà riêng hành nghề không đăng ký, không đóng thuế. Dược phẩm đồ nghề mới toanh, toàn thứ tốt nhất, từ ngoại quốc đóng thùng gửi về qua đường viện trợ tư nhân không hoàn lại và nhập khẩu không cần ngoại tệ. Anh nghe nói có ông bác sĩ chuyên khoa thẩm mỹ hành nghề ở nhà riêng mỗi tháng kiếm tới năm, sáu mươi ngàn đồng tiền mới. Tính sơ là theo tiền cũ 30 triệu đồng một tháng.

Tất nhiên là không phải ông bà bác sĩ nào ở Thành Hồ cũng hái ra bạc. Cũng có nhiều vị đói dài dài. Những bác sĩ nào bị bắt vì tội vượt biên có khi bị cấm hành nghề ít lâu. Nhưng thường thì gần như tất cả bác sĩ, y sĩ, dược sĩ có đi cải tạo hay không đều được thâu dụng và tương đối được trọng đãi trong các bệnh viện. Nay tất cả bệnh viện, trường học, xưởng máy lớn đều là của Nhà Nước nên chúng ta không cần phải thêm hai tiếng Nhà Nước sau đuôi nữa cho đỡ tốn giấy mực. Những vị thuộc ngành y khoa, y dược kể trên nếu có làm việc ở một bệnh viện hay cơ quan nào đều được phép mở phòng điều trị riêng, hành nghề tự do thơ thới, hân hoan sau giờ làm việc công, tức là sau 4 giờ 30 chiều đến lúc nào hết thân chủ, đóng cửa. Giới bác sĩ, ở chế độ nào cũng vậy, vẫn là giới được ưu đãi trong xã hội, kiếm tiền dễ dàng, có đời sống vật chất tương đối cao hơn mọi người. Bác sĩ bây giờ khám bệnh theo giá nhà nước ấn định, từ 3 đến 5 ngàn đồng, nhưng lại được kiêm nghề bán thuốc tây và kiếm tiền nhiều về việc bán thuốc hơn là tiền chẩn bệnh. Mà tiền thuốc thì các vị lương y cứu nhân, độ thế chém người bệnh vô tội vạ. Cảm cúm, nhức đầu, đau xương, xoàng thôi, ở nhà uống Aspirin, Tylenol cũng có thể hết nhưng nó làm em nằm quằn quại tàn phai nhan sắc mất năm, bảy ngày, muốn khỏe lại cho nhanh, em đi bác sĩ. Lương y choác cho em một mũi chẳng biết là thuốc gì, cho em độ 6 viên thuốc uống trong một ngày, em chi tối thiểu là 30 đồng. Nếu em có thuốc viện trợ, em mang Tylenol 500 mgs capsule đi bán, mỗi viên được 2đ 20 xu. Cũng viên Tylenol ấy em phải mua lại khi em cần với giá 6 đồng. Chích một mũi Becozym, em phải trả 25 đồng.

Bác sĩ nào không có chỗ hành nghề thì đi buôn thuốc tây cung cấp cho các bạn đồng nghiệp. Dược sĩ thì chế tạo thuốc tây. Dược phẩm đủ thứ cũng từ nước ngoài gửi về. Nhiều anh ma giáo chế đủ thứ thuốc giả đến ngay cả bác sĩ cũng không thể phân biệt được. Những bọn chế thuốc giả khi bị bắt sẽ ở tù nặng lắm. Đây là một việc xử lý đúng của nhà nước XHCN, vì ở đời nào cũng vậy, không có gì ác độc, vô nhân cho bằng bọn chế tạo thuốc giả.

Anh mù tịt về chính trị, lại điếc lòi về các vấn đề kinh tế, xã hội, cãi nhau thì chuyên môn lý sự cùn, gàn dở. Về mặt con người thì anh thuộc hạng “phú quý tất dâm, bần tiện tất di, uy vũ tất khuất” – có tiền bạc, được giàu sang là anh ăn chơi, dâm dật ngay, vì có tiền mà không ăn chơi thì để tiền làm gì nhỉ, rơi vào cảnh bần tiện là anh thay đổi ngay tính nết, nghèo hèn mà kiêu căng, phách lối thì chỉ là đồ ngu xuẩn, đáng khinh, đáng thương chứ không đáng kính phục, nhất là ở vào thời loạn, thì chỉ tổ chết uổng, kẻ thù sẵn sàng giết mình, nó lại có dao, súng, thì anh phải chịu khuất phục nó thôi, không có gì anh hùùng trong việc chống lại thằng ác ôn có súng, nhất là khi thằng ác ôn ấy lại là thằng cộng sản. Ở Sài Gòn của chúng ta trước đây có biết bao nhiêu thằng trọc phú bây giờ nằm tù, tài sản mất hết, bao nhiêu của chìm, của nổi nhờ bóc lột người khác, nhờ ăn mắm, mút dòi, nay đổ xuống sông, xuống biển hết.

Người nghèo không có ăn phải ăn mắm, mút dòi là chuyện tất nhiên, không có gì để chúng ta phải nói cả, nhưng bọn nhà giàu mà keo kiết, bủn xỉn, suốt đời chỉ muốn vơ vào túi tham không đáy, vơ vét của thiên hạ không bao giờ thỏa mãn, thì không ai có thể bênh vực được. Chưa bao giờ anh thấm thía câu “tiểu nhân chết vì lợi, nhà giàu chết vì của, người có danh tiếng chết vì cái danh của mình” bằng lúc này.

Bọn anh ở đây vài người bạn, trước 75 cũng gọi là thân nhưng cái thân trước 75 nó không giống với cái thân bây giờ. Có lẽ cái thân trước kia nó thiếu cái thiết. Trước 75 bọn anh ai cũng có công việc làm hợp với sở thích, ai cũng nhiều ít kiếm được tiền dễ dàng và tương đối nhiều hơn đa số người khác. Gần như ngày nào cũng gặp nhau ở chỗ làm việc, chỗ ăn chơi, chẳng ai chú ý đến đời sống riêng tư, gia đình, vợ con của nhau mà cũng chẳng ai cần đến sự chú ý ấy của bạn. Nay thì khác hẳn. Bọn anh thương nhau hơn. Bọn anh “nhường cơm, sẻ áo” cho nhau theo đúng nghĩa đen của việc nhường cơm, sẻ áo. Nhiều lần ngồi uống rượu với nhau trên vỉa hè, những lúc ngà ngà say, bọn anh sau khi nói đủ thứ chuyện trên trời, dưới biển, thường nhắc lại những đoạn tình sử trong Đồ Long Đao, Thiên Long Bát Bộ, Tiếu Ngạo Giang Hồ và Tam Quốc Chí. Nhiều lần anh nghe các bạn anh hỏi nhau về bài thơ mở đầu, hay kết thúc truyện Tam Quốc, anh không nhớ rõ. Bài thơ chữ Hán có mấy câu đại ý nói bây giờ chỉ còn thấy nước sông Trường Giang cuồn cuộn chảy, nhưng người anh hùng đã chìm đắm đâu mất hết. Anh thấy các bạn anh tỏ ra cảm khái vì câu thơ đó. Có lần anh nói bài đó có gì đặc sắc, đọc một trăm bài thơ Đường thì có đến 99 bài cảm hoài, tiếc thương việc cũ, than thở đời sống phù du, hư ảo, qua mau, cái bài mà tao thấy hay nhất, thấm thía nhất trong Tam Quốc là bài thơ mà một số người ngồi trong quán rượu bên đường ngâm với nhau trong khi Lưu Bị cùng Quan, Trương đi đến nhà Gia Cát Lượng Khổng Minh, dừng lại nghe và Lưu Bị tin là chắc có Khổng Minh ngồi trong số cao nhân đó. Bài thơ ấy anh chỉ nhớ có 2 câu trong bản dịch của Tử Vi Lang:

Hãy giữ thân thôi, đừng thắc mắc
Danh ta muôn thuở mất hay còn…

Vì lợi mà táng thân, việc đó đáng chê thật rồi, nhưng vì danh mà táng thân cũng bị Trang Châu chê luôn. Hàn Tín lòn trôn thằng bán thịt heo ở chợ Hoài Âm là chuyện đáng chê cười nhưng nếu khi ấy Hàn Tín tức khí, rút gươm ra đâm thằng bán thịt heo tất bị nó đánh chết. Lỗi chẳng phải ở thằng bán thịt thất phu mà chính là lỗi ở ông Hàn Tín lúc còn nghèo hèn không biết sống theo những điều kiện hèn hạ của mình, đã yếu như sên, không có võ nghệ, không giỏi kiếm thuật, nhất là không có ý liều mạng, thì ông đeo kiếm làm cái gì? Thằng bán thịt nó thấy ông có vẻ huênh hoang, nó hạ nhục ông vì cái thanh kiếm ông đeo, nào nó có thù oán gì ông. Đúng ra là nó dạy ông một bài học đích đáng về phép sống ở đời, phép giữ mình, trong thời loạn mà mạng người rẻ hơn súc vật. Súc vật người ta quí là phải, vì người ta ăn được thịt súc vật để người ta sống, còn người chết thì người ta còn phải mất công đào sâu, chôn chặt.

———-

Cám ơn bạn HV đã gửi cho hai bài tôi viết những năm 1982, 1983 ở Sài Gòn. Đọc hai câu: “Trăm ngàn gửi lậy tình quân. Tấc lòng can đảm có ngần ấy thôi.” Tôi nhớ tôi làm hai câu đó nhưng không nhớ tôi dùng thơ ấy trong bài viết nào. Viết xong, tôi mang thư ra gửi ở Bưu Điện, tôi không nhờ ai mang thư đi gửi dùm.

Alice và Kiều Giang cám ơn HV.

Ông Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan

Nguyen Ngoc Loan
 
Tướng Nguyễn Ngọc Loan xử bắn tại trận tên Việt Cộng ác ôn từng giết nhiều người trong trận Việt Cộng đánh vào Sài Gòn Tết Mậu Thân.

Hình được trích trong quyển NAM: A Photographic History của 2 tác giả Leo J. Daugherty và Gregory Louis Mattson. Đây là lời dưới hình bằng tiếng Mỹ:

The head of South Vietnam’s National Police, Brigadier General Nguyen Ngoc Loan, executed a capture Viet Cong officer in a Saigon street. Loan had just learned that the Viet Cong had killed a fellow police officer and his completed family. Captured on film and in this photograph, this horrifyng image shocked public opinion in the United States, bringing the atrocities of the war home to them to become a matter of public interest. This image, taken by AP photographer Eddie Adams, earned the photographer a Pulitzer Prize in 1969.

Phỏng dịch: Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia Vịêt Nam, xử tử một tên Việt Cộng bị bắt trong một đường phố ở Sài Gòn. Tướng Nguyễn Ngọc Loan vừa mới biết tên Việt Cộng đã giết một sĩ quan cảnh sát và giết tất cả vợ con ông sĩ quan. Được ghi lên phim, và trên bức hình này, hình ảnh ghê rợn trong hình làm công luận Hoa Kỳ xúc động, bức hình cho dân Mỹ thấy cảnh tàn ác của chiến tranh và làm họ chú ý đến cuộc chiến Việt Nam. Bức hình do Eddie Adams, Phóng viên Nhiếp Ảnh của AP (Associated Press) chụp, đã làm cho Eddie Adams được Giải Pulitzer năm 1969.
 

Nguyen Ngoc Loan
 
Trang 574, Tập Ảnh NAM, in bức hình thứ hai của Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Trong hình, trước mặt ông Tướng là bà Nguyễn Ngọc Loan. Đây là lời tiếng Mỹ đăng dưới hình:

The former South Vietnamese National Police Chief Nguyen Ngoc Loan with his wife in the burger, pizza, and Vietnamese restaurant he managed in Burke, Washington after escaping Vietnam. Honest Vietnamese officials and soldiers settling in the U.S. were often forced to take quite menials jobs as unlike others, they were innocent of corruption and therefore had no money waiting in overseas accounts.

Phỏng dịch: Ông Nguyễn Ngọc Loan, Cựu Tổng Giám Đốc Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam, với bà vợ ông trong một tiệm burger, pizza và hàng ăn Việt Nam ông bà mở ở thị trấn Burke, gần Washington D.C. Những viên chức và quân nhân Việt Nam lương thiện định cư ở Hoa Kỳ thường phải làm những công việc tay chân không như một số người Việt khác. Những người Việt lương thiện ấy không tham nhũng, không thối nát nên họ không có tiền để sẵn trong những trương mục ngân hàng ở nước ngoài.

———-

Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tưởng niệm Tử Sĩ Trận MẬU THÂN

DALLAS, Texas — “Almighty Father, we are gathered here today to celebrate and honor the brave warriors who served in Vietnam and who fought to bring us victory during The Tet Offensive. Bless all who served or who died to protect our nation and its values, founded on the bedrock of Thy Word. Bless and reward their spouses, widows and children.,”

Đó là lời cầu nguyện của Mục sư – Cựu Chiến Binh Marcus Evans tại Bệnh viện VA North Texas Health Care System của Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tại thành phố Dallas, Texas trưa Ngày Mồng Ba Tết Bính Tuất, tức Thứ Ba 31 Tháng Giêng năm 2006, để vinh danh chiến công của các Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa trong trận chiến Tết Mậu Thân. Mục sư xin Đấng Toàn Năng ban phúc lành cho những chiến binh còn sống, cho những người vợ, những quả phụ và con cháu của những chiến binh đã hy sinh trong trận đánh xẩy ra 38 năm trước.

Tôi, một người Việt mất nước sống buồn ở xứ người, đọc bài báo tưởng niệm, vinh danh các Cựu Chiến Binh Chiến Tranh Việt Nam với niềm ngậm ngùi và kiêu hãnh.

Ngậm ngùi vì 38 năm sau trận đánh những chiến binh mới được vinh danh, kiêu hãnh vì trong đời tôi, tôi được thấy ngày người thế giới sáng mắt, sáng lòng, nhìn thấy sự thật là Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, và Quân Đội Hoa Kỳ, “đã không thua” trong Chiến Tranh Việt Nam, những hy sinh máu xương của những chiến binh Việt, Mỹ trên đất nước Việt Nam không phải là vô ích. Vì những hy sinh ấy Chủ nghĩa Cộng Sản bị tiêu vong, mãi mãi tiêu vong, ngàn ngàn triệu triệu kiếp không bao giờ bọn đảng viên cộng sản còn có thể làm người thế giới đau khổ, đọa đầy. Trận Chiến Tranh Việt Nam góp một phần sức công phá làm cho cái gọi là Liên Xô Thành Trì Vô Sản Quốc Tế của bọn Nga Cộng sụp đổ tan tành, làm cho nhân dân các nước Đông Âu có thể vùng lên đập phá những gông cùm cộng sản, làm cho những tượng đồng, tượng đá, tượng gỗ, tượng xi-mo Lê-nin, Sịt-ta-lin bị kéo đổ, hạ xuống, cưa đầu, kéo ra cho nằm ở bãi rác.

Trong những đêm cuối năm, ở xứ người Kỳ Hoa Đất Trích, tôi đọc những bài viết về Trận Tết Mậu Thân và những người dự trận đánh ấy.

Mời quí vị đọc bài viết về Cố Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, đăng trong:

CON ONG. Bán Nguyệt San ấn hành ở Houston, Texas. Số 179. Tháng 2, 2006. Bài “Đón Xuân này tôi nhớ Xuân xưa.” Người viết Cao Hồng Lê.

Sáng Mồng 2 Tết Mậu Thân, Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu họp, Tướng Nguyễn Ngọc Loan thuyết trình về tình hình chiến sự, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, bay trực thăng, tới họp..

Sau Tướng NN Loan là phần thuyết trình của Đaị Tá Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Đại Tá nói tới một tin mà ở Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu nhiều người đã nghe nói. Đó là tin Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh của ta ở Gò Vấp bị địch tấn công, quân ta phản công mạnh nên bọn VC đã phải tháo lui. Kho Đạn Gò Vấp bị một tiểu đoàn đặc công VC đánh vào. Đúng lúc bọn VC kéo vào Kho Đạn thì vị sĩ quan Trực Kho Đạn cho phát động hệ thống phá hoại. Kho đạn nổ tung, cả một tiểu đoàn đặc công VC chết tan xác. Ông Trung Úy Quân Cụ Trực Kho Đạn, người cho Kho Đạn phát nổ, bị sức ép của hàng ngàn tấn đạn làm cho miệng, mũi, tai trào máu, khó lòng sống sót, dù ông được tải thương về ngay Tổng Y Viện Cộng Hòa cứu cấp. Nghe nói đến đây, tự nhiên Tướng Loan tỏ vẻ khác lạ, ông đứng lên, nói:

- Ê! Kỳ! Cho “moa” mượn trực thăng “moa” bay xuống Gò Vấp. Muời phút “moa” về liền!

Không đợi Tướng Kỳ trả lời, Tướng Loan đi ngay ra khỏi phòng. Đaị Tá Trưởng Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu, chạy theo, nói với:

- Thiếu Tuớng! Cho tôi gửi một người theo ông.

Ông Đại Tá đưa cho tôi cái máy Truyền Tin HT1, máy to, nặng nhưng cách xử dụng cũng giống như cái hand phone bây giờ. Ông nói với tôi:

- “Toa” chịu khó đi theo ông Sáu Lèo, coi tình hình ở đó ra sao, có gì gọi về cho “moa” biết ngay.

Chuyện được sai đi cấp kỳ như vậy đối với tôi đã quá quen. Ông Đại tá là niên trưởng Võ Bị của tôi, tôi đã làm việc dưới quyền ông lâu ngày rồi, tôi cầm ngay cái máy truyền tin, chạy theo Tướng Loan ra phi cơ trực thăng. Chỉ 2 phút sau trực thăng đáp xuống sân Kho Đạn Gò Vấp. Ở đó một Đaị Đội Dù đã tái chiếm từ hôm qua. Đạn trong kho đã nổ hết. Xác bọn VC tan tành thành những mảnh thịt xương vụn, súng AK gẫy còng queo, rải rác khắp nơi.

Sau khi xem Kho Đạn, Tướng Loan đi sang Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp cạnh đó. Trụ sở Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp không bị tổn hại gì nhiều, ngoài một lổ hổng lớn do đạn SKZ phá, nhưng VC không vào được trong Trụ sở vì Binh sĩ Thiết Giáp tập trung hoả lực bắn vào bít lỗ trống gọi là “Đột Phá Khẩu của VC”. Các đơn vị xe tăng đều đi đánh giặc xa cả, bao nhiêu lực lượng binh sĩ ở căn cứ đều tập trung bảo vệ Bộ Chỉ Huy, thành ra việc phòng thủ Traị Gia Binh Thiết Giáp ở ngay bên cạnh Bộ Chỉ Huy không được vững mạnh, bọn VC đã xông vào Trại Gia Binh, bắn giết một số vợ con binh sĩ ta.

Một Trung Úy Thiết Giáp đưa Tướng NN Loan vào Trại Gia Binh để ông Tướng thấy cảnh vợ con binh sĩ ta bị VC sát hại. Sau khi đến thăm một số nhà binh sĩ có người bị VC giết, nhiều xác người chưa được mang đi, còn quàn tại chỗ, Tướng Loan nói ông có người bạn cùng khóa là Đại Tá Tuấn, Binh Chủng Thiết Giáp, đã giải ngũ nhưng không có nhà riêng ở ngoài thành phố, nên cả gia đình vẫn ở trong Trại Gia Binh này. Ông bảo ông Trung Úy Thiết Giáp đưa ông tới nhà Đại Tá Tuấn. Tôi đi theo đến một hầm trú ẩn. Hầm này vốn là cái xác của chiếc xe M113 đã phế thải, Đại Tá Tuấn xin về đặt bên cạnh nhà, đắp thêm bao cát bên ngoài, cho vợ con ông làm hầm tránh pháo kích của bọn VC.

Khi mở cửa hầm ra thì… tôi rởn tóc gáy trước cảnh tôi nhìn thấy: Cả gia đình Đại Tá Tuấn vẫn còn nằm trong hầm. Máu ngập cao cả chục phân tây, kín cả cái sàn xe thiết vận xa phế thải. Trong vũng máu là 8 xác chết, đủ cả đàn ông, đàn bà, trẻ con, người nào cũng bị chém đầu lìa khỏi cổ. Cả đến đứa cháu ngoại, mới 3 tuổi của Đại tá Tuấn về ăn Tết với ông Ngoại cũng bị VC chặt đầu.

Tướng NN Loan đứng nhìn thảm cảnh. Ông lặng người, không nói được lời nào! Rồi ông đứng nghiêm, giơ tay chào vĩnh biệt gia đình Đại Tá Tuấn.

Trên trực thăng bay trở về Bộ Tổng Tham Mưu, Tướng Loan, mặt tái xám, hai mắt ông đỏ ngầu. Ông chỉ nói một câu mà, đến nay gần 40 năm, tôi còn nhớ:

- Đ.. Cụ thằng nào từ nay bắt được Việt Cộng còn cho nó làm tù binh.

Về đến Bộ Tổng Tham Mưu, Tướng Loan không vào Trung Tâm Hành Quân, ông lên xe jeep đi ngay đến chỗ có VC. Phần tôi, tôi vào phòng báo cáo với các vị đang họp những gì tôi thấy ở Kho Đạn Gò Vấp và ở Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp. Còn xúc động vì những hình ảnh ghê rợn, thảm khốc nên tôi nói lập cà lập cập, không rõ ràng chút nào. Đaị Tá C, Trưởng Ban 2 của Trung Tâm Hành Quân hỏi tôi có chụp được tấm hình nào không? Khi biết tôi không đem theo máy ảnh, ông cho nhân viên của ông đi Gò Vấp chụp hình ngay.

Không biết những tấm hình đó bây giờ ở đâu? Nếu có những tấm hình đó bây giờ thì đó là những chứng tích chứng tỏ sự bạo tàn ghê rợn của bọn cán binh CS khi chúng vào được một trại gia binh của Quân Đội ta ở Sài Gòn trong trận Tết Mậu Thân.

Hai ngày sau, khi Lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến đánh phá một hang ổ của VC ở trong chùa Ấn Quang, bắt sống được ở đây tên Thượng tá VC chỉ huy cánh quân đánh vào Kho Đạn Gò Vấp. Sau khi hỏi cung sơ qua, binh sĩ ta trói tay nó, dẫn giải về traị tù binh. Đọc đường tên VC đó gặp Tướng Loan. Và cái gì đã xảy ra thì cả thế giới đều biết do người phóng viên nhiếp ảnh Mỹ chụp được tấm hình giật gân Tướng NN Loan dí súng vào đầu tên VC mặt hung ác, ngu đần, bận áo sơ-mi ca-rô. Nhờ tấm hình này mà người phóng viên Mỹ nổi danh. Cũng vì cái hình này mà Tướng Loan đã bị một số người Mỹ chụp cho cái mũ “Killer”. (.. .. .. )

Khi là Tổng Giám Đốc Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, là cái chỗ “Ho ra Bạc, Khạc ra Tiền”, Tướng NN Loan không bị báo chí thời đó, và ngay cả bây giờ, cho tên vào Băng Tham Nhũng Đệ Nhị Cộng Hòa. Việc ông xử tử tại trận tên VC, như ông nói: “Tôi làm nhiệm vụ của tôi..” thì đúng quá còn gì nữa. Nghe nói quí vị thân nhân của Tướng NN Loan đã phải chịu nhiều khổ tâm vì người ta xét đoán lầm ông Tướng qua bức hình ông xử tử tên VC trong trận Tết Mậu Thân. Xin quí vị thân nhân của Tướng Nguyễn Ngọc Loan coi bài tưởng niệm này là “Một Vòng Hoa Muộn, Một Nén Hương Thêm” cầu chúc anh hồn Cố Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan yên nghỉ nơi miền an lạc; xin Bà Quả Phụ Nguyễn Ngọc Loan nhận cho sự kính trọng Cố Thiếu Tướng của tôi, một tên lính bại trận mà không chết, và sự phân ưu muộn màng của tôi với quí gia đình.

Cao Hồng Lê

Tôi sẽ đăng bài ÔNG SÁU LÈO trong SÀI GÒN VANG BÓNG.

Táo Tầu Nghị Hách

Trong Chương Ba tiểu thuyết Giông Tố có một chuyện độc đáo được người đọc Giông Tố ngày xưa gọi là chuyện Táo Tầu Nghị Hách.

Trích:

Cô Kiểm lại đứng cạnh cô Lễ, khẽ hỏi:

- Thế nào, mấy hôm nay em có được sạch sẽ không?

Cô Lễ len lét thưa:

- Dạ, sạch sẽ lắm ạ.

- Thế có nhớ hộp táo Tầu đấy hay là không?

Vu Trong PhungTôi mù tịt về chuyện Táo Tầu được tả ở đây, tôi chỉ nghe nói, hay đọc được ở đâu đấy, về chuyện Táo Tầu như sau — như thị ngã văn, như thị ngã thuật — tôi kể lại mà không bảo đảm trúng trật, tức không bảo đảm chuyện là đúng, cũng không viêt chắc chuyện là sai: năm xưa những anh Tầu già có tiền, đa dâm, tham dâm, muốn tẩm bổ để có sức hưởng sự đời, nghĩ ra cách dùng những em trinh nữ khỏe mạnh, đút những quả táo Tầu khô vào âm hộ các em, rồi làm cho các em bị kích thích dục tình, nước dâm — tinh khí — của các em chẩy ra, những trái táo Tầu khô hút thứ nước dâm này, mấy anh già lấy những trái táo ấy ra hầm — tiềm — với gà ác, với gân hươu nai, với thuốc bắc, để ăn. Mấy anh cho đó là món ăn đại bổ.

Không biết món Táo Tầu làm như thế có bổ âm, bổ dương gì không, chỉ biết trong Giông Tố có chuyện Nghị Hách Táo Tầu như ta vừa đọc. Tác giả chỉ tả thoáng qua, thiếu phần chi tiết: Nghị Hách chọn em Lễ là em chắc mới được tuyển, hãy còn mộc mạc, chân quê, trẻ và khỏe mạnh, để “om” táo Tầu. Nhưng muốn cho táo Tầu có hiệu quả, em Lễ phải được đàn ông, con trai kích thích dục tình, tức ôm ấp, mơn trớn, vuốt ve.. Tôi không nhớ trong bản Giông Tố tôi đọc năm 1940 đoạn Táo Tầu Nghị Hách có được viết dài hơn, kỹ hơn hay chỉ vắn tắt có mấy dòng như thế. Bản Giông Tố tôi hiện có, và trích đăng lại, là bản Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn Bắc Việt Cộng tái bản ở Hà Nội năm 1999. Trong bản này ta thấy chuyện chỉ được tả thoáng qua, người đọc không hiểu đó là chuyện gì. Trong những bản Giông Tố tái bản sau 1954 rất nhiều đoạn bị người ta cắt bỏ ngang xương.

Tiểu thuyết Việt Nam không có truyện khiêu dâm, hội họa Việt Nam, cổ như kim, không có tranh khiêu dâm, những năm 1935, 1940 tiểu thuyết như Giông Tố được kể là chuyện tả chân rất bạo. Vì Giông Tố, Vũ Trọng Phụng bị một số người đả kích, kết tội “viết khiêu dâm“. Đáng kể nhất là bài viết đăng trên tuần báo Ngày Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Tôi trích đăng bài viết ấy để bạn đọc “rộng đường dư luận”.

Ý kiến một người đọc: Dâm hay không Dâm? Người viết Nhất Chi Mai, tuần báo Ngày Nay số 15, trang 137, ra ngày 21 Tháng 3, 1937:

Tôi không phải là một nhà phê bình chuyên môn, hay một văn sĩ thuộc về một văn phái nào. Tôi chỉ là một người đọc báo giản dị đem giãi bày cái cảm tưởng của tôi, khi đọc văn của ông Vũ Trọng Phụng.

Tính tôi ưa hòa bình, không muốn gây gổ với ai. Vậy mà tôi phải lên tiếng. Tôi phải chỉ trích những cái khốn nạn, lầy lụa của những đoạn văn mà bọn văn sĩ nửa mùa về hùa nhau cho là kiệt tác, là đúng sự thật, là can đảm.

Và tôi tin rằng trong các bạn độc giả, có nhiều người có lương tri, biết phán đoán, phân biệt, không bị những danh từ rỗng tuyếch nó lừa dối, không cắm đầu theo làn sóng chuộng lạ như một đàn cừu.

***

Nhà văn Vũ Trọng Phụng, tác giả thiên phóng sự Lục Xì ở báo Tương Lai tự nhận mình là nhà văn xã hội chưa đủ, còn viết một bức thư ngỏ để dạy người ta một bài học xã hội, luân lý và để có dịp lòe độc giả bằng cái học vấn “sơ học” của mình.

Nhưng mục đích bài này không phải dể vạch cái hành tung đáng ngờ của nhà văn xã hội Vũ Trọng Phụng mà chính là để vạch những cái bẩn thỉu, nhơ nhớp, dơ dáy của văn ông ta.

Muốn tự bào chữa cho mình, nhà văn đó mới viết bướng câu này:

“Thưa không! Cái gì đã bẩn thỉu đến nôn ọe như thế thì không có tính chất khiêu dâm đâu ngài ạ!”

Khó tin lắm! Những lối tả Thị Mịch trong khi chửa nằm nghiêng để hiến ái tình cho bạn, hay con sen vạch quần để hở đùi non cho con chủ nhà trông thấy mà không còn gọi là khiêu dâm thì còn gọi là gì nữa?

Trong văn Vũ Trọng Phụng còn nhiều chỗ nhơ nhớp hay những câu sống sượng, trần truồng như thế này.

Không ai có quyền cấm nhà văn Vũ Trọng Phụng dùng những chữ bẩn thỉu để tả những cảnh bẩn thỉu. Nhưng trong khi viết những câu văn mà mình cho là khoái trá, tưởng cũng nên nghĩ đến độc giả một chút.

Nhà văn Vũ Trọng Phụng lại hô lớn lên rằng: Nhân loại đã tiến hóa rồi!

Tuồng như nhân loại đã tiến hóa ở chỗ nói tục, dùng những danh từ bẩn thỉu, uế tạp và ở chỗ đầy rẫy những chuyện hiếp dâm, làm đĩ, ăn cắp và bịp bạc.

Nếu nhân loại tiến hóa ở chỗ đó thì cũng đáng buồn cho nhân loại. May sao cái nhân loại đó chỉ là cái nhân loại riêng của nhà văn Vũ Trọng Phụng thôi.

Đối với nhà văn xã hội kỳ quặc này, thì những người biết thận trọng lời nói, biết đắn đo, dè dặt ngòi bút, khi viết văn, đều là những đồ “vô học thức” có “tính e thẹn của quân bồi săm” (!)

***

Kết luận, tôi phải nói cái cảm tưởng của tôi khi đọc văn Vũ Trọng Phụng.

Đọc xong một đoạn văn, tôi thấy trong lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối.

Không phải phẫn uất, khó chịu vì cái vết thương xã hội tả trong câu văn, mà chính vì cảm thấy một tư tưởng hắc ám, căm hờn, nhỏ nhen ẩn trong đó.

Đành rằng nhà văn có cái thiên chức nêu những cái thống khổ của nhân loại, vạch những cái xấu xa của nhân loại, nhưng bao giờ cũng phải có một ý nghĩ cao thượng, một tư tưởng vị tha, một lòng tín ngưỡng ở sự tiến hóa, mong cho nhân loại ra khỏi nơi u ám và một ngày một hay hơn, một sung sướng hơn lên.

Đọc văn Vũ Trọng Phụng thực không bao giờ tôi thấy một tia hy vọng, một tư tưởng lạc quan. Đọc xong, ta phải tưởng tượng nhân gian là một nơi địa ngục và chung quanh mình toàn những kẻ giết người, làm đĩ, ăn tục, nói càn, một thế giới khốn nạn vô cùng.

Phải chăng đó là tấm gương phản chiếu tính tình, tư tưởng của nhà văn, một nhà văn nhìn thế gian qua cặp kính đen, có một bộ óc cũng đen và một nguồn văn càng đen hơn nữa.

NGÀY NAY Số 15, trang 137, ngày 21-3-1937.

Bạn vừa đọc một bài đăng trên tuần báo Ngày Nay, ấn hành ở Hà Nội năm 1937. Hơn sáu mươi năm đã qua trên đất nước chúng ta kể từ ngày ấy, rất có thể người viết ký tên Nhất Chi Mai là ông Nhất Linh, hay ông Khái Hưng, ông Hoàng Đạo. Tôi nghi giọng văn và bút pháp ấy không phải là văn và bút pháp của độc giả. Các ông Vũ Trọng Phụng, Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Bằng..vv.., những tên tuổi có liên can đến tiểu thuyết Giông Tố, đều đã qua đời. Hôm nay liêu lạc ở xứ người, đọc lại tác phẩm của các ông — những tiểu thuyết làm tôi say mê những năm tôi mới mười tuổi, những tiểu thuyết mở hé cho tôi thấy mơ hồ một bầu trời tuyệt đẹp mà người viết tiểu thuyết tạo thành, một vũ trụ nho nhỏ mà người viết tiêủ thuyết sáng tạo ra và làm chủ, những tiểu thuyết đã mở lối cho tôi đi vào con đường viết tiểu thuyết suốt một đời tôi — tôi thấy ngậm ngùi.

Thanh MaiTôi thấy thương ông Vũ Trọng Phụng. Tiểu thuyết Giông Tố của ông là một tác phẩm độc đáo. Dù Giông Tố có mang trong nó nhiều lỗi vặt như tôi đã kể trong khảo luận Đọc GIÔNG TỐ VŨ TRỌNG PHỤNG, Giông Tố là một tác phẩm tiểu thuyết có một không hai trong kho châu ngọc tiểu thuyết của ta, tôi nghĩ thế. Không có tác phẩm tiểu thuyết nào giống với, sánh được Giông Tố. Từ năm 1937 là năm Giông Tố được viết theo lối tiểu thuyết feuilleton đến nay — 2008 — đã 70 năm, bài báo tôi vừa đọc già gần bằng tôi, tôi thấy chưa có tác phẩm tiểu thuyết nào có giá trị về sáng tác ngang với, đừng nói là hay hơn, Giông Tố.

Trong xã hội ta có những Thị Mịch bụng chửa ba tháng nằm nghiêng cho đàn ông chơi không? Bạn trả lời có hay không có? Ở thành thị có những em làm công đêm ngủ cố ý hở vú, hở đùi non, luôn cả đùi già, cho ông chủ hay cho con trai chủ nhà thấy không? Bạn trả lời không hay có? Nếu có thì tại sao lại cấm không cho người viết tiểu thuyết viết những chuyện ấy? Tại sao lại bắt người viết tiểu thuyết phải là một nhà đạo đức, một nhà luân lý trong tác phẩm tiểu thuyết? Trình bày bộ mặt thật bẩn thỉu của con người cho con người thấy, để con người ghê tởm chính mình, để con người thấy mình bẩn thỉu, để con người tự sửa đổi cho được là người tốt hơn, ít nhất cũng làm cho con người thấy mình bẩn mà không dám huynh hoang phét lác.., theo tôi, là một việc làm nhân đạo hơn, tốt hơn, có ích hơn, so với việc viết ra những tiểu thuyết trong đó các nhân vật đều trong sạch, đều sống đẹp, nhưng đó là những con người không có thật, những truyện tình thơ mộng nhưng không thể có thật ở đời. Tôi dành quyền bạn lựa chọn: trong hai cách viết ấy, giữa hai loại tiểu thuyết ấy, cách viết nào, loại tiểu thuyết nào có giá trị hơn, đáng quí hơn?

Bức thư ký tên Nhất Chi Mai cho tôi thấy thái độ kiêu kỳ của các ông Tự Lực Văn Đoàn, các ông khinh mạn những người viết cùng thời không ở trong nhóm các ông, những tác giả không viết những tiểu thuyết giống tiểu thuyết của các ông, các ông gọi họ là “đám văn sĩ nửa mùa“. Chỉ thiếu có chuyện các ông tự nhận các ông là loại “văn sĩ trọn mùa“, và việc công khai tuyên bố “tiểu thuyết như tiểu thuyết của các ông mới là tiểu thuyết!”

Thứ hai: văn sĩ nhà nghề, viết phê bình đồng nghiệp, đăng bài trên báo của mình, không ký tên thật, dù vì bất cứ lý do gì, là việc làm tôi thấy là tồi.

Việc bắt người khác phải viết theo ý mình là việc đáng ghét. Trong những tài liệu tôi có về Vũ Trọng Phụng, thấy có nói đến chuyện khi bị đả kích là viết văn khiêu dâm, Vũ Trọng Phụng đã viết nhiều bài trả lời, luận điệu đanh thép, biện luận văn ông không phải là văn khiêu dâm, làm cho những người đả kích ông phải im miệng. Rất tiếc tôi không tìm được những bài bút chiến ấy của tác giả Giông Tố.

Trong Giông Tố Vũ Trọng Phụng tả những cảnh dâm dục — sơ sơ thôi, so với bây giờ thì những cảnh đó, những lời tả đó không đi đến đâu cả – nhưng, ngay thời xa xưa ấy, trong thời kỳ xã hội ta mới có tiểu thuyết, tác phẩm Giông Tố của ông làm cho ta khinh ghét bọn trọc phú gian tham và tham dâm mà Nghị Hách là điển hình, ông làm ta thấy thương hại Long, làm ta có cảm tình với ông già Hải Vân và Tú Anh; ông làm cho ta khinh ghét những cái xấu, những người xấu, ông làm cho ta yêu mến, kính trọng những người tốt, ông làm ta thương xót những người không may trong đời. Như vậy Giông Tố có giá trị đạo đức, có sức mạnh bảo vệ cái đẹp, có công đả phá cái xấu, Giông Tố có luân lý, có ích lắm chứ!

Thương Nhớ Bốn Mươi

Ngày xưa ở nước Pha-lang-sa, Tây Vực, ông Văn sĩ Alexandre Dumas viết truyện tiểu thuyết Les Trois Mousquetaires đăng trên nhật báo ở Paris. Truyện được dịch nhiều lần sang ngôn ngữ Việt Nam với cái tên thân quen là truyện Ba Người Lính Ngự Lâm Pháo Thủ. Hình như ông Nguyễn văn Vĩnh là người Việt thứ nhất dịch truyện Les Trois Mousquetaires.

Kim LoanLes Trois Mousquetaires thành công, hấp dẫn người đọc, có nhiều người bỏ tiền mua báo đọc truyện, nên sau đó Văn Sĩ Dumas Bố viết thêm truyện Vingt Ans Après — Hai Mươi Năm Sau — truyện viết về cuộc đời của những anh con những nhân vật Ngự Lâm Pháo Thủ, tức con của những ông D’Artagnan, Athos, Aramis, Porthos. Truyện Vingt Ans Après đọc được được thôi, không có gì đặc sắc.

Hôm nay, một ngày mùa thu ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, khi viết những dòng chữ này tôi nhớ đến chuyện ngày xưa ở Paris, Văn Sĩ Dumas Bố viết truyện Hai Mươi Năm Sau: Vingt Ans Après. Tôi nhớ vì hôm nay tôi làm việc ngược lại với việc làm của Văn Sĩ Dumas Bố: ông Dumas Bố viết truyện xẩy ra hai mươi năm sau, tôi viết về một chuyện xẩy ra ba mươi, bốn mươi năm trước.

Nguyen Van ThieuMột chuyện xẩy ra ở Sài Gòn những năm 1968, 1969. Ta lội ngược dòng thời gian tí chút: Năm 1965 Quân Đội Hoa Kỳ vượt biển Đông vào đất nứơc Việt Nam Cộng Hòa. Cùng vào nước Việt với những chàng GI, tức Lính Mỹ, là phi cơ, đại bác, bom đạn, US đô-la và những dàn máy quay băng Akai, Teak, Sony, Panasonic, những dàn máy TiVi. Nhờ những máy taperecorder, những cassett, ampli, băng nhạc, công nghệ Ca Nhạc Sài Gòn làm những bứơc nhẩy vọt, nôm na là tiến vượt bực. Từ trước dân Việt ở thành phố chỉ được nghe tiếng hát của những nàng ca sĩ qua làn sóng điện của Đài Phát Thanh, tức chỉ được nghe tiếng hát của các nàng mà không được nhìn thấy dung nhan các nàng.

Đấy là trường hợp Quân tử Tầu gọi là “Văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình..” Nghe tiếng Nàng mà không thấy mặt Nàng. Nay nhờ những máy TiVi, người ta được nhìn thấy các nàng, nhìn thấy rõ từng nét lông mi, từng chiếc răng của các nàng, người ta có cảm tưởng các nàng hát cho một mình người ta nghe, nhìn hình ảnh các nàng trên TiVi những người giầu tưởng tượng có thể tưởng như nhìn thấy những gì sau làn áo của các nàng.

Từ năm 1965 ở Sài Gòn những dàn máy TiVi đi vào từng nhà người dân, hình ảnh những cô đào hát thơm như múi mít đến tận nhà người ta ca hát cho người ta nghe, người ta nhìn ngắm các nàng đã đời ngay trong nhà người ta, các nàng đến tận bên giường ngủ của người ta mà hát cho người ta mơ, người ta ngủ.

Rất nhiều nữ ca sĩ nổi đình đám sau năm 1965, gần như tất cả các nàng đều trẻ, đẹp, trong số có Nữ Ca sĩ Kim Loan.

Những ngày như lá, tháng như mây.. Mới đấy mà đã ba mươi năm cuộc đời. Không, ba mươi sao được, đã bốn mươi năm cuộc đời. Những năm 1967, 1968 Ngôi Sao Nữ Ca Sĩ Kim Loan nổi sáng trong bầu trời Ca Nhạc Sài Gòn TiVi đầy những sáng sao và sao sáng. Nhưng Nàng, Nữ Ca sĩ Kim Loan, ca hát ở Sài Gòn không lâu. Bỗng dưng một tối, rồi hai tối, rồi bốn, năm, sáu, bẩy tối, những anh Phó Thường Dân Sài Gòn thấy vắng bóng, tức thấy không có Nữ Ca sĩ Kim Loan trên màn ảnh TiVi. Người ta hỏi và người ta được biết Nữ Ca Sĩ Kim Loan không còn ở Sài Gòn với người ta nữa, Kim Loan đã đi rồi — Than ôi..! Thúy đã đi rồi ! Xin lỗi: … Loan đã đi rồi ! — Nàng đã xuất ngọai, người ta được biết, lờ mờ thôi, nàng không sang Mỹ, nàng không sang Pháp, nàng sang Đức. Người ta nghe nói nhan sắc Nàng lọt vào mắt xanh Tổng Thống, rồi Tổng Thống cho nàng xuất ngọai..vv…

Những tháng như mây, ngày như lá theo nhau qua.. Sống sót trong cuộc biển dâu ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh, những ông Con Trai Bà Cả Đọi bánh xe lãng tử đi một đường Hát Ô sang Hoa Kỳ. Sau những năm tháng khổ nhục, tù đầy, bị khinh rẻ, không thất vọng mà tuyệt vọng, đến những năm 2006, 2007, những người từng nhìn thấy Nữ Ca sĩ Kim Loan hát trên màn ảnh Ti Vi Sài Gòn những năm 1967, 1968, nay trẻ lắm cũng là những Lão Ông Sáu Bó, Bẩy Bó tuổi đời, sống ở nơi đất trích xứ người, các ông lại thấy Nàng Ca Sĩ Kim Loan của các ông bốn mươi năm xưa xuất hiện trên màn ảnh TiVi, Nàng — Nữ Ca Sĩ Kim Loan ngày xưa — nay lại hát cho các ông nghe.

Sau gần bốn mươi năm sống ở Đức Quốc, Tháng Tám 2006 Nữ Ca Sĩ Kim Loan sang Cali, Hoa Kỳ, Nàng tái xuất giang hồ trong một Chương Trình Ca Nhạc của Trung Tâm ASIA. Ký giả Đại Cồ Việt của Tạp Chí VĂN HÓA làm cuộc phỏng vấn Nữ Ca Sĩ Kim Loan ở Cali, Hoa Kỳ.

Mời liệt vị đọc bài phỏng vấn:

Phỏng Vấn Nữ Ca Sĩ Kim Loan. Tạp Chí VĂN HÓA Số 115, Tháng Tám & Tháng Chín 2006.

Ngày 17 Tháng 8, 2006, chúng tôi gặp Nữ Ca sĩ Kim Loan tại miền Nam California trong dịp cô qua Hoa Kỳ trình diễn cho Trung Tâm ASIA. Chúng tôi mở một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng Người Nữ Ca sĩ từng một thời nổi tiếng ở Sài Gòn.

Nhà báo: Thay mặt bạn đọc báo Văn Hóa, chúng tôi chào mừng Nữ Ca sĩ Kim Loan. Xin cô cho biết cô sang Hoa Kỳ được bao lâu rồi và trong chuyến sang Mỹ này cô có những dự định họat động gì về văn nghệ?

Nữ Ca sĩ Kim Loan: Thưa anh, kính thưa quý vị độc giả, Kim Loan sang đây được 5, 6 ngày rồi. Ngày 10 Kim Loan bay từ bên Đức qua Houston, Texas, ngày 12 Kim Loan tới Cali đây. Kim Loan sang Mỹ lần này do lời mời của Trung Tâm Asia để hát trong chương trình của Trung tâm Asia mang tên “Huyền Thoại Lê Minh Bằng.” Xin nói thêm Tháng Tám này tình cờ lại đúng 40 năm ngày Loan được đi hát năm xưa ở Sài Gòn, nói đúng ngày đầu tiên Kim Loan đi hát như một ca sĩ là Ngày 8 Tháng 8 năm 1966.

Nhà báo: Như vậy Tháng Tám này là một tháng đáng ghi nhớ trong 40 năm ca hát của Nữ Ca sĩ Kim Loan. Đây là lần đầu tiên sau 40 năm người Việt yêu ca nhạc lại được nghe Tiếng Hát Kim Loan. Xin hỏi đôi câu về đời tư: cô ở thành phố nào bên nước Đức? Berlin hay một thành phố nào khác?

KL: Thưa Kim Loan ở Cologne.

Nhà báo: Ở bên đó đời sống của cô như thế nào? Cô có thể nói sơ về cuộc sống của cô và gia đình không?

KL: Thưa anh, ngày xưa, những ngày mới đến nước Đức, Loan học khoa Xã hội Sư phạm, Loan học chưa tốt nghiệp đã được Bộ Xã Hội của chính phủ Đức mời làm việc, Loan đã là nhân viên của Bộ Xã Hội Đức và nhiều cơ quan chính quyền Đức trong nhiều năm. Đồng thời Loan vừa đi làm vừa học thêm, nhờ học được mấy năm Khoa Cosmotology, Loan vào làm việc ở những mỹ viện, Loan đã mở Thẩm Mỹ Viện riêng của Loan từ 30 năm nay. Với Loan, việc đi qua Cali hay đi đâu để hát, là việc cần phải thu xếp chớ không dễ dàng.

Nhà báo: Kim Loan vẫn còn say mê nghệ thuật ca nhạc?

KL: Thưa vâng. Nếu được khán giả chấp nhận, cho là còn hát được, còn nghe được thì Loan sẽ dành nhiều thì giờ hơn để ca hát phục vụ quí vị đồng hương.

Nhà báo: Kim Loan đã xa Sài Gòn lâu rồi, những người Việt Nam phải sống xa quê hương thường có những kỷ niệm, những nỗi nhớ thương, cô nhớ nhất những gì của quê hương ta, của Sài Gòn và ngày xưa? Kỷ niệm nào đẹp nhất về những năm cô sống và ca hát ở Việt Nam, ở Sài Gòn?

KL: Kính thưa anh, kính thưa quý vị, Loan từ nhỏ sống trong gia đình, gia đình của Loan là một đại gia đình có ông ngoại, bà ngoại, dì, cậu… Ba Loan phải về ở rể trong nhà Mẹ của Loan. Thời trẻ, Loan đi đâu cũng đi cùng với mẹ, với dì, với cậu, không bao giờ Loan đi một mình. Loan sống như thế cho đến ngày Loan ra ngoại quốc. Khi ông Lê Huy Linh Vũ, và ông Đại tá Thọ, mời Loan đóng phim thì lần nào Loan đi đóng phim Dì Tám của Loan cũng đi theo. Loan thích hát từ nhỏ, Loan là học trò của Nhạc sĩ Nguyễn Đức từ lúc Loan mới 8-9 tuổi cho đến năm 17 tuổi rưỡi là năm Loan nổi tiếng. Kỷ niệm của Loan ở ngoài gia đình, ngoài đời rất ít

Nhà báo: Thời ông Nguyễn Văn Thiệu là Tổng Thống, có nhiều lần Kim Loan vào trình diễn ca nhạc trong Dinh Độc Lập, có phải không?

KL: Thưa anh, năm ấy tự dưng có chuyện đồn, rồi người ta nói đến ông Tổng Thống, người ta nói rằng Loan vào hát trong Dinh Độc Lập… Thực sự tới bây giờ Loan chưa biết Dinh Độc Lập ra làm sao. Còn cái chuyện đồn đại thì Loan nhớ là Loan sang Đức năm 1969, Loan lập gia đình ở Đức năm 1970, đến năm 1972 hay 1973, con trai của Loan bị bịnh, Loan cứ ra vào nhà thương lo cho con. Cùng lúc ấy, Loan được thư bà dì của Loan viết từ Việt Nam gửi sang, bà kể bà rất tức vì ở Sài Gòn người ta đồn bậy về đời tư của Loan. Loan không cho là quan trọng. Nhưng những người thân trong gia đình Loan, như Mẹ của Loan, những bà dì, bà thím của Loan, thì tức lắm. Còn anh Minh chồng Loan thì anh nói cái chuyện đó không có ảnh hưởng một tí nào đến hạnh phúc vợ chồng của anh và Loan. Ngày 6 Tháng 11 năm 1969 Loan qua Đức, ngày 6 Tháng 11 năm 1970 ở Đức, Loan với anh Minh làm đám cưới. Ngày lấy chồng Loan 21 tuổi. Từ năm 1970 cho tới bây giờ đã hơn ba mươi năm.

Nhà báo: Những năm 1970 ở Sài Gòn có chuyện đồn… Tôi xin lỗi trước, câu hỏi của tôi có thể làm cô khó chịu, nhưng vì cô vừa nói ra chuyện đó, chuyện ông Tổng Thống, nên tôi mới hỏi: Người ta đồn Nữ Ca sĩ Kim Loan được mời vào hát trong Dinh Độc Lập nhiều lần và từng có chuyện tình cảm thân thiết với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, chuyện đó có không?

KL: Như Loan nói trước đó, anh chưa hỏi Loan đã nói là tự dưng người ta bày ra cái chuyện kỳ cục ấy, Loan chắc những người bầy đặt chuyện đó có ý muốn làm mất uy tín của ông Thiệu lúc ông tranh cử độc diễn. Họ muốn ông ta mang tiếng lăng nhăng, bồ bịch với nữ ca sĩ, những nữ ca sĩ ở Sài Gòn thì họ đâu dám ghép với ông ấy, họ lựa người đi ngoại quốc không cãi được họ gán tội. Nếu năm ấy Loan còn ở Sài Gòn, nghe chuyện ấy chắc Loan đã làm toáng lên rồi. (cười…).

Nhà báo: Nhưng có lần nào Kim Loan vào hát trong Dinh Độc Lập không?

KL: Thưa không. Không. Loan đã nói với anh là Loan chưa một lần vào Dinh Độc Lập.

Nhà báo: Cô từng đến hát ở Câu-lạc-bộ Huỳnh Hữu Bạc, trong phi trường quân sự Tân Sơn Nhất?

KL: Loan đến hát nhiều lần ở Hội Quán Hùynh Hữu Bạc. Không quân, Hải quân, tất cả các binh chủng, nơi nào mời Loan hát, Loan cũng đến, thân vui như anh em trong nhà, đâu có chuyện gì. Bấy giờ có ông Nguyễn Cao Kỳ và bà Nguyễn Cao Kỳ, thí dụ vậy, Loan thường hát trong Không quân, có lần gặp ông bà trong Hội Quán, Loan thấy bà Nguyễn Cao Kỳ bả đẹp quá — bả mặc cái áo gì mà chỉ có một bên tay áo, đẹp và lạ quá, Loan cứ mê mẩn nhìn ngắm bả hoài. Má của Loan cùng đi, ngồi bên Loan, nói nhỏ với Loan:

- Con đừng có nhìn bà ấy như vậy chứ! Bà ấy tưởng con mê ông chồng bả, con nhìn ông chồng bả, lôi thôi lắm đấy.

Có lần ở Hội Quán Không Quân, hát xong Loan định ra về thì nhiều ông xúm lại xin Má Loan đừng cho Kim Loan về. Loan hỏi “Tại sao vậy?” Có ông nói: “Ông Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ sắp đến.”

Loan nói:

- Ông ấy đến thì ông ấy đến. Sao lại không cho tôi về?

Một ông Đại úy nói với Mẹ của Loan:

- Con quỳ con lạy bác, bác ơi, bác đừng cho cô ấy về.

Ông Đại úy biểu Loan ngồi xuống. Loan vừa đứng lên định đi ra thì “Ổng” bước vào, thành ra tất cả mọi người cùng đứng lên để chào “ổng”. Kẹt rồi. Loan phải ngồi lại. Lần ấy Loan có nói chuyện với ông Phó Tổng thống một lúc.

Ổng hỏi Loan: “Nhà cô ở đâu?”. Ổng nói “Tôi hay ăn phở số 1 gì đó đường Trương Tấn Bửu…”

Chỉ có lần đó Loan được nói chuyện với một ông lớn trong chính quyền, chứ còn mình là người dân, làm sao quen được các ông ấy. Ngày xưa ở Sài Gòn, anh có cách nào gặp được ông Tổng Thống, anh nói tui nghe coi! (cười…).

Nhà báo: Từ ngày sang sống ở Đức có lần nào Kim Loan gặp ông Nguyễn Cao Kỳ hay ông Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không?

KL: Thưa anh, ông Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thì Loan không có gặp lần nào hết. Mà nói thiệt, nếu Loan gặp ông Thiệu, Loan sẽ hỏi:

- Thưa Tổng thống, tôi không gặp ông lần nào, tại sao lại có chuyện kỳ cục vậy?

Bị oan, tức thì hỏi vậy thôi, Loan biết là ông Tổng thống cũng là nạn nhân của chuyện đồn với ác ý. Nhưng Loan nghĩ những người có trách nhiệm phải nói chuyện đó không có. Loan thấy bà Thiệu vô tình quá đỗi, là vợ của ông Tổng Thống, bả phải biết ông chồng bả có làm cái việc đó hay không! Đáng lý bả phải đính chánh cho ông chồng bả, bả phải giữ danh dự cho Loan, nhưng bả đã không làm việc đó. Vì thế Loan nói thiệt là Loan có sự thất vọng về bà Nguyễn Văn Thiệu.

Còn ông Nguyễn Cao Kỳ thì có một lần Loan gặp hai ông bà ăn phở ở Bolsa, Loan có lại chào Thiếu Tướng, ổng chào lại và.. ừ.. ừ, cười.. cười.. rồi thôi. Với ông Nguyễn Cao Kỳ, Loan không có chuyện gì đáng nói cả.

ĐẠI CỒ VIỆT

Ký Giả Nguyệt San VĂN HÓA

———-

Tôi với Nàng đây không biết nhau
Mà tôi thương tiếc bởi vì đâu?
Mỹ nhân tự cổ như danh Tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu…!

Sáu mươi năm xưa, những năm 1940 Thế Kỷ Hai Mươi, Thi Sĩ Nguyễn Bính làm Thơ như thế:

Tự ngàn xưa những người đàn bà đẹp như những ông Tướng có danh.. Đều không cho người đời thấy mình bạc đầu…

Hôm nay, viết đến đây, tôi buồn, bắt chước Thi Sĩ Nguyễn Bính tôi mần Thơ:

Tôi với Nàng đây không biết nhau
Mà tôi cảm khái bởi vì đâu?
Mỹ nhân kim nhật như Mạt Tướng
Giai hứa nhân gian kiến bạch đầu..!

Những người Đẹp bây giờ như những Tướng Hèn.. Đều để người đời thấy họ già lão.

Kim LoanBốn mươi năm xưa tôi không được quen biết với các nữ ca sĩ nói chung và nói riêng tôi không được quen biết Nữ Ca sĩ Kim Loan. Tôi chỉ vài lần nhìn thấy cô hát trên màn ảnh TiVi. Kể về nhan sắc thì năm xưa ấy cô thật đẹp, trông ngon lành quá đi.

Than ôi..! Đó là chuyện những năm 1968, 1969 ở Sài Gòn xanh thắm ngày xưa. “Ngày xưa” nghe như “tiền kiếp.” Trong cái gọi là “tiền kiếp” ấy không chỉ Nữ Ca sĩ Kim Loan trẻ đẹp, kẻ viết những dòng chữ này cũng trẻ, trông cũng được ghê đi. Đòi hỏi người đàn bà tuổi đời Năm Bó, Sáu Bó phải đẹp như năm Nàng mười bẩy tuổi, mười tám tuổi là đòi hỏi bậy bạ. Nhưng buồn thì ta vẫn cứ buồn. Thời gian tàn phá tất cả, Thời gian tàn ác nhất với Tuổi Trẻ và Nhan Sắc. Ngày xưa Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương làm Thơ:

Phải chăng từ độ ấy quan san
Trời đất cùng đau nỗi hợp tan
Riêng có mình Ta phai áo lục
Còn Em sau trước vẫn hồng nhan?

Hôm nay, bắt chứơc Vũ Thi Bá, tôi mần Thơ:

Phải chăng từ độ ấy quan san
Trời đất cùng đau nỗi hợp tan
Chẳng phải mình Ta phai áo lục
Mà Em nhan sắc cũng suy tàn…!

Than vãn, tiếc thương, sầu buồn thế là đã đủ. Hãy lấy làm vui khi được nhìn thấy Người Đẹp Ngày Xưa. Nàng có thể làm ta nhớ những năm xưa Nàng trẻ, ta trẻ. Ta nhớ và trái tim ta ấm lại. Trong dĩ vãng ta đã có những thời gian ta trẻ, ta vui, ta yêu…

Chàng ơi.. Đừng hỏi tại sao
Những nàng môi thắm, má đào nay đâu?
Tại sao khúc nhạc này sầu?
Sao không xanh lại mái đầu như tơ..?
Tuyết trắng ngày xưa,
Tình Yêu, Tuổi Trẻ.. bây giờ ở đâu?

Những năm 1970 Nhà Văn Vũ Bằng viết những chuyện ông nhớ thương dĩ vãng, ông gọi tập truyện ấy bằng cái tên THƯƠNG NHỚ MƯỜI HAI.

MƯỜI HAI của Nhà Văn là mười hai tháng. Hôm nay tôi viết những truyện bốn mươi năm xưa, tôi gọi bài viết của tôi là: THƯƠNG NHỚ BỐN MƯƠI

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 106 other followers