Đọc “Nếu Đi Hết Biển”

NẾU ĐI HẾT BIỂN, 196 trang, gồm một số bài phỏng vấn do người viết Trần văn Thủy thực hiện, ấn hành ở Hoa Kỳ Tháng 12 năm 2003, nhà “Thời Văn” xuất bản, trang 3 trong sách có hàng chữ “Chương trình nghiên cứu của University of Massachusetts Boston.” Trần văn Thủy là người từ Hà Nội đến Mỹ do lời mời của Trung Tâm William Joiner thuộc Đại Học Massachusetts Boston, là đạo diễn hai phim “Hà Nội trong mắt ai” và “Chuyện tử tế“. Việc thực hiện “Nếu đi hết biển” và xuất bản ấn phẩm ấy được Trung Tâm William Joiner chi tiền. Một người Việt Nam ở Mỹ là ông Nguyễn Hữu Luyện được nhiều người Việt ủy thác đứng ra kiện Trung Tâm William Joiner vì Trung Tâm ấy không vô tư trong việc nghiên cứu cộng đồng người Việt sống ở Mỹ để viết sách. Vụ kiện đang tiến hành.

Những người trả lời phỏng vấn của Trần văn Thủy trong “Nếu đi hết biển“: Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nhật Tiến, Cao Xuân Huy, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Trương Vũ, Wayne Karlin, Tuyết và Chris.

Kewin Bowen, Giám đốc Trung Tâm William Joiner Nghiên Cứu về Chiến Tranh và Hậu Quả Chiến Tranh, Đại Học Massachusetts Boston, Nghiên Cứu Trưởng Chương Trình Rockefeller Nghiên Cứu về Tiến Trình “(Tái) Xây Dựng Diện Mạo và Quê Hương của Người Việt ở Nước Ngoài” 2000-2003, viết lời giới thiệu “Nếu đi hết biển“. Bài giới thiệu bằng tiếng Anh đi kèm bài được dịch ra tiếng Việt, trong đó có đoạn:

Những tác giả phỏng vấn là những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính, với những tiếng nói đa dạng và phong phú. Nhà văn Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Trương Vũ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Hoàng Khởi Phong, vv…đã trình bày một cách thẳng thắn và công khai về một số đề tài cấm kỵ (ta-bu) trong sinh hoạt chính trị ở hải ngoại cũng như Việt Nam, và ảnh hưởng của chúng trong lãnh vực sáng tác.”

Những tác giả phỏng vấn.. ” là câu dịch sai. Bản Anh ngữ “Those interviewed include the esteemed and profound of Vietnamese thinkers and writers..”: “Những người được phỏng vấn..”. “Những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính” trong “Nếu đi hết biển” chỉ trả lời những câu hỏi. Cũng trong Lời Giới Thiệu có đoạn:

Chúng ta mang một niềm tri ân sâu sắc với những cá nhân đã dũng cảm đứng đầu gió để tham dự vào cuộc đối thoại này.

Trả lời vài câu hỏi, dù người hỏi có là người nước Bắc Cộng, mà người trả lời đang sống ở Mỹ Quốc cũng phải có “dũng khí ” ư ? Đao to, búa lớn quá dzậy? Mà “cuộc đối thoại” nào? Ai đối thoại với ai? Trong “Nếu đi hết biển“, những “nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc” chỉ trả lời những câu hỏi của anh Cán Cộng, nếu có đôi lời nói qua, nói lại thì cũng chỉ quanh quẩn trong đề tài được người hỏi đưa ra; đây là “cuộc phỏng vấn”, gọi đây là “cuộc đối thoại”, qua nhận xét ngu dzốt của tôi, tôi e không đúng. Cũng không hẳn là cuộc phỏng vấn, nó như cuộc ông thầy xét bài học trò, đàn anh xét hỏi đàn em. Tôi sẽ kể ra vài đoạn trong Nếu đi hết biển để chư quí vị độc giả thấy những “nhân vật dũng cảm” đã trả lời phỏng vấn như thế nào, và những chuyện được hỏi trong “Nếu đi hết biển” là những chuyện gì mà gọi là những “đề tài cấm kỵ trong sinh hoạt chính trị ở hải ngoại?”

Về tên sách “Nếu đi hết biển” tác giả kể chuyện ngày xưa còn bé, ông có bà vú nuôi rất thân thương, bà vú không biết chữ a, b, c, bà chỉ nghe mà biết được nhiều chuyện, bà thường kể những truyện thơ nôm cho ông nghe. Một hôm ông hỏi bà từ làng ông cứ đi mãi, qua hết những làng ông biết tên trong vùng thì đi đến đâu, bà vú trả lời đi đến biển, ông lại hỏi đi hết biển thì đến đâu, bà vú trả lời đi hết biển thì đến đâu bà không biết. Tác giả nhớ mãi câu hỏi và câu trả lời ấy. Mấy chục năm sau ông biết là “nếu đi hết biển, qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làng mình.” Đó là lời tác giả viết trong chương “Mấy lời rào đón” của “Nếu đi hết biển“.

Đến những năm ở vào cái tuổi tam thập nhi lập, ông Trần văn Thủy biết là cứ đi mãi người ta sẽ trở về chỗ người ta bắt đầu đi….. Kỳ diệu quá đỗi, trái đất tròn! Thưa ông Trần văn Thủy, nếu ông có lòng thương mà dậy cho bọn người Việt trốn nạn cộng sản chúng tôi biết chân lý trái đất tròn và sự kỳ diệu cứ đi mãi sẽ đến chỗ bắt đầu ra đi thì chúng tôi cám ơn ông. Nhưng dường như phát kiến ấy của ông, từ lâu rồi, từ thế kỷ trước, những em nhỏ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa chỉ mới lên ba cũng đã biết.

Nhưng thôi, ta hãy nói đến chuyện phải chăng người viết muốn dùng việc “cứ đi mãi sẽ trở về chỗ bắt đầu đi” để nhắn nhủ, một cách kín đáo, những người Việt bỏ nước ra đi rằng mấy người đi mãi rồi mấy người cũng trở về nước. Trở về nước thì tôi đồng ý với ông tác giả “Nếu đi hết biển” - Nđhb- không phải chỉ mình tôi mà rất nhiều người Việt sống ở nước người muốn trở về nước và sẽ trở về nước mình, nhưng phải nói rõ: việc chúng tôi về nước không phải là việc chúng tôi chấp nhận chế độ cộng sản bạo trị trên đất nước chúng tôi, việc chúng tôi trở về nước không có nghĩa là chúng tôi chịu để yên cho bọn cộng sản tiếp tục đàn áp, bóc lột đồng bào chúng tôi, để yên cho bọn cộng sản tàn phá, hủy hoại đất nước chúng tôi. Nếu ông tác giả muốn nói bóng gió rằng cuối cùng chúng tôi phải trở về đầu phục bọn cộng sản, thì thưa ông, chúng tôi không thế đâu. Việc chúng tôi về nước là một nhục nhã cho bọn cộng sản cầm quyền. Vì chúng tôi có đô-la Mỹ chúng nó mới mở cửa đất nước cho chúng tôi về, chúng nó quì gối trước đồng đô-la Mỹ. Những đồng đô-la Mỹ chúng tôi có là những đồng đô-la sạch, chúng tôi phải làm việc đổ mồ hôi, sôi máu mắt ở Mỹ chúng tôi mới có những đồng đô-la ấy. Việc chúng tôi trở về nước làm bọn cộng sản mau chết, chúng đang ngắc ngoải, việc chúng tôi về nước không làm tổn hại gì đến chính nghĩa của chúng tôi. Coi việc người Việt ở nước ngoài về nước là việc chúng tôi chấp nhận, chúng tôi thỏa hiệp, chúng tôi đầu hàng bọn cộng sản là ngu xuẩn. Ông cha, chú bác, anh em chúng nó, bọn Cộng Việt, đã chết nhăn răng, chết thối ở khắp nơi trên thế giới, chúng nó đang chết, chúng tôi thỏa hiệp với những thằng gian ác, những thằng giết người khi chúng sắp chết làm ký gì? Chúng tôi mang đô-la Mỹ về nước cho chúng nó hộc máu chúng nó chết lẹ hơn, để đồng bào chúng tôi thấy mặt thật hèn hạ của chúng nó, để đồng bào chúng tôi sớm thoát cảnh khổ. Chúng tôi có thể về thăm nước nhưng chúng tôi vẫn mong thấy, không những chỉ mong, chúng tôi tin chắc, chúng tôi biết chắc có ngày đất nước chúng tôi không còn lá cờ đỏ máu nào, chúng tôi mong thấy, chúng tôi biết chắc sẽ có ngày bọn đảng viên đảng cộng sản bị nhân dân chúng tôi nhổ vào mặt, bợp tai, đá đít, đuổi đi. Chuyện ấy đã xẩy ra ở Nga, Tiệp, Hung, BaLan, Lỗ, Đức.. Chuyện ấy sẽ xẩy ra ở Việt Nam, chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch!

Tác giả “Nếu đi hết biển” đặt câu hỏi trong Chương Hai của sách:

Tôi không biết trong lịch sử thịnh suy của đất nước tôi có thời điểm nào, hoàn cảnh nào dẫn đến sự ly tán lòng người sâu thẳm, dẫn đến việc hàng triệu người chạy ra biển ly hương bất cần mạng sống đến như thế không?

Théc méc trên của tác giả Nđhb, em nhỏ lên ba Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa cũng giải tỏa được cái rụp: Trong lịch sử Việt Nam làm gì có cuộc nhân dân ra đi nào đau thương, bi thảm đến như cuộc nhân dân bỏ nước ra đi sau năm 1975. Không có vì trước năm 1945 nước Việt Nam không có bọn cộng sản cầm quyền. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam có vài cuộc nội chiến nhưng không có bọn cầm quyền nào giết nhân dân tàn bạo, ác độc như bọn cộng sản. Vì bọn cộng sản giết chúng tôi, chúng tôi phải liều mạng ra đi. Chuyện dễ hiểu, dễ thấy quá, nhà đạo diễn điện ảnh không thấy hay sao mà phải théc méc?

Sau khi nêu théc méc trên, tác giả Nđhb viết tiếp:

Nhưng tôi biết rất rõ không ít người Việt xa xứ “qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi” mà cuối cùng không thể “trở về quê mình, làng mình” được.

Câu trên có hai nghĩa. Nghĩa đen là những người Việt ở hải ngoại không thể trở về được quê hương. Chuyện xẩy ra cho thấy những người Việt ở hải ngoại đã trở về nước, trở về đường hoàng, trở về và được đồng bào trong nước chào đón, quí mến. Không những chỉ trở về nước, người Việt hải ngoại còn trở về nước quá nhiều, quá đông, quá tưng bừng, quá dzui dzẻ, quá săng phú bọn cộng sản cầm quyền. Nhiều người Việt ở Mỹ về chơi Hà Nội, không thấy một ai trở về Mỹ kể chuyện họ đến thăm Lăng ông Hồ chí Minh. Sự có mặt của họ trong nước là bằng chứng cho nhân dân thấy chế độ dân chủ đi với chủ nghĩa tư bổn là tốt, chủ nghĩa cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa là hạng bét, là mẹc cà-đui, năm-bơ then! Tình trạng người Việt ở Mỹ về nước Việt Nam làm cho những người dân chủ-tư bổn Mỹ khoái chí nhất. Từ bao năm người Mỹ tốn bao nhiêu công sức, đổ bao nhiêu tiền của, bơ sữa vào nước Việt Nam để làm cho dân Việt biết lối sống Mỹ là tốt, ít nhất chế độ xã hội Mỹ cũng làm cho con người được no ấm, được sống thảnh thơi. Nay họ chẳng mất đồng đô-la teng nào, hàng hàng lớp lớp người Việt cứ phây phây về nước làm quảng cáo cho chế độ dân chủ của họ.

Nhưng chắc tác giả không muốn nói đến cuộc trở về theo nghĩa đen ấy, chắc tác giả muốn nói đến việc “có một số những người Việt xa xứ không bao giờ có thể trở lại là người Việt Nam”. Nhưng tại sao những người Việt ở nước ngoài lại không thể trở lại là người Việt Nam? Tất nhiên những thế hệ cháu chắt của những người Việt ra sống ở nước ngoài trong ba thập niên cuối của thế kỷ 20 sẽ trở thành công dân của quốc gia trong đó họ ra đời, quốc gia trong đó họ lớn lên. Nhưng lớp người Việt bỏ nước ra đi những năm 1980, 1990.., thế hệ người Việt như các ông Hoàng Khởi Phong, Nhật Tiến, bà Hoàng Bắc ..vv.. đã có bao giờ hết là người Việt Nam đâu? Và chúng tôi, những người Việt Nam phó thường dân đang sống ở Mỹ, chúng tôi vẫn là người Việt Nam, chúng tôi Việt Nam từ đầu ngón cẳng cái đến đầu sợi tóc bạc, có bao giờ chúng tôi không phải là người Việt Nam mà ông sợ chúng tôi sẽ không bao giờ có thể trở lại là người Việt Nam. Phải chăng ông muốn nói rằng “những người Việt không đầu phục bọn đảng viên đảng cộng sản sẽ không còn là người Việt Nam?” Nếu ông muốn nói như thế thì tôi chán ông quá! Bọn đảng viên đảng cộng sản mới không phải là người Việt Nam, chúng tôi là người Việt Nam, ít nhất chúng tôi cũng là người Việt Nam hơn bọn đảng viện đảng cộng sản.

Tác giả Nđhb viết trong cái gọi là “Mấy lời rào đón“:

Thưa bạn đọc!

Cho tôi được thưa “bạn”, tôi quan niệm đọc của nhau là bạn được rồi. Người cao niên hơn tôi, người ít tuổi hơn tôi đều được coi là bạn, bạn vong niên. Tôi thấy chữ “bạn” nó gần gũi, cổ xưa và thân thiện quá. Thật bất hạnh nếu như trên đời này ta không có bạn.

Rồi tôi bỗng giật mình, chợt nhận ra rằng, biết đâu, trong tình cảnh hiện tại của người Việt Nam ta, lỡ có người giận dữ mà rằng: “Thằng Việt Cộng! Ai bạn bè với mày!” Thế là tôi chột dạ, lại phải cân nhắc sao cho phải.

Làm gì có chuyện cứ “đọc của nhau” - rõ hơn và đúng ngôn ngữ Việt Nam hơn là “đọc bài viết của nhau” - là “bạn nhau“. Còn lâu, thưa ông đạo diễn! Tôi đặt lại câu hỏi: “Anh Việt Cộng! Anh coi tôi là bạn anh hồi nào?” Khi tôi sống trong nước, có lúc nào anh coi tôi là bạn anh không? Không những chỉ không, anh còn coi tôi là thằng phản động, thằng có tội với chế độ, tôi chỉ không ưa Đảng anh vì Đảng anh đày đọa nhân dân, Đảng anh làm nhân dân đau khổ, anh bỏ tù tôi mút mùa Lệ Thủy, anh muốn tôi chết trong tù, anh bắt tôi phải nhận tôi “có tội với nhân dân, có tội với tổ quốc!” Sau bao năm tù đày tôi may mắn không chết, tôi bánh xe lãng tử sang được xứ Mỹ, người Mỹ thương hại tôi, họ cho tôi sống bình yên ở xứ họ, cho tôi sống nhờ họ, họ nuôi tôi, nuôi vợ tôi, anh theo tôi sang Mỹ và anh gọi tôi là “bạn”! Dễ và giản dị thế sao anh? Anh coi chúng tôi là thứ người gì? Anh có thể nói “bỏ tù anh đâu phải tôi!” Không phải đích thân anh thì đám anh em anh bỏ tù tôi, anh em anh là anh. Anh cướp nhà tôi, anh cho tôi vào tù, anh đuổi mẹ tôi, vợ con tôi ra nằm vỉa hè, anh hạ nhục tôi, anh bôi cứt lên mặt tôi, anh đè ngửa vợ tôi ra anh chơi, anh lột truồng con gái tôi anh hiếp, anh không cho con tôi đi học, anh đẩy con tôi sang chết mất xác ở Kam-pu-chia..! Thế rồi bi giờ ở xứ Mỹ anh hiền khô, anh gọi tôi là “bạn” anh. Anh tử tế quá anh. Và anh chờ đợi tôi lỏn lẻn nhận anh là “bạn” tôi? Thưa anh Việt Cộng, anh có điên không anh? Nếu anh không điên, tôi sợ anh ngu. Trước khi anh bả lả, anh òn ỉ với người nào, anh cũng phải nhớ xem anh từng đối xử với người ta ra làm sao chứ! Tôi sẽ xấu hổ lắm nếu tôi có người đảng viên đảng cộng sản là bạn.

Thật bất hạnh nếu như trên đời nay ta không có bạn..” Đúng vậy, thưa ông đạo diễn. Thường thì lý do làm ta không có bạn là vì ta đểu quá, ta ăn ở chó má quá nên người ta không ai thèm làm bạn với ta. Ông viết như thế có sợ bọn đầu xỏ Cộng chúng nó nghĩ ông chửi xéo chúng nó không? Khi những ngụy bạo quyền cộng sản các nước Đông Âu theo nhau xuống cống, khi tượng Thánh tổ Lê-nin bị người Nga tròng xích sắt vào cổ, kéo ra cho nằm ở bãi rác, khi vợ chồng Chủ Tịt Sô-xét-cu xứ Ru-ma-ni bị dân Lỗ kê súng vào đầu bắn bỏ, khi “đồng chi Hô-nách-cơ vĩ đại” của bọn cộng Hà Nội bỏ đảng chạy lấy người, khi Chủ Tịt Na-dzi-bu-la xứ A-gha-ni-tan bị lôi ra treo cổ.., tôi nghĩ đến chuyện như thế này là anh Thiến Heo kiêm Hoạn Lợn Đỗ Đít hết chỗ đi chơi rồi! Trên trái đất chỉ còn loe nghoe, leo heo mấy nước còn bọn cộng sản cầm quyền: bọn Tầu Cộng thì ghét cay, ghét đắng bọn Việt Cộng, hai thằng từng đánh nhau thằng hộc máu mồm, thằng sồm máu mũi, Miên Cộng, Lào Cộng không ưa Việt Cộng, Bắc Hàn Cộng không có tình nghĩa gì với bọn Bắc Việt Cộng, Bắc Việt Cộng chỉ còn có Cu Ba là bồ tèo. Mà Cu Ba thì đói dzài, đói dzẹt, đói teo… Cu..Ba, teo luôn Cu Bốn, Cu Năm, Cu Cộng nào cũng teo ráo trọi. Bắc Việt Cộng nhẵn thín không còn có bạn!

Nhà đạo diễn viết trong “Mấy lời rào đón“:

Trên tay quí vị và bạn đọc không phải là một cuốn sách. Chắc chắn là như vậy, chứ chẳng vì khiêm tốn giả vờ. Nói đến sách, người ta thường chờ đợi trong đó: tri thức, văn chương, tư tưởng hoặc học thuật.

Từ đầu năm 2001 một số nhà nghiên cứu người Việt, người Mỹ đã động viên tôi và viết thư giới thiệu tôi với Trung Tâm William Joiner để tôi có thể tham gia viết một cái gì đó. Quả thực là bởi nhiều lẽ, tôi rất ngần ngại. Sau rồi, nghĩ lại, không đi thì tiếc, cuối cùng tôi cũng đã có mặt trên đất Mỹ dài dài. Tôi đã đi nhiều nơi, gặp nhiều người, tới trên hai chục trường đại học và thành phố thuyết trình, hội thảo và chiếu mấy bộ phim tài liệu của chúng tôi đã làm. Rồi công việc đưa đẩy, tôi lui tới nước Mỹ nhiều lần, bay trên ba chục chuyến bay trong nội địa nước Mỹ. Tôi thấy được nhiều điều và cũng vỡ ra được nhiều điều. Nếu bén gót được đệ tử, cháu chắt cụ Nguyễn Tuân thì tôi có thể dám viết một cuốn sách với tựa đề “Nước Mỹ rong chơi”. Viết được thế mới sướng. Nhưng tôi đã lỡ theo cái nghiệp, cái cách làm phim tài liệu và chỉ có cái nhìn rất hạn hẹp, rất mộc mạc của người làm phim tài liệu.

(…..)

Bởi vậy, đây thuần túy chỉ là những ghi chép thô sơ từ cuộc sống, từ công việc của tôi cùng với những ý kiến đóng góp, trao đổi trong tình thân của một số quí vị mà tôi được coi là bạn.

Vậy, nếu ai muốn tìm kiếm những điều cao siêu về tư tưởng, văn chương hoặc soi mói những điều kém cỏi về lập trường, quan điểm xin hãy bỏ qua, đừng đọc tiếp.

Quyển sách là quyển sách, chỉ có chuyện nó là quyển sách hay hay nó là quyển sách dzở. Nếu “Nếu đi hết biển” không phải là quyển sách thì nó là cái gì? Chúng tôi, một số người Việt tị nạn cộng sản sống ở Mỹ, nếu chúng tôi đọc “Nếu đi hết biển“thì không phải để tìm trong đó những điều cao siêu về tư tưởng, văn chương, mà là vì trong đó các anh nói với nhau về chúng tôi, chúng tôi đọc để xem các anh nói với nhau những gì về chúng tôi. Anh không thể chửi bố người ta rồi trâng tráo nói không thích thì đừng nghe, anh không thể viết chửi mẹ người ta rồi lởm khởm bảo người ta đừng đọc.

Và “Rong chơi nước Mỹ” có lẽ đúng tiếng Việt hơn là “Nước Mỹ rong chơi.” Nhưng thôi, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ ấy, chúng ta hãy xem những người bạn của tác giả Nđhb nói những gì về chúng ta.

Trong những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc kiêm bạn hữu của tác giả Cán Cộng Trần văn Thủy Nđhb, hình như, chỉ có ông Cao Xuân Huy là người có qua mấy năm tù cải tạo, còn tất cả đều không ai phải qua một ngày tù đày nào ở quê nhà; ông Hoàng Khởi Phong chạy thoát trước ngày 1 tháng Năm 1975, các ông bà khác đều là thuyền nhân vượt biển đến Mỹ. Hai ông Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến vượt biên nhưng giờ đây đã có tác phẩm tiểu thuyết được ấn hành và bán ở trong nước. Và theo lời tác giả Nđhb, tất cả các ông bà ấy đều là bạn của tác giả. Khi đã là bạn nhau người ta thường không nói với nhau những chuyện có thể làm mất lòng nhau. Muốn biết sự thật về một cộng đồng người, huỵch toẹt là muốn biết người ta nghĩ gì về mình, về phe đảng mình, mà chỉ hỏi những người bạn mình thì chán chết. Không những chỉ chán mà đó còn là việc làm ngớ ngẩn. Đại đa số người Việt ở Mỹ căm thù cộng sản, muốn thấy nước nhà thoát ách cộng sản cầm quyền, người dân được hưởng tự do, dân chủ, tìm hiểu tâm trạng những người đó mà lại đi hỏi những người có cảm tình với cộng sản thì hỏi làm quái gì cho mất thì giờ! Anh có thể nói “Tôi thích hỏi ai tôi hỏi. Anh không có quyền bắt tôi phải hỏi người này, không được hỏi người kia!” Đúng dzậy. Tôi cũng có quyền nói: “Muốn biết tâm trạng chúng tôi, muốn biết tại sao chúng tôi căm thù cộng sản, tại sao chúng tôi không muốn thấy bọn đảng viên cộng sản theo chúng tôi đến xứ Mỹ, tại sao chúng tôi không ưa bọn bám đít cộng sản, sao anh không hỏi thẳng chúng tôi? Sao anh không phỏng vấn những người của chúng tôi như Doãn Quốc Sĩ, Võ Phiến, Nguyễn Văn Chức? Sao anh không hỏi Xuân Vũ - anh đến Mỹ từ năm 2001, Xuân Vũ mới qua đời tháng 12, 2003 - anh có thể hỏi Xuân Vũ “Anh viết Đường đi không đến.. Tháng 5, 1975, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn của chúng tôi nói “Chúng ta đã đi và chúng ta đã đến”. Bây giờ anh nói sao? Chúng tôi đến hay chúng tôi không đến?” Sao anh không hỏi Nguyễn Chí Thiện: “Sống ở Mỹ sáu, bẩy năm rồi, anh đã làm được những gì ở Mỹ, anh có hối tiếc đã bỏ nước ra đi không, bây giờ anh nghĩ gì về những người cộng sản chúng tôi, bây giờ anh muốn đất nước mình sẽ như thế nào? Anh có muốn về nước không?” Sao anh không hỏi hai bà chủ báo của chúng tôi là bà Nhã Ca và bà Hoàng Dược Thảo? Tôi chắc hai bà chủ báo ấy sẽ nói với anh nhiều điều có ích cho anh hơn. Giản dị nhất và hay nhất, hợp lý nhất là sao anh không gặp, không hỏi ngay ông Nguyễn Hữu Luyện, người đứng đơn kiện Trung Tâm William Joiner? Sao anh không hỏi ông Luyện một câu cần hỏi như “Sao ông chống Trung Tâm William Joiner?” Muốn “hòa giải” với những người chống mình thì việc cần làm, việc phải làm là nói chuyện ngay với những người chống mình, muốn “hòa giải” với những người chống mình mà lại chỉ lẹo tẹo hỏi chuyện những người bạn mình thì hỏi làm quái gì cho mất thì giờ! Theo tôi, câu anh cần hỏi nhất là “Các anh muốn những người cộng sản chúng tôi làm những gì để các anh có thể hợp tác với chúng tôi trong việc đem hạnh phúc đến cho nhân dân ta?” Đến Mỹ, anh có thể ngỏ ý muốn gặp ông Nguyễn Hữu Luyện, ông Nguyễn Chí Thiện, gặp để nói chuyện. Như thế mới là chuyện đối thoại có ích. Nếu hai ông kia không chịu gặp anh, anh có quyền nói: “Hai ông ấy không dám gặp tôi.”

Thưa ông đạo diễn Trần văn Thủy, ông sang Mỹ, ông đi chỗ nọ, chỗ kia bằng tiền của Trung tâm William Joiner, quyển “Nếu đi hết biển” được in ra bằng tiền của Trung tâm William Joiner, xin ông cho biết quyển ấy có được phát hành trong nước Việt Nam bị bọn cộng sản cầm quyền hay không? Hay quyển ấy chỉ được bán ở Mỹ? Nếu quyển ấy được in ra chỉ cốt để cho người Việt ở Mỹ đọc thôi thì thưa ông, tôi thấy có thể là ông đã làm phí một khoản tiền của Trung tâm William Joiner. Trong “Nếu đi hết biển” không có chuyện gì về đám người Việt ở Mỹ chúng tôi mà chúng tôi chưa biết. Chỉ là những lời sỉ vả, nhiếc móc, rè bỉu, những lời khinh bỉ chúng tôi đầu óc chật hẹp, ngu xuẩn, thua, bỏ chạy mà không biết thân, vẫn hung hăng con bọ xít la hét đả đảo cộng sản, cũng chỉ là những lời chê chúng tôi nhỏ nhen, chia rẽ, ghen tị, chụp mũ, vu cáo. Không oan, thưa ông, quả thật là chúng tôi có những cái tật tồi tàn như thế. Chúng tôi vẫn thường tự sỉ vả chúng tôi về những cái tật hèn mọn ấy. Nhưng hình như không chỉ riêng chúng tôi tệ mạt như thế mà dân tộc nào cũng có những cái tật nhỏ nhen, ti tiện, vu cáo, ghen tị, chia rẽ, đểu cáng.. Nhiều dân tộc còn đểu, còn khốn nạn hơn chúng tôi. Chắc ông cũng biết chuyện sau khi bọn cộng sản mất quyền, những kho hồ sơ mật ở Nga, ở Đức Cộng được khui ra, có những vụ bạn hữu, anh em, vợ chồng tố cáo nhau, vu cáo nhau là phản động, có những người đi tù mút chỉ cà tha, những người chết thảm trong tù vì bị bạn, bị chồng, bị vợ tố cáo với bọn mật vụ. Chúng tôi biết chúng tôi có những cái xấu đó, nhưng chúng tôi có cái hay là chúng tôi chống Cộng sản; là nạn nhân của bọn cộng sản, chúng tôi căm thù chúng, ra xứ người ba mươi mùa tuyết rơi rồi chúng tôi vẫn không nguôi lòng căm thù bọn cộng sản, chúng tôi kiêu hãnh vì tính chất không thay đổi ấy của chúng tôi.

Chúng tôi căm thù bọn cộng sản không phải chỉ vì những đau khổ cá nhân mà chúng tôi phải chịu, chúng tôi căm thù chúng vì chúng đày đọa đồng bào của chúng tôi, chúng tôi phải đuổi chúng ra khỏi chính quyền vì chúng còn cầm quyền ngày nào là nhân dân chúng tôi còn khổ ngày đó, chúng tôi không thể hợp tác với chúng vì chúng không hợp tác với chúng tôi, chúng bắt chúng tôi phải đầu phục chúng, mà chúng thì đã thất bại thê thảm trong việc mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Thực ra bọn cộng sản chưa lúc nào nghĩ đến chuyện mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Nhưng đó là một đề tài khác.

Chống Cộng? Trò Nhảm Nhí!

Đây là bài thứ hai tôi viết về quyển “Nếu đi hết biển“, tập phỏng vấn của Cán Cộng Trần văn Thủy, nhà đạo diễn hai phim “Hà Nội trong mắt ai” và “Chuyện tử tế“. Trần văn Thủy người Hà Nội, được Trung Tâm William Joiner mời sang Hoa Kỳ. Trung Tâm William Joiner thuộc Trường Đại Học Massachusetts Boston, có chương trình nghiên cứu về cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản sống ở Hoa Kỳ để viết sách. Vì Trung Tâm William Joiner mướn những cán bộ Bắc Việt Cộng làm cuộc nghiên cứu để viết sách ấy làm nhiều người Việt Nam tị nạn sợ kết quả cuộc nghiên cứu sẽ không được trung thực nên họ phản đối. Trung Tâm William Joiner làm ngơ, không để ý gì đến ước muốn ấy của cộng đồng người Việt nạn nhân của cộng sản nên cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ đã nạp đơn nhờ chính quyền Hoa Kỳ can thiệp vào vụ Trung Tâm làm việc không vô tư, việc kiện được ủy thác cho ông Nguyễn Hữu Luyện, nhân vật được coi là một “người tù kiệt xuất” của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Mọi khoản chi về việc Trần văn Thủy đến Hoa Kỳ và đi nhiều nơi ở Hoa Kỳ, gặp và phỏng vấn nhiều người Việt, tiền in quyển “Nếu đi hết biển” đều do Trung Tâm William Joiner đài thọ.

Trong Nếu đi hết biển - Nđhb - đạo diễn Trần văn Thủy phỏng vấn các ông Nhật Tiến, Cao xuân Huy, Nguyễn mộng Giác, Hoàng khởi Phong, Trương Vũ và bà Nguyễn thị Hoàng Bắc. Các vị vừa kể được Kevin Bowen, Giám Đốc Trung Tâm William Joiner, gọi là “những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính, với những tiếng nói đa dạng và phong phú…, những cá nhân dũng cảm đứng đầu gió..vv..” và được tác giả Nđhb gọi là “bạn“:

Nếu đi hết biển. Trang 19.

Bởi vậy, đây thuần túy chỉ là những ghi chép thô sơ từ cuộc sống, từ công việc của tôi cùng với những ý kiến đóng góp, trao đổi trong tình thân của một số quí vị mà tôi được coi là bạn.”

Ta hãy xem những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính của Trung Tâm William Joiner nói những gì khi họ trả lời những câu hỏi của người đến Mỹ từ Hà Nội. Trước hết đây là vài chuyện vặt trong Nđhb:

Chương Ba Nđhb, tác giả kể chuyện ông nhận được thư của một người bạn từ những năm xửa, năm xưa khi ông là cậu học trò tiểu học ở thị xã Nam Định. Năm 1954 ông bạn ông tránh họa cộng sản, di cư vào Nam, nhập ngũ Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, sau Tháng 4, 1975 bị đi tù cải tạo, 1978 được thả về, nhờ bà vợ lai Pháp được cùng vợ con sang Pháp năm 1983, sang sống ở Canada năm 1992. Đây là một đoạn trích trong Chương Ba Nếu đi hết biển:

Nđhb, Một bức thư.Trang 40.

Đầu tháng 10 năm 2002 tới Boston, tôi liền gọi điện thoại cho Đính và bạn tôi từ Montréal đã nhào sang. Ôm lấy nhau, nhìn vào mặt nhau, già rồi, già thật. Nhưng bạn tôi vẫn hiền lành, điềm đạm như ngày xưa. Cái đêm hội ngộ hiếm hoi trong đời sau nửa thế kỷ chờ đợi ấy, một thằng Việt Cộng và một thằng Ngụy nằm chung một phòng, chuyện trò râm ran đến tận khuya.

Một thằng Việt Cộng và một thằng Ngụy nằm chung một phòng, chuyện trò râm ran..! Thân tình, ngang hàng, hòa hợp hòa giải quá chừng chừng. Nhưng làm ơn nhớ dùm đây là chuyện xẩy ra năm 2002 ở thành phố Boston, nước Mỹ, tiền phòng khách sạn do thằng Mỹ trả hoặc do thằng Ngụy trả nếu thằng Ngụy mướn phòng. Làm ơn nhớ dùm nếu chuyện xẩy ra ở trong nước thì thằng Ngụy hốc hác, ho hen, hom hen, đói dzài, đói dzẹt, đói lõ đít, đau khổ, tuyệt vọng, nằm dzẹp lép trong trại tù khổ sai Bùi Gia Mập hoặc Xuyên Mộc, Xuân Phước, Gia Trung, thằng Việt Cộng béo núc nằm phây phây trong phòng lạnh khách sạn Palace, Kim Đô, Tân Sanh ở Sài Gòn tang thương đầy cờ đỏ, còn lâu thằng Việt Cộng nó mới ôm hun thắm thiết thằng Ngụy. Năm 2002, 26 năm sau ngày quân Bắc Cộng chiếm thành phố Sài Gòn, ở xứ Mỹ, thằng Việt Cộng vẫn gọi người bạn thân thưở ngày xưa còn bé của nó là thằng Ngụy! Thân phận thằng Ngụy, dưới mắt thằng Việt Cộng, khốn nạn, bệ rạc quá chừng. Không biết người bị thằng bạn Việt Cộng của ông gọi là “thằng Ngụy” trong tập “Nếu đi hết biển” nghĩ sao khi đọc những giòng chữ thằng Việt Cộng bạn xưa của ông gọi ông là “thằng Ngụy!”!

Chương Bốn Nđhb. Thầy mù xem voi, có đoạn viết về ông Hoàng Xuân Hãn ở Paris. Đạo diễn Trần văn Thủy, tác giả Nđhb, nhiều lần đặt máy quay phim trong nhà riêng của ông Hoàng Xuân Hãn, để phỏng vấn và quay phim ông bà chủ nhà cùng nhiều nhân vật Việt được mời.

Nếu đi hết biển. Trang 53, 54.

Trước ống kính máy quay, ông (Hoàng Xuân Hãn. CTHĐ viết thêm cho rõ) cũng đã trầm tư kể lại những mất mát to lớn của gia đình ông ở quê nhà trong thời kỳ cải cách ruộng đất. Ông đặc biệt quan tâm đến sự thịnh suy của nông thôn Việt Nam. Ông nói:

- Sau cải cách ruộng đất đã có sửa sai. Ông cụ đã nhìn thấy cái sai. Vậy là may. Cái hậu quả của sai lầm trong cải cách ruộng đất không chỉ trên bình diện kinh tế, chính trị, văn hóa. Theo chỗ tôi hiểu, cái mất mát lớn nhất bởi những sai lầm trong cải cách ruộng đất là nó đã phá vỡ mất nông thôn Việt Nam và phá vỡ mất lòng tin.

“… đã có sửa sai. Ông cụ đã nhìn thấy cái sai. Vậy là may..!” Mèn ơi..May ký gì không biết nữa! Nó đã giết không biết bao nhiêu đồng bào vô tội của nó rồi nó nói nó sai và để nó sửa sai. Nó sửa hay không sửa thì các nạn nhân của nó cũng đã chết thảm! Cái nhà ông được gọi là “học giả” này phải chăng là “học giả giả?” Câu nói lẩm cẩm của ông đến em nhỏ lên ba nó nghe cũng không lọt lỗ tai nó. Cứ làm sai, cứ làm chết người, cứ giết cà trăm ngàn người, rồi tỉnh queo nói giết người như thế là sai, thôi không giết người theo kiểu ấy nữa, là xong, là làm đúng, là tốt? Là không có tội gì cả? Đâu có dễ thế được! Chỉ có bọn cộng sản mới làm và nói ngạo ngược như thế. “Ông cụ” của ông HX Hãn đây là anh già Hồ chí Meo, chính danh thủ phạm vụ Việt Cộng giết người ở Bắc Việt trong vụ án mạng tập thể gọi là vụ cải cách ruộng đất, chính danh thủ phạm vụ Việt Cộng giết người tập thể ở Huế Tết Mậu Thân. Anh già “Ông cụ” giết người ấy phải bị nhân dân lôi cổ ra pháp trường xẻo thịt chứ không chỉ lép nhép nói vài lời sửa sai là xong, như nhân dân Lỗ dí súng vào đầu vợ chồng tên Chủ Tịt Đảng Lỗ Cộng Sô-xét-cu bắn bỏ, như nhân dân Ác-ga-nít-tan treo cổ tên Na-dzi-bu-la, Chủ Tịt Đảng Ác cộng. Tội của Sô-xét-cu, Na-dzi-bu-la còn nhẹ hơn tội của anh già “Ông cụ” trong “Nếu đi hết biển.” Phúc bẩy mươi đời cho “học giả”, ông sống gần như cả đời ông ở nước Pháp, ông mà sống ở trong nước Bắc Cộng sau năm 1954 thì đời ông - bảo đảm chăm phần chăm - nát như cái mền Sakymen không khác gì đời tư các ông Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi!

Chương Sáu. Trò chuyện với nhà văn Nhật Tiến. Trang 71.

Trần Văn Thủy: Vậy hẳn là chủ trương hòa hợp và hòa giải dân tộc mà anh đã theo đuổi từ lâu, cũng nằm trong cái tâm thức hướng về dân tộc ấy?

Nhật Tiến: Đúng vậy! Tôi chưa và cũng chẳng bao giờ lại chủ trương hòa giải, hòa hợp với độc tài hay bạo lực.

Đương sự nói ông không “hòa giải, hòa hợp với độc tài hay bạo lực”, nhưng ông đã làm một số việc, nói một số lời, để người Việt hải ngoại nghĩ là ông cộng tác với bọn Việt Cộng. Như vậy phải chăng ông thấy bọn Việt Cộng không phải là bọn đôc tài, là bọn không dùng đến bạo lực trấn áp, giết tróc nhân dân?

Chương Bẩy Nđhb. Nguyễn Thị Hoàng Bắc. Trang 79, 80.

Trần Văn Thủy (TVT): Xin chị nói cho đôi điều về tiểu sử của chị?

Hoàng Bắc (HB): Anh cần “lý lịch” hay là “trích ngang”?

TVT: Chị vui tính thật, nhưng đừng gây sự với tôi. Độc giả muốn biết về chị, đôi chút cũng được.

HB: Theo anh, tôi nên bắt đầu từ lúc nào đây? Bắt đầu từ cái mốc năm 75 nhé, vì trước đó ba mươi năm, cuộc đời tôi cũng na ná như tất cả mọi người khác: sinh ra, lớn lên, học hành, làm việc, lập gia đình, sinh con, đẻ cái.. vv.. có lẽ.. cái cuộc đời nhàm chán! Tháng Ba năm 75, tôi đang dậy học ở Nha Trang thì xẩy ra cái gọi là biến cố năm 75. Sau đó người miền Nam đặt tên là ngày “Quốc Hận”, miền Bắc gọi là ngày “Giải Phóng”.

TVT: Tôi nghĩ có lẽ không hẳn là như thế. Tôi thấy có nhiều người gốc miền Bắc gọi là ngày “Quốc Hận”. Thí dụ những người nổi tiếng như ông Nguyễn Cao Kỳ, Trần Kim Tuyến, Cao Văn Viên, Vũ Văn Mẫu, Phan Huy Quát, Lê Nguyên Khang, Trần Văn Tuyên. Ngược lại có nhiều người gốc miền Nam gọi là ngày “Giải Phóng”. Thí dụ ông Lê Duẩn, ông Tôn Đức Thắng, ông Phạm Văn Đồng, ông Phạm Hùng, ông Huỳnh Tấn Phát, ông Nguyễn Hữu Thọ, ông Võ Văn Kiệt, ông Phan Văn Khải, ông Trần Văn Giàu, ông Trần Bạch Đằng.. Đó là những “anh Hai” thứ thiệt.

Tác giả Nđhb chơi chữ khi nói đến những tiếng Quốc Hận, Giải Phóng và người Nam, người Bắc. Người hỏi và người trả lời đã không thấy, hay làm như không thấy, không có, tình trạng sau năm 1954 thực sự có hai nước Việt Nam: Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa và nước Bắc Cộng, văn huê lòng thòng lỏng thỏng là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Những người Quốc Gia VNCH gọi ngày 30 Tháng Tư 1975 là ngày Quốc Hận; bọn Huỳnh Tấn Phát, Phạm Hùng, Nguyễn Hữu Thọ ..vv.. sinh trưởng trong miền Nam nhưng bám đít bọn Bắc Cộng, những tên ấy bị nhân dân Quốc Gia VNCH khinh bỉ, bị ngay cả bọn Bắc Cộng cũng khinh bỉ, những tên đó không đáng được nói đến. Những nhân vật Quốc Gia VNCH chỉ được tác giả Nđhb “cho” một tiếng “ông”: “…như ông Nguyễn Cao Kỳ..” rồi sau đó kể tên trống không: “..Trần Kim Tuyến, Cao Văn Viên, Vũ Văn Mẫu.. vv..” Các nhân vật nước Bắc Cộng được kính trọng gọi bằng “ông“, mỗi trự đều có tiếng “ông” đi trước tên: “..ông Lê Duẩn, ông Tôn Đức Thắng, ông Phạm Văn Đồng..” Và còn chỉ rõ: “.. Đó là những “Anh Hai” thứ thiệt” để phân biệt với những nhân vật Quốc Gia VNCH mà tác giả cho là bọn “anh Hai” giả mạo. Trong số những nhân vật Quốc Gia VNCH kể tên trên đây có hai ông đã chết thảm trong lao tù cộng sản: ông Phan Huy Quát chết trong Nhà Tù Chí Hòa, ông Trần Văn Tuyên chết trong trại tù khổ sai ở xứ Bắc Cộng.

Bà Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc có cái may mắn không bị bọn Việt Cộng cho dzô tù ngày nào nên bà nói không đúng lắm về cái quái thai gọi là “lý lịch trích ngang” được dùng trong nhà tù Việt Cộng. Không có “trích ngang” suông mà có “lý lịch” và “lý lịch trích ngang”, tức khai vắn tắt.

Nđhb. Trang 81.

TVT: Thế chị qua đây bằng đường nào?

HB: Tôi thuộc diện vượt biển. Sau 1975, tôi được giữ lại dạy ở trường gọi là giáo viên lưu dụng, và vẫn luôn được nhắc nhở rằng, khi Hitler lên cầm quyền ở Đức đã ra lệnh sa thải và cầm tù hoặc giết tất cả các giáo viên chế độ cũ, tôi đã được nhà nước lưu dụng (nghĩa là không đuổi dạy, tha không bỏ tù, không giết!)

Ba mươi mùa cóc chín trước đây cô giáo đã được “Nhà nước”, tức Đảng, ưu ái tha không bỏ tù, không giết, cho dạy học tiếp tục! Ơn Đảng với cô như trời cao, biển rộng. Uổng quá. Được Đảng sương đến sế thao cô giáo không ở nại với Đảng, cô giáo nại xuống thuyền cô giáo vượt biên cô giáo sang Mỹ? Cô giáo đẻ bọc điều nên cô vượt biên an toàn, dễ dàng, cô một chuyến rời gót ngọc xuống thuyền bỏ nước ra đi là xong ngay, cô không bị bọn công an VC Nhà Bè, Phước Tỉnh, Vũng Tầu, Phan Thiết, Rạch Giá, Cà Mâu nó tó, nó choàng cái bảng “Phản quốc” lên ngực cô, nó dẫn cô đi biểu diễn ở chợ, cô không bị nó tống lên Trại Đồng Xoài vài mùa sầu riêng trổ gai cho cô có dịp cải tạo cô thành người tốt, cô không phải thọc đôi bàn tay ngọc của cô vào thùng nhào cứt người với nước tiểu người cho nhuyễn để bón rau xanh; cô bềnh bồng vượt biển sang Mỹ, bọn Mỹ nó có mời cô dậy học, dậy hành chi đâu! Để rồi gần ba mươi mùa hoa li-ki-ma trổ bông sau người ta phải vất vả sang tận Mỹ Quốc tìm cô để phỏng vấn cô. Cái chuyện cô kể cô “vẫn luôn luôn được nhắc nhở rằng, khi Hitler lên cầm quyền ở Đức đã ra lệnh sa thải và cầm tù hoặc giết tất cả các giáo viên chế độ cũ..” nghe rùng rợn quá cô. Chuyện ấy chắc là do những cán bộ Bắc Cộng “lên lớp” các thầy cô giáo viên Quốc Gia VNCH, có phải không ạ? Chắc cô, với tư cách giáo viên Quốc Gia VNCH bại trận được lưu dụng, còn có dịp nghe các vị cán bộ Đảng ta dậy về hai nước Một Răng, Một Rắc đánh nhau chí tử, được cán bộ Đảng ta khuyên “Cái gì của Xê I A thì trả cho Xê I A!”, được cán bộ Đảng ta cho biết “trong thời gian lính Mỹ ở Sài Gòn, Sài Gòn có 500.000 - năm trăm ngàn - phụ nữ làm điếm Mỹ!”

Năm 1984, 1985, trong Nhà Tù số 4 Phan Đăng Lưu, Nhà Tù Chí Hòa, nhiều tổ chức chống Cộng bị bắt trong có tổ chức do ba ông Phạm Quang Cảnh, luật sư, ông Nguyễn Quốc Sủng, giáo sư, ông Lê Công Minh, kỹ sư, đứng đầu. Năm 1986 tổ chức ấy bị đưa ra tòa. Bọn chánh án tay sai xử án tử hình Luật sư Phạm Quang Cảnh, xử án chung thân Giáo sư Nguyễn Quốc Sủng, chung thân Kỹ sư Lê Công Minh. Trước toà, khi tên chánh án tay sai hỏi Lê Công Minh:

- Trước đây bốn năm, anh nói anh không sống chung với cộng sản. Nay anh nói thế nào?

Người tù chính trị Lê Công Mình trả lời:

- Nay tôi vẫn nói như thế!

Đã tuyên án Lê Công Minh chung thân khổ sai, nghe Lê Công Minh trả lời như thế, tên chánh án tay sai lập tức nâng án Lê Công Minh lên tử hình.

Sau khi xử tử Luật sư Phạm Quang Cảnh, chúng hạ án của Lê Công Mình xuống tù chung thân khổ sai. Năm 1985, 1986 Lê Công Minh và tôi cùng ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, cùng ở Nhà Tù Chí Hòa nhưng không chung phòng. Năm 1989 tôi gặp Lê Công Minh ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, tôi có dịp trò chuyện với Minh. Minh cho biết trong Tuyên Ngôn của nhóm anh có câu:

- Bọn phát-xít và bọn cộng sản khác nhau ở điểm bọn phát- xít quí trọng nhân dân nó, bọn phát-xít đàn áp, bóc lột, giết tróc nhân dân các nước khác, bọn cộng sản thù ghét nhân dân nó, bọn cộng sản đàn áp, bóc lột, giết tróc nhân dân của chính nó, bọn cộng sản giết đồng bào nó.

Khi Lê Công Minh nói câu đó, tôi lặng người. Chưa bao giờ tôi nghe lời kết tội bọn cộng sản đúng đến như thế. Tối mùa mưa ở trại tù cộng sản giữa rừng, trong tiếng gió từ núi Chứa Chan thổi tới, tôi bùi ngùi nói với Lê Công Minh:

- Các anh kể tội chúng nó đúng quá như thế, chúng nó phải giết các anh thôi!

Sau khi kể “Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa” không bỏ tù bà, vẫn để bà dậy học, bà Hoàng Bắc kể chuyện Hít-le Ria Cá Chốt khi lên cầm quyền ở Đức quốc, đuổi hết giáo viên Đức ra khỏi trường, bỏ tù và giết các giáo viên Đức! Người đọc bà có dịp thấy Hít-le Ria Cứt Mũi ác độc quá chời, “Đảng ta” đối xử nhân đạo quá chời với bọn giáo viên Ngụy. Nhưng thưa bà, nếu bọn Cán Cộng ngu dzốt kể chuyện Hít-le làm như thế mà bà tin đó là chuyện thật thì tôi phi-ní lô đia, tôi hết nước nói về sự hiểu biết của bà.

Trong “Nếu đi hết biển“, bà nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc nói như sau về cộng đồng người Việt ở Mỹ và về cuộc chống Cộng của người Việt ở Mỹ:

Nđhb. Trang 87, 88, 89.

TVT: Bây giờ nếu có thể được, ta nói chuyện một chút về Cộng đồng người Việt ở Mỹ. Thí dụ, chị có thể phác họa vài nét về Cộng đồng người Việt ở Mỹ, thí dụ chị có tham gia các Hội Đoàn, các sinh hoạt có tổ chức ở trong vùng chị ở, Virginia, hay trên nước Mỹ không? Chị thấy các sinh hoạt đó như thế nào? Đối với thế hệ chị và đối với thế hệ con em chị ở hải ngoại?

HB: Tôi đề nghị anh đọc Unbearable Lightness of Being của Milan Kundera (mà một người bạn của tôi là Trịnh Y Thư đã chuyển ngữ rất hay, sách vừa do NXB Văn Nghệ California phát hành dưới cái tên “Đời Nhẹ Khôn Kham”) để anh dễ thâm nhập và nhận diện bộ mặt của cộng đồng Việt ở hải ngoại.

Kundera viết quyển này lấy bối cảnh Mùa Xuân Praha năm 1968 và các nhóm di dân Tiệp vào thời điểm đó. Đến nay, trải qua mấy chục năm rồi, giọng điệu, ngôn ngữ, suy tư của đám di dân Tiệp vẫn còn có thể dùng để mô tả được chính xác hình ảnh các hội đoàn chống Cộng của người Việt rải rác và đầy rẫy ở các nước Mỹ, Pháp, Úc, Canada. Lâu lâu lại phải đọc tuyên cáo này, tuyên cáo nọ, lên án bọn cộng sản trong nước và tay sai ngoài nước. Lâu lâu lại có vụ đốt một quyển sách hay hăm dọa một nhà xuất bản nào đó đã dám bày bán quyển sách thiên cộng kia, biểu tình mấy chục ngàn người để chống một tên tâm trí bất bình thường không đủ tiền và đủ sức để kinh doanh nghiêm chỉnh nên chơi nổi treo hình Bác Hồ và cờ Việt Cộng, lâu lâu lại có biểu tình lẹt đẹt vài người hay tự thiêu, ủi xe tăng vào Sứ quán Việt Cộng.

(……)

Nên tôi không ngạc nhiên mấy khi đọc các diễn văn, tuyên ngôn, tuyên cáo cùng các bài báo ở các loại báo biếu lá cải, các nhân vật cộng đồng tố cáo, mạ lỵ, chụp mũ tưng bừng lẫn nhau, người oan, kẻ ưng, cá mè một lứa. Trung tâm William Joiner tặng cái grant anh Thủy đang làm đó cũng gây ra một vụ kiện, đang đưa nhau ra ba tòa quan lớn Mỹ đấy, chắc anh có nghe rồi! Tôi cũng nghe, nhưng nghe qua rồi bỏ. Anh có nhận xét gì không?

Tội nghiệp quá chừng! Cả chục ngàn người Việt mất nước sống nhờ ở Mỹ, ông bà già chỉ có mỗi tháng mấy trăm tiền SSI, anh chị trẻ khuân vác Giant, Safeway, chùi rửa cầu tiêu Mỹ lương 5 đô 50 xen một giờ, chắt chiu người 50, người 100 đô, gom góp làm thành khoản tiền để mướn luật sư Mỹ cãi cho mình ở trước tòa án Mỹ. Những người Việt khốn khổ ấy không có cách tự bảo vệ quyền lợi của mình nào khác ngoài việc trông mong ở pháp luật Mỹ. Họ chỉ muốn nói có một câu: “Thưa quí ông William Joiner, mấy ông viết sử về chúng tôi, chúng tôi cám ơn, nhưng làm sử về chúng tôi mà các ông nhờ bọn đảng viên đảng cộng sản viết thì oan chúng tôi lắm. Thưa quí ông, bọn đảng viên đảng Cộng sản Việt họ thù chúng tôi lắm, họ đã thẳng tay bỏ tù, giết chết nhiều anh em chúng tôi ở trong nước chúng tôi. Nhân dân chúng tôi khổ vì họ lắm lắm. Để họ viết về chúng tôi ở Mỹ, họ sẽ mô tả chúng tôi với những hình ảnh, những lời lẽ rất khốn nạn, rất bẩn thỉu, rất đểu giả. Con cháu chúng tôi khi đọc những sách sử các ông nhờ bọn cộng sản viết về chúng tôi, chúng sẽ khinh bỉ chúng tôi. Vì sợ như thế nên chúng tôi nhờ ba tòa quan lớn Mỹ đèn trời Mỹ soi xét dùm chúng tôi”. Đáng thương cho họ hơn nữa là việc họ nhờ pháp luật Mỹ quốc bảo vệ bị bà nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc nhắc đến bằng lời lẽ khinh bỉ: “Trung tâm William Joiner tặng cái grant anh Thủy đang làm đó cũng gây ra một vụ kiện, đang đưa nhau ra ba tòa quan lớn Mỹ đấy, chắc anh có nghe rồi! Tôi cũng nghe, nhưng nghe qua rồi bỏ.”

Đau chứ! Bọn cộng sản nó thù ta, nó nói, nó viết những lời khinh thị ta, nó chửi ta, ta không đau, ta tỉnh queo, nhưng nghe những người cùng sống với ta, những người ta tưởng là cùng phe ta, nói những lời khinh bỉ ta, ta đau chứ. Nhưng thưa bà nhà văn, bà nói những người Việt tị nạn cộng sản chúng tôi trong những năm 2000 này giọng điệu, ngôn ngữ, suy tư giống y như những người Tiệp tị nạn cộng sản năm 1968, chúng tôi cũng làm những trò chống Cộng mà bà cho là nhảm nhí như những người Tiệp đã làm: lâu lâu ra một tuyên cáo kể tội cộng sản, đốt một quyển sách, hăm dọa một nhà xuất bản, biểu tình lẹt đẹt vài người, tự thiêu, ủi xe tăng vào sứ quán cộng sản…vv… Thưa vâng, bà nhà văn nói đúng, quả thật chúng tôi đã, chúng tôi đang, chúng tôi sẽ làm mãi những cái trò mà bà cho là nhảm nhí ấy, chúng tôi sẽ làm những trò ấy cho đến bao giờ bọn đảng viên cộng sản Việt bị nhân dân chúng tôi nhổ vào mặt, bợp tai, đá đít, đuổi đi. Cám ơn bà, được bà làm phúc nhắc cho chúng tôi lên tinh thần ra rít. Những người Tiệp tị nạn Tiệp Cộng phải bỏ nước đi sống lưu vong đã làm những cái trò bà coi là nhảm nhí ấy, vậy mà cuối cùng họ đã thực hiện được ước mơ vàng son một đời của họ: đuổi bọn đảng viện cộng sản Tiệp ra khỏi chính quyền, họ đã nhổ vào mặt, bợp tai, đá đít bọn đảng viên cộng sản trong nước họ, họ đã trở về đất nước của họ trong hạnh phúc và vinh quang, đất nước họ sạch boong không còn bóng thằng cộng sản nào, một người trong bọn họ bị bọn cộng sản bỏ tù nay là Tổng Thống của họ.

Ôi.. Ước gì chúng tôi sớm được hưởng cái hạnh phúc mà những người Tiệp chống Cộng đã được hưởng! Những gì đã xẩy ra ở Nga, Hung, Tiệp, Lỗ, Ba Lan sẽ xẩy ra ở Việt Nam quê hương chúng tôi. Nhất định thế! Ở Nga Lê-nin đã ra nằm ở bãi rác, ở Việt Nam Hồ Chí Meo sẽ ra nằm ở bãi rác. Chỉ có điều nhiều người trong chúng tôi không còn bao nhiêu thời gian sống nữa, chúng tôi người sáu bó, người bẩy bó, có nhiều người tám bó, chín bó, chúng tôi mong ngày hạnh phúc đó sớm đến, chúng tôi mong được thấy đất nước chúng tôi sạch bóng cờ đỏ, đất nước chúng tôi không còn thằng đảng viên cộng sản nào trước khi chúng tôi đi ra khỏi cõi đời này.

Chưa hết chuyện Nếu đi hết biển. Xin quí vị đọc bài viết tới.

Chống Cộng? Chuyện Nghe Qua Rồi Bỏ

Nên tôi không mấy ngạc nhiên khi đọc các diễn văn, tuyên ngôn, tuyên cáo cùng các bài báo ở các loại báo biếu lá cải, các nhân vật cộng đồng tố cáo, mạ lỵ, chụp mũ tưng bừng lẫn nhau, người oan, kẻ ưng, cá mè một lứa. Trung Tâm William Joiner tặng cái grant anh Thủy đang làm đó cũng gây ra một vụ kiện, đang đưa nhau ra ba tòa quan lớn Mỹ đấy, chắc anh có nghe rồi! Tôi cũng nghe, nhưng nghe qua rồi bỏ. Anh có nhận xét gì không?

nguyenthihoangbac.jpgĐấy là lời bà nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc nói với ông bạn của bà là anh Việt Cộng Trần Văn Thủy, đăng trong tập phỏng vấn “Nếu đi hết biển“. Đêm đông, Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, lạnh dưới Không độ, phòng ấm, đèn vàng, yên lặng, an ninh năm chăm phần chăm, tiếng “Lá cải” bỗng gợi cho tôi thương nhớ ngày xưa. Tôi buông tập “Nếu đi hết biển” xuống và tôi thả hồn tôi về dĩ vãng…

Thả hồn về dĩ vãng..! Nôm na là nhớ lại ngày xưa.. Một buổi sáng năm 1960 xanh mướt trong tòa soạn nhật báo Sàigònmới, số 32 đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn, thủ đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa một thời oanh liệt, chú thiếu niên, anh cháu họ xa của ông Bút Trà, từ Quảng Nghĩa tránh loạn vào Sài Gòn, giữ chân chạy việc trong tòa soạn, nói với tôi:

- Báo mình là báo Sàigònmới, bà chủ mình có tờ báo nào là tờ Lá Cải đâu. Sao các báo họ cứ viết là “tờ Lá Cải của bà Bút Trà?”

Cái tội lớn nhất, và là tội duy nhất, mà nhật báo Sàigònmới, và bà Bút Trà, đã phạm với các ông chủ báo khác và quí anh ký giả những báo khác cùng thời là tội báo Sàigònmới bán quá chạy. Số người mua báo có hạn, người Việt chỉ có thể mỗi ngày mua một tờ nhật báo, nói rõ hơn người Việt những năm 1960 ít có ai một ngày bỏ tiền ra mua những hai tờ nhật báo. Nếu tờ báo này có nhiều người mua là những tờ báo kia có ít người mua. Thực ra thì cũng chẳng có chuyện thù ghét gì nặng nề, các ông chủ báo khác khi gặp bà chủ báo Sàigònmới vẫn hòa nhã, vui vẻ chị chị, tôi tôi, nhưng trên báo thì vẫn thỉnh thoảng móc lò nhau, chọc quê nhau cho vui. Báo Sàigònmới bị nhiều báo khác gọi là tờ “lá cải”. Tờ “Lá Cải” của bà Bút Trà là tờ Sàigònmới của bà Bút Trà.

Tiếng “Lá Cải” dùng để gọi tờ nhật báo tồi, báo dở, báo bệ rạc, xuất từ tiếng “feuille de choue” của giới ký giả nhật báo Pháp. Cách hôm nay hơn một trăm năm, khi ông Alexandre Dumas Père đang ngày ngày cho chàng hiệp sĩ D’Artagnan đánh kiếm chí chạt và yêu thương chí chát nàng Constance Bonacieux trong tiểu thuyết feuilleton Les Trois Mousquetaires, hay khi ông Alexandre Dumas Fils đang cho chàng công tử Armand yêu thương mùi mẫn mê ly hắt hủi nàng hoa khôi hoa nguyệt Marguerite trong tiểu thuyết diễm tình La Dame aux Camélias, giới ký giả Pháp gọi những tờ báo tồi là “feuille de choue“. Người Pháp mang nghề in, nghề làm báo vào nước ta. Những năm 1950, 1960 giới làm báo Sài Gòn dùng rất nhiều danh từ tiếng Pháp, như manchette là tiếng để gọi tờ báo, người không được phép ra báo muốn làm báo thì “mướn măng-xết”, tin vedette là tin quan trọng nhất trong ngày, bài fond là bài xã luận, xã thuyết, film du jour là chuyện thời sự có lời bàn Mao Tôn Cương, potin là tin đồn, tin không chính thức ..vv.. Ký giả Việt Nam chuyển danh từ “feuille de choue” thành Lá Cải.

Bây giờ những tiếng manchette, tin vedette, bài fond, film du jour đã biến mất trong ngôn ngữ của những người Việt Nam làm báo, riêng tiếng “Lá Cải” vẫn còn. Tâm viên, ý mã, tôi nghĩ lan man: dùng tiếng “Lá Cải” để gọi, một cách bất kính, một cách thô tục, nhưng ngụ ý hài hước, chọc quê, cho dzui dzui, tờ báo Việt Báo của bà chủ báo Nhã Ca, hay báo Sàigòn Nhỏ của bà chủ báo Hoàng Dược Thảo thì nghe được, nhưng gọi báo Người Việt của ông chủ báo Đỗ Ngọc Yến hay tờ Văn Nghệ Tiền Phong của ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng là tờ “Lá Cải” thì nghe hình như không ổn. Bởi vì các bà chủ báo dù có bận việc tòa soạn, văn bài, nghị luận chính chị, chính em, quảng cáo, chi thu… nhưng xuân thu nhị kỳ, năm thì, mười họa, chắc cũng có những lúc vào bếp nấu món này, nướng món kia, nên các bà biết Lá Cải là cái gì, mấy ông chủ báo thì lá cải với lá cồn các ông cho là giống nhau.

Buổi sáng thu vàng năm 1960 trong tòa soạn nhật báo Sàigònmới ở Sài Gòn, thủ đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, nửa đêm tuyết trắng năm 2004 ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, tức Thành Hoa, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích..! Thấm thoắt dzậy mà đã 44 mùa cóc chín đi qua cuộc đời..! Cám ơn bà nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc. Tiếng “Lá Cải” bà dùng gợi cho tôi nhớ tuổi thanh xuân của tôi ở Sài Gòn, thành phố thủ đô yêu thương mà tôi đã không giữ được. Và tôi thầm nói trong tim tôi… Em yêu ơi.. Năm 1960 ở Sài Gòn đôi ta rất trẻ. Năm ấy em mới hai bó lẻ năm sáu que, anh ba bó chẵn, anh đang ở trên đỉnh cao phong độ nhất đời anh. Đêm nay, trong thời gian cuối của cuộc đời đôi ta, anh nhớ lại và anh cảm động. Anh đã yêu em nhiều lắm nhưng hôm nay anh tiếc: ngày xưa khi đôi ta còn trẻ, anh đã không yêu em nhiều hơn..! Ước chi anh trẻ lại bốn mươi tuổi..! Nhưng đó là một đề tài khác. Thôi, không than, không thở nưã.., chuyện ngày tháng qua nhanh, trai trẻ bao lăm mà đầu bạc, sáng như tơ xanh, chiều tuyết trắng…xưa hơn trái đất, ai cũng già đi, chẳng ai trẻ mãi…, người ta già đi thì hổng sao, cho là tự nhiên, mình già đi thì kêu lên oái oái, thở ngắn, than dài…! Anh trở lại với “Nếu đi hết biển“:

TVT: Tôi nghĩ chúng ta không nên xen chuyện tiền bạc trần tục vào câu chuyện nghiêm chỉnh như thế này. Chị là nhà văn. Chị đánh giá như thế nào về sự giao lưu văn học trong và ngoài nước?

HB: Tôi sinh hoạt trong giới những người làm văn nghệ ở hải ngoại nên thường theo dõi ở lãnh vực này. Việc giao lưu sách vở, báo chí trong và ngoài nước chưa hoàn toàn tự do thoải mái, nhưng trong những năm gần đây, một vài tác phẩm có giá trị ở ngoài nước đã được phép chính thức in lại trong nước, như tập trường thiên Sông Côn Mùa Lũ của anh Nguyễn Mộng Giác, một số truyện ngắn của tôi và các bạn khác đã do Nhà xuất bản Phụ Nữ TP. Hồ Chí Minh in lại trong một tuyển tập, và sốt dẻo nhất, tôi được Hoàng Ngọc Tuấn ở Úc cho hay, quyển Văn Học Hiện đại và Hậu hiện đại qua Thực tiễn Sáng tác và góc nhìn Lý thuyết sẽ được Trung tâm Ngôn ngữ & Văn hóa Đông Tây hợp cùng với Đại Học Sư Phạm in lại ở Việt Nam. Thật là một tin vui, bõ công chúng tôi hợp sức làm chung tạp chí Hợp Lưu 12 năm trước đây, với cố gắng làm một cây cầu giới thiệu văn học trong nước với người nước ngoài và ngược lại. Ở hải ngoại, nhóm Hợp Lưu bị chụp mũ là cộng sản, thì ở trong nước lại cho là một bọn xịa, hoặc là diễn biến hòa bình. Rõ chán mớ đời!

Ở Mỹ, hình như, không ai nói những ông bà làm tờ tạp chí Hợp Lưu là Việt Cộng, chỉ có người nói những ông bà ấy là bọn tay sai không công, không được mời của Việt Cộng, là những người không được Việt Cộng nhòm ngó gì đến mà vẫn tự nguyện bưng đít Việt Cộng. Như lời bà Hoàng Bắc nói trên đây, tuy các ông bà Hợp Lưu bưng đít Bắc Cộng nhưng vẫn bị chúng coi là bọn tay sai của CIA. Nhưng nói là nói thế thôi, các ông bà làm tờ Hợp Lưu vẫn phây phây, vẫn cứ bưng đít Việt Cộng dài dài.

Tôi không được đọc trường thiên tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ của ông Nguyễn Mộng Giác nên tôi không biết trong tác phẩm lớn và giá trị ấy - giá trị theo lời bà Hoàng Bắc – ông có viết gì về những thống khổ của dân Việt dưới ách cai trị tàn nghiệt của bọn công sản hay không. Chắc là không, bởi vì nếu tác phẩm có nội dung lên án bọn Việt Cộng, dù chỉ đả động xa sôi, bóng gió, sức mấy chúng nó cho in và bán trong nước. Kể cũng hay. Và kể cũng “khỉ nắm”. Chỉ cần bọn cộng sản nó cho in lại vài truyện ngắn, truyện dài của mình là khen nó tốt, nó chơi được. Nó đàn áp nhân dân, nó làm nhân dân đói khổ, nó tham nhũng dzàng trời, tối đất, nó ăn cắp tiền của nhân dân công khai, nó cắt đất dâng cho Tàu, nó bỏ tù mút chỉ những người khác. Mặc. Nó cho in lại mấy cái truyện của mình trong nước là nó tốt dzồi.

Việc giao lưu sách vở báo chí trong và ngoài nước chưa hoàn toàn tự do thoải mái..” Kính thưa bà Nhà văn kiêm nhà Tư tưởng sâu sắc của Trung Tâm William Joiner, bà viết như thế phải chăng tôi có thể hiểu bà muốn nói “Việc giao lưu sách vở báo chí Việt giữa Orange County với Sài Gòn đã có nhưng chưa hoàn toàn tự do..” Nếu bà cho việc quyển truyện Sông Côn Mùa Lũ của ông Nhà văn Nguyễn Mộng Giác, một truyện gì đó của ông Nhà văn Nhật Tiến, vài truyện ngắn của bà, tác phẩm của ông Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn ..vv… được bọn Bắc Cộng cho in và bán trong nước là việc “giao lưu sách vở báo chí” thì thưa bà, sao bà dễ tính quá dzậy bà? Đừng nói đâu xa chỉ nói riêng ở Orange County, Cali thôi, đâu phải chỉ có ba ông Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến, Hoàng Ngọc Tuấn, và bà – bà Nhà văn Nguyễn Hoàng Bắc – là những người Việt viết tiểu thuyết? Bộ mấy ông vừa kể và bà là đại diện cho giới người Việt làm văn nghệ ở Mỹ dư? Nếu bọn Bắc Việt Cộng không đăng mấy cái truyện ngắn của bà trong một tuyển tập xuất bản ở Sài Gòn thì phải chăng bà đã không nói như bà đã nói? Là người Việt Nam sống ở Sài Gòn, chắc bà cũng thấy bọn Bắc Cộng chúng nó giết người dã man, khủng khiếp ra sao trong trận Tết Mậu Thân ở Huế? Chắc bà cũng thấy trong Tháng Ba, Tháng Tư năm 1975 đồng bào của bà vì ghê sợ bọn cộng sản mà liều chết chạy trốn chúng nó ra sao? Dù gì bà cũng đã sống mấy năm giữa lòng Sài Gòn đầy cờ đỏ và những bảng đỏ, chữ vàng xốn mắt “Không có gì..”, chắc bà cùng phải thấy Sài Gòn điêu tàn, tang thương, thấy người Sài Gòn bị chúng bắt đi tù mút chỉ, thấy bọn Bắc Cộng hành hạ người Sài Gòn, người Sài Gòn thù hận, khinh bỉ bọn Bắc Công đến như thế nào chứ? Người ngoại quốc người ta còn thấy, người ta còn thương, người ta còn phẫn hận thay, huống chi bà..! Dù sao bà cũng là người Viêt Nam. Vì bà thấy sống với chúng nó bà khổ, nên bà liều mạng bà xuống tầu ra biển. Hai mươi mấy năm qua, mặc ai ở quê nhà khổ sở, sống dzở, chết dzở, bà sống bình yên trên đất Mỹ, chỉ vì bọn cộng sản cho in và bán ở trong nước mấy cái truyện ngắn vô thưởng, vô phạt của bà mà bà tự nhận bà là bạn của chúng nó! Có thể nào bà trâng tráo, bà chai đá đến cái độ bà thản nhiên nói: “Nó đánh chúng mày kệ mẹ chúng mày, nó bồ mí bà, bà bồ mí nó!”

***

Khi mới viết bài này tôi tưởng Trường Đại Học Massachusetts Boston bỏ tiền ra cho Trung Tâm William Joiner thực hiện cuộc nghiên cứu và viết về cộng đồng người Việt sống ở Mỹ. Nhưng không phải thế. Trên tờ tạp chí Con Ong, Houston, Texas, số 145, có bài viết của ông Nguyễn Hữu Luyện, “người tù kiệt xuất” của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa; ông NH Luyện bị bọn Bắc Cộng nhốt tù gần ba mươi năm nhưng ông vẫn giữ nguyên tư cách người chiến sĩ tự do, giữ nguyên phong độ, kiên cường, không đầu hàng, không tuyệt vọng mặc dầu ông rơi vào tình trạng vô vọng trong nhiều năm dài, hiện ông là người được cộng đồng người Việt ở Mỹ ủy thác cho việc đứng đơn kiện Trung Tâm William Joiner.

Từ Chương Trình Nghiên Cứu “Reconstructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora” đến VỤ KIỆN W.J.C. Người viết: Nguyễn Hữu Luyện.

Từ cuối năm 1998, trường đại học Massachusetts Boston (UMass Boston) đã làm đề nghị xin tiền của Quỹ Rockefeller (Rockefeller Foundation) để thực hiện một chương trình nghiên cứu mang tên “(Re)constructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora”. Chương trình này nghiên cứu về Cộng Đồng người Việt trên khắp thế giới qua hai mốc thời gian: từ thời kỳ tị nạn cộng sản đến thời kỳ “hậu tị nạn” (post refugee era). Tới mùa thu năm 2000, Quỹ Rockfeller cấp cho UMass Boston một ngân khoản là $250,000 (hai trăm năm mươi ngàn Mỹ kim). Số tiền này được chuyển cho William Joiner Center (WJC), một bộ phận của UMass Boston, chuyên nghiên cứu về hậu quả xã hội của chiến tranh để thực hiện chương trình nghiên cứu nói trên.

Cái gọi là UMass Boston chỉ bày ra chuyện nghiên kíu cộng đồng Việt Nam tị nạn để xin tiền của Cơ sở Rockefeller, nếu không được cho tiền, cuộc nghiên kíu sẽ không có. Có tiền, việc trước hết là dùng tiền đó trả lương cho nhân viên. Những khoản tiền cấp như thế được gọi là “fund“, người Việt nói là “phân”, có “phân” những người trong Trung Tâm William Joiner, như ông Tiến sĩ Kevin Bowen, ăn “phân” trước, số “phân” còn lại được chia cho những người như đạo diễn Trần văn Thủy.

Từ Chương Trình Nghiên Cứu…. Người viết Nguyễn Hữu Luyện.

Vì chúng ta là chủ đề nghiên cứu của WJC/UMass Boston, và cũng vì tầm mức vô cùng quan trọng về giá trị lịch sử, văn học và văn hóa của cả ba triệu người Việt Nam tị nạn Cộng sản, chúng ta CÓ TRÁCH NHIỆM PHẢI QUAN TÂM tới việc làm của WJC. Nếu WJC hay Hà Nội viết về đề tài này với tư cách riêng của họ, chúng ta hoàn toàn không bận tâm, vì đó chỉ là những tác phẩm được viết theo quan điểm riêng của họ mà thôi. Nhưng đây là một quyết định tuyển chọn của Quỹ Rockefeller sau khi đã duyệt xét rất nhiều đề nghị của tất cả các trường Đại Học và các Trung Tâm nghiên cứu trên khắp thế giới. Do bởi danh xưng Chương Trình Học Bổng Nhân Văn Rockefeller đã làm cho chương trình nghiên cứu của WJC có tầm cỡ quốc tế và được tôn trọng khắp nơi, và sẽ được lưu giữ trong các Thư Viện Nghiên Cứu trên khắp thế giới.

(…..)

Phải nhìn nhận ngay rằng, nếu đây là một công trình nghiên cứu vô tư, thì quả thật là một cơ hội lớn, một vinh hạnh lớn để cho nền văn học và văn hóa của cộng đồng người Việt lưu vong đi vào kho tàng văn học lịch sử của nhân loại. NHƯNG, thật là mỉa mai và đau đớn, không phải riêng cho cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản, mà còn cho cả ngành Đại Học Hoa Kỳ nữa, vì cả một công trình lớn có quy mô quốc tế lại trở thành một công cụ phục vụ cho một âm mưu chính trị vô cùng trắng trợn và nhơ bẩn. Việc thực hiện chương trình nghiên cứu này đã trở thành một nghịch lý không thể chấp nhận được dưới bất cứ một cách nhìn nào mang tính vô tư. Sau đây là những vấn đề cần được nêu lên…(…)

Rất tiếc, tôi không thể đăng toàn bộ bài viết của ông Nguyễn Hữu Luyện. Trong bài viết ấy ông NH Luyện nêu ra những lý do bắt buộc cộng đồng người Việt ở Mỹ phải kiện WJC. Vụ kiện bị bà nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc khinh bỉ ban cho mấy tiếng “..nghe qua rồi bỏ“.

Nếu đi hết biển. Trang 89, 90. Trích:

Hoàng Bắc: Trung tâm William Joiner tặng cái grant anh Thủy đang làm đó cũng gây ra một vụ kiện, đang đưa nhau ra ba tòa quan lớn Mỹ đấy, chắc anh có nghe rồi! Tôi cũng nghe, nhưng nghe qua rồi bỏ. Anh có nhận xét gì không?

Trần Văn Thủy: Tôi chân ướt chân ráo qua đây làm sao mà nhận xét được. Các cụ bảo: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe.” Tôi nghe chị chứ.

HB: Không dám! Không dám! Nhưng anh liều mạng nghe thì tôi cũng liều mạng nói! Tôi cũng đọc được thêm một tài liệu khác nhận định về tính cách của các cộng đồng lưu vong. Trích đoạn được dịch và in trong tập “Văn học Hiện đại và Hậu Hiện đại” của tác giả Hoàng Ngọc Tuấn:

“Trong cuộc sống lưu vong ở các nước Âu châu và Bắc Mỹ những năm cuối thế kỷ XX, những người đàn ông đến từ những quốc gia chậm phát triển và nhiều rối loạn chính trị ở châu Mỹ La tinh rất dễ trở thành những con người thất bại. Vỡ mộng về một cuộc sống dễ dàng, cùng lúc nhận ra sự mất giá trị của bản thân trước xã hội mới qua những trở ngại trong ngôn ngữ và/hoặc trong khả năng kinh tế, cộng thêm tình trạng sống như những người không có một địa vị xã hội nào, họ thường có nguy cơ rơi vào những triệu chứng tâm lý đa nghi hoang tưởng (paranoia), vĩ cuồng (megalomenia), trầm uất (folie manfaco-megacolico), hay dằn vặt với khát vọng hồi hương. Để xây dựng giá trị bản thân trong xã hội mới, thay vì nỗ lực hội nhập và vươn lên từng bước với sự kiên nhẫn, nhiều người lao vào và bỏ nhiều thì giờ, sức lực và ngay cả tiền bạc để tạo nên những địa vị giả (pseudo-estado) trong những nhóm sinh hoạt chính trị mệnh yểu và đầy sự cạnh tranh cá nhân. Chính những điều này là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên những cuộc xung đột nội bộ các cộng đồng và sự mâu thuẫn hoặc đổ vỡ trong nhiều gia đình, vì trong lúc đó, đa số đàn bà thì thực tế hơn và do đó dễ hội nhập hơn vào đời sống mới.”

Nhận định này đúng với thực tế cộng đồng lưu vong Việt Nam ở Mỹ và ở vài quốc gia khác ở châu Âu, Úc. Riêng tại tiểu bang California nhận định này giúp chúng ta dễ dàng giải thích các hiện tượng chính phủ lưu vong mọc lên như nấm tại tiểu bang này, với đầy đủ các chức vụ từ tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng, tổng tư lệnh quân đội cho tới tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng đều có đầy đủ tuốt luốt. Các chính phủ này mọc lên rồi tan đi, lại có các chính phủ khác thay thế.

TVT: Vui nhỉ! Tôi mà ở bên này tôi cũng lập chính phủ.

HB: Vậy sao? Nếu thế thì vừa vặn với nhận định vừa nêu trên của nhà tâm lý xã hội Pedro Lopez Pujo đối với đàn ông tị nạn! Những cuộc biểu tình rầm rộ, như anh biết đó, có khi lên tới vài chục ngàn người, như ban tổ chức từng phô trương, như cái lần để phản đối một anh chàng dở điên, dở khùng do những người thích ôm micro la hét giữa đám đông tổ chức, chỉ tổ tốn tiền thuế dân đóng góp để mướn cảnh sát địa phương canh giữ trật tự. Mọi chuyện sau đó thì cũng chìm xuồng. Vùng tôi ở, lâu lâu cũng có lác đác biểu tình chống lai rai, chống trong nước và chống ngoài nước. Gần đây nhất, là chống những ca sĩ trong nước ra ngoài trình diễn.

Anh VC nói: “Tôi mà ở bên này tôi cũng lập chính phủ..” Dzễ thôi. Tị nạn ở Mỹ anh Việt Nam nào lập chính phủ mà không được. Xứ Tự do mà. Nhưng ở xứ Bắc Cộng, đừng nói đến chuyện lập chính phủ, bố anh năn nỉ anh nói nửa câu chỉ trích bọn cộng sản cầm quyền anh cũng không dám.

Vì đây là bài viết về tập “Nếu đi hết biển” nên tôi không viết về những cái hèn mạt của bọn gọi là văn nghệ sĩ xứ Bắc Cộng, trong số có VC Trần Văn Thủy, “bạn” của những ông bà nhà văn Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Thị Hoàng Bắc. Tính chất hèn mạt của những kẻ gọi là văn nghệ sĩ Bắc Cộng bị chính anh già Tổng Bí Nguyễn Văn Linh của họ phơi trần truồng khi anh ta tuyên bố “...Cởi trói cho văn nghệ sĩ..” Một số ký giả Pháp gọi nền báo chí Việt Nam cộng sản là “la presse Vietnamienne museleé“: “Cái báo chí Việt Nam bị rọ mõm“. Người ta không bị rọ mõm, chỉ chó mới bị rọ mõm, người mà bị rọ mõm thì người còn khốn nạn hơn chó! Lại mới đây có một người làm thơ trong xứ Bắc Cộng phóng lên Internet bài thơ về bọn văn nghệ sĩ Bắc Cộng mà người làm thơ ví với loài chó, bài thơ trong có mấy câu, tôi nhớ không đúng nguyên văn:

Bảo câm mõm là câm mõm
Bảo vào gậm giường là chui vào gậm giường
Bảo sủa là tranh nhau sủa
Bảo ăn cứt là tranh nhau ăn cứt…

Vậy mà ở Mỹ vẫn có vài người Việt tị nạn cộng sản lấy làm vinh hạnh ngồi với những của nợ bị rọ mõm và chuyên ăn cứt.

Không thể đem bất cứ một cộng đồng tị nạn chính trị nào trên thế giới ra so sánh với cộng đồng dân Việt Nam tị nạn cộng sản. Dân Hung, dân Tiệp tị nạn là những người dân không chịu sống dưới sự cầm quyền độc ác của bọn cộng sản tiếm quyền trong nước họ, họ chưa bao giờ cầm súng bắn nhau trên chiến trường với bọn cộng sản, họ cũng không bị bọn cộng sản bỏ tù ngày nào; dân tị nạn Việt Nam là nhân dân một quốc gia bị bọn cộng sản xâm chiếm, bị cộng sản cướp hết của cải, nhà đất, dân tị nạn Việt Nam từng cầm súng bắn lại bọn cộng sản trong hai mươi năm. Cuộc vượt biển bằng thuyền của dân Việt Nam là cuộc tị nạn lớn nhất trong lịch sử loài người.

Ở Mỹ những chính phủ Việt Nam lưu vong, phục quốc mọc lên, tan đi.., sì đã nàm thao? Việc ấy cho thấy ở Mỹ người Việt sống tự do quá đỗi, người Việt ở Mỹ ai muốn làm gì cũng được, việc ấy chứng tỏ lòng người Việt tị nạn ở Mỹ sôi nổi, cháy lửa, người Việt ở Mỹ muốn có những phong trào, những lực lượng chống Cộng. Cứ nghe ai nói chống Cộng là người Việt tị nạn ủng hộ, đóng góp tiền gây quỹ, cứ nghe ai bị tố là tay sai cộng sản là người Việt khinh bỉ, chửi rủa. Chỉ vì người Việt tị nạn ở Mỹ căm thù cộng sản quá đỗi sâu nặng. Khi nghe nói có tên treo ảnh Già Hồ, những người căm phẫn đầu tiên đến phản đối trước tiệm của y là những ông già, bà lão. Khi thấy đồng bào đến mỗi ngày một đông, những kẻ lợi dụng mới nhẩy vào ăn có. Nếu số người biểu tình lên đến mấy chục ngàn người, tại sao lại không cho người ta phô trương?

Năm 1980, sau 24 tháng tù kéo dài trong ba năm, tôi trở về mái nhà xưa. Gặp tôi, anh bạn tôi là Phan Nghị nói: “Mày chịu khó đến Hội Văn Nghệ sinh hoạt đi. Một, hai tuần đến một lần cũng được. Mày có thể khai với bọn phường, quận là mày sinh hoạt ở Hội Văn Nghệ Thành Phố, mày sẽ đỡ bị chúng nó gọi ra kiểm điểm ở phường..” Những năm 1980, 1981, bọn cộng sản đang say men chiến thắng, tên Tổng Bí Lê Duẩn mặt sám đang bắt toàn dân “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội..”, việc vác mặt mo đến cái gọi là Hội Văn Nghệ Thành Phố để được yên thân là việc nên làm. Tôi đến Hội và ở đấy tôi thấy hai anh “phi cầm, phi thú” trong một buổi gọi là “sinh hoạt”.

Phi cầm, phi thú! Chừng ba ngày sau ngày TT. Ngô Đình Diệm bị bọn phản loạn bắn chết, một thư ngắn do ba nhà báo Chu Tử, Nguyễn Hoạt, Từ Chung ký tên, nhận cái tội trong những năm qua ba ông đã ngậm tăm không dám viết gì về những đau khổ của đồng bào, về những việc làm sai trái của chính phủ, ba ông tự nhận các ông là một thứ “phi cầm, phi thú”.

Phi cầm, phi thú là con dơi. Con dơi có cái đầu như con chuột, có vú nhưng lại có cánh như con chim. Đi với chim, con dơi nói:”Tôi có cánh, tôi cùng loài với anh”, đi với chuột, con dơi nói: “Tôi là chuột, đầu tôi, tai tôi, răng tôi giống hệt anh.” Quân tử Tầu dùng thành ngữ “phi cầm, phi thú” để gọi những anh chị đầu trơn như mỡ chui vào đâu cũng lọt.

Viễn Phương, Tổng thư ký Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố, lên cái gọi là Thành ủy nghe bọn cán bộ Thành thông báo những cái gọi là nghị quyết của bọn gọi là Trung Ương, về Hội Văn Nghệ, Viễn Phương truyền đạt lại tinh thần những cái gọi là nghị quyết ấy cho bọn văn nghệ sĩ. Nghe mười, Viễn Phương về lõm bõm, lúng búng nói lại được ba, bốn, chẳng đâu ra đâu mà cũng chẳng ma nào cần nghe. Trong những buổi gọi là sinh hoạt như thế, bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn ngồi một bên, bọn gọi là văn nghệ Giải Phóng ngồi một bên, hai phe đối diện nhau. Hai anh Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn không muốn ngồi cùng bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn chúng tôi, chắc hai anh khinh chúng tôi hay hai anh cảm thấy ánh mắt của chúng tôi khinh bỉ hai anh, nhưng hai anh không thể ngồi cùng hàng với bọn văn nghệ Giải Phóng, chúng không cho hai anh ngồi với chúng, hai anh tìm hai cái ghế ngồi riêng ở một bên cạnh.

Trong một lần nhìn thấy hai anh Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn ngồi xó ró bên cạnh như thế, tôi nhớ đến câu “phi cầm, phi thú” và tôi nghĩ: “Hai anh kia là hai anh phi cầm, phi thú.”

Hôm nay, một ngày Tháng Ba năm 2004, năm người tôi vừa kể tên, kể chuyện: Chu Tử, Nguyễn Hoạt, Từ Chung, Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn đều không còn ở cõi đời này.

1980 ở Sài Gòn, 2004 ở Mỹ.. Sau 24 năm hôm nay tôi lại thấy ở Mỹ có những anh, những chị văn nghệ sĩ phi cầm, phi thú. Những anh, những chị văn nghệ sĩ phi cầm, phi thú ấy giống chúng tôi vì họ cũng từng là văn nghệ sĩ Sài Gòn như chúng tôi, họ cũng sống ở Mỹ như chúng tôi, giống chúng tôi nhưng họ lại thân mật với bọn cộng sản trong nước. Không biết họ có biết chỉ vì chúng tôi chống Cộng nên bọn Cộng sản mới làm thân với họ, mới o bế họ, chỉ vì tất cả anh em chúng tôi chống Cộng nên bọn Cộng mới bốc họ là “những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc, những người dũng cảm..” Họ được bọn cộng sản bốc như thế vì họ sống ở Mỹ, nếu họ sống ở Sài Gòn bọn cộng sản coi họ không bằng cục cứt.

Cũng có thể dù họ sống ở Mỹ bọn cộng sản cũng coi họ không bằng cục cứt nhưng chúng cứ bốc họ như thế vì chúng thấy chúng có thể dùng họ trong việc làm lợi cho chúng.

Tôi tạm ngừng ở đây.

Nhà văn dũng cảm Nhật Tiến

nhattien.jpgTrung Tâm William Joiner Ăn Phân Rockerfeller bốc ông Nhật Tiến là “Nhà Văn dũng cảm đứng đầu gió..” Không biết ông Nhật Tiến có thấy ngượng chút nào vì hai tiếng “dũng cảm” đó không? Khi ông sống trong nước, từ năm 1975 đến năm 1980, theo lời ông kể trong hồi ký của ông đăng trên tờ báo Khai Phóng ở Hoa Kỳ năm 1982, ông đã không có một xu dũng cảm nào, ông đã sợ hãi quá đỗi. Năm năm sống trong lòng Sài Gòn đau thương, quằn quại, rên siết.., không những ông không viết được một cái truyện ngắn cò ke lục chốt nào, ông còn không dám giữ cả quyển vở ông ghi chép những chuyện tang thương ngẫu lục xẩy ra quanh ông. Trong năm năm ấy ông cẩn thận giữ mồm, giữ miệng, ông không ngồi cả buổi ở những quán cà phê vỉa hè chờ bọn văn nghệ sĩ Ngụy đến góp tiếng chửi cộng sản cho đỡ căm phẫn, ông không nghe, không loan những tin đồn quân phục quốc sắp trở về lấy lại thủ đô, ông không tiên đoán chuyện bọn Bắc Cộng sẽ chạy vắt giò lên cổ về Bắc không kịp, ông không làm gì, ông không nói gì để bọn Bắc Cộng bắt ông đi tù, ngày ngày ông tích cực đi “sinh hoạt” ở nhà văn hóa quận, ông dạy những em thiếu nhi khăn quàng đỏ cháu ngoan Bác Hồ cái trò xếp giấy thành hình con chim, bông hoa - tên tiếng Nhật của cái trò xếp giấy ấy là Origami. Ngồi với bọn cộng sản ông thành khẩn cám ơn Bác và Đảng đã cho ông được sáng mắt, sáng lòng, ông sống mềm nhũn như thế cho đến ngày ông có dịp lẻn bước xuống tàu vượt biển.

Trong khi ông Nhật Tiến sống nem nép, nơm nớp như thế thì có những người Sài Gòn họp lại để chống bọn cộng sản cướp nước. Nhiều lắm, ngay từ những ngày đầu tháng Năm 1975, tôi chỉ kể ở đây mấy người tôi biết rõ. Như Tú Kếu Trần Đức Uyển. Ở trong ban lãnh đạo một tổ chức chống Cộng, Tú Kếu bị bọn Cộng bắt rất sớm. Trong lúc ông Nhật Tiến, ông “nhà văn, nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính, nhân vật dũng cảm đứng đầu gió” của Trung Tâm William Joiner không dám giữ quyển vở ông “ghi gói” những dữ kiện, có những người như Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Duy Trác, Trần Ngọc Tư, Lý Thụy Ý… viết những bài, những bản nhạc, chụp những bức ảnh mô tả, ghi lại cuộc sống cực khổ của nhân dân gửi ra nước ngoài; có những người như các Tu sĩ Phật Giáo Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Ni cô Thích Trí Hải, như Luật sư Phạm Quang Cảnh, Giáo sư Nguyễn Quốc Sủng, Kỹ sư Lê Công Minh tổ chức anh em thành đoàn thể, viết tuyên ngôn không sống chung với cộng sản, mua súng, lập chiến khu. Những người ấy, những người như Tú Kếu, Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Duy Trác, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Lý Thụy Ý, Tuệ Sĩ, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Phạm Quang Cảnh, Nguyễn Quốc Sủng, Lê Công Minh về tri thức, thông minh không kém ông Nhật Tiến mà về sự ngu xuẩn cũng không hơn ông Nhật Tiến; các ông ấy tất nhiên biết việc mấy ông làm là nguy hiểm, không phải nguy hiểm suông, không phải nguy hiểm vài ba năm ngồi rù gãi háng phây phây ăn ngủ chờ ngày ra tù, vênh váo về đời làm chính khách quốc gia mà là nguy hiểm đến tính mạng, nguy hiểm tử hình, nguy hiểm án tù chung thân, án tù hai mươi năm, nguy hiểm bị chết thảm trong ngục tù. Hơn ai hết mấy ông ấy biết sống trong gông cùm cộng sản mà chống nó là nó giết. Trong số mấy ông trên đây chỉ có hai Tu sĩ Tuệ Sĩ, Trí Siêu không có vợ con, còn thì ông nào cũng đùm đề thê nhi một đống. Nhưng mấy ông ấy vẫn quên vợ con, vẫn liều thân, liều mạng sống chống Cộng sản. Mấy ông ấy không chịu làm thứ người không có xương sống, mấy ông ấy không chịu cúi đầu, khom lưng, uốn gối làm Cỏ Đuôi Chó!

Chỉ vì là người, người có xương sống, vì không chịu làm Cỏ Đuôi Chó, các vị tôi vừa kể trên đây đã bị bọn Công An VC Thành Hồ bắt, bỏ tù, xử tử thẳng tay: Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong đêm khuya ở nhà tù Chí Hòa, Dương Hùng Cường chết trong đêm lạnh trong xà-lim nhà tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Luật sư Phạm Quang Cảnh bị chúng bắn chết năm 1985, Giáo sư Nguyễn Quốc Sủng 82 tuổi, tù chung thân, chết năm 1996 ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, Xuân Lộc, Đồng Nai, Kỹ Sư Lê Công Minh bị án tù khổ sai chung thân, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương bị tử hình rồi xuống án tù 20 năm, Ni cô Trí Hải tù 4 năm, Doãn Quốc Sĩ tù 9 năm, Lý Thụy Ý tù 6 năm, Duy Trác, Trần Ngọc Tự tù 4 năm.

Kể ra trong thời loạn, mình là phó thường dân, gặp bọn ác ôn hung hãn khát máu chúng nắm quyền, chúng giết người không gớm tay, chúng là bọn “không có tâm địa con người” như ông nhà văn Nhật Tiến nói, mình có làm Cỏ Đuôi Chó cũng chẳng có gì đáng xấu hổ lắm. Nhưng khi mình sống an ninh, mình được pháp luật USA bảo vệ, bọn ác ôn Quỉ Đỏ không làm hại được mình, không sờ được vào cái lông chân của mình, mình cũng tự nguyện cong lưng làm Cỏ Đuôi Chó thì… hèn hết nước nói!

Cứ chê Cỏ Đuôi Chó hèn, kể ra Cỏ Đuôi Chó cũng không hèn bằng Người Đuôi Chó. Cỏ Đuôi Chó gặp gió lớn nó rạp mình xuống, nhưng khi hết gió nó lại đứng thẳng lên. Người Đuôi Chó thì một khi đã cong lưng là không còn bao giờ đứng thẳng lại. Tệ hơn nữa là khi không bị bạo lực đe dọa Người Đuôi Chó cũng vẫn cứ cong lưng!

Trong “Nếu đi hết biển“, ông Nhà văn Nhật Tiến nói: ” …Cái cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại vốn đã từng có nhiều năm chất ngất hận thù đến độ không chấp nhận một sự suy tư nào khác hơn là sự suy tư đã đông đá trong đầu óc của họ”. Ở quê hương thì bị bọn cộng sản chửi là bọn “đầu có sạn, không cải tạo được”, vào tù ra tội, sống dở chết dở hai mươi mùa mít chín, nếm đủ trăm cay, ngàn đắng, bánh xe lãng tử khấp khểnh, rệu rã, muộn màng ra đi trong vòng trầy trật sang được nước Mỹ thì lại bị ông Nhà văn chửi là bọn “đầu đông đá”. Đau thật, thân phận thằng bại trận mới nhục nhã cay cực làm sao!

Nhưng kính thưa ông Nhà văn: chúng tôi hận thù cái xấu, cái ác, hận thù bọn người làm cho chúng tôi và đồng bào chúng tôi đau khổ, hận thù bọn giết đồng bào của chúng tôi, là chúng tôi tồi tàn, chúng tôi sai quấy, chúng tôi đáng khinh hay sao, thưa ông? Không cần nói nguyên nhân làm cho những người Việt ở Mỹ hận thù bọn Bắc Cộng ngút trời, việc qua bao nhiêu năm tháng, người Việt ở Mỹ vẫn không nguôi thù hận bọn Bắc Cộng ác ôn là chuyện bậy bạ, chuyện cà chớn hay sao, thưa ông? Chúng tôi thủy chung như nhất, trước sau một lòng, chúng tôi không thay lòng, đổi dạ, không phản phúc lá mặt, lá trái là chúng tôi tồi tàn, chúng tôi đểu cáng hay sao, thưa ông? Thay đổi lập tràng soành soạch như ông, sớm đánh, tối đầu, nay chửi, mai khen như ông mới là tốt hay sao, thưa ông? Xin ông cho biết giữa cái đầu “đông đá” và cái đầu “chẩy re”, cái đầu nào đáng ghê tởm, cái đầu nào xài được, cái đầu nào sạch, cái đầu nào bẩn? Cũng xin ông cho biết cái đầu của ông thuộc loại đầu nào? “Đông đá” hay “chẩy re?” Xin lỗi ông, tôi vừa hỏi ông một câu ngu ngốc. Ông khinh bỉ những cái đầu “đông đá” thì đầu ông tất nhiên phải là đầu “chẩy re.”

Lời nói bay đi, chữ viết để lại! “Nhà tư tưởng sâu sắc” của Trung Tâm William Joiner chắc dư biết câu ấy. Chỉ có bọn cộng sản mới chuyên nhổ rồi liếm, liếm rồi nhổ. Bắt chước chúng nó nhổ liếm làm gì? Đã thấy chúng nó không có tâm địa con người, đã viết sống với chúng nó người ta trở thành hèn hạ, nay lại mặt trơ, trán bóng rù rì tò tí với chúng nó, bộ không có chút liêm sỉ nào hay sao? Người có chút liêm sỉ nhỏ bằng đầu que tăm xỉa răng cũng không trâng tráo thô bỉ như thế. “Đó là sự trung thực tối thiểu cần có ở người cầm bút!” Trung thực phải có liêm sỉ. Không thể có trung thực mà không có liêm sỉ. Dầu gì cũng có thời là công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, từng được Quốc Gia và nhân dân ưu đãi, từng nhiều năm được có người chết cho mình và vợ con mình sống, đã không biết ơn thì thôi, sao lại thở ra những lời vô ơn, táng tận lương tâm đến thế!

Bèn có thơ rằng:

Nói lời thì giữ lấy lời
Đừng như thằng Cộng chửi rồi lại khen.
Nói lời thì giữ lấy lời
Đừng như thằng Cộng khen rồi lại chê.

Và câu Tập Kiều:

Còn tờ Khai Phóng ở tay
Rõ ràng mặt ấy, mặt này chứ ai!

Như có Boóc Hồ ở Bolsa Street…!

nhattien.jpg
Nếu đi hết biển“, tập phỏng vấn do anh Bắc Việt Cộng Trần văn Thuỷ thực hiện, Trung Tâm William Joiner thuộc Trường Đại Học Massachusetts Boston in và bán ở Hoa Kỳ, 196 trang; những người được phỏng vấn: bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, các ông Hoàng Khởi Phong, Cao Xuân Huy, Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Trương Vũ. Một bà và năm ông được Tiến sĩ Kevin Bowen, Giám Đốc Trung Tâm William Joiner, xưng tụng là “những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc, đáng kính, những cá nhân dũng cảm đứng đầu gió…”

.

Trích Introduction Nếu đi hết biển. Người viết Kevin Bowen. Trang 15:

Those interviewed include the esteemed and profound thinkers and writers, a rich diversity of voices. Writers Nhat Tien, Nguyen Mong Giac, Truong Vu, Nguyen Thi Hoang Bac, and Hoang Khoi Phong speak frankly and openly of the once taboo subject of political life in the Diaspora as well as in Vietnam and in its impact on writing…(…)

Lời dịch của Nếu đi hết biển, trang 12. Trích:

Những tác giả phỏng vấn là những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính, với những tiếng nói đa dạng và phong phú. Nhà văn Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Trương Vũ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Hoàng Khởi Phong. vv… đã trình bày một cách thẳng thắn và công khai về một số đề tài cấm kỵ (ta-bu) trong sinh hoạt chính trị ở hải ngoại cũng như Việt Nam, và ảnh hưởng của chúng trong lãnh vực sáng tác.

Những tác giả được phỏng vấn“, không phải “những tác giả phỏng vấn“. Trong “Nếu đi hết biển” – Nđhb - những “nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính” của Trung Tâm William Joiner chỉ trả lời những câu hỏi của anh VC Trần Văn Thủy. Cũng trong Introduction, Kevin Bowen viết:

- We owe a immense debt to those who have courageously stepped forward to participate in the dialogues..(….)

- Chúng ta mang một niềm tri ân sâu sắc với những cá nhân đã dũng cảm đứng đầu gió để tham dự vào những cuộc đối thoại này..

Không có đối thoại trong Nđhb, những người “được” phỏng vấn chỉ trả lời những câu hỏi, cũng có người nói vài câu chỉ trích bọn Bắc Cộng nhưng lời lẽ nhẹ hều, nói đến những chuyện hời hợt không đáng gì, như chuyện than phiền bọn văn nghệ sĩ Bắc Cộng bị rọ mõm được đến chơi Hoa Kỳ khi trở về Việt Nam viết bố lếu bố láo về cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ, hay chuyện bọn ký giả Bắc Cộng, sau hai mươi mấy năm, vẫn thẳng tay phóng bút nhục mạ nhân dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa trong những bài viết của chúng. Quyển Nđhb không được in và phát hành trong nước Việt Nam, vài lời phản đối, tố cáo, than thở vớ vẩn kiểu mầu mỡ riêu cua không có tác dụng gì cả. Phải chi một trong năm ông, ông Hoàng Khởi Phong, hay ông Nhật Tiến, nói với người bạn Việt Cộng của các ông một câu như vầy thì hay biết bao:

- Anh théc méc về những người Việt sống ở Hoa Kỳ làm gì. Những người Việt bị mất quê hương ấy là những người đáng thương. Những ông già, bà lão Việt Nam sống rất cô đơn ở xứ Mỹ, những người trẻ thì đi cầy tối ngày để kiếm sống. Họ sống ở Mỹ mà trái tim họ vẫn ở quê nhà. Mình phải thương đồng bào của mình. Mình phải tôn trọng tâm trạng của họ. Cũng đừng trách đồng bào mình hận thù cộng sản, mình phải đăt câu hỏi tại sao đồng bào mình hận thù cộng sản. Họ hận thù cộng sản có đúng không? Họ hận thù cộng sản vì cộng sản làm họ đau khổ. Tại sao ta lại chê trách họ vì họ hận thù? Cuộc sống của một triệu người Việt sống ở Hoa Kỳ có gì đáng kể so với cuộc sống của 80 triệu người Việt sống trong nước. Các anh nên nghĩ đến chuyện làm sao cho 80 triệu người Việt Nam trong nước được sống có hạnh phúc hơn là hục hặc với một triệu người Việt Nam sống ở Mỹ.

Mấy ông có thể nói như thế này:

- Các anh muốn hoà hợp, hoà giải với người Việt ở Mỹ ư? Các anh có làm được việc ấy hay không là ở các anh, không phải ở người Việt sống ở Mỹ. Muốn hoà hợp, hoà giải với người Việt ở Mỹ, các anh phải làm một số việc, trong đó việc các anh phải làm trước nhất là huỷ bỏ quyền độc đảng của đảng Cộng sản, sửa hiến pháp, công nhận dân chủ, đa đảng, tuyển cử tự do, tự do ngôn luận. Nếu các anh không làm những việc ấy thì đừng mong đợi gì nơi người Việt ở Mỹ. Các anh chẳng có tư cách gì để đòi hỏi bất cứ cái gì ở bất cứ ai. Chủ nghĩa cộng sản của các anh đã tiêu rồi. Ở nước Nga tượng Thánh tổ Lê-nin của các anh đã bị người Nga tròng xích sắt vào cổ, kéo ra cho nằm ở bãi rác, bọn đảng viên cộng sản các nước Đông Âu, Đông Đức đàn anh của các anh đã cúi mặt, cụp đuôi đi ra khỏi chính quyền. Đảng cộng sản của các anh và người cộng sản các anh bị nhân dân cả thế giới khinh ghét, ghê tởm, xua đuổi. Các anh không còn ở cái thời bọn cộng sản hung hăng con bọ xít đòi nhuôm đỏ cả thế giới, các anh không còn ở cái thời Lê Duẩn huynh hoang “Chủ nghĩa Mác Lê-nin vô địch bách chiến bách thắng muôn năm..” Rồi các anh cũng phải cụp đuôi ra khỏi chính quyền, dù các anh có không muốn, có cố nắm. Các anh lấy tư cách gì mà đòi nói chuyện với những người Việt ở Mỹ? Nếu các anh còn chút liêm sỉ, dù cái gọi là liêm sỉ của các anh chỉ nhỏ bằng cái tĩ con gà mái, các anh cũng phải thấy nhục vì các anh là đảng viên cộng sản chứ?

Tôi chỉ viết như thế cho đỡ phẫn hận thôi, những “nhà tư tưởng sâu sắc” của Trung Tâm William Joiner không thể nói với cán bộ Bắc Cộng những câu như thế. Nửa đêm xứ người, phòng ấm, đèn vàng, yên lặng, tôi ngồi ở bàn viết, trước mặt tôi không là trang giấy trắng đợi chờ với cây bút Bic mà là màn hình monitor sáng lung linh, lòng tôi buồn rười rượi. Dù sao những người ấy cũng là anh em tôi, họ từng ở phe tôi, bao nhiêu người anh em của tôi trong hai mươi năm đã theo nhau chết cho họ sống, tôi không muốn thấy họ phản bội những người anh em tôi đã chết cho họ sống, tôi không muốn thấy họ ôm đít bọn Bắc Cộng, tôi không muốn thấy họ ngoan ngoãn để cho bọn Bắc Cộng xoa đầu, sờ mông, bẹo má, véo tai, cho ăn cháo lú, mớm lời cho họ chửi những người Việt sống ở Mỹ.

Nguyễn Thị Hoàng Bắc. Nếu đi hết biển, trang 88.

Lâu lâu lại phải đọc tuyên cáo này, tuyên cáo nọ, lên án bọn cộng sản trong nước và tay sai ngoài nước. Lâu lâu lại có vụ đốt một quyển sách hay hăm doạ một nhà xuất bản nào đó đã dám bầy bán quyển sách thiên cộng kia, (…..) lâu lâu lại có biểu tình lẹt đẹt vài người hay tự thiêu, ủi xe tăng vào Sứ quán Việt Cộng.

(…..)

Nên tôi không mấy ngạc nhiên khi đọc các diễn văn, tuyên ngôn, tuyên cáo cùng các bài báo ở các loại báo biếu lá cải, các nhân vật cộng đồng tố cáo, mạ lỵ, chụp mũ tưng bừng lẫn nhau, người oan, kẻ ưng, cá mè một lứa. Trung tâm William Joiner tặng anh Thuỷ cái grant anh Thuỷ đang làm đó cũng gây ra một vụ kiện, đang đưa nhau ra ba tòa quan lớn Mỹ đấy, chắc anh có nghe rồi! Tôi cũng nghe, nhưng nghe qua rồi bỏ.

Trong số những người Việt làm những chuyện bà Nhà văn NT Hoàng Bắc cho là “ruồi bâu” ấy có những cụ già đáng tuổi bố mẹ bà Nhà văn. Tội nghiệp các cụ. Nhưng các cụ cũng còn may, ấy là bà Nhà văn từng có thời là cô giáo, nếu bà vô học các cụ còn bị bà chửi tàn nhẫn đến đâu.

Đọc những lời năm ông, một bà “nhà văn, nhà tư tưởng sâu sắc, đáng kính” của Trung Tâm William Joiner, chửi bới những người Việt chống Cộng ở Mỹ tôi ngạc nhiên không hiểu vì nguyên do nào một bà, năm ông ấy - cũng là người Việt y như một triệu người Việt trốn nạn cộng sản ở Mỹ – lại có thể thở ra những lời tệ bạc và khinh bỉ những người Việt chống Cộng ở Mỹ đến như thế! Họ tệ bạc, họ vô ơn với quốc gia từng nuôi dưỡng họ, từng làm cho họ nên người vì cái quốc gia đó đã bị diệt, đã tiêu vong, nhưng còn những người Việt ở Mỹ đã làm gì có lỗi với họ mà bị họ thù hằn, họ khinh miệt quá cỡ thợ mộc đến như thế? Bọn cộng sản ở trong nước đã làm những gì tốt cho họ để họ sun xoe với chúng, để họ thay chúng chửi những người chống Cộng ở Mỹ tàn tệ như thế? Cũng như tất cả những người Việt chống Cộng ở Mỹ trước năm 1975 họ là công dân của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, trong nửa đời họ, họ hưởng lộc của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, bọn cộng sản xâm chiếm quốc gia của họ, họ sống không nổi dưới ách cộng sản, họ trốn ra biển tìm đường chui sang Mỹ như mọi người, thời gian mới đến đất Mỹ họ cũng từng nói những lời, từng viết những bài tố cáo tội ác của bọn cộng sản. Những dòng chữ kể tội ác cộng sản của họ còn đó. Năm tháng qua.. Người Mỹ cưu mang họ, đất Mỹ nuôi dưỡng họ, tại sao, cái gì làm họ đi một đường chồn lùi về nước úp mặt vào đít bọn cộng sản ác ôn? Đã khốn nạn thế rồi họ lại còn cái vô liêm sỉ cùng cực là mở mồm lép nhép kêu gọi người khác úp mặt vào đít bọn cộng sản như họ! Họ dám lên tiếng chửi những người Việt không úp mặt vào đít bọn cộng sản như họ là ngu xuẩn!

Đây là bài thứ năm tôi viết về quyển “Nếu đi hết biển” và về những người Việt trả lời những câu phỏng vấn của cán bộ Bắc Cộng trong quyển sách mỏng ấy. Đêm nay tôi thấy tôi không muốn viết những gì tôi đã viết về mấy người tự nhận là “bạn” của bọn Bắc Cộng. Nhưng họ đã gây ra chuyện. Thay vì đòi bọn Bắc Cộng phải làm chuyện này, việc nọ, thay vì nói đến những người Việt sống ở Mỹ bằng những lời thông cảm, thương mến, xót xa, họ - tất cả bọn họ, một bà, năm ông - đã nói và chỉ nói những lời khinh bỉ, miệt thị đám người Việt khốn khổ sống mất quê hương ở Mỹ, những người bị bọn cộng sản hành hạ, bóc lột, bỏ tù khổ cực đến nỗi họ không sao sống được ở trong nước. Dưới mắt các ông bà ấy, dưới mắt những “nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc, đáng kính” của Trung Tâm William Joiner, Trung Tâm sống bằng “phân” xin của Cơ sở Rockefeller, người Việt ở Mỹ là một bọn người thối nát, tồi tàn, bọn người Việt hận thù cộng sản là bọn ngu xuẩn, đáng khinh.

Vì những người Việt đã chiến đấu và đã chết trong hai mươi năm để bảo vệ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, vì những người Việt bị bọn Bắc Cộng bắt tù khổ sai đã chết trong ngục tù cộng sản, vì những người trẻ tuổi Việt Nam bị bọn cộng sản đẩy sang Kampuchia và chết mất xác ở xứ người, vì những thế hệ người Việt đã, đang và sẽ bị bọn Bắc Công làm cho khốn khổ, khốn nạn, làm cho điêu đứng, nhục nhã, vì đất nước bị bọn cộng sản tàn phá, vì những người Việt tị nạn cộng sản ở Mỹ bị nhục mạ, bị khinh bỉ, tôi viết những dòng này.

Tôi muốn nói với họ, với năm ông, một bà nhà văn trong “Nếu đi hết biển“: các ông bà đừng tưởng bở mà nghĩ rằng bọn Bắc Cộng chúng nó quí trọng các ông bà. Các ông bà hẳn cũng thấy bọn Bắc Cộng chúng nó đối xử ra sao với những văn nghệ sĩ của chúng nó chứ? Chúng nó coi bọn văn nghệ sĩ của chúng nó không bằng những con chó, chúng đeo rọ mõm vào mồm bọn văn nghệ sĩ của chúng; câu “cởi trói cho văn nghệ” tên Tổng Bí Nguyễn Văn Linh của chúng nói là sai, đúng ra hắn phải nói “tháo rọ mõm cho văn nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa.” Các ông bà có tình ngãi, có công trạng gì với chúng mà chúng quí trọng các ông bà? Đám người Việt ở Mỹ mới là những người thương mến các ông bà, mới là những người thân của các ông bà. Đừng trách tôi nếu tôi nặng lời với các ông bà, tại các ông bà khinh bỉ, chửi bới những người Việt sống ở Mỹ nên tôi phải lên tiếng.

Nhà văn Nhật Tiến nói trong “Nếu đi hết biển“:

- Tôi cảm thông tâm trạng của những con người còn duy trì những chủ trương cứng dắn đó, nhưng con đường cứu nước của họ chỉ là một thứ đường mòn vô dụng không đem lại một lợi ích nào cho dân tộc nếu không muốn nói là lại còn làm cản trở bước tiến của dân tộc. Tôi thường nghe rất nhiều lần người ta nhân danh quyền lợi của trên 80 triệu đồng bào ở trong nước để phát động những cuộc đấu tranh theo kiểu như trên, nhưng hầu như họ chẳng hiểu gì về tâm tư hay nguyện vọng đồng bào ở quê nhà. Ổn định và phát triển, theo tôi nghĩ, đó là khuynh hướng chung của thành phần đa số của dân tộc trong hoàn cảnh hiện nay.

Một triệu người Việt ở Mỹ “chẳng hiểu gì về tâm tư hay nguyện vọng đồng bào ở quê nhà” - Nhà văn Nhớn viết thiếu một chữ, “nguyện vọng đồng bào” là ký gì, phải là “nguyện vọng của đồng bào” - riêng Nhà Văn Nhớn hiểu cái tâm tư và nguyện vọng ấy. Vì ông cho rằng ông hiểu, ông biết đồng bào ở quê nhà muốn gì nên ông”hoà hợp, hoà giải” với bọn cộng sản, và ông kêu gọi người khác theo ông “hoà hợp, hoà giải” với bọn cộng sản. Không có lẽ người được Trung tâm William Joiner tôn vinh là “nhà tư tưởng sâu sắc” lại không biết rằng không quốc gia nào bị bọn cộng sản nắm quyền có thể ổn định và phát triển. Nếu cứ để cho bọn cộng sản nắm quyền mà có thể ổn đinh và phát triển được xã hội, nôm na là làm cho nhân dân được sống ấm no, ấm no thôi, đừng nói gì đến tự do, hạnh phúc, những người Nga, Hung, Tiệp, Ba lan, Lỗ, Đức đã làm. Nhưng không thể được. Trong bao nhiêu năm những người dân quằn quại trong gông xiềng của bọn cộng sản ở Nga, ở những nước Đông Âu đã đổ biết bao nước mắt, máu xương, để phá gông cùm cộng sản. Goóc-ba-chép nói: “Chủ nghĩa cộng sản là một thảm hoạ của nhân loại“, El-sin nói: “Việc thực hiện chế độ xã hội chủ nghĩa ở Nga là một bài học cho loài người..” Sau bao nhiêu hy sinh, bao nhiêu thất bại, bao nhiêu đau thương vỡ tim, đứt ruột, họ đã thành công, những người dân Nga, Tiệp, Ba lan, Hung Lỗ, Đức đã nhổ vào mặt bọn đảng viên cộng sản ở nước họ, họ đã bạt tai những tên đảng viên cộng sản cầm quyền ở nước họ, họ đã đá đít chúng, đuổi cổ chúng đi chỗ khác, họ đã tròng xích sắt vào cổ tượng Lê- nin, kéo đổ, cho ra nằm ở bãi rác. Nhân dân Việt Nam rồi cũng sẽ nhổ vào mặt, sẽ bợp tai, đá đít bọn cộng sản Việt, sẽ đuổi chúng ra khỏi chính quyền. Tại sao cho đến hôm nay còn có người nghĩ rằng bọn cộng sản Việt Nam sẽ nắm được chính quyền mãi mãi? Chuyện đáng cho là lạ là bẩy, tám mùa cóc chín sau khi bọn đảng viên cộng sản bị tống cổ ra khỏi chính quyền ở Nga, ở Đức, ở những quốc gia Đông Âu, vẫn còn có năm, bẩy người Việt Nam sống ở Mỹ cho rằng cần phải đầu phục bọn cộng sản để “ổn định và phát triển đất nước.” Không thể tin được trên cõi đời này lại có những người ngu độn đến như thế!

Trong lúc ông Nhật Tiến lép nhép, láp nháp nói phải “hoà giải” với bọn cộng sản ở trong nước để ổn định và phát triển quốc gia thì tờ tuần báo Việt Tide Mỹ Lai xuất bản ở Quận Cam, Cali, Hoa Kỳ, do bà Mai Khanh, ái nữ của ông Nhật Tiến làm chủ bút, đăng những chuyện ruồi bâu như vầy về bọn cộng sản Việt:

Việt Tide, tờ báo của trào lưu mới. Số 137. February 27th - March 4th – Bài “Đổi mới hay đổi màu“. Thư Hà Nội, Người Hà Nội viết.

Chao ôi! Sao bây giờ còn có người hồn nhiên đến thế? Vẫn tin vào sự nghiệp cách mạng của Đảng nên đem tấm lòng của một đảng viên ra để chứng minh lòng trung thành của mình, khuyên răn Đảng, đâu có biết Đảng bây giờ như một lão già lụ khụ tham lam, độc ác, tàn bạo, 74 tuổi còn đâu là minh mẫn nữa, lại để cho cái khú lú cái khôn, chỉ giỏi nghe những thằng xiểm nịnh, lưu manh, cho nên màu của Đảng bây giờ tối om, hũ nút và cũ rích rồi, còn gì là mới nữa.

(…..)

- Nếu em đúng là trí thức xã hội chủ nghĩa thì phải biết hiểu ngược những điều Đảng nói. Đảng bảo chế độ tư bản sắp giãy chết là nó sẽ sống nhăn hàng trăm năm lại vô cùng khoẻ mạnh, thậm chí nếu được quyền so găng, đấm bốc trên vũ đài chính trị, thì chỉ gẩy nhẹ một cái là anh chủ nghĩa xã hội ngay lập tức bị xơi một cú nốc ao, ngã giập mặt. Bảo chủ nghĩa xã hội ưu việt, nhân đạo hơn triệu lần tư bản có nghĩa là bóc lột, bất công gấp triệu lần. Bảo xoá bỏ sự phân cách giữa giàu và nghèo trong xã hội hiện tại, có nghĩa là làm cho khoảng cách ấy mỗi ngày một rộng ra, do tham nhũng, quan tham. Bảo phấn đấu cho đồng bào miền núi tiến kịp đồng bào miền xuôi nghĩa là ngày càng để mặc cho họ lạc hậu, nghèo đói, rớt xa thêm. Bảo chống tức là xây, bảo triệt tức là để, bảo rời xa tức là bám vào.

(…..)

Trong khi người dân suốt đời úp mặt vào mông trâu, lấy đít trâu làm đích với thu nhập không nổi 1 USD một ngày thì bọn lãnh đạo vô lại ăn trên ngồi chốc, moi hàng tỉ đồng của nhà nước do công sức lao động của họ đóng góp dưới dạng sưu cao, thuế nặng, gấp 20 lần, 21 lần trước năm 1945. Thời ấy địa chủ có ác mấy cũng còn phần dân miếng cơm chim, không đến nỗi để mặc cho bọn cường hào, lý trưởng thu trắng trợn của dân như thế, đến lúc nộp sản xong, nhiều nhà lại trắng tay, có nhà còn lỗ chỏng vó.

(…..)

Vậy thì đúng là đổi màu thật rồi, chị ạ, màu đỏ của máu dân thành màu vàng của kim loại, và màu xanh của USD trong các nhà băng quốc tế như báo chí Mỹ từng đưa tin. Phan văn Khải trong nước có 6 khách sạn 5 sao, ngoài nước có 1, 7 tỉ USD gửi ngân hàng, Lê khả Phiêu có 5 cái, 1, 7 tỉ USD, Nguyễn Tấn Dũng vừa ngấp nghé ngai vàng cũng kịp dính máu ăn phần 1, 4 tỉ USD, Chủ tịch nước Trần đức Lương ngoài căn nhà ở khổng lồ, còn 2.000 mét đất ở Quảng Ninh, 6 hécta đất ở khu nghỉ mát Đồng Mô… lại cũng có tiền tỉ gửi nước ngoài. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An lợi dụng việc mẹ chết làm ma to, ngoài họ hàng, làng nước còn hơn 60 ô tô lớn nhỏ thuộc trung ương và các bộ ngành về phúng viếng. Hàng nghìn chiếc phong bì đã rút ruột xong, không thèm đem đốt đi, lại đem thả trôi đầy sông Vị Hoàng, khiến cả triệu công dân thành phố Nam Định bàng hoàng, bàn tán xôn xao…

(…..)

Như một lão già bội thực vì ăn bẩn lại không giao lưu với thế giới bên ngoài. Cứ đóng cửa thành dầm dề, khai khắm, đảng cũng nên tự hạ huyệt chôn mình, đừng bắt dân phải đào huyệt chôn Đảng. Hổ chết để da, người ta chết để tiếng, nếu muốn dân thắp cho Đảng một vài nén hương thì Đảng nên giữ tiếng cho mình ngay từ thời trai trẻ, tiếc là bây giờ đã quá muộn. Tiếng xấu của Đảng độc tài cộng sản đã truyền đi khắp năm châu bốn bể, và trong nước thì lòng dân đã xì xào: Đảng đại bịp, đại loạn, đại láo, đại ngu, đại tham lam…(…)

Trong lúc ông bố kêu gọi người Việt ở Mỹ “hoà giải” - đúng hơn là “đầu phục” - bọn Bắc Cộng thì tờ báo của bà con gái ông ta ở Quận Cam, Cali, Mỹ Quốc, lại đăng những chuyện ăn trộm, ăn cắp, ăn cướp, ăn lường, ăn bòn, ăn mót, ăn móc, ăn mút, ăn liếm, ăn đút, ăn khoét, ăn đủ cách đểu giả của bọn đầu xỏ Bắc Cộng. Chúng nó bẩn đến như thế mà ông muốn chúng tôi đầu phục chúng nó ư, thưa ông nhà văn kiêm nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính? Ông cha tôi ngày xưa có câu “sui trẻ ăn cứt gà“, nay ông nỡ lòng nào ông làm cái việc “súi người già ăn cứt Cộng sản.” Chúng tôi không đến nỗi ngu như ông tưởng đâu, thưa ông. Ai ăn cứt Bắc Cộng thì ăn, chúng tôi, những người Việt ở Mỹ, chúng tôi không ăn.

Những năm 1980 u ám, trong số những người Việt vì sống không nổi dưới ách cai trị tàn khốc của bọn cộng sản cướp nước nên liều mạng nhắm mắt đưa chân xuống thuyền vượt biển có nhiều người thành kính quì gối, chắp tay cầu xin những Đấng Bề Trên thương xót, ban ân cho đi thoát, cho không bị chết thảm giữa biển, cho được đến cái gọi là bến bờ tự do. Hai mươi năm sau nếu trong số những người vượt biển ấy có người trở về nước tò tí tí te tỉ tè tí tủm với bọn cộng sản, chắc các Đấng Bề Trên không được dzui. Có thể Đấng Bề Trên sẽ nói:

- Tao tưởng mày thù chúng nó, mày không sống được với chúng nó nên tao cho mày đi thoát. Mày đã sang được Mỹ như mày cầu xin nay mày lại vác mặt mày về mày tò tí với bọn Bắc Cộng là nghĩa lý gì? Mày nhớ quê hương mày muốn về thì về, nhưng mày về thăm quê hương, thăm người thân, rồi mày lại sang Mỹ. Có ai nói gì đâu. Nhưng mày về mày ngửi đít bọn cộng sản mày khen thơm như múi mít thì không được. Nếu biết mày sang Mỹ mày yên thân, mày khá rồi mày lại bò về mày lẹo tẹo với bọn người mày chê bỏ năm xưa, tao đâu có mất công cho mày sang Mỹ. Tao cho thằng khác sang Mỹ xứng đáng hơn mày. Mày ưa cộng sản sao mày không ở với chúng nó, mày sang Mỹ làm ký gì?

Ông bố rù quến người khác đầu phục bọn cộng sản, tờ báo của bà con gái đăng những chuyện bọn cộng sản thối rữa quá cỡ thợ mộc, ông bố có thể than với bà con gái:

- Con ơi..! Bố đang kêu gọi người ta đầu phục bọn cộng sản mà con cho báo con đăng những chuyện bọn đầu xỏ cộng sản tệ mạt như thế thì bố còn mở mồm làm sao được!

Nghe nói ông Nhà văn tuy không có tên trong ban Trị sự tuần báo Việt Tide nhưng ông mới thật là ông Chủ Báo Việt Tide, ông là Bố Già chỉ huy tờ báo. Nếu vậy thì ông là Nhà Văn Nhớn kiêm Nhà Tư Tưởng Sâu Sắc kiêm Nhân Vật dũng cảm đứng đầu sóng, ngọn gió, bà ái nữ của ông làm chủ đài phát thanh kiêm chủ bút tuần báo, bố con ông khống chế ngành truyền thông đại chúng ở Quận Cam rồi còn gì. Văn huê là “khống chế”, ngôn ngữ dân gian là “bóp trong tay, day dưới đít.” Nay ông dũng cảm đứng ra đầu phục, xin lỗi, bắt tay hoà giải với bọn Bắc Cộng..! Than ôi..! Sế sì cái gọi nà phong trào chống Cộng của người Việt ở Quận Cam, Cali, Xê Kỳ tiêu tán thoòng đến nơi dzồi. Phải chăng sẽ có một ngày - ngày ấy sợ không còn xa lắm - Đài Phát Thanh ta và toà soạn báo ta sẽ được vinh hạnh đón tiếp Ngài Thủ Tướng Chính Phủ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ghé thăm nhân chuyến Ngài công du Hoa Kỳ. Nhà Văn Nhớn com-lê, vét-tông, ca-la-hoách, trên ngực áo có huy chương Búa Liềm, sẽ kính cẩn đọc diễn văn chào mừng Ngài Thủ Tướng, Nhà Văn Nhớn sẽ thay mặt một triệu người Việt cư ngụ ở xứ Kỳ Hoa kính cẩn dâng lời biết ơn lên Chủ Tịt Hồ Chí Meo muôn éo, ngàn eo..! Vinh hạnh dường bao..! Ngài Thủ Tướng sẽ ban cho ông Nhà Văn Nhớn cái rọ mõm. Một triệu người Việt sẽ kính cẩn cúi đầu nghe Ngài Thủ Tướng ban huấn từ, nghe Ngài dậy bảo phải sống làm sao ở xứ người cho phải đạo. Bà Chủ Bút Báo ta kiêm Bà Chủ Đài cũng Đài ta nốt sẽ cầm cây chổi lông gà điều khiển ban nhạc đài ta đồng ca bài:

Như có Boóc Hồ trong nhà thương Chợ Quém
Boóc vừa ra là chúng chém bay đầu..!

Ngày đó sẽ là ngày khu Bolsa, Orange County, Cali đỏ rực cờ máu, một triệu người Việt ở khắp nơi trên đất Mỹ, nghe lời kêu gọi của Nhà Văn Nhớn, cơm nắm, muối mè lền khên kéo nhau về khu Bolsa dự mét-tinh chào mừng Ngài Thủ Tướng, hình Boóc Hồ dzại đĩ, xin lỗi, phốt ti-pô, sửa lại: …hình Boóc Hồ dzĩ đại được dựng lên che kín mặt tiền nhà Phước Lộc Thọ, nhà tranh đấu cho tự dzo độc tài dzô sản Trần Truồng được Ngài Thủ Tướng Chính phủ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của ông Nhật Tiến, ông Nguyễn Mộng Giác, bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, ôm hun thắm thiết, gắn huy chương Sao Vành Lá Đa ghi công. Trong mít-tinh dzĩ đại tôn vinh Boóc Hồ và chào mừng Ngài Thủ Tướng, ngoài những bài diễn văn ca tụng công ơn trời biển của Boóc và Đảng còn, theo đúng truyền thống Bolsa, có phần dzăng nghệ dzăng gừng, Thi sĩ Cù Cưa lên micro trang trọng ngâm bài thơ Sao Vành kính dâng Hồ Chủ Tịt:

Tối trời em ngỡ trăng thanh
Em ngồi em để cái Sao Vành em ra.
Sao Vành như cái lá đa,
Đen như mõm chó, chém cha Sao Vành..

Nữ Ca sĩ Thờn Bơn kính dâng Boóc Hồ bài ca từng được nhân dân Sài Gòn hát chào mừng Boóc trong những tháng đen hơn mõm chó cuối năm 1975:

Đêm qua em mơ gặp Boóc Hồ
Chân Boóc dài Boóc đạp xích-lô…

Nữ ca sĩ Thị Mầu kính tặng Ngài Thủ Tướng bài ca dân tộc theo điệu Con Đĩ Đánh Bồng;

Ối.. a.. chứ mà.. tình bằng.. tình bằng như cái quạt mo..
Em đem lên lăng Boóc, em dâng cho Boóc Hồ..
Chị dại chị ở Thành Hồ..
Chứ mà.. Em khôn em ở Liên Xô em về.
Liên Xô thì mặc Liên Xô…
Em đi.. mà em đi.. với Cộng thì đồ em hôi!

Nữ Em Xi Chem Chép tem tép, toen toét kể công:

- Kính thưa Ngài Thủ Tướng.. Hôm nay người Việt ở Mỹ hôi họp chào mừng Ngài đông đảo như vầy, bố Kỳ Nhông cũng có một phần công. Khi bố Kỳ Nhông đi tiên phong trên đường về nước kính thăm Lăng Boóc, bọn xấu ở xứ Mỹ này chúng nó chửi bố Kỳ Nhông tàn tệ quá, nhưng ngày vinh quang đỏ lòm hôm nay Boóc Hồ muôn kính, ngàn yêu đến khu Bolsa Sì-trít này thì bọn xấu trốn chui, trốn nhủi hết rồi, Kỳ Nhông nhìn quanh đây không thấy thằng nào cả..! Kỳ Nhông mà thấy thằng nào trong bọn xấu từng chửi bố Kỳ Nhông lảng vảng ở đây Kỳ Nhông đập … vào mặt nó!

Trong Đại Hội Việt Kiều Chào Mừng Ngài Thủ Tướng Chính Phủ Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tổ chức ở Bolsa, Westminster, Cali, Xê Kỳ cờ đỏ rợp trời Mỹ quốc ấy tất nhiên phải có mặt Chủ Tịt Lực Lượng Chồn Lùi Nguyễn Cao Cầy. Đứng dưới hình Boóc Hồ dzĩ đại, Cao Cầy xúc động, nước mắt lưng tròng, ria mép rung rung, bằng giọng lên bổng xuống trầm rất lưu manh, Cao Cầy kể công:

- Được thấy ngày hôm nay Boóc Hồ đến Bolsa Cầy tôi vô cùng phấn khởi, hồ hởi. Thật bõ công Cầy tôi làm Câu Tiễn nếm phân..! Cờ đỏ máu, ảnh Boóc Hồ vào Bolsa, tiệm Phở Nguyễn Huệ bầy bàn thờ Boóc Hồ đèn nến lung linh, hương trầm quyện mùi phở bò thơm ngát, Cầy tôi không còn mong gì hơn nữa!

Lại nghe nói ông con rể của Nhà Văn Nhật Tiến cũng là nhà văn, nhà văn nhưng không phải là nhà văn thường, ông Rể là tác giả một tác phẩm tiểu thuyết viết bằng văn Mỹ bán chạy quá chời, quá đất; ở nhiều tiệm sách người ta xô đẩy, chen lấn nhau tụt cả váy để dành giật tác phẩm ấy, tác phẩm đã được dịch ra 589 thứ tiếng, trong số có tiếng Congo. Ông Bố là Nhà Văn Nhớn, bà ái nữ là Chủ Đài Phát Thanh, Chủ Báo, ông Rể là Nhà Văn Quốc Tế. Dzậy thì gia đình ông, ngoài việc nắm trong tay ngành truyền thông đại chúng ở Cali, còn là Đại Gia Đình Quí Tộc Truyền Thông Văn Học Việt Nam USA! Đại Gia Đình Quí Tộc Truyền Thông Văn Hoc Việt Nam Hải Ngoại ấy mà bắt tay thân thiện với Bắc Cộng thì những người Việt chống Cộng ở Cali chỉ còn có nước bỏ Cali mà cà lơ thất thểu đi về những nơi văn chương cải lương gọi là chân trời, góc biển, cuối bãi, đầu ghềnh, cuộc đời tàn trong ngày tháng đìu hiu, cô đơn gậm nhấm nỗi sầu hận của mình, chiều chiều bùi ngùi nhìn trời mây man mác mà than thở:

- Hồ chường..! Hồ chường..! Ta biết rót về đâu..?

Rót về Cali? Westminster đầy cờ máu, Bolsa ngộp ảnh Hồ Chí Râu..!

Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị

Đây là bài thứ sáu tôi viết về những người Việt được Trung Tâm William Joiner gọi là “những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc, đáng kính, những cá nhân dũng cảm..” Đó là những bà, những ông: Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nhật Tiến, Hoàng Khởi Phong, Cao Xuân Huy, Nguyễn Mộng Giác, Trương Vũ, những người đã gặp anh cán bộ VC Trần Văn Thuỷ đến Mỹ từ Hà Nội bằng tiền của Trung Tâm William Joiner, và đã trả lời những câu hỏi của Cán Cộng. Những câu hỏi và trả lời ấy được Trung Tâm William Joiner xuất bản thành quyển “Nếu đi hết biển“. Trong số một bà, năm ông được Cán Cộng mớm cho chửi rủa cộng đồng người Việt tị nạn ở Mỹ có hai người tôi không ngạc nhiên khi thấy họ trở thành Nhà Văn Chồn Lùi. Người thứ nhất là ông Nhật Tiến, người thứ hai là ông Nguyễn Mộng Giác.

Hôm nay ngày 28 Tháng Ba.. Tôi bồi hồi nhớ lại: 28 Tháng Ba năm 1975 là ngày tôi mất thành phố Đà Nẵng…

Năm năm cứ đến ngày oan trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương..

nguyenmonggiac.jpgDòng thời gian dài một ánh bay.. Những ngày như lá, tháng như mây.. Thấm thoắt đấy mà đã hai mươi chín năm trôi qua cuộc đời.. Để biết tại sao tôi không ngạc nhiên khi thấy hai ông Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác trở thành Nhà Văn Chồn Lùi, tôi xin kể chuyện ngày xưa, một chuyện xẩy ra ba mươi năm trước ở Sài Gòn, thành phố thủ đô yêu thương mà tôi đã không giữ được, xin quí vị cùng tôi trở về Sài Gòn, thành phố thủ đô thân thương của chúng ta, Tháng Bẩy năm 1976…

Biệt Kích Cầm Bút. Hồi ký Hoàng Hải Thuỷ. Làng Văn xuất bản. Trích:

Vài anh tù phản động lỡ lời gọi cai tù là “đồng chí” liền bị các “đồng chí” cự:

- Anh nói ký gì? Ai “đồng chí” mí anh? Bậy bạ…

Nội quy nhà tù Xã hội chủ nghĩa có điều bắt buộc người tù phải gọi cai tù bằng cái tên chung là “Cán Bộ”, không có ông, anh, nhất là không có “đồng chí, đồng rận” gì ráo trọi. Ngược lại cai tù cộng sản gọi tất cả những người dân bị chúng bỏ tù là anh, chị, dù cho “anh, chị” có bẩy bó, tám bó bằng tuổi ông bà nội, ông bà ngoại chúng.

Nhưng Hà Huy Giáp, một trong số những cán bộ lãnh đạo văn nghệ Đảng những năm 1975-1985 lại ưu ái gọi một số văn nghệ sĩ Sài Gòn lơ láo đi dự cái gọi là “Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị” năm 1976 ở Nhà Hát Thành Phố Hồ Chí Minh là “đồng chí“. Số là Việt Cộng vào được Sài Gòn từ ngày Ba Mươi tháng Tư năm 1975, nhưng mãi một niên sau – Tháng 3 năm 1976 – họ mới nhân dịp cho cái gọi là Chánh phủ Lâm Thời Miền Nam và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đi chỗ khác chơi, phát động chiến dịch hỏi thăm sức khỏe văn nghệ sĩ Sàigòn VNCH. Nhiều văn nghệ sĩ, ký giả VNCH lớn nhỏ được xe bông Sở Công an thành phố Hồ Chí Minh đến tận nhà rước đi liền tù tì trong mấy ngày đêm đầu tháng Ba năm 1976.

Xin kể tên những người bị bắt trong chiến dịch khủng bố ấy theo trí nhớ của tôi: Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Sĩ Tế, Lý Đại Nguyên, Trần Việt Sơn, Nguyễn Hải Chí tức họa sĩ Chóe, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Duyên Anh, Đằng Giao, Trịnh Viết Thành, Dương Nghiễm Mậu, Mặc Thu, Thái Thủy, Hồ Nam, Cao Sơn, Xuyên Sơn, Minh Vồ chủ nhiệm Con Ong, Hoàng Vĩnh Lộc, Hồng Dương, Minh Đăng Khánh, Thân Trọng Kỳ, Lê Xuyên Chú Tư Cầu, Anh Quân, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Hồ Văn Đồng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Hữu Hiệu, Sao Biển, Hoàng Anh Tuấn đạo diễn “Hai chuyến xe bông” v.v… Các anh Văn Chi, Uyên Thao, Tú Kếu Trần Đức Uyển, Vũ Ánh, Đoàn Thạch Biền, Nguyễn Tú, Như Phong là những ký giả văn nghệ sĩ bị bắt ngay từ những tháng cuối năm 1975. Văn nghệ sĩ bị bắt nhiều tôi không nhớ xiết.

Chiến dịch bắt bớ rầm rộ mấy ngày đêm đầu tháng, lai rai kéo dài mãi đến cuối tháng Ba năm 1976. Không phải tất cả văn nghệ sĩ Sài Gòn đều bị bắt hết. Những người chưa bị bắt mặt mũi xanh xám không biết xe bông công an đến rước mình lúc nào. Tháng Năm năm 1976, cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố HCM tổ chức cái gọi là “Khóa Bồi dưỡng Chính Trị” cho văn nghệ sĩ Sài Gòn “kẹt giỏ” hàng dân lơ láo và ngơ ngáo không giống ai, không ai giống. Khóa Bồi Dưỡng Một có những văn nghệ sĩ thượng thặng của giới văn nghệ Sài Gòn đi dự: Thái Thanh, Hà Thanh, Hoài Bắc, Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều, Thẩm Thúy Hằng, Lệ Hằng Bản Tango cuối cùng, Nguyễn Thị Hoàng Vòng Tay Học Trò, Nguyễn Thụy Long Loan Mắt Nhung, Phạm Thiên Thư Động Hoa Vàng, Nhật Tiến Những Người Áo Trắng.. v.v..

Khóa Bồi Dưỡng Một không được tổ chức linh đình, không nhiều người tham dự bằng Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai Tháng Bẩy năm 1976. Khóa Hai có trên năm trăm khóa viên hăng hái và rầu rĩ đăng ký tham gia. Giới nghệ sĩ cải lương đông người nhất. Trong số 500 khóa viên có tới 300 mạng là nghệ sĩ cải lương, những chuyên viên kéo màn, dựng phông, gọi là lo đề-co, chạy hiệu của cải lương Sài Gòn cũng được kể là văn nghệ sĩ, số 200 nghoe còn lại chia đều cho các tổ Thơ Văn, Điện ảnh, Tân nhạc, Cổ nhạc….

Cái gọi là tổ Thơ Văn – tức tổ chấy của các anh ký giả, văn nghệ sĩ, trong số có những anh thợ viết tiểu thuyết “phơi-ơ-tông”, là tổ “được” Cán Cộng chú ý nhất. Cộng sản rất kỵ bộ môn sáng tác gồm những người tự mình chống Cộng bằng tư tưởng, bằng tác phẩm của mình. Cộng sản không coi trọng lắm những người thuộc bộ môn trình diễn, tức là những người khi được giao vai trò chống Cộng thì chửi Cộng ra rít theo lời người khác, khi được giao đóng vai chửi Quốc gia thì lại mặt trơ, trán bóng, miệng lưỡi leo lẻo chửi bới Việt Nam Cộng Hòa ra trò.

Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai được khai mạc ở Nhà Hát Thành Phố. Người khai mạc là Hà Huy Giáp. Người lãnh đạo văn nghệ của miền Bắc Xã hội chủ nghĩa có nhiều người dân không đến chết đói mà chỉ đói đến chết, lại có thể hình béo tốt, hồng hào, mặt mũi, da dẻ láng bóng quá cỡ thợ mộc. Ngày khai mạc, khi ban huấn từ “Đồng chí Lãnh đạo” nói một câu xanh rờn:

- Tôi gọi các bạn là “đồng chí” vì tất cả chúng ta đều cùng một chí nguyện: làm cho nước Việt Nam được giầu đẹp, làm cho nhân dân Việt Nam được ấm no…

“Lãnh đạo” nói tiếp:

- Khóa này được gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị vì những người tổ chức thấy các văn nghệ sĩ Sài Gòn có thành kiến, có ác cảm với hai tiếng “cải tạo”. Thực ra cải tạo chẳng có gì đáng sợ. Chúng ta phải tự cải tạo mỗi ngày để trở thành người tốt…

Khóa học 21 ngày, khóa viên được bồi dưỡng sinh hoạt phí 1 đồng tiền Hồ mỗi ngày, được một lần cấp “nhu yếu phẩm”: nửa ký đường, hai hộp sữa, hai gói thuốc lá, một lạng bột ngọt. Khoá viên được đớp hai bữa trưa ở Nhà Hát: bánh mì thịt mỗi mạng một ổ, nước ngọt, bia gọi là bia hơi được đựng trong thùng phuy. Khóa nào muốn uống phải mang theo ca hoặc mượn ca của khóa khác. 21 ngày học chỉ được đớp hai bữa thôi, không phải trưa nào cũng được đớp. Phải nói rõ để các vị không đi dự khỏi tiếc rẻ: “Mấy thằng đi học sướng quá, ngày nào cũng được Việt Cộng nó cho đớp bánh mì thịt..!”

Những anh ký giả Sè Goòng trước đó một niên đã làm “Ngày Ký Giả Đi Ăn Mày” để bỉ mặt Tổng Thiệu, nay được dịp làm “ăn mày” thật sự. Ký giả là những người đói nhất trong giới văn nghệ sĩ bỏ nước chạy lấy người không kịp. Không phải anh em ký giả, văn nghệ sĩ Sài Gòn ta ngày xưa không kiếm được tiền, anh em kiếm được tiền có người còn hơn giới công tư chức cùng thời nhưng anh em ăn chơi, tiêu hoang, kiếm được năm thì tiêu mười. Việt Cộng vào Sài Gòn, anh em đói đến không có cơm mà ăn, không phải chỉ đói cà phe, đói thuốc lá, đói phở, đói cơm sườn, đói giả cầy tiệm Bà Cả Đọi. Cùng dự khóa bồi dưỡng với kẻ viết bài này có Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang dịch giả Bố Già The Godfather của Mario Puzzo. Hôm được phát “nhu yếu phẩm” như vừa kể người ta thấy vắng bóng Ngọc Thứ Lang ngay lập tức, rồi vắng bóng chàng suốt ngày hôm sau. Khóa viên Ngọc Thứ Lang không đến lớp vì còn bận tự “bồi dưỡng” bằng hai hộp sữa, nửa ký đường, hai gói thuốc, lạng bột ngọt. Chàng phát mại ngay những thứ không nhu yếu gì với đời sống của chàng để lấy tiền “choác.”

Và Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai có Cô Khóa Mộng Tuyền. Tháng Bẩy năm 1976 ở Thành Hồ, Mộng Tuyền còn trẻ, đẹp. Ký giả đói, nhưng các em đào cải lương vẫn đông vàng, đông kim cang. Các em như Mộng Tuyền – bận bà ba phin nõn, quần đen, đi guốc – phây phây đến lớp. Các em không đi xế hộp, nhưng các em cũng không đi xế đạp, các em đi “học” bằng xe xích lô.

Sau Hà Huy Giáp ban huấn từ khai mạc, khóa bồi dưỡng có từng này vị lên lớp, mỗi vị một ngày:

- Huy Cận nói về Thơ.

- Chế Lan Viên nói về Người Nghệ Sĩ đi theo Đảng

- Hoàng Trinh, lý thuyết gia văn nghệ nói về “Sự bế tắc văn học – nghệ thuật của xã hội tư bản

- Vũ Khiêu nói về văn nghệ chung chung…

- Bẩy Lý, Tổng biên tập báo Sàigòn Giải Phóng lên lớp về “Chủ nghĩa Mác-Lê-nin

Huy Cận mập khỏe, nước da bánh mật, trông không có qua một vẻ gì là người làm được những câu “Nắng chia nửa bãi chiều rồi. Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá sầu…” Huy Cận nói đúng là nói vung xích chó, nói văng bọt mép. Ngoài việc anh khoe anh sung sướng, anh thoải mái mần thơ trong chế độ xã hội chủ nghĩa, anh còn khoe anh vẫn mần thơ tình, anh quả quyết chế độ xã hội chủ nghĩa không tiêu diệt thơ tình v.v… Chế Lan Viên yếu hơn Huy Cận về mọi mặt. Buổi nói chuyện của Chế Lan Viên được tổ chức ở rạp Olympic đường Hồng Thập Tự. Rạp không đủ đèn sáng. Chế Lan Viên ngồi bàn nói chuyện, đặt ly bia trên bàn. Mỗi lần y ghé mồm uống bia, micro bắt tiếng động làm người ta nghe thấy những tiếng “chụp choạp” rất xã hội chủ nghĩa.

Vũ Khiêu – nghe nói tên thật là Đặng Vũ Khiêu – là anh nói dở nhất trong cả bọn. Vốn liếng kiến thức của anh chỉ đủ cho anh nói láp nháp được trong một giờ. Buổi lên lớp của anh kéo dài cả ngày. Buổi sáng anh nói được hai tiếng thì tạm nghỉ để đi đé, Ngọc Thứ Lang nói ngay:

- Thằng cha Vũ Khiêu này… hay chữ lỏng..!

Thành ngữ Bắc kỳ gọi những anh chữ nghĩa đựng không đầy cái lá mít nhưng thích ba hoa nói những chuyện văn học, nghệ thuật, hay kể lời sách nọ, sách kia là những anh hay chữ lỏng. Vũ Khiêu thuộc loại “Bắc Kít Hay Chữ Lỏng” điển hình. Anh nói ba lăng nhăng về Kiều, ca tụng Từ Hải như đại anh hùng dân tộc. Người nghe dốt nát nhất cõi đời này cũng biết anh quên, hay anh cố tình quên, ông cố, bà sơ anh có câu dặn con cháu:

Đàn ông chớ kể Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều

Văn học lý luận gia Mác-xít Vũ Khiêu tỏ ra “hay chữ lỏng” rõ ràng nhất ở câu chuyện anh kể về cái gọi là “tình đoàn kết thân thương cố hữu” của dân tộc Việt. Anh đưa chuyện ngày xưa có nhà kia năm đời sống chung một nhà đoàn tụ gia đình hòa hợp với nhau. Vua nghe tiếng tốt bèn đến thăm và ban cho gia đình một trái lê với ẩn ý thử xem gia đình này chia nhau ơn Vua ra sao. Nhà đông tới cả trăm miệng ăn. Làm sao chia cho mỗi người một miếng lê nhỏ bằng đầu que tăm xỉa răng? Trưởng gia bèn nẩy ra sáng kiến kính cẩn cho trái lê vua ban vào nồi ba mươi nước sôi, cho tan ra nước, mỗi mạng uống một ly hạt mít nước. Thế là cả nhà ai cũng được hưởng lộc vua.

Câu chuyện thuộc loại quân tử Tây gọi là “a-nếch-đốt” – chuyện truyền khẩu, chuyện ngoài lề nghe chơi rồi bỏ – trái lê nấu nước chia nhau uống xưa như trái đất. Đó là chuyện xẩy ra dưới một đời vua nào đó bên Tầu nhưng người văn nghệ Mác-xít Vũ Khiêu lại nói là chuyện xẩy ra đời vua Trần nước Việt.

Các đàn anh dzăng nghệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa lên lớp chung cho 500 đàn em dzăng nghệ, dzăng gừng, dzăng bút, dzăng báo, dzăng cơm, dzăng đủ thứ ở Thành Hồ tại Nhà Hát Lớn. Hôm sau, các khóa sinh trở về tổ mình thảo luận về đề tài đàn anh lên lớp hôm qua. Hướng dẫn viên Tổ Một Thi Văn Vũ Hạnh gọi việc này là “đèo seo…”, tức “đào sâu” vào đề tài. Thảo luận thêm, tham gia ý kiến của mình, thường là ca tụng: “…Hay quá, giúp cho người nghe có tư liệu chất lượng tốt để hiểu thêm về dân tộc, về dzăng nghệ.. v.v…”. Những cuộc thảo luận “đèo seo” học hỏi này có biên bản để nộp các lãnh đạo dzăng nghệ.

Khi ấy, người viết bài này đã có ý định phát biểu mấy nhận xét để ghi vào biên bản gửi đến ông Vũ Khiêu Hay Chữ Lỏng. Đại khái:

- Chuyện trái lê nấu nước chia nhau uống là chuyện người Tầu đời Đường, không phải chuyện xẩy ra đời nhà Trần nước ta. Nhận vơ không hay hướm gì và tôi nghĩ ta không cần nhận vơ. Khi ông nói trước cả trăm người Sài Gòn chúng tôi về chuyện đó, tôi thấy:

- Nếu ông không biết chuyện trái lê nấu nước là chuyện Tàu thì ông ngu quá.

- Nếu ông biết chuyện trái lê nấu nước là chuyện Tàu mà ông cho chúng tôi hổng biết, ông có nói đó là chuyện đời nhà Trần chúng tôi cũng mù tịt thì ông… quá ngu.

- Nếu ông biết chúng tôi cho việc ông nói chuyện trái lê nấu nước là chuyện người Việt là nói bậy mà ông vẫn cứ nói thì ông mặt trơ, trán bóng quá đỗi. Chúng tôi không có lời gì để đánh giá con người dzăng nghệ Mác-xít như ông.

Nhưng… nghĩ vậy người viết bài này đã không nói ra. Tâm trạng anh Khóa bất đắc dĩ Tháng Bẩy năm 1976 đang đen hơn mõm chó mực. Các bạn anh đang ngồi rù trong tù, anh không bị bắt như anh em, vợ con anh không khổ nhục như vợ con anh em anh, anh vác bản mặt nhẵn hơn cái đũng quần lĩnh cô đầu đi dự “Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị”, anh ngồi tễu mặt nghe Việt cộng nó dậy dỗ, nó chỉ bảo, anh không câm miệng, không cúi mặt xuống, anh còn ọ ẹ bắt bẻ Việt cộng nỗi gì.

Nghe nói ở Hà Nội có lần nói chuyện xong Vũ Khiêu hỏi Đoàn Phú Tứ:

- Anh thấy tôi nói ra sao?

Đoàn Phú Tứ trả lời:

- Anh nói thì con rắn ở trong lỗ nó phải bò ra nó nghe, nó bò ra nó nghe nhưng không thấy gì cả nó lại bò vào lỗ.

Hoàng Trinh – nghe nói là sui gia với Trường Chinh – lên bục nói về “Sự bế tắc văn học nghệ thuật tư bản” nói chung và nói riêng về tình trạng tắc tị trong lãnh vực tiểu thuyết ở các nước Âu Mỹ.

Hoàng Trinh nói dễ thôi. Các đàn anh lý thuyết văn nghệ Liên Xô ăn lương tháng viết vung xích chó cả ngàn bài nghiên cứu về văn học nghệ thuật tư sản – tư bản, các đàn em chỉ việc dịch và đọc. Tất nhiên là văn học nghệ thuật tư bản đồi trụy, thối nát, tắc nghẽn, cuồng dâm, ca tụng bạo lực, ăn bám, thối nát, đang rẫy chết và chết đến đít rồi. Chuyện tất nhiên khỏi cần nói thêm. Hoàng Trinh kể một tác phẩm kịch điển hình làm bằng chứng là “văn học nghệ thuật tư sản thối nát quá cỡ…”

Vở kịch Hoàng Trinh đưa ra là vở Le Balcon của Jean Genet. Việc dùng kịch Le Balcon để đả kích văn nghệ tư sản cũng chẳng phải là sáng kiến của Hoàng Trinh, đàn anh Nga Cộng viết, Hoàng Trinh chỉ việc nhai lại.

Jean Genet là văn sĩ thuộc loại “thiên tài hắc ám, quỷ ám” của Pháp. Người Pháp có tiếng “maudit” chỉ loại người này. Ra đời năm 1911 ở Paris, bị mẹ bỏ rơi, được nuôi trong Viện Cô Nhi, năm 13 tuổi Jean Genet bị đưa đến Trại Trừng Giới, bỏ trốn, đi bụi đời, bị bắt nhiều lần vì những tội trộm cướp; năm 1948 phạm trọng tội bị án tù chung thân. Nhiều văn sĩ Pháp, trong đó có Jean-Paul Sartre, người vận động tích cực nhất, gửi kiến nghị thư lên Tổng thống Pháp xin ân xá cho Jean Genet, tác giả những tác phẩm Notre Dames Les Fleurs, Journal d’un voleur, Querelle, Miracle de la rose v.v… Jean Genet được ân xá, Jean Paul Sartre phong thánh cho Jean Genet, goi Jean Genet là một thiên tài văn nghệ. Jean Genet qua đời năm 1986.

Đây là lời Hoàng Trinh kể kịch Le Balcon:

- Kịch xẩy ra trong một nhà ăn chơi ở thủ đô một quốc gia Âu châu. Nhà ăn chơi này do một phụ nữ làm chủ. Khách chơi là bọn đàn ông giàu tiền có ẩn ức sinh lý, những anh muốn được làm đại tướng, chánh án, giáo chủ. Chị chủ nhà tổ chức những phiên tòa cho chánh án rởm xử, những trận đánh cho đại tướng rởm chỉ huy, những thánh lễ cho giáo chủ rởm hành lễ. Đêm ấy có cuộc nổi loạn nổ ra trong thủ đô.

Anh Tổng Giám đốc Cảnh sát là tình nhân của chị Chủ Chứa. Anh đến cho mọi người trong nhà biết với lực lượng cảnh sát anh có thể dẹp được đám nổi loạn nhưng phiền một nỗi là Nữ hoàng, Chủ tịch Quốc hội, Tổng Chưởng lý, Đại tướng, Giáo chủ v.v… nghe tiếng súng nổ và biết có loạn, đã bỏ thủ đô phú lỉnh ra nước ngoài hết. Anh Xếp Phú lít than thở: “Phải chi bây giờ có Nữ hoàng, Chủ tịch Quốc hội, Giáo chủ, Đại tướng v.v… xuất hiện trên ban-công Hoàng cung cho nhân dân thấy thì nhân dân bỏ bọn nổi loạn ngay.”

Chị Chủ Chứa nẩy ra sáng kiến:

- Khó gì? Ở đây mình có đủ triều đình văn võ bá quan. Mình có ông Đuy Quốc Tô đây là Đại tướng, ông mần vai đại tướng quen rồi, ông còn oai phong hơn cả đại tướng thứ thiệt. Mình có ông Đờ Cốc Si Cốc đây là Chủ tịt Quốc hội, có ông Lơ Poan vẫn mần Giáo chủ hành lễ trang trọng. Ông Pip Pơ Lô đây đóng vai Chánh án đẹp lão nhất thế giới. Còn em, em đóng vai Nữ hoàng? Được hông? Ai cũng nói trông em giống Nữ hoàng lắm. Người ta còn khen em đẹp hơn, tình hơn Nữ hoàng năm, bẩy thành…

Và thế là – xin bạn đọc nhớ đây là lời kể của kép Hoàng Trinh ở Nhà Hát Thành Hồ tháng Bẩy năm 1976 – kế hoạch diệt đảo chính được chấp thuận. Triều đình Nhà Thổ đủ mặt Nữ hoàng, văn võ bá quan, lãnh đạo tôn giáo, quan chức tư pháp, lập pháp, tướng tá quân đội, cảnh sát đàng hoàng xuất hiện trên ban công lâu đài hoàng cung. Nhân dân, đứng dưới sân xa nhìn lên ban-công, thấy triều đình vẫn vững như chum vại bèn bỏ rơi đám nổi loạn, tan hàng trở về nhà. Cuộc nổi loạn bị dẹp thê thảm.

- Đây chỉ là chuyện kịch thôi – lời Hoàng Trinh – nhưng xin quý bạn nhớ rằng bọn văn sĩ tư sản đồi trụy đã khinh khi tất cả những giá trị của xã hội. Nữ hoàng của họ là chị chủ chứa, những nhà cầm quyền của họ là những tên đàn ông bệnh hoạn tâm-sinh lý. Không những bọn văn sĩ tư sản chỉ miệt thị những giá trị tư sản mà thôi, họ còn miệt thị cả nhân dân nữa. Nhân dân trong kịch Le Balcon được trình bày như một lớp người ngu đần chuyên bị đánh lừa và chỉ bị lợi dụng.

Lý luận gia Mác-xít ăn theo Hoàng Trinh nhận “nhân dân” thuộc phe anh, bọn văn sĩ tư sản đồi trụy phỉ báng những nhân vật lãnh đạo tư sản thì anh cho là đúng, là được, nhưng khi văn sĩ tư sản miệt thị “nhân dân” thì anh phẫn nộ. Anh hằn học:

- Jean Genet chửi cả “nhân dân”…

Tất cả những gì xấu xa trên cõi đời này đều của phe tư sản, tất cả những gì tốt đẹp trên cõi đời này đều của phe cộng sản. Thái độ nhận vơ lố bịch ấy của những người cộng sản – thường được gọi là “vơ vào” – đã làm họ bị kê tủ đứng vào miệng khi Liên Xô, thành trì xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ, phơi bầy những tội ác ghê rợn của cộng sản đối với loài người. Chuyện ấy ta chẳng cần phải nói nhiều hơn.

Chi tiết cần ghi lại về buổi nói chuyện của Hoàng Trinh là khi anh ta nói:

- Thưa quý bạn, Le Balcon kết thúc bằng câu nói của chị chủ nhà thổ. Khi cuộc nổi loạn đã bị dẹp, chị nói với cử tọa: “Kịch đến đây là hết. Trời sắp sáng. Mời quý vị trở về nhà. Xin quý vị nhớ cho rằng chẳng phải chỉ ở đây quý vị mới thấy kịch, mói đóng kịch. Ở bất cứ đâu cũng kịch mà thôi. Ở những nơi khác còn kịch cợm, còn giả dối hơn ở đây nữa“.

Hoàng Trinh vừa nói đến câu trên – “Ở đây kịch, ở đâu cũng kịch, kịch cả mà thôi” – thì khựng lại vì tiếng vỗ tay ồ ạt nổi lên.

Quý anh văn nghệ sĩ bộ môn Cải lương ngồi trên lầu Nhà hát vỗ tay trước. Bọn chúng tôi vỗ theo. Tôi – thú thực vẫn không coi trọng lắm quý anh cải lương – nhưng tôi thán phục quý anh quá cỡ thợ mộc khi tôi dự Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai cùng với quý anh và được thấy quý anh biểu diễn phản ứng tuyệt vời hai lần bằng những cái vỗ tay điệu nghệ thần sầu, quỷ khốc, nhân kinh, cán cộng ngẩn ngơ của quý anh.

Quý anh vỗ tay đây là vỗ tay hoan hô Jean Genet. Hổng phải quý anh vỗ tay hoan hô Kép Cộng Hoàng Trinh. Tất nhiên Jean Genet viết đã hay, quý anh xử dụng Jean Genet cũng tuyệt chiêu, bằng những tràng pháo tay ấy quý anh nói với bọn cán cộng:

- Đúng. Kịch cả mà thôi. Chúng tôi đến đây xem các anh đóng kịch. Chúng tôi cũng đóng kịch với các anh.

Nhưng quý anh nào là người đã nghĩ ra cách nói ấy đầu tiên? Quý anh bộ môn cải lương nào là người thứ nhất đã vỗ tay để cả nhà kịch chúng tôi bắt chước hôm ấy?

Trong Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị tháng Bẩy năm 1976, quý anh cải lương không chỉ phát biểu bằng cách vỗ tay một lần, các anh vỗ tay hai lần. Lần nào tôi cũng thán phục sự linh động, óc thông minh của quý anh.

Hai mươi mốt ngày học xong, ngày bế mạc cũng được tổ chức linh đình ở Nhà Hát Lớn. Mỗi tổ cử một đại diện lên phát biểu cảm tưởng sau khóa học. Ông Nguyễn Hữu Ba đại diện tổ Cổ Nhạc lên máy.

Tội nghiệp ông già Nguyễn Hữu Ba. Ông lên nói láp nháp vài câu là được rồi. Không ai, kể cả cán cộng, muốn ông nhiều lời. Ông nói dai quá. Đã nói dai, ông còn ngắc ngứ, vô duyên.

Khi ông nói:

- Đã bao nhiêu năm chúng ta ôm người đàn bà Phi Luật Tân và gọi bà ta bằng mẹ… Bi giờ đã đến lúc chúng ta trở về với bà mẹ Việt Nam đích thật của chúng ta…

Ý ông Nguyễn Hữu Ba muốn nói bao nhiêu năm nay bọn đàn địch Sè-goòng vẫn ôm cây đàn ghi-ta ét-ba-nhon mà coi đó là đàn của mình, nay nhờ Bác và Đảng cho sáng mắt, sáng lòng, hãy trở về với cây đàn cò…

Một lần nữa phải nói “Tội nghiệp..!” bọn đàn địch Sè-goòng có bao giờ nhận những cây đàn ghi-ta ét-ba-nhon, ha-uây-iên, vi-ô-lông là đàn Việt Nam đâu. Bọn đàn đúm cũng chẳng bao giờ ôm một người đàn bà Phi Luật Tân mà gọi là mẹ. Khi ông Nguyễn Hữu Ba nói đến bà mẹ Việt Nam bị các con yêu bỏ rơi, bỏ quên, bỏ xó, có vẻ xúc động ông ngừng lại.

Ông Ba vừa ngừng lại thì tiếng vỗ tay nổi lên từ trên lầu Nhà Hát. Một lần nữa, lại quý anh cải lương Se-goòng vỗ tay… đuổi. Ông Ba ngẩn người, ông chờ tiếng vỗ tay ngừng để tiếp tục nói. Nhưng những người vỗ tay không chịu ngừng. Ông Nguyễn Hữu Ba còn đứng đó, họ còn vỗ tay. Cuối cùng đương sự phải chịu nhận mình bị đuổi và cúi đầu đi xuống.

Quân tử Tầu có câu: “Quân tử trả thù mười năm chưa muộn”

Người viết bài này cảm khái thêm câu: “Tiểu nhân ca tụng hai mươi năm chưa muộn”

Tháng Bẩy năm 1976, tháng Mười năm 1995… Hai mươi mùa lá rụng đã rơi trên đường đời. Sáng nay bình yên ngồi viết ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, tức Thành Hoa, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi ca tụng quý anh nghệ sĩ cải lương Sài Gòn ta. Tôi thán phục hai lần vỗ tay tuyệt vời của quý anh tháng ấy, năm ấy.

Chúng ta đã thấy những trò, những cảnh ruồi bâu kiến đậu trong cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị chúng ta tham dự ở Sài Gòn. Nhiều anh em ta bắt buộc phải lên micro phát biểu đã tránh né, đã nói nhưng nói rất khéo như Ngọc Chánh, Bạch Tuyết. Ngọc Chánh, đại diện Tổ Tân Nhạc, chỉ nói mấy câu đại ý “Anh em biết nhạc nên tích cực tham gia hoạt động ngay trong phường, trong quận của mình, không nên đòi hỏi như ngày trước,” Bạch Tuyết mặc áo dài, trang điểm rất nhẹ, đại diện Tổ Cải Lương, lên ngâm một bài thơ của Chế Lan Viên. Họ Chế có mặt lúc đó, nghe Bạch Tuyết ngâm thơ của y, sướng tê trái tim. Nhiều anh chị em ta lên nhận mình “mắt mù, tai điếc, nay may mắn được Đảng cho sáng mắt sáng lòng” làm chúng ta tủi hổ. Nhưng thôi, chúng ta nên quên. Tết đến, ngày xuân, năm mới. Ở xứ người chúng ta nên vui vẻ, thương yêu nhau. Tôi không bới móc tội lỗi của người khác để tội lỗi của tôi không bị người khác bới móc.

Vở tuồng nhạt nhẽo màn chưa hạ
Vai kép tuồng kia vẫn diễu hoài

Thơ Thanh Nam, Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi, làm ở Sai Gòn năm 1970. Và đây là thơ Francis Quarles:

Respice Finem

My soul, sit thou a patient looker-on
Judge not the play before the play is done:
Her plot hath many changes; every day
Speaks a new scene, the last act crowns the play.

Ôi hồn ta… ngồi yên mà coi
Vở tuồng đời
Đừng phê phán trước khi tuồng hết
Còn bao nhiêu màn khóc, màn cười
Tuồng chưa hết làm sao ta biết
Mỗi ngày qua là một đổi dời
Chờ đến lúc coi xong màn kết
Mới biết tuồng hay dở mà thôi!

Thi sĩ khuyên ta ngồi yên mà coi. Nhưng làm sao ta ngồi yên mà coi được? Ta không phải là khán giả ngồi xem cái gọi là “vở tuồng đời”. Ta là một nhân vật trong vở tuồng ấy, ta bị quay cuồng, ta khóc, ta cười trên sân khấu Đời ấy.

Nếu nói được như chị chủ Le Balcon: “Kịch cả mà thôi. Giả hết“, chắc ta có thể thản nhiên sống trong vở tuồng đời. Khổ nỗi, đôi khi ta không thể đóng kịch, ta không giả dối được. Vì không đóng kịch được nên đôi khi ta bị roi đời quất hằn trên mặt.

Tôi hổ thẹn khi phải vác mặt mo đến dự cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn. Có hôm đứng xớ rớ trong hành lang Nhà Hát Lớn, thấy Lệ Thu đi đến, tôi không dám để nàng nhìn thấy mặt. Lẽ ra tôi phải hỏi thăm Lệ Thu về Hồng Dương, bạn tôi đang ở trong tù: “Ở đâu có biết không? Sức khỏe ra sao? Gửi đồ tiếp tế thế nào? Có tin gì gửi ra không? Có được gặp mặt không?… v…v…” Nhưng thay vì hỏi Lệ Thu những câu ấy, tôi xấu hổ nên quay mặt đi hướng khác.

Ngày bế mạc khóa học được tổ chức ở Nhà Hát Lớn, tôi là người được anh chị em Tổ Thi Văn bầu làm đại diện Tổ, sẽ lên nói cảm tưởng. Nhưng đến phút cuối cùng những người tổ chức không cho tôi lên nói, tôi bị bất ngờ và tôi cũng sợ nên tôi ngồi im. Nếu tôi không ngán sợ lúc ấy lẽ ra tôi phải đứng lên phản đối: “Tôi là đại diện Tổ. Anh chị em trong tổ cử tôi phát biểu, sao không cho tôi lên nói mà lại để người khác nói..?” Lẽ ra tôi phải làm như thế rồi bỏ ra về.

Tan hàng lúc 5 giờ chiều. Tôi u uất đến độ không muốn đạp xe về căn nhà tối của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, tôi đến nhà ông anh kết ngãi với tôi ở đường Ký Con để nói với ông vài câu, uống chạc của ông mấy ly rượu cho bớt sầu đời. Thấy tôi vào, ông hỏi:

- Làm cái gì mà mặt mũi cậu trông ghê như mặt tù cải tạo vậy?

Tôi rầu rĩ trả lời:

- Hôm nay tôi ngồi với một số người tự bốc cứt vứt lên mặt họ. Tôi không làm việc ấy nhưng vì tôi ngồi cạnh họ nên cứt văng sang mặt tôi.

Cuối Thế Kỷ 20, đầu Thế Kỷ 21, những anh Con Trai Bà Cả Đọi Giao Chỉ có cái hay là không cần kỳ cọc học chữ Hán các anh vẫn có thể hiểu được Thơ Đường. Như hai câu thơ của Đỗ Mục:

Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa..

Các anh biết ngay đó là “Những em gái chơi - trong bài thơ này là những em ca sĩ - không biết cái hận mất nước.. Đêm đêm vẫn hát bài Hậu Đình Hoa..” Cay cú thì thêm vào mấy tiếng: “..Hát cho bọn Bắc Cộng cướp nước nghe..”

Tôi đọc Dạ Bạc Tần Hoài những năm 1950. Năm xưa ấy tôi thấy Thơ Đỗ Mục Dạ Bạc Tần Hoài rằng hay thì thật là hay.. Nhưng không ngậm đắng, nuốt cay tí nào! Không cay đắng bởi vì từ năm đó - năm 1950, năm tôi mới lớn; không nhớ vào năm ấy tôi còn trinh tiết hay tôi đã mất trinh, thời gian qua nửa thế kỷ rồi, làm sao nhớ được - từ năm 1950 đến năm 1975 tuy tôi đã mất một nửa nước, tôi vẫn còn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa của tôi. Chỉ đến những đêm buồn khủng khiếp sau 1975, từ đó dài dài dài mãi cho đến bây giờ và không biết còn dài đến bao giờ, tôi mới biết cái nhục mất nước và tôi mới thấm Thơ Dạ Bạc Tần Hoài của Đỗ Mục.

Những em xướng ca, đời nào cũng vậy, thường chỉ hát phục vụ bọn đàn ông có quyền, có tiền. Nghề nghiệp của các em bắt buộc các em phải làm như thế. Các em phải phục vụ bọn đàn ông có quyền, có tiền để sống. Tôi chẳng trách gì cá em nhưng đău lòng trước việ các em làm thì tôi vẫn đau, kể chuyện đau lòng để lại cho người dời sau tôi vẫn phải kể.

Ta đã thấy Người Thơ tài hoa Nguyễn Du kể chuyện Nàng Cầm ở thành Thăng Long những năm 1800:

Long Thành giai nhân
Tính thị bất kỳ thanh
Độc thiện Nguyễn cầm
Cử thành chi nhân dĩ Cầm danh….

Người đẹp Thành Thăng Long. Họ tên không ai rõ. Riêng giỏi đàn cầm. Nên người toàn thành gọi tên là Cầm..

Đàn Cầm còn có tên là đàn Nguyệt, lại có tên là đàn Nguyễn, do Nguyễn Hàm, một vị trong Trúc Lâm Thất Hiền đời Tấn bên Tầu tạo ra. Thi sĩ Trữ Tình kể chàng nhìn thấy Nàng Nguyệt Cầm lần thứ nhất trong một dạ yến của các tướng lãnh Tây Sơn ở Thăng Long - Thi sĩ ta tuy không ở trong phe Tây Sơn chiến thắng, hơn thế nữa chàng còn ở trong phe Lê Trịnh chiến bại – chàng cũng có góp mặt ăn có, ăn theo những cuộc liên hoan của những người chiến thắng - chàng kể:

Tôi khi trẻ đã được thấy Nàng một lần Trong buổi yến tiệc bên Hồ Giám. Bấy giờ tuổi Nàng ba lần bẩy - Kỷ thì tam thất chính phương niên - tức Nàng hai mươi mốt tuổi đương xuân

Áo hồng ánh chiếu lên khuôn mặt hoa đào. Vẻ mặt Nàng mơ màng, dáng vẻ ngây ngất rất đẹp. Năm cung rộn rịp, biến hóa dưới những ngón tay nàng..

Tướng lãnh Tây Sơn trong tiệc đều nghiêng ngả. Họ đua nhau tặng thưởng tiền cho Nàng

Nhớ lại dạ tiệc ấy qua đã hai mươi năm. Tây Sơn thảm bại, tôi vào Nam. Long Thành không được thấy nữa..

Nay Tuyên Phủ Sứ vì tôi mở tiệc vui. Trong tiệc các nàng ca nữ đều trẻ đẹp. Duy ở phía cuối có một người tóc hoa râm. Mặt gầy gò, thần sắc khô héo, thân mình nhỏ bé. Đôi mày tàn tạ không trang điểm. Nào có ai biết đó là người chơi đàn hay nhất thành.

Nghe khúc nhạc cũ mà giọng điệu mới, tôi thầm rơi lệ. Tai lặng nghe mà lòng buồn thương. Nhớ lại hai mươi năm trước từng thấy Nàng… Thành quách đổi rời, việc người cũng khác. Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan hết. Chỉ còn sót lại người nữ nhạc công này

Chớp mắt trăm năm có là bao
Đau lòng việc cũ lệ thấm áo…
Tôi từ ngày vào Nam tóc trắng hết
Tất nhiên nhan sắc người đẹp phải suy tàn…

Khi tướng lãnh Tây Sơn làm chủ thành Thăng Long, Nguyệt Cầm đang thời xuân sắc, Chàng chưa có danh vọng gì, chắc năm ấy tuổi Chàng cũng ba lần bẩy bằng tuổi Nàng. Chàng được vào dự yến chắc là nhờ đi theo ông anh là đại thần của Nhà Tây Sơn, Chàng ngồi ở cuối tiệc. Hai mươi năm sau - 1813 – Chàng là Đại Sứ Trưởng Sứ Bộ An Nam sang triều cống Thiên Triều Mãn Thanh Ba Tầu; trên đường sang Thiên Quốc Tầu Phù, đi từ kinh đô Huế, Chàng và Sứ Bộ nghỉ lại thành Thăng Long, Tuyên Phủ Sứ đặc biệt mở dạ tiệc để khoản đãi Chàng. Đêm nay, vật đổi, sao dời, Chàng là thượng khách của dạ tiệc, Nàng là nữ nhạc công già, ngồi đàn ở cuối ban nhạc.

Kể lại chuyện xưa để thấy những người hành nghề ca xướng, đàn địch, đời xưa, đời nay, đời sau, đời nào cũng phải phục vụ bọn có quyền, bọn có tiền. Và do đó họ bị chê là:

Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng Hậu Đình hoa!

Biết vậy nhưng ta vẫn đắng cay khi ta sống ở Sài Gòn đau thương những ngày sau cuộc trời long, đất ngả nghiêng đen hơn mõm chó mực, ta nghe, ta thấy- ta bị, ta phải nghe, phải thấy – những em thương nữ ca hát nâng bi bọn Bắc Việt Cộng nón cối, giép râu, răng cải mả, lính cái tóc bím, tức tóc kết đuôi sam, đít to hơn cái thúng, kéo vào làm chủ Sài Gòn Thủ Đô của ta. Ta cay đắng và ta cay cú. Không cay cú làm sao được. Ta cay cú vì ta là người. Thần kinh ta rã rời, trái tim ta nát ngấu như trái sa-bô-chê bị xay trong bình quay sinh tố khi trong ngày bế mạc cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị II cho Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn Kẹt Giỏ ở Nhà Hát Lớn Sài Gòn thất thủ của ta - Tháng Bẩy 1976 - trong buổi chiều đại biểu các Tổ học tập lên diễn đàn phát biểu ý kiến, tâm hồn ta như cái ruột xe đạp sì hơi, rách còn hơn cái mền Sakymen - Sài Gòn Kỹ Nghệ Mền Len, Xưởng Máy ở chân cầu Bình Triệu – khi ta ngồi chết dí ở đấy nghe em thương nữ nói thao thao như mây bay, như suối chẩy:

- Cách mạng mới vào, em cũng sợ lắm. Em từng được nghe nhiều chuyện không hay về cách mạng. Những ngày đầu em cũng hoang mang. May mắn em được chị Kim Cương dẫn dắt. Em đi hát và trong một lần trình diễn em thấy cử tọa nghiêm túc nghe em hát, tán thưởng, cổ võ đúng lúc. Em nghĩ đây mới thật là chỗ đứng của người nghệ sĩ. Em phấn khởi nghĩ:” Đây mới thực là chỗ đứng của mình..”

Không biết đó là những lời tự em nghĩ ra hay em được ai mớm? Hai mươi nhăm năm xưa khi nghe em nói những câu đó tôi đã thắc mắc như thế, hôm nay viết lại chuyện xưa tôi vẫn còn nguyên thắc mắc ấy. Nếu em nghĩ ra thì tôi phải phục em vì tài nghệ nâng bi của em, nếu đó là lời người khác mớm cho em thì tôi cũng phải phục em vì em nhớ, em nói không vấp váp. Em nói em hát cho bọn ViXi nghe và em thấy việc ấy là đúng, là việc em nên làm, em nói bọn ViXi mới xứng đáng là những kẻ được nghe em hát, chỉ có bọn ViXi mới kính trọng con người nghệ sĩ của em, tôn trọng tài năng của em; em nói “chỗ đứng” – đây là chỗ em đứng em hát – “chỗ đứng” của em là chỗ trước mặt bọn ViXi.. Nhưng rồi ngay sau đó em bỏ chỗ đứng của em, em đi một đường vượt biên.. Hai mươi mùa sầu riêng trổ gai sau ở Hoa Kỳ tôi nhìn thấy em trên băng video. Anh cò mồi của em hỏi em tại sao em hát hay thế, em trả lời em “hát bằng trái tim.” Tôi thắc mắc không biết những năm 76, 77 ở Sài Gòn em hát cho bọn ViXi nghe bằng cái gì?

Ngoài việc nâng bi ViXi trong lần phát biểu cảm tưởng - Cán Cộng gọi là “thu hoạch” - ngày bế mạc khóa Bồi Dưỡng Chính Trị chiều xưa ấy em còn phăng phăng kể cho bọn ViXi nghe chuyện Tổng Thẹo mê em, Tổng Thẹo cứ nhẩy với một mình em trong Đêm Liên Hoan Kỷ Niệm Ngày Thành Lập Sư Đoàn 9 Bộ Binh, em kể em nói với Tổng Thẹo: “Ở đây có nhiều cô.. Tổng Thống nhẩy với cô khác đi, bài nào Tổng Thống cũng nhẩy với em người ta thấy kỳ quá.. Ông ấy nói: ” ..Cái đinh đã đóng vào cột rồi, đâu có dễ gì nhổ ra..” Chiều xưa khi nghe em kể chuyên Tổng Thẹo đa tình ôm nữ ca sĩ đi một đường Tango lả lướt, đang buồn thúi ruột tôi cũng phải nhếch mép cười như mếu vì câu nói văn huê của Tổng Thẹo: “Cái đinh đóng cột..”, và lúc đó tôi nghĩ: ” … Người ta đang nhắc đến hắn, không biết giờ này ở bên Mỹ hắn có bị ù tai, hắt sì hơi không..!”

Thời loạn, nhất là trong những quốc gia bị xâm lăng, bị thôn tính, bị tiêu diệt, chẳng cứ gì đám thương nữ mới bất tri vong quốc hận, bọn văn nhân vô hạnh cũng có nhiều tên tự nguyện nâng bi bọn chiến thắng. Trong buổi bế mạc cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị cho Văn Nghệ Sĩ ở Thành Hồ Tháng Bẩy 1976 ta thấy - ngoài em ca sĩ Cái Đinh Đóng Cột - có anh nhà dzăng lên xưng tội, thành khẩn “cám ơn Bác và Đảng đã cho anh được sáng mắt, sáng lòng” - anh này, ngay sau khi cám ơn Bác và Đảng, cũng ù té một đường vượt biên đi mất hút – có anh ca sĩ lên phát biểu, nói gì không nói, kể chuyện ma tịt:

- Chị Phen Hường Tỏi có cái xe Mátđa thì chị Phen Hường Riềng cũng phải có cái Đátsun. Những nữ ca sĩ Sài Gòn muốn nổi tiếng phải đi qua cái giường..

Chiều ấy nghe anh Ca Sĩ Cà Chớn nói, tôi ngơ ngác: “Tại sao lại có thể mở miệng nói như thế trước bọn Việt Cộng? Chúng nó có đòi mình phải nói như thế đâu? Tại sao mình lại tự bôi bẩn lên mặt mình một cách ngu xuẩn quá như thế?” Loại xướng ca này hát cho Lính chỉ làm cho Lính xấu hổ.

***

Cám ơn quí vị đã đọc bài viết của tôi đến giòng này.

Trong cái gọi là buổi học cuối cùng của Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị II, tôi được anh chị em trong Tổ Thơ Văn bầu làm đại diện để phát biểu trong lễ bế mạc. Vũ Hạnh, người điều khiển các buổi họp tổ, yêu cầu bầu một đại diện dự khuyết, ông Nguyễn Mộng Giác được bầu.

Tổ Thơ Văn có Phan Nghị, Nguyễn Đình Toàn, Cao Nguyên Lang, Lê Minh Ngọc, Thi sĩ Hoa Thề, bà Mộng Tuyết, chị Kiều Oanh, em Nguyễn Thị Minh Ngọc ..vv.. và ông Nguyễn Mộng Giác. Trong một buổi họp tổ ông Nguyễn Mộng Giác nói về Kim Dung. Tôi ngồi đó mà chẳng nghe gì cả, hồn trí để ở đâu đâu. Ông NM Giác nói xong, đến phần anh em góp ý, thấy Cao Nguyên Lang nói có vẻ gay gắt, khi tan về, tôi hỏi Cao Nguyên Lang:

- Sao ông có vẻ có ác cảm với hắn thế? Hắn nói gì thì nói, mặc hắn.. Anh em cả..

Cao Nguyên Lang hậm hực:

- Trước kia nó viết trong số những độc giả của Kim Dung có những người từng đi kháng chiến nhưng thất vọng với kháng chiến nên bỏ về thành, nay nó nói những người đó là bọn phản bội kháng chiến. Mình không nói làm sao được.

Khi được bầu làm đại diện Tổ tôi nghĩ đến chuyện tôi phải nói sao trước bọn cộng sản và trước anh em. Tất nhiên là tôi không thể nào nói bướng, tôi cũng không thể mở miệng ca tụng cộng sản hay tự nhận mình bao nhiêu năm sống mắt mù, tai điếc nay nhờ Đảng mới được sáng mắt, sáng lòng. Anh em chúng tôi không bảo nhau nhưng suy bụng tôi ra bụng anh em, tôi chắc anh em tôi cũng như tôi, chúng tôi cùng nghĩ “bị bắt buộc phải nói thì nói làm sao cho đỡ nhục, cùng lắm thì nói gì cũng được nhưng đừng nói mình sáng mắt, sáng lòng. Nói mấy tiếng đó nhục lắm.” Tôi viết những lời tôi nói ra một trang giấy, định sẵn nếu bọn Vũ Hạnh có hỏi tôi định nói gì tôi sẽ đưa bản đó ra cho chúng xem, nhưng khi nói được nửa chừng tôi sẽ nói vài câu không có trong bản viết.

Nhưng không thấy bọn trong cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng hỏi gì đến tôi cả. Trước giờ các đại diện Tổ phát biểu, Ngọc Thứ Lang hỏi tôi:

- Mày có lên nói không?

Tôi trả lời:

- Tao không biết.

Tôi muốn nói “Tao không biết chúng nó có cho tao lên nói không” nhưng tôi nghẹn họng, tôi chỉ nói được có ba tiếng “Tao không biết!”

Thế rồi đại biểu Tổ Một Thơ Văn lên phát biểu đầu tiên, người lên phát biểu là ông Nguyễn Mộng Giác.

Khi ấy nếu tôi không hèn, không nhát, tôi phải, tôi có quyền, đứng lên, cao giọng nói: “Tôi phản đối. Tôi là đại biểu Tổ Một, sao không cho tôi lên phát biểu..?” Nhưng vì hèn nhát, tôi bị xị ngồi đó. Tôi đành tự an ủi với ý nghĩ tôi hèn nhưng bọn Hội Văn Nghệ Giải Phóng còn hèn hơn tôi, chúng không dám, chúng không muốn để tôi nói nhưng chúng không dám nói thẳng với tôi: “Người trong tổ bầu anh nhưng chúng tôi không cho anh nói..” Chúng có thể nói với tôi câu đó và tôi đành chịu nhưng chúng đã không dám nói. Có lẽ chúng cũng còn đôi chút hổ thẹn chăng! Chúng chọn ông đại diện dự khuyết lên nói, chúng nghĩ tôi sẽ ngồi im không có phản ứng gì; chúng nghĩ đúng, tôi đã ngồi im đúng như chúng nghĩ. Chiều hôm ấy tôi mà không hèn, tôi đứng lên thì cả cái công trình 21 ngày học tập chính trị của chúng tiêu ra nước đái, bọn Hội Văn Nghệ Giải Phóng Sài Gòn sẽ bị Tố Hữu nó sát sà bông Tầu mặt thằng nào thằng ấy méo hơn cái bị rách.

Bốn, năm tháng sau ngày 30 Tháng Tư 1975 dân Sè Goòng kể cho nhau nghe chuyện:

Có người trông thấy nhạc sĩ Văn Vĩ trên xe đạp chạy veo veo trên đường Bàn Cờ, bèn níu lại hỏi:

- Kìa..! Phải ông là ông Văn Vĩ không? Ông sáng mắt bao giờ thế?

Nhạc sĩ Văn Vĩ trả lời:

- Đảng vào Sài Gòn, mắt tôi sáng ra!

Ông Đại Diện Dự Khuyết Tổ Thơ Văn Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị II, ông nhà Văn Nguyễn Mộng Giác, buổi chiều trời mưa lạnh ở Sài Gòn Tháng Bẩy năm 1976, nói trước 500 người trong Nhà Hát Lớn:

- Cám ơn Đảng đã cho tôi được sáng mắt, sáng lòng!

Một lời nói, một đọi máu! Ba mươi năm rồi tôi vẫn nhớ từng lời từng người trong buổi chiều xưa ấy ở Nhà Hát Lớn. Và vì đã nghe ông Nguyễn Mộng Giác nói nhờ Đảng ông được sáng mắt, sáng lòng từ năm 1976 nên tôi không ngạc nhiên khi, trong năm 2004, tôi thấy ông công khai nhận ông là “bạn” của cán Cộng.

Chạy trốn Tổ Quốc

Đây là bài thứ VII tôi viết về những người được Trung Tâm William Joiner gọi là “những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc” trong tập phỏng vấn “Nếu đi hết biển” do cán bộ cộng sản Trần văn Thuỷ thực hiện.

caoxuanhuy_hoangkhoiphong.jpgTrong “Nếu đi hết biển” Cán Cộng TV Thủy, từ Hà Nội đến Hoa Kỳ do tiền của Trung Tâm William Joiner, đã phỏng vấn bà Nguyễn thị Hoàng Bắc, các ông Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Cao xuân Huy, Trương Vũ. Cán Cộng đã mớm lời cho mấy ông bà nhà văn ấy chửi cộng đồng người Việt ở Mỹ tan tành síu quách. Đau lòng khi thấy những ông bà người Việt tị nạn cộng sản ở Mỹ, chỉ vì cái tội căm thù bọn Việt Cộng tàn bạo, ác ôn, làm nhân dân đau khổ, làm đất nước rách nát, nên chống chúng nó, tố cáo những tội ác của chúng nó, đòi đuổi chúng nó ra khỏi chính quyền, mà bị mấy ông bà nhà văn bồ tèo với chúng nó chửi cho tàn canh gió lốc - những ông bà gọi là nhà văn đó cũng là công dân nước Việt Nam Cộng Hoà, từng hưởng lộc nước, từng sống yên thân trong suốt cuộc chiến tranh, từng được nhiều người hy sinh xương máu, tính mệnh cho họ sống. Năm 1975 những ông bà ấy sợ sống không nổi với cộng sản nên bỏ nước chạy lấy người sang Mỹ; họ cũng sống nhờ người Mỹ, nhờ nước Mỹ, nhiều người trong số họ khi vượt thoát địa ngục cộng sản, khi vừa đến được cái gọi là xứ sở tự do, đã viết những bài tố cáo tội ác của bọn Bắc Việt Cộng, nhưng năm tháng qua, lòng dạ họ đổi thay, họ quay ra bắt bồ với cộng sản.

Như ông nhà văn Nhật Tiến. Vượt biển, vượt biên sang Mỹ khoảng năm 1979, 1980, tháng 10 năm 1981 ở Mỹ ông Nhật Tiến viết bài “Hoàn cảnh sáng tác của anh chị em văn nghệ sĩ ở quê nhà” đăng trên tạp chí Khai Phóng, trong bài có đoạn như sau:

Ở trong xã hội cộng sản con người phải dối trá hèn hạ như thế đấy, nhưng vì an ninh bản thân, vì sự ràng buộc với những người thân khác, đành phải nhẫn nhục, và chẳng còn nói được cái gì khác hơn khi phải đối thoại với loại người không có tâm địa con người.

Những năm mới đến Mỹ ấy chắc ông Nhật Tiến viết nhiều, nhưng nay ta chỉ trích một câu của ông thôi cũng đủ. Có thiếu chăng là khi ngoan ngoãn trả lời những câu hỏi của Cán Cộng, khi mở miệng chửi người Việt ở Mỹ bằng những câu như “…nhất là cái cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại vốn đã từng có nhiều năm chất ngất hận thù đến độ không chấp nhận một sự suy tư nào khác hơn là sự suy tư đã đông đá trong đầu óc của họ.”, ông Nhật Tiến đã không viết một câu ông cần phải viết như:

Năm 1981 tôi viết “bọn cộng sản là những người không có tâm địa con người,” năm nay 2003 tôi thấy đảng viên cộng sản là những người có tâm địa con người nên tôi chơi với họ.

Tôi bỏ ông Nhật Tiến để viết về hai ông Hoàng khởi Phong, Cao xuân Huy, kẻo hai ông ấy có thể nghĩ “Mình cũng có tên trong “Nếu đi hết biển“, mình cũng được Cán Cộng phỏng vấn, sao nó không viết gì về mình? Bộ nó coi mình quá thường nên nó bỏ qua mình sao?” Thực tình tôi chẳng thấy có gì đáng viết về hai ông cựu sĩ quan ngoài nỗi thất vọng và nỗi chán chường khi tôi đọc những lời Cán Cộng viết về hai ông, và những lời hai ông nói với Cán Cộng, nhưng để hai ông khỏi buồn tôi cũng viết mấy dòng về hai ông.

Cán Cộng Trần văn Thuỷ viết như sau về hai ông Hoàng khởi Phong, Cao xuân Huy:

Nếu đi hết biển. Trang 57. Trích:

TV Thuỷ: Trong chuyến bay Boston-Las Vegas- Orange County, tôi được biết Hoàng khởi Phong sẽ ra đón tôi ở phi trường. Tại chỗ lấy hành lý, Hoàng khởi Phong vui mừng vỗ vai tôi bảo: “Cao xuân Huy cũng ra đón ông đấy, anh chàng đang phải chạy xe lòng vòng ngoài kia vì không có chỗ đậu.” Chúng tôi trở ra, một chiếc xe Jeep Grand Cherokee đen tấp vào lề và anh chàng tài xế thò đầu ra.” (…..)

Nếu đi hết biển. Trang 114. Trích:

TV Thủy: Năm nay tôi được Trung Tâm William Joiner, một tổ chức văn hoá Mỹ mời tham dự một chương trình nghiên cứu. Hoàng khởi Phong cũng được mời tham gia chương trình này. Anh vừa mới dọn nhà đến chỗ ở mới rất yên tĩnh-Khu Green Lantern Village, nằm ngay Quận Cam, nơi có đông người Việt cư ngụ nhất ngoài đất nước. Hoàng khởi Phong mời tôi đến nghỉ tại nhà anh, trong dịp tôi được một số trường đại học ở miền Tây mời đến nói chuyện phim ảnh. (…..)

TV Thuỷ: Ngôi nhà này ông ở được bao lâu rồi?

Hoàng khởi Phong: Chưa được hai tháng, ông là người khách đầu tiên.

TV Thuỷ: Cám ơn ông. Tôi hỏi thật, ông có ngại gì khi mang tiếng chứa chấp Việt Cộng ở trong nước qua không? Ngày hôm qua tôi thấy ở ngoài phố người ta căng cờ, biểu ngữ: “Đả đảo bọn Việt Gian nằm vùng”.

HK Phong: Nếu ngại thì tôi đã chả mời ông.

Nhắc lại, tôi thất vọng, tôi chán lắm khi tôi phải đọc những lời Cán Cộng viết về hai ông HK Phong, CX Huy. Ôi.. hai ông cựu sĩ quan của quân đội nước tôi, một quân đội từng một thời oanh liệt! Sau cuộc trời long, đất ngả nghiêng, hai ông sang được nước Mỹ, không ai trong chúng tôi mong ước hay đòi hỏi hai ông làm việc gì phi thường ở Mỹ, nhưng thực tình chúng tôi rất… rất không muốn thấy hai ông cựu sĩ quan của chúng tôi sống ở Mỹ lại đem thân đi đón cán bộ cộng sản ở một phi trường trên đất Mỹ. Một ông xách va-ly cho nó, một ông lái xe đưa đón nó. Chắc hai ông không thấy nhục khi hai ông làm những việc đó, nhưng chúng tôi, những người Việt nạn nhân cộng sản sống ở Mỹ, chúng tôi nhục lắm khi chúng tôi phải thấy hai ông cựu sĩ quan của chúng tôi xách va-ly, chạy xe đưa đón cán bộ cộng sản ở trên đất Mỹ. Chúng tôi ngậm ngùi tự hỏi chúng tôi đã làm gì nên tội để chúng tôi phải có hai ông cựu sĩ quan như hai ông!

Ngày xưa, thời Đông Chu Liệt Quốc ở nước Ba Tầu, khi một ông Vua, hay một Hoàng tử, phải bỏ nước đi lưu vong, tức đi sống ở nước ngoài, đám cận thần đi theo gọi là bọn “tòng vong”; khi Vua hay Hoàng tử trở về nước, trở lại ngôi hay lên làm Vua, bọn tòng vong được Vua ban thưởng rất hậu. Cán Cộng TV Thuỷ không phải là Vua nhưng biết đâu đấy, biết đâu chẳng có ngày Cán Cộng TV Thuỷ làm lớn, khi ấy những người tiếp đón y khi y là một cán bộ tép riu ngơ ngáo đến Mỹ quốc, những người không phải là đám “tòng vong” mà là đám “tiếp tân” từng tiếp đón, hầu hạ y ở Mỹ, có thể kể công:

- Thưa ông, ngày ông đến Mỹ, em xách va-ly hầu ông ở phi tràng…

- Em lái xe đưa đón ông ở Orange County..

Bà Nhà văn có thể báo công:

- Ngày ông đến ĐiXi, em có dâng ông bánh dầy kẹp chả thìa là. Ông khen bánh dầy của em ngon..

Cán Cộng mà như TV Thuỷ kể cũng hách. Ở trong nước thì bị bọn cộng sản cầm quyền khinh như chó, coi không bằng con chó, sang Mỹ đất tư bổn thì được chào đón niềm nở, được rước về nhà như thượng khách, cơm bưng, nước rót, cà phe đưa đến tận mồm, sà lỏn quăng ra chủ nhà lượm đem đi giặt..vv.. Những người tiếp đón, hầu hạ không phải là những người Việt tầm thường mà là những ông bà “nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc”, trong số có hai cựu sĩ quan Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.

Tôi không kể binh chủng cũ của hai ông cựu sĩ quan, để những tử sĩ của chúng tôi không bị khó chịu trong giấc ngủ ngàn đời.

Không phải đến tháng này, năm này - Tháng Tư năm 2004 - bọn người Việt ở Mỹ bợ đít bọn cộng sản mới bị người Việt lên án, chúng đã bị gọi là bọn “Cỏ đuôi chó” từ lâu. Đây là một đoạn trích trong tập “Ăn ốc nói mò”. Tạp luận. Hoàng Hôn nhuận sắc, VietBook xuất bản năm 1998.

Ăn ốc nói mò. Hoàng Hôn. Trg 76. Trích :

Ông Nguyễn Chí Thiện ở ngoài Bắc, tôi ở trong Nam, mà chúng tôi chẳng hề thù hận nhau. Lạ thế! Trái lại chúng tôi rất thương yêu nhau dù có gặp hay không gặp. Vì chúng tôi cùng chịu cái nhục bị cộng sản đày đoạ sống không bằng súc vật. Tuy vậy, chúng tôi không hận thù cộng sản vì cái cớ sự đó. Mà thù hận chúng vì chúng đã đày đoạ đất nước và toàn dân vào cảnh điêu linh. Nhưng chúng tôi thù hận cộng sản một, thì chúng tôi thù hận những người như các ông, các bà gấp trăm, gấp nghìn. Chính những người như các ông, các bà đã khiến cộng sản thắng chúng tôi.

Ăn ốc nói mò. Trg 306. Trích:

Những Nhật Tiến, Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu và đồng bọn lăm le tái diễn cái trò nôn, oẹ, ói, mửa, tiểu tiện, đại tiện, bài tiết…, tiếp tay làm ung thối thêm xã hội miền Nam của đám Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung… xưa kia, để miền Nam sớm mất hơn về tay cộng sản - đang toan tính làm ung thối thêm cộng đồng Việt Nam hiện nay ở Hoa Kỳ, để củng cố chế độ cộng sản tại quốc nội.

Những tên kể trên chỉ đại diện cho lũ cỏ đuôi chó, không có quyền nói đến quốc gia, dân tộc, yêu nước, thương nòi, xây dựng, tái thiết bất cứ một cái gì.

Những năm 1980 ở Mỹ, Thi sĩ Cao Tần làm bài thơ trong có câu “thượng đẳng cu-li.” Tôi có tập Thơ Cao Tần trong Tàng Kinh Các Rừng Phong nhưng sách để vô trật tự, giờ này mà ngưng viết để mò tìm tập thơ trong cả tiếng đồng hồ thì mất hứng, vậy xin lỗi Thi sĩ, tôi kể Thơ của ông không đúng nguyên thơ. Kể ý thôi vậy. Đại ý Thơ Cao Tần về chuyện cu-li ở Mỹ tôi nhớ như sau:

Người hỏi ta sang Mỹ ta làm gì?
Sang Mỹ ta làm thượng đẳng cu-li..!

Thôi thì bại trận, mất nước, bỏ chạy, sang sống nhờ xứ người, ta làm thượng đẳng cu-ly hay ta làm hạ đẳng cu-li cũng không sao. Nhưng ta sang Mỹ mà ta làm cu-li cho Việt Cộng thì thảm quá! Phi-ní lô đia! Hết nước nói!

Đọc “Nếu đi hết biển” tôi lấy làm lạ vì những câu trả lời quá ư ngoan ngoãn của mấy ông bà được Trung Tâm William Joiner gọi là “những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc”. Mấy ông bà tỏ ra lép vế quá đỗi đối với “anh Cán Cộng TV Thuỷ của mấy ông bà”.

Chẳng gì tôi cũng đã sống ở Mỹ mười mùa tuyết đổ, lâu lâu tưởng cũng nên chen vài tiếng Mỹ vào bài viết cho giống với người ta: “lép vế” tiếng Mỹ là “underdog”. “..The esteemed and profound Vietnamese thinkers and writers..” của Trung Tâm William Joiner là những “underdog” khi họ nói chuyện với Cán Cộng Trần văn Thuỷ. Mấy ông bà “nhà văn, nhà tư tưởng sâu sắc” của Trung Tâm William Joiner ăn thua đủ với những người Việt chống Cộng ở Mỹ nhưng mấy ông bà “underdog” với Cán Cộng đến nỗi trên đời này không còn ai có thể “underdog” với Cán Cộng bằng mấy ông bà. “Underdog” với cộng sản như mấy ông bà là nhất rồi, là cực kỳ!

Tôi khó chịu vì ngôn ngữ trịch thượng, đàn anh, xấc xược, khinh thị người y phỏng vấn của Cán Cộng TV Thủy trong “Nếu đi hết biển.” Như khi bà Nhà văn Nguyễn thị Hoàng Bắc vừa mở mồm ra nói đùa:

NT Hoàng Bắc: Anh cần “lý lịch” hay là “trích ngang”?

TV Thuỷ (kê ngay cái tủ đứng vào mồm bà Nhà văn): Chị vui tính thật, nhưng đừng gây sự với tôi…

Nói với năm ông nhà văn “underdog”, Cán Cộng cũng dùng những lời trịch thượng thấy rõ. Với ông “underdog” Cao xuân Huy, người có công lái xe đưa đón y khi y đến Quận Cam, y nói như ra lệnh:

TV Thuỷ: Cao xuân Huy này, anh nói cho tôi nghe đôi điều về đường đời của anh.

Cao xuân Huy này..” Không có cả tiếng “anh” tối thiểu. Dzậy mà ông cựu sĩ quan Quân Đội của tôi cứ nem nép một phép trả lời nó. Nó hỏi ông câu gì, ông líu ríu trả lời nó câu đó. Mà nó toàn hỏi ông những câu sặc mùi đàn anh như vầy:

TV Thuỷ: Anh đi vào con đường viết văn bằng cách nào?… Viết văn và làm báo, động lực gì đã thúc đẩy anh cầm bút?… Rồi sao nữa? Cha con có tìm nhau không? …Hai bố con gặp nhau lần đầu là vào dịp nào? … Anh kể tiếp đi…

Toàn một giọng đàn anh như vậy thôi, đọc mà tức điên người lên được. “Động lực nào thúc đẩy anh cầm bút?” Bố khỉ! Thích viết thì viết. Động lực, động liếc cái gì! Nhớ một chuyện nghe được ở trong tù: Những năm 1981, 1982… Làn sóng vượt biên lên đến cái gọi là đỉnh cao. Dân tổ chức vượt biên bị bắt nằm phơi rốn lển khển lền khền trong Nhà Tù số 4 Phan đăng Lưu, Lầu Bát Giác Chí Hoà. Có anh tù khi bị công an thẩm vấn hỏi:

- Động cơ nào thúc đẩy anh tổ chức vượt biên?

Đã trả lời tỉnh queo:

- Động cơ Yanmar đầu bạc hai bờ-lốc.

Phải chi ông Nhà văn Cao xuân Huy trả lời nó một câu như vầy:

- Đi bằng hai chân chứ còn đi bằng cách nào nữa! Hỏi ngớ ngẩn! Chúng tôi, những người viết văn Việt Nam Cộng Hoà, chúng tôi không đi vào con đường viết văn bằng hai đầu gối như bọn viết văn xã hội chủ nghĩa các anh. Ở nước chúng tôi không có thằng nào viết nịnh bọn cầm quyền mà thành danh.

Đã biết chừng bao! Rất tiếc!

Cán Cộng TV Thuỷ hỏi ông Hoàng Khởi Phong những câu như vầy, ông HK Phong trả lời hắn những câu như vầy:

TV Thuỷ: …Người Việt xa xưa có một quá trình, một lịch sử lưu vong nào không?

HK Phong: Nước Việt của ông và tôi có ba đợt lưu vong chính. Đầu tiên là cánh tôn thất nhà Lý..vv…vv…(.. ..)

TV Thuỷ: Đợt lưu vong thứ hai là vào thời kỳ nào vậy?

HK Phong: Đợt lưu vong thứ hai là nhóm người Việt chạy trốn tổ quốc vì tín ngưỡng dưới thời Thiệu Trị khi nước Việt cấm đạo dữ dội..vv..vv…

…Và sau cùng là đợt chạy trốn tổ quốc mới nhất từ năm 1975 tới bây giờ…vv…vv…

Cán Cộng hỏi như ông thầy giáo biết anh học trò của mình dzốt, nhưng muốn giúp anh có điểm nên hỏi mớm để anh có thể trả lời được. Y tỏ ra đại lượng khi y cố tình hỏi để Nhà văn HK Phong có dịp bầy tỏ cái gọi là “sở học uyên bác” của ông về mục người Việt bỏ nước ra sống ở nước ngoài. Rất tiếc, những chuyện người Việt lưu vong ông HK Phong có vẻ thông thái phom phom kể với “thày” TV Thuỷ của ông các em nhỏ lên ba Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà đã biết từ khuya. Chuyện tôi muốn viết ở đây là mấy tiếng “chạy trốn tổ quốc” ông HK Phong dùng.

“..Chạy trốn tổ quốc” là cái gì?” “Chạy trốn tổ quốc” là thế nào?” Khi người ta đi ra khỏi đất nước của người ta thì không phải là người ta “chạy trốn tổ quốc” mà chỉ là việc người ta đi ra khỏi tổ quốc. Như trường hợp ông HK Phong: ông chạy trốn bọn Bắc Việt Cộng chứ? Tổ quốc ông làm gì ông mà ông phải chạy trốn nó? Chỉ trong hai trang 121, 122 Nếu đi hết biển, ông nói đến bốn lần câu “chạy trốn tổ quốc.” Ông ơi, ới… ông “Nhà văn, nhà tư tưởng sâu sắc” của Trung Tâm William Joiner sống bằng “phân” xin được của Rockefeller Foundation, ông có thấy Tổ Quốc của ông đang khóc ròng không ông? Ông có thấy Tổ Quốc của ông đang mếu máo phân bua: “Bọn cộng sản ác ôn hành nó chứ? Nó sợ bọn cộng sản hành nó nên nó phú lỉnh sang Mỹ, tôi có làm gì nó đâu mà nó chạy trốn tôi?”

Sau bốn lần “chạy trốn tổ quốc“, Nhà văn HK Phong nói với Cán Cộng về hai ông Mai Thảo, Nguyên Sa như sau:

TV Thuỷ: Có ý kiến cho rằng văn chương và chính trị phải chăng là một, ông nghĩ gì?

HK Phong: Nếu quả như vậy thì bất hạnh cho người Việt khi mà các dân tộc khác người ta tách bạch hẳn văn chương ra khỏi chính trị, thì với chúng ta văn chương bị trói chặt vào chính trị, chính vì vậy mà ông Nguyễn văn Linh đã có lần tuyên bố phải cởi trói cho văn nghệ. Về lời tuyên bố này, đã góp phần khởi sắc cho bộ mặt văn nghệ Việt Nam vào những năm 87-88, tuy nhiên tôi muốn kể rằng khi Mai Thảo và Nguyên Sa còn sống, trong một lần trò chuyện, Nguyên Sa đã tâm sự: Bọn chúng ta có phải chó lợn đâu, mà lúc thích trói thì trói gô cổ lại, lúc cần cởi thì bảo cởi ra.(…..)

Người văn nghệ sĩ có thể làm văn nghệ đơn thuần, mà cũng có thể vừa làm văn chương vừa làm chính trị. Văn chương và chính trị có thể đi đôi với nhau trong cuộc đời người văn nghệ sĩ, trong sự nghiệp sáng tác của người làm văn nghệ. Nhưng vấn đề bọn cộng sản đặt ra và ép người làm văn nghệ phải theo là văn nghệ phải phục vụ chính trị, huỵch toẹt là người làm văn nghệ phải tuân theo lệnh, phải làm, phải nghĩ, phải viết, phải sáng tác theo ý bọn uỷ viên chính trị Đảng. Chỉ có thế thôi, em nhỏ lên ba cũng biết chuyện ấy từ lâu. Ấp úng ký gì. Nhưng mà việc bọn văn nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa bị bọn đảng viên cộng sản xích cổ, đóng rọ mõm thì ăn nhậu gì đến hai ông nhà văn nhớn, nhà thơ nhớn Mai Thảo, Nguyên Sa? Tại sao ông Nguyên Sa tự dưng lại nhận ông ở trong bọn bị buộc cổ, bị rọ mõm? Kỳ dzậy? Mà có thật ông Nguyên Sa nói câu ấy không? “Nguyên Sa đã tâm sự..” Ông Nguyên Sa tâm sự mí ai? Ông Nguyên Sa nói với ai câu ấy? Tiếc quá. Thi sĩ Nguyên Sa đã ra người thiên cổ, nếu ông còn ở cõi đời này tôi nhất quyết mầy mò tìm ra cho bằng được số phôn của ông, để kính hỏi ông - cần gì cứ phải quen biết Nhà Thơ Nhớn mới phôn cho ông được - Tôi sẽ kính hỏi ông Nguyên Sa: “Thưa ông.. Có bao giờ ông nhận ông ở trong bọn văn nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa bị buộc cổ, bị rọ mõm không ông? Tôi chắc chẳng đời nào ông nói một câu vớ vẩn như thế nhưng tôi kính hỏi ông cho chắc ăn, vì người ta viết ông nói thế..”

Đây là lời cuối Cán Cộng TV Thuỷ nói với ông HK Phong:

TV Thuỷ: …Tôi nghĩ ông chơi tốt với bạn bè, những người nằm xuống sẽ phù hộ cho ông và còn theo dõi nhân cách của ông nữa đấy. Với ông mà tôi nói lời cảm ơn thì quá khách sáo, giữa năm tôi sẽ trở lại đây, ông chứa tôi chứ và chúng ta sẽ tiếp tục câu chuyện dở dang này.

Câu “..Tôi sẽ trở lại đây, ông chứa tôi chứ..” Cán Cộng nói có hàm ý: “Ông lại xách va-li cho tôi, ông lại rước tôi về nhà ông..” Còn chuyện “…những người nằm xuống sẽ phù hộ cho ông..” thì phải xét lại: những người Viêt Nam đã chết sẽ chẳng ai phù hộ cho kẻ tự nguyện xách va-li cho đảng viên cộng sản, những người Việt Nam đã chết cũng chẳng ai bận lòng “theo dõi nhân cách” của những kẻ xách va-li cho Việt Cộng, lái xe đưa đón Việt Cộng, bưng cà phe, dâng bánh dầy kẹp chả thìa là cho Việt Cộng! “Nhân cách” của những người ấy đã lộ rõ quá rồi, còn phải theo dõi chi nữa!

Viết cho người yêu

tainguc_cover.jpgEm yêu dấu,

Những bài Tại Ngục Vịnh Kiều ở trong loạt bài anh viết cho em gọi chung là “Viết cho người yêu”. Em yêu anh càng tốt mà em yêu ai cũng được, miễn là em có yêu. Em yêu là anh viết cho em, anh cũng viết cho tất cả những người yêu trên cõi đời này.

Ngày xưa, Lạc Tân Vương, thi sĩ đời Đường ở Trung Hoa, không biết vì lý do chính trị, chính em hay văn nghệ, văn gừng chi đó mà bị tù. Một hôm ngồi buồn trong ngục, thi sĩ thấy một con ve sầu đến bên song tù, thi sĩ bèn làm bài thơ Tại ngục vịnh thiền: ở trong ngục vịnh con ve sầu. Bài thơ ngắn thôi:
 

Tại ngục vịnh thiền

Tây lục thiền thanh xướng,
Nam quan khách tứ thâm.
Bất kham huyền mấn ảnh
Lai đối bạch đầu ngâm.
Lộ trọng phi nan tiến,
Phong đa hưởng dị trầm.
Vô nhân tín cao khiết,
Thùy vị biểu dư tâm?

Ngày thu nổi lên tiếng ve kêu
Tình ý người tù thêm sâu sắc.
Vì không chịu được nên bóng dáng của đôi cánh mỏng,
Nên đến lên tiếng ngâm nga trước người bạc đầu.
Sương nặng, cánh khó bay lên.
Gió mạnh, tiếng dễ chìm mất.
Không có ai tin ở sự cao khiết,
Ai sẽ vì ta giải tỏ nỗi lòng?

Em có thấy như anh rằng bài thơ Tại ngục vịnh thiền trên đây của Lạc Tân Vương chẳng có gì là thâm thúy hay đặc sắc lắm không? Trước hết bài thơ gọi là bài Thơ Tù đầu tiên trong văn học Trung Hoa này không nói lên được cảnh thê thảm, u ám, đen tối, tuyệt vọng, kinh sợ, mơ ước của người bị tù. Bài thơ gọi là “vịnh thiền” nhưng con ve sầu được vịnh cũng không thấy được diễn tả nhiều trong thơ. Toàn bài chỉ có một điển tích. Đó là điển Nam Quan: mũ Nam, mũ của người phương nam. Đời Xuân Thu, Chung Nghi, người nước Sở, bị bắt tù ở nước Tấn. Ờ tù, Chung Nghi vẫn đội mũ của người Sở. Chung Nghi giỏi đàn. Khi Tấn hầu bảo Chung Nghi đánh đàn, chàng chỉ đánh toàn những bản đàn của nước Sở phương nam. Người đời sau nhân đó gọi những người tù bằng cái tên gợi hình là những người khách đội mũ phương nam.

Trong bài thơ My Trung mạn hứng, bài thơ duy nhất mà thi sĩ Nguyễn Du làm trong thời gian ông ở tù, cũng có hai câu nhắc đến người tù Chung Nghi và người bệnh Trang Tích:

Chung Tử viện cầm tháo Nam âm,
Trang Tích bệnh trung do Việt ngâm…

Chung Tử, tức Chung Nghi, ở nước người nhưng vẫn đội mũ của dân tộc mình, vẫn dạo những bản đàn của dân tộc mình, em đã biết rồi. Trang Tích là người nước Việt, cũng sống ở đời Xuân Thu, sang làm quan ở nước Sở. Vua Sở muốn biết Trang Tích có còn nhớ nước Việt không hay là đã quên. Mật vụ của vua Sở báo cáo rằng tuy làm quan với Sở nhưng Trang Tích vẫn còn nhớ nước Việt, bằng cớ là họ theo dõi và thấy khi Trang Tích bị bệnh, nằm rên trên giường, nhưng y vẫn không rên rỉ những câu: “O Sole mio… I need your love… Smoke gets in your eyes…” mà rên rỉ: “Trèo lên cây bưởi hái hoa, bước xuống vườn cà…” hoặc “Vú em chum chúm chũm cau…”. Bằng chứng này cho thấy các quan chức mật vụ kết luận rằng Trang Tích tuy ở nước Sở nhưng hồn vẫn nhớ nước Việt. Kể từ đó văn học Trung quốc dùng những tiếng “Nam quan, Việt ngâm” để gọi những người tù và những người không quên tổ quốc.

Để trở lại với Tại ngục vịnh Kiều, anh chỉ nhắc lại bài thơ Tại ngục vịnh thiền để nói với em rằng bài thơ đó chỉ ngắn ngủi có mấy câu như vậy thôi, ý nghĩa cũng không xúc tích, cảm động gì cho lắm. Vậy mà Tại ngục vịnh thiền đã sống ở cõi đời này tới hơn một ngàn năm. So với đời người ngắn ngủi gói tròn trong năm bảy chục năm, một ngàn năm đã là lâu lắm. Và không biết bài thơ Tại ngục vịnh thiền sẽ còn sống ở đời bao nhiêu lâu nữa.

Văn học sử cho biết Lạc Tân Vương sinh năm 640, ông mất năm nào không biết. Vì sau khi tham gia khởi nghĩa chống lại Võ Tắc Thiên, viết bài hịch nổi tiếng đả kích Võ Thị, cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bỏ trốn biệt tăm. Lạc Tân Vương không bị Võ Tắc Thiên bắt cầm tù. Bài Tại ngục vịnh thiền là thi phẩm ông làm trong một lần bị tù nào trước đó mà văn học sử không ghi rõ. Cứ cho là ông làm bài Tại ngục vịnh thiền vào khoảng năm 670 hay 680 đi thì cho tới nay bài thơ đã sống hơn một ngàn năm rồi chứ không phải chỉ là một ngàn năm. Và vào năm 1988, trong một phòng tù ở miền Nam nước Việt Nam, có một anh tù nằm nuôi rệp và nghiền ngẫm những vần thơ Kiều. Không có việc gì làm hay hơn, anh tù này làm những bài thơ vịnh Kiều. Nhớ đến bài Tại ngục vịnh thiền của một người tên là Lạc Tân Vương làm từ hơn một ngàn năm trước, anh gọi những bài thơ vịnh Kiều của anh là Tại ngục vịnh Kiều

Cạn dòng là thắm, dứt đường chim xanh…

Và do đó hôm nay anh mới có những bài Tại ngục vịnh Kiều này viết gửi em – và gửi tất cả những người yêu ở cõi đời này. Vịnh Kiều, trước hết và tất nhiên, là vịnh em Vương Thúy Kiều. Bài thứ nhất này của anh nói với em về thái độ của Thúy Kiều đối với tình yêu và cái gọi là “thâm nghiêm” của nhà riêng Thúy Kiều.

Có thể nói rằng gần như tất cả những người đọc Kiều đều yêu Thúy Kiều, đều ca tụng Thúy Kiều. Người ta có thể chửi tất cả những nhân vật trong Kiều, trừ một mình Thúy Kiều. Cũng tất nhiên là Thúy Kiều, với tư cách là một người sống thực ở đời, không thể nào toàn bích được, và anh cũng không quân tử Tàu đến cái độ đòi hỏi Thúy Kiều phải thánh thiện, phải dửng dưng trước tình yêu. Nhưng anh cũng thấy có sự khôi hài ở chuyện Nguyễn Du diễn tả Thúy Kiều với những câu như:

Một đường tuyết chở, sương che
Tường đông ong bướm đi về mặc ai…

Rõ ràng là Thúy Kiều chẳng thèm để ý gì đến những chuyện bướm ong, tức là chuyện tình ái. Thế nhưng sự thực có phải nàng dửng dưng như thế không? Những việc nàng làm cho chúng ta thấy nàng là một em “lẳng lơ hạng nặng”. Phải gọi là lẳng lơ vì hai tiếng đa tình quá nhẹ đối với những việc Kiều làm. Việc Kiều vừa mới gặp Kim Trọng lần đầu ở nghĩa địa, chưa biết ất giáp gì về chàng thư sinh playboy này, nàng đã tình trong như đã, chỉ có mặt ngoài là còn e… cho ta thấy nàng là một em rất hào hứng với những chuyện ái tình, những chuyện được gọi bằng cái tên miệt thị là “chuyện bướm ong”. Không những chỉ hào hứng mà thôi, có thể nói Kiều còn rất đói ái tình nữa. Song, ta hãy bỏ qua cái vụ “tình trong như đã….” ngay từ buổi gặp trai đầu tiên ấy, cái việc nàng chui rào sang nhà Kim Trọng, không những chỉ chui một lần vào buổi chiều mà còn chui rào cả vào lúc nửa đêm là một việc mà không cần phải chi ly gọi là “lễ giáo phong kiến” không cho phép, bất cứ thứ lễ giáo nào cũng không cho phép người con gái làm như thế. Chỉ trừ những xã hội không có lễ giáo chi hết trọi mới coi việc đó là được mà thôi.

Lần thứ hai Kim Trọng rình rập chờ Kiều ở khu vườn sau, việc trai gái đứng tỏ tình với nhau qua hàng rào sau nhà là một việc nếu không thể cấm đoán được thì cũng là một việc không thể ca tụng. Nếu quả thật Kiều là người có thái độ “tường đông ong bướm đi về mặc ai” nhỏ bằng đầu que tăm xỉa răng thôi, khi nghe tiếng người con trai lạ cất lên từ nhà bên kia, nàng đã lẳng lặng bỏ về, làm sao chàng Kim hào hoa phong thấp có thể thả lời ong bướm với nàng được? Nhưng Kiều đã không “mặc ai”, nàng đã đứng lại, nàng đã bắt chuyện, và nàng tiếp nhận những lời ong bướm liền một khi. Cuộc tình của nàng với Kim Trọng đốt cháy mọi giai đoạn, nó tiến nhanh đến cái độ chóng mặt…

Vì vậy, em yêu ơi, Công tử Hà Đông khi tại ngục đọc Kiều bèn có thơ Tại ngục vịnh Kiều về chuyện này như sau:

Kiều và ong bướm

Êm đềm trướng rủ màn che
Tường đông ong bướm đi về mặc ai…

Rằng hay thì thật là hay
Tin em thì sẽ có ngày xót xa
Bướm ong khi của người ta
Thì em phớt tỉnh như là hổng ưa.
Đến khi nó đợi, nó chờ
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng.
Là em chẳng ngượng chẳng ngùng,
Dưới đào em đấu lung tung một lèo.
Lẳng lơ trướng rủ, màn treo,
Tường đông ong bướm xì xèo là em.

Chưa hết. Anh thật không biết Nguyễn Du có tính chuyện khôi hài hay có ý mỉa mai hay không khi thi sĩ tả cảnh nhà ông Vương Viên Ngoại, tức là ông thân của nàng Vương Thúy Kiều, với những câu xanh rờn như sau:

Thâm nghiêm kín cổng cao tường
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh…

Chàng Kim khi lảng vảng tản bộ trước cửa nhà Thúy Kiều chỉ thấy:

Mấy lần cửa đóng then cài
Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?

Nào là “kín cổng, cao tường”, nào là những “mấy lần cửa đóng, then cài”. Thâm nghiêm và kín đến như vậy thì đúng là thâm nghiêm và kín mít rồi, không còn nhà nào có thể thâm nghiêm và kín hơn được nữa! Thế nhưng… hỡi ơi… Khu đằng sau của tòa nhà thâm nghiêm hạng nhất ấy lại là một khu vườn nát. Và khu vườn nát ấy lại chỉ chia cách tòa nhà thâm nghiêm ấy với nhà bên cạnh bằng một dẫy tường đất cũng nát không kém. Thi sĩ tả đó là bức “tường gấm”:

Lần theo tường gấm dạo quanh
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa…

Không những cái bức tường gấm ấy sự thật chỉ là một bức tường đất nát, nó còn thấp lè tè nữa, thấp đến cái độ Thúy Kiều đi chơi ở trong vườn để cây thoa cài đầu vướng vào cành cây treo tòng teng và để cho cậu Kim Trọng từ vườn nhà bên cạnh có thể

Giơ tay với lấy về nhà…

Không những cái bức tường gấm ấy sự thật chỉ là một bức tường đất nát và thấp lè tè mà thôi, nó còn bị hổng một chỗ khá lớn phải lấy mấy cành cây rào lại một cách hết sức bôi bác. Chỗ rào ấy sơ sài bê bối đến cái nước thiên hạ chỉ cần xé nhẹ một cái là rách toang và người ta có thể thơ thới chui qua để sang với nhau được:

Lần theo núi giả đi vòng
Cuối tường dường có nẻo thông mới rào.
Sắn tay mở khóa động đào,
Rẽ mây trông tỏ lối vào thiên thai.

Đời sau, vào khoảng giữa thế kỷ 20, tức là vào khoảng 150 năm sau ngày Thúy Kiều ra đời dưới ngọn bút tài hoa của Nguyễn Du, có những tên Việt Nam tán rằng bốn câu trên đây là câu tả cảnh chàng Kim “thám hiểm Ngọc Long Cung” Thúy Kiều. Cứ kể ra thì những tên ma giáo văn nghệ này gán cho những động tác trong bốn câu Kiều trên đây cái ý nghĩa đó cũng chẳng phải là nhảm nhí chi cho lắm. Và dù cho có tán nhảm đi nữa thì cũng chẳng có lỗi gì nhiều. Bởi vì họ tán nhảm là do họ quá yêu những câu thơ Kiều.

Dù có tán nhăng tán cuội, có xuyên tạc hay là không thì việc Thúy Kiều chui hàng rào sang nhà Kim Trọng cũng là chuyện có thật. Việc người con gái chưa chồng hay đã có chồng cũng vậy, nửa đêm chui rào, leo tường, sang nhà đàn ông lạ, là một việc mà từ ngàn xưa cho đến ngàn sau, đời nào cũng không thể ca tụng được. Người ta chỉ vì yêu thơ Kiều, yêu mến tài hoa của Nguyễn Du, mà làm lơ đi cái trò bê bối đó của nàng Kiều.

Em yêu dấu… Anh thấy buồn cười, và thương hại nữa, khi mới đây anh đọc vài lời phê bình Thúy Kiều của một vài người viết cùng thời với anh, thấy có người ca tụng việc chui rào của Thúy Kiều bằng những lời đại khái như: “… Với hành động tự ý sang nhà Kim Trọng tự tình, Thúy Kiều dẫm chân lên lễ giáo phong kiến… Đêm trăng ấy, khi Thúy Kiều băng lối vườn khuya một mình, những gót chân son của nàng đã đặt lên mặt những nhà đạo đức phong kiến…” Khi đọc những lời như thế, anh chỉ mỉm cười và anh tự hỏi: “Những người viết kiểu này ca tụng việc con gái và vợ người khác nửa đêm chui rào, leo tường sang nhà đàn ông lạ để tự tình, nhưng nếu như con gái anh ta, vợ anh ta nửa đêm làm cái việc ấy liệu anh ta có ngồi yên chỗ mà rung đùi ca tụng cái gọi là tự do luyến ái và giải phóng phụ nữ hay là anh ta sẽ nhảy nhổm lên, miệng sùi bọt mép, chân tay run lẩy bẩy? Khỉ ơi là khỉ! Vừa phải thôi!”

Về mục nhà ông Viên Ngoại họ Vương được tả là “thâm nghiêm kín cổng cao tường”, Công tử Hà Đông bèn có thơ rằng:

Con oanh nó mỉa, nó mai

Thâm nghiêm kín cổng, cao tường
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành
Con oang học nói trên cành mỉa mai…
Mỉa mai nó mỉa mai ai?
Thâm nghiêm có cái mặt ngoài mà thôi.
Bề trong thì chán mớ đời
Cô em trong trắng quá chời là trong!
Dưới hoa em kết giải đồng,
Cuối tường em lộn nẻo thông mới rào.
Sắn tay em cho nó mở khóa động đào,
Rẽ mây em cho nó trông tỏ lối vào thiên thai.
Con oanh nói mỉa, nói mai
Mỉa mai nó mỉa: “Nhà này thật thâm…”

Khi Thúy Kiều xăm xăm băng lối vườn khuya một mình thì lúc đó trăng đã nhặt thưa gương rọi đầu cành, tức là vào khoảng 7, 8 giờ tối, giờ Tây dương – đêm trăng ấy lên sớm. Đến lúc đôi tình nhân diễn trò thề thốt dưới trăng thì trăng đã vằng vặc giữa trời, tức là trăng đã lên đến đỉnh trời. Thúy Kiều ở lại đó thề thốt, ký văn tự, đàn ca, uống rượu, đưa đầy với Kim Trọng mãi cho đến khi bóng tàu vừa lạt vẻ ngân, tức là khi ánh trăng đã nhạt trên những tàu lá chuối trong vườn. Thời gian lúc trăng nhạt, trăng lặng đó phải là 3, 4 giờ sáng, giờ Tây dương. Như vậy là nàng đã qua gần một đêm trắng với Kim Trọng. Nếu không có tên gia đồng vào gửi tin nhà mới sang thì ta có thể nói mà không sợ mang lỗi vu oan cho nàng là nàng sẽ pass night với Kim Trọng. Không những chỉ qua đêm mà thôi, nàng còn có thể ở đó tới trưa hôm sau mới trở về cái gọi là đài trang hết sức thâm nghiêm kín cổng cao tường của nàng.

Việc Thúy Kiều chui rào qua nhà Kim Trọng vào cái năm Gia Tĩnh triều Minh cách nay cả năm sáu trăm năm ấy là một việc mà anh nghĩ rằng những thiếu nữ lương thiện đời nào cũng không nên làm. Nhưng việc Thúy Kiều lẻn sang nhà Kim Trọng vào buổi chiều và vào lúc nửa đêm cũng chưa ly kỳ bằng sau khi được tin “… thúc phụ từ đường. Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề. Liêu Dương cách trở sơn khê, Xuân đường kíp gọi Sinh về hộ tang…”, Kim Trọng đã cũng chui rào, hoặc leo tường, phăng phăng vào tận phòng ngủ của Thúy Kiều để chia tay. Tự do cứ như là nhà Thúy Kiều không còn một người nào khác ngoài Thúy Kiều. Luông tuồng đến như vậy nhưng mỉa mai thay, tòa nhà Viên Ngoại họ Vương vẫn được mô tả là:

Thâm nghiêm kín cổng cao tường
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.

Mấy lần cửa đóng then cài
Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?

Viết ở thành Hồ năm 1991.

Áo Vàng hoa

“Khi nào bạn thấy nếu bạn không làm thơ bạn chết bạn hãy làm thơ. Còn nếu bạn thấy không làm thơ bạn cũng chẳng sao cả, thì bạn đừng làm thơ…”

Đấy là lời của thi sĩ Rilke viết cho một thi sĩ trẻ. Tôi đọc được lời trên của Rilke từ những năm 60, thời gian tôi không làm thơ và không bào giờ tưởng tượng có ngày tôi sẽ làm thơ. Nhưng ngay lúc đó tôi đã thấy Rilke khuyên thật chí lý. Lời khuyên ấy cho tôi biết tại sao trên cái cõi đời này lại có nhiều bài thơ dở đến như thế và cũng tại sao trên cái cõi đời này lại có nhiều người làm thơ dở ẹt đến như thế mà vưỡn cứ làm thơ. Một trong những nguyên nhân chính làm cho Trường phái Thơ Con Cóc phồn thịnh khắp cõi đời này chính là vì nhiều nhà thơ không làm thơ mà vẫn sống nhăn nhưng đã làm thơ vung xích chó.

Tôi là một trong những nhà thơ Con Cóc ấy. Tuy đã biết lời khuyên của Rilke từ lâu và tuy công nhận lời khuyên ấy đúng, nhưng rất nhiều lần trong đời tôi, nếu tôi không làm thơ tôi không chết song tôi vưỡn cứ làm thơ. Tôi làm thơ trong những ngày u ám ở thành phố Hồ Chí Minh. Tôi xin tự biện hộ là nếu những lần ấy không làm thơ tôi có chết hay không, song điều rõ ràng là trong những lần làm thơ đó trái tim tôi có niềm xúc động bắt tôi phải làm thơ.

Ba tháng sau ngày 30 tháng Tư oan nghiệt, vợ chồng tôi về sống trong một căn nhà cư xá nhỏ kiểu Gia cư Liêm Giá Cuộc làm bán rẻ và bán trả góp cho người nghèo. Đây là căn nhà của mẹ tôi. Nhà vẫn bỏ không từ nhiều năm. Vợ chồng tôi tối kỵ sống trong những căn nhà liền mái nhà người nọ nghe rõ tiếng người nói trong nhà kia. Chúng tôi vẫn đi ở mướn chứ không chịu về ở căn nhà cư xá nhỏ hẹp, tối tăm thiếu quá nhiều tiện nghi đó. Nhưng sau cuộc đổi đời, chúng tôi phải về sống trong căn nhà có sẵn đó thôi. Chúng tôi “không còn con đường nào khác”. Một buổi sáng trong căn nhà tối đó – nơi giờ đây chúng tôi thấy luyến thương vì đó là nơi vợ chồng tôi đã sống, đã yêu thương nhau trong mười chín năm trời – vợ tôi mở tủ áo lấy ra chiếc áo dài chúng tôi vẫn gọi là Áo Vàng Hoa. Đứng trước gương nàng ướm chiếc áo lên người. Nàng nhìn nàng trong gương rồi nhìn tôi.

- Áo đẹp quá…

Alice nói. Tôi xúc động bảo nàng:

- Ngày nào em chết anh sẽ mặc cho em cái áo này…

Alice lại hỏi:

- Lỡ có ngày chúng mình phải bán cái áo này lấy tiền nuôi các con thì sao?

Tôi không trả lời câu hỏi ấy của Alice. Tim tôi nặng như cục đá. Buổi chiều đạp xe đi lang thang trong những phố vắng của Sài gòn, tim tôi vẫn trĩu nặng sầu buồn. Tôi làm thơ:

Sáng cuối năm trong căn nhà tối
Em mở tủ nhìn đời ngày cuối
Mắt em buồn bừng sáng màu hoa
Em nhớ lại ngày may áo mới.
Hai năm rồi mặc áo bà bà
Đời tẻ nhạt hơn làn tóc rối.
Áo ướm thân em khóc, em cười
Em có biết em vừa trẻ lại?
Đây áo hoa vàng anh chọn, em may
Như giọt nước trong dòng tình ái
Trong ưu phiền mắt lặng nhìn nhau
Ta thầm hẹn: “Áo này giữ mãi”

Em yêu dấu… ngày em trở lại
Đất ngàn năm như cỏ, như hoa
Anh sẽ mặc cho em lần cuối
Áo hoa này rồi tiễn, rồi đưa.

Em lại hỏi: Có ngày ta phải
Chia áo này cho các con ta?
Em yêu dấu, em ơi… đừng ngại
Mặc cho đời tháng lại, ngày qua
Trong xương thịt ta còn giữ mãi
Những cái gì riêng của đôi ta.
Khi em nằm xuống, khi tàn lửa
Trong hào quang của những tiên nga
Khi xe hạc vàng nhung đến cửa
Đón em về xa cõi trời xa
Anh sẽ mở hồn anh lấy áo
Mặc cho em chiếc áo vàng hoa.

Trong u ám một ngày mây phủ
Nặng những sầu thương, những xót xa
Em đóng cửa hồn, che áo mới
Và ra đường trong chiếc bà ba.

Nhưng cũng chẳng phải tôi chỉ mần thơ những lúc tôi buồn phiền. Có những lúc tôi mỉm cười tôi cũng làm thơ. Đi qua cửa chợ Ông Tạ, tôi thấy một nhà có đám tang đang giờ động quan, tức là giờ khiêng quan tài lên xe bông đi nhị tì. Đám tang có ban nhạc kèn đồng bu-dzích. Kèn tây tò te tí toét om sòm. Trên quan tài đặt tấm ảnh một bà già Bắc kỳ ri cư năm 1954: đầu vấn khăn, răng đen, mặt răn reo trạc 80 tuổi. Tôi nghĩ bà già này cả đời chẳng biết cái đàn pi-a-nô nó khác với cái đàn vi-ô-lông nó ra làm sao. Không những không biết hai cái đàn ấy nó khác nhau, giống nhau ra làm sao, bà già còn chẳng bao giờ nghe nói đến hai thứ đàn tây ấy. Vậy mà bi giờ bà chết, người ta mướn ban kèn tây đến thổi loạn cào cào châu chấu cho bà nghe những bản La Cumparsita, La Paloma, Love Story

Đây là khi nếu không mần thơ nhất định là không những không chết mà tôi còn không bị xây xẩm mặt mày chi cả. Vậy mà tôi vưỡn cứ mần thơ:

Cả đời chẳng biết tiếng tò-le
Chết rồi tai điếc lấy gì nghe
Con cháu mừng rơn, con cháu khóc
Tò te kèn thổi khúc Lô-ve.

Khi bạn thấy cõi đời này xuất hiện những tờ báo xuân, báo Tết, thời gian đang là mùa cưới, mùa lên xe bông của những nàng thiếu nữ thành Hồ.

Trước cảnh các nàng lên xe bông với áo dài cô dâu, khăn voan, xuyến vàng, pháo hồng v.v… tuy không làm thơ tôi vẫn sống nhăn và các nàng vẫn cứ thơ thới hân hoan, “phấn khởi, hồ hởi” lên xe bông về nhà chồng, tôi đã mần thơ:

Sáu năm vất vả ở Thành Đồng
Cứ tưởng là em ế chổng mông
Ai ngờ đám cưới em ra rít
Em vưỡn xe bông, vưỡn pháo hồng.

Sáu năm cả nước xếp vào hàng
Cứ tưởng bà con đói cả làng
Ai ngờ đám cưới em ra rít
Em vưỡn khăn voan, vưỡn xuyến vàng.

Những đêm nằm trong phòng 20 khu FG lầu bát giác Chí Hòa, tuy rõ ràng là không mần thơ tôi vưỡn không chết nhưng tôi vưỡn cứ mần thơ. Nằm trong mùn tôi mần những bài thơ vịnh Kiều. Tôi mần thơ nhẩm và tôi học nhẩm đến thuộc lòng những bài thơ tôi đã làm. Có những bài Tại ngục vịnh Kiều thật buồn và cũng có những bài… dzui dzui. Chẳng hạn như bài Vịnh Thúy Vân.

Thúy Vân, nhân vật bị thiệt thòi nhất trong Kiều. Người đàn bà đau khổ nhất đời là người đàn bà sống không có tình yêu, sống không được người đàn ông nào yêu. Thúy Vân là người đàn bà đáng thương, xấu số như thế. Tôi thấy điều bất công nhất là tất cả mọi người chỉ ca tụng, chỉ thương xót, chỉ đề cao Thúy Kiều. Chẳng ai để ý gì đến Thúy Vân. Tôi chưa thấy một người nào trước tôi nói hay viết một lời đề cao Thúy Vân. Không những không được đề cao, xót thương, an ủi; Thúy Vân còn bị người đời miệt thị.

Tôi thấy nhân vật Thúy Vân tức cười ở đoạn trong bữa tiệc đoàn tụ gia đình hết sức rởm, nàng đã mượn chén, tức là giả vờ say rượu, đứng lến phát biểu vài câu cay cú. Đàn bà uống rượu đã khó coi rồi, đàn bà đã uống rượu ngà ngà say mà còn đứng lên đi một đường tạp thuyết năm bảy câu châm chít đời cho hả giận thì quả thật là một hình ảnh tức cười.

Trinh em đáng giá ngàn vàng

Công tử hào hoa phong thấp Kim Trọng hoàn toàn không yêu thương gì Thúy Vân. Công tử vồ hụt cô chị, công tử vồ luôn cô em. Công tử thuộc bang phái võ lâm tên là “Hoa thơm đánh cả cụm”, nôm na là lấy luôn ba bốn chị em ruột làm vợ cho tiện việc sổ sách. Từ những năm 76, 77, khi đọc lại truyện Kiều tôi đã tưởng tượng ra chuyện Thúy Vân có người yêu nhưng vì người chị ruột yêu cầu nàng phải hy sinh tình yêu của nàng để làm trọn tình yêu của chị. Tôi đã có dự định viết một truyện Thúy Vân là vai chính với chủ đề như tôi vừa nói: Thúy Vân có người yêu nhưng phải hy sinh tình yêu để làm vợ Kim Trọng, nàng làm vợ Kim Trọng nhưng nàng biết rõ hơn ai hết Kim Trọng yêu Thúy Kiều chứ không yêu nàng. Kim Trọng tuy lấy nàng làm vợ nhưng vẫn cứ yêu, cứ nhớ Thúy Kiều. Ngay cả khi Kim Trọng ân ái với nàng,, nàng biết chàng đang tưởng nàng là Thúy Kiều.

Tôi tưởng tượng Thúy Vân có thể dùng mấy lời thơ T.T. Kh:

Từ ấy thu rồi thu lại thu
Lòng tôi băng giá đến bao giờ?
Chồng tôi, tôi biết, còn thương nhớ
Chị ấy cho nên vưỡn hững hờ.

Vì vậy tôi tức cười và tôi thương Thúy Vân khi tôi thấy nàng đứng lên trong bữa tiệc đoàn tụ gia đình để nói mấy lời nghe không giống ai mà cũng không ai giống:

Tàng tàng chén cúc dở say
Đứng lên Vân mới giải bày một hai

Nghĩ đời vợ gá, cũng cay
Cho nên em mới dở say em tàng tàng
Tàng tàng em nói ngang ngang
Linh tinh máu chảy, lang tang ruột mềm
Lăng nhăng phận cải, duyên kim
Lằng nhằng tình chị, dây em buộc vào…

Yêu sao cái tật hoa đào
Em nào cũng lẳng, em nào cũng ghen,
Một chĩnh, đôi gáo bon chen
Chồng em, chị em….
Còn khổ ghe phen em tàng tàng.

Tôi can tội mần thơ những lúc trái tim tôi trĩu nặng. Viết đến đây tôi bỗng khám phá ra là tôi cũng can tội mần thơ cả những lúc trái tim tôi nhẹ. Nói cách khác là khi tôi buồn và khi tôi vui. Bằng chứng là khi thấy em Thúy Vân giả say đứng lên tuyên bố linh tinh, tôi tức cười và tôi mần thơ. Tôi cũng can tội mần thơ khi tôi thấy em Thúy Kiều cứ giơ cái “trinh” của em ra một cách giả tạo, gò ép đến cái độ mất hết tự nhiên. Em là người con gái nửa đêm leo tường, chui lỗ qua nhà đàn ông con trai, nhưng tác giả cứ cho em “bảo vệ trinh tiết” phây phây bất kể thiên hạ.

Khi đã hai lần mò sang nhà Kim Trọng, lần thứ nhất buổi chiều, lần thứ hai nửa đêm, và khi Kim Trọng lả lơi, Thúy Kiều nghiêm trang như vợ ông Khổng Tử mà nói:

Thưa rằng đừng lấy làm chơi
Giẽ ra cho hết một lời đã nao
Vẻ chi một tấm yêu đào
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh
Đã cho vào bực bố kinh
Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu…

Tôi tức cười… anh ách khi nghe Kiều nói những câu “tiết hạnh khả phong” như thế. Nếu nàng nói những câu như thế mí tôi, chắc tôi đã cười phá lên rồi hỏi nàng: “Nếu em trinh tiết đầy mình như dzậy, em mò sang đây mí anh làm ký gì? Em khoe em có học chắc em cũng biết câu ‘nam đáo nữ phòng nam tắc đạo. Nữ đáo nam phòng nữ tắc dâm’ chứ? Tôi tức cười và tôi mần thơ:

Làm trai anh đánh tổ tôm
Uống trà mạn hảo, ngâm nôm Thúy Kiều.
Yêu Kiều anh thật là yêu,
Thúy Kiều mà diễn tuồng Tiều, anh chê.
Cái trinh em cứ lộn về,
Ghe phen Kim Trọng bị kê đầy mồm.
Sự đời đã ẵm thì ôm,
Í a í é… chiều hôm anh phiền.
Này em bài học không quên:
Một khi nước đã đánh phèn
Vặt lông, nấu cháo làm liền một khi.
Để dành nào có hay gì,
Quá dành ra sọt nó thì chiêm bao
Sờ quanh nào thấy đâu nào…

Kiều khuyên Kim Trọng “để dành” đã là việc quá đỗi khó tin và giả tạo, Kim Trọng chịu “để dành” còn là chuyện ruồi bâu kiến đậu nữa.

Chưa hết tức cười vì cái “trinh” to tổ bố của Thúy Kiều, cái “trinh” được văn học sử ca tụng và đánh giá là “ngàn vàng”, tôi mần thêm bài thơ này:

Trinh em đáng giá ngàn vàng
Ngàn vàng về lộn tay chàng đêm nay.
Trinh em còn những ngần này
Vưỡn to bề rộng, vưỡn dầy bề sâu.
Có mòn trinh tí nào đâu
Càng xài càng tốt, càng lâu càng bền.
Trinh em có đủ nhân duyên:
Phu nhân, Kiều Thúy, Trạc Tuyền, Hoa Nô.
Mười năm lưu lạc giang hồ
Nửa giờ chiêu tập cơ đồ còn nguyên.
Trinh em thật đáng đồng tiền.

Thúy Kiều được đời ca tụng vì cái “trinh” của nàng. Nói cách khác khi ta ca tụng, ta thờ phượng, ta quí báu, ta nâng niu Thúy Kiều cũng là khi ta ca tụng, thờ phượng, quí báu, nâng niu – hôn hít nữa – cái “trinh” của nàng. Kiều khá vì cái “trinh” và cái “trinh” đó của Kiều được Đạm Tiên gọi bằng thuật ngữ đạo giáo là “âm công”. Đạm Tiên nói trước rằng Thúy Kiều đã hết kiếp đoạn trường, sẽ được sung sướng vì cái gọi là “âm công” của Kiều khá nặng. Đó là câu:

Một niềm vì nước, vì dân
Âm công cất một đồng cân đã già
Đoạn trường sổ rút tên ra
Đoạn trường thơ phải đón mà trả nhau.

Cái “âm công” long trọng và được đánh giá bằng pound Mẽo, ký-lô Phú lang sa này làm tôi buồn cười. Tôi cười và tôi mần thơ:

Một niềm vì nước vì dân
Âm công cất một đồng cân đã già
Âm công em nặng ký ba
Thêm đồng cân nữa nó già ký tư.
Ngẫm hồng nhan tự thuở xưa
Cái điều âm đức có chừa ai đâu?
Âm công em nở, em sâu,
Âm công em đẹp, em sầu làm chi.
Đoạn trường rồi cũng qua đi
Mười lăm năm ấy hại gì ai đâu!
Túc khiên em rửa sạch lầu
Âm công ai có qua cầu mới hay.

Chuyện Thúy Kiều đòi “đi tu” – theo tôi – đáng được coi là chi tiết giả tạo nhất trong Truyện Kiều. Trong những đêm nằm buồn ở Chí Hòa, tôi mần những câu thơ cay cay để vịnh Thúy Kiều đi tu:

Sao em trong ngọc trắng ngà
Dầy dầy em đúc một tòa thiên nhiên
Đào hoa trong bấy nhiêu niên
Mà em ăn nói nghe phiền lắm thay,
Mới ba mươi tuổi trao tay
Tu gì được cái tuổi này mà tu?
Em đòi em khép phòng thu
Đêm thu gió lạnh nó cù… em mở ngay.
Hay gì chuyện đó mà hay
Em tu không khéo có ngày em hoảng chưa.
Tu mà uống rượu đánh cờ
Tu xem hoa nở, tu chờ trăng lên.
Em tu cho phỉ mười nguyền,
Cho tình em đượm cho duyên em nồng.
Tu mà làm lễ tơ hồng
Tu mà hoa chúc, động phòng sánh đôi.
Tu mà dìu dặt chén mồi.
Bâng khuâng kinh cũ, ngậm ngùi kệ xưa.
Em ơi, em tu từ sen ngó đào tơ
Mười lăm năm em tu đã, bi giờ em lại tu!

ầu ơ… ví dầu…
Cá lóc thì nấu canh chua
Em đi ở chùa, ai đẻ con anh?
Em tu em độ chúng sanh
Em ăn thịt mỡ, dưa hành ở đâu?
Em tu mà tóc đầy đầu
Nam mô bồ tát Thị Mầu… em tu!

Thúc Kỳ Tâm, Công Tử Vô Tích

Thúc Kỳ Tâm, Công tử Vô Tích, được giới thiệu về cuộc đời “ái tình và sự nghiệp” bằng bốn câu:

Khách du bỗng có một người
Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương
Vốn người huyện Tích, châu Thường
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Tri.

Sai. Thúc Kỳ Tâm là con nhà tap hóa – người Bắc kỳ những năm 40 gọi là những nhà bán hàng hóa tạp nhạp mấy sợi giải rút, cây kim, ống chỉ, cục pin đèn, lưỡi câu, dây câu, lọ mực… này là hàng xén, tạp hóa; người Nam kỳ cũng những năm 40 gọi theo Ba Tàu là tiệm chạp phô – Thúc Kỳ Tâm không thể là con nhà thư hương được. Anh bố của Kỳ Tâm là nhà buôn gia truyền. Không thể gọi những người “nòi thư hương” là những anh có đi học lõm bõm năm ba chữ. “Nòi thư hương” phải là “thư hương” từ đời ông, đời cha…

Nguyễn Du dùng hai chữ “thư hương” hơi nhiều trong Kiều. Trước Thúc Kỳ Tâm, ta thấy Sở Khanh cũng:

Một chàng vừa trạc thanh xuân
Hình dung chải chuốt, áo khăn dịu dàng
Nghĩ rằng cũng mạch thư hương
Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh

Nhưng đây là Kiều tưởng lầm Sở Khanh là con nhà thư hương – nhà có học – qua diện mạo và trang phục của tay chơi phóng đãng họ Sở. Kiều tưởng lầm thì có thể chấp nhận được, nhưng Thúc Kỳ Tâm được Nguyễn Du giới thiệu rõ ràng là “con nhà thư hương” thì cần phải xét lại.

Anh con nhà buôn Thúc Kỳ Tâm đẹp trai, hào hoa phong nhã không kém gì Công tử Bắc Kinh Kim Trọng. Anh còn hơn Kim Trọng hai điểm:

- Có vợ.
- Biết mần thơ.

Và như như những nhà thơ lớn sẵn sàng mần thơ một cách dễ dàng ở mọi nơi, mọi lúc, Thúc Kỳ Tâm đã mần thơ khi Kiều tắm. Công tử Kim Trọng chơi đàn ghi-ta, vẽ vời cây thông cây tùng, nhưng không mần thơ được. Bằng chứng cậu phải nhờ Kiều mần giùm mấy câu thơ đề lên bức họa:

Trên yên bút giá, thi đồng
Đạm thanh một bức tranh tùng treo trên
Phong sương được vẻ thiên nhiên
Mặn khen nét vẽ càng nhìn càng tươi
Sinh rằng: “Phác họa vừa rồi
Phẩm đề, xin một vài lời cho hoa”
Tay tiên gió táp mưa sa
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu.

Tôi nghĩ : Thơ phải để cho những thi sĩ chân chính mần, bọn con nhà buôn chẵn buôn lẻ dính vào thơ làm bẩn thơ, làm thơ mất giá. Năm mươi năm xưa, thi sĩ Nguyễn Bính đã phải ngán ngẩm:

Trọc phú ti toe bàn thế sự
Đĩ già tấp tểnh nói văn chương
Đã coi đồng bạc to hơn núi
Lại học đòi theo thói Mạnh Thường…

Một đêm tại ngục vịnh Kiều, tôi tưởng tượng ra cảnh chiều mùa hạ, trời nóng, ở lầu Ngưng Bích, Kiều tắm:

Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông
Buồng the phải buổi thong dong
Thang lang rủ bức trướng hồng tẩm hoa
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên
Sinh càng tỏ nết càng khen
Ngụ tình tay thảo một thiên Luật Đường

Thúc Kỳ Tâm có thể làm nhiều việc thích hợp với việc Kiều tắm, nhưng y lại mần thơ. Thơ của những anh con nhà tạp hóa loại Thúc Kỳ Tâm là thứ thơ dỏm, cóc nhái, ểnh ương, thằn lằn, cắc ké, kỳ nhông. Thúy Kiều chắc phải ngán ngẩm đến buồn nôn vì thơ phú của người tình con nhà tạp hóa. Nàng ngấy người tình nên nàng – một cây mần thơ – mới giả vờ nhớ nhà để tránh làm thơ thù tạc. Tôi thay nàng làm bài thơ vịnh Thúc Sinh mần thơ:

“Lòng còn gửi áng mây Hàng
Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay”

Người hay ngợm? Lạ lùng thay!
Thang lan em tắm nửa ngày hạ thiêu
Thấy em tắm, chẳng thèm yêu
Giở trò con khỉ con tườu… mần thơ!
Thơ gì? Thơ thẩn, thơ ngơ
Thơ con cá lóc lập lờ cửa hang.
I tờ em biết tài chàng
Lời lời rau muống, hàng hàng mắm tôm.
Thơ chàng… hán cũng như nôm
Quẳng ra con vện, con xồm đều chê
Tứ thơ thì trật môn lề
Mà niêm với luật lộn mề tanh banh
Chán chường em nói loanh quanh:
- Nhớ nhà, em phải lộn vành hôm nay!

Môn đăng, hộ đối

Thúc Kỳ Tâm là con nhà buôn – xã hội phong kiến đời Gia Tĩnh triều Minh coi khinh bọn con nhà buôn nhất. Trong bốn thành ohần xã hội, bọn buôn bán được xếp hạng bét: Sĩ, Nông, Công, Thương. Nhưng vợ Thúc Kỳ Tâm con nhà tạp hóa lại là:

Vốn dòng họ Hoạn danh gia,
Con quan Lại bộ tên là Hoạn Thư…

Nhà mẹ Hoạn Thư có treo tấm bảng “Thiên Quan Chủng Tể” trước đôi mắt ngỡ ngàng của Thúy Kiều bị bắt cóc đưa đến:

Ngước trông tòa rộng, dãy dài
“Thiên Quan Chủng Tể” có bài treo trên.

“Thiên Quan Chủng Tể” là mỹ danh để gọi các ông Tể tướng. Như vậy ông thân sinh ra Hoạn Thư “ở ăn thì nết cũng hay, nói lời ràng buộc thì tay cũng già” từng làm tể tướng. Ngày xưa – ở vào cái thời Gia Tĩnh triều Minh thế kỷ thứ mười bốn, mười lăm ấy – người đương thời phân biệt và tôn trọng giai cấp rất chặt chẽ. Thời bi giờ người ta thường thấy những ông thạc sĩ con nhà tỉ phú du học ở Ăng-lê, Phú-lang-sa về yêu và nhất định kết hôn với những em thợ may, thợ uốn tóc chợ Bàn Cờ, Cầu Muối; những ái nữ con nhà tỉ phú nằng nặc đòi làm vợ những chú tài xế chuên nghiệp – những chuyện tình không chia giai cấp này được thể hiện nhiều nhất, trung thực nhất, trong những tiểu thuyết do những dzăng sỡi nhà nghề viết ra – nhưng đó là chuyện thời bi giờ. Còn chuyện ngày xưa, chuyện tình năm sáu trăm năm trước, người ta còn trọng cái gọi là “môn đăng, hộ đối” lắm lắm.

Con nhà công, hầu, khanh, tướng kết hôn với con nhà công, hầu, khanh, tướng. Chuện đó chắc như bắp rang, chắc hơn cua gạch. Con gái tể tướng không thể về làm dâu nhà buôn tạp hóa đứng hạng bét trong bốn nấc thang xã hội. Nhưng em Hoạn Thư, con gái quan Tể tướng , đã trở thành con dâu của me sừ Thúc ông phó thường dân chủ tiệm chạp phô. Tại sao? Gần hai trăm năm nay chúng ta đọc Kiều, yêu Kiều, tưởng tượng ra Kiều, đấu hót, tán nhảm, viết vung vít về Kiều, nhưng ít có ai thắc mắc đến chuyện tại sao lại có cuộc hôn phối hết sức hổng môn đăng, hộ đối một ly ông cụ nào như cuộc hôn nhân Hoạn Thư, ái nữ Tể tướng, với Thúc Kỳ Tâm, công tử chạp phô?

Công tử Hà Đông, anh em cùng vợ với con trai Bà Cả, bèn vận dụng công phu duy vật biện chứng Ăn Đong để phân tích cuộc hôn nhân Tể tướng – Chạp phô của Hoạn tiểu thư và Thúc công tử. Đại khái như sau:

Gia đình Hoạn Thư đã suy sụp – sự kiện này hơi khó chấp nhận vì mới đời ông bố làm Tể tướng, ông này có ngủm củ tỉ đi nữa thì bà vợ, cô con đâu đã hết sản nghiệp nhanh đến như thế – gia đình nhà buôn họ Thúc tuy không có danh vọng nhưng có tiền. Giai cấp gian thương đang lên chân, đang dần dần có thế lực trong xã hội. Hoạn Thư kết hôn với Thúc Kỳ Tâm vì tiền của nhà họ Thúc, Thúc Kỳ Tâm lấy Hoạn Thư làm vợ vì danh tiếng của nhà họ Hoạn.

Cũng được thôi, cũng đúng thôi. Ở đời ai cần cái gì thì đi tìm cái ấy. Họ Hoạn cần tiền, họ Thúc cần được kính nể. Đôi bên trao đổi sòng phẳng, hợp tình, hợp lý.

Năm xưa, những năm môi tôi còn thắm, tóc tôi còn xanh, mắt tôi còn sáng, tim tôi còn nóng… tôi cũng như mọi người, tôi chẳng ưa gì cái gọi là “môn đăng, hộ đối”. Không những chỉ không ưa, tôi còn chống đối kịch liệt những cuộc hôn nhân định đoạt theo tiêu chuẩn “môn đăng, hộ đối” ác ôn côn đồ. Không những chỉ chống đối mà thôi, tôi còn hoan nghênh, tán thành những cuộc tình con gái Đại tá – Binh nhì Chá xế, Kỹ sư – Thợ may, Thạc sĩ Kinh tế – Nữ thư ký đả cơ khí tự, v.v… Nhưng khi

Năm nay mái tóc không còn xanh nữa
Tôi đã đau thương đã nợ nần…

Khi tôi bằng ông Khổng Tử năm ông thốt ra câu để đời “tứ thập nhi nhĩ thuận”, hình như tôi lại có ý nghĩ khác về cái gọi là “môn đăng, hộ đối”.

Kính thưa quí vị nữ độc giả ái mộ thân mến thơm hơn múi mít. Xin quí vị bình tâm xét lại. Ta chẳng nên hung hăng con bọ xít chê bai, chống đối tất cả những kinh nghiệm sống của những người đã sống, đã yêu, đã hai năm mươi, xuôi sáu tấm trên cái cõi đời này trước chúng ta. Hôn nhân dựa trên tiêu chuẩn “môn đăng, hộ đối” coi bộ tốt, coi bộ đúng lắm đí chứ? Có gì là sai trái khi những người cùng một hoàn cảnh gia đình, cùng một giai cấp, cùng một nghề nghiệp… kết thân, kết hôn mí nhau? Quân tử tàu, những người khôn dàng trời, tối đất, có lời khuyên minh triết xanh rờn về việc cưới vợ, gả chống cho con như vầy:

- Cưới vợ con trai mình thì nên chọn con gái nhà nào kém nhà mình để con vợ nó về nó sợ nhà mình.
- Gả chồng cho con gái thì nên chọn nhà nào hơn nhà mình để con gái mình nó không khinh thường nhà chồng nó.

Chí lý quá xóa, phải không ạ? Chí lý đến nỗi ở trên cái cõi đời này không còn gì có thể chí lý hơn được nữa. Thúc Kỳ Tâm, con nhà tạp hóa, nếu lấy vợ cũng con nhà tạp hóa thì đâu có chuyện sợ vợ đến khốn khổ khốn nạn, thảm kịch chết đi sống lại vì mất vợ bé đâu có xảy ra. Làm sao những nỗi đoạn trường ghê gớm có thể đến với cuộc đời Thúc Kỳ Tâm tạp hóa nếu vợ Kỳ Tâm là con gái một ông chủ chạp phô nào đó ở chợ Bàn Cờ, một nhà vẫn phải lấy hàng hóa gối đầu của nhà buôn họ Thúc tổng đại lý chợ Kim Biên? Chị vợ Thúc Kỳ Tâm con nhà chạp phô nhỏ này sẽ sợ chồng một phép. Không những chỉ sợ mà thôi, chị còn mừng khi thấy chồng có vợ bé để chị yên thân ở nhà nuôi con, ăn heo quay, xá xíu béo mầm, quanh năm ngồi xem phim tình cảm Quỳnh Dao Tài Oăn ướt lướt thướt, năm bữa nửa tháng nhờ anh chồng hào hoa phong tình về thăm hỏi năm bảy phút nhấp nháy cò con….

Cuộc hôn nhân tốt đẹp, êm đềm ấy là cuộc hôn nhân đặt căn bản trên tiêu chuẩn “môn đăng, hộ đối”. Nhưng thay vì con nhà buôn hạng bét phải lấy vợ cũng con nhà buôn hạng bét, Thúc Kỳ Tâm – đúng ra phải kể là anh bố nhà buôn háo danh ngu đần của Thúc Kỳ Tâm – đã với cao hơn đầu, đã thực hiện một cuộc hôn nhân “môn bất đăng, hộ bất đối”. Và chính vì thế mà Thúc Kỳ Tâm sợ Hoạn Thư hơn sợ bố, hơn cả sợ pháp luật triều đình. Tất cả những đau đớn đứt ruột của Thúc Ký Tâm, những bất hạnh không đáng phải chịu của Thúy Kiều: bị bắt cóc, bị biệt giam, bị bắt làm tôi đòi, bắt quí tận mặt, bắt mời tận tay, bắt khảy đờn, bắt ngồi canh đèn ở cửa phòng vệ sinh, rồi đi tu chùa tụng kinh, rồi lại trở vào chốn yên hoa làm vợ khắp người ta có tiền… Tất cả những cái vừa kể đó đều không có nếu anh bố Thúc Kỳ Tâm khôn ngoan áp dụng quy luật hôn nhân “môn đăng, hộ đối”.

Tôi càng nghĩ càng thấy tâm sự minh triết của qui luật “môn đăng, hộ đối”. Chị con gái nhà buôn tuy có tiền đem về nhà chồng, tậu nhà, mua xế cho chồng nhưng vẫn tủi thân khi nghe chồng, hay người nhà chồng, nói những lời khinh thường những kẻ sống ở đời mà không phải là bác sĩ, kỹ sư, đốc phủ sứ, hoặc khi nghe chồng mạt sát bọn nhà buôn ngu si, dốt nát chỉ biết kiếm tiền.

Như con gái một cải lương chi bảo, hay một tân nhạc danh ca về làm dâu một nhà mù tịt về những cái gọi là dzăng nghệ dzăng gừng… có thể tủi thân khi nghe người nhà chồng nói đến bốn tiếng “xướng ca vô loài”. Lại tỉ như con gái một anh viết báo, viết tiểu thuyết – như tôi chẳng hạn – kết hôn với một anh chồng hoàn toàn không biết đến tờ báo, quyển truyện là cái gì, có thể nực gà, nóng mắt khi nghe thằng chồng vô tình nói: “Mấy thằng nhà báo nói láo ăn tiền…”

Nhưng nếu thằng rể quí của tôi cũng có bố hành cái nghề nói láo ăn tiền như bố vợ nó thì câu nói trên chỉ là câu nói đùa hết sức có duyên giữa đôi vợ chồng trẻ. Thảm kịch hôn nhân không môn đăng, hộ đối giữa hai họ Hoạn – Thúc làm tôi sáng mắt, sáng lòng. Tôi thấy rõ tính hợp lý của việc môn đăng, hộ đối trong hôn nhân.
Tôi tưởng tượng nếu con gái tôi có diễm phúc được làm vợ con trai của những ông Minh Vồ, Duyên Anh, Hoàng Anh Tuấn chẳng hạn, nó sẽ hết sức dịu dàng, thoải mái mà hỏi chồng nó:

- Ê… thằng khốn nạn kia! Mày chửi bố mày hay chửi bố tao đấy?

Hoặc:

- Chèng đéc ơi… Từ nãy tới giò em cứ tưởng là anh chửi bố em, hóa ra là anh chửi tía anh, anh chửi nghe đã quá!

Cuộc tình Hoạn – Thúc rắc rối tơ, sai qui luật cho tôi đi đến mấy kết luận kiểu luân lý giáo khoa thư lớp Đồng Ấu:

- Con nhà báo mần vợ chồng với con nhà báo.
- Con nhà lính mần vợ chồng với con nhà lính.
- Con nhà buôn mần vợ chồng với con nhà buôn.
- Mình là con nhà thường dân thì đừng có dính dáng gì đến những em con nhà quan lại; để cho các em chổng mông…
- Vợ chồng cùng giai cấp là hạnh phúc nếu không chắc như bắp thì cũng không đến nỗi đau khổ để văn thơ phải ghi chép tốn giấy, tốn mực. Vợ chồng đừng có lai căng, vợ chồng đầu gối, tay ấp mí nhau mà đòi hòa hợp, hòa giải giai cấp đấu tranh là hổng có được. Xung đột dữ dội lắm. Nhiều khi đi đến tạt dầu hôi, bôi át-xít nhau đấy. Ông cha đã dạy hổng chịu nghe, thảm kịch xảy ra kêu trời, kêu đất…
- Những cuộc tình đẹp, thơ mộng tuyệt vời kiểu không chia giai cấp, con gái tỉ phú lấy tài xế xe nhà, bác sĩ mua bằng giả yêu em thợ uốn tóc thẩm mỹ viện Ngã Ba Chú Ía… chỉ là những chuyện có thật trong tiểu thuyết, trên màn ảnh vi-đê-ô, đừng có tin, đừng tưởng bở…

Bố ký cóp, con bốc trời

Công tử chạp phô Thúc Kỳ Tâm thích mần thơ đã là chuyện lố bịch làm sỉ nhục thơ văn, nhưng ngu ngốc nhất là việc đương sự “tưởng Thúy Kiều là con của Tú Bà”!

Tưởng thế nào được? Thúc Kỳ Tâm tưởng cái gì về Thúy Kiều cũng có thể tha thứ được, nhưng “tưởng Thúy Kiều là con Tú Bà” thì hổng thể nào chịu nổi. Con nít lên mười, cụ già chín mươi cũng chẳng có ai tưởng một cách ngu si, đáng ghét như thế. Khi thấy Thúy Kiều tắm trong bồn nước pha Chanel No. 5, Thúc Kỳ Tâm làm cái việc ruồi bâu kiến đậu là ngồi rung đùi mần thơ. Rồi đến lúc Thúy Kiều vờ vẫn bầy đặt chuyện nhớ nhà để tránh khỏi phải mần thơ thù tạc xôi thịt đáp lễ:

Hay hèn nghĩ cũng nối điêu
Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang
Lòng còn gửi ánh mây Hàng
Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay.

Thúc Kỳ Tâm làm cái việc ruồi bâu kiến đậu thứ hai khi nói:

-Ủa! Kỳ dzậy! Anh tưởng em là con má Tú?

Rằng: “Sao nói lạ lùng thay
Cành kia chẳng phải cội này mà ra?”

Lúc ấy chắc chắn Thúy Kiều phải hận đến căm gan tím ruột. Không có gì làm nàng tủi nhục bằng việc nàng bị coi là con gái của mụ chủ nhà thổ thô bỉ, bệnh hoạn, nước da xanh xao, nhờn nhợt, cao lớn, đẫy đà… Nhưng tên tưởng lầm, tên sỉ nhục nàng lại là tên có tiền chi bao nàng sống. Nàng không thể dí… vào mặt nó được, nên nàng chỉ buồn ray buồn rứt:

Nàng càng ủ dột thu ba
Đoạn trường lúc ấy nghĩ mà buồn tênh…

Những đêm ở phòng giam tập thể 10 Ô-ten Chí Hòa thành Hồ, tôi nằm nuôi rệp xuất khẩu trong màn – chỉ giương cái màn mỏng dính lên thôi nhưng lạ kỳ biết chừng nào, tôi đã có một cõi riêng tư để thả hồn mơ mộng, để mần thơ vịnh Kiều – tôi thương Kiều bị bọn ngu si hạ nhục, tôi mần thơ chửi Thúc Kỳ Tâm, chửi đến nơi đến chốn, chửi thẳng thừng, chửi từ đời con đến đời cha, để trả hận cho Kiều:

Chửi bố cha con
Nhà chạp phô Thúc Kỳ Tâm

Rằng: “sao nói lạ lùng thay
Cành kia chẳng phải cội này mà ra?”

Chém cha con mắt mù lòa
Có đui mới tưởng em là con hoang.
Ngu thì ngu cũng phải chăng
Ngu sao qua nỗi bất bằng là ngu!
Chán cho anh bố lù đù
Suốt đời nhặt nhạnh từng xu, từng đồng.
Thằng con vừa ngọng vừa ngông
Trăm nghìn nó đổ như không trận cười
Bố ký cóp, con bốc trời
Cha đời nửa ngợm nửa người nhà ngu.
Như lu mụ Tú mập ù
Vành mông, vòng bụng lù lù một toa
Nàng thì trong ngọc trắng ngà
Dầy dầy sẵn đúc một tòa nước non
Lấy gì mẹ mẹ, con con?
Mèo mù đòi dọ ngọn nguồn, lạch sông.
Tiếc em, em đỏ như vông
Vô duyên vớ phải thằng chồng cu đen.

Người yêu em nhất

Nói đến em là người đời nói đến trinh, đến trắng…

Ngay cả đến anh Công tử Hà Đông hào hoa phong nhã chẳng bằng ai cũng ca tụng cái gọi là “chữ trinh” của em:

Trắng suốt thời gian một chữ trinh
Hai trăm năm lẻ biết bao tình
Nào dâu, nào biển, đời hay mộng
Trang giấy này em vẫn hiển linh.

Em trinh cùng mình, trinh từ đầu đến chân nhưng số em lại là số có thân chủ đàn ông đứng xếp hàng trước giường em hơi đông:

  1. Mã Giám Sinh
  2. Sở Khanh
  3. Thúc Kỳ Tâm
  4. bạc Hạnh
  5. Từ Hải
  6. Hồ Tôn Hiến
  7. Thổ Quan
  8. Kim Trọng…

Kim Trọng, Công tử Bắc Kinh, đáng lẽ là năm-bơ-oăn, nhưng chỉ vì can tội “để dành, để sọt” nên trở thành đèn đỏ. Với Thúy Kiều thì Kim Trọng “đen hơn mõm chó mực”. Số của cậu là số “đi trước, về sau”, giống như “Sài gòn đẹp lắm, Sài gòn ơi…” Sài gòn: Thành đồng tổ quốc, đánh nhau trước nhưng “được” hưởng hạnh phúc Việt cộng muộn nhất nước.

Nhưng thôi, ta bỏ qua những chuyện lẻ tẻ đó, Thúy Kiều, anh hỏi riêng em: Người đàn ông nào yêu thương em nhất?

Một trong ba tên Thúc Kỳ Tâm, Từ Hải, Kim Trọng ư? Anh thấy cả ba tên ấy đều yêu em vì “muốn” em, vì muốn được hưởng thụ nhan sắc, thân xác của em. Nếu chúng không “muốn” em, anh chắc chúng chẳng dửng dưng con cá vàng thì cũng chẳng tha thiết gì đến em. Anh muốn em hãy phân biệt “yêu” và “muốn”. Hai cái đó giống nhau lắm đấy. Nhưng nếu ta tỉnh trí đôi chút, ta vưỡn thấy chúng khác nhau.

Theo anh, người đàn ông yêu em nhất đời em, yêu em thực tình, yêu em thật trắng, thật sạch, yêu em không phải vì “muốn” em, là Tri phủ Lâm Tri.

Khi anh đã nói đến Tri phủ Lâm Tri rồi, anh chắc em sẽ đồng ý với anh. Phải không em? Thúc Kỳ Tâm, Kim Trọng yêu em, khóc với em, khóc vì em, tiếc em… sống dở chết dở, chết đi sống lại, nhắc ngoải, rên la thảm thiết chỉ là vì em đẹp, vì muốn được nằm chung một giường mí em. Kể cả Từ Hải. Cả ba yêu em chính là tự yêu thân xác chúng. Nhưng riêng Tri phủ Lâm Tri thì yêu em mà không đòi em phải đền đáp, chải cho cái gì cả. Đúng không em? Vì những lý do cao đẹp đó, anh long trọng tuyên bố:

Người đàn ông yêu Vương Thúy Kiều nhất cõi đời này là: Tri phủ Lâm Tri.

Tri phủ Lâm Tri

Trông lên mặt sắt, đen xì
Lập nghiêm trước đã ra uy nặng lời

Lập nghiêm nên phải thế thôi
Con người ấy thật là người hào hoa.
Hoa tiên quan mới xem qua
Nòi tình nên thấy tình là quan thương.
Khen rằng: “Giá lợp Thịnh Đường
Tài này, sắc ấy nghìn vàng chưa cân”.
Mười lăm năm, bấy nhiêu lần
Có ai bằng được Phủ Quân nhà mình?
Đa tình nên mới yêu tình,
Hào hoa sáng rực một thành Lâm Tri.
Tuy rằng mặt sắt đen xì
Nhưng tim với óc quan thì đỏ au.
Truyện Kiều tính suốt xưa sau
Hào hoa đệ nhất đứng đầu: Phủ Quân.

Khi em một bước thanh vân, em lên chức phu nhân, em ân đền oán trả, em lập tòa án xử tội những tên làm rách, làm bẩn cuộc đời ái tình và sự nghiệp của em, em trừng trị bọn Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà, Bạc Hạnh, Bạc Bà, Hoạn Thư, mẹ Hoạn Thư. Em tuyên án tử hình cả hai tên gia nô tay sai Khuyển Ưng, Khuyển Phệ. Em chi “gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” máu và nước mắt nhân dân do chồng em bóp nặn, bóc lột. Em đền ơn hậu hĩ cho mụ Mã Kiều, mụ Quản gia, vải Giác Duyên…

Nhưng em quân mất Phủ Quân, người có ơn với em nhiều nhất. Anh là người thích trọn tình, trọn nghĩa, chung tình, chung thủy, ân oán rạch ròi, nên anh bất mãn khi thấy em quên Tri phủ Lâm Tri. Vì vậy những đêm u tối mà hết sức bình yên, anh nằm với ông bạn tù thi sĩ Trần Văn Hương ở nhà tù lớn Chí Hòa, anh tại ngục vịnh Kiều và anh:

Trách Kiều quên đền ơn

Lập tòa em xử vẩn vương
Trách em ân, oán đôi đường chưa minh.
Lâm Tri tri phủ đa tình
Gả chồng công lớn sao mình lại quên?
Ngàn vàng em tạ Giác Duyên
Bố già vất vả em chẳng đền một xu.
Kiếp này em lại vụng đường tu…

Kiều ơi, kiếp này rõ ràng em lại vụng đường tu. Tu là để được giải thoát. Nhưng ta phải trả hết nợ ta mới ra khỏi cõi ta bà này được. Đó là qui luật. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng qui luật “trả hết nợ mới thơ thới, hân hoan” ấy đời đời không thay đổi. Kiếp này em còn nợ anh Tri phủ, em phải mần một kiếp sau nữa để trả nợ ảnh thôi.

Công tử Bắc Kinh hoa thơm đánh cả cụm

Kim Trọng, Công tử Bắc Kinh, là nhân vật vô duyên nhất trong truyện Kiều.

Lẽ ra Công tử là người thứ nhất, nhưng vì Công tử vô duyên, Công tử lần chần nên trở thành người cuối sổ. Đau thế chứ ly! Nhưng trong những đêm nằm thao thức ở phòng 10 tập thể khu ED lầu Bát giác Chí Hòa – năm 1988, thành Hồ – suy nghĩ về Kiều và những cái gọi là rắc rối của cuộc đời, tôi không chút xót thương anh công tử bột Kim Trọng. Không những chỉ không xót thương, tôi còn ghét cay ghét đắng, ghét đến đào đất đổ đi bọn con nhà giàu được hưởng thụ đủ thứ nhờ tiền bạc, quyền thế của bố mẹ như Kim Trọng.

Bọn con nhà giàu nó đã có tiền, nó lại đẹp trai, học giỏi, đỗ đạt cao… Vậy thì nó hưởng hết rồi còn gì! Làm quan, lấy vợ đẹp, đẻ con khôn… được người đời tôn trọng, quị lụy… Bao nhiêu khoái lạc ở cõi đời này chúng nó hưởng hết, những thằng con nghèo như tôi còn cái mốc xì sư cụ gì?

Bởi dzậy cho nên bất cứ lúc nào tôi mạt sát, mạ lỵ, bôi xấu, vu cáo, chửi cạnh chửi khóe, móc máy được bọn con nhà giàu – trong Kiều, dưới chỗ để ngồi tròn nây của Thúy Kiều điển hình là hai anh Kim Trọng, Thúc Kỳ Tâm – là tôi làm tới, mần thẳng cánh. Tôi mạt sát, hạ giá bọn con nhà giàu để trả thù cho những anh con nhà công chức còm như tôi.

Kim sinh viên học gì không ai thấy, chẳng ai biết. Ta chỉ thấy cậu lái xe Jaguar đến nghĩa địa ve gái. Cậu có điều kiện mướn riêng một vi-la bên cạnh nhà người đẹp. Ta chẳng thấy cậu học hành chi cả, chỉ thấy cậu ngồi khảy đờn ghi-ta. Và cậu có sẵn một thứ mà không một người học trò nào trên cõi đời này – từ ngàn xưa cho đến ngàn sau, từ ngày loài người có học trò đến ngày loài người không còn ai là học trò nữa – thường có. Những thứ đặc biệt Kim Trọng trữ sẵn đó là những món quà tặng để ve gái.

Không những chỉ ngày đêm tơ tưởng được ôm, được hôn Thúy Kiều, cậu bị ám ảnh đến mất ăn mất ngủ. Trường hợp Kim Trọng ra vào ngơ ngẩn vì muốn Thúy Kiều được diễn ta:

Chàng Kim từ lại thư song
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây
Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê
Mây Tần khóa kín song the
Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao
Mặt tơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Buồng văn hơi giá như đồng
Trúc se ngọn cỏ, tơ chùng phiếm loan.

Nguyễn Du phóng bút hơi quá tay khi tả cảnh đang giữa mùa hè “cái nóng nung người nóng nóng ghê” – Kim Trọng gặp Thúy Kiều ngay Thanh Minh trong tiết tháng ba – mà cái gọi là phòng văn của Kim công tử lại “lạnh giá như đồng“…

Nhưng thôi, ta trở lại với trường hợp Kim Trọng đáng lẽ ra là hành khách thứ nhất lên phi cơ lại trở thành hành khách thứ bét! Không những chỉ mướn vi-la, ngày ngày ngồi rình vườn sau nhà Vương viên ngoại, Kim công tử hào hoa phong nhã còn trữ sẵn những thứ không anh học trò nào trữ sẵn, là khăn voan hay khăn tay, khăn mặt, khăn bông, khăn lông, khăn choàng gì đó; và xuyến vàng. Khi vừa liên lạc được với người đẹp, Công tử lập tức hẹn nàng “Chờ anh tí” để phú lỉnh vào nhà:

Vội về thêm lấy của nhà
Xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông.

Nhân đây ta để ý thấy Nguyễn Du dùng hai tiếng “thêm lấy” ngang phè và không đúng ngôn ngữ Việt Nam chút nào. Chúng ta nói “lấy thêm” chứ không ai nói “thêm lấy” trừ những anh Mít lai Tẩy, lai Mẽo, lai Tầu. Nguyễn Du có thể dùng: Vội về lấy thêm của nhà… cũng vưỡn được, chỉ có âm điệu không hay bằng. Chú học trò Việt Nam nào làm bài luận quốc văn: “Em về thêm lấy của mẹ năm bảy chục tiền nữa để mang đi bao gái…” chắc chắn bị số điểm thật khốn nạn. Nhưng Thi Sĩ Lớn dùng hai tiếng “thêm lấy” ngang phè thì những đồng bào của ông, những người thán phục thi tài của ông, đời trước, đời này, đời sau đều câm miệng hến! Thi Sĩ Lớn dùng được, thường dân hổng có dùng được. Thi Sĩ Lớn mà!

Nhưng mà con người ở cái cõi đời này đều có số cả. Số đây là Số Mệnh viết hoa. Nếu không có Số thì những bao nhiêu con gái, đàn bà đẹp, thơm, đa tình, chung thủy trên cái cõi đời này đều làm vợ lớn, vợ bé, nhân tình những tên đàn ông con nhà giàu, con nhà quan, đỗ đạt cao, ăn trên ngồi trốc trong xã hội hết cả hay sao? Nếu không có Số thì những anh con nhà nghèo, xấu trai, học dốt như Công tử Hà Đông, Gã Thâm, Con trai bà cả Đọi, v.v… chỉ có cái diễm phúc làm bạn với những em thối tai, hôi nách, tính tình quái dị, hung hãn như khủng long hay sao?

Không. Ta không nên bi quan như thế. Nhất định là con người ta có Số và không những chỉ có Số mà thôi, con người ta còn ăn thua nhau ở cái Số nữa. Nhất định là có Số và có Trời. “Không có Trời ai ở được với ai?” Ông cha ta đã xác quyết cõi đời này có Số, có Trời từ lâu lắm rồi. Ta khỏi cần thắc mắc gì về chuyện này.

Tôi nói đời có Số là bởi vì Kim Trọng có tất cả những điều kiện tối ưu, tức là tốt nhất, để đóng vai người đàn ông thứ nhất trong đời em Vương Thúy Kiều đa tình nửa đêm leo tường, chui lỗ chó sang nhà đàn ông con trai, lại hụt ăn, lại không được hưởng, lại trở thành Người Hành Khách Đi Chuyến Tàu Vét.

Tại sao thế? Câu trả lời thật giản dị: Tại vì cái Số của Kim Trọng nó đen hơn mõm chó mực. Kim Trọng không có cái Số được hưởng cái gọi văn huê là “cái yêu đào” của Vương Thúy Kiều. Nhưng một phần cũng vì Kim Trọng ngu si nặng phần trình diễn.

Kiến cơ nhi tác… Thấy có cơ hội mần được là mần ngay; không những chỉ mần ngay mà thôi, còn phải nhanh tay, nhanh chân, nhanh mắt, nhanh mồm, nhanh miệng mần liền tù tì tút suỵt, mần đến nơi đến chốn.

Kim công tử vô duyên, ngu ngơ không chịu mần ngay – Bài học luân lý giáo khoa thư lớp Đồng Ấu Kim công tử đem lại cho những người đọc Kiều gồm hai chữ cô đặc kiểu bí kiếp “Mần Ngay” – Không những đã không chịu mần ngay, Công tử còn bày đặt những trò trình diễn rình rang không ăn nhậu tí ti ông cụ nào đến tình yêu như là lập bàn thờ thế thốt – thề mí ai? Thế mí ông Cai, bà Xã Đò – thắp nhang đèn, viết tờ cam kết, kết giải dây lưng, uống tí rượu và… ruồi bâu kiến đậu không giống ai, lố bịch, ngớ ngẩn nhất là cắt tóc trao cho nhau:

Tiên thề cùng thảo một trương
Tóc mây một món, dao vàng chia đôi
Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song
Tóc tơ căn dặn tấc lòng
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.

Những gì xảy đến với Kim Trọng Số đen hơn mãm chó mực cho ta thấy – rõ ràng, dứt khoát – là tất cả những việc vớ vẩn Kim Trọng làm trong đêm hôm vàng ngọc ấy đều vô ích. Không những chỉ vô ích mà thôi, chúng còn gây tác hại nặng như đá đeo. Vì những nguyên nhân duy tâm kiêm duy vật kiêm duy đủ thứ biện chứng pháp đó, Công tử Hà Đông làm bài thơ vịnh Kiều tại ngục như vầy:

Kiến cơ nhi bất tác:
Vỡ mặt là cái chắc…

Bây giờ rõ mặt đôi ta
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao
Sắn tay mở khóa động đào
Rẽ mây trông tỏ lối vào thiên thai…

Biết rằng gió tối mưa mai
Sao nhau để lỡ nhau hoài đếm xuân?
Tình nhân lại gặp tình nhân
Ái ân sao chỉ có ngần ấy thôi?
Xá gì trăng sáng giữa trời
Xá gì hai miệng một lời song song
Cần gì căn dặn tấc lòng
Cần gì tạc một chữ đồng đến xương.
Ngẩn ngơ toàn chuyện ẩm ương
Vô duyên cầm địch cầm đường vẩn vơ
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ
Sao người ngồi đó mà ngơ ngẩn sầu?
Sao không trên gối nghiêng đầu
Cho trào chín khúc, cho cau đôi mày?
Trời cho chẳng chịu vồ ngay
Nhẩn nha thì sẽ có ngày xót xa.
Tố Như ơi, tuyệt tài hoa
Một lời thôi cũng tiếng là tiên tri
Chiêm bao nào có hay gì
Cuộc tình đến quá nửa thì chiêm bao.

Tòa em anh chán mớ đời

La Quán Trung báo cho ta biết trước Quan Vân Trường sẽ không giết được Tào A Man ở Hoa Dung đường nhỏ khi tả cảnh Tào Tháo bại binh lếch thếch tơi tả lết đến, Quan Vân Trường trịnh trọng:

- Kính chào Thừa tướng… Ngài vẫn được mạnh giỏi?

Đáng lẽ ra Vân Trường phải – không có chào thừa tướng thừa tung gì cả – hét lên một tiếng lớn, vung long đao chém luôn. Nhưng thay vì làm thế, Vân Trường lại cung kính: “Kính chào Thừa tướng…” và đã một điều “Thưa ngài, kính ngài…” thì làm sao còn trở mặt, phủi tay với ngài được?

Thúy Kiều cũng dzậy. Đúng ra Tố Như cũng báo cho ta biết Thúy Kiều sẽ không giết được Hoạn Thư.

Khi Kiều ngồi lên ghế chánh án vừa thấy mặt nữ can phạm Hoạn Thư bị cai tù áp giải đến, Kiều đã vội vã đứng lên:

Thoắt trông nàng đã chào thưa:
“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?”

Thay vì chửi mắng, ra lệnh hành quyết ngay “con khốn nạn, mày thế nọ… mày thế kia… cho mày chết…”, Chánh án dỏm Vương Thúy Kiều lại kính cẩn “Chào cô… Thưa cô…” Chắc nàng còn xưng “em” với Hoạn Thư, cô chủ của nàng. Tội nghiệp! Nàng muốn trả thù Hoạn Thư mà nàng vưỡn còn sợ nó, vưỡn còn coi nó là cô chủ, là mợ… thì làm sao nàng có thể trở mặt giết được?

Đây là lý do tại sao những người Tàu cộng phải tổ chức “học tập đấu tố bọn địa chủ ác ôn”. Tàu cộng biết nông dân từ bao đời truyền kiếp làm nông nô vẫn sợ hãi bọn chủ đất nên Tàu cộng dạy nông nô vừa thấy mặt chủ đất là phải gọi ngay bàng “thằng”, nhổ ngay vào mặt, chửi rủa tận tình. Có thế mới thực hiện được những cuộc đấu tố địa chủ. Nếu cứ để nông nô nói với chủ đất những câu như: “Thưa ông, năm xưa ông bóc lột bọn tôi hơi quá đáng… Nay bọn chúng tôi hành hạ ông để trả thù…” e rằng không đúng chỉ tiêu. Đàn em Việt cộng bắt chước đàn anh trong đấu tố, cũng cải cách ruộng đất. Những chị hai, ba mươi tuổi cong cớn, hung hãn gọi những ông già là “thằng, mày…”

Trở lại với Thúy Kiều lập tòa án nhưng không giết nổi “chính danh thủ phạm Hoạn Thư”, ta thấy rõ ràng vì Thúy Kiều đã không trở mặt được ngay từ đầu. Cái gọi là tòa án của Kiều không ra làm sao cả! Thúy Kiều còn mặc cảm tự ti “gia nô – gái chơi”. Dù nàng có là nữ thủ tướng, là vợ tổng thống đi chăng nữa, trước mặt cô chủ, mợ chủ ngày xưa, nàng vẫn cứ thấy nàng kém nước.

Công tử Hà Đông bèn có bài vịnh:

Thúy Kiều chánh án

Thoắt trông nàng đã chào thưa:
“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?”

Mới nghe chào, đã biết ngay
Chính danh thủ phạm tòa này sẽ tha.
Ai đời lôi nó ra tòa
Mà em lại gọi nó là… tiểu thu!
Vỏ lệnh bà, cốt hoa nô
Lại thêm mặc cảm giang hồ, gái chơi
Em còn sợ nó thì thôi
Tòa chi để một trận cười người ta!
Tòa gì gươm tuốt nắp ra
Tuốt ra rồi lại gươm tra nắp vào.
Chém cha cái tật hoa đào
Bắt Tào rồi lại tha Tào như chơi.
Tòa em anh chán mớ đời!…

Đã tha bổng chính phạm Hoạn Thư nhưng chánh án Vương Thúy Kiều lại xử tội hai tên tay sai của Hoạn Thư là Khuyển Ưng, Khuyển Phệ.

Hai Khuyển không thù oán gì với Thúy Kiều. Chúng chỉ là gia nô làm theo lệnh chủ. Tất nhiên là trên pháp luật, chúng cũng có tội và cũng bị trừng trị, nhưng khi chính phạm đã được tòa tha bổng – không cần biết vì lý do gì – những tên tòng phạm cũng mặc nhiên không còn bị truy tố nữa.

Vương Thúy Kiều có thể trừng trị Khuyển Ưng, Khuyển Phệ nhưng ni cô Trạc Tuyền thì không nên.

Khuyển Ưng, Khuyển Phệ can tội theo lệnh chủ đi bắt cóc một người đàn bà tên là Vương Thúy Kiều. Khi lập tòa, một phần nào người đàn bà Vương Thúy Kiều đã là ni cô Trạc Tuyền. Ni cô đã tu hành đến hơn ba niên trong chùa nhà người ta. Ni cô đã làm tốn biết bao nhiêu nhang đèn, giấy mực, cơm gạo, đậu hũ ky, tương chao… Ít nhất chánh án-ni cô cũng phải biết thế nào là ân oán. Ni cô oán người làm ni cô đau đớn, ni cô trả thù người đó khi ni cô có thể. Bọn Khuyển Ưng, Khuyển Phệ cũng oán hận ni cô vì ni cô đã trừng phạt chúng thảm thiết. Chúng cũng biết thù ni cô chứ. Kiếp này chúng không bắt ni cô trả nợ được, chúng sẽ rình ni cô ở đời sau!

Sau ba mùa lá rụng tụng kinh gõ mõ, Vương Thúy Kiều vẫn mê muội, vẫn tham sân si như chưa từng bao giờ tu hành. Nhưng ni cô Trạc Tuyền thì chắc cũng có đôi lúc thoáng thấy những tiền kiếp – và nhất là thấy những kiếp sắp đến – của nàng.

Trong mười lăm năm, Thúy Kiều có tám cuộc tình qua những tên đàn ông sắp hàng theo thứ tự người đến trước hưởng trước, người đến sau hưởng sau:

- Mã Giám Sinh
- Sở Khanh
- Thúc Kỳ Tâm
- Bạc Hạnh
- Từ Hải
- Hồ Tôn Hiến
- Thổ Quan
- Kim Trọng.

Trong số tám anh đàn ông ấy chỉ có bốn anh – phíp-ty phíp-ty – may mắn sống sót. Bốn anh chết với những cái chết ghê rợn, không được bình thường. Ta có thể gọi những tên ấy là những nạn nhân của em Vương Thúy Kiều có cái số tàn sát “thượng diệt hạ tuyệt” những anh đàn ông nằm chung chăn gối với nàng. Ông cha ta gọi loại đàn bà này là “oan gia”.

Đàn bà oan gia đẹp, đa tình, quyến rũ, mê hoặc… Phải có những đặc tính ấy mới là đàn bà oan gia chân chính. Đàn ông cõi đời này không lửng lơ con cá vàng với những người đàn bà hiền lành, vô thưởng vô phạt; nhưng lại cứ như những con thiêu thân thi nhau, tranh nhau, hại nhau, giết nhau để được ưu tiên lao đầu vào những lò lửa tình của những người đàn bà oan gia như Vương Thúy Kiều.

Than ôi! Ta đọc Kiều, ta bị Tố Như mê hoặc, ta bị Tố Như cho vào xiếc… Ta yêu Thúy Kiều, ta mộng Thúy Kiều… Nhưng chỉ cần ta hạ cơn áp huyết xuống vài số thôi, ta sẽ thấy “đàn bà như Thúy Kiều là một tai họa khủng khiếp cho đàn ông”. Ái tình mí những em con nhà lành tuy chẳng có gì sôi nổi, gay cấn, thơ mộng – như bữa bữa ăn cơm ở nhà, vừa bổ vừa lành vừa đỡ tốn – nhưng an ninh, chữ thọ vững hơn. Bằng chứng rõ ràng không thể chối cãi được là tất cả những anh đàn ông dính dáng đến cái chỗ để ngồi của em Vương Thúy Kiều đều có những cuộc đời nếu không đen hơn thì cũng đen gần bằng mõm chó. Bốn anh tưởng bở Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh, Từ Hải… bỏ mạng ở pháp trường, chết đứng… Anh Hồ Tôn Hiến dâm quan chưa chắc đã giữ nổi cái chức đại thần cho đến hết đời. Anh Thổ quan vô duyên vừa mới được quan trên ban cho vợ thừa đã tá hỏa tam tinh vì cô dâu nhảy lầu – xin lỗi, nhảy sông – đi một đường về Thủy Cunh làm vợ Hà Bá. Còn cậu Kim Trọng thì khỏi nói. Đường công danh của cậu cứ dắt cậu qua Phòng Nhất, Phòng Nhì cũng đủ làm cậu mỏi gối chồn chân, mới bốn mươi đã rề rề đeo kính…

Ai thích Thúy Kiều xin cứ việc… liều mạng, thí mạng cùi. Nhân tâm tùy mạng mỡ. Tui thì tui cứ giữ phận phó thường dân bền chữ thọ mí em Thúy Vân. Một chuyện lạ lùng, ngu si là chúng sinh bá tính cứ xúm lại ca tụng, hôn hít em Thúy Kiều, cứ dửng dưng coi thường, đôi khi còn coi khinh nữa, em Thúy Vân. Khỉ lắm! Người đáng ca tụng là Thúy Vân chứ hổng phải Thúy Kiều…

Này nhé Thúy Vân người tròn trặn, có da có thịt, hồng hào, mặt tròn, béo, lông mi lông mày mượt, nhiều, mắt sáng mà hiền, hổng có thu ba thu biếc gì hết. Đàn ông, con trai khôn ngoan đừng có mê mắt thu ba. Thu ba chỉ làm cho người ta chết chìm, chết đuối mà thôi. Thúy Vân ngực nở, lưng ong, mông to. Đàn bà như thế là đàn bà khỏe mạnh, khéo chiều chồng, khéo nuôi con, tính nết vui vẻ, dễ dàng, ăn no, ngủ kỹ, thai nghén dễ, đẻ sòn sòn, không đòi hỏi này nọ, không lăn đùng ngã ngửa, mắt trợn trắng, miệng sùi bọt mép mỗi khi gặp chuyện không được bằng lòng. Thúy Vân là hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đảm đang, trung hậu muôn đời, là người vợ giúp đỡ chồng con – vượng phu, ích tử – là chỗ dựa vững chãi cho người chồng. Dân tộc Việt Nam ta còn giữ nguyên được những đặc tính Giao Chỉ ngàn xưa mặc dù bao nhiêu đời ta bị Tây, Tàu, Nhật, Đại Hàn, Phi, Mẽo ra sức đồng hóa chính là nhờ công của những người đàn bà Việt Nam như Thúy Vân.

Nếu Thúy Vân sống ở Sài gòn những ngày đen tối sau ba mươi tháng Tư, chồng nàng đi cải tạo mút mùa, nàng cũng buồn, cũng thương chồng, xót con nhưng nàng hôm trước hôm sau ra ngồi ngay đầu ngõ bán chuối chiên, vịt lộn, khoai lang, khoai mì, trái cóc, bánh cuốn, cơm tấm, v.v… cái gì cũng được, miễn là lương thiện và có tí tiền mua gạo cho con.

Cũng trong hoàn cảnh ấy, Thúy Kiều lăn đùng ngã ngửa dẫy đành đạch, nằm thẳng cẳng thở hắt ra, rầu rĩ ủ ê, nằng nặng đòi chồng kiếm cây cho nàng đi chui, nếu không nàng uống thuốc rầy nàng hành cho trí mạng. Hai nàng tuy là hai chị em ruột nhưng khác nhau như dzậy đó.

Bởi vậy tôi thấy thật là bất công khi ta cứ đề cao Thúy Kiều mà mạt sát Thúy Vân. Bất công như thế là không khá được. Mà quả thực là ta không khá đứt đuôi con thằn lằn rồi. Mất hết cả nước. Bỏ của chạy lấy người. Mấy triệu mạng sống đời lưu vong. Bọn kẹt lại nem nép sống dưới nách những tên công an Việt Cộng lớn nhỏ…

Trở lại với ni cô Trạc Tuyền…

Ni cô đã giết oan hai gã Khuyển Ưng, Khuyển Phệ. Khi lên ghế lệnh bà nhờ anh chồng tướng cướp, ni cô ơn đền oán trả rất mực đàn bà tầm thường. Và ni cô đã ân oán không phân minh, vay trả không sòng phẳng. Bà vãi Giác Duyên chỉ tình cờ mà giúp đỡ nàng. Sau đó đã bừa bãi đẩy nàng vào nhà họ Bạc. Bà này đáng lẽ ra là phải trừng trị, đè ra đánh cho ba trăm hèo quắn đít về cái tội bê bối đã giao du mật thiết với chủ nhà thổ, lại còn ngu muội, tắc trách, không có chút tinh thần trách nhiệm nào khi đẩy đàn bà con gái đi tị nạn vào nhà thổ. Từ sau khi đẩy Thúy Kiều sang nhà họ Bạc, Giác Duyên không hề thắc mắc chi đến an ninh tối thiểu của Thúy Kiều. Mụ đẩy Kiều đi nhưng mụ giữ lại bộ chuông vàng, khánh bạc của nhà họ Hoạn.

Đền ơn hậu hĩ cho người không đáng được đền ơn, chánh án Thúy Kiều – ni cô Trạc Tuyền đã tu hành đến ba niên bằng tiền bạc, nhang đèn của nhà họ Hoạn, lại còn giết oan hai tên Khuyển Ưng, Khuyển Phệ. Ni cô Trạc Tuyền gây nghiệp oán. Kiếp này ni cô không trả được nợ máu, kiếp sau ni cô sẽ phải chi thôi.

Bèn có thơ rằng:

Trạc Tuyền…

Mười lăm năm, tám cuộc tình
Sáu tên chết bởi cô mình oan gia
Tòa gì chính phạm thì tha,
Hai thằng tòng phạm thì bà cưa đôi.
Oan còn kết, oán chưa thôi
Trạc Tuyền… em có bồi hồi không em?

Ái ân ta có bấy nhiêu ngần

Những năm 1940 tôi mới trên dưới mười tuổi, Bản Kiều thứ nhất tôi được đọc trong đời là bản Kiều của chị tôi – bản Kiều bìa đỏ, bán ở những tiệm hàng xén ngoài chợ. Kỷ niệm xưa nhất của tôi về Kiều là tôi thắc mắc về nhân vật Sở Khanh.

Tôi thường nghe loáng thoáng người lớn nói chuyện với nhau:

- Thằng ấy là thằng sở khanh

Hoặc nói đến ai đó bằng giọng khinh bạc:

- Đồ sở khanh

Tuy chưa biết nhân vật Sở Khanh làm những hành động gì để bị người đời khinh bỉ đến như thế, tôi cũng biết Sở KHanh là người xấu, đáng khinh. Vì vậy tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao trong Kiều lại có tên tự nhận nó là Sở Khanh? Tôi tự bảo: “Nếu nó xưng tên nó là Sở Khanh thì người ta biết nó là thằng đểu giả rồi. Nó còn lừa ai được nữa?”

Năm 1947 tôi đi kháng chiến ở vùng Bắc Ninh – Bắc Giang. Vùng này có cái tên gọi khá hay là Bắc Bắc. Nói là đi kháng chiến cho oai, thực ra tôi đi làm liên lạc viên, quanh năm đi chân đất mang thư đi giao cho cơ quan tôi – ban VB: Ban tình báo đặc biệt Gia Lâm. Có lần tôi sống với một anh trong cơ quan rất thích đọc Kiều. Anh có quyển Kiều mang theo trong ba-lô. Thấy tôi mượn đọc một chiều, anh hỏi tôi:

- Chú thích nhân vật nào trong Kiều nhất?

Tôi trả lời ngay boong:

- Em thích Thúc Sinh.

Anh ngạc nhiên:

- Thúc Sinh là thằng con nhà buôn, ăn chơi, hèn nhát. Nó có cái gì mà chú thích nó?

Tôi không trả lời được.

Năm mươi năm sau…

Năm nay mái tóc không xanh nữa

Tôi đã đau thương đã nợ nần…

Năm nay tôi biết tại sao năm mươi năm xưa tôi thích Thúc Sinh. Nhưng tôi không phân tích, không giải thích tại sao. Tôi dành việc đó để các bạn làm, nếu các bạn muốn.

Em có nhớ chăng, em có tiếc…

Tôi thấy cuộc tình Thúc Kỳ Tâm – Vương Thúy Kiều là cuộc tình đẹp nhất trong ba cuộc tình của Thúy Kiều. Tương đối thôi, nhưng là tương đối đẹp nhất.

Cuộc tình Thúy Kiều – Kim Trọng bị sứt mẻ, tiếc hận, cay cú, sai lầm nhiều hơn là ái ân. Hai nữa cuộc tình thứ nhất này của Thúy Kiều là cuộc tình ngây thơ, lãng mạng của tuổi dậy thì. Đây là thứ tình mà những năm 1960, 1970 ở Sề goòng chúng ta gọi là “tình nữ sinh, tình học trò”. Thứ tình này thường nhiều mộng mơ, thư tình mực tím, hoa cúc sân trường, cao tay lắm là hẹn hò nhau ngọn đèn cư xá, ly chanh đường, nắm tay, hôn má nhau trong bóng tối rạp xi-nê đồng hạng đồng lõa…

Cuộc tình Thúy Kiều – Từ Hải là tình oan nghiệt, tình oan khiên, tình hận, tình giết nhau, tình làm nhau chết đứng.

Công tử Hà Đông đặc biệt không ưa thứ tình yêu khốc hại này.

Chỉ còn và vưỡn còn tình Vương Thúy Kiều – Thúc Kỳ Tâm. Vưỡn biết đoạn cuối cuộc tình chẳng ra cái thống chế gì cả. Em yêu ơi… anh đã không đi mí em đến những nơi cuối bãi, đầu ghềnh, sơn cùng, thủy tận như em muốn… Nhưng mà em cũng thấy anh có yêu em chứ? Anh cũng yêu em…

Công tử Hà Đông xúc động vì tình yêu của Công tử Vô Tích. Chàng bèn tưởng tượng chàng là Công tử Vô Tích và chàng mần thơ thay bạn, nói với người yêu ngà ngọc – những nàng Kiều Thơm Hơn Múi Mít trên cõi đời này.

Ái ân ta có bấy nhiêu ngần…

Mày ai trrăng ấy mới in ngần
Phấn thừa, hương cũ xót trăm phần
Nhìn trăng nhớ nét mày em đẹp
Thơ Kiều tuyệt diệu những câu thần…

Lầu xanh lãng tử mê hồ điệp
Phật các ni cô đắm ái ân.
Trên lầu Ngưng Bích trao hồng thiếp
Dưới gác Quan Âm khóa ái ân.
Từng gian díu lắm, từng quen nết
Đàn khi gió gác, rượu trăng sân.
Bốc rời tiền ấy tiêu không mệt
Đêm đông, ngày hạ cũng là xuân.
Chàm xanh một nhúng tay xanh hết
Búa rìu ta có tiếc gì thân.
Phong lôi dù nổi, tình không tuyệt
Ba cây chập lại một cành xuân.
Mộc già một bức tay tiên viết
Sắc tài vàng ấy đáng nghìn cân.
Lá ngô vàng thuở chen cành biếc
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan.
Vầng trăng ai xẻ làm đôi chiếc
Nửa soi gối lẻ, nửa quan san.
Ba sao sáng nửa vầng trăng khuyết
Phật đài khấn chửa cạn lời vân
Hoa tình bỗng nổi gai oan nghiệt
Biết đâu là quả, biết đâu nhân!

Những tưởng xa nhau là tạm biệt
Ai ngờ vĩnh quyết lúc đưa chân.
Tìm em chín suối sai đồng thiếp
Gặp tiên hồ dễ được hai lần.
Tầm xuân đến thác tơ chưa hết
Nhớ thương trọn kiếp chẳng nguôi dần.
Anh về Vô Tích hồn tê liệt
Sống mòn ở đấy kiếp tù nhân.
Em ơi…
Phấn thừa, hương cũ đau khôn xiết
Mày em trắng ấy vẫn in ngần.

Những tưởng chôn nhau là vĩnh quyết
Ai ngờ địa ngục thấy tình nhân.
Đèn lòa, mắt quáng, ai trên tiệc?
Tóc rối, da chì, kẻ dưới sân?
Ngán nó lòng gang mà miệng thép
Thương em ngọc diệp chịu phong trần.
Tiệc rượu gia hình đau nó kẹp
Cung cầm tuyệt vọng tội em đàn.
Này yêu, này mến, duyên hay nghiệp?
Nào nhớ, nào thương, khóc với than!
Tâm hương thiêu mãi oan không hết
Quan Âm nào cứu được tình nhân.
Đoạn trường càng khóc càng oan nghiệt
Cát lầm ngọc trắng thiệt đời xuân.
Vàng phai, đá nát đành ly biệt
Núi mòn, sông cạn vẫn tình quân.
Em trốn đi em, trời đất khép
Dâu biển tình ta cũng hợp tan.
Liệu mà xa chạy, cao bay tuyệt
Ái ân ta có bấy nhiêu ngần…

Những tưởng xa nhau là vĩnh quyết
Ai ngờ gươm giáo thấy dung nhan.
Oan gia quen gặp nhau đường hẹp
Ai biết ai quì ở dưới sân?
Mười năm sương gió em càng đẹp
Nửa kiếp chua ngoa nó chẳng đần.
Sâm Thương chẳng vẹn, ta cùng tiếc
Tại ai há dám phụ tình quân.
Thương chồng, tha vợ cho tròn kiếp
Thêm trăm cuốn gấm, bạc nghìn cân.
Ít nhiều cũng một phen oanh liệt
Oan thì trả oán, ái đền ân…

Nửa vui, nửa tiếc, mừng chen khiếp
Lửa ái ân xưa vẫn chửa tàn.
Hồn anh trọn kiếp mê hồ điệp
Thịt xương rung mãi ngón em đàn.
Em có nhớ chăng, em có tiếc
Những mùa yêu cũ đã tiêu tan?
Ôi những chiều vàng, đêm ngọc biết
Còn nhớ ngày em tắm dưới màn.
Em ơi…
Phấn thừa, hương cũ đau khôn xiết
Mày em trắng mới vẫn in ngần!

Em yêu anh nhất, thơ còn viết
Sợ vợ hay không, mặc chúng bàn.

Quên em? Nào có bao giờ?

Em ơi…

Em có nghe những tiếng gọi xé trời?

Không những anh chỉ gọi em vì anh nhớ thương em, anh tiếc em… anh còn gọi em thay cho tất cả những Thúc Kỳ Tâm trên cõi đời này…

Cuộc tình Thúc Kỳ Tâm – Vương Thúy Kiều có nhiều hợp tan nhất…

Những ba lần hợp, ba lần tan.

Lần thứ nhất gặp nhau ở lầu Ngưng Bích, tan khi Thúc Kỳ Tâm về Vô Tích thăm Hoạn Thư.

Lần thứ hai gặp nhau trong bữa tiệc gia hình – nhìn nhau mà đứt ruột, yêu mà lệ rớt, thương mà máu rây. Những oái oăm tàn ác, dã man, vô nhân đạo của cái gọi là Cuộc Đời: Những người yêu thương nhau không được sống chung mí nhau, những người thù ghét nhau cứ phải sống chung mí nhau – Lần thứ hai tan hàng ở Quan Âm Các.

Lần hợp thứ ba trong pháp đình tòa án quân sự cách mạng. Chánh án Phu nhân xét xử bất chấp mọi thứ pháp luật trên cõi đời này. Đây cũng là lần tan thứ ba và lần này là lần hợp tan cuối cùng.

Lần tan thứ nhất Thúc Kỳ Tâm yên chí sẽ trở lại mí em như hổng có chuyện gì xảy ra cả. Thúc Kỳ Tâm tin chuyện này chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch. Nhưng cái gì càng tin chắc lắm thì càng dễ lép…

Thúc Ông ngu đần thấy cái xác cháy đen trong đống tro tàn, yên chí ngay đó là con dâu yêu quí, hí hửng đem về tẩm liệm, làm ma, đem chôn, khóc than ra rít. Khi về đến tổ ấm thấy “linh sàng, bài vị thấy nàng ở trên”, Công tử Vô Tích lăn đùng ngã ngửa cũng phải thôi. Thằng đàn ông nào ở vào cảnh ngộ này lại không lăn đùng, ngã ngửa. Công tử bèn khấn vái nàng và lần chia tay kẻ ở trần thế, người xuống suối vàng này là lần Công tử cũng chắc hơn bắp rang là sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy mặt nàng…

Khi nàng đã chết cháy, khi nàng đã được người ta đào sâu, chôn chặt thì… còn mong gặp lại nàng ở kiếp này là điên. Thúc Kỳ Tâm yên chí kiếp sau sẽ gặp lại Thúy Kiều, nhưng chỉ khoảng một niên sau – khi nỗi đau mất Thúy Kiều đã phai nhạt, Công tử Vô Tích trở về với vợ lớn con quan. Làm sao cậu có thể ngờ cô vợ ác ôn của cậu đã bắt Thúy Kiều về làm người ở?

Đây là lần tan hợp Kỳ Tâm – Thúy Kiều thứ hai. Chia tay nhau ở Quan Âm Các, một lần nữa Thúc Kỳ Tâm chẳng mơ màng gì đến chuyện gặp lại Thúy Kiều lần thứ ba.

Nhưng hai lần chưa hết. Định mệnh còn an bài cho cặp tình nhân đau khổ này tan hợp lần nữa. Lần thứ ba, nàng trở thành lệnh bà. Chàng rúm ró, xanh xám quì mọp cạnh cô vợ ghen tuông nay trở thành chính danh thủ phạm dưới sân tòa án Quân sự Mặt trận…

Cho họ hợp tan lần thứ ba để làm chi vậy? Chẳng để làm gì sốt. Định mệnh thường hết sức ác ôn côn đồ với những người yêu nhua. Định mệnh thường tỏ ra hết sức dễ dãi trong việc dàn xếp cho những người thù ghét nhau sống chung mí nhau nhưng định mệnh lại hết sức khắt khe, ác độc trong việc ngăn cản không cho những người yêu nhau được sống chung vợ chồng. Đã không cho sống với nhau thì chớ, định mệnh còn ác độc dàng trời khi lâu lâu lại dàn xếp cho người ta gặp nhau, nhìn thấy mặt nhau, đôi khi còn cho người ta ngửi cả thấy mùi da, mùi tóc của nhau.

Trong ngục Chí Hòa thành Hồ Xã hội Chủ Nghĩa, những đêm tù tôi tưởng tượng, tôi hóa thân làm Thúc Kỳ Tâm. Trước tòa khi nàng hỏi:

- Em… em người tình cũ của anh ở Lâm Tri đây, anh còn nhớ em không?

Khi nàng nói:

- Vì tình xưa, nghĩa cũ của đôi ta… chẳng gì đôi ta cũng đã yêu thương nhau một thời… chúng ta không sống được mí nhau đến ngày tóc nhuộm, răng giả không phải là lỗi tại em…

Tôi sẽ run, sẽ quị đầu gối – Công tử Hà Đông là bạn đồng môn học cùng thầy, cùng trường, cùng ngồi một bàn với Công tử Vô Tích – tôi sợ thấy mồ nhưng tôi vưỡn thấy nàng sao quá đẹp, quá quyền rũ. Những người đàn bà đa tình, lẳng lơ cũng chẳng có mòn thường trẻ lâu, đẹp lâu, tình lâu, quyền rũ lâu hơn những người đàn bà sơn son để thờ. Không dám hở môi ra đâu nhưng trong tim tôi, tôi thầm hỏi, thầm nói với nàng:

- Làm sao anh có thể quên em được? Không những anh không quên, anh còn nhớ ra rít. Anh chết đi, sống lại không biết bao nhiêu lần từ ngày anh mất em. Anh mới là người có quyền hỏi em có nhớ những ngày ái ân của đôi ta ngày xưa không chứ? Tại sao em lại hỏi anh…

Đây là bài thơ tôi mần để trả lời nàng trước tòa án:

Thúc Kỳ Tâm
trả lời Thúy Kiều trước tòa

Nàng rằng: “Nghĩa trọng nghìn non
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm thương chẳng vẹn chữ tòng
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?”

Tiếc hoa anh ngậm ngùi xuân
Thân này dễ được mấy lần gặp tiên?
Từ ta tàn cuộc tình duyên
Tơ tình anh đứt ruột, lửa phìan anh cháy gan.
Mày em trăng vẫn in ngần
Phấn thừa, hương cũ bội phần xót xa.
Nhớ em trong ngọc, trắng ngà
Có bao giờ tưởng em là cố nhân.
Cố nhân nhẹ bước thanh vân
Nguyệt cầm có vẳng cung đàn Lâm Tri?

Nhớ từ Ngưng Bích nhớ đi
Từ Quan Âm Các nhớ về, em ơi.
Nhớ em kiếp kiếp, đời đời
Tấc son vật đổi, sao dời vẫn son.
Dẫu rằng sông cạn, đá mòn
Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ.
Quên em? Nào có bao giờ
Sao em lại hỏi hững hờ: “Nhớ không?”

Em tắt lửa lòng

Việc làm vô lý nhất của Vương Thúy Kiều – ta cứ giả vờ coi như Vương Thúy Kiều là người phụ nữ có thật, sống thật ở đời này – là việc nàng cứ năm lần bảy lượt nằng nặc đòi đi tu.

Người đàn bà nào cũng có thể đi tu được, nhưng riêng Thúy Kiều thì không. Không được vì nàng nói và làm không giống nhau. Không những nàng chỉ nói và làm không giống nhau mà thôi, những gì nàng nói, những gì nàng làm còn đối chọi nhau kịch liệt nữa.

Trong thời gian bánh xe lãng tử đưa Kiều lưu lạc giang hồ, nàng nghĩ, nàng mơ màng đến chuyện tu hành, cắt đứt những dây tình làm cho nàng đau khổ thì cũng coi là tạm được đi. Nhưng khi đã trở về đời, đã sống chung một nhà, một phòng ngủ với Kim Trọng Tàu Vét, đã cho Kim Trọng làm lễ tơ hồng, đã vô đến giường động phòng, nàng vưỡn còn bày đặt: “Thôi đừng… Để em tu…” thì thật rởm và lố bịch.

Tại ngục Chí Hòa năm 1988 thành Hồ tôi mần liên tiếp năm sáu bài thơ vịnh phản đối việc Kiều tuyên bố tu hành. Kính mời bạn đọc và xét những lý do tôi đưa ra để quyết đoàn em Vương Thúy Kiều không thể tu hành được và nêu rõ chuyện em đòi khóa cửa phòng ngủ để tu là chuyện khôi hài:

Cái chuyện tu hành
khó lắm… em ơi

Đã đem mình bỏ am mây
Tuổi này gửi với cỏ cây cũng vừa
Mùi thiền đã bén muối dưa
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sòng
Sự đời đã tắt lửa lòng
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi?
Dở dang nào có hay gì,
Đã tu tu trót qua thì đi thôi…

Nghe em anh những bồi hồi
Chân tu dễ được mấy người như em.
Em tu em chẳng ăn nem
Lấy ai ăn chả cho anh đỡ thèm, em ơi!
Em tu sao má em tươi,
Em tu sao miệng em cười quá xinh?
Sự đời leo lét lửa tình
Nhưng than còn đỏ cô mình chớ lo
Có lo thì em lo quả phúc em to
Bến Mê quan cấm, con đò em mắc neo.
Muốn đưa em sang sông nhưng anh lại vụng tay chèo
Để thuyền em cạ gió, lộn lèo anh hổ ngươi
Cai chuyện tu hành nó khó lắm, em ơi
Giẽ cho anh nói một lời đã nao
Cái số em là số hoa đào
Em gỡ ra nó lại buộc vào như chơi.
Đào hoa em mới ba mươi
Am mây nào chứa những người đào hoa.
Em ngẫm cái mình em trong ngọc, trắng ngà
Cỏ cây nào chịu em mà em tu!

Em đòi em khép phòng thu
Đàn cò ai kéo, đàn cù ai quay?
Nợ tình ai trả, ai vay?
Ái ân ai có ngần này chưa thôi?
Em tu, ai ngược, ai xuôi?
Với ai ai lại nối lời nước non?
Em tu ai phấn, ai son?
Ai lìa ngó ý lòng còn vương tơ?
Em tu ai rượu, ai cờ?
Ai xem hoa nở, ai chờ trăng lên?
Em tu ai lạc Đào Nguyên?
Đầu non, cửa động Ngọc Tuyền ai chơi?
Em tu ai khóc, ai cười?
Thang lan ai tẩm, ai người thơm ngây?
Tóc thề ai chấm ngang vai?
Âm công ai nặng thêm vài đồng cân?
Trăm nghìn ai gửi tình quân?
Tơ duyên ai ngắn những gần một gang?
Trinh em đáng giá ngàn vàng
Của chung ai chịu cho nàng đem tu!
Hẹp gì em chẳng hé phòng thu?
Mắc gì cứ phải như tu mới là?
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc
Em đi ở chùa, anh tiếc lắm thay!

Ngàn vàng chẳng chịu trao tay
Tu làm chi cực lòng này lắm thân?
Mày em trăng vẫn in ngần
Phấn thừa, hương cũ bội phần xót xa.
Em tu ai cởi cà sa?
Trạc Tuyền ai đổi tên ra Thúy Kiều?

Có yêu em nói rằng yêu
Chẳng yêu em nói một điều rằng không!
Em cho làm lễ tơ hồng
Em cho hoa chúc, động phòng sánh đôi
Em cho dìu dặt chén mồi
Em cho duyên mới bén mùi tình xưa
Sắp cho em lại ỡm ờ”
-Giẽ ra cho thiếp, bi giờ thiếp tu!

Nắng hanh em biết vào thu
Gió may em biết sương mù sa mưa
Hồng nhan em biết từ xưa
Cái điều tình ái có chừa đi đâu?
Chữ tình ai tạc cho sâu?
Chữ tu ai lẻ nét sầu đến xương?
Em tu em khép âm dương
Em quên ai nhịp đoạn trường gió bay?

Nhưng em đã quyết lòng tu thì anh tính thế này
Cho em tu đủ cả ngày lẫn đêm
Cho em tu trong ấm, ngoài êm
Em tu đạo hạnh em thêm mượt mà
Thứ nhất là em tu nhà
Thứ nhì em tu chợ, thứ ba em tu chùa
Dưa nào em muối chẳng chua?
Tu nhà cùng với tu chùa đồng môn
Phật tại tâm, bất tại Côn Lôn
Tu đâu em sạch tâm hồn thì thôi.
Em muốn tu thì em trả hết nợ đời
Nợ duyên, nợ kiếp, nợ người, nợ ta.
Nợ phong tình, nợ tài hoa
Nợ đi, nợ ở, nợ ra, nợ vào.
Em muốn tu thì em trả hết nợ hoa đào
Tu mà quịt nợ, Phật nào chứng cho!
Ầu ơ… ví dầu quả phúc em to
Bến Mê vua cấm, con đò em đứt neo.
Thuyền Từ em trên biển giác còn lắm cồn leo
Tu sao em khỏi lộn lèo thì tu…!

Thương thay giọt nước cành dương

Thúy Kiều đi tu, xuống tóc, qui y Tam Bảo, tụng kinh, gõ mõ, chép kinh đàng hoàng chứ không phải là tu kiểu phường tuồng, cải lương, tu hú…

Nàng tu hành ở Quan Âm Các trong vườn nhà Thúc Kỳ Tâm ở Vô Tích:

Sẵn Quan Âm Các Vườn ta
Có cây trăm thức, có hoa bốn mùa
Có cổ thụ, có sơn hồ
Cho nàng ra đó giữ chùa, tụng kinh.

Đó là lời Hoạn Thư, vợ Thúc Kỳ Tâm, tuyên bố về việc em Hoa Nô mặt ủ mày chau đệ đơn xin được đi tu. Muốn tu thì cho tu. Hoạn Thư quả thật là người đàn bà ở ăn thì nết cũng hay, nói lời ràng buộc thì tay cũng già, y thị quyết định liền tù tì tút suỵt. Và thế là Thúy Kiều cây tiền lầu Ngưng Bích, vương tôn công tử chết mệt chết mê, người xuất sắc trong tất cả bốn món ăn chơi cầm, kỳ, thi, họa kiêm thạc sĩ đại học bảy chữ, tám nghề trong một ngày đẹp trời:

Tàng tàng trời mới bình minh
Hương hoa, ngũ cúng sắm sanh lẽ thường
Đưa nàng đến trước Phật đường
Tam qui ngũ giới cho nàng xuất gia
Áo xanh đổi lấy cà sa
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền

Trạc Tuyền. Tuyền là suối. Còn Trạc nghĩa là gì đây?

Tự điển Thiều Chửu: Trạc, bộ Thủy có hai nghĩa: 1. rửa, giặt; 2. sáng sủa, mập mạp. Núi trọc không cây cũng gọi là “trạc“.

Trạc Tuyền của chúng ta chắc chắn phải là Suối Giặt, Suối Rửa Lông Mày. Nhất định Trạc Tuyền không có dính dáng xa gần đến cái gọi là núi trọc không có cây cỏ. Ni cô Trạc Tuyền tu hành ở Quan Âm Các mắt sáng, môi hồng, miệng đa tình – chỉ có mái tóc nhung mềm thơm ngát hương tiên là ni cô tạm thời không có. Nhưng theo thông lệ của tự nhiên và thiên nhiên thì cái gì đang mượt mà mà cắt xén nó đi thì khi nó mọc lại nó xanh um hung hãn lắm. Mái tóc của ni cô Trạc Tuyền cũng vậy. Năm ấy ni cô mới ngoài hai mươi cái xuân xanh.

Ni cô ra khỏi Vườn Thúy năm ni cô mười tám tuổi. Hai ba niên chi đó ni cô ăn cơm trọ ở cư xá đại học Tú Bà – hiệu trưởng Mã Giám Sinh, giám thị thầy Sở Khanh – ni cô gặp Thúc Kỳ Tâm. Ni cô sống ân ái mặn nồng, thả dàn, đến nơi đến chốn với Thúc Kỳ Tâm trong khoảng hơn một niên. Thúc Kỳ Tâm đến ngày phải về Vô Tích nộp thuế công dân với Hoạn Thư vợ lớn. Thế rồi ni cô bị bọn Khuyển Ưng Khuyển Phệ bắt cóc đem về Vô Tích. Ni cô bị Hoạn Thư hành bắt làm nô tì. Sau cùng Hoạn Thư cũng thả cho ni cô ra chùa tu. Đến chùa ta thấy:

Nâu sòng từ trở màu thiền
Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu

Thông số có vẻ mơ hồ: “Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu” là bao nhiêu thời gian? Đã mấy mùa thu trăng soi trên mái chùa hương phấn ấy? Chắc dzậy. Cứ cho là dzậy đi thì ta đi đến thực tế là kỹ nữ Thúy Kiều, nay là ni cô Trạc Tuyền, đã ăn chay, tụng kinh, gõ mõ, thắp đèn, đốt nhang, chép kinh ở Quan Âm Các chùa ta đến ít nhất là ba năm trời…

Ba năm trời nàng ở chùa mà thiếu chủ Thúc Kỳ Tâm hào hoa phong nhã đa tình không sao lần mò vượt tường chùa vào thăm ni cô được một lần! Tôi thường cay cú kết tội những anh cai tù cộng sản ác ôn nhưng thực ra nếu so với Hoạn Thư, mấy ảnh dường như cũng có thể được giảm khinh đôi phần.

Nhưng ở đây tôi không muốn nói đến tính tàn ác dã man của những người đàn bà ghen tuông trên cái cõi đời này. Tôi không muốn bênh vực Hoạn Thư. Tôi lại càng không muốn chạy tội cho chế độ lao tù cộng sản. Tôi chỉ muốn nhắc bạn đọc thân mến nhớ đến chi tiết: Ni cô Trạc Tuyền đã tu hành ở Quan Âm Các chùa ta một khoảng thời gian ít nhất là ba niên.

Đây là những gì chúng ta được biết về thời gian ba niên lá bối, phướn mây của ni cô Trạc Tuyền:

Nàng từ lánh gót vườn hoa
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng
Nhân duyên đâu lại còn mong
Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thôi.
Phật tiền thảm lấp, sầu vùi
Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương.
Khéo thay giọt nước cành dương
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên.

Thiện tai! Thiện tai!
Lành thay! Lành thay!
Nam Mô Ngã Phật Đại Từ Đại Bi Đại Giác!
Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát!

Đạo pháp nhiệm mầu đã đến với ni cô Trạc Tuyền. Nàng đã tự cắt đứt được những cái gọi là “tình là dây oan” làm cho nàng đau khổ. Nàng chẳng còn tha thiết gì với cái gọi là tình yêu nhân thế, nàng đã chôn đêm lạnh, rồi những đêm lạnh rời đi nhường chỗ cho những đêm nóng… trên sàn xi măng phòng mười ô-ten Chí Hòa thành Hồ, Công Tử Hà Đông nằm hiu hiu tưởng nhớ hình ảnh những nàng Kiều Thu ngàn năm tròn tuổi nguyệt trên cõi đời này. Ôi! Những nàng Kiều Thu lò lửa lòng của nàng nào cũng phừng phừng lửa đỏ. Nước Cành Dương có nhiều như nước biển Đông cộng luôn cả nước vùi, đã lãnh quên những sầu thảm của nàng…

Giọt nước từ cành dương liễu của Quan Thế Âm Bồ Tát đã tưới tắt ngúm lò lửa lòng của Thúy Kiều Trạc Tuyền. Tưới tắt dứt khoát, trọn vẹn, tắt đến không còn gì có thể tắt hơn được nữa. Khéo thay! Hay thay! Tuyệt vời thay! Giọt nước Cành Dương của Phật Bà chữa bệnh ái tình hữu hiệu kinh người…

Người đọc Kiều đa số ngây thơ, đến đây thường tin chắc là như thế Thúy Kiều đã thoát kiếp đoạn trường. Nàng đã thành ni cô và tu hành tốt. Ni cô đã lạnh lẽo dửng dưng lửng lơ con cá vàng với cuộc tình. Lửa lòng ni cô đã tắt từ lâu, nay trong lòng ni cô chỉ còn năm bảy đống tro tàn lạnh ngắt…

Nhưng… Cũng lạ kỳ thay… Cái lò lửa lòng đã bị nước Cành Dương tưới tắt ngấm từ bao giờ ấy nó lại bùng lên một cách khủng khiếp ngay khi ni cô vừa nhìn thấy Thúc Kỳ Tâm mắt trước mắt sau lấm lét lẻn vào chùa. Lửa lòng ni cô nó không tái bốc ở đâu xa xôi, nó phừng lên ở ngay trước bàn thờ Phật, ở ngay cái nơi ni cô đã đào sâu chôn chặt, đã tưới mấy chục thùng phuy nước cho nó tắt ngấm.

Than ôi! Cái gọi là Lửa Lòng thật đáng sợ vô cùng! Sự tích ni cô Trạc Tuyền lửa lòng đã tắt lại phừng lên càng chứng minh cho ta thấy tính nguy hiểm ghê gớm của nó. Rõ ràng nó đã tắt ngúm rồi. Cả nước thấy nó tắt queo rồi. Vậy mà nó lại bùng lên, dữ dội, oai hùng, hiên ngang, bất chấp tất cả. Không những nó không bị nước Cành Dương tưới tắt. – nước Cành Dương Cam Lồ hiệu nghiệm là thế mà còn không tưới tắt được nó, trên cái cõi đời này từ ngàn xưa đến ngàn sau sẽ chẳng bao giờ có một thứ nước nào có thể làm tắt được nó – dường như nó còn đốt cháy queo cả cành dương liễu.

Những đêm nóng đến thay những đêm lạnh, rồi những đêm lạnh rời đi nhường chỗ cho những đêm nóng… trên sàn xi măng phòng mười ô-ten Chí Hòa thành Hồ, Công Tử Hà Đông nằm hiu hiu tưởng nhớ hình ảnh những nàng Kiều Thu ngàn năm tròn tuổi nguyệt trên cõi đời này. Ôi! Những nàng Kiều Thu lò lửa lòng của nàng nào cũng phừng phừng lửa đỏ. Nước Cành Dương có nhiều như nước biển Đông cộng luôn cả nước biển Tây các nàng cũng săng-phú…

Bèn có bài thơ vịnh lửa lòng của ni cô Trạc Tuyền:

Lửa lòng em đốt cháy queo

Pháp danh em đổi Trạc Tuyền
Áo xanh em trở màu thiền cà sa.
Em từ lánh gót vườn hoa
Em gần rừng tía, em xa bụi hồng.
Nhân duyên em chẳng còn mong
Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thôi.
Phật tiền thảm lấp, sầu vùi
Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương
Khèo thay giọt nước Cành Dương
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần gian

Mái nhà họ Thúc vừa sang
Giọt châu tầm tã đượm tràng cà sa:
“Rõ ràng thực lứa đôi ta
“Làm ra con ở, chủ nhà… được sao?
“Em liều mấy giọt máu đào
“Để cho chúng nó trông vào, biết tay
“Sợ gì cao chạy, xa bay
“Ái ân ta có ngần này thôi ư?”
Cùng nhau kể lể sau xưa
Nói rồi lại nói, lời chưa hết lời.
Phật tiền thảm khuấy, sầu khơi
Tiêu pho thủ tự, tàn nồi tâm hương.

Thương thay giọt nước cành dương,
Lửa lòng em đốt mọi đường cháy queo.

Tố Như trong Truyện Kiều dùng rất nhiều đảo ngữ.

Tôi thấy thi sĩ làm thơ có nhiều câu rất Tây – cho đến năm nay – những năm 1995, những người viết văn, làm thơ sau ông đến hai trăm năm, chưa thấy ai dùng cách đảo ngữ lạ như thi sĩ, đừng nói gì đến chuyện dùng ngôn ngữ lạ kỳ hơn thi sĩ.

Đảo ngữ – đem những tiếng ở sau đặt lên trước – thường là sai văn phạm thông thường. Như:

Lửa lòng tưới tắt mọi đường tràn duyên…

“Lửa lòng” là chủ từ của câu này. Nhưng “lửa lòng” chỉ đốt cháy, “lửa lòng” làm sao tưới tắt được? Ta phải đem ý câu trên liền xuống với câu này:

Khéo thay giọt nước cành dương
Lửa lòng tưới tắt mọi trần duyên.

Khéo thay giọt nước cành dương đã tưới tắt lửa lòng ở mọi đường trần duyên của ni cô Trạc Tuyền.

Một đảo ngữ khác.

Tam Hợp đạo cô tiết lộ cuộc đời ái tình và sự nghiệp của Thúy Kiều với Giác Duyên:

Thửa công đức ấy ai bằng
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi.

Không phải cái “túc khiên” của nàng rửa mà là Thúy Kiều đã rửa cái “túc khiên” của nàng sạch lắm rồi.

Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Câu đảo ngữ này có thể làm cho ta tưởng lầm: Ông trời lắm chuyện, ổng quen cái thói đánh ghen như đàn bà… Nhưng mà hổng phải dzậy. Ta phải đảo lại thứ tự những tiếng trong câu này như vầy: Ông trời ổng quen thói đánh ghen những người đàn bà đẹp.

Khi ông bà Vương Viên Ngoại cùng hai gia đình Khim Trọng – Thúy Vân, Vương Quan – Chung thị Mẹt – hai cậu chuyên ăn chơi bây giờ đã đỗ cử nhân, đuọc trào đình trang trọng trách tri phủ, tổng đốc – đến gặp Thúy Kiều ở căn nhà nghỉ mát bên sông Tiền Đường:

Tưởng bây giờ là bao giờ
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao
Giọt châu thánh thót quyện bào
Mừng mừng tủi tủi biết bao nhiêu tình.
Huyên già dưới gối gieo mình
Khóc than mình kể sự mình đầu đuôi
- Từ con lưu lạc quê người
Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm…

“Huyên già” là danh từ huê mỹ, điển tích để gọi bố già Vương Ông. Cứ như câu trên thì “Vương Ông quì dưới gối ai đó”. Lại đảo ngữ rắc rối tơ. Trong khi không phải “huyên già gieo mình dưới gối…” mà là Thúy Kiều gieo mình dưới gối bố già.

Truyện Kiều có nhiều bản. Theo cái gọi là Bản Kinh thì câu trên là:

Gieo mình dưới gối huyên đình

Câu của Bản Kinh đúng hơn, đỡ rắc rối không cần thiết. Mà cũng hay ra rít. Cần gì cứ phải đảo ngữ. Dùng câu như câu trong Bản Kinh vừa kể còn tránh được hai vần “mình, mình” trùng nhau:

Gieo mình dưới gối huyên đình
Khóc than mình kể sự mình đầu đuôi.

Đoạn “tái hồi Kim Trọng” là đoạn vá víu cho cái gọi là “hậu” nên nó đầy những mâu thuẫn, vô duyên.

Xin kể một chi tiết “danh bất chính mà ngôn bất thuận”. Đó là khi vãi Giác Duyên được giới thiệu những người lập đàn tràng bên sông Tiền Đường tế vong hồn Vương Thúy Kiều:

Này chồng, này mẹ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu…

“Này chồng” đây là chồng nào? Kim Trọng Công Tử Bắc Kinh Mất Con Chị Dí Con Em Con Chị Nó Đi Con Dì Nó Thế Hoa Thơm Đánh Cả Cụm chưa bao giờ là “chồng” của Thúy Kiều. Không thể giới thiệu Kim Trọng là chồng Thúy Kiều được, giới thiệu như vậy là bậy bạ, cà chớn nhập nhàng. Kim Trọng là chồng của Thúy Vân. Phải giới thiệu Kim Trọng là “em rể” mới đúng hệ thống. Ta thấy có giới thiệu “em dâu” tức là có giới thiệu vợ Vương Quan. Vậy thì tại sao lại phe lờ không giới thiệu chồng của Thúy Vân, tại sao không nói gì đến con rể mà lại trang trọng giới thiệu con dâu? Tự nhiên phang một anh “này chồng” ngang phè không giống ai…

Hai câu:

Này chồng, này mẹ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu

đúng ra phải là:

Này em, này mẹ, này cha
Này là em rể, này là em dâu.

Năm 1950 tôi từ bên kia dòng sông Đuống trở về Hà Nội, lại ngày ngày cắp sách đến mái trường Văn Lang. Lúc này trường Văn Lang đặt cái gọi là cơ sở trong hai căn nhà tư đường Phạm Phú Thứ – giữa đường Thành và Hàng Da – tôi được học thầy Nghiêm Toản về Việt văn.

Một buổi giảng Kiều, thầy nói: “Trong Kiều có một câu dở nhất. Đó là câu Bộ hành một lũ theo liền một khi… Câu tả cảnh gia đình Vương Viên Ngoại bầu đoàn thê tử, dâu, rể, cháu chắt theo vãi Giác Duyên đi gặp Thúy Kiều”.

Đúng như thầy nhận xét, tôi thấy câu “Bộ hành một lũ…” dở thật. Có thể nói đây là câu dở nhất trong Truyện Kiều.

Tuyệt tài hoa…

Tuyệt tài hoa, Tố Như ơi
Thơ tình lại điểm những lời tiên tri…

Ta thường dịch danh từ prophet là “tiên tri”. Theo sự ngu si của tôi, tôi cho việc dùng tiếng “tiên tri” theo nghĩa phophet không đúng lắm. Tôi thấy “tiên ngôn” đúng hơn.

Trong Kinh Thánh Thiên Chúa giáo, có nhiều ông Prophet phom phom nói trước cho người đời biết những chuyện sắp xảy đến. Theo những vị dịch Kinh Thánh đầu tiên những năm 1910 – 1920 ở thành phố cảng Tourane tức Đà Nẵng – trong số những vị này có ông Phan Khôi – phophet được dịch là “nhà tiên tri”. Thực ra những ông này không “tiên tri” bất cứ chuyện gì hết. Các ông chỉ nói ra những gì Thiên Chúa mượn miệng các ông để nói với người đời. Vậy thì các ông là những người “nói trước” hơn là những người “biết trước”.

Các ông Prophet nói trước những chuyện mấy ông hoàn toàn không biết. Còn Tố Như Nguyễn Du, khi viết Kiều, đã nói cho chúng ta biết trước một số việc sẽ xảy đến. Tố Như hoàn toàn biết trước tất cả những chuyện ông nói trước trong Kiều.

Thi sĩ chỉ dùng một vài hình ảnh mơ hồ, thoáng qua, vài tiếng tả cảnh, tả tình mới nghe qua dường như chẳng có gì quan trọng để báo trước cho chúng ta biết tương lai, hậu vận của những việc vừa xảy ra. Chẳng hạn như khi Thúy Kiều – Kim Trọng vừa mới trao đổi được với nhau vài câu qua tường đất thì đã vội vàng “chấm dứt chương trình của ban Tùng Lâm” vì có người lao xao đến. Đây là bốn tiếng thi sĩ nói trước với ta về cuộc tình ấy: … lá rụng, hoa rơi…

Than ôi, vừa mới tình tự mà lá đã rụng, hoa đã rơi… Không những hoa lá chỉ rơi rụng mà thôi, hoa lá còn rơi rụng hết sức vội vàng, hấp tấp nữa. Cuộc tình lá rụng, hoa rơi ấy làm sao mà khá được. Vì vậy nên có thơ rằng:

Tiên ngôn

Một lời vừa gắn tất giao
Mái sau dường đã lao xao tiếng người
Vội vàng lá rụng, hoa rơi…

Tuyệt tài hoa, Tố Như ơi
Thơ tình lại điểm những lời tiên tri.
Cứ theo hoa lá mà suy
Cuộc tình thôi có ra gì mai sau!

Tố Như còn tiên ngôn cho chúng ta biết cuộc chia tay giữa Thúc Kỳ Tâm và Vương Thúy Kiều – khi Thúc Kỳ Tâm lên xe về Vô Tích với Hoạn Thư – là một cuộc chia tay một đi không trở lại. Dù hai đương sự có thề thốt, hẹn hò đoàn tụ ái ân ra rít đến chừng nào đi nữa, cuộc tình của họ cũng đến đó là đi một đường tàu suốt. Kính mời những người yêu nhau trên cõi đời này đọc bài thơ vịnh dưới đây sẽ thấy Tố Như tiên ngôn:

Lôi thôi

Sông Tần một giải xanh xanh
Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan
Cầm tay dài ngắn thở than
Chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời.

Tuyệt tài hoa, Tố Như ơi
Thơ tình lại điểm những lời tiên tri.
Lôi thôi nào có ra chi,
Dương Quan tây xuất còn gì cố nhân!
Một đi là hết ái ân
Lôi thôi cho lắm cũng ngần ấy thôi
Lôi thôi kẻ ngược người xuôi
Lôi thôi lại muốn nối lời nước non.
Lôi thôi sông cạn đá mòn
Con tằm đến thác vẫn còn lôi thôi!
Tuyệt tài hoa. Tố Như ơi
Tiên tri ngay cả trong lời yêu đương
Sông Tần mở lối đoạn trường
Đã lôi thôi lại mấy đường Dương Quan…

Em yêu ơi, Tố Như nói trước với chúng ta khi ở tại phi trường Dương Quan em lên phi cơ bay sang phía tây em không còn là người tình của anh nữa. Thi sĩ đã dùng điển Tây xuất Dương Quan vô cố nhân để nói cho chúng ta biết trước. Đúng quá phải không em? Cuộc chia ly hẹn ngày tái ngộ mà toàn những tiếng đứt đoạn như là “lôi thôi, chia phôi, thở than, hợp tan, nghẹn lời, Dương Quan, ngược xuôi…” thì làm sao mà khá được!

Tuyệt tài hoa. Tố Như ơi

Tố Như tiên ngôn thần sầu quỉ khốc. Khi Thúc Kỳ Tâm lên đường về Vô Tích “báo cáo tổng kết” với Hoạn Thư, ta thấy những lời tiên ngôn này khi chàng chia tay tạm biệt với Thúy Kiều:

Tiễn đưa một chén quan hà
Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.
Sông Tần một giải xanh xanh
Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan…

Tại sao đã “liễu” lại còn “Dương Quan”? “Dương Quan gợi ta nhớ đến:

Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
Tây xuất Dương quan vô cố nhân…

Đấy là ẩn ý của Tố Như muốn ta biết: Thúc Kỳ Tâm một đi là mất Thúy Kiều. “Tây xuất Dương quan vô cố nhân” mà lỵ!

Còn “liễu” gợi ta nhớ đến “liễu Chương Đài”.

Khi về hỏi liễu Chương Đài
Cành xuân đã bẽ cho người chuyền tay…

Anh Hàn Hũ đời Đường có chị vợ lẽ tên là Liễu thị – Truyện Thúy Kiều do Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim hiệu khảo ghi rõ là “vợ lẽ” – Hàn Hũ đi làm quan xa để Liễu thị ở Chương Đài trong thành Trường An. Hàn Hũ không viết thư cho vợ cả, toàn viết cho vợ bé Liễu thị, gọi nàng là Chương Đài Liễu.

Truyện tình Chương Đài Liễu được ghi trong bộ Tình Sử. Thơ Hàn Hũ gửi cho Liễu Thị có câu hỏi loại “tiên ngôn”:

Chương Đài Liễu…
Tích nhật thanh thanh kim tại phủ?
Giả ưng phan chiết tha nhân thủ?

Liễu Chương Đài
Ngày xưa xanh xanh nay còn đó không?
Hay là tay người khác đã bẻ mất rồi?

Anh đàn ông xa nhà mà viết thư về hỏi vợ bé một câu xanh rờn: “Em thơm hơn múi mít chín… Em còn không hay cho thằng khác… dzồi?” thì mất em là cái chắc!

Quả nhiên về sau loạn ly, giặc đến, Liễu thị bị tướng giặc đưa đi di tản ra nước ngoài mất tích.

Tố Như đưa “liễu” vào đoạn tả Kỳ Tâm chia tay Thúy Kiều có ý cho ta biết trước: Kỳ Tâm đi là múi mít Thúy Kiều về tay người khác.

Với những bằng chứng vừa kể, ta có thể kết luận Tố Như tiên ngôn thật tuyệt với, tuyệt tài hoa.

Bài học luân lý còm ta rút được ở “Liễu Chương Đài” là: Đừng có đi, đừng có dzìa đâu hết. Đừng xa nhau, xa nhau là dễ mất nhau lắm lắm.

Muốn không mất phải luôn luôn nhớ lời dặn của ông cha:

- Vật bất ly thân.
- Cẩn tắc vô áy náy.

Tiên ngôn

Khi Thúy Kiều lập tòa án mặt trận xử tội các can phạm đã làm hại đời nàng. Tố Như báo trước cho ta biết nàng sẽ không trừng phạt trả thù được Hoạn Thư qua hành động:

Thoắt trông nàng đã chào thưa
-Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?

Nói theo ngôn ngữ những năm 1940, 1950, 1960 ở các thành phố Hà Nội, Sài Gòn, khi vừa thấy Hoạn Thư bị cai tù giải đến, chánh án Vương Thúy Kiều đã vội vàng đứng lên chào hỏi:

-Thưa cô… Cô mà cũng phải đến đây ư? Thầy có được mạnh không ạ?

hay:

- Thưa mợ… Hồi này cậu mợ mạnh không?

Tố Như luôn luôn diễn tả Từ Hải trình diễn thật rình rang. Sai mười anh tướng đi đón vợ, chưa là vua mà đã dùng thể nữ, xe thì phượng liễn, loan nghi, tức là cờ phướn linh đình. Vợ tới nơi thì “kéo cờ lũy, phát súng thành…” Bố Cu Từ lập tòa cho vợ đền ơn, trả oán cũng dàn dựng linh tinh:

Quân trung gươm lớn, giáo dài
Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi.
Sẵn sàng tề chỉnh, uy nghi
Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân…

Làm ký gì mà dàn cả cà-nông ra đầy sân tòa án rườm dzậy, cha nội? Chưa hết, sau khi bà chánh án đền ân cho người cũ Thúc Kỳ Tâm, bà vãi bụi đời Giác Duyên; ta lại thấy tòa án trình diễn một màn đe dọa cực kỳ nữa khi bà chánh án cho gọi đến chánh phạm Hoạn Thư:

Dưới cờ gươm tuốt nắp ra
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư

Gươm tuốt nắp ra để chém ngay nữ can phạm. Nhưng… tẽn tò, bà chánh án vội vàng nhấc chỗ để ngồi lên khỏi ghế để “chào thưa”:

- Thưa mợ…

Trong nhiều đoạn Tố Như tiên ngôn cho ta biết những sự việc sắp xảy ra. Thi sĩ nói trước cho ta biết quân đội Từ Hải sẽ bại trận thê thảm qua hai câu:

Ba quân chỉ ngọn cờ đào
Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri.

Tức là mất hút một đạo quân. Đạo quân thứ ba đi đâu mất? Hỏi tức là trả lời.

Từ Hải chết đứng

Khi Từ Hải chết đứng, Thúy Kiều khóc:

Khóc rằng: “Trí dũng có thừa
Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này…”

Thúy Kiều cho Từ Hài là người có hai đức tính “trí” và “dũng”. Ta không biết Tố Như có cho Từ Hải hai đức tính ấy hay không.. Chỉ biết từ ngày Thúy Kiều gọi Từ Hải là “người đàn ông trí, dũng có thừa”, những người đọc Kiều dường như chẳng mấy ai thắc mắc gì đến cái gọi là “trí, dũng” của Từ Hải.

Tôi thấy Từ Hải chỉ có dũng mà không có trí. Cho họ Từ có dũng cũng đã là gượng ép. Từ Hải, với tư cách tướng quân, từng xưng vương, dù chỉ là tiểu vương, đã không dũng ở việc chưa đánh đã đầu hàng dù biết hàng thần lơ láo, sẽ bị khinh thị. Quan Vân Trường vì hoàn cảnh bắt buộc phải đầu hàng, nhưng sau đó đã anh dũng lấy lại được danh hiệu dũng tướng; Từ Hải ngược lại, đầu hàng và chết đứng luôn.

Không phải là mạt tướng cũng chẳng được là triều thần, Công tử Hà Đông đã từng đầu hàng Việt Cộng. Những đêm dài lắm, sâu lắm thao thức trong lầu Bát giác Chí Hòa thành Hồ, Công tử Hà Đông làm bài thơ vịnh Từ Hải:

Khóc rằng: “Trí dũng có thừa
Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này”.

Dũng thôi, có trí nào vay?
Năm năm trời biển, một ngày chết oan.
Bờ sông, bãi cát bàn hoàn
Có nghe mồ lạnh cung đàn phu nhân?
Ấy ai tàn cuộc phong trần?
Ấy ai vân cẩu, xoay vần những ai?
Quân trung gươm lớn, giáo dài
Đội torng thị tập, cơ ngoài song phi
Sẵn sàng, tề chỉnh, uy nghi
Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân
Phù vân… Chỉ là phù vân
Bá vương, hào kiệt, hàng thần… chiêm bao!
Mắt xanh, mặt ngọc, má đào
Râu hùm, hàm én đi vào hư vô
Ấy ai gây dựng cơ đồ
Ấy ai bể Sở, sông Ngô tung hoành.
Ấy ai nấm đất bên gành
Rầu rầu ngọn cỏ nửa xanh, nửa vàng!

Ca-nông nổ rung chuyển mặt đất, hê-li-cốp bay rợp trời quân khu, các binh chủng trang bị võ khí tối tân nhất, đang đánh đâu thắng đấy như chẻ trúc, đập ngói; quân ta sẵn sàng, tề chỉnh, uy nghi… Vậy mà tự nhiên ký giấy đi đầu hàng! Trí dũng ở chỗ nào? Vương tướng gì mà kỳ cục kỳ cào đến cái nước ấy? Tướng mà trí dũng cù lần như vậy thì chết đứng là cái chắc. Không những chỉ chết đứng mà thôi, còn chết không nhắm được mắt.

Bố cu Từ bị Tố Như diễn tỏa cho trở thành lố bịch qua việc ảnh dàn dựng cuộc đón tiếp vợ hết sức linh đình để rồi đầu hàng trống lơi, cờ rũ, súng tịt hết sức bôi bác. Chỉ đón vợ thôi mà tướng quân cho kéo quốc kỳ, cho nổ đại bác ầm ầm:

Kéo cờ lũy, phát súng thành
Từ công lên ngựa thân nghinh cửa ngoài.

Đúng là oai như hạch. Chỉ để đón nàng về dinh thôi mà Tướng quân cho mở cả một chiến dịch dữ dội mùa hè đỏ lửa hết sức đao to búa lớn:

Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương
Ngất trời sát khí mơ màng
Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh.

Tướng quân huy động đủ cả năm bunh chủng Hải, Lục, Không, Thiết giáp, Công binh luôn cả Gia binh. Linh đình tốn hao huyết lệ của nhân dân như vậy chưa đủ, Tướng quân còn sai cả chư tướng đi đón vợ. Không những chỉ sai một tướng, người còn sai đến mười tướng:

Hai bên mười vị tướng quân
Đặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu.

Tôi từng thắc mắc về chuyện tại sao quân đội Từ Hải đang chiến thắng lại thảm hại nhanh chóng đến như thế. Chi tiết mười anh tướng lãnh quân vụ đi đón phu nhân trước sân phải quì gối, đặt gươm, cởi giáp, khấu đầu đến như thế làm cho tôi biết tại sao quân Từ thua, tại sao Từ Hải chết đứng, tại sao Thúy Kiều phải nhắm mắt nhảy xuống sông Tiền Đường…

Một lần nữa thiên tài Tố Như lại tiên ngôn cho chúng ta thấy: Cái quân đội có những tướng hèn ngu đến như thế tất nhiên là thứ quân đội không ra gì, trước sau gì cái quân đội ấy cũng đầu hàng. Anh tướng đón vợ rình rang như Từ Hải tất nhiên là anh tướng đánh trận không khá, thứ tướng quân ấy chết đứng là đúng thôi…
Than ôi! Đời xửa đời xưa có những người lòn trôn rồi trở thành đại tướng. Lại có những người nếm phân rồi phục quốc…

Nhưng đó là chuyện đời xửa đời xưa…

Đời nay ta chỉ thấy những người làm tướng rồi lòn trôn. Và những người nếm phân rồi ngậm miệng…

Kể ra Từ Hải cũng còn một điểm khá hơn nhiều người. Đó là điểm Từ Hải chết đứng.

Thúy Kiều trả thù

Quá niên trạc ngoại tứ tuần
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao…

Đó là hình ảnh của Mã Giám Sinh. Hình ảnh ấy em đã biết, dù em chỉ đọc Kiều ở những đoạn tả tình, tả cảnh mà em thích. Vì vậy, anh không cần diễn tả thêm nữa về hình ảnh của Mã Giám Sinh cùng giới thiệu với em về y. Ở đây anh chỉ viết cho em những gì về Kiều mà anh nghĩ rằng trước anh chưa có ai viết và em chưa từng bao giờ đọc.

Em đã thấy Thúy Kiều, khi trở thành lệnh bà ở Hàng Châu, trả thù Hoạn Thư: Thúy Kiều tuy tha chết cho Hoạn Thư nhưng cũng đánh cho thị một trận nhừ tử dở sống dở chết. Tú Bà thì bị trói tròn như khúc gỗ, tẩm dầu vong kín mít từ đầu đến chân, dựng ngược đầu xuống đất, làm cây đuốc sống, đốt cho đến chết. Và đây là cảnh Mã Giám Sinh, tức Mã Quy, tức Mã Bất Tiến, bị lệnh bà trừng phạt:

“Mã Giám sinh bị kẹp chân tay vào mấy cây gỗ, căng thẳng ra. Quân sĩ dùng dao nhọn khoét da, moi những đầu gân của họ Mã ra. Rồi họ cho móc câu vào móc gân làm cho thân thể họ Mã lúc đầu co rúm lại, cho đến lúc những sợi gân bị đứt thì xác họ Mã rã rời ra từng mảnh. Phu nhân sai quan mang xác Mã Giám sinh vứt xuống biển cho cá ăn.”

Bây giờ em coi đoạn phim video Thúy Kiều trả thù bọn Sở Khanh, Bạc Hà, Bạc Hạnh:

“Cũng giống như Tú Bà, Sở Khanh bị trói tròn như khúc gỗ. Sở Khanh cũng bị tẩm dầu thông và keo vỏ gai kín mít nhưng không bị đốt như Tú Bà mà bị để nằm đó cho chết dần. Dầu thông và keo vỏ gai làm cho thân xác Sở Khanh một lúc sau trở thành một cây máu thịt đỏ lòm, bầy nhầy. Sở Khanh còn thoi thóp nhưng chưa chết hẳn. Quân sĩ lấy nước vôi tưới lên, da thịt đẫm máu của Sở Khanh nổi lên những bong bóng nổ lốp bốp. Một lúc sau nữa thì toàn hân Sở Khanh chỉ còn là một đống máu mủ khủng khiép.

“Bạc Bà bị chặt đầu, đem thủ cấp treo ngoài viên môn. Bạc Hạnh bị trói lại như khúc cây rồi bị cưa từ chân dần lên đến ngực. Thân xác Bạc Hạnh bị cưa rời ra thành cả trăm mảnh. Sau đó phu nhân truyền đem thịt Bạc Hạnh trộn vào cỏ cho ngựa ăn”.

Những đoạn văn trên trích trong tiểu thuyết chữ Hán Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân. Trong truyện thơ Kiều, Nguyễn Du bỏ đi những chi tiết ghê rợn này.

Em yêu ơi… Đành rằng những tên gây nên tội thì phải đền tội. Và anh cũng chủ trương rằng cần phải trị tội những tên làm bậy để cho những tên khác thấy thế mà kinh hãi, mà bới đi sự làm bậy, nhất là để cho những tên nắm được quyền hành một thời lấy đó làm gương. Nhưng anh chỉ chủ trương trên lý thuyết là phải trị tội chúng như vậy thôi, đến lúc thấy chúng bị hành tội thì anh lại không thể nhẫn tâm. Thố tử hồ bi… Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ. Loài vật còn biết thương yêu nhau, thương xót nhau… Có nhiều lúc anh thấy xấu hổ vì loài người có nhiều tên – không phải là tất cả – không bằng được loài vật. Đó là những lúc anh thấy những kẻ reo hò, nhảy múa, ca hát trên xiềng xích và trên cái chết của người khác.

Em yêu của anh ơi… Nếu em là Thúy Kiều và nếu anh có thể khuyên can được em, khi em phán quyết trả thù bọn làm hại em bằng những hình phạt ghê rợn đến như thế, anh đã khuyên em đừng, em không nên… Đã đành là bọn Hoạn Thư, Tú Bà, Mã Giám sinh, Sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh có tội với em, chúng đã làm em đau khổ, chúng đã hành hạ cả tinh thần lẫn thể xác em và bây giờ khi em đã lên bà, em có quyền giết chúng, em cũng chẳng nên. Anh không khuyên em bỏ qua hay tha bổng chúng, em chỉ nên căng nọc chúng ra, đánh cho mỗi tên một trận què lê lết rồi cho chúng sống nốt những ngày tàn, cho chúng thấm đòn. Như tên Mã Giám sinh chẳng hạn. Nếu em để cho y sống, y còn mần ăn gì được nữa. Năm y đến mua em với giá 400 cây vàng ở Bắc Kinh, em mười tám tuổi còn y quá niên trạc ngoại tứ tuần tức là y đã ngoài bốn mươi tuổi rồi. Bây giờ là mười năm sau, khi em trở thành phu nhân, em hai mươi bảy, hai mười tám cái xuân xanh mướt thì y đã năm mươi mấy tuổi. Vốn là một gã phong tình đã quen… tuy ngoài năm mươi tuổi nhưng quen nghề phong tình, rất có thể là tên Mã Quy, Mã Bất Tiến đó vẫn còn có thể mần được những trò phong tình, em chỉ nên trừng trị y vào đúng cái chỗ y đã dùng nó để phạm tội với em. Bắt nó để lên phiến đá, cho quân lấy cái chày giã cua, hay lấy cái dùi trống cũng được, dần cho nó vài chục cái. Không cần nhiều, chỉ cần độ ba chục cái thôi là nó buốt lên tới óc, xương sống nó rã rời, bao nhiêu khớp xương, đầu gân của nó lỏng lẻo hết. Nó còn sống ngày nào là dư ngày ấy thôi. Nó sẽ lử khử lừ khừ rũ riệt cho đến ngày nó chết. Hai tên Sở Khanh, Bạc Hạnh cũng bị trị tội y như Mã Giám sinh. Em có thể gia giảm cho hai tên này đôi chút vì chúng là những tên xếp hàng sau họ Mã. Trong cái hàng dài những tên nham nhở can tội xâm phạm và dày vò cái “ngàn vàng” của em, Hồ Tôn Hiến là tên sau chót.

Nói đến cái “ngàn vàng” của em, anh muốn nhắc để em nhớ rằng vào cái thời em đang tròn tuổi nguyệt, trần ai chưa lấm được thơ ngây, tức là vào cái thời gọi là “Gia Tĩnh triều Minh, bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng” – năm 1555 sau Thiên Chúa – cái gọi là “ngàn vàng” của em nó có giá ghê lắm.

Cò kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.

Mã Giám sinh nó mua cái “ngàn vàng” của em với giá bốn trăm lạng. Nhưng tới đây thì có sự không minh bạch; đó là bốn trăm lạng vàng hay bốn trăm lạng bạc? Nếu bốn trăm lạng vàng thì đó là giá cao còn nếu là bốn trăm lạng bạc thì giá trị cũng chẳng còn có mấy đâu. Cứ theo như bản tiều thuyết Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân mà anh đang tra cứu đây thì đó là “bốn trăm lạng bạc” nhưng trong những bản Thơ Kiều của Nguyễn Du, tức là của ta, thì gần như tất cả các bản đều in là “Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm“, tức là “hơn bốn trăm lạng vàng”. Thôi thì chúng ta cứ coi đó là vàng đi. Cho nó hách, Có phải đóng thuết giờ nào đâu mà sợ.

Em yêu ơi… Nếu cái đó mà trị giá tới bốn trăm cây vàng thì quả thực cao quá là cao. Nhất là so với thời giá bi giờ. Hiện nay cái đó chỉ là 100 đô, tức là chỉ có “vàng ngoài hai chỉ” thôi. Có đắt lắm, có thơm lắm, nó cũng chỉ đến 500 đô, tức là “vàng ngoài một cây” là cùng.

Về trường hợp “xâm phạm Ngọc Long Cung” của em thì anh thấy Mã Giám sinh có thể được hưởng sự giảm khinh. Bởi vì gã bị bắt buộc phải làm việc ấy. Gã nói gã mua em về làm vợ bé thì khi làm xong mọi thủ tục mua bán, cưới xin, khi đưa em bình yên về đến ôten thì gã phải làm thôi. Không có lý phải chờ tới khi đưa em về tới Lâm Tri gã mới làm. Nếu gã không làm ngay việc đó ở Bắc Kinh, em sẽ có lý do vững chắc như cua gạch để nghi rằng gã mua em về để dùng em vào việc gì khác chứ không phải là dùng em với tư cách vợ bé của gã. Đây là bằng chứng:

Vả đây đường xá xá xôi
Mà ta bất động nữa người sinh nghi.

Đó là lời trong Thơ Kiều. Còn đây là ý nghĩ của Mã Giám sinh trong truyện: Hiện nay mình chưa ra khỏi kinh thành. Đã đón nàng về đây rồi nếu mình chẳng thành vợ chồng với nàng, sợ nàng về kể lại với cha mẹ nàng thì lôi thôi to. Chi bằng ta hãy… Rồi khi về đến hành viện, sẽ dùng cách trang điểm lại thì nói vẫn còn y nguyên, tiền mở hộp vẫn mấy trăm lạng vàng, có mất đi đâu đồng nào. Vậy thì tại sao ta lại chẳng đi nước trước. Nếu mụ Tú có biết thì ta cũng chỉ mất công quì gối một buổi là xong…

Em yêu ơi, anh thấy gần như tất cả – không, không phải gần như tất cả mà là “tất cả” – những tên đàn ông quanh quẩn bên cái chỗ để ngồi của Thúy Kiều đều là những tên nếu không ngu si, hèn nhát thì cũng tham lam, đểu giả, tàn nhẫn. Kim Trọng thì “hoa thơm đánh cả cụm, yêu con chị dị luôn con em” – yêu cái kiểu như Kim Trọng thì tên đàn ông hạng bét nào ở cõi đời này chẳng yêu được – miệng thì rêu rao nhất định phải đi tìm Thúy Kiều cho bằng được mới thôi, dù là phải “dấn mình trong áng can qua, vào sinh ra tử” nhưng vẫn cứ ở nhà ôm đít Thúy Vân hưởng lạc thú cơm nhà, quà vợ… Thúc Kỳ Tâm sợ vợ đến cái độ làm cho những anh sợ vợ nhất nhì cõi đời này cũng phải lắc đầu. Hồ Tôn Hiến dâm đãng và tàn nhẫn, ti tiện nữa: Lão nhờ Thúy Kiều một phần mà được thành công, nhưng khi thành công rồi lão có thèm thuồng “cho anh một tí…” cũng được đi, song thay vì thỏa mãn mọi mặt rồi lão chỉ có việc cấp cho nàng cái vé xe đò, cho xe jeep đưa nàng ra bến xe để nàng về Bắc Kinh đoàn tụ gia đình, lão cũng không làm. Thay vì làm cái việc dễ làm đến như thế, lão lại muối mặt già giao nàng cho một anh Thổ quan vô danh để anh này muốn làm gì nàng thì làm. Đến cả Từ Hải là kẻ được tô son, vẽ phấn nhất cũng chỉ là một anh dũng phu không hơn không kém. Những câu như “Hơn đời trí dũng, nghiêng trời uy linh” và “Khóc rằng: Trí dũng có thừa…” đều là những câu ca tụng Từ Hải quá đáng và không đúng. Cái cảnh Từ Hải sai những “mười vị tướng quân…” đi đón Thúy Kiều – không thấy nói rõ là chuẩn tướng, thiếu tướng, trung tướng hay đại tướng… Chỉ biết một điều chắc như bắp là những anh tướng chịu đi đón phu nhân kính cẩn như vầy thì khi đánh nhau phải vô cùng anh dũng – Mười vị tướng quân mang giáp binh, tức là xe tăng, thiết vận xa, rồi cung nga, thể nữ lóc nhóc một đống, rồi phượng liễn, loan nghi, tức là cờ quạt, y phục, thêu hình chim phượng, chim loan. Khi phu nhân đi thì dựng cờ, nổi trống, đội kèn đồng bu-dzích quân nhạc đi trước, xe Mercedes nạm vàng chở phu nhân đi sau: “Trúc tơ nổi trước, kiệu vàng theo sau“. Gác-đờ-co bảo vệ yếu nhân chạy đầy đường. Khi vợ đến thì “Kéo cờ lũy, phát súng thành. Từ công cưỡi ngựa thân chinh cửa ngoài…” tức là kéo quốc kỳ lên, nổ 21 phát đại bác để… đón vợ. Chỉ cần xem cái cảnh Từ Hải đón vợ lố bịch, rởm đời như thế thì bất cứ ai có óc phán đoán nhỏ bằng đầu que tăm xỉa răng cũng có thể biết rằng lúc đánh nhau, Từ Hải sẽ loạng quạng đến như thế nào và việc Từ Hải chết đứng là việc dễ hiểu thôi.

Nhưng hèn hạ đến như Mã Giám sinh thì là hèn hạ nhất đời. Trong số ba tên ma cô khai thác thể xác thơm hơn múi mít của Thúy Kiều để kiếm ăn thì Mã Giám sinh là tên hàn hạ nhất. Khi đến Bắc Kinh mua Kiều, Mã Giám sinh ngoại tứ tuần. Tú Bà lúc đó chắc phải ngoại ngũ tuần. Tức là Tú Bà hơn Mã Giám sinh khoảng mười tuổi. Và mụ đối xử với tên chồng em như đối xử với con mụ vậy. Gã phạm tội là mụ bắt gã quì gối. Y như là bà mẹ xử phạt thằng con hư phá. Và gã hoan hỉ chịu sự trừng phạt ấy, vì gã đã tính trước:

Mụ già hoặc có điều gì
Liều công mất một buổi quì là xong

Tất nhiên là tay chuyên viên tổ chức hành lạc như Tú Bà sẽ biết ngay những việc Mã Giám sinh làm với người thiếu nữ gã có nhiệm vụ mang tiền đi mua về. Và khi mụ biết, cơn tam bành của mụ sẽ ầm ầm nổi lên. Mã Giám sinh biết rõ chuyện ấy hơn ai hết nhưng gã vẫn cứ làm. Với kinh nghiệm sống, gã ước lượng trước hình phạt mà gã phải chịu: chỉ liều công mất một buổi quì gối. Nhưng cứ xét theo tội trạng của họ Mã thì đúng ra gã chỉ phải chịu có một buổi quì là xong hay là phải nhiều hơn? Bởi vì:

Kể từ đêm ở trú phường
Đến Lâm Tri một tháng trường mới thôi.
Lý do: đường xá xa xôi,
Mà ta bất động nữa người sinh nghi.
Mụ già hoặc có điều gì
Liều công ba chục buổi quì mới xong.

Mã Giám sinh vốn là một gã phong tình, gã đã động được Kiều một lần là gã sẽ động mãi. Đường gã đưa nàng đi từ Bắc Kinh về Lâm Tri mất đúng một tháng. Ngày đi, đêm vào ô-ten, vững đến như ông Liễu Hạ Huệ cũng phải động, nói gì đến gã phong tình chuyên nghiệp như Mã Giám sinh! Đằng nào thì gã cũng phạm tội rồi, một lần hay ba bốn, năm bảy chục lần thì cũng dzậy thôi.

Công tử Hà Đông bèn tại ngục vịnh Mã Giám sinh:

Hỏi tên? Rằng: Mã Giám sinh
Hỏi quê? Quê ở huyện Lâm Thanh.
Mua đồ xài thử, anh vừa bụng,
Bán thịt ăn gân, mụ bực mình.
Em có lấy vua, mần thủ tướng,
Cũng nhớ thằng xưa nó phá trinh.
Mười lăm năm ấy bao anh sướng,
Đều xếp hàng sau Mã Giám sinh.

Bây giờ đến lượt tên hèn hạ thứ hai trong Kiều là Sở Khanh. Anh bực bội khi thấy Nguyễn Du lạm phát danh từ “thư hương”. Sau khi tả anh con nhà buôn “Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương“, Nguyễn Du lại cho một con người thông minh như Thúy Kiều khi vừa nhìn thấy Sở Khanh đã “nghĩ rằng cũng mạch thư hương“. Hình dạng của họ Sở cũng được diễn tả đại khái như hình dạng họ Mã: “Hình dung chải chuốt, áo khăn dịu dàng” đồng nghĩa với “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao“.

Em yêu ơi, như anh đã viết: bọn đàn ông nói chung bị bôi gio trát trấu trong truyện Kiều, những nhà thi sĩ chân chính cũng bị bôi bác vì trong Truyện Kiều có hai anh làm thơ: Thúc Kỳ Tâm con nhà buôn và Sở Khanh ma cô. Kể ra về mặt mần thơ Cóc thì Sở Khanh còn hơn công tử bột Kim Trọng những năm bảy thành, vì Kim Trọng không mần thơ được, phải nhờ Kiều đề thơ vào bức tranh gọi là “tranh tùng” song chắc là nó thuộc loại tranh sơn thủy hữu tình mà em vẫn thấy bày bán ở vỉa hè Nguyễn Huệ thời em còn chiều thứ bẩy, sáng chủ nhật trời trong dạo gót sen trên đại lộ này. Khi Kiều từ chối không chịu đi khách, Tú Bà đưa nàng ra ở vi-la Ngưng Bích để chuẩn bị đưa nàng vào xiếc, đập tan ý chí đề kháng của nàng, Kiều lên lầu nhìn ra và nàng chỉ nhìn thấy quanh nàng toàn những cảnh buồn:

Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu!
Buồn trông nội cỏ dàu dàu
Chân mây, mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi…

Lúc ấy Kiều thấy “Chung quanh những nước non người. Đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu“. Chắc rằng nàng có ngâm mấy bài thơ ấy lên nên Sở Khanh nằm vùng ở vi-la bên cạnh mới nghe tiếng và do đó gã mới mần thơ họa lại để tán tỉnh nàng. Bởi khi Kiều “Ngậm ngùi rủ bức rèm châu” (thì) “cách tường (nàng) nghe có tiếng đâu họa vần“. Và đây là bài thơ của Sở Khanh ma cạo. Cũng đường luật như ai chứ bộ:

Lâu ngoại thùy gia thanh mấn ca
Tràng ngâm thanh cách bích đào hoa.
Sầu sâm bút đế đê ngưng yếu,
Oán hướng phong tiền khiếu khổ ta.
Viễn tiếp phương hương sân điệp phấn,
Vi thông u ý hỷ song sa.
Khanh tu liên ngã đa tài nghệ,
Ngã khước liên khanh vị phá qua.

Dịch nghĩa:

Nàng xuân nữ đẹp có mái tóc xanh ở lầu kia là người nhà ai?
Nghe tiếng nàng ngâm thơ ở bên bức tường hoa đào.
Nỗi sầu buồn ngưng đọng ở cây viết,
Niềm oán hận kêu than ở ngọn gió.
Hương thơm từ xa bay tới làm say con bướm,
Mừng khi thấy rằng qua tấm màn cửa ta hiểu nỗi lòng thầm kín của nhau.
Em nên yêu ta vì ta có nhiều tài nghệ,
Ta yêu em vì em đẹp như trái dưa non.

Tài hoa đến như Bạch Cư Dị mà cũng chỉ dám tự giới thiệu một cách hết sức khiêm tốn: “Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân. Tương phùng hà tất tằng tương thức: Ta và em cùng là người luân lạc ở chân trời này. Đôi ta gặp nhau, thương nhau cần gì phải quen biết nhau từ trước. Em đàn hay quá. Anh rất chịu em đàn. Em hãy vì anh đàn thêm vài khúc nữa. Anh sẽ vì em làm bài Tỳ Bà Hành. Để cho đời sau bọn chúng nó khi đọc bài Hành ghi lại cuộc gặp gỡ của đôi ta ở bến Tầm Dương này, chúng nó sẽ một là mần thơ, hai là sẽ ngượng mà nghỉ mần thơ luôn“. Tài hoa như Chu Mạnh Trinh khi tuyên ngôn tình yêu với Thúy Kiều cũng chỉ nhận mình là người đa tình – đa tình thì ai cũng có thể tự nhận được, chỉ cần chờ đợi sứ cố xảy ra để biết kẻ tự nhận đó có đa tình thật hay lại như cậu Đỗ Mục tự bào chữa cho tội bạc tình của cậu bằng câu: “Đa tình khước tự tổng vô tình: Đa tình nhiều lúc giống vô tình“…

Khác với Bạch Cư Dị và Chu Mạnh Trinh, ma cô Sở Khanh ngang nhiên tự nhận gã là kẻ có nhiều tài nghệ và dụ dỗ Kiều: “Em nên yêu anh vì anh có nhiều tài”… Cứ kể ra thì Sở Khanh cũng có nhiều tài thật, dù đó chỉ là những tài vặt, song tài vặt cũng là tài. Có nhiều tên đàn ông chỉ cần có một cái tài vặt thôi là đủ thành công với đời, Sở Khanh có tới ba bốn cái tài vặt. Trước hết là tài sử dụng kế đà đao, hai là tài quất ngựa truy phong – câu này về sau trở thành một thành ngữ diễn tả việc thỏa mãn rồi là chàng cho nàng rơi cái rụp – tài trở mặt và tài làm thơ. Thơ mà ví người đẹp với “trái dưa non mơn mởn” thì ngon lành nhất rồi. Ba tiếng “vị phá qua” trong thơ của thi sĩ Sở Khanh theo như sự hiểu biết về tiếng Hán ăn đong của anh thì đó là quả dưa non hoặc quả dưa chưa chín, chưa bị nứt. Ví von đến như vậy thì cũng chỉ có những thi sĩ chân chính nhất cõi đời này mới có thể ví được. Công tử Hà Đông bèn có thơ vịnh:

Sở Khanh

Chải chuốt hình dong, mịn áo khăn,
Ăn chơi xuống dốc hóa chơi ăn.
Đà đao nghe mụ, hai tay lật,
Tích Việt lừa em, miệng một lằn.
Ba mươi sáu chước, chuồn là nhất,
Chín mười năm ấy, nợ còn căm.
Truy phong sẵn ngựa sao không quất?
Một nhát bà cho, hết đội khăn.

Em yêu dấu,

Nhân chuyện Sở Khanh, anh vừa nhắc đến Chu Mạnh Trinh, một người làm thơ vịnh Kiều trước anh tới gần đúng 100 năm. Nhân đây anh kể em nghe sơ qua về lịch sử những vụ làm thơ vịnh Kiều ở nước ta kể từ ngày Nguyễn Du viết xong Truyện Kiều.

Theo số tài liệu ít ỏi mà anh có được trong Hoàng Hạc Lâu Ông Tạ của anh thì Nguyễn Du mất tại Huế ngày 16 tháng 9 năm 1820. Cũng vào năm 1820, Truyện Kiều của Nguyễn Du được in thành sách. Trong bản Truyện Kiều in năm 1820 có bài tựa của Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân. Kể từ đó những bài bình Kiều, luận Kiều và thơ Vịnh Kiều liên tiếp ra đời. Nhưng đó là công trình của những cá nhân riêng lẻ. Đại hội bình luận vịnh Kiều có tính cách quốc gia đầu tiên là do vua Minh Mạng tổ chức năm 1830. Nhà vua cùng các quan văn cùng làm thơ vịnh Kiều và những thi phẩm này sau đó được in thành một tập gọi là Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề vịnh tập biên. Năm 1871, vua Tự Đức tổ chức cuộc làm thơ vịnh Kiều lần thứ hai. Năm 1905, Tổng đốc Hưng Yên tổ chức cuộc thi thơ vịnh Kiều. Em yêu ơi, anh không nhớ tên ông Tổng đốc này là Từ Đạm hay Lê Hoan. Nếu giờ anh ngừng viết để tìm chi tiết này thì chưa biết đến bao giờ anh mới viết xong được cho em bài này. Vậy thì em cứ xính xái cho qua, em chỉ cần biết rằng đó là cuộc thi thơ do Tổng đốc Hưng Yên tổ chức năm 1905 và Chu Mạnh Trịnh là người chiếm giải nhất cuộc thi này. Đây là bài thơ Chu Mạnh Trinh vịnh:

Sở Khanh

Những tưởng chim lồng chắp cánh bay,
Họa khi vận rủi có hồi may.
Làng nho người cũng coi ra vẻ,
Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay.
Hai chữ tin hồng trao gác nguyệt,
Một roi vó ký tếch đường mây.
Mẫu đơn vùi dập cơn mưa gió,
Cái nợ yên hoa khéo đọa đày.

Anh thấy hai câu “Làng nho người cũng coi ra vẻ; Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay” là hai câu diễn tả Sở Khanh tuyệt cú mèo. Nghe nói rằng trong ban giám khảo cuộc thi thơ Vịnh Kiều Hưng Yên 1905 có Nguyễn Khuyến. Và Nguyễn Khuyến với Chu Mạnh Trinh không ưa nhau. Hai ông này cùng đỗ tiến sĩ, cùng làm quan to, cùng yêu văn nghệ và cùng mần thơ. Hai ông chỉ không làm quan cùng thời với nhau. Khi Chu Mạnh Trinh đang hiển đạt thì Nguyễn Khuyến đã già, đã về hưu. Giám khảo Nguyễn Khuyến có phê vào bài Vịnh Sở Khanh của Chu Mạnh Trinh hai câu:

Rằng hay thì thật là hay
Nho đối với xỏ lão này không ưa.

Nguyễn Khuyến không ưa việc Chu Mạnh Trinh dùng hai tiếng “bợm xỏ” đối với “làng nho”. Hai vị tiền bối này tài hoa ngang nhau, mỗi người một vẻ, chẳng ông nào kém ông nào. Song cứ như chuyện này thì anh thấy Nguyễn Khuyến có vẻ quá đáng. Ông ta tự cho cái giới gọi là “làng nho” của ông là thập phần cao quí, đối với “bợm xỏ” là làm mất giá trị của “làng nho”, dù đó chỉ là lời ví von để làm nổi bật hình ảnh một gã đàn ông có hình dung nho nhã nhưng tâm địa lại hết sức lưu manh, đểu cáng. Song Nho cũng có nhiều thứ Nho. Có Đại Nho, Hiển Nho, Đạt Nho và cũng có Tiểu Nho, Ẩn Nho, Hàn Nho. Có Ngu Nho, Hủ Nho và cả Khuyển Nho nữa. Có nho chùm, nho rời, ngọt, nho chua, nho xanh, nho tây, nho ta… Cứ khăng khăng cho rằng đã là nho thì chỉ có nho thơm chứ không có nho thối là thái độ thỉn cận và xuẩn ngốc. Nếu muốn người đời cho giới của mình là cao quí thì hãy sống cao quí. Đỏ mặt tía tai, sùi bọt mép khi có người khác nói chạm đến giới mình rồi thù hằn, tìm cách hãm hại người ta… là việc làm của bọn ngu muội. Bọn ngu muội ấy sẽ là tai họa cho xã hội khi chúng nắm được quyền hành.

Em hãy nghe một thi sĩ khác làm thơ vịnh Sở Khanh trước năm nay – 1992, năm anh viết gửi em những dòng này – tới 60 năm. Thi sĩ ấy là Tản Đà:

Xỏ lá ai bằng cậu Sở Khanh,
Kiếm ăn lại ở đám lầu xanh.
Mảnh tiên “Trích Việt” vừa khô mực,
Vó ngựa “Truy Phong” đã phụ tình.
Thôi với thanh lâu người một hội,
Chẳng qua hồng phấn nợ ba sinh.
Ba mươi lạng bạc đời Gia Tĩnh,
Để mãi ngàn thu tiếng Sở Khanh.

Tản Đà còn xuất bản quyển Vương Thúy Kiều do ông chú giải. Đây là đoạn thi sĩ nói riêng với Vương Thúy Kiều trong bài tựa:

Ôi em Kiều ơi,
Mười lăm năm trời!
Quan trải, tướng giặc trải, ba que xỏ lá trải, bán buôn Mường Mán trải,
Bể trần chìm nổi, kiếp hồng nhan nặng nợ thế ru mà,
Cũng không nên trách lẫn trời xa, oán lẫn trăng già
Phải biết chữ tài chữ sắc là cái độc trong mình và là đồ chơi cho người ta….

Em thấy đấy: chẳng phải anh là người đầu tiên gọi Thúy Kiều là em. Nếu anh có nét gì khác những vị tiền bối vịnh Kiều trước anh thì đó chỉ là: tất cả mọi người đều “tại gia vịnh Kiều” còn anh thì “tại ngục…”

Trăm năm thề đến bao giờ…

Truyện Kiều là tác phẩm có nhiều cuộc thề thốt nhất. Không phải tất cả nhưng gần như tuyệt đại đa số nhân vật trong Kiều cứ mở miệng ra là y như rằng thế, nguyền, cam kết, hứa hẹn.

Nhưng Truyện Kiều cũng là truyện tình trong đó những người thề ít giữ được lời thề nhất. Có thể nói tất cả những nhân vật thề ước trong Kiều đều, nếu không phản bội, cũng không giữ được lời thề.

Thúy Kiều, Kim Trọng, Thúc Kỳ Tâm, ba nhân vật chính, thề thốt thật nhiều. Mỗi lần họ thề là họ lấy thời gian “trăm năm”:

Rằng: “Trăm năm cũng từ đây
Của tin gọi một chút này làm ghi.

Tiên thề cùng thảo một trương
Tóc mây một món, dao vàng chia đôi.
Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng, một lời song song.
Tóc tơ căn dặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.

Đã nguyền hai chữ đồng tâm
Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai.

Đấy là những lời cô cậu Thúy Kiều - Kim Trọng thề thốt mí nhau. Toàn đao to búa lớn: Trăm năm cưa, năm bảy năm hổng thèm đâu…

Cậu Thúc Kỳ Tâm sợ vợ vô đọich võ lâm cũng cứ mở miệng ra là nói đến “trăm năm”. Thề nguyền đến như Công tử Vô Tích Chạp Phô kiêm thi sĩ Kim Chỉ, Giải Rút đúng là thề vung xích chó:

Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn, lạch sông.

Nhưng khi cậu thấp cơ, thua trí đàn bà; vợ lớn của cậu bắt cóc vợ bé của cậu đem về nhà hành hạ, cậu chỉ biết khóc hận, cười đau nhưng cậu vưỡn cứ hung hăng con bọ xít:

Quản chi lên thác, xuống ghềnh
Cũng toan sống thác với tình cho xong.

Nhưng mà:

Tông đường chút lửa cam lòng
Nghiến răng bẻ một chữ đồng làm hai.

Cậu rất muốn bỏ hết để đi với em đến những nơi cuối bãi đầu ghềnh, sơn cùng thủy tận. Nhưng cậu chỉ muốn cái mồm thôi, cậu hổng đi. Lý do cậu đưa ra để hổng đi mí em là một lý do yếu xìu:

- Tại vì anh chưa có con để nối dõi nên anh hổng thể nào đi mí em được!

Lạ nhẩy! Anh hổng đi mí em vì anh chưa có con trai nối dõi? Dzậy thì đi mí em anh hổng có con được hay sao? Tại sao anh cứ nhất định phải có con mí Hoạn Thư mới được? Con Hoạn Thư đẻ ra mới là con anh, còn con em đẻ ra hổng phải con anh sao? Hoạn Thư nó về làm vợ anh đã lâu rồi, ít nhất anh cũng đã vất vả với nó năm mùa lá rụng. Mà nó vẫn chưa có con tức là còn lâu nó mới có con. Còn em đây phới phới hơn nó nhiều. Bộ em không đẻ được con cho anh nối dõi tông đường hay sao? Đừng có nói dzậy! Muốn em hổng đẻ thì hơi khó chứ muốn em đẻ thì dễ ợt!

Thi sĩ tạp hóa Thúc Kỳ Tâm ngoài cái tật sợ vợ, còn thuộc loại những anh chồng mà ông cha ta gọi là có hành động “bỏ vợ còn mó… tay theo”. Cậu bảo ni cô bỏ chùa trốn đi cho mau, cho xa:

Liệu mà xa chạy, cao bay
Ái ân ta có ngần này mà thôi.

Nhưng cậu vưỡn cứ hy vọng một ngày đẹp trời, cậu và nàng sẽ lại được đoàn tụ gia đình trong vòng trầy trật:

Bây giờ kẻ ngược, người xuôi
Biết bao giờ lại nối lời nước non.

Cậu còn nói lời cuối “Anh yêu em mãi mãi”:

Dẫu rằng sông cạn, đá mòn
Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng tình anh yêu em vưỡn còn mãi mãi. Đến lúc anh ngáp ngáp, anh vưỡn còn yêu em.

Anh yêu em nhưng bỏ vợ để đi mí em thì anh hổng đi. Thúc Kỳ Tâm chưa được là “nhà buôn”, cậu chỉ là “con nhà buôn”. Cậu ăn chơi vung vít nhờ tiền của anh bố ký cóp. Suốt đời cậu chẳng kiếm ra được một đồng xu teng. Cậu chuyên khuân tiền nhà đi ăn chơi. Cậu là thứ phá gia chi tử chân chính. May cho ông già Thúc Ông ba phải chưa đến số sập tiệm, ông chỉ mới vắng mặt ở cửa tiệm Lâm Tri có nửa năm, ông mà láng cháng vắng mặt thêm nửa năm nữa là bao nhiêu vốn liếng sẽ tiêu tán thoòng…

Thúy Kiều thề sẽ đợi chờ Kim Trọng suốt đời. Nhưng chỉ mới ba tháng sau ngày Kim công tử về Liêu Dương áp tải quan tài, nàng đã:

Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa.

Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Ôi Kim lang… Hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.

Thúy Kiều không giữ được lời thề vì nàng là nạn nhân của tai họa xảy đến với gia đình nàng, nàng là phụ nữ, nàng bị động. Bọn đàn ông thề và phụ thề trong Kiều mới là bọn đáng ghét. Thúc Kỳ Tâm ba hoa:

Đường xa chớ ngại Ngô, Lào
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta.

Nhưng khi vợ lớn cậu ra tay, hạ độc chiêu, cậu chỉ biết than dài:

Thấp cơ thua trí đàn bà
Trông vào đau ruột, nói ra ngại lời.

Kim Trọng ngoài việc là chưởng môn Hoa Thơm Đánh Cả Cụm, còn là một chuyên viên “mồm miệng đỡ chân tay”. Khi từ Liêu Dương trở lại vườn Thúy, thấy Thúy Kiều đã lên xe bông về nhà chồng, cậu lăn đùng ngã ngửa, cậu giẫy đành đạch như đỉa phải vôi. Cứ nghe cậu trình diễn nhiều màn thảm thiết làm người ta tưởng cậu chết đến nơi:

Vật mình, vẫy gió, tuôn mưa
Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai.
Đau đòi đạn, ngất đòi thôi
Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.

Cậu hung hăng thề - lại thề - loạn cào cào:

Bao nhiêu của, mấy ngày đàng
Còn tôi, tôi quyết gặp nàng mới thôi.

Thế rồi cậu về sửa sang chốn vườn hoa - vườn Lãm Thúy, nơi cậu mượn điều du học hỏi thuê - cậu rước ông bà viên ngoại đến ở cùng nhà. Cũng kỳ. Cậu lấy tư cách chi mà chiêu đãi, phục vụ ông bà Vương Viên Ngoại quá cỡ thợ mộc đến thế? Ông bà Vương sau chuyến đi tù về hết nhẵn tiền bạc, nên sẵn sàng chịu ơn một anh chàng chẳng có họ hàng, dây mơ rễ muống chi hết là chuyện thường tình. Chỉ có điều hơi phiền là ông bà về ở chung mí anh thì em Thúy Vân nó cũng theo về ở chung, ra vô đụng chạm. Anh ruột cũng hổng phải nốt. Khó ăn, khó nói. Chi bằng con chị nó đi, con dì nó thế. Mà công tử thì đúng là sắp chết đến nơi, sắp chết đến nỗi trên cái cõi đời này hổng còn ai có thể sắp chết hơn được nữa:

Sinh càng thảm thiết, khát khao
Như nung gan sắt, như bào lòng son.
Ruột tằm ngày một héo don
Tuyết sương ngày một hao mòn mình ve.
Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê
Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao…

Công tử khóc ghê quá, Công tử khóc đến ra máu ở mắt. Người đời thường chỉ ho ra máu, ít thấy ai khóc ra máu như Công tử.

Phải cứu mạng Kim công tử khẩn cấp. Khóc ra máu như thế, lúc tỉnh lúc mê như thế, Công tử ra nghĩa địa đến nơi rồi. Công tử ngoẻo củ tỉ là cái chắc! Điều kỳ diệu xảy ra - chuyện thuộc loại khó tin nhưng có thật - ông bà Vương Viên Ngoại không phải là lang thuốc nhưng lại bốc thuốc điều trị cứu mạng Công tử rất mát tay. Ông già Vương trông lù khù thế mà hốt thuốc cao tay hơn cả Hoa Đà, Biển Thước.

Vương lang băm chỉ bốc có một thang thuốc thôi, nhưng là thang tiên dược, thần dược. Công lực của thang thuốc thần hiệu không biết đến thế nào là cùng. Kim bệnh nhân đang mê sảng, khóc ra máu, mắt trợn trắng, miệng ngáp ngáp, mấy ngón tay đã bắt chuồn chuồn, nằm thẳng cẳng ngay đơ cán cuốc… Nhưng chỉ cần thang tiên-thánh-thần-nhân-dược này đưa đến là kẻ sắp vào quan tài nhỏm ngay dậy đi hớt tóc, cạo râu, tắm, lên bộ com-lê ca-la-hoách, leo xe bông đến nhà thờ cho cha làm phép cưới, cặp tay ôm eo ếch cô dâu cùng uống ly rượu hôn phối ở nhà hàng rồi về ô-ten động phòng hoa chúc như máy…

Vương Viên Ngoại đã bốc thang thuốc thần sầu quỉ khốc nhân kinh ấy cứu mạng Kim công tử. Đừng có mê tín thuốc tây, thuốc ta mới là số dzách! Không phải tìm kiếm đâu xa, cái gọi là thuốc cải tử hoàn sinh ấy thường có sẵn ngay trong nhà hay ở gần nhà. Anh nào có phúc là anh ấy gặp thuốc. Kim công tử số chưa đến ngày hui nhị tì nên đã may mắn được gặp thang thuốc đó. Đang sắp chết cậu tươi lại, tỉnh ra, đầu óc sáng như gương tàu, cậu hết còn mê sảng, cậu dùng thuốc dài dài mỗi ngày và cậu học đâu nhớ đấy, học một biết mười. Sau khi có thuốc được mấy niên, cậu đi thi bèn đỗ tiến sĩ.

Bi giờ Kim công tử không còn sắp chết nữa. Đôi khi công tử cũng thoáng nhớ thương Thúy Kiều:

Nỗi nàng nhớ đến bao giờ
Tuôn châu đòi trận, vò tơ trăm vòng.

Công tử được cái hơn người là:

Khi ăn ở, lúc ra vào
Càng vui duyên mới, càng dào tình xưa.

Điều này có nghĩa là cậu càng dzui mí Thúy Vân chừng nào thì cậu lại càng nhớ thương Thúy Kiều chừng ấy. Chung tình đến như cậu mới thiệt là chung tình.

Công tử thề nhất quyết phải được gặp lại Thúy Kiều dù phải tốn bao nhiêu tiền của, mất mấy ngày đàng. Nhưng ta thấy công cuộc tìm kiếm người mất tích trong khi thi hành công vụ của cậu có vẻ hơi lửng lơ con cá vàng theo kiểu làm cho có:

Đinh ninh mài lệ, chép thư
Cắt người tìm tõi, đưa tờ nhắn nhe
Biết bao công mượn của thuê…

Công thì cậu mượn người khác làm. Tiền cậu bỏ ra thuê người khác thế, cậu ở nhà cậu phục thuốc mỗi ngày. Dường như Tố Như, người từng ca tụng Kim công tử với những lời hết xẩy: “Thông minh tài mạo tót vời. Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” và “Văn chương nét đất, thông minh tính trời” đến những đoạn về sau cũng có ý phê phán thái độ tìm kiếm bôi bác và “hoa thơm đánh cả cụm” của đương sự. Ta thấy ẩn ý của Tố Như trong hai câu:

Cắt người tìm tõi, đưa tờ nhắn nhe
Biết bao công mượn, của thuê…

Tìm kiếm, tìm gấp, tìm kỹ, tìm ra, tìm dzô, tìm về, tìm đi, tìm vợ, tìm hiểu, tìm chỗ, tìm vết… v… tìm gì cũng được nhưng “tìm tõi” nghe mới bôi bác làm sao! Đã “tìm tõi” lại còn “nhắn nhe”… Nhắn tin, nhắn miệng, nhắn nhủ, nhắn gì cũng được nhưng “nhắn nhe” nghe hổng được chút nào!

Việc dượng Kim Trọng lấy dì Thúy Vân không có gì xấu hay đáng chê trách hết. Không những không phải là việc xấu, việc đáng chê trách mà còn là việc làm thông thường của tất cả những ông anh rể quí trên cõi đời này. Những ông anh rể này không những chỉ thương yêu vợ mình mà còn thương yêu luôn cả hằm bà lằng những cô em vợ. Nhưng khi đã “vui duyên mới” rồi thì cậu không nên trình diễn những màn “dào tình xưa” nữa. Nhất là cậu đừng có mở miệng nói những câu đao to búa lớn:

Bình bồng còn chút xa xôi
Đỉnh chung sao nỡ ăn ngồi cho an.
Rắp mong treo ấn, từ quan
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha.
Giấn mình trong áng can qua
Vào sinh, ra tử họa là thấy nhau.

Cậu dọa treo ấn từ quan nhưng cậu hổng có làm thật, còn lâu cậu mới từ quan, treo ấn. Còn chuyện giấn mình trong áng can qua thì cậu giấn mồm thôi. Sức mấy cậu chịu liều mạng công tử bột vào sinh ra tử tìm Kiều.

Cậu mặt trơ trán bóng chạy tội bằng mấy câu:

Nghĩ điều trời thẳm vực sâu
Bóng chim, tăm cá biết đâu mà tìm.
Những là nấn ná đợi tin,
Nắng mưa đã biết mấy phen đổi dời.

Chèng đéc ơi! Nấn ná là năm bữa nửa tháng, một hai niên…. Nấn ná những đến mười lăm mùa lá rụng thì còn gì là tuổi xuân của con nhà người ta nữa? Sốt sắng bảo lãnh thì chỉ năm năm là đoàn tụ với nhau rồi. Nấn ná đến mười lăm niên mới chi vé máy bay cho em sang thì “còn tình đâu nữa, là thù đấy thôi”…

Thiên hạ nặng lời thề thốt, hễ mở miệng ra là “trăm năm”: Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương. Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai. Rằng trăm năm cũng từ đây. Trăm năm tính cuộc vuông tròn… Không những xài vung xích chó chữ “trăm năm”, người ta còn khiêng cả “ngàn năm” vào cuộc tình của người ta nữa: Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ

Nhưng chỉ số thời gian của những nhân vật Kiều không phải là “trăm năm” mà dài lắm chỉ vài năm, ngắn là nửa năm. Thời gian “nửa năm” được dùng thật nhiều trong Kiều:

Nửa năm hơi tiếng vừa quen
Sân ngô, cành bích đã chen lá vàng
Giậu thu vừa nẩy giò sương
Gối yên đã thấy xuân đường đến nơi.

Kỳ Tâm đến với Thúy Kiều ờ lầu Ngưng Bích những ngày đầu xuân, đưa nàng ra khỏi vòng khai thác của Tú Bà vào mùa hạ. Bây giờ là mùa thu, Thúc ông được tin cấp báo anh con bốc trời ăn chơi phá của quá cỡ thợ mộc vừa lấy cô vợ chơi bời, bèn hỏa tốc phóng xế về Lâm Tri phá đám:

Nửa năm hơi tiếng vừa quen” là nửa năm đầu tiên trong Kiều.

Thúy Kiều xuống giá cùng với thời gian. Mã Giám sinh mua nàng với giá bốn trăm lạng. Thúc Kỳ Tâm chuộc nàng với khoảng ba trăm lạng. Đến Từ Hải thì giá nàng chỉ còn khoảng trên dưới hai trăm. Nhưng thời gian Từ Hải sống chung với nàng thì vẫn thế, vẫn chỉ là “nửa năm”:

Nửa năm hương lửa đang nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.

Kỳ Tâm - Kiều nửa năm. Từ Hải - Kiều sáu tháng. Thời gian của cậu Kim Trọng mới thật ly kỳ. Khi tạm biệt Kiều để về Liêu Dương hộ tang ông chú lắm chuyện bày đặt đã không có con lại lăn đùng ra chết ở nơi xứ lạ quê người bắt anh cháu đưa đón, Công tử đau khổ hẹn nàng:

Ngoài nghìn dặn, chốc ba đông
Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy.
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.

Ta thấy rõ ràng Công tử nói: “Anh phải xa em đến ba mùa đông. Em chịu khó giữ nguyên chờ anh trở lại…” Nhưng sau đó ta lại thấy:

Từ ngày muôn dặm phù tang
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà
Vội sang vườn Thúy dò là…

Như vậy là đáng lý phải xa cây mít vườn Thúy đến ba niên, Công tử chỉ làm công việc phù tang qua quít - tiếng Tây bồi gọi là “qua loa rơ măng” - trong có sáu tháng là phú lỉnh trở về vườn Thúy. Kể ra công tử làm như dzậy cũng đúng thôi. Hộ tang gì mà đến những ba niên? Quá ư lãng phí thời giờ vô ích. Đến cái năm Gia Tĩnh triều Minh ấy, xã hội Ba Tàu đã tiến bộ văn minh rồi. Nam nữ không còn bị kềm kẹp trong những phong tục cổ hũ di truyền từ đời những ông Khổng Khâu, Mạnh Kha mới cưới vợ. Qua tác phẩm Kim Vân Kiều, ta thấy trai gái đời Gia Tĩnh triều Minh không còn tuân thủ cái luật gọi là “nam nữ thụ thụ bất thân” nữa. Kim Trọng - Thúy Kiều đã công khai gặp nhau ở nghĩa địa. Thời gian lúc ấy là buổi chiều tà tà bóng ngả về tây nhưng chiều tà cũng vưỡn là thanh thiên bạch nhật. Trinh nữ Thúy Kiều còn văn minh hiện đại hơn rất nhiều em trinh nữ Mít thời nay - những năm cuối cùng của thế kỷ hai mươi trần ai khoai củ - với việc nửa đêm nàng chui hàng rào sang vi-la Kim Trọng tự tình, thế thốt, ký hợp đồng hai chiều, cắt tóc, uống rượu, mần thơ, gảy đàn, lả lơi, xiêu xiêu v.v…

Nếu cứ theo đúng luật pháp cư tang do những ông nho chùm đời xửa đời xưa để lại thì lôi thôi, rắc rối đến cái độ người ta chẳng còn mần ăn chi được. Bố mẹ chết là anh con phải cư tang ba niên. Cư tang như thế nào? Phải sống như thế nào khi cư tang? Kể sơ thôi cũng thấy rợn tóc gáy, ớn cả da gà lẫn da vịt:

Phải làm nhà lá che phên cạnh mộ bố mẹ, phải ăn ngáo ở đầy liền tù tì trong ba niên. Trong ba niên ấy không được ăn thịt, uống rượu, cười cợt; không được đàn ca hát xướng - tất nhiên cư tang mà xem video, nghe CD là không được. Không được cả tắm, rửa mặt, gội đầu, đánh răng súc miệng trong ba niên. Xin nhắc lại: ba niên. Nặng nhất, tàn ác nhất, đau thương nhất là trong ba niên cư tang dài đằng đẵng hơn ba mươi thế kỷ ấy, anh con cư tang không được gần vợ lớn, vợ bé lẫn tình nhân. Nếu trong ba niên cư tang mà anh nào vô phúc làm vợ lớn, vợ bé có chửa là cuộc đời đi vào chu kỳ đen hơn mõm chó mực. Phạm cái tội bất hiếu tày trời này, can phạm sẽ bị dư luận chê bai. Nếu là thư ờng dân thì bị quan cai trị địa phương bắt nộp phạt. Nếu là quan lại tại chức mà phạm tội sẽ bị các ông Ngự sử đàn hặc, tâu lên nhà vua; đang là thái thú, thứ sử, tư mã, có thể bị giáng xuống chức chấp kích lang mặc áo dấu, đi chân đất, vác kích, súng hỏa mai, đứng ghếch cửa….

Nhưng… như đã nói, may quá, đó là chuyện đời xưa. Bỉ nhất thời, thử nhất thời… Đời ấy khác, đời này khác. Bộ hình luật cư tang ác ôn côn đồ ấy đã bị thủ tiêu nhẵn thín, còn chăng là trong những trang sách sử mốc thếch chẳng ai thèm đọc; có đọc, có viết lại thì cũng chỉ với mục đích nhắc cho nhau nhớ thời đại chúng ta con người đã sung sướng lắm rồi. Ít nhất những anh con chí hiếu đã có thể để tang, thương nhớ bố mẹ trong trái tim, cư tang suốt đời chứ không còn giới hạn ba niên ngắn ngủi nữa. Thực ra bọn đàn ông hèn nhát đã không có can đảm tự cởi bỏ những gông cùm, xiềng xích cư tang nếu không có những người đàn bà đứng sau lưng thúc đẩy họ. Những người phụ nữ đã dũng cảm quyết liệt phản đối cái luật ép buộc chồng, tình nhân của họ ba niên không được rửa mặt, gội đầu, xem xi-nê…

Sự kiện rõ ràng, không cãi bàn chi được là Kim Trọng đáng lẽ phải hộ tang xa ngàn dặm đến ba niên - như chính lời cậu nói - chỉ hộ tang có nửa năm là dzọt lẹ trở về Vườn Thúy.

Thời gian trong Kiều thực tế là mười lăm năm:

Mười lăm năm, tám cuộc tình
Bốn tên chết bởi cô mình oan gia…

Tuy người ta luôn miệng nói đến “trăm năm” nhưng trước sau, dài ngắn chỉ là mười lăm năm thôi. Trong mười lăm năm ấy có ba cái “nửa năm”:

Nửa năm hơi tiếng vừa quen
Sân ngô, cành bích đã chen lá vàng

Nửa năm hương lửa đang nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phư ơng.

Từ ngày muôn dặm phù tang
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.

Công tử Hà Đông tại ngục Chí Hòa vịnh Kiều, tính thời gian thiên hạ nói: “trăm năm” nhưng yêu nhau không dài quá năm năm: Thúy Kiều - Kỳ Tâm hai niên. Thúy Kiều - Từ Hải năm niên. Thiên hạ nói thì nhiều xong yêu chẳng bao nhiêu. Cảm khái, Công tử bèn mần thơ:

Mấy thu trăng đến chùa này
Mấy thu em ở, một ngày em đi.
Tình đi, người cũng từ ly
Vàng phai, đá nát còn gì nữa đâu.
Mấy thu trăng đứng trên đầu,
Mấy thu tơ đã phai màu vàng tơ.
Trăm năm thề đến bao giờ
Mấy thu người đã hững hờ chia tay.

Thề sao thì lại cứ sao…

Những nhân vật phụ trong Kiều cũng thề nguyền vung tán tàn. Cả ba anh Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh đều sẵn sàng thề nguyền và thề thật nặng. Đây là lời Mã Giám Sinh thề với ông bà Vương Viên Ngoại: “Nếu Mã Quy đem lòng phụ bạc lệnh ái thì thân này sẽ bị đao kiếm băm vằm ra muôn mảnh…”

Đây là lời thề của Sở Khanh: “Nếu ta phụ bạc nàng hay để cho nàng bị khổ nhục thì thân ta sẽ bị muôn ngàn sâu bọ đục khoét tơi bời…”

Và đây là lời thề của Bạc Hạnh: “Nếu tôi phụ bạc Vương Thúy Kiều tôi sẽ chết dưới một ngàn mũi đao…”

Tố Như chỉ tả sơ sơ cuộc ân đền, oán trả của Vương phu nhân chánh án tự phong:

Lệnh quân truyền xuống nội đao
Thề sao thì lại cứ sao gia hình.
Máu rơi, thịt nát tan tành
Ai ai trông thấy hồn kinh, phách rời.

Mơ hồ thôi. Nhưng nếu đọc tiểu thuyết Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Tử, ta thấy cuộc trả thù cực kỳ rùng rợn. Dưới đây là đoạn trích trong tác phẩm Truyện Kiều đối chiếu, bản dịch tiếng Việt của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm, sách do nhà Văn Hóa - phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa Việt Nam Cộng Hòa xuất bản năm 1971:

Một hôm Thúy Kiều kể những chuyện ân oán đến với nàng ở thành Lâm tri, Từ Minh Công nói:

- Ta sẽ cho năm vạn tinh binh đến quét sạch cái thành đó để trả thù cho phu nhân.

Thúy Kiều vội thưa:

- Chỉ có mấy tên Mã Bất Tiến, Tú Bà, Sở Khanh có tội mà thôi. Xin Đại vương ra lệnh cho tướng sĩ nhất thiết không được làm hại ai khác.

Từ Minh Sơn sai kiện tướng Sử Chiêu lãnh việc tế tác, mang một tiểu đội biệt kích giả làm thường dân vào thành Lâm Tri do thám. Đội biệt kích này phục sẵn quanh nhà Tú Bà, chở đại binh đến là ập vào bắt sống bọn tội phạm đem về xử. Sai Đại tướng Hạ Báo lãnh một đạo quân đến huyện Vô Tích bắt Hoạn Thư và bà mẹ là Kế Thị, bắt bọn gia nhân Hoạn Ưng, Hoạn Khuyển và hai tên Bạc Hạnh, Bạc Bà, vãi Giác Duyên ở Chiêu Ẩm am, bà quản gia nhà họ Hoạn thương xót Hoa Nô lén cho bông băng, cho thuốc, được lệnh quân mời đến như thượng khách.

Ngày tổng khởi binh tiến đánh Lâm tri, Từ Hải dành cho Thúy Kiều chủ tọa việc trọng đại là thệ sư. Truyện tả:

“Vương phu nhân đứng trên đàn rót rượu thệ sư, tướng sĩ nhất tề quì gối. Phu nhân khấn:

- Trời thẳm, đất dày xét cho lòng tôi. Núi cao, sông dài xin biết dạ này. Tôi là Vương Thúy Kiều, không may cha bị vu oan, phải bán mình chuộc tội, gặp phải bọn Mã Bất Tiến, Tú Bà, Sở Khanh, Hoạn Thị, Kế Thị, Bạc Hạnh, Bạc Bà bày mưu hãm hại. Nay nhờ uy linh Từ công, cất quân báo thù. Trước xin cáo với trời, đất, thần minh; sau xin xuất phát. Toàn thể ba quân chớ ngại cần lao, hãy vì ta mà phấn khích…

Hồi trống hiệu nổi lên, đội binh sĩ cầm cờ màu làm hô lớn:

- Giải bọn phạm nhân Vô Tích vào tòa.

Hạ Báo dẫn Hoạn Thư, Kế Thị, Khuyển, Ưng, Bạc Bà, Bạc Hạnh vào quì dưới sân.

Vương phu nhân chánh án tuyên bố tội trạng:

- Mụ Bạc đẩy người vào cạm bẫy, tên Bạc Hạnh bán người lương thiện vào nhà bất lương. Chặt đầu mụ Bạc nêu lên ngọn cây, tên Bạc Hạnh sẽ chịu tội theo đúng lời thề của mi. Mi sẽ bị đao kiếm băm vằm nát thân thể, lấy thịt đem cho ngựa ăn.

Đao phủ dạ ran, lập tức lôi Bạc Bà ra chặt đầu. Bạc Hạnh bị bó chiếu tròn như bó củi, ngoài quấn dây thừng thật chặt. Đao phủ dùng cưa cưa Bạc Hạnh từ chân lên đầu thành hơn một trăm đoạn. Xong, đem thịt Bạc Hạnh trộn với cỏ cho ngựa ăn.

Kế đó gọi đến phạm nhân Hoạn Thư.

Hoạn Thư gục đầu trên sân lạy van:

- Xin phu nhân tha mạng cho con đàn bà hèn hạ này…

Vương phu nhân nói:

- Hoạn tiểu thư… Ta cũng phải nhận chị là người nhiều mưu chước và có gan chịu đựng. Nhưng ở đời người ta đối xử với nhau còn có chút tình. Nay chị gặp lại ta nhất định không thể sống được.

Hoạn Thư khấu đầu lia lịa:

- Tội của tiện thiếp thật đáng muôn chết. Chỉ xin phu nhân nhớ lại giùm. Khi phu nhân viết tờ cung trạng tiện thiếp cũng động lòng thương xót, tiện thiếp đã để phu nhân ra viết kinh, niệm Phật ở Quan Âm Các. Rồi khi phu nhân bỏ đi, tiện thiếp không cho đuổi theo. Qua những việc làm ấy, chắc phu nhân cũng thấy trong lòng tiện thiếp vẫn kính yêu phu nhân chỉ vì chuyện chẳng đặng đừng xui tiện thiếp gây nên tội lỗi.

Vương phu nhân suy nghĩ rồi phán:

- Ta chỉ muốn lột da chị, ăn thịt chị để tiêu mối hận của ta. Nhưng chị nói cũng đúng. Nay ta tha chết cho chị vì khi ta đi chị đã không đuổi theo. Nhưng còn tội sống thì chị phải chịu.

Phu nhân lại nói:

- Những tên nào sang Lâm Tri bắt cóc ta? Khai thực đi. Những tên đó sẽ gành bớt một phần tội lỗi cho chị.

Hoạn Thư cúi đầu thưa:

- Tiện thiếp sai hai gia nhân Hoạn Khuyển, Hoạn Ưng sang Lâm Tri. Nhưng chúng chỉ là bọn thi hành mưu kế. Người chủ mưu là tiện thiếp. Chúng chỉ làm theo lệnh tiện thiếp. Nếu bắt chúng gánh tội thay thì tiện thiếp không nỡ.

Phu nhân khen:

- Khá lắm. Đến lúc này chị còn dám nhận hết cứu oán vào một mình chị ư?

Phu nhân truyền đao phủ đem hai tên Ưng, Khuyển ra chém đầu để cảnh cáo bọn hào nô, làm tiền án răn đe không cho bọn nô bộc hung hãn cậy thế nhà chủ, theo lệnh chủ, làm hại người khác.

Phu nhân truyền đánh Kế Thị - tức Hoạn bà, mẹ Hoạn Thư, vợ cố Tể tướng - ba mươi roi. Hoạn bà bị nọc cổ ra bắt nằm sấp. Hoạn Thư ôm chầm lấy mẹ xin chịu đòn thay. Mụ quản gia, người có ơn nghĩa với phu nhân năm xưa khi phu nhân là Hoạn nô, cũng quì xuống xin:

- Kính thưa lệnh bà, tội của bà chủ tôi thật không thể tha thứ. Tôi là tôi tớ của chủ tôi, xin được chết thay cho chủ.

Phu nhân phán:

- Vì bà quản gia, ta tha cho mụ Hoạn. Bà lãnh mụ đi khuất mắt ta.

Mụ quản gia tạ ơn, rồi vựa Hoạn bà ra ngoài tòa. Hoạn bà tuổi đã ngoài sáu bó, lại là một vị nhất phẩm phu nhân, cả đời không bao giờ bị cực khổ đến thân, nay bị bắt từ huyện Vô Tích giải đến Lâm Tri, chịu bao nhiêu khổ sở, lại thấy cảnh chém đầu, cưa thân người quá đỗi ghê gớm nên tuy được tha vẫn đứng tim chết ngay. Mụ quản gia đành ngồi canh thi thể bà chủ.

Phu nhân truyền lệnh cho bọn cung nữ trị tội Hoạn Thư bằng cách lột trần, treo lên, đánh một trăm roi.

Cung nữ dạ ran, túm tóc Hoạn Thư lôi ra, lột hết áo quần, chỉ để một cái khố. Tóc Hoạn Thư bị buộc lên cây xà ngang, hai tay, hai chân bị buộc dây kéo dang ra. Hai cung nữ khỏe mạnh cầm roi ngựa. Một em đứng trước, một em đứng sau, cứ thế quất roi lên trước mặt, sau lưng Hoạn Thư.

Hoạn Thư như con đỉa bị bỏ trong thùng vôi, như con lươn trong nồi nước nóng, quằn quại, rên la. Toàn thân trước sau chẳng còn miếng da nào lành lặn.

Cung nữ báo cáo đã đánh can phạm đủ một trăm roi, phu nhân truyền lệnh đưa can phạm ra cho chồng nhận lãnh.

Cung nữ cởi tóc Hoạn Thư, lôi ra ngoài giao cho Thúc Kỳ Tâm. Thúc Kỳ Tâm thấy Hoạn Thư toàn thân rách nát, chỉ còn thoi thóp thở, bèn cảm khái mà than rằng:

- Em ơi, cái thông minh sắc sảo của em nó làm em rước tai họa vào thân. Tự em cầm dao cắt thịt em đấy.

…..

Cai tù giải bọn Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh vào tòa.

Phu nhân ngồi trên cao hỏi xuống:

- Tú Bà, mi có biết ta là ai không?

Tú Bà quì mọp:

- Thưa lệnh bà, tôi không được biết.

Phu nhân thét:

- Ngóc đầu lên nhìn xem ta là ai…

Cai tù túm tóc Tú Bà kéo giật ra đằng sau. Tú Bà nhìn lên mới nhận ra lệnh bà là Vương Thúy Kiều:

- Xin lệnh bà tha cho…

Phu nhân cười lạnh:

- Lúc này mi còn mơ tưởng đến chuyện sống ư? Lời mi thề với ta năm xưa mi quên rồi sao?

Lệnh bà truyền:

- Lôi con mụ này ra, lấy dầu nhựa tông đun sôi tẩm lên người nó, dựng ngược đầu nó xuống đất, chân chổng lên trời, châm lửa đốt như ngọn đèn trời đúng như lời nó thề ngày trước.

Mã Bất Tiến - tức Mã Giám Sinh, tội nhân đứng đầu bảng can phạm Lâm Tri - bị kẹp chân tay vào những mảnh gỗ, căng thẳng, bị đao phủ dùng dao rạch da, moi gân ra cắt cho toàn thân rã rời đúng với lời gã thề.

Trong sân tòa án còn một vạc dầu thông trộn vỏ cây gai nấu sôi sùng sục, một vạc nước lạnh. Sở Khanh bị lôi đến giữa hai cái vạc này, bị lột quần áo, trói quì vào cây cột. Một cai tù múc dầu thông sôi tưới lên người Sở Khanh, một cai tù múc nước lạnh tưới theo.

Tú Bà bị quấn thành cây sáp lớn, Mã Giám Sinh bị căng xác, Sở Khanh trần truồng bị trói như con heo chờ đợi nước sôi cạo lông.

Vương phu nhân ban lệnh:

- Hành hình…

Lửa được châm vào cây sáp Tú Bà.

Mã Giám Sinh bị khoét thịt, đao phủ dùng lưỡi câu móc gân ra cắt. Xác Mã Quy bị quăng ra biển cho cá nóc ăn.

Sở Khanh bị tưới dầu nhựa thông sôi rồi tưới nước lạnh, thân thể biến thành cây thịt bầy nhầy máu mủ. Quân sĩ bóc miếng vỏ gai trên đầu gã xem gã còn sống hay đã chết, óc gã nhoe nhoét chảy ra ngoài…

Trạc Tuyền em có…

Bọn bất lương ác ôn chúng nó hại đời em, chúng nó làm hại đời em, chúng nó làm em đau khổ, em trả thù chúng nó khi em lên bà cũng được đi. Nhưng em trả thù mà em hành hạ chúng khủng khiếp đến như thế cũng là quá đáng đấy.

Vương Thúy Kiều tài sắc, trinh nữ, đa tình, đàn địch, thơ phú… bị lường gạt, bị gã lưu manh dân đãng hạ cấp phá trinh bị bắt làm gái chơi không phải là một lần mà những hai lần. Kiều bị bắt cóc, bị đánh đến tóe máu, phải tự tử đến những hai lần - một lần dao đâm cổ, một lần nhảy sông. Bị bắt làm con hầu, đày tớ, Vương Thúy Kiều có quyền trả thù nhưng làm cho kẻ thù phải đau đớn quá chừng thì cũng không nên, huống chi là ni cô Trạc Tuyền.

Ni cô cũng hai lần ở chùa gõ mõ tụng kinh. Một chùa Quan Âm các, một chùa Chiêu Ẩm am. Không những chỉ ở chùa đốt nhang đèn, gõ mõ, tụng kinh, ni cô còn chép kinh nữa. Ni cô tu ba niên ở Quan Âm các, ít nhất cũng một niên ở Chiêu Ẩm am. Bốn mùa lá rụng chứ có ít ỏi gì đâu. Tốn biết bao nhiêu nhang đèn. Nghe nói ni cô thông tuệ khác thường chắc ni cô phải thấm nhuần ít nhiều giáo lý từ bi hỉ xả nhiệm màu của đạo pháp. Cũng nghe nói ni cô đã được giọt nước cành dương tưới tắt hết mọi lửa lòng. Vậy mà sao ni cô lại hành hạ người ta tàn ác quá đến như thế?

Thịt da ai cũng là người
Lòng nào hồng rụng, thắm rời chẳng đau.

Khi chưa dzô cửa thiền, ni cô đã biết chân lý ấy. Người khác hành hạ, tra tấn ni cô làm ni cô đau đớn, ni cô cũng hành hạ, tra tấn người khác làm cho họ đau đớn thể xác hơn ni cô gấp bội. Vậy thì oan trái làm sao mà giải được? Ni cô phải đánh đàn cho nó nghe, chuốc rượu cho nó uống, phục vụ nó trong giường, rồi ni cô nhảy sông tự trầm là đáng lắm…

Sợ thay cho Thúy Kiều! Nợ máu kiếp này em không trả, em phải trả kiếp sau. Công tử Hà Đông bùi ngùi nghĩ đến chuyện phải chi lúc lệnh bà đang hung hăng con bọ xít hành hạ bọn Mã, Tú, Sở, Bạc… Công tử gọi nàng một tiếng:

-Trạc Tuyền!

Biết đâu nàng lại chẳng “hoắc nhiên đại ngộ” mà tha chết cho bọn tội nhân, nhờ vậy nàng thoát được cái gọi là nợ máu, tiền oan, túc trái. Biết đâu đấy? Kinh điển ghi chép chuyện có nhiều sư ông tu hành cả đời không biết mùi thịt đàn bà, da con gái ra nàm thao nhưng vưỡn cứ u mê mờ mịt. Bỗng một hôm sư ông quét vườn sau chùa, cây chổi quét mảnh sành văng vào gốc trúc, phát ra một tiếng “keng”. Thế là sư ông “hoắc nhiên đại ngộ” và sau đó nghiễm nhiên trở thành bồ tát.

Chuyện có thật mới được ghi vào kinh điển để lại cho đời sau chứ. Phải tin. Không tin là báng bổ. Vậy thì chỉ một tiếng mảnh chai văng dzô gốc tre và một tiếng “keng” thôi, sư ông kiếp tu hành nặng như đá đeo còn “hoắc nhiên đại ngộ”, huống chi cả một tiếng kêu thảng thốt:

-Trạc Tuyền!

Tiếc thay, Công tử Hà Đông đã không kêu lên được tiếng ấy cho nàng tỉnh ngộ. Rất có thể lúc ấy Công tử đang tá hỏa tam tinh, tối tăm mặt mũi, tay chân lập cập, đầu gối lỏng le lỏng lét, ngồi chồm hổm bên cạnh thân xác nát bét của em Hoạn Thư…

Điều biết chắc là đã không có ai gọi lớn tiếng “Trạc Tuyền” bên tai Chánh án Vương Thúy Kiều. Vì không ai gọi nên không có tiếng gọi, vì không có tiếng gọi thiêng nên Vương Thúy Kiều Trạc Tuyền đã không có cơ duyên “hoắc nhiên đại ngộ” mà quên hết oán thù, tha bổng tất cả các can phạm. Nếu nàng làm thế nàng đã không phải nhắm mắt nhảy xuống sông Tiền Đường.

Oán còn kết, oán chưa thôi
Trạc Tuyền, em có bồi hồi không em?

Em giết oan hai gia nô Hoạn Ưng, Hoạn Khuyển - họ Hoạn ban đặc ân cho hai gia nô trung thành, đắc lực được mang họ Hoạn - em không thể lấy lý do “giết chúng để làm cho bọn gia nô những nhà quyền quí khác kinh sợ”. Em không thể ngang nhiên dùng sinh mạng của người khác vào việc thực hiện những ý muốn riêng của em. Em đã hành hạ quá tàn ác bọn Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Bạc Hạnh, Bạc Bà… Những nạn nhân của em oán hận em. Em luân hồi trở lại nhân gian, bọn nạn nhân của em cũng luân hồi trở lại nhân gian như em vậy. Chúng đi khắp chân trời góc biển tìm em. Bi giờ, Trạc Tuyền… anh chắc em đã hiểu tại sao kiếp nào em cũng đoạn trường…

Ai ơi chớ có dại mà thề…

Sự kiện những anh Mã, Sở, Bạc… thề thốt vung xích chó rồi lãnh búa thê thảm, rùng rợn vì những lời thề độc ấy làm cho Công tử Hà Đông kinh sợ đến tắt ngúm đốm lửa lòng le lói.

Bài học luân lý giáo khoa thư lớp đồng ấu rút ra được từ những anh Mã, Sở, Bạc lẻo mép, miệng lưỡi dẻo quẹo chuyên môn thề thốt nặng lời là: Đừng có bao giờ thề. Nhất là đừng có dại mà thề với đàn bà, kể cả đàn bà đẹp vừa vừa với đàn bà đẹp ghê gớm…

Thề độc mà gặp giờ thiêng thì thân bại danh liệt, cuộc đời ái tình và sự nghiệp của mình chỉ từ chết ngoắc ngoải đến chết quằn quại chứ không thể nào khá được.

Nếu bắt buộc phải thề thì ta nên thề những câu vô thưởng vô phạt như vầy: Anh mà nói dối em thì anh làm con chó cả đời nằm dưới chân giường em…

Thề như vậy may ra còn được nàng để sống, đôi khi được nàng vuốt ve, nàng cho ăn bơ ăn sữa, nàng mang đi tắm…

Đừng có dại mà thề: Anh mà nói dối em thì máy bay nó cán anh. Đừng có thề như thế. Có ngày máy bay nó cán cho dẹp lép như cái bánh tráng!

Sóng tình em đã…

Người đời quen bốc thơm, nâng bi Vương Thúy Kiều. Đây là thói quen a dua của đám đông. Nhưng yêu thương Kiều là một chuyện, đề cao những cái hay thì cũng phải xét đến những cái dở của Thúy Kiều. Đừng có nhắm mắt hếch mũi hít lấy hít để: Bất cứ ký gì của em cũng thơm ơi là thơm!

Những anh văn nô Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nồng nhiệt đề cao Thúy Kiều, nhắm mắt ca tụng Thúy Kiều hăng tiết vịt hơn những anh dzăng sỡi tư bản rất nhiều. Những năm u ám ở thành Hồ tôi từng đọc những dòng văn Xuân Diệu viết: “Với hành động nửa đêm sang nhà Kim Trọng tự tình, Thúy Kiều đã hiên ngang dẫm đạp lên lễ giáo phong kiến…” Đại ý cái câu ca tụng hăng say dì sư cụ ấy là vậy. Tất nhiên câu tôi vừa kể đây không nhất thiết là nguyên văn trong bài ca tụng Thúy Kiều của Xuân Diệu. Dường như đương sự còn tưởng tượng: “… Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường… trong đêm trăng ấy là những bước chân đạp lên mặt bọn đạo đức phong kiến…”

Tôi không thấy bực bội mà chỉ thấy buồn cười. Khỉ nắm! Nâng thì cũng nâng vừa phải thôi. Nâng quá người được nâng cũng khó chịu đấy. Ca tụng Thúy Kiều ký gì cũng được nhưng việc em nửa đêm chui lỗ chó sang nhà con trai tự tình thì hổng có thể nào ca ngợi được. Lễ giáo đời nào cũng vậy thôi. Lễ giáo thì không thể chia lễ giáo phong kiến, lễ giáo tư sản, lễ giáo vô sản. Lời khuyên, luật cấm con gái còn trinh cho thằng đàn ông - dù có yêu thằng ấy đến đâu chăng nữa - làm tình vung xích chó trên thân xác mình chính là để bảo vệ quyền lợi của người con gái. Bảo vệ quyền lợi chứ sao lại không? Giữ cho người con gái khỏi khổ sở, khỏi làm hại chính mình… có chi là xấu? “Nó chơi no nó bỏ tro vào“, đấy là lời vàng ngọc của các bà mẹ Bắc kỳ ngày xưa vẫn ra rả nói ngày đêm sáng tối vào lỗ tai những cô con gái.

Đúng vậy, thưa quí vị. Năm nay mái tóc không còn xanh nữa, tôi thấy lời khuyên ấy chí lý. Dù hung hăng con bọ xít đến mấy đi nữa, ta cũng không thể tán thành được việc Thúy Kiều nửa đêm mò sang nhà Kim Trọng. Đọc những lời ngớ ngẩn ca tụng việc làm này của Thúy Kiều, tôi vẫn cười tủm tỉm thầm hỏi những anh nâng bi:

- Anh tán thành việc vợ người ta, con gái người ta nửa đêm trèo tường, chui lỗ chó sang nhà đàn ông tự tình? Đây là vợ người, con người. Nhưng nếu vợ anh, con anh nửa đêm cũng trèo tường, chui lỗ chó sang nhà thằng phong tình bên cạnh, anh nghĩ sao?

Tất nhiên là anh sẽ thượng thổ, hạ tả, anh tối tăm mặt mũi, anh hộc ra mấy búng máu tươi, anh lăn đùng, ngã ngửa, anh giẫy đành đạch là cái chắc!

Người con gái khi về nhà chồng - chẳng còn ký gì sất - chỉ còn mối tình mang theo. Miệng chồng em gắn trên môi, Hình anh mắt ấy sáng ngời còn ghi… thơ mộng ra rít. Nhưng “người con gái mang theo mối tình về nhà chồng” ấy là vợ người ta, hổng phải vợ tui. Vợ tui về mí tui mà mang theo hình ảnh thằng đàn ông khác, khi nàng để tui hun mà nàng tưởng thằng khốn nạn đó hun nàng thì tui buồn lắm, tui hổng có chịu đâu!

Nam đáo nữ phòng năm tắc đạo
Nữ đáo nam phòng nữ tắc dâm.

Quân tử Tàu đã có nhận xét ấy từ ngàn xưa, ít nhất là hai ngàn năm nay rồi. Nhưng cho đến bi giờ, thời gian chúng sinh hí hửng và sầu buồn lê gót vào cái gọi là “đệ tam thiên niên kỷ”, đã có ai chứng minh được nhận xét đó là sai?

Gã con trai mò vào phòng ngủ người con gái không phải là “dzô coi chơi cho biết” mà chỉ là với mục đích lấy cắp, lấy trộm. Có thể lấy trộm nhiều thứ. Cứ gì cứ phải lấy tiền, nữ trang mới là lấy trộm! Còn chị con gái tự ý dấn thân vào phòng thằng đàn ông thì… y thị mò dzô làm chi trẻ con lên ba nó cũng dư biết.

Thúy Kiều lẳng lơ quá chời. Vừa gặp Kim Trọng ở nghĩa trang Bắc Việt, nàng đã mơ tưởng ái tình đến nơi đến chốn. Khi vờ vẫn để cho cành kim thoa mắc trên cành cây cho Cộng Tử Bột chuyên ve gái nghĩa địa vớ được và đi tìm, khi Công Tử Bột thò đầu lên ở bên kia tường đất, Thúy Kiều đã đứng lại tiếp chuyện ngay thay vì hổ thẹn quay về như tuyệt đại đa số những nàng trinh nữ khác. Vào thời Công Tử Hà Đông còn bé, mới lớn - đích xác là những năm 1940 của thế kỷ này - kể cả những năm 50, những nàng thiếu nữ Việt Nam chính cống vẫn đỏ mặt, líu lưỡi không nói năng gì được khi bất ngờ có thanh niên chặn lại thả lời ong bướm giữa đường. Thiếu nữ Việt Nam ta đàng hoàng như vậy chứ, đâu có…

Không những chỉ ái tình qua tường đất mà thôi, Thúy Kiều còn hung hãn chui rào sang nhà Kim Trọng. Đã sang buổi chiều, chưa đã; chín giờ tối khi trăng lên nửa trời nàng lại bổn cũ soạn lại, phăng phăng sang với Kim Trọng lần thứ hai. Lần này thì nàng mần nhiều trò với Kim Trọng: thề thốt, ký hợp đồng, cắt tóc, uống rượu, đàn địch…

Công Tử Bột Kim Trọng đêm ấy làm nhiều việc có làm cũng được mà không làm cũng chẳng sao. Nhưng cậu lại không làm cái việc cần làm nhất mí Kiều. Như Công Tử Hà Đông lỡ chuyến xe đò bay USIS ngày ba mươi tháng tư 1975, phải cầm vé chờ standby đến hai mươi năm trời; Công Tử Bắc Kinh không mau tay mần cái việc cần mần ngay đó đã phải chờ đến mười lăm năm sau mới được lên chuyến tàu vét.
Vì sự cay đắng ấy, Công Tử Hà Đông rút từ bài học “Kim Trọng lần khân” công thức luân lý giáo khoa thư lớp Đồng Ấu:

Trời cho thì phải vồ ngay
Để dành, để sọt có ngày xót xa.

Cuộc tự tình Thúy Kiều - Kim Trọng ở trong vườn Lãm Thúy có nhiều chi tiết mâu thuẫn, không hợp lý. Thúy Kiều dấn thân đến, làm đủ thứ việc nhưng đến việc chính thì nàng lại ẹo ẹo: “Em chã… em chã…” Ngược đời và lố bịch nhất là chính nàng lại đi nói những lời lễ nghi quân cách khuyên Kim Trọng không nên mần tới. Kỳ dzậy! Bất cứ người đàn bà, con gái nào trên cõi đời này cũng có thể nói ra những lời như lời ông Khổng Tử và của ông Khổng Tử, nhưng Thúy Kiều trong đêm hôm đó thì không thể. Chính nàng khêu gợi Kim Trọng, nàng tự ý đưa đến tận mồm Kim Trọng rồi cũng chính nàng lại duỗi ra: “Đừng… Hổng nên làm tới… Đến đây thôi… Hổng tiếc đâu, nhưng mà… để dành…”

Những đêm tại ngục ở thành Hồ, Công Tử Hà Đông nằm tình tang mần thơ hỏi Thúy Kiều:

 Tấm yêu

Hoa thương càng tỏ thức hồng
Đầu mày, cuối mắt càng nồng tấm yêu…

Tấm yêu là tấm yêu kiều
Tấm yêu em phủ lụa điều, em mang
Tấm yêu em giá ngàn vàng
Sao em lại để bày hàng coi không?
Hoa hương em tỏ thức hồng
Đầu mày, cuối mắt em nồng tấm yêu
Sóng tình em đã xiêu xiêu
Em trong âu yếm có chiều lả lơi
Chính em, em lấy làm chơi
Gài cho em nói những lời ba hoa
Ấy là ngôn ngữ người ta
Thầy Nhan, cụ Khổng phải là em đâu?
Đang xi-nê, giở tuồng Tàu
Ngang ngang tức muốn phát rầu Tố Như!

Lả Lơi

Sóng tình dường đã xiêu xiêu
Xem trong âu yếm có chiều lả lơi…

Lả lơi thì lả cả đôi
Cả đôi cùng lả, cùng lơi mới là
Lả lơi, lơi lả đôi ta
Đôi ta cùng lả mới là lả lơi.
Lả lơi đang lả cả đôi
Bỗng dưng em nói những lời linh tinh:
“Đã cho vào bực bố kinh
Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu”
Vẩn vương toàn chuyện đâu đâu
Đem ông Khổng Tử chặn cầu ái ân.
Xét tình lý, thấy phân vân
Nghe sao nằng nặng, tần ngần chẳng ra.
Đang âu yếm, nói ba hoa
Ấy là Kiều Thúy hay là Khổng Khâu?

Nam Mô Bồ Tát Thị Mầu…

Vương Quan làm tri huyện, Kim Trọng tri phủ - những chức vụ tri huyện, tri phủ này về tay hai cậu này thì, chẳng cần là thầy bói, ta cũng biết cái gọi là hậu vận của năm Gia Tĩnh triều Minh ấy nó đen hơn mõm con chó mực. Khi hai cậu đưa vợ con, ông già bà lão đi đến địa phương trị nhậm qua sông Tiền Đường ghé lại lập đàn giải oan cho Thúy Kiều, tình cờ gặp vãi Giác Duyên bánh xe lãnh tử đi qua tò mò ghé vào…

Do đó mà Kim Trọng gặp lại Thúy Kiều: chuyện đó biết rồi… khổ lắm… nói mãi… Khi cho Mercedes đến chùa tạm bên sông đón Thúy Kiều về phủ đường, Kim Trọng được thành hôn với Thúy Kiều. Cô dâu chú rể cùng nhau làm tất cả những nghi thức hôn nhân chuẩn bị tốt đẹp cho việc làm tối hậu của vợ chồng: giao bái, tức là chàng và nàng mặc áo thụng vái lẫn nhau, mời nhau uống rượu, bâng khuâng, ngậm ngùi, duyên mới, tình xưa, sen ngó, đào tơ, mười lăm năm ấy bi giờ đêm nay, tình duyên, hợp tan, bi hoan, trăng sao, đèn nến, má đào, môi thắm, tình nhân lại gặp tình nhân, hoa xưa, ong cũ, tình chung… hằm bà lằng xíu oắt đủ thứ. Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh linh tinh không món nào thiếu…

Vô lý và phi lý, bất hợp lý, phản lý, loạn lý, bí lý, nhảm lý nhất là đến lúc đưa nhau vào đến giường rồi, đã ngả đâu lên gối rồi, cô dâu đa tình, khêu gợi quá chời quá đất lại nói: “Giẽ ra cho thiếp, bi giờ thiếp tu…”

Tôi dám nói quyết, tôi dám cá một đô ăn một triệu đô trên cái cõi đời này không có cô dâu nào đến cái lúc ấy còn nói một câu như thế. Cũng trên cái cõi đời này nhất định không có chú rể nào đến cái lúc ấy còn chịu nghe cô dâu nói như thế là xoay chiều đổi sang chủ nghĩa khác, có lập tràng khác hẳn. Thế rồi đôi vợ chông chay tịnh, không hề chung chăn chung gối mí nhau - nói gần nói xa chẳng qua nói thật - đôi vợ chồng có cưới hỏi, động phòng đàng hoàng nhưng đêm đêm không hề mần tình mí nhau, cứ chung sống một nhà, cứ rượu chè, đàn địch, cứ ngày xem hoa nở, đêm chờ trăng lên, cứ ra vô đụng chạm nhau mà vẫn hổng có gì mí nhau sao?

Khi chén rượu, khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên.
Ba sinh đã phỉ mười nguyền
Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy.

Xin lỗi. Liên hệ đàn ông, đàn bà mật thiết chẳng bao giờ là tình bạn cả. Nhưng thôi. Ta trở lại với cái gọi là “mười nguyền” được gán cho Kim Trọng. Kim Trọng được hưởng đủ “mười nguyền” ư? Chín thôi. Cái “nguyền” nặng ký nhất, quí nhất, cần được nhât thì Kim Trọng lại phèo.

Vì vậy nên có thơ rằng:

Mười nguyền

Mặt nào ăn bớt nhau đây
Mười nguyền mà có ngần này thôi ư?
Đã cho chén rượu, cuộc cờ
Cho xem hoa nở, cho chờ trăng lên.
Mười nguyền cho đã chín nguyền
Thúy Kiều nào phải Trạc Tuyền mà không!
Xá gì một chiếc gối bông
Xá gì nửa mảnh khăn hồng chẳng cho?
Sao em khéo vẽ bày trò
Cái trinh em cứ mần to tày đình.
Ráng trinh… ờ cũng rằng trinh
Cái trinh đã vậy, cái tình thì sao?`
Thôi em đừng nói tào lao
Đào nguyên có chịu cho vào hay không?

Là vông thì hẳn là vông
Nửa vông nửa lá ngô đồng… ngứa tay.
Cầm, kỳ, thi, tửu kiểu này
Lửa rơm anh đố cô mày chẳng cho.

Nam-mô Bồ-tát Thị Mầu

Sao em trong ngọc, trắng ngà
Dày dày em đúc một tòa thiên nhiên
Đào hoa trong bấy nhiêu niên
Mà em ăn nói nghe phiền lắm thay
Mới ba mươi tuổi trao tay
Tu gì được cái tuổi này mà tu?
Em đòi em khép phòng thu
Đêm thu gió lạnh nó cù em mở ngay.
Hay gì chuyện đó mà hay
Em tu không khéo có ngày em hỏang chưa.
Tu mà uống rượu, đánh cờ
Tu xem hoa nở, tu chờ trăng lên.
Em tu cho phỉ mười nguyền
Cho tình em đượm, cho duyên em nồng.
Tu mà làm lễ tơ hồng
Tu mà hoa chúc, động phòng sánh đôi.
Tu mà dìu dặt chén mồi
Bâng khuâng kinh cũ, bồi hồi kệ xưa.
Em tu từ sen ngó, đào tơ
Mười lăm năm em tu đã bi giờ em lại tu…

ầu… ơ… ví dầu…
Cá lóc thì nầu canh chua
Em đi ở chùa, ai đẻ con anh?
Em tu em độ chúng sanh
Em ăn thịt mỡ, dưa hành ở đâu?
Em tu mà tóc đầy đầu
Nam Mô Bồ Tát Thị Mầu… em tu!

Tu vào, tu ra…

Trồng trầu thì phải khai mương
Tu sao cho vẹn mọi đường thì tu.
Tu thì khóa cửa phòng thu
Lằng nhằng nửa tục, nửa tu thêm phiền.
Lửa lòng em đốt nhân duyên
Thì thôi đừng có Trạc Tuyền sang ngang.
Tu hành cấm kỵ hở hang
Sắc không em cứ bày hàng em chơi.
Màu thiền cho má em tươi
Mùi thiền cho miệng em cười thêm xinh.
Nam mô khóe mắt em tình
A di đá Phật… cô mình như hoa.
Trăm năm trong cõi người ta
Tu là cội phúc, tình là dây oan.
Dây oan em giữ cho ngoan,
Đào hoa em chớ phàn nàn làm chi.
Dở dang nào có hay gì
Đã yêu yêu trót qua thì thì thôi.
Dở yêu tội chỉ một đời
Dở tu tội mấy đời người đó em.
Kệ kinh em thuộc lem nhem
Lam nham lá bối, lèm nhèm phướn mây.
Yêu nhà em tội đã đầy
Yêu chùa em mắc tội này bằng ba…

Chém cha cái số đào hoa
Tu vào thì ít, tu ra thì nhiều.

Em bỏ chùa này

Phù vân… chỉ là phù vân
Yêu thì yêu cũng có ngần ấy thôi…

Tất cả những cuộc tình của Thúy Kiều đều dang dở, đứt đoạn, đau khổ nhiều hơn sung sướng; tai họa, oan khiên nhiều hơn hạnh phúc, hoan lạc. Và tất cả những lời thề thốt sống chết mí nhau, không bao giờ bỏ nhau, chờ nhau mãi mãi đều chỉ là những lời thề thốt vẩn vương mà những người thề nguyền vẫn nhớ nhưng không giữ được.

Tóc tơ căn dặn tấc lòng
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây, cuối trời.
Cùng nhau trót đã nặng lời
Dẫu thay mái tóc dám rời lòng tơ.
Đã nguyền hai chữ đồng tâm
Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai…

Mái tóc không thay, mái tóc em còn nguyên mái tóc ngây thơ ngày ấy, chỉ có cái khác là giờ đây mái tóc phu nhân mượt mà hơn, ta gặp lại nhau giữa phố đông “Em đi ríu rít bên chồng bên con” … Anh cũng chẳng khá gì hơn em. Anh cũng…

Tuyệt đại đa số những cuộc tình đầu đều không đi đến nơi đến chốn. Rất hiếm thấy những người yêu nhau tình đầu trở thành tình vợ chồng chung sống, yêu thương, gắn bó mí nhau suốt đời. Cũng có. Nhưng thật ít…

Nâu sòng từ trở màu thiền
Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu.

Ngày em bận áo cà sa đóng vai ni cô tị nạn ái tình ở Quan Âm Các, trăng thu đến trên sân chùa những hai ba lần, tức là hai ba mùa thu, hai ba niên. Khi em đi trăng thu vẫn trở lại sân chùa nhưng không còn em ở đấy nữa… Trên sàn xi măng phòng mười khu ED Lầu Bát Giác Chí Hòa, anh tưởng tượng anh đến sân chùa đứng cô đơn dưới ánh trăng thu…

Anh tưởng nhớ hình ảnh ni cô đa tình mắt sáng, môi hồng nay không biết đang cho tên đàn ông đẻ bọc điều, tu mười kiếp nào hưởng vòng tay ấm. Anh nhớ em và anh mần thơ:

Em bỏ chùa này

Vàng trăng trăng nhuộm vàng ngâu
Vàng hoa hoa ở trên lầu Quan Âm
Vàng tâm tâm nguyện hương tâm
Vàng mây mây gửi nghìn tầm gió bay.

Mấy thu trăng đến chùa này
Mấy thu em ở, một ngày em đi.
Tình đi, người cũng từ ly
Vàng phai, đá nát còn gì nữa đâu.
Mấy thu trăng đứng trên đầu
Mấy thu tơ đã phai màu vàng tơ.
Trăm năm thề đến bao giờ
Mấy thu người đã hững hờ chia tay.
Vàng hây thì cả gió may
Ái ân em có ngần này mà thôi.
Vàng trôi, vàng ngược, vàng xuôi
Còn bao giờ nữa nối lời nước non.
Vàng tan, sông cạn, đá mòn
Con tằm chưa thác có còn vương tơ?
Vàng sương, vàng nắng, vàng mưa
Vàng son phấn cũ, hương thừa ở đâu?
Vàng hương hương tắt trên lầu
Vàng kinh trang giấy nhuộm màu thời gian.
Vàng phong thu nhuốm quan san
Vàng lan lan ở trong màn chờ ai?
Vàng anh anh tiếc em hoài
Vàng ngàn sao nỡ em ngoài mấy trăm?
Vàng rơi ngọc lấm, cát lầm
Vàng e gió bắt, mưa cầm, vàng bay…
Vàng gìn, ngọc giữ cho hay
Vàng sông rồi cũng một ngày vàng gieo.
Vàng trăng trời đất vàng theo
Vàng hoa vàng cả cánh bèo truân chuyên.
Vàng nung, ngọc nấu trần duyên.
Vàng sôi vàng đến Trạc Tuyền vàng đi.
Vàng sen nương náu qua thì
Vàng phai, đá nát còn gì trao tay…

Ngàn năm trăng vẽ nét mày
Ngàn năm em bỏ chùa này em đi.

Em ơi… Suốt một đời anh, anh vưỡn nhiều lần đặt câu hỏi: “Tại sao đá nát mà vàng lại phai? Tại sao cõi đời này lại có những cuộc tình tan vỡ, những người thề nguyền ra rít không giữ, hay không giữ được, lời thề? Tại sao những người yêu nhau ra rít lại nhiều người – rất nhiều người – không sống chung vợ chồng được mí nhau đã đời trí mạng?” Nhiều đêm theo thức trên căn gác nhỏ ở cư xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, thành Hồ xã hội chủ nghĩa, anh nhớ em, anh buồn, anh sầu muộn hỏi Người Hai Trăm Năm Trước:

- Tại sao đá nát mà vàng lại phai? Tại sao những người đàn bà đẹp lại thường gặp những chuyện đời không ra gì? Tại sao chúng ta lại cứ đợi khi những người đàn bà đẹp đã hai năm mươi, xuôi sáu tấm, đi một đường tàu suốt ra nghĩa địa khiêu vũ với Bá tước Dracula rồi ta mới yêu thương, ca tụng, hôn hít tàn y, nâng niu di vật các nàng để lại, mới công kênh các nàng lên bàn thờ? Tại sao ta không yêu thương, hôn hít các nàng ngay khi các nàng còn sống?

Nhiều lắm. Anh hỏi nhiều câu và chẳng có ai thèm trả lời anh. Nhưng hôm nay ngồi yên bình ở vùng đất Virginia Có Cây Trăn Thức Có Hoa Bốn Mùa Có Cổ Thụ Có Sơn Hồ – Virginia đất của những người yêu – viết lại những bài thơ Anh Vịnh Em những đêm anh trả nợ tù đày trong Khám Lớn Chí Hòa bảy tám năm trước, anh tin, anh biết trong số những người đọc những dòng này có em. Anh biết em sẽ cảm động, em nhìn thấy tình yêu của anh chan hòa, bàng bạc, man mác trên những trang này…

Anh có chỉ trích em vài chuyện. Như việc nửa đêm em phom phom chui rào sang nhà Kim Trọng, như việc em lả lơi khêu gợi rồi em lại đẩy ra, em nói cứ như ông Khổng Tử, như việc em có cái tật cứ đưa cái trinh của em dí vào mặt mọi người, như việc em chi vàng, chi đô cho mụ Giác Duyên mà em quên không đền ơn anh tri phủ Lâm Tri, như việc em cứ ẹo ẹo đòi đi tu phí phạm của trời…

Đó là tại vì anh yêu em quá, anh muốn em thật mười phân vẹn mười, muốn em toàn bích. Anh nhấn mạnh, anh nhắc lại lần nữa: anh chỉ trích em, anh bực dọc em chính là vì anh quá yêu em…

Tim anh đau nhói như có mũi dùi nhọn xuyên qua khi anh thấy em phải bán mình…

Dáng buồn như liễu, điệu gầy mai
Đắn đo cân sắc lại cân tài
Ép cung cầm nguyệt dăm ba bản
Quạt thơ đòi vận bốn năm bài.
Mua ngọc Lan Kiều, thương ngọc mãi
Bán người kim ốc, tiếc người hoài.
Cò kè bớt một hêm hai lại
Thương ơi… em có bốn trăm ngoài.

Tóc thề em chấm ngang vai

Em vẫn Kiều Thu tròn tuổi nguyệt
Trần ai nào lấm được thơ ngây…

Trên những trang Kiều em hiển linh, em sống, em trẻ, em đẹp mãi. Chuyện ly kỳ tuyệt vời là ngàn năm món tóc thề chấm ngang vai em sẽ cứ chấm ngang vai em mãi mãi…

Mai sau dầu có bao giờ…

Mai sau – trăm năm, hai trăm năm, một nghìn năm – sẽ có những người đến cõi đời này sau anh yêu em, thấy em hiển linh, thấy em vẫn trẻ, tóc thề em vẫn chấm ngang vai… Trong khi đó thì anh đã đi khỏi cõi đời này xa lắm. Hôm nay còn nói với em được, anh nói với em:

Ngày xuân em hãy còn dài

Tóct hề đã chấm ngang vai
Nào lời non nước, nào lời sắt son…

Tóc thề em chấm vai thon
Đời còn non nước em còn tóc tơ.
Tóc hề em tự ngàn xưa
Ngang vai cho đến bây giờ ngang vai.
Ngày xuân em hãy còn dài
Trăm năm giấc ngủ u hoài là ta.
Ngàn năm em vẫn như hoa,
Vàng son em vẫn nguyên là vàng son.
Trăm năm trọn cuộc vuông tròn
Xương mòn đáy mộ ta còn xót xa.
Ngàn sau ai đọc thơ ta
Thương em biết có như là ta thương?
Đẹp thay chút nghĩa âm dương
Chẳng lìa ngó ý cũng vương tơ lòng.
Duyên ta ta kết thơ hồng
Trăm năm tạc một chữ Đồng là ta.
Tài hoa ta gặp tài hoa
Yêu em sau nữa biết là những ai?
Ngày xuân em hãy còn dài.
Tóc thề em chấm ngang vai
Này lời non nước, này lời sắt son.
Dẫu rằng sông cạn, đá mòn
Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ.

Yêu em biết đến bao giờ!

Ngó ý, tơ lòng

Xót thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng…

Đừng nói gì đến trăm năm sau, chỉ năm chục năm nữa thôi nếu trên cái cõi đời này còn lâu lâu có buổi học tiếng Việt hiếm hoi, èo uột, gầy ốm, vàng vọt, xương xẩu, u ám nào đó, giả như có em nữ sinh nào đó thơm hơn múi mít hỏi: “Thưa thầy, Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng nghĩa là gì?” Dám chắc một triệu anh thầy bị hỏi câu đó thì có đủ một triệu anh dùng miệng lưỡi trả lời quanh co, lấp liếm, đánh lạc đề, những anh sử dụng miệng lưỡi không khéo thì tịt mít.

Mùa hè những năm 1940 cuộc sống của gia đình tôi nói riêng, cuộc sống của nhân dân Bắc kỳ nói chung, chưa bị điêu tàn, bị ảnh hưởng nhiều vì trận Thế chiến thứ hai, mẹ tôi thường mua hoa sen về nhà ướp trà cho thầy tôi.

Ông bố tôi chỉ là một thư lại chứ chưa được là quan lại, dù là tiểu quan lại. Ông là Thông phán dinh Tổng đốc Hà Đông. Ông không có những thú chơi văn minh Tây phương như nhảy đầm, uống sâm-banh, cà phê, đánh te-nít, chơi cá ngựa, mà-chược, ông chỉ có mấy cái thú rất chân chỉ hạt bột như uống trà tàu mỗi buổi trưa trước giờ đi làm, thỉnh thoảng vác cây súng săn đi bắn chim gáy mùa lúa chín ở cánh đồng những làng quanh thị xã.

Mẹ tôi mua hoa sen về lấy nhị ướp một ít trà tàu cho bố tôi. Không nhiều. Mỗi mùa chỉ chừng hai gánh hoa sen. Trời nóng, nhà sạch, những cánh hoa sen đầy trên sàn. Buổi trưa tôi ở trần nằm ngủ trên những cánh sen…

Anh em tôi lấy những gương sen cuộc chỉ vào cuống, giơ cao thả cho rơi xuống. Thời tôi còn trẻ, đồ chơi trẻ con thật ít có. Những cành sen xanh được anh em tôi bẻ ra, trong lòng những cành sen này có những sợi tơ trắng. Tuy cành đã bị bẻ đứt ra từng đoạn nhưng những đoạn này vẫn còn dính vào nhau nhờ những sợi tơ…

Đấy là “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng…” Hình tượng diễn tả tuyệt vời. Đôi người yêu nhau đã xa nhau, cuộc tình của họ đã đứt ngang rồi nhưng họ vẫn thương nhớ nhau…

Đấy là “ngó ý…”
Mai sau dù có bao giờ…

Em vẫn ở đây…

Hạc vàng bay mất từ xưa
Kiều em em vẫn bây giờ ở đây
Ở đây trang giấy thơm này
Tìm em thì vẫn đêm ngày có em.
Như tơ em mướt, em mềm
Như hoa em nổi, em chìm nước mây.
Sầu em lửa đốt Mái Tây
Thương em Ngưng Bích những ngày khóa xuân.
Quê em em dõi Mây Tần
Tình em em rọi trắng ngần xưa sau.
Tội em em tụng kinh cầu
Nghiệp em em đến Hàng Châu một mình!
Lửa hương em lỡ ba sinh
Nhân duyên em lỡ cuộc tình nhân gian.
Oan em nước mất, nhà tan
Oán em dạ yến cung đàn tử qui.
Hạc vàng Lầu Hạc vàng đi
Thương em khăn gấm, quạt quì ở đây.
Ở đây trang giấy thơm này
Tìm em thì vẫn đêm ngày có em.
Có em da mịn, tóc mềm
Tiếng em tha thiết, mắt em mơ màng…

Bởi lòng tạc đá, ghi vàng
Yêu nàng nên vẫn có nàng ở đây.

Đêm trong ngục nghe Kiều đàn

Một cung gió thảm, mưa sầu
Đàn em rỏ máu mười đầu ngón tay.
Em ơi… bạc mệnh khúc này
Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ.
Cung cầm em lựa ngày xưa
Vỡ tim người đến bao giờ, em ơi?
Lệ ai chan chứa hơn người?
Máu ai hòa tiếng đàn rơi trên mồ?
Em đàn dây vũ, dây vô
Lệ ta chìm một thành Hồ thương nhau.
Đàn em gió thảm, mưa sầu
Hồn ta rỏ máu từ đầu đến chân.
Mày em trăng vẫn in ngần
Phấn thừa, hương cũ bội phần xót xa.
Em ơi… những lứa tài hoa
Thác là thể phách, còn là tinh anh.
Đôi ta tình lại gặp tình
Nên em ngục tối hiển linh em đàn.
Vàng phai, đá nát nhân gian
Tỉnh mê nghe tiếng em đàn càng đau.
Hồn ta gió thảm, mưa sầu
Đàn em rỏ máu mười đầu ngón tay.
Em ơi… tuyệt diệu khúc này
Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ
Cung cầm em lựa ngày xưa
Vì ta cho đến bao giờ vì ta?
Đàn em gió táp mưa sa
Thiên sơn đá lở, Hằng hà cát rơi.
Đàn em xao động đất trời
Cung thương, cung nhớ, cung người, cung ta.
Đàn em rung chuyển ta bà
Tiếng gần gang tấc, tiếng xa ngàn trùng.
Em đàn từ thủy sang chung
Tiếng tan, tiếng hợp, tiếng cùng, tiếng chia.
Nghe đàn ta tỉnh, ta mê?
Như đi, như ở, như về, như ra.
Đàn em quằn quại hồn ta
Yêu mà lệ rớt, thương mà máu rây.
Ta nghe đàn ở kiếp này
Hay từ muôn kiếp những ngày xa khơi?
Kiếp nào ta, kiếp nào người?
Sao nhiều tiếng khóc, tiếng cười lắm thay?
Kiếp nào dở, kiếp nào hay?
Kiếp nào ta đã, kiếp này lại ta?
Kiếp nào bướm, kiếp nào hoa
Ta là hồ điệp, ta là Trang Châu?
Kiếp nào vui, kiếp nào sầu?
Ta là Tư Mã phượng cầu Văn Quân.
Kiếp nào xa, kiếp nào gần?
Thang lan em tẩm thơm ngần thiên nhiên.
Kiếp nào nhớ, kiếp nào quên?
Đào Nguyên em nguyện, ta nguyền Thiên Thai.
Kiếp nào đúng, kiếp nào sai?
Mái Tây ta lỡ em hoài ngàn năm.
Kiếp nào oán, kiếp nào căm?
Cỏ xanh dưới mộ em nằm tuyết sương.
Kiếp nào tiếc, kiếp nào thương?
Nhớ nhau dạ vũ Nghê Thường tìm nhau.
Kiếp nào trước, kiếp nào sau?
Kiếp nào tử biệt, kiếp nào sinh ly.
Kiếp nào đến, kiếp nào đi?
Kiếp nào khăn gấm, quạt quì trao tay.
Kiếp nào trả, kiếp nào vay?
Kiếp nào yêu để kiếp này nhớ thương.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 1)

bietkich.jpg
Tác giả dưới ngọn cờ đỏ quang vinh. Ảnh chụp tháng 12, 1975.

Khi báo với bạn đọc loạt bài “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” sẽ được đăng trên tờ Bán nguyệt san Ngày Nay, ấn hành ở Houston, tôi viết: “Mời bạn đọc trên Ngày Nay “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”, bản kết tội của Minh Kiên – Nam Thi, nguyên Đại tá Tổng Biên Tập và Đại tá Phó Tổng Biên Tập Tuần báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh. Phần trả lời của Hoàng Hải Thủy, một trong những người bị Cộng sản Việt Nam gọi là “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút.”

Đọc lại, tôi thấy tôi thật ngớ ngẩn, vô duyên, không giống ai, Công An Thành Hồ cho tôi nằm ngâm thơ của Cố Thi sĩ Trần Văn Hương hai lần, trước sau là Tám Mùa Thu Lá Bay. Họ đã bỏ tù tôi, và tôi đã ở tù. Tôi còn có gì để “trả lời” họ và tôi cần gì, tôi việc gì phải “trả lời” họ. Bỏ nước chạy lấy người không kịp, kẹt lại, ngẩn ngơ giữa một rừng cờ đỏ, không ra đầu ngõ cũng bị bật ngửa vì nón cối, giép râu, nhìn đâu cũng thấy ảnh Bác Hồ “Muôn Kính, Ngàn Yêu” với những hàng chữ “Không có gì….” đỏ lòm, tôi không thể tự làm tôi mắt mù, tai điếc, tay cùi, miệng câm, tôi can tội mần một số thơ Con Cóc bắt chước Ca Dao mà tôi gọi là Phóng Dao, ngồi gù lưng trên căn gác tối om viết một số bài kiểu Tạp Ghi Tiền Tuyến để than thân, trách phận, thương nhớ kẻ ở người đi, não nùng tâm sự, đời tàn ngõ hẹp, đói không những chỉ đói cơm mà còn đói cả cà phê, thuốc lá, đói đủ mọi thứ. Tôi viết những bài gọi văn huê là “tác phẩm chứng nhân Thành Hồ Trần Ai Khoai Củ” và viết xong tôi không cất chúng dưới đáy tủ, gầm giường, tôi gửi chúng ra nước ngoài để anh em ta ở hải ngoại đăng báo. Và thế là tôi bị Công An Thành Hồ đưa xe bông đến nhà rước đi cất kỹ trong sáu niên. Sống giữa gọng kìm công an cộng sản mà lén lút làm thơ phú vẩn vương diễn tả đời sống đen hơn mõm chó mực của nhân dân để gửi ra nước ngoài thì bị Công An Cộng sản bắt, bị Cộng sản cất đi năm bẩy niên trong tù là chuyện tất nhiên.. Cũng là sòng phẳng. Có gì gọi là “trả lời, trả vốn”.

Cộng sản thù ghét nhất những anh Con Trai Bà Cả, Bà Hai Đọi sống trong chế độ của họ mà bới móc, phơi bày những cái xấu của họ qua văn thơ, châm biếm họ bằng thi ca. Họ thù nhất là những anh viết và gửi những bài tố cáo chế độ họ ác ôn côn đồ ra phổ biến ở nước ngoài. Chẳng cần phải tố cáo, chỉ cần than khổ thôi là đã bị coi là phản động và được công an ưu ái hỏi thăm sức khỏe. Mối hận thù truyền kiếp bọn văn nghệ sĩ được đàn anh công an Nga Xô trích vào máu thằng đàn em công an Việt Cộng “… thẳng tay trấn áp bọn văn nghệ sĩ phản động, không cho chúng than khóc…” Công an Việt cộng đã, đang và vẫn làm đúng lời dậy ấy.

Năm 1988, khi bọn “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”, sau bốn năm tù ở Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan đăng Lưu và Khám Lớn Chí Hòa, sắp “được” đưa ra xét xử lần thứ hai ở cái gọi là Tòa Án Nhân Dân Thành Phố HCM, “Luật sư” Triệu Quốc Mạnh vào nhà tù Chí Hòa gặp chúng tôi, anh là người sẽ “biện hộ” cho nhóm bị gọi là Biệt Kích Văn Nghệ trước tòa. Anh nói:

- Các anh viết bài gửi ra nước ngoài làm cho họ đau lắm. Họ thù các anh và các anh đã bị khổ sở mấy năm rồi. Bây giờ đưa các anh ra tòa tôi thấy họ có vẻ muốn làm cho xong đi. Các anh làm họ đau, họ bỏ tù các anh. Như vậy là huề. Lần này ra tòa, tôi nghĩ các anh không nên găng với họ. Mềm dịu cho xong đi. Các anh ở tù mấy năm như vậy cũng là đủ …

Ai tù hào hùng, khí phách thế nào tôi không biết, tôi chỉ biết tôi tù thôi. Tất nhiên là tôi thấy tôi ở tù mấy mùa lá rụng ngoài song sắt như vậy là – không phải đủ – mà là quá đủ. Năm 1986, trước ngày Đại Hội Đảng Kỳ 6, Công An Thành Hồ đã dàn dựng đưa bọn “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” ra tòa với cái tội “gián điệp”. Năm ấy họ muốn dựng một vụ Xử Án Điển Hình kiểu “Sát Nhất, Nhị, Tam, Tứ Nhân, vạn vạn nhân cụ, ” một vụ án làm cho tất cả những anh Con Trai, Con Rể, Con Nuôi, Con Hoang, Con Rơi, Con Rớt Nhà Bà Cả trên cõi đời này sợ teo luôn. Nói rõ hơn năm 1986 họ muốn xử chúng tôi với mức án đại khái như vầy:

  1. Doãn Quốc Sĩ: Tử hình hay chung thân.
  2. Hoàng Hải Thủy: Chung thân – 20 niên.
  3. Dương Hùng Cường: 18 niên.
  4. Lý Thụy Ý: 15 niên.
  5. Nguyễn Thị Nhạn: 12 niên.
  6. Hiếu Chân Nguyễn Hoạt: 10 niên.
  7. Khuất Duy Trác: 8 niên.
  8. Trần Ngọc Tự: 8 niên.

Xin quý vị thương cho mà đừng nghĩ là tôi tự đề cao anh em chúng tôi. Việt Cộng sài Luật Rừng, nhưng Luật Rừng cũng vẫn là Luật. Trong cái gọi là Bộ Luật Hình Sự CHXHCNVN có điều quy định tội danh và án phạt bọn “gián điệp” như sau.

Tôi đọc điều luật này trong Ô Ten 10 Sao Chí Hòa năm 1986 và tôi thuộc nằm lòng từ ngày đó:

- Bị coi là gián điệp những kẻ cung cấp tin tức, tài liệu an ninh, quốc phòng cho những Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài.

Cũng bị coi là gián điệp những người tuy không cung cấp tin tức cho Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài nhưng bằng cách nào đó vô tình tiết lộ những tin tức an ninh, quốc phòng để những Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài có thể khai thác.

Án phạt từ 12 năm tù đến tử hình.

- Những tên gián điệp đầu sỏ bị tử hình.

- Những tên tay sai nguy hiểm cũng bị tử hình.

Theo điều luật về xử trị gián điệp trên đây thì nếu năm 1986 Công An Thành Hồ đưa bọn “gián điệp 8 tên” chúng tôi ra tòa xử thì chuyện xẩy ra đã có thể là:

- Gián điệp đầu sỏ Doãn Quốc Sĩ: tử hình.

- Tay sai nguy hiểm Hoàng Hải Thủy: chung thân hoặc có thể cho đi cùng chuyến xe bít bùng với Đầu Sỏ Doãn Quốc Sĩ lên bãi bắn Thủ Đức trong buổi sáng mù sương lạnh. Hai gián điệp cùng đi một chuyến xe không có bông cho đỡ tốn xăng dầu và công sức của anh em công an chuyên giết nhân dân.

Năm 1986, Công An Thành Hồ đã dàn dựng sân khấu, cho quảng cáo tùm lum trên hai tờ Tuổi Trẻ-Công An: “… Ngày.. . tháng… năm… bọn gián điệp sẽ phải ra trước Tòa Án Nhân Dân trả lời về những tội trạng của chúng…” Nhưng rồi họ tẽn tò, không kèn, không trống, không lời xin khán giả cảm phiền vì phiên tòa bị bãi bỏ, họ im luôn. Phiên tòa năm 1986 hoãn dài ngày .

Năm anh em chúng tôi: Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự, và tôi, được Công An Thành Hồ cho xe bông đến nhà rước vào Số 4 Phan Đăng Lưu cùng trong đêm Mùng 2 tháng 5 năm 1984. Chịu thẩm vấn ở Phan Đăng Lưu một năm, tháng 5 năm 1985 xe bông đưa chúng tôi sang Thánh thất Chí Hòa. Anh em chúng tôi được đoàn tụ trong lòng xe tù khoảng 20 phút đồng hồ. Trên xe có thêm hai em Trợ tá “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút Nữ”: Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn.

Tù xa từ Bà Chiểu sang Đa Kao, qua rạp xi-nê Casino Đa Kao, vào đường Hiền Vương một chiều, chạy qua bên hông Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi – Đất Thánh Tây trước 1956 – nay đã thành công viên mang tên một anh cà chớn mà tất cả nhân dân Sàigòn đều không ai từng biết: Công viên Lê văn Tám. Chàng Công Tử Hà Đông ghé mắt nhìn qua song sắt tù xa bỗng thấy trái tim chàng đi một đường cảm khái. Đoạn đường Mayer – Hiền Vương từ Đa Kao đến ngã tư Hai Bà Trưng là đoạn đường những năm từ 1954 đến 1958 anh qua lại mỗi ngày vài lần. Anh gặp tình yêu và từng sống tình ái, yêu đương với nàng Alice trong căn nhà 78/5 của con đường Mayer-Hiền Vương này mấy mùa thu vàng. Ngày ấy môi anh còn thắm, tóc anh còn đen, có bao giờ anh ngờ rằng sẽ có ngày anh te tua trên tù xa đi qua con đường thơ mộng này.

Tháng 5 năm 1986, từ Nhà Tù Chí Hòa bọn cai tù đưa Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn trở về nhà giam số 4 Phan Đăng Lưu. Bọn Công An Thành Hồ chia bọn “gián điệp” ra làm hai trước khi đưa ra tòa. Lần đầu trong đời gặp cảnh tay còng, áo dấu ngơ ngáo ra tòa, choáng váng nhận ra vợ con trong đám thân nhân láo nháo chạy theo, tôi hồi hộp nghe tin con tôi báo: “Hoãn xử…” Trên tiền sảnh chính của Pháp Đình Sàigòn, nơi 50, 70 hay 80, 90 năm trước, các quan Đại Pháp xây lên và cho đặt hai bức tượng Bà Đầm Pháp Luật Phú Lang Sa to tổ bố đứng đưa … bàn cân công lý vào mặt con dân A-na-mít – Anh Mít nào cao lớn lắm cũng chỉ đứng vừa đến đầu gối Hai Bà chớ chưa với được đến bàn cân – Tòa Cộng Thành Hồ có đặt tấm bảng đen ghi những hàng chữ phấn đại khái như:

- Vụ Gián điệp Doãn Quốc Sĩ,

Phòng A …

Dưới hàng chữ có viết thêm hai chữ “Đình Xử”, tức là hôm nay tòa không xử Vụ Gián Điệp. Tòa đình xử, nhưng bọn tòa án không báo cho bọn cai tù Chí Hòa biết. Cai tù Chí Hòa, được lệnh cả tuần trước, cứ đúng lệnh áp giải bọn tội nhân ra tòa. Xe chở tù đổ hàng xuống Tòa xong là đi ngay, chiều mới đến đón tù trở về. Cai tù áp giải phải gọi điện về Chí Hòa, phải chờ xe đến chở hàng về Chí Hòa. Nhờ vậy, bọn “gián điệp 1986″ được ngồi ở tòa án từ sáng cho tới trưa thơ thới hân hoan.

Thơ thới, hân hoan vì mấy anh được ngồi trò chuyện thân mật với vợ con. Vợ con mấy ảnh hối lộ cai tù nên được cai tù cho phép vào phòng cách ly ngồi với chồng, với bố. Hai năm trời đằng đẵng mới được nhìn mặt nhau, ngồi gần nhau, cầm tay nhau… Thương cảm, bùi ngùi đứt đuôi con nòng nọc. Tình cảnh ấy khỏi cần diễn tả. Alice nói với tôi:

- Đừng sợ. Anh em mình bên ngoài mạnh lắm. Can thiệp dữ dội. Nó phải hoãn xử, tối qua đài VOA đọc một bài dài lắm, kêu gọi Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc bảo vệ văn nghệ sĩ Việt Nam… Có người nghe thâu băng được cả bài… Lại có tin triệu tập đến hai ngàn ký giả, văn nghệ sĩ khắp thế giới về họp ở New York để lên tiếng về vụ mình…

Tôi hỏi ai triệu tập, Alice nói:

- Em không biết rõ. Nghe nói người đọc bài tố cáo đàn áp văn nghệ sĩ trên đài VOA là Nguyễn Ngọc Linh…

Nguyễn Ngọc Linh hay Nguyễn Ngọc Bích…? Ngọc Linh, Ngọc Bích đều là Ngọc cả. Hôm nay bình yên ngồi viết ở Rừng Phong Lòng Vòng Hoa Thịnh Đốn, Virginia Đất Tình Nhân, nhân danh tám anh em chúng tôi tù tội ở Thành Hồ – hai anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường đã chết thảm trong tù – tôi trân trọng nói lên lời cám ơn của chúng tôi đến anh em bầu bạn khắp năm châu.

Năm 1986, chúng tôi bị kết tội “gián điệp”, án tù tối thiểu 12 niên đến tối đa tử hình. Nhờ anh em bầu bạn khắp năm châu la ó, phản đối dữ dội nên dù muốn, dù đã treo bảng quảng cáo, đã cho bọn văn nô reo hò, nhẩy múa, Công An thành Hồ cũng không xử được chúng tôi. Trở về Chí Hòa nằm ngâm thơ Ngồi Rù thêm hơn một niên nữa đến đầu năm 1988, chúng tôi mới lại “được” trở ra tòa án thành phố HCM chuyên xử tội nhân dân lần thứ hai.

Lần này án “gián điệp” ác ôn đã được bỏ, thay vào đó là tội “Tuyên truyền phản cách mạng”. Tội này có thể gọi là “tội nhẹ nhất trong các tội phản động dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa.” So với tội gián điệp, mức án xử bọn phạm tội tuyên truyền phản cách mạng quá đỗi nhẹ hều: Tù từ 2 niên đến 12 niên tối đa. Không có bị tử hình, tử ảnh, chung thân, chung sơ gì ráo trọi. Đang từ tối thiểu 12 đổi sang tối đa 12 niên, chàng Công Tử Hà Đông sướng rên mé đìu hiu, chàng còn cay cú hay hung hăng con bọ xít gì nữa. Chàng đã bóc được bốn cuốn lịch rồi.

Anh em tù gọi như thế là “đã có vốn.” Tất nhiên khi ra tòa chàng sẽ không nói năng gì để bọn Chánh án tay sai phạng chàng 10 hay 12 mùa Tết Trung Thu Em Không Rước Đèn Đi Chơi – Nàng Alice trẻ lâu thật nhưng nàng cũng không có thể như nàng Hạ Cơ Đông Châu Liệt Quốc trẻ mãi không già – Chàng đã trả cái nợ Hai Mươi Niên, từ 1954 đến 1975 chàng sống và để người khác chết, để vợ con người khác khóc như vậy cũng tạm gọi là đủ, chàng phải lo thân để trở về Ngã Ba Ông Tạ thôi .

Nhưng khi nghe “Luật sư” Triệu Quốc Mạnh khuyên nên “mềm dẻo đừng nói gì gay cấn” để tòa xử cho xong đi, tôi cũng nói:

- Nếu người ta không chửi bới chúng tôi thì chúng tôi sẽ không nói gì đâu. Còn nếu người ta mạt sát chúng tôi thì chúng tôi không thể nói trước được phản ứng của chúng tôi sẽ ra sao.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 2)

Nhân đây, xin viết vài hàng về nhân vật Triệu Quốc Mạnh. Anh có chứng chỉ Cử nhân Luật, gia nhập Cảnh sát Quốc Gia, mang lon đại úy Cảnh Sát. Anh được bổ nhiệm làm Giám đốc Cảnh Sát Đô Thành Sài Gòn trong chính phủ hư thai Dương Văn Minh. Sau Đại Hội Đảng kỳ 6, Tổng bí thư Chăn Trâu Nguyễn Văn Linh tuyên bố: “đổi mới tư duy”, Triệu Quốc Mạnh và Nguyễn Đăng Trừng được phép mở một cái gọi là Phòng Dịch Vụ Pháp Lý. Tiếp đó, để cho có vẻ có pháp luật đôi chút Triệu Quốc Mạnh và Nguyễn Đăng Trừng trở thành “luật sư” biện hộ những vụ án chính trị được mang ra tòa xử. Triệu Quốc Mạnh biện hộ cho đám “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút,” Nguyễn Đăng Trừng biện hộ cho nhóm Tu Sĩ Già Lam Chống Đối trong có Thượng Tọa Thích Đức Nhuận, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Ni Cô Thích Trí Hải, v.v… Năm 1992, trường Đại Học Luật Khoa được Võ Văn Kiệt cho mở ở thành phố Hồ Chí Minh, Triệu Quốc Mạnh là khoa trưởng.

Nghe nói cái gọi là trường Đại Học Luật Khoa Thành Phố HCM bị bọn lãnh đạo ở Hà nội coi là không được danh chính, ngôn thuận. Thủ đô Hà Nội không có Đại Học Luật. Bộ Nội Vụ Việt Cộng có cái trường gọi là Đại Học Pháp Lý chuyên đào tạo các anh chị cán ngố làm nhân viên Bộ Nội Vụ. Những cán đực, cán cái không cần có trình độ học vấn vẫn vào được Đại Học Pháp Lý. Vì vậy người ta thấy có những chị chuối chiên, vịt lộn viết cái biên lai giặt ủi cũng mướt mồ hôi nách trở thành những vị “thẩm phán”. Thời cộng sản mở toang mọi cửa lớn, cửa nhỏ, cửa trước, cửa sau để khều ngoại nhân vào đầu tư cho chúng ăn bám có nhu cầu phải có những chuyên viên về luật thương mại – chuyên viên cán sự thôi, đừng nói đến danh từ “luật sư” đao to búa lớn. Võ Văn Kiệt cho Thành Hồ mở Đại Học Luật Khoa, thu nhận sinh viên dân sự vào học, bọn cộng sản Hà Nội không bằng lòng. Thành Hồ hiện có một số anh được phong đại là “Luật gia” thường xuất hiện trên Tivi nói lăng nhăng về các vấn đề luật pháp. Không ai biết những anh “luật gia” này ở trường Luật nào ra. Lại thêm Đại Học Luật mà Giáo sư Khoa trưởng là ông Cựu Đại úy Cảnh sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa chỉ mới có chứng chỉ cử nhân thì trình độ giảng huấn của trường tất nhiên là khá quá rồi.

Triệu Quốc Mạnh – giống như những anh Trịnh Công Sơn, Phạm Trọng Cầu, Vũ Hạnh – là một thứ “phi cầm, phi thú”. Mấy anh không phải là đảng viên cộng sản. Cộng sản không nhận mấy anh là đồng đảng. Mấy anh phản bội những người quốc gia Việt Nam Cộng Hòa từng nuôi dưỡng mấy ảnh. Hai mươi mùa lá rụng qua rồi, thân phận những anh “phi cầm, phi thú” không có gì đáng để nói .

Trở lại chuyện “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” tôi nói rõ: Tôi không “trả lời” hai anh Nam Thi – Minh Kiên. Hai anh ở trong hàng ngũ bọn Công An Cộng sản đã bắt giam chúng tôi, hai anh viết vung xích chó về đời tư, vợ con, cha mẹ, việc làm của chúng tôi. Khi ở trong vòng kìm kẹp của các anh, tôi không có điều kiện để viết về việc chúng tôi làm. Hôm nay có điều kiện viết, tôi viết. Tôi đăng một số trang hai anh viết về chúng tôi để bạn đọc của tôi biết các anh đã – học mót bọn Nga cộng, Tàu cộng – “chửi bới” những người phơi bầy những tội ác của Đảng các anh như thế nào .

*****

Mặt trận không tiếng súng… Đó là lời huê mỹ anh Phan Hiền viết trong Lời Tựa “Quái Phẩm” NTBKCB. Trong cái gọi là “Mặt trận không tiếng súng” ấy một bên là phe công an Việt Cộng có súng, có nhà tù, có quyền bắt người, giết người, giam người gần như hoàn toàn tự do tùy ý. Phe bên kia, phe nạn nhân, không phải phe đối nghịch, là nhân dân, chân tay không, những người dân khốn khổ không có qua một chút bảo đảm nào về an ninh, những nạn nhân bị đàn áp suốt đời chỉ chịu trận mà không có qua một cách nhỏ nhất nào để có thể tự vệ, đỡ đòn, đừng nói đến chống trả.

Tôi – người viết loạt bài này – không cho việc Công An Thành Hồ bắt giam chúng tôi là việc xẩy ra trên một “Mặt Trận”. Không phải tôi nhát đến độ sang được Xê Kỳ rồi vẫn còn sợ không dám nhận mình có thời từng “chiến đấu” với Công an Việt cộng trên “mặt trận”, dù đó là “Mặt Trận Văn Hóa.” Theo tôi, gọi việc Công An Việt cộng bắt giam chúng tôi là việc xẩy ra trên một “Mặt Trận” là danh không chính và ngôn không thuận. Anh em chúng tôi chỉ có những cây bút Bic. Và chúng tôi cũng không được sử dụng cây bút để thể hiện một nửa khả năng của chúng tôi. Chúng tôi lén lút viết, lén lút gửi đi. Viết rồi gửi đi thấy lòng ngẩn ngơ như thả con mình đi vượt biên mà không biết nó sống chết ra sao. Người viết có cái lạc thú đọc bài mình in trên trang báo, trang sách, chữ in sáng sủa, gọn gàng. Những mùa thu lá bay vàng võ ở Thành Hồ chúng tôi hoàn toàn không có cái lạc thú đó.

Những ngày, những đêm dài u ám nằm ngâm Thơ Gãi Háng đến chán ngấy ở những phòng giam Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Ô ten Chí Hòa, Trại Cải Tạo Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai, đôi khi tôi nghĩ vẩn vương: “Nó có cả một bộ máy tuyên truyền cực mạnh; các báo, các nhà xuất bản, truyền thanh, truyền hình… của nó hết. Tại sao nó không dùng những phương tiện đó để tranh luận với mình? Mình viết về những cái xấu của nó, nó có thể phản bác, trưng bằng cớ nó không có những cái xấu ấy, nhân dân sẽ quyết định thằng nào đúng, thằng nào sai? Tại sao nó không làm thế? Tại sao nó lại phải bắt mình, phải bỏ tù mình?”

Sau những lần nghĩ như vậy tôi vẫn bùi ngùi thương thân. Trong tuyệt vọng tôi đã mong ước những người cộng sản làm với tôi cái việc họ không bao giờ làm. Đó là việc tranh luận để nhân dân làm Ngự sử. Mong cộng sản tranh luận thì thật là ngu đến cỡ phi-ní lô đia, tức ngu hết nước nói. Người cộng sản không đối thoại với bất cứ ai. Cách đối xử duy nhất họ áp dụng với những người không ca tụng họ là bắt, giết, bỏ tù đến chết. “Biết rồi. Khổ lắm. Nói mãi.” Lời Cố Hồng, Số Đỏ – Vũ Trọng Phụng.

Nón cối, dép râu, A-ka, cờ đỏ ngơ ngáo vào Sài Gòn. Cuộc biển dâu khủng khiếp bắt đầu.

Trải qua một cuộc biển dâu.
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Hai trăm năm trước người thơ xưa phải chứng kiến cuộc biển dâu Lê-Trịnh-Nguyễn- Nguyễn phân tranh, ông chỉ thấy đau lòng thôi. Con cháu ông không được cái may mắn chỉ chứng kiến biển dâu và chỉ thấy đau lòng như ông. Chúng tôi bị nhận chìm trong biển dâu, chúng tôi chết trong cái dâu biển ghê rợn, thê thảm ấy.

…. Ngươi đi bốn biển vui hò hẹn
Ta ở đây chìm dưới biển dâu
Mưa nắng xứ người ngươi gắng chịu
Sắt son dạ ấy chớ phai màu
Thôi ngươi đi nhé. Đừng quay lại
Ta khóc đây ngươi có biết đâu!

Thơ Mặc Thu tiễn Nhã Ca-Trần dạ Từ đi ODP ra nước ngoài. “Ta ở đây chìm dưới biển dâu” là cái ý tôi mượn để tả tình cảnh chúng tôi ở Thành Hồ sau ngày oan nghiệt Ba Mươi Tháng Tư 75.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 3)

Ngày 2 tháng 5 năm 1984, tám anh em chúng tôi bị bắt cùng trong một đêm. Trong số có hai người lần đầu nếm mùi tù ngục Xã hội Chủ nghĩa: Anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và cô Nguyễn Thị Nhạn. Sáu anh em chúng tôi đều đã qua một lần tù tội. Tôi gọi việc tôi trở vào Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu là “tái đáo Thiên Thai.” Lưu Thần, Nguyễn Triệu ngày xưa trở lại Thiên Thai buồn như thế nào lòng tôi cũng não nùng như thế. Năm 1977 tôi đã bị còng tay đưa vào đứng ngơ ngáo trong những hành lang nhà tù này. Năm 1980 tôi xách cái túi du hành rách từ đấy đi trở ra. Bốn năm sau tôi trở vào. Nhà tù nghèo nàn, u ám hơn, những đoạn đường xi măng sụp, rạn nứt, những vách tường dơ bẩn.

Công An Thành Hồ không loan tin chúng tôi bị bắt trên báo, nhưng chỉ một năm sau – năm 1985 – bọn văn công Việt cộng đã viết về cái gọi là “cuộc đời ái tình và sự nghiệp” của anh em chúng tôi để đăng linh tinh, lang tang trên nhiều báo tháng, báo tuần ở Hà Nội, Thành Hồ. Tuần báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh là tờ viết về đời tư chúng tôi hung hãn nhất. Bọn Cớm Cộng thành Hồ có hồ sơ tài liệu về chúng tôi, chúng khám xét nhà chúng tôi, chúng được bọn “ăng ten” cung cấp nhiều sự kiện về chúng tôi nên chúng có tài liệu để viết về chúng tôi nhiều hơn cả.

Năm 1988, “Quái Phẩm” NTBKCB được xuất bản thành sách. Ở Nhà Tù Chí Hòa chúng tôi được đọc một số trang NTBKCB đăng trên các báo, một số trang khác được người nhà chúng tôi lén gửi vào tù cho chúng tôi. Trí Siêu Lê Mạnh Thát cùng sống với tôi trong phòng 10, lầu Ba, Khu ED Chí Hòa, sau khi đọc một số trang BKCB, nói với tôi:

- Sao chúng nó thù các bác quá?

Tôi không coi việc Công An VC kết tội chúng tôi trong một quyển sách là một vinh hạnh. Tôi chỉ ghi nhận một sự kiện: cùng thời gian chúng tôi bị tù có rất nhiều nhóm hoạt động chính trị bị Việt Cộng đàn áp tàn bạo hơn bọn văn nghệ sĩ chúng tôi rất nhiều. Tôi chỉ kể hai vụ tôi biết rõ, những người trong hai vụ này cùng tù với tôi, nhiều người nằm chung phòng với tôi: Vụ Luật sư Phạm Quang Cảnh bị VC xử tử hình, hai người cùng nhóm với ông là Giáo sư Nguyễn Quốc Sủng, Kỹ sư Lê Công Minh chung thân, nhiều người tù 18, 15 năm. Vụ thứ hai là Vụ Già Lam: Tuệ Sĩ Phạm văn Thương, Trí Siêu Lê mạnh Thát mỗi người tù 20 năm, Thượng Tọa Thích Đức Nhuận tù 10 năm. Nhưng các ông không bị CAVC viết truyện vu cáo, mạ lỵ, mạt sát, chửi rủa, bôi bẩn, bới móc đời tư đến cả đời ông, đời cha như chúng tôi.

Tôi gọi NTBKCB là “Quái phẩm” vì không thể xếp nó vào loại “dzăng phẩm” nào cả. Hai anh Nam Thi – Minh Kiên gọi nó là “truyện”. Tôi thấy nó không phải là “truyện” vì nhân vật trong nó là người thật, đang ở tù thật. Những sự kiện trong nó phần lớn do người viết bịa đặt, tưởng tượng – ngôn từ VC học mót Tàu Cộng, gọi việc tưởng tượng bịa đặt này là “hư cấu”. Nó không phải là phóng sự điều tra vì những sự kiện trong nó không có thật, không có những thông số, thống kê, không có bằng chứng độc lập. Nó lại càng không thể là phóng sự tiểu thuyết vì người ta không thể tiểu thuyết hóa cuộc sống, chuyện đời của những nhân vật có thật đang bị tù tội đến chết – và nhiều người đã chết – trong ngục thất.

Việc viết, ấn hành những “Quái phẩm” như NTBKCB không phải là việc làm mới mẻ do bọn CAVC nghĩ ra. Bọn Nga Cộng đã làm chuyện ruồi bâu, kiến đậu này từ những năm 1922.

NTBKCB do hai anh Nam Thi – Minh Kiên, Tổng và Phó Tổng Biên Tập báo Công An Thành Hồ viết, được xuất bản thành sách, chỉ là một trong số năm bẩy loạt bài viết về nhóm văn nghệ sĩ chúng tôi. Cái gọi là “truyện” đã được in thành sách một lần vào năm 1987. Những trang in tôi trích đăng ở đây lấy ở bản in năm 1994 do nhà xuất bản Văn Nghệ Thành phố HCM tái bản. Ấn bản NTBKCB năm 1994, ngắn hơn, chỉ còn 200 trang. Có nhiều đoạn bịa đặt, dựng đứng trắng trợn, làm chính những người cộng sản cũng cảm thấy lố bịch, ruồi bâu, kiến đậu, có tác dụng phản tuyên truyền trong ấn bản 1987 được bỏ đi trong ấn bản 1994. Chẳng hạn như đoạn tả ông Biệt Kích Doãn Quốc “thả lời ong bướm” với em Lý Thụy Ý, đoạn bịa chuyện anh bạn Không quân Trần Ngọc chở em Nguyễn Thị Nhạn đi chơi quán Cây Dừa Xa lộ làm bà xã anh bạn chúng tôi có cái gọi là “cơ sở” để nghi ngờ và mất cảm tình với anh em chúng tôi. Như đoạn viết về ông Ngoại tôi với câu kết mà bất cứ người viết nào có chút thông minh nhỏ bằng đầu que tăm xỉa răng cũng không hạ bút. Đó là câu: “…Ngày xưa… tri phủ, tri huyện nào mà không nghiện thuốc phiện…”

Người viết cộng sản phấn khởi, hồ hởi vu cáo mạ lỵ, bịa đặt những chuyện xấu gán cho đời ông, đời cha những người bị chúng bắt giam. Đó không phải là chuyện mới lạ. Bọn Nga Xô đã làm cái việc tệ mạt ấy từ năm 1922, tiếp đó là bọn Đức Cộng, bọn văn nô các nước chư hầu Đông Âu, rồi Tầu Cộng. Bọn Việt Cộng chỉ làm cái việc học mót đàn anh.

Trước khi nổ ra vụ Nhân Văn Giai Phẩm đòi văn nghệ phải được tự do năm 1956-1957 ở Hà Nội, Phùng Quán, với bài thơ Lời Mẹ Dặn, được coi là thi sĩ cách mạng vô sản điển hình, là hình ảnh người đảng viên cộng sản kiên cường, bất khuất. Phùng Quán có viết trong tập hồi ký Vượt Đảo. Chế Lan Viên ca tụng Phùng Quán trong bài tựa quyển này là: “… người đảng viên trung kiên, đứa con ưu tú của tổ quốc…” Sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm những bài viết chửi bới tàn tệ Phùng Quán có chi tiết “Ông bố hắn làm Mật thám cho Pháp. Bố như thế thì con không thể khá được v.v…”

Sau Tháng Tư 1975, người Việt Nam đói sách báo, không có sách báo để đọc “từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mâu” như lời những ông rao bán thuốc ho bà Lang Trọc trong những tác phẩm của ông Vũ Trọng Phụng. Tiểu thuyết hoàn toàn không có mặt trong xã hội gọi là “Xã Hội Chủ Nghĩa”. Cái gọi là “truyện” được ấn hành ở miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ là những bản ca tụng Đảng, ca tụng Bác Hồ và bọn đảng viên, diễn tả những cuộc sống giả tạo, những tâm trạng và những mẫu người không có trong đời sống thật. Anh Công An Huỳnh Bá Thành tung ra quyển “Vụ án Hồ Con Rùa”. Vì nhu cầu đọc của nhân dân quyển sách này bán khá chạy. Từ đó một lô những “Vụ Án…” đủ thứ được in ra. “Bọn xấu” trong những vụ án này là nhân dân. “Bọn tốt” là những chiến sĩ công an phẩm chất đạo đức sáng như gương Tầu, trình độ nghiệp vụ đạt đến đỉnh cao của loài người tiến bộ, tác phong mẫu mực, trong sạch, chí công, vô tư, xả thân vì nước, vì nhân dân, hành động không chỗ nào chê. “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”, do Nam Thi – Minh Kiên viết, nằm trong loại sách “Vụ Án” này.

Nhưng không mấy lâu, dù cần đọc, nhân dân cũng rất mau chán ngấy loại sách “Vụ Án”. Vậy thì đã xuất bản năm 1987, nếu không có người mua, tại sao năm 1994 quyển NTBKCB lại được tái bản? Nguyên nhân vì Công An Việt Cộng là lực lượng mạnh nhất trong xã hội Việt Nam hiện nay. Hàng năm họ có khoản tiền lớn chi vào việc cung cấp tài liệu, văn hóa phẩm bồi dưỡng chính trị cho cán bộ Công an. Hai anh Đại tá Nam Thi – Minh Kiên đã về hưu. Quỹ công an mua sách của hai anh để hai anh có khoản tiền.

Tôi trích đăng vài trang hai anh Nam Thi – Minh Kiên viết về chúng tôi để bạn đọc thấy họ đã vu cáo, đã chửi rủa chúng tôi như thế nào. Bị CAVC “chửi rủa” không phải là chuyện nhục nhã mà cũng chẳng phải là một vinh hạnh. Tôi chẳng cần “trả lời” họ. Tôi đăng vài trang họ viết để quý bạn thấy việc làm đê tiện của bọn họ và để tôi viết lên, ghi lại những cảm nghĩ của tôi về những năm tháng u ám tôi sống ở Thành Hồ Ngục Tù.

Khi viết bài này, tôi không hỏi ý kiến các bạn tôi, những người có tên trong quyển “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút.” Chúng tôi tám người bị bắt năm 1984 – hai anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và Dương Hùng Cường đã chết trong tù ngục cộng sản – năm 1996 chúng tôi còn sống sáu người. Hai người hiện ở Thành Hồ. Cô Nguyễn thị Nhạn hiện ở đâu tôi không được biết. Ba người: anh Doãn Quốc Sĩ, Khuất Duy Trác và tôi ở Hoa Kỳ. Tôi một mình chịu trách nhiệm về những chuyện tôi viết ở đây.

Mời bạn đọc Lời Giới Thiệu truyện “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” do Cán Cộng Phan Hiền viết.

Lời Giới Thiệu

Trong cuộc chiến tranh trường kỳ bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh hoạt động quân sự mà mọi người đều biết, có những chiến công thầm lặng của các chiến sĩ an ninh, trên một mặt trận không có tiếng súng nhưng rất gay go quyết liệt.

Đặc biệt từ khi cuộc kháng chiến cứu nước giành được thắng lợi hoàn toàn, một cuộc đấu tranh mới lại tiếp diễn vì các lực lượng thù địch vẫn mưu toan phá hoại nền độc lập, xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân ta trong một cuộc chiến tranh mới. Cuộc chiến tranh trên mặt trận văn hóa – tư tưởng lúc đầu được kẻ thù hoạch định trong “kế hoạch hậu chiến”,  sau trở thành một chiến lược diễn biến hòa bình.

Nhận biết rõ bộ mặt thật của các thế lực thù địch, trong khi nhân dân ta tập trung sức xây dựng lại đất nước và mở rộng các mối quan hệ quốc tế, nhân dân Việt Nam không lúc nào xao lãng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững thành quả mà ông bà ta và các thế hệ tiếp nối đã xây đắp nên bằng bao nhiêu máu xương, mồ hôi, nước mắt suốt mấy ngàn năm lịch sử oai hùng.

Cùng với các lực lượng yêu nước trên mọi lĩnh vực xây dựng và bảo vể Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa, các chiến sĩ an ninh nhân dân lại bước vào cuộc chiến đấu mới đầy cạm bẫy và đòi hỏi nhiều trí thông minh, tinh thần sáng tạo trên mặt trận chính trị, văn hóa và tư tưởng. Những chiến công thầm lặng trên mặt trận này cần được phản ảnh, ghi lại một cách đầy đủ với nội dung phong phú, hình thức đa dạng để nêu cao những tấm gương cao đẹp của chiến sĩ và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” của Minh Kiên – Nam Thi là một trong những tác phẩm văn học góp phần làm phong phú thêm truyền thống đấu tranh bất khuất và ý chí quyết thắng của dân tộc, bảo vệ và phát huy hồn thiêng sông núi Việt Nam.

Phan Hiền

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 4)

Hai trang 5,6 NTBKCB, người viết Phan Hiền. Có thể đây là anh Phan Hiền, nhân viên Bộ Ngoại Giao VC. Lời lẽ chung chung, bài tựa này có thể dùng để làm tựa cho tất cả những “quái phẩm Cộng sản” mạ lỵ nhân dân ta trên cõi đời này. Phan Hiền nhắc lại những lời cũ rích từ khươm mươi niên. Theo đúng thông lệ anh ca tụng bọn công an Việt cộng – những kẻ bị nhân dân căm thù nhất – là những “chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc” hy sinh, mẫu mực, đấu tranh gian khổ trường kỳ.

Bài học đầu tiên trong những khóa dậy nghề Công an Việt cộng có câu: “Quân đội bảo vệ Tổ quốc, Công an bảo vệ Đảng…” Bẩy mươi mùa đói rét trôi qua trên đất nước Liên Xô vĩ đại, Thành trì của Chủ Nghĩa Xã Hội Thế Giới, đến những năm 1988. 1989 bức tượng tên tội đồ Dherzinsky, tên lập ra cơ quan KGB ác ôn nhất lịch sử nhân loại – Tượng đá Vĩ Nhân Dherzinsky oai dũng đứng trước trụ sở KGB – bị nhân dân Nga tròng xích sắt vào cổ, kéo xuống cho ra nằm ở bãi rác. Bọn nhân viên Công an Nga, Tiệp, Đức, Hung trở thành những tên “mặt người dạ thú”. Tờ báo Tuổi Trẻ Thành Hồ năm 1992 đăng một bài dịch từ một tạp chí Tiệp Khắc. Anh công an Tiệp được phỏng vấn trong bài báo này than:

- Đảng đã làm chúng tôi trở thành những kẻ thù của nhân dân.

Quyền lợi của Đảng Cộng sản và quyền lợi của nhân dân chưa bao giờ và không bao giờ đi đôi với nhau. Chuyện ấy, trẻ con lên ba, cụ già chín bó đều biết. Với những người cộng sản, việc “bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân” có nghĩa là bảo vệ những đặc quyền, đặc lợi của bọn đảng viên cộng sản, giữ vững mãi cái chế độ trong đó “người đối xử với người tàn tệ hơn là lang sói”, để yên cho bọn cộng sản mặc tình ăn trộm, ăn cướp, ăn hại, đái nát, hủy hoại đất nước, đầy đọa nhân dân, làm những thế hệ con em sống dở, chết dở trong ngu dốt, nghèo đói.

“Trí thông minh, tinh thần sáng tạo…” của công an cộng sản được biểu hiện bằng việc phóng tay “bắt hết, nhốt hết, cho đi tù chết bỏ”. Kể từ ngày Lenin “vĩ đại” gọi những người chống đảng cộng sản là “bọn sâu bọ”, Công an cộng sản tất cả các nước chẳng may bị bọn cộng sản cướp chính quyền, thẳng tay đàn áp, giết tróc những người không may cùng một dân tộc với chúng.

Tôi sống ở K3 – Trại Cải Tạo Z30A trọn năm 1989, cùng sống với tôi trong trại cải tạo này năm ấy có Thượng Tọa Thích Đức Nhuận, Linh Mục Trần Đình Thủ, Dòng Đồng Công Thủ Đức, Linh Mục Nguyễn Công Đoan, Trưởng Dòng Tên Việt Nam, Tu Sĩ Phật Giáo Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, anh Doãn Quốc Sĩ, Tiến sĩ Sử học Mã Thành Công, Giáo sư Nguyễn Quốc Sủng, Kỹ sư Lê Công Minh cùng khoảng năm trăm người tù chính trị từ khắp lãnh thổ Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1994 khi tôi đi khỏi thành phố HCM, Trí Siêu Lê Mạnh Thát còn ở Z30A, Thượng Tọa Thích Đức Nhuận mãn án đã trở về mái chùa xưa, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương năm 1990 bị điều ra Trại cải tạo Phú Khánh. Trại này nằm trong rừng giữa hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, nên được gọi là Phú Khánh.

Năm 1989 là năm cộng sản không rẫy chết mà chết ngắc ở Đông Đức. Trong Z 30A chúng tôi phấn khởi truyền nhau những tin tức như tin Bức Tường Ô Nhục Bá Linh bị phá đổ, “Đồng chí Eric Honecker vĩ đại” – danh hiệu Việt Cộng tôn xưng “Đồng chí Eric Honecker, Chủ tịch Đảng Cộng sản Đức”, Honecker có sang thăm Thành phố HCM năm 1976 – phải bỏ Đảng chạy ra nước ngoài. Chúng tôi phấn khởi nghe tin nhân dân các nước Đông Âu, theo gương nhân dân Ba Lan, tự phá gông xiềng Búa Liềm, tin vợ chồng Sô-xét-cu, Chủ Tịt Đảng Cộng Lỗ Ma Ni, bị nhân dân lôi cổ ra dí súng vào đầu, bắn bỏ. Những chuyện chúng tôi không thể ngờ có thể xẩy ra trong đời mình.

Tháng Hai năm 1990, mãn án tù lần thứ hai sáu mùa cóc chín, tôi trở về Ngã Ba Ông Tạ. Mang giấy ra trại đến phường công an khai báo để ghi tên trở vào sổ Hộ Khẩu – vừa bị bắt là tên bị xóa ngay trong sổ – anh công an khu vực, nay đổi tên là công an đường phố, bảo tôi:

- Chú viết bản tự kiểm…

Bị coi là có tội, bị bắt, bị ra tòa, bị kết án, mãn án tù, về nhà, còn tự kiểm, tự cáo gì nữa? Tôi nghĩ. Tôi hỏi:

- Tôi tự kiểm về chuyện gì?

- Về những việc chú đã làm – Anh công an Ông Tạ trả lời tôi, anh giải thích – Chú đã làm gì để bị bắt? Chú làm những gì trong thời gian cải tạo. Chú có suy nghĩ gì? Và bây giờ về chú dự định sẽ làm gì?

Tôi nghĩ thầm: “Anh mới là người phải viết tờ tự kiểm những tội lỗi của anh và của bọn anh với nhân dân chứ? Tại sao đến bây giờ tôi vẫn còn phải viết tờ tự kiểm với anh…?” Cộng sản nó sụp ở những đâu đâu, ở quê hương tôi nó còn vững lắm. Tôi bùi ngùi cầm bút viết trang tự kiểm cho xong. Tôi vụng dại đủ mọi thứ, làm việc gì cũng bê bối không giống ai, được cái viết vớ vẩn vô thưởng vô phạt thì tôi mần khá dễ dàng.

Bọn công an cộng sản Nga, Đức, Tiệp, Hung, Ba Lan, Lỗ đã phải “trả lời những tội trạng của chúng trước nhân dân”, đã “phải cúi đầu nhận tội”, đã nhục nhã vì bị nhân dân chửi rủa, khinh bỉ, vợ con tủi hổ, xa lánh.

Sẽ có ngày đẹp trời bọn cộng sản Việt Nam cũng phải chịu chung số phận với bọn đàn anh của chúng. Ngày đẹp trời ấy bao giờ đến? Tháng mấy? Năm hai ngàn mấy? Tôi có được thấy ngày đẹp trời ấy chăng? Thôi thì đành tự an ủi bằng ý nghĩ: “Mình đã thấy cộng sản sụp ở gốc rễ của nó rồi. Trước sau gì mấy cành cây mục cũng chết theo thôi. Đừng có nóng…”

Nhưng tại sao tôi lại bi quan nhỉ? Đời tôi còn những hai bó nữa kia mà? Hai bó nhiều lắm, lâu lắm chứ. Hai bó là hai mươi quyển lịch Tam Tông Miếu. Chịu khó bóc vài ba tập lịch nữa thôi, ngày đẹp trời sẽ đến. Có thể lắm chứ. Biết đâu đấy.

*****

Trích NTBKCB, trang 7, 8, 9.

Hơn một tuần nay, Nguyễn Trí Văn được nhận vào làm lái xe cho một Công ty Xuất khẩu hải sản. Nhờ người anh họ từ miền Bắc vào công tác ở thành phố quen với Trưởng phòng Tổ chức cán bộ Công ty giới thiệu nên Văn được nhận dễ dàng, vả lại anh không có quan hệ chính trị gì phức tạp. Tuy là Thượng sĩ trong quân đội Saigon cũ, nhưng anh ta chỉ biết cầm súng khi còn ở quân trường, sau đó được tuyển vào đội bóng đá của Sư Đoàn 3 Không Quân. Từ giã vị trí trung phong trên sân cỏ đã mấy năm rồi nhưng phản xạ của cơ bắp vẫn còn tốt cho nghề lái xe. Anh ta cảm thấy xin được việc làm ở một cơ quan Nhà Nước là điều may mắn đối với mình.

Cũng trong thời gian này, điều may mắn thứ hai lại đến. Anh vừa nhận được món hàng nhỏ từ Paris gửi về. Thật là của từ trên trời rơi xuống, giữa lúc gia đình anh gặp khó khăn túng thiếu. Gói hàng có kèm theo lá thư với mấy dòng vắn tắt:

Paris ngày…

Văn thân mến,

Xin gửi cho em món quà nhỏ. Gọi là của ít lòng nhiều. Mong rằng em vẫn còn ở chỗ cũ và nhận được thư này. Hãy viết thư ngay cho anh sau khi nhận được thư.

Thân ái,

Trần Tam Tiệp

Thật là một niềm vui bất ngờ đối với Nguyễn Trí Văn.

Khi nhận quà về, Văn đã khoe với vợ con, bạn bè rằng Tiệp là anh em “kết nghĩa”, mặc dầu ông ta vốn là Trung tá, “Mạnh thường quân” của đội bóng ngày xưa của anh. Và đây là lần đầu tiên anh được tin tức của cấp chỉ huy cũ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975

Lúc này, nhiều sĩ quan cũ mà anh biết đi học tập chưa về, môt số người được về lại đã dông ra nước ngoài. Trước đó, Văn cho rằng có liên lạc với các ông “xếp” ấy cũng chả cần thiết. Thật tình anh không còn nghĩ đến ai. Cái quá khứ ấy cũng nên quên đi, trừ những lần đi xem những trận bóng ở sân Thống Nhất, anh vẫn nhớ lại quãng đời cầu thủ ngắn ngủi của mình. Nay được thư kèm theo quà, anh thấy cũng hay. Quá khứ lại sống dậy trong anh. Hơn một tháng sau khi trả lời thư của Trần Tam Tiệp, anh lại nhận được lá thư thứ hai của ông ta. Gói quà lần này sộp hơn lần trước nhiều, đem ra chợ trời bán gần được 4000 đồng, đủ trang trải mấy món nợ, còn dư may sắm cho vợ con. Trong thư Trần Tam Tiệp nhờ tìm gặp Trung úy Không quân Trần Ngọc Thự và một số người khác để lấy địa chỉ gửi qua cho Tiệp. Ông ta bảo những người đó là bạn thân, ông ta cần biết địa chỉ để gửi quà về giúp. Văn thấy không thấy gì trở ngại, vả lại đây là chuyện”tình nghĩa” không có lý do từ chối. Chỉ trong hai Chủ nhật, Văn đã tìm gặp được mấy người bạn cũ, và từ người này hỏi thăm người nọ, cuối cùng anh đã gặp hầu hết những người Tiệp cần biết tin tức.

Sau lần ấy, Văn còn nhận thêm vài món quà nữa, rồi Tiệp viết thư báo sắp bận đi làm ăn xa. Từ đó bặt tin luôn. Văn thấy như vậy cũng đủ rồi. Làm một cái gạch nối cho viên chỉ huy cũ liên lạc với anh em bạn bè, anh đã hoàn thành và cũng đã được trả công. Anh trở về với nếp sống cũ và hầu như quên đi chuyện ấy, chỉ còn giữ lại mấy cái hộp giấy đựng quà làm kỷ niệm

Nhân vật Nguyễn Trí Văn có thật. Là một cầu thủ khá nổi trong đội banh Không quân, Nguyễn Văn Trí được anh em không quân biết tên, biết mặt. Nghe nói anh vẫn được gọi bằng cái tên thân thương Trí Lùn.

Những Tên BKCB mở đầu bằng 3 trang nói đến Nguyễn Trí Văn tức Nguyễn Văn Trí. Và từ Trí Lùn “giới thiệu” đến Trung tá Không quân VNCH Trần Tam Tiệp, ông “Dượng Ba” thương mến của anh em chúng tôi..

Công an Thành Hồ cay cú Dượng Ba của chúng tôi nhất. Mấy ảnh kết tội Trần Tam Tiệp là người chủ động trong những việc:

1. Tranh đấu trong những tổ chức văn học – chính trị quốc tế để bảo vệ những văn nghệ sĩ Saigon bị cộng sản đàn áp.

2. Tố cáo trước dư luận thế giới những hành động bạo tàn của VC ở Việt Nam.

3. Làm nhịp cầu liên lạc giữa những văn nghệ sĩ Saigon sống dưới ách đàn áp thô bạo của cộng sản với những tổ chức văn học-nhân quyền quốc tế như PEN International, Amnesty International: Hội Văn Bút Quốc Tế, Hội Ân Xá Quốc Tế.

4. Cung cấp sự giúp đỡ về tinh thần và tiền bạc cho những văn nghệ sĩ kẹt giỏ ở Thành Hồ đỡ tả tơi, cuộc sống bớt chút màu sắc đen hơn mõm chó mực.

Công an Thành Hồ gán cho Trần Tam Tiệp cái tội “thúc đẩy chúng tôi viết và gửi tác phẩm ra nước ngoài…”

Và Công an Thành Hồ cay cú nhất vì mấy ảnh cóc đụng được vào cái lông chân nào của Trần Tam Tiệp. Dượng Ba của chúng tôi sống ở Paris. Các anh Công an VC hung hăng con bọ xít bắt, bỏ tù mút chỉ cà tha mấy tên dzăng nghệ sỡi kẹt giỏ bị mấy anh gọi là Biệt Kích Cầm Bút – mấy ảnh là công an VC cầm súng -
nhưng mấy ảnh hận mà hổng có làm gì được Dượng Ba Trần Tam Tiệp của chúng tôi. Vì vậy mấy ảnh cay cú dữ dội.

Trong thời gian tôi bị thẩm vấn ở Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu – những tháng 5,6,7 năm 1984 – Sáu Khôi, một nhân viên cấp trung của sở Công an thành phố HCM, đến nhà giam chỉ huy bọn thẩm vấn chúng tôi. Sáu Khôi không đích thân thẩm vấn chúng tôi. Y chỉ ghé vào các phòng đang thẩm vấn, ngồi nghe, góp vài ý kiến. Tôi thấy rõ Sáu Khôi căm thù Trần Tam Tiệp. Mỗi lần nói đến Dượng Ba của chúng tôi, Sáu Khôi đều gằn giọng: “… Thằng Tiệp… Thằng Tiệp…”

Đọc mấy trang NTBKCB trên đây, ta thấy hai anh Nam Thi – Minh Kiên viết về Trí Văn nhẹ hều. Đi tìm những ông không quân vất vưởng ở Thành Hồ để những ông này liên lạc với Trung tá Trần Tam Tiệp ở Paris, nhận được vài thùng quà. Rồi thôi. Chẳng có tội gì cả. Nhưng… “Dziệc cộng dziếc dzậy mà hổng phải dzậy…” Dziệc cộng công an nói và dziếc lại càng khác nhau. Sự thực não nùng bi đát đúng kiểu VC là chỉ vì cái tội đi tìm mấy ông bạn đồng ngũ không quân giúp Trung tá Trần Tam Tiệp, anh Nguyễn Trí Văn, tức Nguyễn Văn Trí, tức Trí Lùn Đội Bóng Không Quân Quân Lực VNCH, bị công an Thành Hồ cho xe bông đến tận nhà – nghe đâu Trí ở Gò Vấp – ưu ái đưa vào Số 4 Phan Đăng Lưu cho nằm ngâm thơ Gãi Háng – cơm tù bưng đến tận cửa xà lim, nước tù xịt xà lim cho tắm vì những ống nước nhà tù đặc cứng rỉ sét – Không hề bao giờ là Biệt Kích Cầm Bất Cứ cái gì, Nguyễn Trí Văn cũng nằm xà lim, ăn cơm nhạt xỉu xỉu mười tháng.

… Văn thấy không có gì trở ngại, vả lại đây cũng là chuyện tình nghĩa không có lý do gì từ chối…

Nguyễn Trí Văn không đến nỗi phải chết vì “tình nghĩa”. Anh chỉ vì “tình nghĩa” mà bị Công an Việt cộng cho đi tù gần một mùa lá rụng…

… Anh trở về với nếp sống cũ và hầu như quên đi câu chuyện ấy, chỉ còn giữ lại mấy cái hộp giấy đựng làm quà kỷ niệm…

Poste Phú Lang Sa văn minh hơn Post Mẽo ở những hộp các-tông đựng quà. Những hộp giấy vàng vuông vắn, gọn đẹp. Những năm đầu thập niên 80 một trong những lạc thú hào hứng nhất của những Anh Con Trai, những Chị Con Dâu Bà Cả Đọi ở Thành Hồ là đến Bưu Điện hay vào phi trường Tân Sơn Nhất lãnh đồ. Gần như cả nước sống nhờ đồ ngoại quốc gửi về. Có đồ là có tất cả. Có đồ là nỗi tuyệt vọng mênh mang trong lòng ta dịu bớt, vơi đi, ta được tiếp đôi chút hy vọng để có thể không chết. Nỗi sợ hãi công an trong ta cũng nhạt đi khi ta có đồ. Đồ càng lớn, càng nhiều, càng tốt. Tất nhiên. Nhưng đồ nhỏ cũng rất tốt. Chỉ một paquet một ký lô thuốc Tây từ Pháp quốc văn minh phồn hoa trữ tình lãng mạn sông Seine mờ sương trắng – là áo sương mù hay váy em. Ga Lyon đèn dzàng… Những anh Con Trai Bà Cả Đọi từ muôn kiếp trước đến muôn kiếp sau chưa từng một lần được đặt những bước loạng quạng đến Paris, chưa từng biết mùi Đầm là gì… vẫn xúc động khi nghe chuyện lên xe tiễn em đi. Chưa bao giờ buồn thế… – những paquet quà thơm phức từ Pháp quốc gửi về Thành Hồ. Mỗi paquet – tuy không đủ lãng quên đời – cũng đủ cho hai vợ chồng và ba con nhỏ sống được một tháng.

Đấy là thời gian những anh Con Trai Bà Cả Đọi ở thành Hồ được gọi là những anh Tư Đê. Đúng ra mấy ảnh là mấy anh Năm Đê. Ngoài một tiếng Đê, ngôn ngữ thuần túy dân tộc, mấy ảnh luôn luôn sài bốn tiếng vần Đê:

- Đi, Đồ, Đói, Đợi

- Sao không đi? Còn ở đây?

- Đi không được. Sao lại không đi!

- Có tính đi không? Có đường đi không?

- Có đồ không?

- Đói thấy mồ…

- Đành đợi vậy…

Mấy ảnh nói mấy ảnh đợi, nhưng chính mấy ảnh cũng không biết mấy ảnh đợi ai, đợi cái gì, đợi đến bao giờ…

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 5)

Thời ấy – những năm đầu thập niên 80 Thành Hồ có mấy câu Phóng Dao tả cảnh những anh Con Bà Cả Đọi đi lãnh đồ:

Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
Đôi tay anh vín đôi cành
Quả chín anh hái quả xanh anh vồ
Năm sáu năm nay anh ăn ở Thành Hồ
Anh ra Bưu điện lãnh đồ em cho
Đồ em vừa nặng vừa to
Anh đã con mắt, anh no cái mồm…

Thấy mấy cái hộp đồ Poste Pháp tốt quá Trí Văn giữ lại làm kỷ niệm. Anh đâu biết mấy cái hộp giấy vô thưởng vô phạt đó sẽ bị công an VC coi là những bằng chứng về tội anh liên lạc với người nước ngoài. Tôi không gặp Trí Văn lần nào, nhưng tôi biết chắc mà không cần hỏi là khi bắt Trí Văn, bọn công an CS tịch thâu mấy cái hộp đựng quà, ghi vào biên bản bắt, coi đó là “tang vật”.

Vợ chồng Anh Con Trai Bà Cả Đọi trong mấy mùa thu lá rụng ở Thành Hồ – từ 1980 đến 1984 – có may mắn được hai vị sống ở Pháp gửi thuốc tây cứu trợ nhiều nhất. Hai ân nhân của anh chị là:

- Dượng Ba Trần Tam Tiệp, Tổng Thư Ký Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.

- Cô Phương Hương Cao Ngọc Phượng, tu sĩ Phật giáo. Từ năm 1992, cô đã xuống tóc quy y, pháp danh Thích Chân Không.

Trong mấy mùa lá đa rụng ấy Alice làm hoa vải tại gia. Nàng giữ lại những hộp giấy đựng đồ làm hoa. Trong căn nhà nhỏ ở Cư xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ của vợ chồng anh chị có đến mấy chục cái hộp giấy của Poste Pháp.

Trong đêm công an Việt cộng đem chiếc xe bông thứ hai đến Cư Xá Tự Do đón anh chồng đi lần thứ hai – đúng là tội nghiệp anh Con Trai Bà Cả Đọi. Anh chỉ can tội dính líu tí ti vào bộ phim Hai Chuyến Xe Bông dưới bóng cô đào Thanh Nga thôi. Dzậy mà đời anh cũng tả tơi hoa lá vì hai chuyến xe bông thực sự. Trong vòng mười niên mà hai lần đi xe bông công an Việt cộng thì đúng là đời anh đen hơn mõm chó mực – Trong đêm anh bị bắt lần thứ nhì, công an xếp một đống hộp đựng đồ từ Pháp gửi về ở giữa nhà, bắt vợ chồng anh đứng “chụp ảnh với tang vật”.

Trong đống “tang vật” có hai hộp cạc tông không phải hộp đựng quà trả công cho gián điệp. Anh Con Trai đứng rũ liệt chân tay, chị Con Dâu vẫn còn cố tranh đấu đến cái gọi là hộp giấy cuối cùng:

- Mấy cái hộp đó không phải là hộp đựng đồ ngoại quốc gửi về. Tôi yêu cầu mấy anh bỏ ra…

Anh Con Trai nói với vợ:

- Thôi em ơi. Nếu không có tội thì dù ta có cả ngàn cái hộp như thế này ta cũng không có tội. Còn có tội thì chỉ cần một cái hộp cũng đủ rồi…

Như vậy là trong đêm Công an Thành Hồ đến bắt tôi lần thứ hai – hai giờ đêm ngày 2 tháng 5 năm 1984 – Alice có vài bức ảnh chụp chung với anh chồng vất vả trước đống tang vật. Những tấm ảnh này hiện nằm trong Kho Hồ sơ Nhân dân Tù tại Sở Công an thành phố HCM.

Hơn mười mùa mít chín trôi qua, hôm nay ngồi bình an viết những dòng này ở Rừng Phong Arlington, bang Virginia của những người Còn Trinh và Yêu Nhau, hồi tưởng lại giây phút vợ chồng sánh vai nhau đứng trước ống kính máy ảnh của bọn công an Việt cộng nửa đêm trong căn nhà nhỏ tôi có một nỗi bực mình nho nhỏ.

Tôi bực mình vì chính tôi. Đêm ấy khi bọn đầu trâu, mặt ngựa ùn ùn kéo vào căn nhà nhỏ của tôi rồi tôi vẫn còn mong đợi một cách ngu si, đần độn quá mức là chúng chỉ vào “xét sổ hộ khẩu” sơ sơ rồi đi. Bởi nghĩ như vậy và muốn chúng ra mau mau đi ra khỏi nhà để mình tiếp tục ngủ lại, tôi đã không sửa sang cho người ngợm tôi đừng tả tơi quá.

Nửa đêm về sáng, đang ngủ mệt, bị công an đập cửa dựng dậy, hào hoa phong nhã đến như các ông Phan An, Tống Ngọc, Tư Mã Tương Như cũng… nát như tương. Lúc ấy tôi đầu bù, tóc rối, mắt có ghèn, miệng hôi, áo quần xộc xệch. Phải chi tôi cứ mặc cho chúng ngồi đợi – khi chưa đọc lệnh bắt giam, chúng chưa sẵng giọng với mình – tôi đàng hoàng đi làm vệ sinh, đánh răng, rửa mặt, chải đầu, bận sơ mi, quần tây săng pờli đàng hoàng rồi mới ra tiếp chúng. Thì đã sao? Đầu tóc tả tơi, quần áo xộc xệch, mặt mũi nhơm nhếch thì chúng cũng bắt, cũng tù. Trang phục chỉnh tề, bộ dạng hào hoa phong nhã thì cũng chỉ đến đi tù thôi. Đằng nào cũng tù nhưng tù đường hoàng, tại sao mình lại tù rúm ró thiểu não?

Than ôi… Khi tôi có được cái kinh nghiệm ấy thì đã muộn màng. Tôi không còn có dịp dùng đến kinh nghiệm ấy… Qua hai lần bị Việt cộng bắt, bị Việt cộng thẩm vấn, tôi có cảm tưởng như tôi là một em trinh nữ lần đầu tiên bị đàn ông hiếp dâm – trinh nữ bị hiếp dâm lần đầu, tôi không nói đến những trinh nữ bị hiếp dâm năm bẩy chục lần dài dài và đều đều – Em trinh nữ bị hiếp dâm lần đầu thường mềm nhũn chân tay, không chống cự mà cũng chẳng phản ứng, thuận ứng gì cả – Với bọn Việt cộng bắt tôi, hỏi cung tôi, đe dọa tôi, tôi cũng mềm như bún. Nhiều đêm nằm vắt chân lên trán trong biệt giam nhớ lại buổi hỏi cung trong ngày tôi vẫn bực bội với chính tôi:

- Sao mình lại có thể ngu đần quá đến như dzậy? Sao lúc nó hỏi câu ấy mình lại không trả lời như vầy… như vầy… Trả lời như thế thì tội mình đâu có nặng hơn? Tại sao mình lại trả lời một câu ngu đến như thế chứ?

Tôi giống như các em trinh nữ bị hiếp dâm lần đầu nhưng tôi cũng có một điểm khác các em. Đó là điểm có một số các em dường như cũng mong, cũng thích bị hiếp dâm còn tôi, tôi không thích công an Việt cộng hiếp dâm tôi một ly ông cụ nào.

*****

Khi viết về những người bị các anh gọi văn huê là “Những tên biệt kích cầm bút”, những người bị các anh bắt giam mút mùa trinh nữ và khép vào tội nặng “Gián Điệp Tử Hình” v.v… hai anh cớm Minh Kiên – Nam Thi đã cố tình không viết một chi tiết quan trọng. Hai anh đánh bài vờ như chuyện đó không có. Họ chỉ nhắc qua đến chuyện đó trong có một dòng.

Đó là sự kiện trong số 8 Biệt Kích Dzăng Bút bị bắt ở Thành Hồ Tháng 5 năm 1984, có đến 6 mạng đã bị bắt đi cải tạo, đi tù từ hai đến năm, sáu mùa lá rụng. Kể tên:

1. Gián điệp đầu sỏ Doãn Quốc Sĩ: Đã tù năm niên, năm 1981 từ trại Gia Trung – Gia Lai trở về đường An Dương Vương, Sàigon.

2. Khuất Duy Trác: Năm niên, năm 1981 từ miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa trở về đường Lý Thái Tổ, Sàigon.

3. Trần Ngọc Tự: Năm niên, từ Phú Quốc, Hoàng Liên Sơn trở về khu bên trong Cổng Xe lửa số 6, Sàigòn.

4. Dương Hùng Cường: Ba niên, từ đâu đó hổng nhớ trở về căn nhà ở gần cái gọi là “Trung tâm Nữ Quân Nhân” đường Lý Thường Kiệt. Ngày xửa, ngày xưa trên mục “Cà Kê Dê Ngỗng”, báo Con Ong, chủ nhiệm Minh Vồ, Dê Húc Càn, bút hiệu của Dương hùng Cuờng, từng viết một bài về cái gọi là “Trung Tâm Nữ Quân Nhân”. Anh théc méc không hiểu cái Trung tâm ấy nó mô tả ký gì.

5. Lý Thụy Ý, nữ biệt kích, từng có thời giữ Trang Kaki Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, tù hai mùa mít chín.

6. Hoàng Hải Thủy: tù nhẹ nhất, 23 tháng ngồi rù trong trại giam số 4 Phan Đăng Lưu, cuối 1979 trở về khu Hồ tắm Cộng Hòa Ngã Ba Ông Tạ nổi tiếng về bộ môn Cầy Tơ dân tộc.

7 và 8: Khứa lão Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và Em Ghế Tơ Nguyễn Thị Nhạn là hai người mới nếm mùi tù cộng sản lần thứ nhất.

Minh Kiên – Nam Thi bị bắt buộc giả vờ không biết bọn văn nghệ sĩ Sàigòn bị bắt lại đã chịu một lần tù tội – ngôn ngữ Việt cộng học mót Trung cộng là “cải tạo” – bởi vì nếu họ viết ra chi tiết này thì kỳ quá. Té ra mấy tên Sè Goòng bại trận này chúng nó gan cóc tía hay sao? Đã một lần tù rồi chúng vẫn không tởn? Chúng vẫn coi như “nơ pa”? Dzậy là sao? Nếu không phải bọn chúng gan lì thì chế độ “giáo dục cải tạo bằng lao động” do đảng ta học mót và áp dụng chẳng có qua một tí ti giá trị thực tiễn gì cả sao?? Mà nào có phải là bọn chúng bị đi tù năm bẩy tháng gì cho cam? Tên nhẹ nhất cũng hai mùa lá rụng, tên nặng là năm, sáu năm.

Khi phịa ra cảnh Hoàng Hải thả lời ong bướm kiểu cải lương miệt vườn với bà chủ Vi-la Kiều Trang, Nam Thi – Minh Kiên gài cho Hoàng Hải nói:

- Tôi gác bút rồi. Viết ký gì bi giờ???

Sai. Dziệc cộng dzô Sè Goòng, Hoàng Hải – cũng như những Anh Con Trai Bà Cả Đọi khác – bị bắt buộc phải gác rất nhiều thứ nhưng bút thì anh không bao giờ “gác” cả. Bằng chứng: Tạp chí Thời Tập, do Viên Linh chủ trương, ấn hành số 1 tháng Tư năm 1979 ở Hoa Kỳ đã đăng bài viết gửi đi từ Thành Hồ của Hoàng hải Thủy, có cả ảnh đương sự ở trần, rầu rĩ triển lãm bộ xương bọc da trước lá cờ đỏ sao vàng ở giữa lòng Thành Hồ.

Tôi đăng lại một số bài tôi viết trước 1977 và trước 1984, được đăng ở hải ngoại trước nhất là để khoe, thứ hai là để làm bằng chứng hai anh Nam Thi – Minh Kiên bảo tôi “gác bút” là viết không đúng.

Ngay từ đầu năm 1976 tôi đã lai rai viết ra ngoại quốc với mục đích diễn tả thực trạng đời sống của nhân dân Sàigòn. Tôi diễn tả những nỗi buồn sầu tuyệt vọng nhiều hơn là chửi bới Việt cộng, những bài tôi viết không hô hào người khác cầm súng bắn Việt cộng. Nhưng dầu sao thì bọn văn nghệ sĩ Sàigòn không nhanh chân bỏ của chạy lấy người kịp chúng tôi cũng đã tìm cách viết ra nước ngoài rất sớm – sớm đến cái độ có thể gọi là “Sớm nhất thế giới”. Chỉ xỉu xỉu sáu tháng sau ngày nón cối, dép râu, răng cải mả, tóc bím, đít bự như cái thúng, ngơ ngáo kéo vào Sàigòn chúng tôi đã có thư, tin, bài, thơ linh tinh đủ thứ gửi ra nước ngoài. Chẳng phải là vì chúng tôi can đảm hay giỏi giang gì hơn người, phần lớn tại vì đến năm 1975 tình hình chính trị thế giới đã bắt đầu có những chuyển biến bất lợi cho bọn cộng sản. Sự liên lạc bằng thư giữa những nước tư bản Âu Mỹ với thành phố Sàigòn bị cưỡng hiếp đổi tên được tái lập ngay sau ngày 30 Tháng Tư 75; thư từ Xê Kỳ, Pháp gửi về Sàigòn tới tấp, thư con cá Sàigòn vượt đại dương đi các nước tự do, tư bổn cũng nườm nượp. Nhờ vậy bọn chúng tôi mới lén gửi được những bức thư tả oán ra khỏi nước. Xin so sánh với tình trạng các nước đàn anh Xã hội Chủ nghĩa: Khi bức màn sắt rơi xuống nước Nga, hai mươi mùa trứng caviar đóng hộp sau vẫn chưa có một văn nghệ sĩ Nga nào sống trong nước gửi được những tác phẩm chống chế độ bạo tàn ra nước ngoài. Khi bức màn tre chụp xuống Trung Quốc, sau hai mươi mùa lệ chi được gửi Express đến Đảo Bồng Lai cho nàng Dương Thái Chân thưởng thức, mới có lẻ tẻ vài ông chính khứa Tầu cộng bỏ đảng dzọt được sang các nước Pháp, Anh lai rai viết tố cáo những tội ác ghê rợn của chế độ Trung Cộng.

*****

Le Parisien: Hoang Hai Thuy a refusé de se taire

Dưới đây là bản dịch bài báo viết về “Kiệt kích dzăng bút Hoàng Hải Thủy” đăng trên nhật báo Le Parisien, Tháng Tư năm 1988. Người viết là Nữ ký giả Catherine Monfazon:

Đáp ứng lời kêu gọi của Hiệp Hội Phóng Viên Không Biên Giới – L’Association Reporters sans frontières – 38 cơ sở truyền thông Pháp quốc đã nhận bảo lãnh mỗi cơ sở một ký giả bị tù vì làm tròn công việc của mình. “Le Parisien” tự chọn tranh đấu cho sự tự do của Hoàng Hải Thủy, ký giả Việt Nam, hiện đang bị bỏ quên trong một trại lao động cải tạo.

Chúng tôi yêu cầu chính phủ Pháp quốc không những chỉ vận động để đưa ông Thủy ra khỏi nhà tù mà còn, theo sự đòi hỏi của gia đình ông ta, đưa ông ta ra khỏi quốc gia của ông ta…

Hoàng Hải Thủy không chịu câm miệng

Đừng nói đến cái tên Hoàng Hải Thủy ở Việt Nam, nói đến cái tên đó trong điện thoại, đường dây sẽ bị cắt, trong đường phố những đôi mắt sẽ nhìn xuống đất. Được nhờ đến Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, được coi như là một động lực của công cuộc đổi mới của Việt Nam, sẽ bực bội gạt bạn sang Bộ Tư pháp, một cách từ chối, không tiếp khéo léo.

Hoàng Hải Thủy năm mươi chín tuổi, đêm đêm nằm ngủ trên tấm ván rộng năm mươi phân giữa ba ngươi người bạn tù chung phòng giam trong trại cải tạo Xuân Lộc, một nơi cách thành phố HCM (Sàigòn) một trăm hai mươi cây số. Những lời buộc tội thật mơ hồ “Lên tiếng chống chủ nghĩa cộng sản” Người ta trách ông ta đã gửi ra nước ngoài những bài thơ, bài viết không sao có thể đăng được trong những tờ báo Việt Nam bị rọ mõm.

Hoàng Hải Thủy biết rất rõ những người cộng sản. Bên cạnh họ ông đã tham gia kháng chiến năm 1945. Nhưng kề từ đó ông chỉ đi theo một con đường: nhân bản. Thi sĩ, văn sĩ, ký giả, dịch giả: ông được nhiều người biết vì tính tình hay nói thẳng, vì niềm hăng say tố cáo những sự bất công. Ông tự ý làm những việc ấy. Trước năm 1975 ông công khai chỉ trích chế độ cũ trên những tờ báo châm biếm như tờ Con Ong (nghĩa đen là con ong chuyên châm chích). Ông cũng là viên chức của Trung tâm Thông Tin Hoa Kỳ, USIS.

Năm 1974, ông dịch “Trăm năm cô đơn” của Garcia Marquez. Bản dịch truyện này bị cấm xuất bản. Bản dịch “Quần đảo ngục tù” (Archipel du Goulag) cũng bị cấm. Lần này là đảng cấm. Sau năm 1975 Hoàng Hải Thủy phải sống nhịn nhục. Nhưng ông từ chối không chịu im tiếng. “Ông ấy không thể im lặng trước những đau khổ của đồng bào ông. Ông ấy tức giận khi thấy bọn cán bộ kêu gọi người khác hy sinh nhưng chính chúng lại sống như vương giả”. Đấy là lời một người bạn của Hoàng Hải Thủy nói về ông.

Năm 1977 ông ta đã bị bắt lần thứ nhất, bị giam hai mươi ba tháng trong nhà tù Chí Hòa. Vừa ra khỏi tù, ông lại cầm bút. Ông bị bắt lần thứ hai năm 1984. Năm 1988, ông bị xử ở tòa án. Người bạn của ông nói tiếp về ông: “Trong phiên xử, ông ấy có nói ông không viết vì thù hận chính quyền mà viết để chống lại tất cả những kẻ dối trá từ trong trái tim…”

Bị tuyên án sáu năm tù Hoàng Hải Thủy chỉ được trả tự do vào tháng Năm năm 1990. Ông còn phải chịu đựng nhiều tháng sống trong trại cải tạo vì thái độ tự do tư tưởng của ông, một thái độ mà cái chính phủ vẫn tự nhận là đã mở nắp nồi và đổi mới vẫn không thể chấp nhận được.

Nữ ký giả Catherine Monfazon
Nhật báo Parisien

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 6)

Quý vị vừa đọc bản dịch bài báo của nữ ký giả Catherine Monfazon, Nhật báo Le Parisien, ấn hành ở Paris. Năm 1988, nữ phóng viên Monfazon đi Bắc Kinh, Trung Quốc, rồi đến Hà Nội và thành phố HCM. Vì nhật báo Le Parisien nhận bảo trợ và đòi trả tự do cho người viết Hoàng Hải Thủy, cô Monfazon tìm đường đến gặp vợ con Hoàng Hải Thủy. Khi cô thất vọng hoàn toàn và sắp lên phi cơ về Paris tình cờ cô gặp một người bạn của Hoàng Hải Thủy. Nhờ vậy cô đến được căn nhà nhỏ của vợ chồng Công Tử Hà Đông trong Cư xá Tự Do giữa Ngã ba Ông Tạ và Ngã tư Bảy Hiền.

Đây là bài báo nữ ký giả Monfazon viết về vợ con Hoàng Hải Thủy đăng cùng trên trang báo Le Parisien với bài báo trên.

Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu ông ấy

Hoàng Hải Thủy và cả gia đình ông phải trả giá đắt vì niềm khao khát tự do của họ. Nhưng họ vẫn sát cánh với nhau và họ hy vọng.

Đêm đen như mực ở thành phố HCM. Cô con gái của Hoàng Hải Thủy, Giang, ba mươi hai tuổi, di chuyển vòng vèo giữa rừng xe đạp và xe xích lô trên chiếc xe gắn máy mua trả góp. Cô dừng xe trong một xóm đông dân cư. Con đường trở nên sình lầy. Im lặng. Giang dựng xe trước cửa vào nhà, cạnh mấy chuồng gà. Anh con và bà vợ Thủy chờ đón chúng tôi. Vài cái ghế, hai cái giường không nệm, một tủ lạnh rỉ sét, sân nhà lát gạch bông đỏ trắng rất sạch: tất cả toát lên một sự nghèo túng được che dấu cẩn thận.

Mái tóc bạc được chải tươm tất, xanh xao, rất gầy, rất đường hoàng, bà vợ của Thủy nói tiếng Pháp lần thứ nhất từ hơn hai mươi năm nay.

Một bức ảnh rất đẹp của ông chồng trang hoàng bức tường lở vôi, bên cạnh hai tờ thông cáo tuyên truyền của cộng sản mà nhà nào cũng phải dán. Đỗ Thị Thủy không được gặp mặt chồng từ hai tháng nay. “Ông bố tôi mạnh khỏe, bà mẹ tôi mới chịu không nổi. Bà mất mười ký lô,” anh con trai hai mươi tám tuổi nói nhỏ.

Họ nói đến ông bố và ông chồng của họ với niềm kiêu hãnh, họ nhắc đến những bài ông đã viết, những bài này đều bị công an tịch thu, những gì ghi lại nỗi tuyệt vọng, sự đau khổ và cái đói của nhân dân. “Ông ấy nói ít, viết nhiều”. Bà Đỗ nói. Tôi hỏi: “Có bao giờ bà yêu cầu ông ấy đừng viết để cả nhà được an ninh không?” “Không bao giờ…” bà trả lời ngay, gần như bà giận dữ vì câu hỏi ấy. Bỗng bà mỉm cười dịu dàng, xúc động: “Chúng tôi đói, chúng tôi không có tiền, nhưng chúng tôi chấp nhận tất cả những cái đó. Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu thương ông ấy, chúng tôi kiêu hãnh vì sự can đảm của ông ấy”.

Cái giá của sự tự do tư tưởng của Thủy là một giá đắt. Để có thể sống, họ phải bán hết. Nữ trang, đồ đạc, quần áo. Đến cả ba ngàn quyển sách của Thủy, từ tủ sách lớn ấy, họ còn giữ được khoảng trăm quyển cất kỹ trong một ngăn tủ nhỏ. Camus, Nabokov, Nietzche, Zola, Sacha Guitry… Những sách này đều được những người con của Thủy đọc đi, đọc lại. Từ nhiều năm nay các con của Thủy bán bánh ngoài đường. Tất cả việc học của họ đều bị cấm. Hiện nay họ đang muốn tin vào việc Thủy sắp được thả tự do. Rồi sau sẽ ra sao? Họ lo âu. “Ông ấy lại sẽ bị kiểm soát, bị theo dõi khắp nơi. Lại có sợ hãi. Ông ấy có thể lại bị bắt. Chính phủ phải để cho chúng tôi ra đi. Không có tờ báo nào ở đây nhận cho ông ấy làm việc. Với cái tên ấy, ông ấy sẽ bị từ chối ở khắp nơi. Chúng tôi chỉ có thể có tự do ở một miền đất khác. Cô có thể làm gì được không? Ở đây người ta chỉ cho phép chúng tôi im lặng…”

Xin viết cho rõ: Người dịch The Gulag Archipelago của Alexandre Sozhenytsin ra bản Việt ngữ “Quần đảo Ngục tù” là Ngọc Thứ Lang Nguyễn Ngọc Tú. Anh đã từ trần trong trại cải tạo Phú Khánh khoảng năm 1980. Tôi dịch The First Circle của A. Sozhenytsin, “Tầng đầu Địa ngục” ấn hành ở Sàigòn năm 1973.

Năm 1977 đến năm 1979, thời gian là hai mươi ba tháng tôi bị bắt lần thứ nhất ở trại giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Bị bắt lần thứ hai năm 1984 tôi sống bốn mùa lá rụng ngoài song sắt trong Thánh thất Chí Hòa. Nữ ký giả Monfazon viết nguyên văn trong bài “…la presse muselée vietnamienne…” tạm dịch: “… nền báo chí Việt Nam bị rọ mõm…

Năm 1994 nữ phóng viên Catherine Monfazon lại đến thành phố HCM, lần này tôi được gặp cô, được ăn với cô một bữa tối trong nhà hàng Mini của bà Nguyễn Phước Đại đường Nguyễn Du. Từ năm 1990 tình hình kinh tế tài chánh của những Anh Con Trai Bà Cả Đọi kẹt giỏ ở thành Hồ có vẻ khá hơn, tôi vẫn dùng xế đạp đi lại loanh quanh khu Ông Tạ, nhưng tôi đã có cái Honda 91. Tôi dùng Honda đến khách sạn đón cô Monfazon, chở cô trở lại căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, nơi cô đã đến năm năm trước. Cô kém Kiều Giang con gái tôi hai tuổi, nói thông thạo tiếng Anh. Catherine Monfazon là một trong những người đã đối xử ân cần và giúp đỡ vợ chồng tôi trong cơn hoạn nạn. Vợ chồng tôi vẫn nhớ ơn cô.

Chúng tôi như những người sắp chết đuối vớ được cái phao – được ấm lòng và có thêm hy vọng để không chết nhờ rất nhiều người, những người bạn ở nước ngoài. Trong khi bọn Việt cộng thù hận chúng tôi, chỉ muốn chúng tôi khóc mếu, khổ sở, cố tình đầy ải cho chúng tôi phải chết hoặc dở sống, dở chết, phải quỳ gối lậy van chúng, những người bạn không quen biết từ xa ngoài vạn dặm đã gửi tình thương cho chúng tôi. Xin cảm ơn tất cả.

*****

Ngày xửa, ngày xưa…

Những năm 1940… trong thị xã Hà Đông nhỏ bé, hiền hòa chú thiếu niên hai mươi mùa mít chín sau đó tự nhận là Công Tử Hà Đông được đọc lại hai câu thơ:

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

Hai câu không nhớ của thi sĩ nào làm. Sau tìm và biết là của Xuân Diệu. Chú thấy ý thơ hay hay. Hai câu ấy ở mãi trong trí nhớ của chú.

Bốn mươi mùa sầu riêng trổ bông sau đó một người tù cải tạo ở trại Lao động Xã hội chủ nghĩa Z30A Xuân Lộc Đồng Nai được con trai lên thăm, đem cho quyển Anthology of English Poems do Đại học Oxford ấn hành. Tuyển tập thơ Anh dầy hai ngàn trang giấy, hơn một ngàn bài thơ của Shakespeare, Shelly, John Donne, Robert Browing, Mary Elizabeth Coleridge. Trong tập thơ, người tù yêu thơ tìm thấy bài thơ

The Call

Sound, sound the clarion, fill the file!
Throughout the sensual world proclaim:
One crowded hour of glorious life
Is worth an age without a name.

Thomas Osbert Mordaunt

Đêm buồn nằm thao thức trong tù nghe tiếng gió vi vu thổi đến từ núi Chứa Chan, người tù cảm khái bèn mần thơ dịch:

Tiếng gọi

Kèn vang lên, trống nổi lên
Lặng yên nghe – Tiếng loa truyền
Sống một giờ quang vinh rực rỡ
Hơn tầm thường trọn kiếp không tên!

Như vậy là phải chăng năm sáu mươi mùa ổi chín trước đây, Xuân Diệu đã đọc bài tứ tuyệt The Call của T.O Mordaunt và lấy ý ra làm hai câu

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm!

Hai câu thơ làm người tù đi một đường cảm khái, nhớ lại cả một thời thơ ấu “ngày xưa còn bé”.

Vèo trông lá rụng đầy sân.
Ái ân phù thế có ngần ấy thôi

Thấp thoáng đấy mà đã năm mươi mùa tu hú kêu trong những vườn vải đỏ. Còn nhớ như in những ngày Tháng Tám năm 1945 chú thiếu niên Hà Đông náo nức đi biểu tình giành độc lập, những ngày đi kháng chiến thật đẹp ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên, gót chân liên lạc viên đi dưới núi Thiên Thai, cửa Chùa Tiêu Sơn, Rừng Khế, nơi có lăng tẩm của các vị vua triều Lý ở trước làng Đình Bảng, từng sống trong thành Cổ Loa có giếng nước tục truyền được dùng để rửa ngọc trai thật tốt, trừng sống trong làng Phù Đổng ven đê sông Đuống, quê hương của Thánh Gióng, những đêm mùa đông nước cạn, buộc quần áo lên đầu, ôm cây chuối bơi qua sông Đuống… Những năm xưa ấy, người tù Z30A “yêu mê” Việt Minh đến là chừng nào.

Vật đổi sao dời, khi nón cối, dép râu, súng AK, cờ đỏ ngơ ngáo vào Sàigòn, chú thiếu niên năm xưa nay đã ở vào số tuổi của Mã Giám Sinh cùng không biết bao nhiêu người khác bị Bác và Đảng cho đi tù mút mùa Lệ Thủy. Chú không bị Bác giết là may, chú không chết vì bị Bác xách cổ đem đi trồng cũng là may.

Đã cảm khái người tù Z30A còn xúc động hơn khi anh đọc bài thơ Respice Finem của Francis Quarles. Đêm cuối năm lạnh lẽo trong tù anh nằm dịch bài thơ ra tiếng nước anh. Đây là nguyên bản:

Respice Finem

My soul, sit thou a patient looker-on
Judge not the play before the play is done
Her plot hath many changes , every day
Speaks a new scence, the last act crowns the play!

Francis Quarles

Vở tuồng đời

Ôi hồn ta ngồi yên mà coi
Vở tuồng đời
Đừng phê phán trước khi tuồng hết
Còn bao nhiêu màn khóc, màn cười
Tuồng đang diễn, làm sao ta biết
Mỗi ngày qua là một đổi đời
Chờ đến lúc coi xong màn kết
Mới biết tuồng hay dở mà thôi.

Trại cải tạo Z30A. Tháng 10-1989

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 7)

Vài anh tù lỡ lời gọi cai tù là “đồng chí” liền bị các “đồng chí” cự:

- Anh nói ký gì? Ai “đồng chí” mí anh? Bậy bạ…

Nội quy nhà tù Xã hội chủ nghĩa có điều bắt buộc người tù phải gọi cai tù bằng cái tên chung là “Cán Bộ”, không có ông, anh, nhất là không có “đồng chí”, “đồng rận” gì ráo trọi. Ngược lại cai tù cộng sản gọi tất cả những người dân bị chúng bỏ tù là anh, chị, dù cho anh, chị có bẩy bó, tám bó bằng tuổi ông bà nội ngoại chúng.

Nhưng Hà Huy Giáp, một trong số những cán bộ lãnh đạo văn nghệ Đảng những năm 1975-1985 lại ưu ái gọi một số văn nghệ sĩ Sàigòn lơ láo đi dự cái gọi là “Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị” năm 1976 ở Nhà Hát thành phố HCM là “đồng chí”. Số là Việt cộng vào được Sàigòn từ Ba Mươi tháng Tư năm 1975, nhưng mãi một niên sau – Tháng 5 năm 1976 – họ mới nhân dịp cho cái gọi là Chánh phủ và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đi chỗ khác chơi không xơi nước, phát động chiến dịch hỏi thăm sức khỏe văn nghệ sĩ Sàigòn VNCH. Nhiều văn nghệ sĩ, ký giả VNCH lớn nhỏ được xe bông công an thành phố HCM đến tận nhà rước đi liền tù tì trong mấy ngày đêm đầu tháng Ba năm 1976.

Xin kể tên những người bị bắt theo trí nhớ của tôi: Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Sĩ Tế, Lý Đại Nguyên, Trần Việt Sơn, Nguyễn Hải Chí tức họa sĩ Chóe, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Duyên Anh, Đằng Giao, Trịnh Viết Thành, Dương Nghiễm Mậu, Mặc Thu, Thái Thủy, Hồ Nam, Cao Sơn, Minh Vồ chủ nhiệm Con Ong, Hoàng Vĩnh Lộc, Hồng Dương, Minh Đăng Khánh, Thân Trọng Kỳ, Lê Xuyên Chú Tư Cầu, Anh Quân, Tú Kếu Trần Đức Uyển, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Hồ Văn Đồng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Hữu Hiệu, Sao Biển, Hoàng Anh Tuấn đạo diễn “Hai chuyến xe bông” v.v… Nhiều không nhớ xiết.

Chiến dịch bắt bớ rầm rộ mấy ngày đêm đầu tháng, lai rai kéo dài mãi đến cuối tháng Ba năm 1976 mới chấm dứt. Không phải tất cả văn nghệ sĩ Sàigòn đều bị bắt hết. Những người chưa bị mặt mũi xanh xám không biết xe bông công an đến rước mình lúc nào. Tháng Năm năm 1976, cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố HCM tổ chức cái gọi là “Khóa Bồi dưỡng Chính trị” cho văn nghệ sĩ Sàigòn “kẹt giỏ” hàng dân lơ láo ở Thành Hồ. Khóa Bồi Dưỡng Một có những văn nghệ sĩ thượng thặng của giới văn nghệ Sàigòn đi dự: Thái Thanh, Hoài Bắc, Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều, Thẩm Thúy Hằng, Lệ Hằng Bản Tango Cuối Cùng, Nguyễn Thụy Long Loan Mắt Nhung, Phạm Thiên Thư Động Hoa Vàng v.v… Ông Mai Thảo may mắn trốn thoát cuộc bắt bớ, ở ẩn đến hơn hai năm cho đến đêm ông xuống tàu đi tìm đường cứu nước. Tử vi ông này không có Sao Quả Tạ nên ổng không bị ở tù.

Khóa Bồi Dưỡng Một không được tổ chức linh đình, không nhiều người tham dự bằng Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai Tháng Bẩy năm 1976. Khóa Hai có trên năm trăm khóa viên hăng hái và rầu rĩ đăng ký tham gia. Giới nghệ sĩ cải lương đông người nhất. Tất cả những anh em kéo màn, chạy đề co – tức bầy dọn ngai vàng, bàn thờ Phật, bàn ghế, giường tủ trên sân khấu – những người bà con xa gần với bà Bầu, cô Đào v.v… đều là nghệ sĩ và đều tự thấy có quyền được dự khóa bồi dưỡng chính trị cho văn nghệ sĩ. Trong số 500 khóa viên có trên 300 mạng là nghệ sĩ cải lương, số 200 ngoe còn lại chia đều cho các tổ Thơ Văn, Điện ảnh, Tân nhạc, Cổ nhạc….

Cái gọi là tổ Thơ Văn – tức tổ chấy của các anh ký giả, văn nghệ sĩ viết tiểu thuyết kiểu “phơi-ơ-tông” – là tổ “được” Cán Cộng chú ý nhất. Cán Cộng coi bộ môn sáng tác gồm những người tự mình chống cộng bằng tư tưởng, bằng tác phẩm của mình, không mượn tác phẩm hay ý tưởng của người khác. Cán Cộng không coi quan trọng lắm những người thuộc bộ môn trình diễn, tức là những người khi được giao vai trò chống Cộng thì chửi Cộng ra rít theo lời người khác, khi được giao đóng vai chửi Quốc gia thì lại mặt trơ, trán bóng chửi bới Việt Nam Cộng Hòa ra trò.

Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai được khai mạc ở Nhà Hát Thành Phố. Người khai mạc là Hà Huy Giáp. Người lãnh đạo văn nghệ của miền Bắc Xã hội chủ nghĩa có nhiều người dân không đến chết đói mà chỉ đói đến chết, lại có thể hình béo tốt, hồng hào, mặt mũi, da dẻ láng bóng quá cỡ thợ mộc. Khi ban huấn từ “Lãnh đạo” nói một câu xanh rờn:

- Tôi gọi các bạn là “đồng chí” vì tất cả chúng ta đều chung một chí nguyện: làm cho nước Việt Nam được giầu đẹp, làm cho nhân dân Việt Nam được ấm no…

“Lãnh đạo” nói tiếp:

- Khóa này được gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị vì những người tổ chức thấy các văn nghệ sĩ Sàigòn có thành kiến, có ác cảm với hai tiếng “cải tạo”. Thực ra cải tạo chẳng có gì đáng sợ. Chúng ta phải tự cải tạo mỗi ngày để trở thành người tốt…

Khóa học trong 21 ngày, khóa viên được bồi dưỡng sinh hoạt phí 1 đồng tiền Hồ mỗi ngày, được một lần cấp “nhu yếu phẩm”: nửa ký đường, hai hộp sữa, hai gói thuốc lá, một lạng bột ngọt. Được đớp hai bữa trưa ở Nhà Hát: bánh mì mỗi mạng một ổ, nước ngọt, bia gọi là bia hơi được đựng trong thùng phuy. Khóa nào muốn uống phải mang theo ca hoặc mượn ca của khóa khác.

Những anh ký giả Sè Goòng trước đó một niên đã làm Ngày Ký Giả Đi Ăn Mày để bỉ mặt Tổng Thiệu, nay được dịp “ăn mày” thật sự. Ký giả là những người đói nhất trong giới văn nghệ sĩ bỏ nước chạy lấy người không kịp. Không phải anh em ký giả, văn nghệ sĩ Sàigòn ta ngày xưa không kiếm được tiền, anh em kiếm được nhưng tuyệt đại đa số anh em ăn chơi, tiêu hoang, kiếm được năm thì tiêu mười. Việt Cộng vào Sàigòn, anh em đói đến không có cơm mà ăn, không phải chỉ đói phở, đói cơm sườn, đói giả cầy quán Bà Cả Đọi. Cùng dự khóa bồi dưỡng với kẻ viết bài này có Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang dịch giả Bố Già The Godfather của Mario Puzzo. Hôm được phát “nhu yếu phẩm” như vừa kể người ta thấy vắng bóng Ngọc Thứ Lang ngay lập tức, rồi vắng bóng chàng suốt ngày hôm sau. Khóa viên không đến lớp vì còn bận tự “bồi dưỡng” bằng hai hộp sữa, nửa ký đường, hai gói thuốc, lạng bột ngọt. Chàng phát mại ngay những thứ không nhu yếu gì với đời sống của chàng để lấy tiền “choác.”

Và Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai có Cô Khóa Mộng Tuyền. Tháng Bẩy năm 1976 ở Thành Hồ, Mộng Tuyền còn trẻ, đẹp. Ký giả đói, nhưng các em đào cải lương vẫn đông vàng, đông kim cang. Các em như Mộng Tuyền – bận bà ba phin nõn, quần đen, đi guốc – phây phây đến lớp. Các em không đi xế hộp, nhưng các em cũng không đi xế đạp, các em đi học bằng xe xích lô.

Sau Hà Huy Giáp ban huấn từ khai mạc, khóa bồi dưỡng có từng này vị lên lớp, mỗi vị một ngày:

- Huy Cận nói về Thơ.

- Chế Lan Viên nói về Người Nghệ Sĩ đi theo Đảng

- Hoàng Trinh, lý thuyết gia văn nghệ nói về “Sự bế tắc văn học – nghệ thuật của xã hội tư bản”

- Vũ Khiêu nói về văn nghệ chung chung…

- Bẩy Lý, Tổng biên tập báo Sàigòn Giải Phóng lên lớp về “Chủ nghĩa Mác-Lê-nin”

Huy Cận mập khỏe, nước da bánh mật, trông không có qua một vẻ gì là người làm được những câu “Nắng chia nửa bãi chiều rồi. Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá sầu…” Huy Cận nói đúng là nói vung xích chó, nói văng bọt mép. Ngoài việc khoe anh sung sướng, thoải mái mần thơ trong chế độ xã hội chủ nghĩa, anh còn khoe anh vẫn mần thơ tình, anh quả quyết chế độ xã hội chủ nghĩa không tiêu diệt thơ tình v.v… Chế Lan Viên yếu hơn Huy Cận về mọi mặt. Buổi nói chuyện của Chế Lan Viên được tổ chức ở rạp Olympic đường Hồng Thập Tự. Rạp không đủ đèn sáng. Chế Lan Viên ngồi bàn nói chuyện, đặt ly bia trên bàn. Mỗi lần diễn giả ghé mồm uống bia, micro bắt tiếng động làm người ta nghe thấy những tiếng “chụp choạp” rất xã hội chủ nghĩa.

Vũ Khiêu – nghe nói tên thật là Đặng Vũ Khiêu – là anh nói dở nhất trong cả bọn. Vốn liếng học thức của anh chỉ đủ cho anh nói láp nháp được trong một giờ. Buổi lên lớp của anh kéo dài cả ngày. Buổi sáng anh nói được hai tiếng thì tạm nghỉ để đi giải lao và đi đé, Ngọc Thứ Lang nói ngay:

- Thằng cha Vũ Khiêu này… hay chữ lỏng…

Thành ngữ Bắc kỳ gọi những anh chữ nghĩa đựng không đầy cái lá mít nhưng thích ba hoa nói những chuyện văn học, nghệ thuật là những anh hay chữ lỏng. Vũ Khiêu thuộc loại “Bắc Kít Hay Chữ Lỏng” điển hình. Anh nói ba lăng nhăng về Kiều, ca tụng Từ Hải như đại anh hùng dân tộc. Người nghe dốt nát nhất cõi đời này cũng biết anh quên, hay anh cố tình quên, ông cố, bà sơ anh có câu dặn con cháu:

Đàn ông chớ kể Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều

Văn học lý luận gia Mác-xít Vũ Khiêu tỏ ra “hay chữ lỏng” rõ ràng nhất ở câu chuyện anh kể về cái gọi là “tình đoàn kết thân thương cố hữu” của dân tộc Việt. Anh đưa chuyện ngày xưa có nhà kia năm đời sống chung một nhà đoàn tụ gia đình hòa hợp với nhau. Vua nghe tiếng tốt bèn đến thăm và ban cho gia đình một trái lê với ẩn ý thử xem gia đình này chia nhau ơn Vua ra sao. Nhà đông tới hai, ba trăm miệng ăn. Làm sao chia cho mỗi người một miếng lê nhỏ bằng đầu que tăm xỉa răng? Trưởng gia bèn nẩy ra sáng kiến bỏ trái lê vua ban vào nồi ba mươi nước sôi, pha như pha trà, mỗi mạng uống một ly nước. Thế là cả nhà ai cũng được hưởng lộc vua.

Câu chuyện thuộc loại quân tử Tây gọi là “a-nết-đốt” – chuyện truyền khẩu, chuyện ngoài lề nghe chơi rồi bỏ – trái lê nấu nước chia nhau uống xưa như trái đất. Đó là chuyện xẩy ra dưới một đời vua nào đó bên Tầu – nếu người viết không lầm thì là đời vua Đường, vua Mật chi đó – nhưng người văn nghệ Mác-xít lại nói là chuyện xẩy ra đời vua Trần nước Việt.

Các đàn anh dzăng nghệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa lên lớp chung cho 500 đàn em dzăng nghệ, dzăng gừng, dzăng bút, dzăng báo, dzăng cơm, dzăng đủ thứ ở Thành Hồ tại Nhà Hát. Hôm sau, các khóa sinh trở về tổ mình thảo luận về đề tài đàn anh lên lớp hôm qua. Hướng dẫn viên Tổ Một Thi Văn Vũ Hạnh gọi việc này là “đèo seo…”, tức “đào sâu” vào đề tài. Thảo luận thêm, tham gia ý kiến của mình, thường là ca tụng: “… Hay quá, giúp cho người nghe có tư liệu chất lượng tốt để hiểu thêm về dân tộc, về dzăng nghệ v.v…”. Những cuộc thảo luận “đèo seo” học hỏi này có biên bản để nộp các lãnh đạo dzăng nghệ.

Khi ấy, người viết bài này đã có ý định phát biểu mấy nhận xét để ghi vào biên bản gửi đến ông Vũ Khiêu Hay Chữ Lỏng. Đại khái:

- Chuyện trái lê nấu nước chia nhau uống là chuyện người Tầu đời Đường, không phải chuyện xẩy ra đời nhà Trần nước ta. Nhận vơ không hay hướm gì và tôi nghĩ ta không cần nhận vơ. Khi ông nói trước cả trăm người Sàigòn chúng tôi về chuyện đó, tôi thấy:

- Nếu ông không biết chuyện trái lê nấu nước là chuyện Tàu thì ông ngu quá.

- Nếu ông biết chuyện trái lê nấu nước là chuyện Tàu mà ông cho chúng tôi hổng biết, ông có nói đó là chuyện đời nhà Trần chúng tôi cũng mù tịt thì ông cũng… quá ngu.

- Nếu ông biết chúng tôi cho việc ông nói chuyện trái lê nấu nước là chuyện người Việt là nói bậy mà ông vẫn cứ nói thì ông mặt trơ, trán bóng quá đỗi. Chúng tôi không có lời gì để đánh giá con người dzăng nghệ Mác-xít như ông.

Nhưng… nghĩ vậy người viết bài này đã không nói ra. Tâm trạng anh Khóa bất đắc dĩ Tháng Bẩy năm 1976 đang đen hơn mõm chó mực. Các bạn anh đang ngồi rù trong tù, anh không bị bắt như anh em, vợ con anh không khổ nhục như vợ con anh em, anh vác bản mặt nhẵn hơn cái đũng quần lĩnh cô đầu đi dự “Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị”, anh ngồi tễu mặt nghe Việt cộng nó dậy dỗ nó chỉ bảo, anh không câm miệng, cúi mặt xuống, anh còn ọ ẹ bắt bẻ Việt cộng nỗi gì.

Nghe nói có lần nói chuyện xong Vũ Khiêu hỏi Đoàn Phú Tứ:

- Anh thấy tôi nói ra sao?

Đoàn Phú Tứ trả lời:

- Anh nói thì con rắn ở trong lỗ nó cũng phải bò ra nó nghe, nó bò ra nó nghe nhưng không thấy gì cả nó lại bò vào lỗ.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 8)

Hoàng Trinh – nghe nói là sui gia với Trường Chinh – lên bục nói về “Sự bế tắc văn học nghệ thuật tư bản” nói chung và nói riêng về tình trạng tắc tị trong lãnh vực tiểu thuyết ở các nước Âu Mỹ.

Hoàng Trinh nói dễ thôi. Các đàn anh lý thuyết văn nghệ Liên Xô ăn lương tháng viết vung xích chó cả ngàn bài nghiên cứu về văn học nghệ thuật tư sản – tư bản, các đàn em chỉ việc dịch và đọc. Tất nhiên là văn học nghệ thuật tư bản đồi trụy, thối nát, tắc nghẽn, cuồng dâm, ca tụng bạo lực, ăn bám, thối nát, đang rẫy chết và chết đến đít rồi. Chuyện tất nhiên khỏi cần nói thêm. Hoàng Trinh kể một tác phẩm kịch điển hình làm bằng chứng là “văn học nghệ thuật tư sản thối nát quá cỡ…”

Vở kịch Hoàng Trinh đưa ra là vở Le Balcon của Jean Genet. Việc dùng kịch Le Balcon để đả kích văn nghệ tư sản cũng chẳng phải là sáng kiến của Hoàng Trinh, đàn anh Nga Cộng viết, Hoàng Trinh chỉ việc nhai lại.

Jean Genet là văn sĩ thuộc loại “thiên tài hắc ám, quỷ ám” của Pháp. Người Pháp có tiếng “maudit” chỉ loại người này. Ra đời năm 1911 ở Paris, bị mẹ bỏ rơi, được nuôi trong Viện Cô Nhi, năm 13 tuổi Jean Genet bị đưa đến Trại Trừng Giới, bỏ trốn, đi bụi đời, bị bắt nhiều lần vì những tội trộm cướp; năm 1948 phạm trọng tội bị án tù chung thân. Nhiều văn sĩ Pháp, trong đó có Jean-Paul Sartre, người vận động tích cực nhất, gửi kiến nghị thư lên Tổng thống Pháp xin ân xá cho Jean Genet, tác giả những tác phẩm Notre Dames Les Fleurs, Journal d’un voleur, Querelle, Miracle de la rose v.v… Jean Genet được ân xá, Jean Paul Sartre phong thánh cho Jean Genet, gọi Jean Genet là một thiên tài văn nghệ. Jean Genet qua đời năm 1986.

Đây là lời Hoàng Trinh kể kịch Le Balcon:

- Kịch xẩy ra trong một nhà ăn chơi ở thủ đô một quốc gia Âu châu. Nhà ăn chơi này do một phụ nữ làm chủ. Khách chơi là bọn đàn ông giàu tiền có ẩn ức sinh lý, những anh muốn được làm đại tướng, chánh án, giáo chủ. Chị chủ nhà tổ chức những phiên tòa cho chánh án rởm xử, những trận đánh cho đại tướng rởm chỉ huy, những thánh lễ cho giáo chủ rởm hành lễ. Đêm ấy có cuộc nổi loạn nổ ra trong thủ đô.

Anh Tổng Giám đốc Cảnh sát là tình nhân của chị Chủ Chứa. Anh đến cho mọi người trong nhà biết với lực lượng cảnh sát anh có thể dẹp được đám nổi loạn nhưng phiền một nỗi là Nữ hoàng, Chủ tịch Quốc hội, Tổng Chưởng lý, Đại tướng, Giáo chủ v.v… nghe tiếng súng nổ và biết có loạn đã bỏ thủ đô phú lỉnh ra nước ngoài hết. Anh Xếp Phú lít than thở: “Phải chi bây giờ có Nữ hoàng, Chủ tịch Quốc hội, Giáo chủ, Đại tướng v.v… xuất hiện trên ban-công Hoàng cung cho nhân dân thấy thì nhân dân bỏ bọn nổi loạn ngay.

Chị Chủ nẩy ra sáng kiến:

- Khó gì? Ở đây mình có đủ triều đình. Mình có ông Đuy Quốc Tô đây là Đại tướng, ông mần vai đại tướng quen rồi, ông còn oai phong hơn cả đại tướng thứ thiệt. Mình có ông Đờ Cốc Si Cốc đây là Chủ tịt Quốc hội, có ông Lơ Poan vẫn mần Giáo chủ hành lễ trang trọng. Ông Pip Pơ Lô đây đóng vai Chánh án đẹp lão nhất thế giới. Còn em. Em đóng vai Nữ hoàng? Được hông? Ai cũng nói trông em giống Nữ hoàng lắm. Người ta còn khen em đẹp hơn Nữ hoàng năm bẩy thành…

Và thế là – xin bạn đọc nhớ đây là lời kể của kép Hoàng Trinh ở Nhà Hát Thành Hồ tháng Bẩy năm 1976 – kế hoạch được chấp thuận. Triều đình Nhà Thổ đủ mặt Nữ hoàng, văn võ bá quan, lãnh đạo tôn giáo, tư pháp, lập pháp, quân đội, cảnh sát đàng hoàng xuất hiện. Nhân dân thấy triều đình vẫn vững như chum vại bèn bỏ rơi đám nổi loạn, tan hàng trở về nhà. Cuộc nổi loạn bị diệt thê thảm.

- Đây chỉ là chuyện kịch thôi – lời Hoàng Trinh – nhưng xin quý bạn nhớ rằng bọn văn sĩ tư sản đồi trụy đã khinh khi tất cả những giá trị của xã hội. Nữ hoàng của họ là chị chủ chứa, những nhà cầm quyền của họ là những tên đàn ông bệnh hoạn tâm-sinh lý. Không những bọn văn sĩ tư sản chỉ miệt thị những giá trị tư sản mà thôi, họ còn miệt thị cả nhân dân nữa. Nhân dân trong kịch Le Balcon được trình bày như một lớp người ngu đần chuyên bị đánh lừa và chỉ bị lợi dụng.

Lý luận gia Mác-xít ăn theo Hoàng Trinh nhận “nhân dân” thuộc phe anh, bọn văn sĩ tư sản đồi trụy phỉ báng những nhân vật lãnh đạo tư sản thì anh cho là đúng, là được, nhưng khi văn sĩ tư sản miệt thị “nhân dân” thì anh phẫn nộ. Anh hằn học:

- Jean Genet chửi cả “nhân dân”…

Tất cả những gì xấu xa trên cõi đời này đều của phe tư sản, tất cả những gì tốt đẹp trên cõi đời này đều của phe cộng sản. Thái độ nhận vơ lố bịch ấy của những người cộng sản – thường được gọi là “vơ vào” – đã làm họ bị kê tủ đứng vào miệng khi Liên Xô, thành trì xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ, phơi bầy những tội ác ghê rợn của cộng sản đối với loài người. Chuyện ấy ta chẳng cần phải nói nhiều hơn.

Chi tiết cần ghi lại về buổi nói chuyện của Hoàng Trinh là khi anh ta nói:

- Thưa quý bạn, Le Balcon kết thúc bằng câu nói của chị chủ nhà thổ. Khi cuộc nổi loạn đã bị dẹp, chị nói với cử tọa: “Kịch đến đây là hết. Trời sắp sáng. Mời quý vị trở về nhà. Xin quý vị nhớ cho rằng chẳng phải chỉ ở đây quý vị mới thấy kịch, mói đóng kịch. Ở bất cứ đâu cũng kịch mà thôi. Ở những nơi khác còn kịch cợm, còn giả dối hơn ở đây nữa”.

Hoàng Trinh vừa nói đến câu trên – “Ở đây kịch, ở đâu cũng kịch, kịch cả mà thôi” – thì khựng lại vì tiếng vỗ tay ồ ạt nổi lên.

Quý anh văn nghệ sĩ bộ môn Cải lương ngồi trên lầu Nhà hát vỗ tay trước. Bọn chúng tôi vỗ theo. Tôi – thú thực vẫn không coi trọng lắm quý anh cải lương – nhưng tôi thán phục quý anh quá cỡ thợ mộc khi tôi dự Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai cùng với quý anh và được thấy quý anh biểu diễn phản ứng tuyệt vời hai lần bằng những cái vỗ tay điệu nghệ thần sầu, quỷ khốc, nhân kinh, cán cộng ngẩn ngơ của quý anh.

Quý anh vỗ tay đây là vỗ tay hoan hô Jean Genet. Hổng phải quý anh vỗ tay hoan hô Kép Cộng Hoàng Trinh. Tất nhiên Jean Genet viết đã hay, quý anh sử dụng Jean Genet cũng tuyệt chiêu, bằng những tràng pháo tay ấy quý anh nói với bọn cán cộng:

- Đúng. Kịch cả mà thôi. Chúng tôi đến đây xem các anh đóng kịch. Chúng tôi cũng đóng kịch với các anh.

Nhưng quý anh nào là người đã nghĩ ra cách nói ấy đầu tiên? Quý anh bộ môn cải lương nào là người thứ nhất đã vỗ tay để cả nhà kịch chúng tôi bắt chước hôm ấy?

Trong Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị tháng Bẩy năm 1976, quý anh cải lương không chỉ phát biểu bằng cách vỗ tay một lần, các anh vỗ tay hai lần. Lần nào tôi cũng thấy thán phục sự linh động, óc thông minh của quý anh.

Hai mươi mốt ngày học xong, ngày bế mạc cũng được tổ chức linh đình ở Nhà Hát Lớn. Mỗi tổ cử một đại diện lên phát biểu cảm tưởng sau khóa học. Ông Nguyễn Hữu Ba đại diện tổ Cổ Nhạc lên máy.

Tội nghiệp ông già Nguyễn Hữu Ba. Ông lên nói láp nháp vài câu là được rồi. Không ai, kể cả cán cộng, muốn ông nhiều lời. Ông nói dai quá. Đã nói dai, ông còn ngắc ngứ, vô duyên.

Khi ông nói:

- Đã bao nhiêu năm chúng ta ôm người đàn bà Phi Luật Tân và gọi bà ta bằng mẹ… Bi giờ đã đến lúc chúng ta trở về với bà mẹ Việt Nam đích thật của chúng ta…

Ý ông Nguyễn Hữu Ba muốn nói bao nhiêu năm nay bọn đàn địch Sègoòng vẫn ôm cây đàn ghi-ta ét-ba-nhon mà coi đó là đàn của mình, nay nhờ Bác và Đảng cho sáng mắt, sáng lòng, hãy trở về với cây đàn cò…

Một lần nữa phải nói “Tội nghiệp…” bọn đàn địch Sègoòng có bao giờ nhận những cây đàn ghi-ta ét-ba-nhon, ha-uây-iên, vi-ô-lông là đàn Việt Nam đâu. Bọn đàn đúm cũng chẳng bao giờ ôm một người đàn bà Phi Luật Tân mà gọi là mẹ. Khi ông Nguyễn Hữu Ba nói đến bà mẹ Việt Nam bị các con yêu bỏ rơi, bỏ quên, bỏ xó, có vẻ xúc động ông ngừng lại.

Ông Ba vừa ngừng lại thì tiếng vỗ tay nổi lên từ trên lầu Nhà Hát. Một lần nữa, lại quý anh cải lương Sègoòng vỗ tay… đuổi. Ông Ba ngẩn người, ông chờ tiếng vỗ tay ngừng để tiếp tục nói. Nhưng những người vỗ tay không chịu ngừng. Ông Nguyễn Hữu Ba còn đứng đó, họ còn vỗ tay. Cuối cùng đương sự phải chịu nhận mình bị đuổi và cúi đầu đi xuống.

Quân tử Tầu có câu: “Quân tử trả thù mười năm chưa muộn”

Người viết bài này cảm khái thêm câu: “Tiểu nhân ca tụng hai mươi năm chưa muộn”

Tháng Bẩy năm 1976, tháng Mười năm 1995… Hai mươi mùa lá rụng đã rơi trên đường đời của chúng ta. Sáng nay bình yên ngồi viết ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, Virginia Đất Tình Nhân, tôi ca tụng quý anh nghệ sĩ cải lương Sàigòn ta. Tôi thán phục hai lần vỗ tay tuyệt vời của quý anh tháng ấy, năm ấy.

Chúng ta đã thấy những trò, những cảnh ruồi bâu kiến đậu trong cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị chúng ta tham dự ở Thành Hồ. Nhiều anh em ta bắt buộc phải lên micro phát biểu đã tránh né, đàng hoàng, rất khéo như Ngọc Chánh, Bạch Tuyết. Nhiều anh chị em ta lên nhận mình “mắt mù, tai điếc, nay may mắn được Đảng cho sáng mắt sáng lòng” làm chúng ta tủi hổ. Nhưng thôi, chúng ta nên quên. Tết đến, ngày xuân, năm mới. Ở xứ người chúng ta nên vui vẻ, thương yêu nhau. Tôi không bới móc tội lỗi của người khác để tội lỗi của tôi không bị người khác bới móc.

Vở tuồng nhạt nhẽo màn chưa hạ
Vai kép tuồng kia vẫn diễu hoài

Thơ Thanh Nam, Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi, làm ở Saigon năm1970. Và đây là thơ Francis Quarles:

Ôi hồn ta… ngồi yên mà coi
Vở tuồng đời
Đừng phê phán trước khi tuồng hết
Còn bao nhiêu màn khóc, màn cười

Thi sĩ khuyên ta ngồi yên mà coi. Nhưng làm sao ta ngồi yên mà coi được? Ta không phải là khán giả ngồi xem cái vở tuồng đời. Ta là một nhân vật trong vở tuồng ấy, ta bị quay cuồng, ta khóc, ta cười trên sân khấu Đời ấy.

Nếu nói được như chị chủ Le Balcon: “Kịch cả mà thôi. Giả hết”, chắc ta có thể thản nhiên sống trong vở tuồng đời. Khổ nỗi, đôi khi ta không thể đóng kịch, ta không giả dối được. Vì không đóng kịch được nên đôi khi ta bị roi đời quất hằn trên mặt. Song cuối cùng tôi thấy khi ta bị hổ nhục ta thấy hổ nhục, còn khá hơn là khi ta bị hổ nhục mà ta vẫn nhơn nhơn mặt trơ, trán bóng cho là ta không có gì để phải nhục nhã.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 9)

Tôi hổ thẹn khi phải vác mặt mo đến dự cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn. Có hôm xớ rớ trong hành lang Nhà Hát Lớn, thấy Lệ Thu đi đến, tôi không dám để nàng nhìn thấy mặt. Lẽ ra tôi phải hỏi thăm Lệ Thu về Hồng Dương, bạn tôi đang ở trong tù: “Ở đâu có biết không? Sức khỏe ra sao? Gửi đồ tiếp tế thế nào? Có tin gì gửi ra không? Có được gặp mặt không? v.v…” Nhưng thay vì hỏi Lệ Thu những câu ấy, tôi xấu hổ nên quay mặt đi hướng khác.

Ngày bế mạc khóa học được tổ chức ở Nhà Hát Lớn, tôi là người được anh chị em Tổ Thi Văn bầu làm đại diện Tổ, sẽ lên nói cảm tưởng sau khóa học. Nhưng đến phút cuối cùng những người tổ chức không cho tôi lên nói, tôi bị bất ngờ và tôi cũng sợ nên tôi ngồi im. Nếu tôi không ngán sợ lúc ấy lẽ ra tôi phải đứng lên phản đối: “Tôi là đại diện Tổ. Sao không cho tôi lên nói mà lại để người khác nói..?” Lẽ ra tôi phải làm như thế rồi bỏ ra về.

Tan hàng lúc 5 giờ chiều. Tôi u uất đến độ không muốn đạp xe về căn nhà tối của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, tôi đến nhà ông anh kết ngãi với tôi ở đường Ký Con để nói với ông vài câu, uống chạc của ông mấy ly rượu cho bớt sầu đời. Thấy tôi vào, ông hỏi tôi:

- Làm cái gì mà mặt mũi cậu trông ghê như mặt tù cải tạo vậy?

Tôi rầu rĩ trả lời:

- Hôm nay tôi đi xem một số người tự bốc phân vứt lên mặt họ. Tôi không làm việc ấy nhưng vì tôi ngồi cạnh họ nên phân văng cả sang mặt tôi.

Hai anh An Khê Nguyễn Bính Thinh, tác giả tiểu thuyết Hai Chuyến Xe Bông, Nguyễn Ngọc Tú Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già The Godfather, Quần đảo ngục tù The Gulag Archipelago, cùng dự Khóa Bồi Dưỡng với tôi đã qua đời. Anh An Khê mất ở Pháp, Ngọc Thứ Lang chết ở trong trại cải tạo Phú Khánh, Nguyễn Đình Toàn Áo Mơ Phai, Cao Nguyên Lang hiện lúc này – năm 1995 — đang sống trong Làng Báo chí An Phú. Rất nhiều bạn đồng khóa với tôi hiện sống ở Hoa Kỳ: Lệ Thu, Ngọc Minh, Băng Châu, Ngọc Chánh v.v…

Nhân vật Đảng Ủy quan trọng nhất phát biểu kết thúc Ngày bế mạc Khóa Bồi Dưỡng là “Đồng chí Thành Quỷ” Tư Tân — người Sàigòn gọi “Thành Ủy” là Thành Quỷ — “Đồng chí Thành Quỷ” Tư Tân tức Trần Trọng Tân, người năm 1994 giữ chức vụ chính trị lãnh đạo cao nhất, nhì, ba ở Thành Hồ. Trần Trọng Đăng Đàn là em Tư Tân, viết quyển “Kết án văn nghệ đồi trụy, phản động Sàigòn”. Quyển này kê khai đầy đủ tên cúng cơm, tên tác phẩm của những người viết Sàigòn bị cấm đoán. Năm 1976 rất nhiều người đến Nhà hát Thành Phố dự lễ Bế mạc Khóa học Bồi dưỡng Chính trị còn khá trẻ. “Đồng chí” Tư Tân năm ấy cũng chưa già. Năm 1994, đọc trong quyển Hoa Xuyên Tuyết của Bùi Tín tôi thấy mấy dòng:

- “… Người dân Quảng Bình, ai còn lạ gì những việc làm của anh em ông Trần Trọng Tân trong thời quân Nhật làm chủ Quảng Bình…”

Không rõ ràng lắm nhưng người đọc dù có kém thông minh cũng có thể hiểu: “Đại tá” Bùi Tín tố cáo “Đồng chí Thành ủy Trần Trọng Tân và người em trai làm mật thám, làm tay sai, làm chó săn cho Nhật.

Kể từ khi đọc những dòng ấy về anh em “Đồng chí thành quỷ” Trần Trọng Tân mỗi lần nhìn thấy bộ mặt nghiêm trọng của “đồng chí Thành Quỷ” trên Tivi tôi lại cứ tủm tỉm, lỉm rỉm cười một mình.

*****

Trích” Những tên biệt kích cầm bút“.  Trang 10 đến trang 20

Khi chủ nhà xin lỗi vào bên trong, còn lại một mình ở sa- lông, Hoàng Hải nhồi thuốc vào ống vố, đánh diêm rít một hơi dài. Lâu lắm anh ta mới mua được loại thuốc “Half and Half” quen thuộc ấy. Anh ta đưa bịch thuốc bọc giấy thiếc lên mũi ngửi. Mùi thơm phảng phất dịu ngọt. Ngày xưa những người bạn Mỹ trong cơ quan USIS biết anh ta nghiền loại thuốc này, nên vẫn mua ở PX để biếu hàng lố.

Bà chủ nhà bưng ly trà ra vồn vã:

- Mời ông xơi nước. Tôi nghe tên ông đã lâu, nay mới biết mặt. Thật là “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình”.

Bà ta cố tình làm ra có vẻ suy nghĩ để tìm câu chữ cho phù hợp trước khi nói ra câu chữ Hán ấy.

- Vâng xin cảm ơn bà — Hoàng Hải lấy vẻ lịch thiệp nói — Trước đây chúng tôi và cô Kiều Trang vốn là chỗ quen biết. Vả lại một minh tinh màn bạc như Kiều Trang thì cả nước đều biết tiếng. Thưa bà, lâu nay Kiều Trang có gửi thư, quà về không nhỉ? À, xin lỗi… Bà là thế nào với Kiều Trang.

- Tôi là chị. Cô ấy vẫn gửi thư, nhưng quà thì thỉnh thoảng thôi.

- Thảo nào, trông bà giống Kiều Trang quá!

Biết là khách khen nịnh nhưng bà vẫn cố tình vuốt mấy sợi tóc vương trên trán làm như không chú ý đến những lời khách vừa nói. Hoàng Hải cũng tự thấy mình khen quá đáng. Người đàn bà ngồi trước mặt anh tuổi đã ngoài bốn mươi, đôi má bắt đầu chẩy sệ xuống. Không có một chút gì giống tấm ảnh Kiều Trang treo trên tường với cái cổ tròn lẳn hấp dẫn, cái liếc mắt rất tình.

Thấy khách ngồi im, bà chủ nhà gợi chuyện:

- Mời ông xơi nước. Lâu nay ông có sáng tác gì không ạ?

Hoàng Hải nhấp ngụm trà nóng, lắc đầu:

- Thú thật với bà, tôi đã treo bút. Viết cái gì bây giờ? Hơn nữa, viết để làm gì? Chẳng lẽ mình lại là độc giả duy nhất của chính mình.

- Tiếc thật, không riêng gì ông, nhiều người khác cũng thế. Thật phí những tài năng….

Hoàng Hải khẽ nhún vai:

- Tôi có đến sớm quá không, thưa bà? Hôm qua tôi được anh Khuất Duy nhắn đến đây để gặp anh em. Lâu quá chưa có dịp gặp anh em làng văn, làng báo cũ, kể cũng nhớ. Chẳng hay vị nào có sáng kiến tổ chức cuộc gặp mặt này, thưa bà?

Bà chủ nhà chưa kịp trả lời thì có thêm mấy người khách nữa đến, Hoàng Hải nhận ra các nhà văn Đoàn Quốc, Dương Hùng. Thật ra, thỉnh thoảng họ vẫn uống cà phê với nhau, nhưng lâu nay chưa có cuộc họp mặt nào nhiều người. Hơn thế, họ chắc nội dung cuộc gặp gỡ này khác hẳn với những lần bàn chuyện phiếm ở các quán cà phê. Do vậy, họ siết chặt tay nhau, ôm choàng lấy nhau như nhiều năm chưa gặp.

Khi Dương Hùng lấy ra chai rượu để lên bàn. Hoàng Hải đón lấy, mở nút chai đưa lên mũi ngửi, làm bộ nhăn mặt:

- Johnny Walker hay Beehive đây ông bạn? Ông vẫn nghiện Johnny Walker đấy chứ?

- Thôi mà chế nhau làm gì ông bạn già – Dương Hùng vỗ vai Hoàng Hải – “Cây Lý” đấy “gặp thời thế, thế thời phải thế”! Thời buổi này phải trở về nguồn thôi! Xem ra, ông chưa chịu “cải tạo” chút nào cả – Dương Hùng cười ha hả.

Hoàng Hải cười theo và rút túi đặt gói thuốc “Half and Half” lên bàn, gõ gõ ống vố để trút tàn thuốc vào cái gạt tàn bằng sành, chậm rãi nhồi một cối thuốc khác.

Dương Hùng liếc thấy hiệu thuốc kêu lên:

- Tôi nói có sai đâu. Cậu vẫn ghiền “đế quốc” mà. Còn phải đưa đi cải tạo mút mùa.

Hoàng Hải cắn đầu ống vố nơi mép, nhếch môi cười khì. Đoàn Quốc nãy giờ vẫn ngồi im, lúc này mới lên tiếng:

- Xin hai ông. Tôi nghĩ họ không đưa chúng ta đi cải tạo vì cái món thuốc hay rượu đâu.

Mọi người hướng về phía ông ta. Kể ra trong làng văn trước đây, ông ta được xem là người thuộc “chiếu trên” vì ngoài nghề viết lách, ông ta còn dậy ở Đại học. Ông ta lại là người còn giữ “nho phong” luôn luôn đạo mạo, không ăn hút vung vít như những người khác trong “làng”

Nét mặt Đoàn Quốc có vẻ nghiêm nghị hơn:

- Một khi kiếm sĩ mà bị tước kiếm thì có khác gì người cầm bút bị người ta tước mất bút. Hắn đâu còn là hắn nữa thì cần gì phải cải tạo. Các ông thử nghĩ xem có đúng không?

Cả bọn như bị điểm huyệt, ngồi chết lặng cho đến khi bà chủ nhà lên tiếng:

- Chắc còn một số vị nữa chưa tới kịp. Nhà chúng tôi kể cũng khó tìm, nhất là đêm hôm tăm tối. Xin quý vị cảm phiền và cứ tự nhiên như nhà của mình. Bà ta nói xong lui ra nhà sau.

Nghe chủ nhà nói, Hoàng Hải bấm đùi Dương Hùng nói nhỏ:

- Này, ông biết ai mời bọn mình tới đây không?

- Chịu, tôi nghe Khuất Duy nhắn, còn ông?

- Tôi cũng thế. Hôm qua uống cà phê ở đường Phủ Kiệt cũng nghe là Khuất Duy cho địa chỉ, bảo đến đây.

Người này hỏi người kia, cuối cùng dường như không ai biết người xướng ra cuộc họp này. Thôi thì ráng chờ chút nữa hẵng hay.

Bỗng có tiếng xe đậu ở trước nhà. Mọi người đều dồn mắt nhìn ra. Không ai khác mà chính là Khuất Duy. Bước vào nhà, anh ta rối rít bắt tay từng người.

Chủ nhà dọn món nhậu lên. Khuất Duy rút từ túi xách của mình ra một chai Camus còn nguyên trong hộp rót vào những cốc nhỏ rồi cho vào những ly sô đa đầy đá.

Anh ta mời mọi người nâng cốc và tuyên bố:

- Hẳn là quý vị muốn biết là tại sao có cuộc họp mặt hôm nay. Tôi xin được phép trình bày ngay. Thật ra, cá nhân chúng tôi không dám nghĩ đến cuộc gặp gỡ này, câu chuyện còn dài, xin mời quý vị hãy cạn chén, chúng tôi sẽ thưa sau.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 10)

Trích NTBKCB, tiếp theo:

Mặc dầu hơi rượu thơm nóng, đầy sức quyến rũ, nhưng các vị khách tự cho mình là người văn chương nho nhã, nên dẫu đang thèm vẫn phải nhâm nhi mà không dám nốc một hơn cạn chén.

Những kỷ niệm trong cuộc đời viết lách lại được nhắc đến. Tin tức về những bạn bè của họ chạy được ra nước ngoài cũng chiếm một phần câu chuyện. Hoàng Hải than phiền Việt Định Phương đem tái bản sách của anh ở Mỹ không thèm xin phép anh mà không trả tiền bản quyền cho tác giả. Nhà văn Đoàn Quốc cũng đồng tình, nhưng lập luận tác phẩm là tài sản chung, nó đến được với người đọc là tốt là niềm vui đối với tác giả, còn chuyện tiền nong là chuyện thứ yếu.

Khuất Duy niềm nở chuốc rượu cho khách. Anh ta lắng nghe mọi chuyện, khiêm tốn tự xác nhận mình là người “học trò” trong làng văn, hết lời ca ngợi sự nghiệp văn chương của các vị khách. Thật ra nhiều vị khách đang ngồi trong buổi tiệc không những biết hắn là Trung úy Tâm lý chiến quân đội Sàigòn cũ mà còn biết hắn qua đài VOA với mấy bản nhạc mà hắn mới sáng tác trong mấy năm gần đây.

Đến khi nghe Hoàng Hải và Đoàn Quốc bàn đến việc tái bản sách của họ ở nước ngoài, hắn mới chen vào:

- Bác Đoàn Quốc là nhà văn chân chính nên nói vậy. Còn tôi là người đọc, tôi nghĩ rằng Việt Định Phương làm như vậy không khác gì chiếm đoạt công lao của người khác, nhất là đối với những nhà văn như quý vị đây đang sống trong cảnh vô cùng khó khăn, lý ra những đồng nghiệp ở nước ngoài phải hết lòng giúp đỡ.

Dương Hùng hưởng ứng ngay:

- Đúng vậy! Anh Duy nói chí lý. Tôi còn lạ gì thằng ấy. Hồi còn ở đây nó cũng lưu manh còn hơn bọn đá cá lăn dưa ở chợ Cầu Muối. Dương Hùng định chửi thề, nhưng kịp hãm lại vì thấy không thể văng tục trước bà chủ nhà.

Khuất Duy nói tiếp:

- Tôi may mắn được biết một số tình hình của anh em văn nghệ sĩ ở nước ngoài. Theo chỗ tôi được biết, không phải ai cũng làm ăn bất chính, bán đứng bạn bè như Việt Định Phương đâu. Chắc quý vị đã biết “Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại”. Nếu tôi không lầm thì nhiều vị đã nhận được thư của Hội, có phải vậy không bác Hoàng Hải?

Hoàng Hải chột dạ. Hắn chợt nhớ ra Khuất Duy không chỉ là ca sĩ mà còn là Luật sư Tòa Thượng Thẩm Saigon. Cái nghề thầy kiện, theo hắn còn là trùm đá cá lăn dưa. Hẳn là Duy Khuất muốn moi móc việc cách đây không lâu, Hoàng Hải nhận được thư của Trần Tam Tiệp, Tổng Thư Ký “Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” và Hoàng Hải có viết thư yêu cầu Tiệp can thiệp hộ vụ tái bản sách. Chưa rõ kết quả thế nào, nhưng Trần Tam Tiệp đã hai lần gửi cho Hoàng Hải nhiều món quà có giá trị gần cả một ngàn đô la. Sở dĩ anh ta biết chính xác số tiền ấy vì Trần Tam Tiệp có gửi kèm bảng chiết tính từng món hàng, bảo rằng sau này sẽ khấu trừ vào khoản tiền tái bản sách của Hoàng Hải. Hoàng Hải đã giấu biệt chuyện đó không dám cho bạn bè biết, một phần sợ bị vay mượn, sợ phải đãi đằng, phần khác sợ lộ ra nhiều người biết không tiện. Thế mà Khuất Duy dường như biết tỏng vụ này.

Khuất Duy nhìn Hoàng Hải mỉm cười cảm thông và nói tiếp:

- Như quý vị đều biết, Tổng Thư Ký Hội là ông Trần Tam Tiệp, sở dĩ tôi biết như vậy là vì ông Tiệp có viết thư cho tôi. Không những ông Tiệp nhờ tôi mà còn nhờ anh Dương Hùng nữa tổ chức cuộc họp này. Anh Tiệp đặc biệt tỏ lòng trân trọng cụ Đoàn Quốc, một trong những nhà văn lớn còn có mặt trong nước để làm nhân chứng lịch sử trong tám năm qua. Việc cụ Quốc nhận lời mời đến với chúng ta hôm nay là điều rất quý giá.

Mọi người hết nhìn về phía Đoàn Quốc lại nhìn Dương Hùng, ngầm ý trách hỏi:

- Thế mà các người cứ giả bộ không biết ai tổ chức cuộc họp mặt này.

Khuất Duy lại rót rượu, trịnh trọng:

- Xin mời quý vị nâng cốc lần nữa để chúng tôi được thưa chuyện. Xin mời…

Khuất Duy chạm cốc với từng người và uống cạn chén. Hơi men đã làm hứng chí các vị khách. Ngay cả Đoàn Quốc cũng trút vẻ đạo mạo, uống một hơi cạn nửa ly Camus vàng sánh và lên tiếng:

- Tuy ông Tiệp trước đây chưa cùng chúng tôi tham gia làng văn và cả làng báo nữa, nhưng bậc trí giả bao giờ cũng biết xuất hiện đúng lúc cần thiết để “cầm chính đạo để tịch tà, cự bí”. Chúng tôi đều đã nghe tiếng và dành sự kính trọng đối với ông Tiệp.

Một vài người dự họp biết rõ về Đoàn Quốc nên thấy hơi lạ về thái độ của ông ta. Trước đây, ông ta rất khinh thường “lũ nhãi nhép” tập tễnh làm văn, viết báo. Thế mà nay ông ta lại đi ca tụng một con người không biết gì về văn học nghệ thuật. Phải chăng vì con người ấy đang là Tổng thư ký “Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” mà ông định tìm chỗ dựa?

Dương Hùng phụ họa:

- Vâng, cụ Đoàn Quốc nói chí lý: Thời nào anh hùng nấy mà lị!

Khuất Duy bắt đầu hùng biện:

- Thưa quý vị, như tôi đã trình bày, anh Tiệp… là bạn cũ của tôi. Anh ấy cùng với “Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” đang hết sức quan tâm đến tự do sáng tác của quý vị trong nước. Nhưng vì hoàn cảnh chưa cho phép trực tiếp gặp quý vị, nên anh ấy yêu cầu chúng tôi thay mặt hầu chuyện với quý vị.

Nói đến đây, hắn móc trong túi quần Jean ra một tờ giấy mầu xanh và tiếp:

- Đây là lá thư anh Tiệp gửi chung cho quý vị, tôi xin phép được đọc nguyên văn:

“Thưa các văn hữu,

“Hôm nay, được sự chấp thuận của Hội, chúng tôi hân hạnh mời quý văn hữu khả kính đến cùng nhấp chén rượu mừng xuân. Do hoàn cảnh chưa cho phép chúng ta đoàn tụ đông đủ với nhau, chúng tôi phải nhờ anh bạn thân bên nhà thay chúng tôi hầu chuyện cùng quý vị. Xin quý vị nâng cốc, coi như chúng tôi đang có mặt cùng chung vui.

“Như quý vị đều biết, tuy xa xôi cách trở, nhưng anh em bên này vẫn thường hướng về quê hương, luôn luôn tìm mọi cách để chia xẻ những nỗi cay đắng cùng quý vị đem cả tấm lòng và sức lực đấu tranh cho một nền văn nghệ chân chính, cho sự nghiệp tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ chúng ta. Nhân dịp này, thay mặt Hội, chúng tôi xin gửi lời chia buồn với các anh chị em đang bị nhà cầm quyền giam giữ và gia đình họ. Chúng tôi hứa vận động để họ sớm được tự do và rời khỏi đất nước, nếu họ muốn.

“Chúng tôi hy vọng rằng, từ đất nước thân yêu bất hạnh, quý vị sẽ gửi cho chúng tôi những tác phẩm mới nhất, có giá trị nhất để cộng đồng người Việt hải ngoại và dư luận thế giới biết rằng những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Việt Nam yêu tự do trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không ngừng sáng tạo nghệ thuật.

Anh bạn của chúng tôi sẽ lo việc gửi bài vở thay quý vị.

“Để đền đáp lại, chúng tôi sẽ có thù lao xứng đáng. Hơn nữa, chúng tôi xin nhấn mạnh rằng những tác phẩm của quý vị sẽ làm dư luận thế giới quan tâm, trở thành sự bảo đảm tốt nhất cho quý vị đối với nhà cầm quyền.

“Trân trọng kính chào.

Paris, ngày…

Trần Tam Tiệp, Tổng Thư ký Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại

Khuất Duy đọc xong thư, đảo mắt quan sát từng người. Hoàng Hải trầm tư rít từng hơi thuốc. Đoàn Quốc ngả người trên ghế sa-lông, lơ đễnh nhìn mấy con thằn lằn đuổi bắt mồi bên ngọn đèn nê-ông trên trần nhà. Những người khác thì chờ đợi thái độ của hai bậc đàn anh. Im lặng kéo dài.

Dương Hùng lên tiếng trước:

- Kể như bạn bè bên ngoài còn nhớ tới anh em như vậy là tốt lắm rồi. Không biết các anh khác thế nào, còn tôi từ lâu đã gác bút, chắc là không làm được trò trống gì nữa.

Nhiều tiếng xì xào. Một tay ngồi cạnh nói nhỏ với Dương Hùng:

- Tớ thấy vụ này phiền lắm đấy. Tớ rút lui thôi. Thà bán thuốc lá lẻ cho vợ mà yên tuổi già.

- Chúng ta ở đây toàn là chỗ anh em cả, có thể yên tâm.

Dương Hùng trấn an mọi người và hướng về phía Khuất Duy, nói lớn:

- Chuyện này để.. .”hạ hồi phân giải”. Giờ ta tiếp tục “cuộc chiến”, đánh ngã chai rượu này đi các ông ạ.

Anh ta nâng cốc uống một hơi không chờ ai.

Khuất Duy hiểu ý, cố làm ra vẻ tự nhiên:

- Thưa quý vị, anh em ta ở hải ngoại, không hiểu hết hoàn cảnh của chúng ta. Tôi đề nghị hãy gác chuyện này lại, để quý vị suy nghĩ thêm. Hôm nay, chúng ta có dịp gặp lại nhau là quý lắm rồi. Xin mời quý vị tiếp tục nâng cốc. Xin mời.

Họ tiếp tục uống. Chai Camus được tiếp nối bằng chai rượu Cây Lý của Dương Hùng. Không còn ai nhắc đến chuyện văn chương cũng như lá thư của Trần Tam Tiệp nữa. Đến lượt chai Cây Lý cũng bị đánh ngã.

*****

Thấy khách ngồi im, bà chủ nhà gợi chuyện:

- Mời ông xơi nước. Lâu nay ông có sáng tác gì không ạ?

Hoàng Hải nhấp ngụm trà nóng, lắc đầu:

- Thú thật với bà, tôi đã treo bút. Viết cái gì bây giờ? Hơn nữa, viết để làm gì? Chẳng lẽ mình lại là độc giả duy nhất của chính mình.

- Tiếc thật, không riêng gì ông, nhiều người khác cũng thế. Thật phí những tài năng….

Trên đây là một đoạn trích trong quyển “Những tên biệt kích cầm bút”. Nhưng không có chuyện nhân vật bị gọi là Biệt kích Văn nghệ Hoàng Hải được hân hạnh nói chuyện với bà chủ vi-la Kiều Trang ở cư xá Lữ Gia, Saigon. Đoạn này hoàn toàn do hai anh Đại tá cớm cộng dựng đứng lên trong tưởng tượng của hai ảnh. Nhưng cứ giả vờ như đó là chuyện xảy ra có thật đi, ta thấy gì?

Trước hết bà chủ vi la Kiều Trang, hay bà chị nữ minh tinh Kiều Trang cũng rứa, là đàn bà lương thiện. Bà không dính dấp gì đến những cái gọi là dzăng nghệ, dzăng gừng, dzăng bút, dzăng mực tùm lum trên cõi đời này. Chắc chắn bà phải sống cùng nhà với cô em từ trước tháng Tư 1975, bà có tên trong sổ gia đình, nên bà mới giữ được cái vi la bạc tỷ tiền Hồ này. Theo đúng lời Thánh Tổ Lênin dậy bọn con cháu cộng sản khi nắm được chính quyền là “việc đầu tiên tịch thu tất cả tài sản của bọn bỏ trốn ra nước ngoài”. Nếu tui nhớ không lầm thì giữa mùa Thanh Minh trong tiết tháng Ba, lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh năm ấy — năm 1975 — nữ minh tinh Kiều Trang đang là khách mời của Air Vietnam đi khai trương một văn phòng ở Singapore hay đâu đó. Số nàng là số đẻ bọc điều, nên nàng đang ở nước ngoài, Saigon thất thủ, nàng dzọt luôn.

Ngày xưa xa lắm tui còn trẻ, còn ngây thơ, tui nghe người ta bảo nhau: “Đẻ con gái đừng đặt tên cho nó là Kiều… Con gái tên Kiều là chém chết cũng có cuộc đời tình ái vất vả như em Kiều Thúy: chồng con chẳng ra gì, tài sắc đổ nước, nghiêng thùng, thơ phú, đàn địch, nhẩy đầm như máy vậy mà phải đem thân đi hầu hạ người ta, bị người ta khinh khi, đánh đập, phải vào nhà chứa rồi nhà chùa v.v..”

Ngày xưa ấy như đã nói xa lắm rồi trong cái gọi là dĩ vãng man mác thời gian tím ngắt, tui thơ dại nên tin lời thiên hạ nói về những nàng Kiều trên cõi đời này như thế là đúng.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 11)

Thời gian qua, những ngày như lá, tháng như mây – Thơ Thanh Nam Si-a-tồ -khi tuổi đời sáu bó lẻ mấy que tôi mới thấy những lời người ta nói như thế về những nàng Kiều là không đúng. Bằng chứng rõ ràng không thể cãi cọ được là cuộc đời ái tình và sự nghiệp của nữ minh tinh Kiều Trang. Tên nàng cũng là Kiều đấy nhưng đời nàng vẫn sáng choang như gương Tàu. Thử hỏi có em Ngọc Côn, Kim Lệ, Huỳnh Hoa nào có cuộc đời an nhàn mọi mặt như nàng Kiều Trang được công an Việt cộng nhắc đến một cách kính nể đầy tính nâng bi trong quyển NTBKCB? Hai nữa, cần gì cứ tên Kiều Nọ, Kiều Kia mới vất vả năm bẩy đời chồng, ba bốn chục đời nhân tình, lúc thì áo xanh, lúc thì áo hồng. Số em có nhiều đàn ông là em có nhiều đàn ông, không phải là vì cái tên Kiều của em. Vô tư mà nói cuộc đời em Kiều Thúy nhiều lúc đoạn trường thật nhưng cũng có nhiều lúc sáng giá đền bù đã lắm đấy chứ? Sao chỉ nhắc đến những lúc nàng bị Mã Giám Sinh xơi tái, Sở Khanh bỏ rơi, Tú Bà đánh đòn, Hoạn Thư bắt hầu rượu, gảy đàn kìm, Hồ Tôn Hiến gỡ gạc mà không nói đến lúc nàng đường đường ngồi ghế Chánh án phu nhân. Khi ấy nàng vinh quang biết chừng bao? Nàng ơn đền, oán trả nặng nề, thẳng tay, Hoạn Thư quỳ mọp dưới sân, Thúc Kỳ Tâm người cũ không những chỉ run như cầy sấy mà còn sợ đến són đé ra quần. Lại còn Tú Bà rập đầu lậy côm cốp như chày giã gạo. Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh nhìn thấy Tử thần vác lưỡi hái lù lù ngay trước mặt. Ba anh này lúc cuối đời mới ăn năn thì sự đã rồi, rất có thể lúc ấy ba anh nghĩ; ” Mèn ơi.. Biết sự đời như thế này thì lúc ấy bà có cho em cũng chẳng để vào làm chi…” Về mặt giá trị tính theo vàng Kiều Thúy có giá nhất không những chỉ trong cõi đời Gia Tĩnh triều Minh mà là ở mọi cõi đời, nhất là ở cõi đời này hôm nay.. Đằng nào cũng mất, chẳng mất trước thì mất sau, mất mà có 400 lượng vẫn hơn là mất mà hổng có lượng nào, hoặc bán mà giá chỉ có năm chỉ.

Vì không phải là những văn nghệ sĩ chân chính nên hai anh cớm cộng Nam Thi – Minh Kiên – dù có là đại tá đi nữa – tác giả “Những tên biệt kích cầm bút” đã cho nhân vật Hoàng Hải nói:

- …Tôi đã treo bút . Viết cái gì bây giờ? Viết để làm gì? Chẳng lẽ mình lại là độc giả duy nhất của chính mình?

Vật bất kỳ bình tắc minh. Khi đau khổ chúng ta kêu, rên, khóc ti tỉ. Khi sung sướng chúng ta kêu, rên, cười toe toét. Văn nghệ sĩ cũng là người nên khi đau khổ, sung sướng văn nghệ sĩ cũng kêu, rên, khóc cười như bất cứ ai. Song vì văn nghệ sĩ là… văn nghệ sĩ nên khi buồn đau, vui sướng văn nghệ sĩ còn sáng tác ra những cái gọi là tác phẩm văn nghệ. Chẳng hạn các thi sĩ mần thơ, nhạc sĩ mần bài ca, văn sĩ viết truyện ngắn, truyện dài. Nói cách khác người thường khi đau buồn chỉ khóc, vui sướng chỉ cười, văn nghệ sĩ ngoài khóc cười như đã nói còn có sự cần thiết bức bách phải cho ra đời tác phẩm văn chương. Sự cần thiết ấy là bắt buộc, không mần không được. Nó như nhu cầu về sinh lý: ăn dzô thì phải tống ra. Chỉ có đầu dzô mà không có đầu ra là chết năm bẩy cửa tứ. Vì vậy văn nghệ sĩ nào nói: “… Viết cái gì? Viết để làm gì? Viết cho ai…?” là văn nghệ sĩ rởm. Bất bình tắc minh. Không bình thường thì kêu lên. Khi xúc động đập vào trái tim người nghệ sĩ, anh ta bắt buộc phải mần thơ nếu anh ta là thi sĩ, mần nhạc nếu anh ta là nhạc sĩ, viết truyện nếu anh ta là văn sĩ. Không mần thì anh sẽ mặt mũi bần thần, ngẩn ngơ, ăn nói vô duyên. Nói rõ hơn và hình tượng dễ hiểu hơn là nếu không sáng tác văn nghệ sĩ sẽ bị táo bón tinh thần rất nặng.

Vì vậy nếu là văn sĩ anh bắt buộc phải viết lên giấy những xúc động trong tim anh, trong hồn anh. Anh không thể dửng dưng, lửng lơ con cá vàng nói: “Viết làm chó gì? Viết cho ai đọc? Không lẽ viết để mình đọc ư?” Anh có thể nghĩ: “Viết ra nó tóm được là bỏ mẹ. Không cần chửi chúng nó hay kêu gọi ai thủ dao phay đứng chờ ở đầu ngõ thấy thằng công an Việt Cộng nào đi qua là chém cho nó năm bẩy nhát. Chỉ cần mình than buồn, than khổ thôi là đủ để nó đem mình đi cất năm bẩy niên. Xa vòng tay gầy lạnh của vợ hiền. Chán lắm…” Anh có thể tự khuyên những câu đầy tính minh triết xanh rờn: “Chịu đi. Đừng có dại mà viết. Bút sa gà chết. Với Việt cộng thì bút sa người chết. Quanh quẩn trong xó nhà như vầy năm bữa, nửa tháng may ra cũng có tô phở chợ, lâu lâu được vợ an ủi, khuyến khích một lần. Thơ mí phú làm ký gì. Vạ vào thân….” Anh nghĩ thì quá khôn, nhưng anh nghĩ dzậy mà anh thường không mần như dzậy.

Những văn nghệ sĩ trong cõi đời này còn có cái tật nữa là ngoài việc mấy ổng dùng buồn vui của mấy ổng làm thành tác phẩm, mấy ổng còn buồn vui vì những buồn vui của người khác. Và mấy ổng cũng có thể vì buồn vui của người khác mà làm thành tác phẩm nghệ thuật. Mấy ổng được người đời yêu mến vì cái tài ấy.

Năm 1994 ở Thành Hồ, tôi xem cuộn băng Vidéo Văn Phụng – Châu Hà, thấy MC Nguyễn Ngọc Ngạn hỏi Văn Phụng trong trường hợp nào nhạc sĩ sáng tác bản “Tạ Từ Đêm Mưa“? Văn Phụng trả lời:

- Đêm ấy chơi nhạc ở Đăng-xinh Văn Cảnh. Khi ra về tôi thấy một cặp tình nhân chia tay nhau. Cảnh họ quyến luyến nhau trong đêm mưa gợi hứng cho tôi làm nhạc…

MC Nguyễn Ngọc Ngạn:

- Như vậy là anh giả vờ buồn…

Nhạc sĩ Văn Phụng không nói gì.

Khi gặp Văn Phụng ở thành phố Arlington, nơi có Rừng Phong thu vẫn nhuốm mầu quan san của Công tử Hà Đông, tôi hỏi anh:

- Anh nhớ trong Vidéo của anh Nguyễn Ngọc Ngạn hỏi anh về bản Tạ Từ Đêm Mưa chứ? Khi Nguyễn Ngọc Ngạn nói “anh giả vờ buồn…” sao anh không nói gì cả? Anh thấy người khác chia ly nhau người ta buồn. Anh không chia ly ai cả nhưng anh buồn cái buồn của những người phải xa nhau, anh làm bản Tạ Từ…. Làm sao anh có thể giả vờ buồn mà làm được bản nhạc buồn đến thế…?

Tôi suốt một đời đi ở nhà thuê. Bi giờ về già hết lộc rồi nghĩ lại thật xấu hổ. Chẳng gì cũng mang danh ký giả, văn sĩ, có mấy chục bộ truyện được in, nhân viên Sở Mẽo! Mà nếu vợ bị tra tấn tàn nhẫn sống dở chết dở bẩy ngày cũng không xì ra được nửa chỉ vàng nào để hối lộ, kim cang, hột xoàn lại càng không có. May mắn cho vợ chồng tôi là mẹ tôi có một cái nhà nhỏ vẫn bỏ không trong cái gọi là cư xá Tự Do ở giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bảy Hiền. Ba tháng sau ngày oan nghiệt vợ chồng tôi về căn nhà đó ở. Không có căn nhà này thì chúng tôi còn vất vả nhiều. Và chúng tôi đã sống lúi cúi với nhau, đã yêu thương, nhớ thương và chờ đợi nhau trong căn nhà nhỏ ấy đúng mười chín mùa lá rụng lẻ sáu tháng mây bay. Hai lần Công An Thành Hồ cho xe bông đến trước cửa căn nhà ấy rước tôi đi, hai lần tôi từ nhà tù cộng sản sống sót trở về đó.

Cư xá Tự Do có hai khu do Gia Cư Liêm Giá Cuộc xây lên bán trả góp cho dân. Khu ngoài là khu vi-la song lập đắt tiền. Khu trong là khu nhà có gác lửng rẻ tiền. Sau những trận mưa đầu mùa con đường trong khu nhà tôi nước ngập đến đầu gối. Trong căn nhà tối ấy những chiều buồn quá không có việc gì làm, không biết đi đâu, đến nhà ai, tôi đứng sau khung cửa sổ nhìn vẩn vương ra con đường nhỏ. Xế cửa nhà tôi có một thiếu phụ tuổi trạc ba mươi, ông chồng là đại úy đi cải tạo, nàng thường bồng đứa con nhỏ đứng trong khung cửa sổ nhà nàng nhìn vơ vẩn ra đường. Tôi biết nàng buồn. Tôi cảm được nỗi buồn của nàng. Thêm vào đó là nỗi buồn của tôi. Bên nhà tôi – năm ấy tôi bốn bó lẻ hai, ba que – tôi cũng buồn quá. Không thể chịu được tôi mần thơ:

Buồn

Như cánh lá vàng sau trận cuồng phong
Anh rạt về đây, xóm hẹp, đường đông.
Nhà em, nhà anh cách hai thước ngõ
Những chiều mưa buồn nước ngập như sông
Anh đứng võ vàng sau khung cửa sổ
Như người tù nhìn đời qua chấn song.
Em đứng mỏi mòn bên dàn ván gỗ
Như người chinh phụ ôm con đợi trông.
Anh đứng trông mây, em đứng trông chồng
Vắng chồng con bế, con bồng em mang.

Cái bống là cái bống bang
Mẹ bống yêu bống , bống càng làm thơ…
Tiếng ru hờ, tiếng khóc ơ
Vương trên khung cửa bây giờ tang thương.
Đìu hiu cuối ngõ, cùng đường
Bên anh tuyệt vọng, đoạn trường bên em.
Ngày lại ngày, đêm lại đêm
Ngày rơi tàn tạ, đêm chìm phôi pha
Buồn từ trong cửa buồn ra
Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về
Ta đang sống, ta đang mê
Hay ta đang chết não nề, em ơi…!

Những tháng cuối 1975 đầu 1976 ngẩn ngơ giữa mấy rừng cờ đỏ, quá buồn tôi làm thơ. Tôi chép những bài thơ này vào một tập. Tháng 10 năm 1977, công an Thành Hồ đến nhà bắt tôi, vớ được tập thơ này. Khi thẩm vấn tôi, Ba Trung. tức Huỳnh Bá Thành, tức họa sĩ Ớt, nhật báo Đồng Nai Chủ nhiệm Hồng Sơn Đông, hỏi mỉa tôi:

- Bây giờ anh đã được làm người tù nhìn trời qua chấn song, anh không còn phải tưởng tượng nữa, anh thấy sao?

Và Ba Trung nói về bài thơ Buồn của tôi:

- Các anh sĩ quan Ngụy phải đi cải tạo là cần thiết. Cứ để mấy ảnh ở nhà sao được. Vợ mấy ảnh có mong chồng thì cũng phải chịu thôi. Trong khi nhân dân cả nước đang phấn khởi hồ hởi tiến lên xã hội chủ nghĩa, một mình anh kêu than buồn khổ đâu có được. Bài thơ buồn của anh có thể ảnh hưởng xấu đến người khác, làm người khác buồn lây, có hại đến việc xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Ba Trung, họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành, tác giả truyện Vụ Án Hồ Con Rùa có hai ba tiểu thuyết được làm thành phim. Từ năm 1990 Ba Trung giữ chức vụ quyền Tổng biên tập Tuần báo Công An Thành Hồ. Loại báo này đúng ra chỉ là báo phổ biến tin tức nội bộ cơ quan công an, nhưng bọn cớm cộng làm thành báo bán để kiếm lời. Cớm cộng có đặc quyền khai thác hồ sơ những vụ giết người, hiếp dâm, ăn cắp, ăn cướp v.v… – đặc quyền và toàn quyền – nhiều người dân mua, đọc Tuần báo Công An, trong số này có cả tôi, chỉ để đọc những vụ hiếp dâm tàn bạo, những vụ giết người kinh khiếp, những vụ đảng viên ăn cắp công khai, làm bậy bất chấp Đảng với Nhà Nước, đọc tin về những ổ mãi dâm, ma túy, hàng giả, hàng lậu, vidéo sex v.v… Có thể nói tờ tuần báo Công An Thành Hồ là tờ báo bới móc, phơi bầy những cái xấu của xã hội XHCN một cách ác ôn nhất.

Trong một xã hội mà những tờ báo chuyên đăng những tin tức hiếp dâm, giết người, cướp trộm, sa đọa bán chạy, có nhiều người đọc chứng tỏ cái xã hội đó thối nát tàn tệ, bẩn thỉu quá đỗi. Bọn Tuần báo Công An Thành Hồ không chút hổ thẹn vì báo của chúng chỉ bán được nhờ đăng những vụ hiếp dâm, giết người. Không những không biết hổ thẹn chúng còn vênh váo khoe khoang là báo của chúng bán chạy nhất.

Ba Trung là cán bộ công an thẩm vấn tôi trong lần tôi bị bắt lần thứ nhất – 1977-1979 – Lần ấy tôi chưa “phạm tội” gì nhiều, tôi chỉ viết một số bài kiểu Tạp ghi Văn Nghệ Văn Gừng gửi cho một nữ độc giả của tôi bỏ nước chạy lấy người sang Xê Kỳ – một số bài viết có thể gọi là vô thưởng vô phạt về những ngày sống u buồn của tôi ở Thành Hồ, tả cảnh nón cối, dép râu, tóc bím, mông đít to như cái thúng, lính cụ Hồ đực rựa hai mươi nhăm, ba mươi tuổi nắm tay nhau đi rung răng, rung rẻ ngay trên đường Lê Lợi, Tự Do, cùng một số bài thơ than thân, trách phận, thương khóc kẻ ở, người đi kiếp sau chắc mí gặp nhau não nùng, ai oán. Người độc giả của tôi gửi những bài viết của tôi đến các báo Việt ở hải ngoại. Trong số những báo đăng loạt bài ấy của tôi có Tạp chí Đất Mới ở Seattle, tạp chí Thời Tập của Viên Linh, Nhất Việt của Du Tử Lê.. vv..

Cộng sản thù ghét nhất những người sống dưới chế độ chúng mà dám viết những bài tả cuộc sống khốn khổ, khốn nạn của mình và của nhân dân gửi ra nước ngoài. Với cộng sản “cứ viết gửi ra nước ngoài” là có tội rồi, bất kể bài viết có nội dung ra sao. Có lần thẩm vấn tôi Ba Trung nói với tôi:

- Anh biết viết bài gửi ra nước ngoài là nguy hiểm nhưng anh cứ viết, cứ gửi…

Và Ba Trung nói đến chuyện tôi được “mời cộng tác”

- Khi các văn nghệ sĩ Sàigòn phải đi cải tạo, chúng tôi đã để cho anh được yên ở nhà. Không những chỉ để anh yên, chúng tôi còn mời anh cộng tác. Anh không làm thì thôi, anh ở yên đi. Anh còn chống chúng tôi nữa. Chúng tôi bắt buộc phải bắt anh thôi. Tiếc cho anh. Chúng tôi có đối xử gì nặng tay với anh đâu? Anh vẫn còn được ngồi ngang hàng với Vũ Hạnh…

Trước hết việc “được ngồi ngang hàng với Vũ Hạnh” làm tôi xấu hổ. “Ngồi ngang hàng” đây là việc sau khi một số văn nghệ sĩ Sàigòn được công an Thành Hồ ưu ái cho xe bông đến tận nhà rước đem đi cất kỹ vào tháng Ba, tháng Tư năm 1976. Quần hùng đi tù thật đông, không sao nhớ hết và cũng không thể kể hết. Sau đợt bắt tập thể ấy cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố HCM tổ chức hai khóa bồi dưỡng chính trị cho những anh chị chưa bị bắt. Tôi đi dự Khóa Bồi Dưỡng Hai như tôi đã kể. Ý Ba Trung muốn nói là trong những cuộc hội họp như thế tôi vẫn được ngồi ngang hàng với Vũ Hạnh. Khi nghe Ba Trung nói như thế tôi ngồi yên, tôi không nói cho anh ta biết là tôi xấu hổ, tôi cay đắng mỗi lần tôi phải vác cái mặt mo của tôi đến ngồi nghe bọn cán cộng ưu ái lên lớp.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 12)

Và đây là chuyện tôi được Việt Cộng “mời cộng tác”:

Khoảng ba, bốn tháng sau ngày 30 Tháng Tư tôi được gặp anh Ba Trinh, một trong những cán bộ phụ trách biên tập tờ nhật báo Sàigòn Giải Phóng. Những năm 1960 Ba Trinh có đến tòa soạn nhật báo Sàigònmới nên anh biết tôi, rồi anh bị bắt, thả ra, bị bắt lại hai ba lần, lần cuối cùng anh từ Côn Đảo về miền Bắc năm 1972, theo thỏa hiệp trao đổi tù binh giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt Cộng, Tháng 5 anh từ Hà nội vào Sàigòn. Ba Trinh hơn tôi khoảng mười, mười lăm tuổi. Anh nói với tôi:

- Chúng tôi cần loạt bài phóng sự về cuộc sống của bọn tướng tá Ngụy, chúng tôi không viết được loại phóng sự ấy. Cậu có biệt tài về loại đó, chúng tôi mời cậu viết cho chúng tôi. Nhưng nếu viết cậu đừng để tên cậu. Cậu mà dùng tên cậu thì ngay cả các bạn cậu cũng chửi cậu. Cậu dùng một tên khác. Mai đây chúng tôi có thể nói với các ông ấy người viết loạt bài đó là cậu. Sẽ đỡ cho cậu nhiều lắm. Và cũng có ít tiền giúp cậu đỡ khó khăn trong lúc này.

Tôi ừ ào cho qua nhưng tôi không viết. Khi còn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa tôi có thể viết những phóng sự hoạt kê châm biếm bọn có quyền thế, có địa vị, bọn giầu tiền, như tôi đã từng viết những phóng sự Bà Lớn, Yêu Tì đăng trên nhật báo Ngôn Luận những năm trước 1963, nhưng bây giờ Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa của tôi vừa bị diệt, những bộ trưởng chính phủ, tướng tá, tỉnh trưởng, thẩm phán, dân biểu của tôi không chạy ra nước ngoài được nay đang bị tù đày, họ đang khổ cực hơn tôi, vợ con họ khổ cực hơn vợ con tôi, dù sao họ cũng là anh em tôi, có xấu xa đến mấy đi chăng nữa họ cũng là anh em tôi, trong tình cảnh khốn khổ, nhục nhã chung này tôi không thể viết chửi bới họ.

Chuyện “cộng tác” thứ hai: Sau Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai chừng hai tháng tôi nhận được giấy gọi lên Sở Công An Thành phố. Tôi hồi hộp đến Nha Cảnh Sát Đô Thành của ta. Một anh công an trẻ tuổi, có vẻ là người Sàigòn, tiếp tôi trong cái vi-la ngay bên cạnh trụ sở. Anh ta nói:

- Những người có tội như Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh đã bị bắt. Anh không phải là không có tội nhưng chúng tôi thấy anh tội nhẹ nên không bắt anh song anh có bổn phận phải cộng tác. Chúng tôi cần biết về tình hìng các văn nghệ sĩ Sàigòn, họ làm gì, nghĩ gì, họ sống ra sao. Không phải anh cứ báo cáo là chúng tôi bắt họ đâu, anh có thể cho chúng tôi biết những khó khăn của anh em văn nghệ sĩ để chúng tôi giúp họ.

Những người công an bắt tôi làm việc cho họ không cho tôi biết tên họ — tôi chỉ biết tên có một chị: chị Chanh, Việt Cộng nằm vùng, từng hành nghề buôn cây để có dịp vào rừng liên lạc với đồng bọn. Họ hẹn tôi một, hoặc hai tuần đến gặp họ và báo cáo một lần. Những lần họ gặp tôi đều ở những vi-la tư nhân họ chiếm được. Tôi chẳng có gì để báo cáo với họ cả. Sau chừng ba tháng dằng co như thế một sáng tôi nói với vợ tôi:

- Anh không thể làm chỉ điểm cho bọn này. Nếu anh báo cáo về anh em mình anh không thể nhìn mặt anh trong gương. Anh không làm đâu. Nó muốn bắt anh thì bắt.

Alice đồng ý với tôi.

Lần gặp sau tôi đưa cái thư “Kính gửi ban lãnh đạo..”, trong thư tôi viết tôi không có điều kiện cộng tác với Sở Công An, việc gặp tôi chỉ làm mất thì giờ của anh chị em công an, xin lãnh đạo cho tôi được nghỉ; tôi có thể dịch các tài liệu tiếng Anh, tiếng Pháp, nếu cơ quan cần người dịch thuật tôi xin làm vv..

*****

Tháng Ba, tháng Tư năm 1976 tôi chờ đợi tôi cũng bị bắt như các bạn tôi. Nhưng tôi đã không bị. Tôi xin nói rõ – và nói đi nói lại nếu cần – tôi không muốn được đi tù một ly ông cụ nào cả. Anh Triều Đẩu từng giải cho tôi biết Tử Vi của tôi không có sao Quả Tạ, tức là không có số ở tù. Tôi chỉ tỏ ra hung hăng con bọ xít, du đãng, du côn, du thủ, du thực, hào huê, phong tình trong những chuyện tôi viết mà thôi. Trong đời thực tôi lành hơn cục đất thó. Và cũng hơn một lần tôi đã viết: Sau ngày oan nghiệt tôi quanh quẩn trong xó nhà, ngày ngày quét nhà, lau nhà, đổ rác, giặt quần cho vợ, thuốc lá Vĩnh Hảo Bốc En Xe Ông Già Le Lưỡi Liếm… giấy vấn thoải mái, lâu lâu có chầu rượu đế, lạc rang, hột vịt lộn, nghêu sò ốc hến vỉa hè… Tất nhiên là so với cuộc sống trước tháng Tư năm 1975 thì tối tăm ảm đạm thật đấy, nhưng nếu so với những cuộc sống trong những nhà tù Việt cộng thì chắc chắn còn đỡ khổ hơn nhiều.

Không phải là Alice không giặt được quần áo của nàng hay nàng bắt chồng nàng phải giặt, chỉ vì anh Con Trai Bà Cả Đọi, người anh em cùng vợ với chàng Công Tử Hà Đông, suốt ngày đêm chẳng có việc gì mần cho đỡ buồn nên anh tranh làm cái việc giặt quần áo. Có những lần ngồi giặt anh lơ mơ nhớ lại ngày xưa anh viết những bài chửi bới thiên hạ dưới hai cái tên Gã Thâm, Công Tử Hà Đông, anh thường rủa: “Cho thằng đó về nhà giặt quần áo cho vợ”. Không biết trong số những người bị anh rủa có ai phải về nhà giặt quần cho vợ hay không. Anh chỉ biết anh bị Việt cộng nó cho về xó nhà giặt quần cho vợ dài dài, mệt nghỉ…

Vẫn biết cuộc sống quanh quẩn trong xó nhà làm những việc chân tay lặt vặt, lâu lâu được rờ đôi mông teo của vợ hiền… tuy tăm tối cũng còn khá hơn cuộc sống trong tù nhiều, nhưng khi các anh em tôi bị bắt tù tôi không bị như anh em, tôi thấy kỳ quá. Mỗi lần đi ra, di dzô cư xá tôi cứ cúi mặt xuống mà đi. Tôi có mặc cảm người ta nhìn tôi với ánh mắt muốn hỏi: “… Bao nhiêu văn nghệ sĩ bị bắt, sao tên này không bị? Nó làm gì mà bọn Việt cộng không bắt nó?” Nếu bà con cô bác có ai théc méc đặt câu hỏi như vậy thì cũng đúng thôi: việc tôi bị Việt cộng bắt không có gì lạ, việc VC không bắt tôi mới là lạ. Tôi nói lại cho rõ: ngày ấy, tháng ấy, năm ấy tôi không mong tôi cũng bị bắt như anh em, tôi chỉ thấy anh em bị bắt tôi không bị sao kỳ quá…

Những năm 1976, 1977 những anh con trai bà Cả Đọi không bị đi cải tạo ở nhà làm việc giữ nhà, giặt giũ, nấu cơm, đổ rác là chuyện thường – đàn bà đi chợ trời, chợ đất, mua đi, bán lại kiếm sống – ngồi buồn trong xó bếp căn nhà tối tăm trong cư xá Tự Do mãi cũng chịu không nổi, có những chiều nấu cơm xong, tôi tắm rửa sạch sẽ, ra đầu cư xá ngồi chờ Alice đi chợ trời Hàm Nghi về bằng xe ô-tô-buýt, tôi mần bài Sẩm Xoang:

Gió lay cành trúc, gió đập cành tre
Thuyền tình anh vẫn le te đợi nàng
Gió lắc cành vông, gió lật cành bàng
Thuyền tình anh chẳng đợi nàng thì anh đợi ai?
Ối cô nàng ờ… Ới cô nàng ơi… Anh nói để cô nàng hay
Chứ mà… Cô nàng nghe anh hỏi cô nàng này
- Lương Mẽo được mấy trăm đồng?
Dầm sương, dãi tuyết má hồng nàng phai.
Đi lắm thì vú nàng quai
Chẳng thà ăn sắn, ăn khoai thành Hồ.
Nàng đói thì nàng bán đồ
Để anh cơm nước, chăm lo cửa nhà.
Riêu cua nàng chan cơm cà
Nàng mà đau bụng thì đà có anh
Nàng còn xẻo đất trồng hành
Anh trui cá lóc nấu canh tập tàng.

Cá lóc còn ở trong hang
Cái rau tập tàng còn ở ruộng dâu
Anh về anh chuốt cần câu
Ngoắc con cá lóc nấu rau tập tàng…

Với những bằng chứng như trên chi tiết hai anh cớm cộng Nam Thi – Minh Kiên cho nhân vật Hoàng Hải trong “Những tên biệt kích cầm bút” nói với bà chủ vi la Kiều Trang:

- …Tôi đã treo bút. Viết ký gì bi giờ? Viết để làm gì???… Là hổng có đúng sự thật.

*****

Quý bạn vừa đọc một số trang trích từ quyển “Những tên biệt kích cầm bút” do hai đại tá công an Việt cộng viết ở Thành Hồ về nhóm anh em chúng tôi. Chương truyện này là cuộc họp mặt nhân lễ Giáng Sinh năm 1983, Trần Tam Tiệp năm ấy là Tổng thư ký Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, gửi một khoản tiền về cho chúng tôi nhân Lễ Noel có một bữa ăn gặp gỡ. Chúng tôi mượn vi-la của Nữ diễn viên điện ảnh Kiều Chinh ở Cư Xá Lữ Gia làm nơi tổ chức bữa ăn họp mặt. Vi-la này năm ấy do bà chị của Kiều Chinh làm chủ. Riêng Trần Tam Tiệp được hai anh Nam Thi – Minh Kiên, Tổng và Phó Biên tập tuần báo Công an thành Hồ gọi nguyên tên là Trần Tam Tiệp. Tên anh em chúng tôi đều bị cắt bớt một phần: Doãn Quốc Sĩ trở thành Đoàn Quốc, Dương Hùng Cường trở thành Dương Hùng, Khuất Duy Trác là Khuất Duy và tôi là Hoàng Hải.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 13)

Hoàng Hải, anh Con Trai Bà Cả Đọi là nhân vật thứ hai được diễn tả trong NTBKCB sau Trần Tam Tiệp. Hình ảnh của anh có vẻ hào hoa phong thấp, nhưng cái hình ảnh đó hổng thật, hổng đúng tí nào. Hai anh cớm cộng Nam Thi – Minh Kiên hoàn toàn phịa ra hình ảnh Hoàng Hải những năm 81, 82 tả tơi giữa lòng thành Hồ mà vẫn “hút thuốc píp Half and Half…”

Thời còn bị Mỹ Ngụy kìm kẹp anh con trai bà Cả Đọi quả thực có nghiện thuốc lá Mẽo – thời ấy anh nghiện nhiều thứ. Anh phì phèo thuốc điếu từ những năm 1950, năm anh mới mười tám, đôi mươi, mắt sáng, môi hồng, tâm hồn trắng như tờ giấy trắng trái tim trong suốt như nước hồ thu, thời anh chưa biết rõ về cái gọi là chi tiết người đàn bà khác người con gái ở cái gì – Thoạt đầu anh rít mỗi ngày vài điếu Cotab – Trước năm 1954 Công tử Nam kỳ hút Ách Chuồn Golden Club, Grand Prix, Công tử Bắc kỳ hút Cotab. Đến năm 1958 anh đổi sang Lucky Strike, rồi Pall Mall, Philip Morris Vàng dài dài cho đến ngày tan hàng.

Anh là người đưa câu “Lucky Ba Hàng Chữ” vào phóng sự. Nhiều người Sègòong ngày xưa cũng hút Lucky nhưng không biết “Lucky Ba Hàng Chữ” là gì, tại sao lại là “Ba Hàng Chữ”. Số là Lucky Strike có ba loại: Lucky Một Hàng Chữ – đúng ra là hổng có hàng chữ nào – là loại thuốc phát không cho binh sĩ Mẽo, giống như thuốc điếu Quân Tiếp Vụ của quân đội ta ngày xưa, phẩm chất loại này tồi, bán rẻ. Lucky Hai Hàng Chữ là loại thuốc bán cho thường dân, có in hàng chữ Lucky Strike ở đáy bao. Lucky Ba Hàng Chữ, ngoài hai hàng chữ Lucky Strike còn thêm hàng chữ “For Export Only”. Loại thuốc này chỉ dành để xuất ra ngoại quốc. Vì cạnh tranh loại thuốc này phải làm với phẩm chất cao. Vì vậy Lucky Ba Hàng Chữ giá đắt nhất. Năm 1960, thời Việt Nam Cộng Hòa còn cực thịnh, giá Lucky như sau: Lucky Một Hàng 25 đồng, Lucky Hai Hàng 28 đồng, Lucky Ba Hàng 30 đồng. Thời này giá vàng 3000 đồng một cây.

Anh Con Trai Bà Cả Đọi chẳng có qua một tí tài nào, kể cả những tài vặt, xong về việc hút thuốc lá thì anh có thể khiêm tốn tự phong anh thuộc loại cao thủ. Những năm 1960 – 1975 trung bình mỗi ngày anh hút 50 điếu. Mười, mười một giờ tối khi vào giường đọc sách anh rít khoảng năm, sáu điếu mới tắt đèn ngáo. Ngoài 50 điếu thuốc lá mỗi ngày anh còn hút pipe, xì gà. Nón cối, dép râu ngơ ngáo vào Sàigòn, anh – cũng như những người Sègoòng nghiện thuốc lá – đi mua thuốc Vĩnh Hảo, Lạng Sơn về vấn lấy theo kiểu Bốc En Xe – bốc thuốc rời ra xe lại – và Ông Già Le Lưỡi– le lưỡi liếm giấy vấn thuốc. Tám năm ngồi rù trong tù anh hút thuốc rê liên tục từ năm giờ sáng đến mười giờ đêm.

Chẳng hay hớm gì việc hút xách. Chỉ là vì ngay những trang đầu NTBKCB đã thấy cớm cộng tả mình phây phây hút Half and Half giữa lòng Thành Hồ Xã hội Chủ nghĩa toàn dân đói rời, đói rạc, đói rệu, đói rã nên cảm khái đi một đường hoài niệm ngày xưa. Ngày xưa ấy là những năm 1960-1975 anh Con Trai đang ở số tuổi phong độ nhất đời anh. Anh làm nhân viên Nhật báo Sàigònmới, nhật báo có số báo bán cao nhất lịch sử Việt Nam kể từ ngày Việt Nam có nhật báo. Những năm 1960 Nhật báo Sàigòn Mới có số bán nhất Nam kỳ, nhất Trung kỳ, nhất Đông dương luôn. Anh Con trai bà Cả Đọi, anh em cùng vợ với Công tử Hà Đông, thanh niên Bắc kỳ chính cống Bà Lang Trọc, có duyên được vào làm nhân viên báo Sàigònmới, tờ nhật báo Nam kỳ điển hình, độc giả của Sàigònmới toàn là người Nam. Anh viết tiểu thuyết phơi-ơ-tông cho báo Ngôn Luận, Văn Nghệ Tiền Phong của chủ nhiệm Hồ Anh, tuần báo Điện Ảnh của chủ nhiệm Nguyễn Ngọc Linh, rồi Kịch Ảnh của chủ nhiệm Quốc Phong, tuần báo Phụ Nữ Ngày Mai của chủ nhiệm Nguyễn Đức Khiết, anh con thứ sáu của bà Bút Trà. Anh ra dzô xoành xoạch nhà sách Xuân Thu, Pagode, Brodard, anh đớp bíp-tếch ở Diamond, Kim Hoa, bui-a-bét ở Choeng Nam và đều đều mỗi ngày anh hút vào phổi anh khói độc nhưng thơm, nhưng mê người của gần 60 điếu thuốc lá.

Xin cho hoài niệm chút thôi. Bạn có thể nói: “Ăn chơi hạng bét. Dzậy mà cũng kể…” Bạn có thể nói: “Mẹ kiếp. Việt cộng nó tuyên bố Đồng Khởi từ năm 1958. Thằng lớn chơi lớn, thằng nhỏ chơi nhỏ. Đầu hàng là đáng kiếp…” Bạn nói đúng. Tôi chỉ kể để nói rằng tôi hút thuốc lá Mẽo đến hết tháng 5 năm 1975 là ngừng. Ngày 5 hay 10 Tháng Năm năm 1975, tôi gượng đi lên trung tâm Sàigòn. Chị bán thuốc lá ở trước tiệm kem Mai Hương đường Lê Lợi còn vài gói Paul Mall và một hộp thuốc pipe Sir Walter Raleigh. Tôi mua cả số thuốc này. Tôi giữ hộp Sir Walter Raleigh để đựng thuốc lá Vĩnh Hảo. Năm 1982 anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Nguyễn Khánh Giư đến nhà tôi. Nhìn thấy hộp thuốc Mỹ để trên bàn anh Hiếu Chân ngạc nhiên:

- Cha… Giờ này mà cậu vẫn còn thuốc lá Mỹ để hút à?

Mấy tối trước tôi vừa nghe một phóng viên Đài BiBiXi diễn tả cuộc sống ở thành phố Hồ Chí Minh bằng câu: “Trái tim tư bản vẫn đập trong cái xác Xã hội Chủ nghĩa”, tôi trả lời anh Hiếu Chân:

- Có cái hộp Mỹ thôi, ông ơi. Trong nó đựng thuốc lá Vĩnh Hảo. Cái này gọi “gan ruột vô sản nằm trong cái xác tư bản”

Tôi ngừng viết năm phút vì bồi hồi tưởng nhớ những ông bạn tôi nay không còn nữa, các anh hơn tôi từ mười đến mười lăm tuổi. Các anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Nguyễn Khánh Giư, Trần Việt Sơn, Cao Hữu Đính, Nguyễn văn Đạt, Vương Văn Bách, Cát Hữu, Dương Thiệu Tước, Vũ Bằng, Hoàng vĩnh Lộc… Các vị đàn anh tôi đã sống, đã chết ở Sàigòn sau 1975. Hai mươi mốt mùa lá rụng đã rơi trên những lối mòn mờ vết chân xưa kể từ ngày oan trái ấy. Không biết bao nhiêu người tôi được quen biết, giao du nay đã ra người thiên cổ.

Buổi tối họp mặt của chúng tôi Noel 1983 ở vi-la của Nữ minh tinh Kiều Trang có sự tham dự của các đàn anh Tam Lang, Vũ Bằng, Doãn Quốc Sĩ, Tạ Tỵ. Bốn anh chỉ đến ngồi chơi, nói chuyện với anh em cho vui rồi về, không ở lại ăn uống. Mời 6 giờ, nhưng nhà khó tìm, người nọ chờ người kia, nên mãi đến 8 giờ tối mới bắt đầu ăn uống. Rượu, tôi nhớ có hai chai Napoleon, không phải Camus. Dương Hùng không mang Cây Lý đến như tả trong truyện. Thấy có hai gói Lucky, tôi hỏi Khuất Duy:

- Ê… mua cả gói cho anh em hút hay mua lẻ vài điếu đây?

Anh Vũ Bằng cười:

- Hoàng Hải Thủy bôi bác Khuất Duy Trác quá vậy..?

Tối ấy các anh Tam Lang, Vũ Bằng, Trần Việt Sơn hãy còn sống, hai anh Tạ Tỵ, Duyên Anh chưa vượt biên, chúng tôi chưa bị bắt, hai anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường chưa chết trong tù.

Tôi bị bắt lần thứ nhất cuối năm 1977, hai mùa lá rụng sau tôi từ Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu trở về mái nhà xưa. Dương Hùng Cường đã đi cải tạo ba niên và đã trở về với vợ con trong căn nhà hẻm đường Lý Thường Kiệt, gần cái gọi là Trung tâm Nữ Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Gặp nhau, Cường bảo tôi:

- Trần Tam Tiệp trước có làm thơ tếu ký tên Đạo Cù đăng ở Con Ong… nay là Tổng thư ký Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại ở Paris, có gửi thuốc Tây về cứu đói văn nghệ sĩ. Tôi đã báo tin cho Tiệp biết ông về và gửi địa chỉ của ông cho Tiệp. Kỳ quà tới thế nào ông cũng có đấy.

Và thế là tôi được ghi danh vào sổ Con Cá Nó Sống Vì Nước Ngoài của Văn Bút Hải Ngoại. Tiệp viết thư về cho chúng tôi biết anh xin được PEN International — Hội Văn Bút Quốc Tế — một khoản tiền để cứu đói anh em kẹt ở nhà. Số tiền PEN Intern, cộng với số tiền Văn Bút Hải Ngoại quyên góp được, Tiệp mua thuốc tây gửi về cho chúng tôi. Khi Tiệp gửi tiền về cho chúng tôi tổ chức đêm Noel với nhau, vợ chồng Khuất Duy Trác – có Ngũ Long Công chúa, lúc này còn Tứ Long, một công chúa đã phú lỉnh sang được Xê Kỳ – được Tiệp nhờ tổ chức bữa ăn Noel họp mặt. Trác mượn vila của bà chị nữ minh tinh Kiều Trang — Kiều Chinh — để anh em gặp gỡ.

Vi-la ở Cư xá Lữ Gia cạnh trường đua Phú Thọ. Từ Cư xá Tự Do giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền tôi đã đạp xe lóc cóc đến Cư xá Lữ Gia nhưng vì tôi ghi sai số nhà nên tôi không tìm ra vi-la. Trong khi ấy mấy cháu con gái của Khuất Duy Trác và Dương Hùng Cường- Vợ chồng Cường cũng có Ngũ Long Công chúa như vợ chồng Trác- đứng ở đầu ngõ chờ chú, bác nào lớ ngớ có vẻ tìm nhà thì chỉ đường. Tôi có đạp xe qua chỗ mấy cháu đứng nhưng tôi chẳng biết mặt đứa nào cả. Còn các cháu chắc cũng ngờ ngợ nhưng thấy tôi đạp đi luôn nên chẳng hỏi. Tôi về nhà ngồi được một lúc thì một anh bạn chạy xế Bridgestone đến. Anh biết tôi không tìm ra nhà nên đến đón tôi.

Sự thực là như vậy. Và vì vậy cho nên sáng nay ngồi viết ở Rừng Phong Arlington – Tết Mẽo, tết Mít qua đã lâu rồi nhưng đêm qua, trận mưa tuyết thứ tư trong năm mới đổ xuống Virginia Đất Tình nhân- sáng nay tuyết trắng trời, trắng đất, tôi – đại diện nhân vật Hoàng Hải trong NTBKCB, xin nói cho rõ:

1. Tôi có đến dự buổi gặp mặt tại vila Kiều Trang nhưng tối ấy tôi không có hút thuốc pipe Half and Half như được tả. Tôi không hút vì tôi không có mà hút. Từ năm 1980 có luật tất cả các loại thuốc lá ngoại quốc hằm bà lằng xíu oắt đều bị tịch thu hết. Thuốc Tylenol cũng vậy. Một lần khoảng năm 1982 tôi lên Kho Hàng Nước Ngoài ở Phi trường Tân Sơn Nhất lãnh một thùng quà từ Mỹ gửi về. Em kiểm hóa còn trẻ, trạc tuổi Kiều Giang con gái tôi, thấy số quà của tôi quá nghèo và chắc thấy nhan sắc tôi tiều tụy quá nên thương hại bảo tôi:

- Có mấy gói thuốc. Bác cất ngay đi. Đừng để người ta thấy…

Lần ấy trong số quà em tôi từ Mỹ gửi về có một cái pipe, bốn gói thuốc 79. Tôi mang thuốc 79 đi bán ở chợ Tân Định. Cái pipe được 500, 4 gói 79 được 200 tiền Hồ. Việc này có Cua Biển làm chứng. Cua Biển hiện cùng với Hoàng Anh Tuấn ở San Jose. Cua Biển dắt tôi đi bán. Có hàng tôi cũng chẳng biết phải đem bán ở đâu.

Bởi vậy tôi thấy tôi có quyền kêu “Oan Ơi Ông Địa” khi bị tả là phây phây hút thuốc pipe Háp ên Háp giữa lòng thành phố HCM muôn dân lầm than đói rách tả tơi. Tôi có hút nhưng là hút “Ngáp ên Ngáp” chứ không phải Háp ên Háp.

Tôi còn bị vu oan trong đoạn diễn tỏa tôi “nịnh” bà chị nữ minh tinh Kiều Trang. Em Thị Mầu bị nghi là còn trinh oan uổng như thế nào thì tôi cũng oan như thế. Sự thật là bà chủ nhà cho vợ chồng Khuất Duy mượn một gian phòng và nhà bếp trong một tối nhưng bà không ra tiếp tụi tôi, không ăn uống với tụi tôi. Tôi không những là không có hân hạnh được nịnh bà mà tôi còn cả đời chẳng bao giờ được gặp bà, được nhìn thấy dung nhan của bà.

Tội nghiệp tôi, tội nghiệp Hoàng Hải. Ngày ấy, năm ấy tôi đâu còn tí ti ông cụ hào hoa phong thấp nào. Còn đâu những ngày phì phèo Philip Morris Vàng, vào nhà Xuân Thu ôm một đống sách báo, ăn trạo tôm, ngọc dương hầm thuốc Bắc ở Ngân Đình Tửu Gia, phóng xế Hillman Đề-ca-pô-típ trên xa lộ, trải áo paraverse cho nàng nằm dưới hàng dừa, chiều chiều lên tuốt Chuồng Cu Nhà Quốc Hội ngồi với Từ Chung, Cát Hữu, Xuân Mai – hôm nào Từ Chung không đi thì có Phan Nghị – dự phiên họp Quốc hội để viết bài tường thuật trên báo Sàigònmới. Những ngày ấy đã xa rồi trong dĩ vãng. Những năm 1980, tôi gầy ốm xương xẩu, đen đủi, thân xác chỉ còn xương với da. Nhiều lúc đứng trước gương trong nhà tôi thấy tôi như con trâu già. Một cô em văn nghệ của tôi, cô Thục Viên, hiện ở Houston, Texas, có lần nói với tôi ở Thành Hồ những ngày xa xưa đó:

- Em thấy anh đi qua, nhưng em không biết có phải anh không nên em không gọi. Sao anh ốm quá…

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 14)

Trong những ngày đen hơn mõm chó mực ấy nhiều lần đạp xế lang thang trên những nẻo đường Thành Hồ tôi cũng có nhìn thấy vài người đàn bà trước 1975 có cảm tình với tôi. Tôi có thể ghé xe đạp vào vỉa hè nói chuyện vài câu với các nàng. Nhưng tôi không ghé. Ghé làm gì. Chỉ thêm buồn tủi. Nhan sắc tôi tàn phai thảm thiết quá đỗi. Tôi muốn giấu mặt tôi đi để các nàng đừng nhìn thấy. Hôm nay tôi xin nói rõ: Tôi không hề có hân hạnh được “nịnh bà chủ vila Kiều Trang” như chuyện diễn tả trong NTBKCB. Tự xét thân tôi, tôi thấy dường như cả đời tôi chẳng nịnh, chẳng bốc thơm, chẳng nâng bi qua một người đàn bà nào trên cõi đời này. Ca tụng những nữ nhân vật trong tiểu thuyết thơm hơn múi mít thì có, nhưng ca tụng đàn bà bằng xương, bằng thịt, bằng da, đàn bà có ăn, có ngáo thực sự trên đời này thì không. Nhiều người đọc truyện tôi viết thấy tôi có vẻ vi vút phong tình, nhưng đấy toàn là chuyện tôi phịa ra mà thôi. Tôi là anh đàn ông cơm nhà, quà vợ tầm thường nhất cõi đời này. Quả đáng tội cũng có vài người đàn bà chẳng may dính líu ái tình mí tôi nhưng đó là vì các nàng kiếp trước quỵt nợ tôi nên kiếp này các nàng phải trả. Dzậy thôi. Tôi không hề thả lời ong bướm quyến rũ rủ rê bất cứ người đàn bà nào.

Về nữ minh tinh Kiều Trang thì cái gọi là quen biết giữa nàng với tôi là như vầy: Năm 1956 có hai bộ phim Việt do đạo diễn Phi Luật Tân thực hiện ra đời: Phim “Chúng tôi muốn sống” và phim “Ánh sáng miền Nam“. Những tên tuổi Mai Trâm, Thu Trang, Khánh Ngọc, Lê Quỳnh nổi lên từ hai phim này. Anh Đỗ Bá Thế, Giám đốc hãng phim Đông Phương thực hiện phim “Ánh sáng miền Nam“, nhờ bạn tôi Minh Đăng Khánh, giúp phần quảng cáo trên các báo. Năm đó tôi đang phụ trách cái gọi là Trang Điện ảnh cho nhật báo Ngôn Luận và tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong của chủ nhiệm Hồ Anh.

Gần Tết hay vừa Tết xong, hãng phim Đông Phương tổ chức cuộc Thi Hoa Hậu Đông Phương ở Hội Chợ Quang Trung, Minh Đăng Khánh chở tôi lên hội chợ trên chiếc Lambretta của anh. Hội chợ buổi tối vắng còn hơn chùa Bà Đanh. Khách dự cuộc thi hoa hậu ngồi ngoài trời lạnh thấy mồ. Dự thi hoa hậu chừng mười lăm em. Các em toàn bận áo dài – không hở cổ vì bà Lệ Xuân chưa lăng xê mốt hở cổ, hở vai – có mặc quần đàng hoàng, đi qua đi lại vài vòng, không có mặc áo tắm một mảnh, hai mảnh chi cả. Ta có thể coi đây là cuộc thi hoa hậu thứ nhất ở Sàigòn.

Người về sau trở thành nữ minh tinh Kiều Chinh — người được gọi là Kiều Trang trong NTBKCB — cũng lên đài biểu diễn. Lẽ ra nàng được chọn làm Hoa Hậu Đông Phương, nhưng vì nàng không ghi danh dự tuyển nên Ban Giám khảo trao tặng nàng một giải đặc biệt. Tôi theo Minh Đăng Khánh vào cái gọi là hậu trường quây bằng cót để phỏng vấn nàng đôi câu về đăng báo.

Sau đó nàng bốc lên – không như diều gặp gió mà như phi cơ phản lực – nàng lên hình bìa tạp chí Kịch Ảnh Số Một, đóng phim “Hồi Chuông Thiên Mụ” v.v…và v.v… Thành công với phim “Người Tình Không Chân Tay“, nàng trở thành người cả nước biết mặt, biết tên v.v… và v.v…

Người có tài như cây kim nằm trong bọc chẳng ai bóp cũng thò ra. Người đã có tài mà lại là đàn bà đẹp thì mũi kim của các nàng còn thò ra nhanh gấp bội. Kiều Chinh có tài nên Kiều Chinh nổi. Anh Con trai bà Cả Đọi lục lục thường tài nên anh không nổi, không chìm, anh lình bình vất vả suốt một đời chẳng lúc nào được trội hơn người.

- Khuất Duy, Dương Hùng, Hoàng Hải không bao giờ gọi Đoàn Quốc bằng “cụ”, bằng “bác” cả.

- Hoàng Hải có nhờ Trần Tam Tiệp, với tư cách Tổng Thư ký Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, liên lạc với mấy nhà xuất bản bên Xê Kỳ đã tái bản vài quyển truyện của y để xin tí tiền cứu đói. Nhờ Tiệp tôi được chi – qua Tiệp – khoảng 400 đô. Trong mấy năm trời, tôi nhận được nhiều lần quà của Tiệp. Nhưng tôi chỉ nhận được phần quà của tôi như anh em có tên trong Danh Sách Con Cá của Tiệp. Khi tôi viết bài gửi sang, Tiệp đưa đăng báo, anh em thường nhờ Tiệp gửi tiền về cho tôi là tôi có tiền riêng mà thôi.

- Trong buổi gặp tối ấy chúng tôi có đọc một thư của Tiệp nhưng thư ấy không phải là lá thư được đăng ở đoạn trên. Thư của Tiệp viết cho chúng tôi có kèm theo một thư tiếng Anh của vị Trưởng ban Writers in Prison Committtee của Ban Chấp Hành PEN Intern gửi cho Tiệp, thư này nói đến chúng tôi.

*****

Tháng Chín 1977 công an Thành Hồ đưa xe bông đến Cư xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, đón tôi đi. Tôi nằm 12 tháng 2 ngày trong hai phòng Biệt giam 15 khu B, phòng biệt giam 6 khu C Một – kỷ lục nằm xà lim có thể là vô địch trong hàng ngũ văn nghệ sĩ Sàigòn kẹt giỏ bị giam ở cái gọi là Trại Tạm Giam số 4 Phan Đăng Lưu – Tháng Mười Một năm 1979 tôi trở về Ngã Ba Ông Tạ. Lần tù thứ nhất này tôi nằm ngâm thơ Ngồi Rù 23 tháng mây bay trong Số 4 Phan Đăng Lưu.

Người bạn tôi gặp lần đầu tiên khi vừa về đến nhà là Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều. Khi ấy Mai Thảo, Hoài Bắc Phạm Đình Chương, Lê Thiệp, Nguyễn Hữu Hiệu – Thiệp và Hiệu sống cùng khu Ông Tạ với tôi – đã vượt biên sang Mỹ. Nhiều bạn tôi bị bắt trước tôi: Thái Thủy, Duyên Anh, Thanh Thương Hoàng, Tú Kếu còn mỏi mòn trong những trại cải tạo. Những ngày tháng đen hơn mõm chó mực ở Thành Hồ cuối 79 tôi chỉ có một người bạn thân là Lê Trọng Nguyễn.

Lê Trọng Nguyễn đi sang Hoa Kỳ với vợ con theo diện đoàn tụ gia đình năm 1983. Gia đình vợ anh bảo lãnh cho con gái và thế là Nguyễn và bốn con đàng hoàng lên máy bay sang Mỹ. Gia đình Nguyễn là một trong số những gia đình đầu tiên đi đoàn tụ gia đình.

Nếu Lê Trọng Nguyễn không đi khỏi Thành Hồ năm 1983 anh đã bị bắt cùng chúng tôi trong đêm 2 tháng Năm năm 1984 hoặc ít ngày sau đó. Chuyện đó chắc hơn đinh đóng cột. Nếu Nguyễn bị bắt cùng chúng tôi, không biết đời anh sẽ ra sao? Khi nhìn thấy nhau xách túi quần áo đứng chờ trước cửa xà-lim, chúng tôi không ai nghĩ đến chuyện hai anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường lại chết trong tù.

Nguyên nhân Lê Trọng Nguyễn – nếu còn có mặt ở thành Hồ tháng Năm 1984 – bị tóm là anh làm một bản nhạc hành khúc. Anh đưa cho tôi và bảo:

- Mày làm lời bài này cho tao. Tao tặng Kháng Chiến Quân…

Tôi nói chỉ có người soạn nhạc lấy thơ phổ nhạc, tôi không thể làm lời nhạc được vì lẽ giản dị tôi mù tịt về âm nhạc, mù tịt luôn cả dương nhạc. Nguyễn làm lời rồi đưa bản nhạc cho tôi gửi sang Mỹ. Tôi đặt tên cho bản nhạc rồi viết thêm vài dòng:

Tiếng hát trở về

Tặng các bạn Kháng Chiến Quân. Nhạc và lời Trung Nhơn.

Trung Nhơn là một nhạc sĩ nổi tiếng của chúng ta từ lâu trước 1975. Hiện ông đang sống ở Sàigòn. Vậy chúng ta cứ tạm biết ông với cái tên Trung Nhơn.

Tôi gửi bản nhạc đi. Năm ấy là năm 82. Thấm thoát vậy mà đã mười mấy mùa lá rụng. Những ngày như lá tháng như mây – Thơ Thanh Nam, – tôi không nhớ tôi gửi cho ai, cho báo nào. Thế rồi Nguyễn đi khỏi Thành Hồ vào cuối năm 1983, đi khỏi đường Nguyễn Minh Chiếu bị đổi tên là Nguyễn Trọng Tuyển, tôi mất thêm một người bạn tốt.

Vào hai giờ sáng ngày 2 tháng 5, 1984, bọn đầu trâu mặt ngựa cháu Bác Hồ, mười mấy tên kéo vào căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi. Lực lượng công an đi vồ phản động lần này thật hùng hậu. Hai máy ảnh nháng đèn liên hồi. Ít nhất nội trong đêm ấy chúng cũng phái năm đội như thế đi bắt anh em chúng tôi: Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự và tôi bị bắt trong cùng một đêm.

Xét nhà tôi chúng tóm được mấy bức thư Nguyễn từ Mỹ gửi về cho tôi. Nhờ có kinh nghiệm vì đã bị bắt một lần tôi cẩn thận cất giấu tất cả những gì tôi viết. Khi ta đã cất đến ông nội chúng nó cũng không tìm thấy. Chỉ vì ta như những em gái trinh hớ hênh, ta để tài liệu khơi khơi trên bàn, bên gối, trên giường, trong tủ nên chúng mới dễ dàng tóm được mà thôi. Chúng vớ được mấy lá thư của Nguyễn vì tôi thấy thư viết chuyện đời sống của Nguyễn và gia đình ở bên Mỹ, toàn chuyện vô thưởng vô phạt nên để thư trong ngăn kéo bàn.

Theo đúng thông lệ và thủ tục thẩm vấn người mới bị bắt vô là bị hỏi liên tiếp trong những ngày đầu. Tôi không chối tội vì tôi thấy tôi không có gì phải xấu hổ vì những việc tôi làm. Hai nữa tôi không chối vì tôi biết có chối cũng vô ích. Khi bắt mình chúng đã định trước mức án. Chối thì mười năm mà nhận thì cũng mười năm. Chi bằng nhận mình hách hơn. Ít nhất mình cũng không hổ thẹn với chính mình. Lý do thứ ba làm tôi dễ dàng khai báo nhận tội là tôi không thích nói dối. Tất nhiên không phải tôi nói dzậy là suốt đời tôi không bao giờ nói dối. Có chứ. Nhưng tôi đã viết: theo tôi thấy qua kinh nghiệm mồ hôi và máu tươi của tôi – mồ hôi vì trong tù đông người nóng quá, máu tươi vì phải đem thân gầy nuôi rệp xuất khẩu thâu ngoại tệ về cho đảng Cộng sản bỏ túi và nằm trần không mùng cho muỗi tha hồ đốt – với Công an cộng sản thì người tù chối hay nhận tội cũng vậy thôi. Thêm nữa tôi dễ dàng nhận tội vì tôi chỉ nhận những cái gì gọi là tội của tôi, tôi không phải khai báo việc làm của anh em tôi. Đây là điều thoải mái nhất cho lương tâm tôi. Những gì tôi biết về việc làm của anh em tôi bọn cớm cộng cũng đã biết. Chúng còn biết về những việc anh em tôi làm nhiều hơn tôi nữa.

Công an Thành Hồ có sách báo của người Việt hải ngoại dễ hơn chúng đớp cơm sườn. Tay sai của chúng ở các nước tư bản mua đủ thứ sách báo Việt gửi về. Chúng chỉ việc nghiên cứu những bài viết tìm xem tên nào đang sống trong vòng kìm kẹp ác ôn của chúng dám liều mạng viết những bài tố cáo tội ác của chúng gửi ra nước ngoài. Huỳnh Thành Trung, tên anh Công an thẩm vấn tôi, mang vào Phan Đăng Lưu chừng năm bẩy tờ tạp chí hải ngoại. Trong những tờ báo này có những bài chúng nghi là do tôi viết. Chúng mang báo vào cho tôi đọc và hỏi rằng có phải bài này do tôi viết không?

Chúng chỉ cho tôi đọc riêng bài nào chúng nghi tôi là người viết. Một trong những lạc thú của những người viết là được đọc những bài viết của mình được in rõ ràng, sáng sủa trên những trang sách báo. Lâu lắm rồi tôi không được hưởng cái lạc thú ấy. Tôi khoái chí đọc từ đầu đến cuối những bài tôi viết được in ở nước ngoài. Và tôi nhận của tôi nếu bài viết đó do tôi viết, tôi nói không nếu bài viết đó không phải do tôi viết. Tôi dùng nhiều bút hiệu dưới những bài ấy: Ngụy Công Tử, Văn Kỳ Thanh, Yên Ba, Con Trai Bà Cả Đọi, Dương Hồng Ngọc, Hồ Thành Nhân, Triều Đông, Hạ Thu v..v… Trên mấy bài chúng nghi tôi là tác giả tôi thấy tên nào đó ghi mấy chữ “H2T?”

Hát Đơ Tê và dấu hỏi. Như vậy là có tên nào đó biết khá rõ về lối viết, về cái gọi là “văn phong, ngôn ngữ” của HHT đã đọc bài viết này và nghi bài đó là của Hát Đơ Tê.

Trong một số báo như thế tôi thấy đăng bản nhạc “Tiếng Hát Trở Về tặng các bạn Kháng Chiến Quân, Nhạc và lời của Trung Nhơn,” đăng nguyên con, đăng y chang. Ông bạn nhà báo nào đó nhận được bản nhạc đã đưa luôn bản viết tay của chúng tôi lên máy chụp luôn, in luôn. Chữ tôi viết lời giới thiệu, chữ Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều Trung Nhơn Rởm lù lù trên trang báo. Còn chối chăng chi nữa. Chối là con nít. Chữ mình viết rõ ràng. Có là con nó thì may ra chối nó để yên, còn là bố nó mà đến nước ấy còn ngang ngạnh chối nó cũng đá cho hộc máu.

Tôi nói:

- Đúng. Bài này tôi viết. Bản nhạc này do tôi gửi đi. Tác giả nó là bạn tôi, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, anh bạn tôi đã sang Hoa Kỳ.

Anh công an nghiêm giọng:

- Anh nên khai báo nghiêm chỉnh. Đừng tưởng cứ đổ hết tội cho người đã ra đi nước ngoài là được đâu.

Tôi chỉ nói:

- Mấy dòng chữ trên bản này là của tôi, những dòng này là chữ Lê Trọng Nguyễn. Các anh đã bắt được thư của Nguyễn ở nhà tôi, so tự dạng là các anh biết ngay chứ gì.

Anh công an thẩm vấn tôi lần tôi bị bắt thứ hai này chưa đầy ba mươi tuổi. Anh sinh trưởng ở Sàigòn, thuộc loại con nhà “gia đình cách mạng”, tức có cha, anh, chú, bác là Việt cộng nên anh được đưa vào ngành công an. Tên anh, bí danh hay tên thật tôi không rõ, là Huỳnh Trung Thành. Tôi thấy tên anh ghi trên biên bản thẩm vấn tôi. Dường như tôi có duyên nợ với những anh công an Việt cộng họ Huỳnh tên Thành. Người thẩm vấn tôi lần trước 77-79 là Huỳnh Bá Thành, lần 84-90 này là Huỳnh Trung Thành.

Trong những buổi thẩm vấn tôi Huỳnh Bá Thành thường ngưng hỏi để trò chuyện với tôi, Huỳnh Trung Thành nói chuyện riêng ít hơn. Anh còn quá trẻ so với tôi, anh không biết gì nhiều để nói. Có lần anh tâm sự:

- Tôi sống ở Sàigòn nhưng các ông anh, bà chị tôi mới biết các ca sĩ Thái Thanh, Anh Ngọc. Tôi không biết.

Xin kể một chuyện bên lề dính dáng đến hai ông Mít nổi tiếng trong giới Mít Dzăng nghệ dzăng gừng hải ngoại nói chung, Xê Kỳ nói riêng. Hai ông đó là ông Lê Văn đài VOA, và ông Đỗ Ngọc Yến nhật báo Người Việt.

Như tôi đã viết hơn một lần: sau 1975 sợi dây liên lạc mong manh duy nhất mà những Anh Con Trai Bà Cả Đọi kẹt giỏ Thành Hồ còn có được với thế giới bên ngoài là những giờ phát thanh tiếng Việt của hai đài VOA, BBC: Vợ Ông Anh, Bà Bán Cam, Bà Bán Cháo. Mỗi ngày chỉ cần nghe hai đài này là chúng tôi có thể yên tâm là mình biết tạm đủ tin tức trên thế giới.

Nhưng cũng có nhiều ông nghiện nghe đài nặng – tiếng đài là do ta bị ảnh hưởng của người miền Bắc xã hội chủ nghĩa: Mua đài, nghe đài, đài nói láo, báo nói sai – ngoài việc chờ nghe hai đài VOA, BBC các ông này còn chịu khó nghe đài Úc. Có thể nói kể từ ngày những đài VOA, BBC bầy ra giờ phát thanh tiếng Việt chưa bao giờ hai đài lại được thính giả Mít chiếu cố nhiều như những năm sau 1975.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 15)

Việt cộng có luật cấm nhân dân nghe những đài phát thanh tư bản. Luật này lâu lâu lại được vẩn vương đem ra đăng lại trên các nhật báo. Nhưng ngơ ngáo vào Sàigòn Việt cộng bị tràn ngập bởi các máy radio. Sàigòn quá nhiều radio Việt cộng kiểm soát không nổi. Việc nghe VOA, BBC trở thành một nhu cầu phải có của nhiều người dân Việt Nam Cộng Hòa thua trận. Những tháng năm đen tối ấy anh Cao Hữu Đính, ông bạn vong niên của tôi, trang bị một máy radio vừa dùng được điện vừa xài được pin. Anh đề phòng những lúc Thành Hồ mất điện anh vẫn nghe được tin và để buổi sáng anh mang radio theo anh vào phòng vệ sinh. Giáo sư Cao Hữu Đính, nguyên giáo sư Phật học Đại học Vạn Hạnh, nguyên Tổng Thư ký Hội Đồng Liên Tôn thời Phật Giáo chống Tổng thống Ngô Đình Diệm, anh đã mãn phần tại Thành Hồ năm 1993. Anh chị có bẩy người con. Tất cả các con của Cao lão gia đều thành đạt và hiện nay ở Canada, Hoa Kỳ và Pháp. Anh Đính chăm nghe radio, nhớ những tin liên can đến Việt Nam để nói lại cho chúng tôi nghe.

Hai ông Mít Ra-đi-ô ở hải ngoại được nhân dân Thành Hồ nhắc nhở đến, hai ông cùng tên Văn, ông Lê Văn Đài VOA, ông Đỗ Văn Đài BBC – Những năm 82, 83 buổi phát thanh Tạp Chí Đông Nam Á chín giờ tối thứ năm trong tuần của Đài BBC được Anh Con Trai Bà Cả đón nghe kỹ nhất. Tối nào có mục đi ăn nhậu viả hè anh đều chăm chăm đạp xế về nhà trước chín giờ tối để nghe Tạp Chí Đông Nam Á. Tối nào vui bạn hay có mồi ngon, rượu tốt không đành lòng nhẩy lên xế đạp trở về nhà để nghe BBC Đông Nam Á được anh tiếc hùi hụi. Một trong những nguyên nhân làm anh đón nghe đài BBC, VOA là để anh có điều kiện bàn tán với thiên hạ. Sáng hôm sau đến tiệm hớt tóc hay quán cà phê vỉa hè, nghe ai nói tối qua Bà Bán Cam loan tin này, tin nọ, anh có thẩm quyền phát biểu: “Hổng phải thế ông ơi. BiBiSi nói như vầy nè…”. Nếu anh không nghe được buổi phát thanh ấy khi thiên hạ bình loan anh bán tín bán nghi.

Ông Văn ra-đi-ô thứ hai là ông Lê Văn. Ông này được bà con cô bác biết tên nhờ mục Âm Nhạc Việt Nam Hải Ngoại VOA. Những năm 1980 nhạc chiến đấu của Việt Dzũng, Nguyệt Ánh đang ở trong vòng hào quang sáng chói nhất. Giờ phát thanh nhạc Việt hải ngoại có nội dung đả kích Việt cộng đến nơi đến chốn. Bởi dzậy Việt cộng rất không ưa ông Lê Văn. Sau khi Hoa Kỳ bang giao với Việt cộng, VOA phái ông Lê Văn làm phát viên VOA ở Hà Nội, Việt cộng đã không chịu cho ông về nước. Trong khí đó thì Đỗ Văn BBC, một Công Tử Hà Đông rất ít khi chịu nhận mình là Công tử Hà Đông, cùng đi với bà Judy Stowe BBC, đã đàng hoàng trở về Hà Nội, Thành Hồ với tư cách đặc phái viên BBC từ những năm 88, 89..

Bà con kẹt giỏ nghe Đài VOA, kể cả những văn nghệ sĩ, chỉ biết Lê Văn là ông Lê Văn. Bỗng dưng tuần báo Tuổi Trẻ, cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Thành phố HCM, đăng một bài đả kích đài VOA, gọi đích danh Lê Văn VOA là ký giả Đỗ Ngọc Yến.

Anh Con Trai Bà Cả từng có hân hạnh được quen biết ông Đỗ Ngọc Yến từ năm nhà ông còn ở gần Ngã Tư Hàng Xanh xa lộ. Ngày 25, 26 chi đó Tháng Tư năm 1975, anh còn gặp ông Đỗ Ngọc Yến ở Sàigòn. Ông và các ông Đỗ Quý Toàn, Lê Tất Điều, Vũ Ngự Chiêu, Phạm Hậu, Phạm Huấn, Thanh Nam v.v.. cùng nhiều ông khác dzọt đi thật lẹ. Từ khi tờ Tuổi Trẻ loan tin Lê Văn VOA là Đỗ Ngọc Yến bang chúng Cái bang Saìgòn đều cho là đúng. Chẳng còn ai théc méc gì.

Bị bắt, anh Con Trai Bà Cả Đọi cùng người anh em cùng vợ mí anh là Công Tử Hà Đông không thấy phiền hà gì với những buổi được gọi làm việc, tức là đi chịu thẩm vấn. Cai tù đến dùng sâu chìa khóa đập mạnh vào cửa xà lim – Hán Việt văn huê gọi là Biệt Giam — và gọi: “Hát… Hát… Tê… đi làm việc…”. Phải viết là “được” đi thẩm vấn vì phòng tù xã hội chủ nghĩa, nếu là phòng biệt giam, tức sà-lim thì người tù nằm một mình quá buồn, muốn được ra ngoài cho thỏang khoát, muốn được nói chuyện dù là nói chuyện với kẻ thẩm vấn mình, nếu ở phòng tập thể thì phòng nhồi nhét quá đông người. Bẩn, nóng, ồn ào, hôi thối. Mùi người. Đụng chạm. Đó là những gì có mặt thường trực Vảnh Sít xuya Vảnh Cát ở tất cả những phòng tù Việt cộng nhốt nhân dân thân thương, nhốt những đồng bào của chúng không những chỉ ở Thành Hồ mà là ở khắp nước Việt Nam đau khổ. Được gọi đi thẩm vấn, ít nhất cũng được ra khỏi cái phòng giam bẩn thỉu ấy trong vòng hai tiếng đồng hồ, được ngồi tương đối thoải mái ở một chỗ tương đối vắng người, được công an Việt cộng mời hút thuốc lá Mai, Vàm Cỏ v.v…

Trong một buổi thẩm vấn thường lệ khoảng Tháng 8 năm 1984 anh công an Huỳnh Trung Thành mở cặp lấy ra quyển sổ bìa đen. Anh để một tấm các nửa trong nửa ngoài trong sổ, phần tên tuổi người trong tấm các được che đi, chỉ cho tôi thấy tấm ảnh căn cước cỡ cát-xít. Thành hỏi tôi:

- Anh biết ai đây không?

Tôi nhìn ảnh. Tôi gặp người trong ảnh này cuối tháng Tư 1975. Bi giờ là tháng Sáu 1984. Thấm thoát dzậy mà đã chín mùa lá rụng. Tôi tưởng như tôi mới gặp ông ấy có ngày hôm qua. Tuy không được giao du thân mật với ông nhưng tôi không làm sao quên được dung nhan của ông. Ông trán cao, tai lớn, mặt vuông cương nghị. Đặc biệt ông có cặp kính trắng cận thị hơi dầy nên trông rất trí thức. Chắc hơn bắp là mình nói đúng, mình cũng là tay kha khá ở Sàigòn vì mình quen biết nhiều người quan trọng, tôi trả lời:

- Nếu tôi không lầm thì đây là ảnh anh Đỗ Ngọc Yến…

Và để lấy điểm tôi tự khai báo thêm:

- Anh này hiện ở Mỹ. Nghe nói anh ta là Lê Văn đài Vê-Ô-A.

Huỳnh Trung Thành gật đầu:

- Anh nói đúng đấy.

Tấm các được lấy ra cho tôi xem. Chẳng cần nhìn tên tôi cũng biết đó là Đỗ Ngọc Yến. Đây là tấm phiếu lý lịch của anh khi anh khai lấy thẻ căn cước hay xin thứ giấy tờ gì đó ở trong hồ sơ Tổng Nha Cảnh sát của ta.

*****

Tôi có tật viết vòng vo và quý bạn đọc vừa thấy tôi biểu diễn một đường Lăng Ba Vi Bộ vi vút.Ý định của tôi khi ngồi vào bàn gõ máy chữ Olympia mang theo từ Ngã Ba Ông Tạ, Thành Hồ đến Virginia Rừng Phong A Linh Tôn là viết về Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều, và về một người đã thương xót, đã giúp đỡ an ủi khuyến khích, làm cho trái tim vợ chồng, bố con tôi, kể cả trái tim thằng cháu ngoại của tôi ấm lại.

Năm 1980 từ số 4 Phan Đăng Lưu trở về Ngã Ba Ông Tạ, gặp lại Dương Hùng Cường – anh đi cải tạo trở về khoảng năm 1979 – Cường bảo tôi:

- Trần Tam Tiệp, không quân, tức Đạo Cù, Con Ong, hiện là Tổng Thư ký Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, ở Paris, có gửi thuốc về cho anh em. Tôi đã cho Tiệp biết ông mới về, địa chỉ ông, kỳ quà tới thế nào ông cũng có đấy.

Tôi gặp Lê Trọng Nguyễn, Nguyễn nói:

- Có cô Phương Hương ở Pháp gửi thuốc về chi viện văn nghệ sĩ. Tao có báo cho cô ấy biết tin mày. Địa chỉ của cô ấy đây. Mày nên viết cho cô ấy…

Thế là tôi được ghi tên vào hai sổ Con Cá Nó Sống Vì Nước Ngoài, sổ Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại kiêm Văn Bút Quốc Tế của Trần Tam Tiệp, Sổ Quan Thế Âm Bồ Tát Cứu Khổ Cứu Nạn của cô Phương Hương. Khi gửi thùng thuốc cho Lê Trọng Nguyễn, cô để tên người gửi là Lê Thị Phương Hương, trên thùng thuốc gửi cho tôi cô đề tên người gửi là Hoàng Thị Phương Hương. Gửi quà cho ai, cô lấy tên họ người ấy. Tôi chắc trên thùng thuốc cô gửi cho Mai Tuyết An, vợ Lý Đại Nguyên, cô để tên người gửi là Mai Phương Hương.

Trong những năm đen tối, tuyệt vọng ở Thành Hồ, tôi may mắn được khá nhiều người gửi đồ, gửi tiền về cứu trợ. Bà Dì tôi và các em tôi không kể, cô Phương Hương là một trong những người thương xót vợ chồng chúng tôi nhất. Tôi chắc với tất cả mọi người – những chúng sanh lặn ngụp trong bể khổ cõi Ta Bà – cô Phương Hương đều có tấm lòng vị tha như thế. Tôi được biết tên cô là Cao Ngọc Phượng, sinh quán Bến Tre, nữ bác sĩ. Cô là Phật tử thuần thành, đệ tử của Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh. Tôi gửi một số bài viết của tôi sang cô. Hai bài của tôi được đăng trong tuyển tập “Tắm Mát Ngọn Sông Đào” do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành ở Paris năm 1982.

Tắm Mát Ngọn Sông Đào được lấy ra từ bài Sẩm Xoang của tôi:

Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
Đôi tay anh vín đôi cành
Quả chín anh hái quả xanh anh vồ
Năm sáu năm nay anh ăn ở Thành Hồ
Cơm nhà quà vợ nửa rồ anh lại nửa điên
Sống quẩn quanh ngày tháng nó nặng chiền chiền
Ngày rơi ngày muộn, đêm phiền theo đêm
Nhưng mà em ơi… Anh ngẫm cái thân anh đến giờ này anh còn nệm ấm, giường êm.
Vợ thương, con thảo, anh còn rên cái nỗi gì
Bạn bè anh như lá đài bi
Đứa thì dãi nắng, đứa thì dầm sương
Thằng sông Vô Định phơi xương
Thằng thì con vợ nó phú lỉnh một đường sang sông
Thơ xanh anh chép giấy hồng
Lúc hèn thì đến Quận Công cũng hèn.
Nói gì rằng đỏ, rằng đen.

Được cô Phương Hương thương xót, cứu trợ và đối xử chân tình, tôi chăm chỉ viết thư cho cô, kể linh tinh đủ thứ chuyện trong nhà, ngoài xã hội. Ngoài việc cứu trợ bằng phẩm vật, nâng đỡ tinh thần bằng những lời thăm hỏi, cô còn giúp vợ chồng tôi nhiều nữa qua những việc cô làm mà cô không nói, như trình bày trường hợp của tôi với những tổ chức nhân đạo quốc tế để xin họ giúp đỡ, xin họ can thiệp cứu tôi, lên tiếng đòi trả tự do cho tôi.

Tháng Năm 1984. tôi bị bắt lần thứ hai. Năm mùa lá rụng ngồi tù nhìn nắng chiếu, mưa rơi ngoài song sắt phòng tù tôi mới được gần Alice vảnh cát xuya vảnh cát ở trại Cải tạo Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai, Alice kể:

- Cô Phương Hương tội lắm. Anh bị bắt rồi, thư đầu cô ấy gửi về cho con Giang. Cô ấy viết: “… Giang… con ôm chặt lấy Má cho cô…”

Năm 1989 Doãn Quốc Sĩ và tôi ở trại Z30A , cô Phương Hương nhờ một nữ đệ tử về thăm quê hương đem tiền cứu trợ đến tận nhà cho chúng tôi. Nữ phật tử này cũng theo các vị sư sãi chùa Già Lam lên trại Z30A thăm các vị Thượng Tọa Thích Đức Nhuận, Đại Đức Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Trí Siêu Lê Mạnh Thát và thăm gặp mặt cả hai anh em Biệt Kích Văn Nghệ ở tù ở trại này là anh Doãn Quốc Sĩ và tôi.

Năm 1990 lần thứ hai tôi từ nhà tù cộng sản trở về mái nhà xưa. Cuộc liên lạc bằng thư từ giữa cô Phương Hương với tôi không còn được thường xuyên như trước 1984. Cô cho biết cô đã xuống tóc, trở thành Ni Sư, pháp danh là Chân Không, cô thường đi Ấn Độ, Tích Lan đi khắp nơi học và thuyết pháp. Cô chuyên vào việc tu hành. Việc quyên góp và cứu trợ đồng bào trong nước trong tổ chức Phật tử tự nguyện của cô được cô trao cho người khác.

Tháng Chín năm 1995, Thiền sư Nhất Hạnh sang Hoa Kỳ trong một chuyến đi hoằng pháp. Ni sư Chân Không ở trong đoàn tháp tùng. Cô Chân Không phone cho tôi khi cô theo Thầy đến Washington D.C. Cô mời tôi lên D.C. dự cuộc nói chuyện của Thầy. Người ta đến nghe phải mua giấy vào cửa, tôi đến nghe free.

Hai ngày sau, Thiền sư thuyết pháp ở Arlington. Vợ chồng tôi lại được gặp cô. Lần này vợ chồng chúng tôi được nói chuyện với cô lâu hơn. Cô đến phòng hội trước để chuẩn bị, sắp xếp cuộc thuyết pháp. Vợ chồng tôi đón cô trên đường cô đi vào hội trường. Gặp chúng tôi cô hỏi ngay:

- Kiều Giang hồi này sống ra sao? Con nó năm nay mấy tuổi rồi?

*****

Trích “Những tên Biệt kích cầm bút

Chỉ vài ngày sau khi Đoàn Quốc nhận được giấy xuất cảnh thì hầu như những người quen biết cũ trong làng văn, làng báo trước đây cũng đều biết tin. Lâu nay, ít ai nhắc đến ông ta. Điều đó cũng dễ hiểu thôi vì từ trước ông ta vẫn chuộng lối sống “ẩn dật” khá khác biệt với các đồng nghiệp.

Ngoài nghề viết văn, ông ta còn là nhà giáo, ảnh hưởng sâu đậm Nho giáo và của văn học Pháp, về sau này tốt nghiệp môn giáo dục học ở Đại học California. Ông ta còn nghiên cứu về Thiền và là bạn thân với các nhà sư tiếng tăm.

Tất cả những khuynh hướng văn học, triết học có vẻ trái khoáy với nhau tập hợp lại tạo thành tính cách riêng, mặt này bổ sung mặt kia, khiến cho các đồng nghiệp và độc giả của nhà văn Đoàn Quốc thấy ở ông một tổng hợp nhiều màu sắc và có sức thuyết phục!

Cái vẻ nho nhã bên ngoài khiến cho một số người coi đó là “tính truyền thống” của văn hóa Việt Nam. Điều khác là “nhà nho” Đoàn Quốc không có khăn đóng, áo dài mà khoác bộ cánh của văn chương lãng mạn Pháp và những đường nét kỷ hà của văn minh Mỹ ngang ngay sổ thẳng, chính xác và thực dụng. Vì vậy, trong văn chương và cả trong cuộc sống ai theo thị hiếu nào đều cũng có thể tìm thấy cái nhìn ưa thích nơi Đoàn Quốc. Vì chính màn khói ảo giác ấy đã đưa Đoàn Quốc lên vị trí đàn anh trong thứ trật tự “chiếu trên, chiếu dưới” trong làng văn Sàigòn trước đây.

Thế mà nay mai ông ta sắp đi cùng đám con lai Mỹ, cùng với các cụ già, cháu bé… được Nhà Nước cho phép xuất cảnh để “đoàn tụ gia đình”. Sự thật là vậy. Theo đúng chính sách, ông ta ra đi theo diện người ngoài tuổi lao động, già yếu, được con cái bảo lãnh, chứ không hề với tư cách một nhà văn. Ấy thế mà lại có tin đồn, ông ta được “một tổ chức nhân quyền quốc tế” nào đó can thiệp để ra đi với tư cách là một nhà văn “không thích nghi với chế độ cộng sản”! Cái tin vịt ấy kể ra cũng có xuất xứ của nó. Một vài tờ báo lá cải của nhóm lưu vong phản động bắt đầu làm rùm beng, coi việc ra đi của Đoàn Quốc như là thành tích “đấu tranh” của chúng buộc “nhà cầm quyền cộng sản” phải nhượng bộ!

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 16)

Trích NTBKCB, tiếp theo:

Thế đấy, nhưng nghe ai bàn tán đến việc này, Đoàn Quốc cũng không thanh minh, mặc ai hiểu thế nào cũng được. Được phép xuất ngoại, ông ta càng tính toán tương lai. Cũng chính trong thời gian đó, ông ta được bạn bè cũ ở nước ngoài báo cho biết số tác phẩm cũ của ông được tái bản ở Mỹ, lại có người hứa can thiệp để nhà xuất bản ấy trả tiền bản quyền cho ông ta. Hàng chục nghìn đô la đâu phải dễ kiếm với người đã ngoài sáu mươi như ông ta. Rồi đến lượt “Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” gửi thư chúc mừng ông ta sắp được “tự do”, hứa hẹn sẽ đón tiếp ông ta như một hội viên danh dự.

- Té ra, người ta vẫn còn nhớ đến mình như ngày nào! – Đoàn Quốc tự nhủ – Thế mà lâu nay, chính ta lại quên lãng ta. Trong đêm tối mặt trời vẫn tồn tại!

Chính vì tự thấy mình vẫn “tồn tại” với tư cách một nhà văn mà Đoàn Quốc đã nhận lời và báo tin cho nhiều đồng nghiệp cũ đến nhà Kiều Trang, dự buổi họp mặt với các đồng nghiệp cũ. Vốn không thích ồn ào, ông ta lặng thinh khi cuộc họp chính thức hôm ấy bắt đầu, nhưng cũng từ đấy, trong đầu ông nẩy sinh ra bao dự tính khiến ông trằn trọc, nôn nao như đang thai nghén một tập truyện dài. Đúng ra Đoàn Quốc rạo rực với tập truyện “Dấu chân cát xóa” của ông ta viết từ năm 1972 đến 1974 và bản thảo đã được chữa xong ngày 16 tháng 5 năm 1975 – nửa tháng sau ngày thành phố được giải phóng. Tập bản thảo dấu trên trần nhà được lôi xuống. Ông ta chong đèn đọc mấy đêm liền, trân trọng như đọc tác phẩm của một văn hào!

Tháng ngày lùi xa tít tắp như cuối trời sa mạc. Tìm lại những dấu chân mình đã bị cát xóa. Bỗng thấy bầu trời “Springfield” – cánh đồng mùa xuân ấy – gần gũi trong xanh mà Chương – nhân vật trong truyện của ông ta – đã trở lại. Nơi ấy, những năm tháng sau khi giải ngũ, Chương đã sang du học và tốt nghiệp Ph.D . Nơi ấy Martha đã đến với Chương như một quà tặng của tự do. “Tôi sẽ dùng xe buýt đi dọc theo xa lộ qua các tiểu bang New Mexico, Arizona, Nevada và nhất định tôi sẽ đến Los Angeles qua Thung lũng Tử thần (Chương nhấn mạnh). Yes, Death Valley, I said” con lừa nhỏ của chàng Tappan.

Chàng Tappan đi qua thung lũng Tử thần dưới ánh nắng chói lòa trên sa mạc cát bỏng. Những tia nắng đã thực sự biến thành những mũi kim xiên thấu da thịt. Nhớ lúc Tappan chịu cơn bão táp giết người về đêm, chết ngất trên lưng lừa. Thế mà Tappan cũng lên được đỉnh núi tuyết và sống bốn mùa êm ả trên đó. Thế rồi, giờ của định mệnh đã điểm. Tappan đã cứu được con lừa Janet qua khỏi cơn bão tuyết, đưa nó từ đỉnh núi băng giá xuống thung lũng mượt xanh. Con lừa được ăn cỏ và sống, còn chủ nó đã chết vì kiệt sức.

“Mình là con lừa Janet hay là chàng Tappan?” Đoàn Quốc băn khoăn tự hỏi. “Mình sẽ vượt qua thung lũng của sự chết – cái đất nước khốn khổ này. Mình đến được đó là đủ rồi. Rồi ra sao thì ra, miễn là thoát được cơn bão khốn kiếp này. Là con lừa Janet may mắn hay chàng Tappan xấu số cũng được.”

Martha! Martha. Bên kia bờ sông có tiếng vọng lại “Martha! Martha”. Con sông tâm tưởng. Chương lúc đó đang ngồi ngửa mặt nhắm mắt lười biếng trên chuyến xe buýt liên tiểu bang – Con sông xuân tràn đầy chảy lênh láng, màu nước biêng biếc như tóc mềm (tóc Martha) gặp gió xõa trên bờ vai. Chương biến thành gió, luồn tay vào mái tóc đó, bàn tay vô hình mơn man êm dịu… Springfield – cánh đồng mùa xuân – thủ phủ của Illinois thật hữu tình và có tính cách tiền định.

Đến Springfield để trả món nợ tình… Thời gian, không gian giờ đây là của hai người. Chương nghiêng đầu sát tới nói thầm bên tai Martha:

- The closer I get, the better you look.

Chàng có một cử chỉ “nhào đại”, muốn hôn lên miệng Martha…

- A… a… a… a…

Chương tìm lại hương vị thơm đắng của cà phê trên môi Martha, một bàn tay Chương xoa lên bờ vai rồi vòm ngực tròn trịa của nàng

- Về nhà đã Chương, Martha van vỉ.

Chương lắc đầu giữ chặt lấy nàng, không đáp. Martha cảm thấy những ánh sao lóe sáng rụng lả tả… rụng lả tả trên khắp vùng da thịt…

…..

Đoàn Quốc tiếp tục đọc hơn trên hai trăm trang bản thảo. Như trở về chốn cũ. Anh gặp lại người xưa. Ngỡ ngàng như quen thuộc, gần gũi mà xa xôi. “Dòng sông tâm tưởng. Martha, Martha!” Tiếng vọng từ bên kia dòng sông, hay từ bên kia đại dương, của quá khứ nhạt nhòa đứt đoạn.

Ngoài đường đã bắt đầu tiếng xe chạy. Tiếng xích lô máy nổ lẻ loi, vang động. Đoàn Quốc nghe cột sống lưng tê cứng, nhưng không thấy buồn ngủ. Châm bình trà mới, đốt một nén hương đuổi muỗi. Bẩy năm rồi đã ngủ triền miên để thức trọn đêm nay. Để thấy lại bầu trời. Cánh đồng mùa xuân và Martha, thung lũng tử thần và anh chàng Tappan tội nghiệp.

Gần sáng, Đoàn Quốc nẩy ý định viết tiếp “Dấu chân cát xóa“. Chương trở về nước làm giáo sư kiêm nhà văn. Lúc giải phóng Sàigòn, hắn ta bị kẹt lại đi học tập cải tạo. Bẩy năm qua chẳng là tấn bi kịch của cuộc đời được tiếp nối đó sao? Mặt trời đã lặn, nhưng mặt trời không tắt hẳn. Nó sẽ mọc lại vào bình minh hôm sau. Tappan đã vượt qua Thung lũng Tử thần nóng bỏng, chết chóc để lên tận đỉnh non cao bốn mùa êm ả. Dẫu là đêm, nhưng mặt trời vẫn tồn tại…”Đường lên mặt trời” – Đoàn Quốc đã chọn để làm tựa đề cho chương tiếp của “Dấu chân cát xóa“.

Trên đây là một phần chương IV-NTBKCB. Nhân vật chính của chương này là giáo sư – nhà văn Đoàn Quốc. Trong số năm tên chúng tôi bị gọi là “Những tên Biệt kích cầm bút”, Đoàn Quốc là người được diễn tả đời tư với những lời tương đối sạch sẽ, tử tế nhất. Không chỉ những giới thiệu đàng hoàng mà thôi dường như hai anh cớm cộng Nam Thi – Minh Kiên còn có vẻ thán phục và đề cao Biệt kích Đoàn Quốc. Kể từ 1954 – trước đó bỏ, ta chỉ tính sổ bụi đời từ năm 1954 – đến năm nay 1996 là 42 mùa thu lá bay ông Đoàn Quốc dậy học, viết văn, in sách, đi tù ở Sàigòn nói riêng và trong nước nói chung, rồi ra hải ngoại, định cư ở Houston, Texas, hai ông bà được mời đi khắp nơi gặp lại bạn hữu v.v… Suốt 42 mùa thu đó ông Đoàn Quốc không bị một lời chỉ trích, chê bai, kể cả xuyên tạc, vu khống, ghen tị, bới lông tìm vết, móc lò bậy bạ. Ngay cả đến đại tá công an Việt cộng khi viết về người tù Đoàn Quốc cũng viết với những lời lịch sự như ta vừa thấy. Trong khi ấy, thì bốn tên văn nghệ sĩ Khuất Duy, Dương Hùng, Trần Ngọc Thự, Hoàng Hải cùng được xe bông công an thành Hồ đến tận nhà rước đi trong một đêm với ông Đoàn Quốc bị diễn tả như những tên lưu manh, láu cá, đá cá lăn dưa hết sức tồi tệ. Khốn nạn nhất là anh cu Hoàng Hải. Anh này không những bị chửi về đời tư bê bối mà thôi, bọn bắt giam và viết về anh còn lôi cả ông ngoại anh vào những trang NTBKCB.

Tác phẩm Dấu Chân Cát Xóa của Doãn Quốc Sĩ đã được ấn hành ở hải ngoại. Tháng Năm 1995 anh chị Doãn Quốc Sĩ đến thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Trong sáu niên tù đầy lần thứ hai tôi ở chung phòng với Trí Siêu Lê Mạnh Thát năm năm, chung phòng với Doãn Quốc Sĩ hai năm. Không một lần nào chúng tôi hẹn nhau, dù chỉ là hẹn đùa cho dzui: “Chúng ta sẽ gặp nhau ở Mỹ…”. Dzậy mà… định mệnh an bài… Nàm thao em piết….!

Tôi không hay đọc tác phẩm của người viết cùng thời. Trước năm 1975, tôi chỉ đọc những quyển “Tình cao thượng, Mối tình mầu hoa đào, Hòa bình, nghĩ gì, làm gì?” của Nguyễn Mạnh Côn, Thương Nhớ Mười Hai của Vũ Bằng. Những ngày u buồn trống rỗng, đen tối khủng khiếp sau Ba Mươi tháng Tư 75 quẩn quanh trong căn nhà nhỏ, không có việc gì làm, không biết đi đâu, tôi lấy sách cũ ra đọc. Vớ được quyển “Sầu Mây” của Doãn Quốc Sĩ trong tủ sách, tôi nằm đọc “Sầu Mây“.

Năm 1981, anh Sĩ từ trại cải tạo Gia Trung Pleiku-Kontum trở về. Tôi gặp lại anh ở nhà anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Tôi nói với anh:

- Trong “Sầu Mây” cái đoạn nhân vật chính, anh chàng gì đó, sang Mỹ du học, làm tình với em đầm Mỹ, anh tả: “Lúc ấy chàng cảm thấy như nước tình yêu chan hòa trên mặt các lãnh tụ của cả hai miền Nam Bắc…” Tôi thấy hơi quá đáng. Hai nữa, theo tôi nghĩ, thằng đàn ông nào đến giây phút ấy còn bị ám ảnh về chuyện chính trị thì đó là tên khổ sở nhất đời.

Nhà mô phạm tả chuyện đàn ông, đàn bà làm tình rạo rực, rộn rịp mê ly đâu có kém gì những nhà văn nữ. Bằng chứng như ta đã thấy. Công an Việt cộng khi trích “Dấu chân cát xóa” đã bỏ qua những đoạn có tư tưởng chính trị để trích đoạn nhân vật Chương trở lại Springfield, Illinois, với đầm Mỹ Martha. Anh Con Trai Bà Cả Đọi xin chiếu lại hầu quý vị đoạn phim này:

Martha! Martha. Bên kia bờ sông có tiếng vọng lại “Martha! Martha”. Con sông tâm tưởng. Chương lúc đó đang ngồi ngửa mặt nhắm mắt lười biếng trên chuyến xe buýt liên tiểu bang – Con sông xuân tràn đầy chảy lênh láng, màu nước biên biếc như tóc mềm (tóc Martha) gặp gió xõa trên bờ vai. Chương biến thành gió, luồn tay vào mái tóc đó, bàn tay vô hình mơn man êm dịu… Springfield – cánh đồng mùa xuân – thủ phủ của Illinois thật hữu tình và có tính cách tiền định. Đến Springfield để trả món nợ tình… Thời gian, không gian giờ đây là của hai người. Chương nghiêng đầu sát tới nói thầm bên tai Martha:

- The closer I get, the better you look.

Chàng có một cữ chỉ “nhào đại”, muốn hôn lên miệng Martha…

- A… a.. .a… a…

Chương tìm lại hương vị thơm đắng của cà phê trên môi Martha, một bàn tay Chương xoa lên bờ vai rồi vòm ngực tròn trịa của nàng

- Về nhà đã Chương, Martha van vỉ.

Chương lắc đầu giữ chặt lấy nàng, không đáp. Martha cảm thấy những ánh sao lóe sáng rụng lả tả… rụng lả tả trên khắp vùng da thịt…

Năm 1970 Nhật báo Sống của anh Chu Tử đang ở giữa thời kỳ phồn vinh nhất trong cuộc sống ngắn ngủi của nó. Năm ấy ngoài truyện võ hiệp Kim Dung như các báo khác, Sống đăng truyện dài nơi trang trong của Nguyễn Thụy Long, Hoàng Ly, Anh Hợp, Hoàng Hải Thủy. Báo Sống bán được có tiền, anh Chu Tử tăng cường hai cây bút nặng ký: Nguyễn Mạnh Côn và Bùi Giáng.

Anh Côn viết loạt bài không hẳn là khảo luận, không ra luận thuyết mà cũng không phải là tiểu thuyết, dưới cái tên long trọng là “Tuyên ngôn của Tình Yêu và Ánh Sáng”. Anh Bùi Giáng viết tiểu thuyết võ hiệp. Anh Chu Tử có cái hay là khi anh đã nhờ ai viết cho báo anh thì người đó hoàn toàn tự do muốn viết gì thì viết, anh không bao giờ can thiệp vào việc viết của anh em. Thi sĩ Lá Hoa Cồn, người có câu thơ bất hủ tả trong một đêm mà “… Cồn lê lên miệng đến ba bốn lần” – Một hai lần chắc còn ngắc ngoải được, một đêm mà đến ba bốn lần chắc chết – người từng dịch “Antoine et Cléopatre” ra “Sương Tì Hải”, viết tiểu thuyết võ hiệp không giống ai, anh dùng rất nhiều tiếng “tồn liên, liên tồn” trong truyện. Kể cả bọn tôi, bọn thợ viết, đọc truyện anh đăng trên báo Sống cũng chịu không biết anh tả chuyện gì, nhân vật nói với nhau lời gì, ân oán ra sao.

Tôi có dịp gần anh Nguyễn Mạnh Côn khá nhiều. Trong số những người trẻ từng gần anh Côn như Nguyễn Đình Toàn, Trần Dạ Từ, Duyên Anh chỉ có tôi là người cùng đăng lính Cô Ba với anh Côn. Tôi dám nói chắc mà không sợ mấy ổng kiện là những ông văn nghệ sĩ lớn như các ông Nguyễn Mạnh Côn, Bùi Giáng, Chu Tử, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, kể cả hai ông thi sĩ mần thơ Tình Yêu vi vút nhất là Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… đều là những ông đàn ông ít biết về đàn bà nhất và biết ít đàn bà nhất.. Xin nói rõ: biết ít đàn bà nhất. Ông nào cũng vừa mới mười chín, đôi mươi là có vợ hiền, suốt đời cơm nhà, quà vợ. Dzậy mà kể cũng lạ và cũng hay: các ông vẫn viết về tình yêu và đàn bà loạn cào cào.

Tôi chịu khó đọc những bài “Tuyên ngôn vềTình Yêu và Ánh Sáng” của anh Côn đăng trên báo Sống. Một sáng tôi gặp anh đến tòa báo, tôi bảo anh:

- Ông ơi…Ông làm ơn viết “Tình Yêu Ánh sáng” cẩn thận giùm con một tí…

Đa số người viết thích thú khi gặp người đọc mình – khen càng tốt, chê, chỉ trích cũng được. Miễn là có đọc mình – chê đúng thì nghe, bậy bạ bỏ qua – Anh Côn tỏ ra hào hứng nghe tôi phê bình những gì anh viết. Muốn phê phán văn anh ngoài việc đọc anh người phê còn phải có công lực kha khá. Trong bài Nguyễn Xuân Hoàng phỏng vấn anh Côn đăng trong Nhật báo Công Luận — khoảng năm 1968-69 — anh Côn có nói: “Trong số những người trẻ tôi vẫn mến và cho là viết được, tôi không ngờ Hoàng Hải Thủy lại là người đọc tôi kỹ nhất…”

Khi nghe tôi nói câu trên về “Tình Yêu và Ánh Sáng” tại xe cà phê-nước ngọt trên vỉa hè trước cửa tòa soạn báo Sống – Nhà in Tường Anh đường Gia Long – Anh Côn hỏi tôi:

- Chuyện gì thế?

- Ông đưa ra mấy cái đền gì đó ở Ấn Độ có cả mấy trăm bức tượng nam nữ mần tình đủ kiểu, ông kết luận: “Tại dân Ấn biết cách làm tình nên họ thông minh!” Ông viết thế là thế nào? Tại vì họ biết làm tình nhiều kiểu cho khoái lạc nên họ thông minh hay vì họ thông minh nên họ biết cách làm tình? Ông viết như thế bọn trẻ nó đọc ông, nó sẽ thấy muốn thông minh nó phải làm tình thật nhiều, làm đủ kiểu. Làm tình như thế nó sẽ trở thành thằng điếm đực chứ không thể trở thành người thông minh.

Anh cười:

- Được rồi. Ông nói thế tôi cũng biết thế. Tôi không nhớ tôi có viết đúng như ông nói hay tôi viết khác. Tôi về đọc lại rồi sẽ nói chuyện với ông….

Tôi định nói: “Cả đời anh chỉ biết có mỗi một người đàn bà thôi mà anh cứ viết bừa tăng tít về đàn bà…” nhưng sợ câu đó quá hỗn, tôi nói một câu nhẹ hơn:

- Anh chẳng biết đ.. là cái gì mà anh cứ viết loạn cào cào về đ…

Sáng nay, một buổi sáng hai mươi sáu mùa lá rụng sau buổi sáng năm 1970 tôi gặp anh Côn ở trước cửa tòa soạn báo Sống, ngồi viết ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, tôi thấy hiện lên trong tôi ánh mắt sau làn kính cận và miệng cười vui của anh Nguyễn Mạnh Côn. Rồi tôi thấy hiện lên hình ảnh của anh trong Nhà Giam Số 4 Phan đăng Lưu năm 1977: buổi sáng chủ nhật, khoảng 10 giờ, cai tù mở cửa phòng cho tù nhân ra sân ngồi phơi nắng chừng nửa tiếng. Từ sà-lim nhìn ra qua ô cửa gió tôi thấy anh Côn ngồi bên lối đi, anh bận bộ đồ ngủ nâu. Đó là hình ảnh cuối cùng của anh trong ký ức tôi. Vài ngày sau anh Côn bị đưa lên trại cải tạo Xuyên Mộc và anh chết ở đó.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 17)

Trích “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

Cuộc họp giao ban thường lệ buổi sáng của Ban An Ninh công an thành phố. Chỉ huy các đơn vị trực thuộc đã đông đủ. Màn che tấm bản đồ thành phố đóng khung trải gần kín cả bề mặt vách tường được kéo ra. Cán bộ tham mưu thuyết trình về những diễn biến mới nhất trong hai mươi bốn giờ qua.

Chỉ huy trưởng lắng nghe. Bản báo cáo ngắn gọn. Thông thường đồng chí sẽ phát biểu một số vấn đề rút ra từ tình hình được phản ánh và ra những chỉ thị cần thiết. Cuộc họp chỉ kéo dài 15 phút.

Sáng hôm ấy cũng vậy. Nhưng khi chỉ huy các đơn vị rời phòng họp thì đồng chí Tư Tuân, phụ trách đơn vị chống phá hoại tư tưởng được mời ở lại.

Chỉ huy trưởng rút từ trong ngăn kéo ra một xấp báo lá cải của bọn phản động lưu vong in ở nước ngoài để trên bàn.

- Anh Tư đã xem mấy thứ này chưa?

- Dạ có. Tôi vẫn nhận được thường xuyên nhưng…. Tư Tuân định hỏi “có vấn đề mới gì không?” nhưng anh thấy câu hỏi ấy thừa, bởi chỉ huy trưởng đã mời ở lại, hẳn phải có “vấn đề” cần trao đổi. Vì vậy anh bỏ lửng câu nói, nhìn đồng chí cấp trên của mình, chờ đợi.

- Tôi biết. Mấy thứ giấy lộn này có đáng gì, nhưng đó là khói của đốm lửa cần dập tắt. Do đó, nhiệm vụ của chúng ta là cần phải chú ý tới nó.

- Vâng, Tư Tuân vừa nói, vừa lắc đầu – Thú thật với anh, tôi chán ngấy mà vẫn phải đọc. Anh em Việt kiều về thăm quê hương cũng nói với tôi, họ chẳng bao giờ thèm để mắt tới món hàng ôi đó! Thế nhưng những tên bồi bút đã nhẵn mặt và số em út mới ngoi lên lại vẫn sản xuất ra những món hàng này để lên dây cót tinh thần lẫn nhau, gây ảo tưởng cho nhau. Chỉ một số người di tản bị lừa bịp, còn đa số những người khác không xa lạ gì với những lời dối trá ấy. Đọc những thứ ấy giống như phải mổ một xác chết thối rữa để giám định y khoa. Chán thật.

- Ừ. Chán thật. Kể ra, ta đâu có lạ gì chúng nó.

Đột nhiên đồng chí chỉ huy trưởng đặt một câu hỏi mà thoạt nghe, tưởng đâu như ngoài đề câu chuyện đang trao đổi:

- Anh Tư còn nhớ vụ áp phe Martine Bokassa năm nào chớ?

Nghe người chỉ huy hỏi. Tư Tuân sực nhớ câu chuyện cũ mà báo chí Sàigòn thời ngụy đã đăng tải dài dài, nhưng anh chưa hiểu đồng chí chỉ huy trưởng của mình nhắc lại câu chuyện giật gân ấy với dụng ý gì.

Bokassa nguyên là một trung sĩ trong quân đội viễn chinh Pháp. Những năm sống ở Việt Nam, trong những mối quan hệ “nhân tình” ông đã gửi lại Sàigòn một đứa con gái. Pháp bại trận ở Điện Biên Phủ, Bokassa trở về quê hương. Một thời gian sau, ông được bầu làm Tổng thống nước Cộng hòa Trung Phi. Nhớ đến giọt máu còn để lại ở Việt Nam, ông ngỏ ý nếu ai tìm ra và đưa được người con gái của ông về Trung Phi ông sẽ hậu tạ.

Như vớ được một món bở, sứ quán một nước tư bản ở Sàigòn, lúc bấy giờ đã tìm một cô gái lai da đen đưa sang Trung Phi và bảo đó là con của vi đương kim Tổng thống nước này. “Sứ giả” được đón tiếp nồng nhiệt và trả công rất hậu. Người con gái da đen xấu số đang sống lam lũ ở một xóm nhà lá của Sàigòn, nghiễm nhiên trở thành “ái nữ” của một Tổng Thống. Báo chí gọi cô ta là Công chúa Lọ Lem của thời đại.

Ít lâu sau, bọn CIA lại tìm một cô gái da đen khác với đủ bằng chứng khẳng định cô Martine Bokassa thứ hai đó là con gái của Tổng thống Bokassa. Việt Định Phương, chủ nhiệm tờ báo Trắng Đen, cầm đầu phái đoàn nhận lãnh “sứ mạng” đưa cô gái ấy sang Trung Phi. Cùng đi với Việt Định Phương còn có bà mẹ của cô gái. Bokassa nhận ra người “vợ” cũ và thừa nhận cô gái bà ta là Martine Bokassa chính hiệu. Tuy thế, ông ta vẫn xử sự đẹp với cô gái thứ nhất: nhận cô ta làm con nuôi. CIA đã thắng lớn và kéo hẳn Bokassa về với nước Mỹ, đẩy lùi uy tín của nước tư bản kia. Song CIA không phải dừng lại tại ấy. Sau này cô gái ấy lấy một viên thiếu tá thân Mỹ và nghe đâu chính người con rể này đã làm cuộc đảo chính Bokassa. Xứ Trung Phi giầu kim cương đã rơi vào khu vực ảnh hưởng của Mỹ. Chắc rằng Việt Định Phương cũng kiếm chác khá nhiều đô la, chưa kể số kim cương do Bokassa thưởng công.

- Đấy! Vẫn giọng trầm dịu, đồng chí chỉ huy trưởng nói tiếp – Nay vẫn tên Việt Định Phương là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Trắng Đen. Lại cũng vẫn Mai Thảo, Trần Bích Loan của nhóm “Sáng Tạo” do USIS dựng lên… Vẫn nhưng quân bài ấy trên tay bọn chủ cũ đang múa may ở Mỹ. Chúng đã sử dụng ngòi bút để tập hợp bọn phản động ở nước ngoài. Chính tên Việt Định Phương ấy núp dưới biệt danh Trúc Việt đã tô son vẽ phấn cho tên Võ Đại Tôn, suy tôn hắn thành “người hùng phục quốc”, móc nối Võ Đại Tôn với Vàng Pao, đặt Tôn lên lưng cọp rồi đẩy hắn về Việt Nam để phá hoại. Âm mưu chưa thực hiện được thì Võ Đại Tôn đã bị ta tóm cổ trên đường thâm nhập.

Tư Tuân xen vào:

- Sau Võ Đại Tôn, chắc chúng sẽ nặn ra con rối khác.

- Đấy, đấy! – chỉ huy trưởng ngắt lời – Vấn đề là chỗ ấy. CIA đâu từ bỏ những tên âm binh ấy, cháy tên này thì chúng tạo ra tên khác đế… nướng tiếp. Không hiểu sau vụ ấy, cái tên chủ báo Trắng Đen kia nhận được bao nhiêu đô la nhỉ?

- Cái đó thì chịu. Nhưng có tin nhiều tên trong bọn phản động lưu vong định vặt lông tên đểu cáng ấy, khiến nó phải lỉnh ở xó xỉnh nào đó, ít thấy xuất hiện. Nghe nói nó chuồn qua Châu Âu rồi.

- Chắc thế thôi. Dẫu sao con rối ấy đã diễn xong phần kịch bản mà bọn chủ dành cho nó. Và đến lượt một con rối khác. À, mà tên thật của nó là gì nhỉ?

- Dạ, Phạm Thu Trước.

- Anh nhớ khá nhỉ, – Chỉ huy trưởng cười.

- Thật tình tôi không muốn nhớ những tên ấy, nhưng vẫn phải nhớ. Thật là “tai nạn nghề nghiệp”

- Sao “ông bạn” lại coi là tai nạn nhỉ? – Chỉ huy trưởng cười thông cảm và nói tiếp – Cuộc đấu tranh còn tiếp tục, thì ta còn phải tiếp tục nhớ đến chúng. Dầu cho bọn này chết già, chết ráo, cũng vẫn chưa xong. Lại có một số tên khác mới nẩy lên, không chỉ ở bên đó mà ngay cả ở đây – Chỉ huy trưởng lật những trang của tờ “Kháng Chiến” và dừng lại ở trang in bài ký tên Trần Tam Tiệp – Như tên này, anh Tư có biết không?

Tư Tuân kéo tờ báo đến trước mặt, đọc lướt vài dòng. Cái tên Trần Tam Tiệp ấy nghe rất lạ. Anh cố nhớ nhưng vẫn mù tịt. Chỉ huy trưởng nói tiếp:

- Tên này chưa từng xuất hiện trên làng văn, làng báo Sàigòn trước đây. Thật ra, trước đây hắn cũng có viết đôi bài báo nhưng đều ký tên người khác. Tôi cũng mới biết qua về lai lịch của hắn. Hắn nguyên là Trung tá An ninh Không quân ngụy. Điều này đã được bộ tàng thư xác định. Ấy thế mà nay nó lại là Tổng thư ký cái “Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” đóng trụ sở ở Paris. Công khai đấy, khỏi cần kiểm chứng, vì chúng treo bảng hiệu đàng hoàng. Và Tiệp đã xách cặp đi dự hết hội nghị này đến hội thảo kia, còn chủ tịch của nó là Trần Thanh Hiệp mà mọi người đều biết là một trong những tay sai lâu năm của sứ quán Mỹ ở Sàigòn. Đằng sau bảng hiệu ấy là gì, đó lại là chuyện khác. Trong bài báo này, Tiệp lên tiếng đòi ta tha cho số bồi bút phản động đã bị bắt và cho bọn ấy ra nước ngoài. Láo thật. Anh đọc qua bài biết của nó đi, rồi ta bàn.

Tư Tuân đọc lướt mấy trang báo. Cũng những luận điệu vu cáo rẻ tiền. Cả cái lối hành văn, thuật ngữ đã quen thuộc đối với anh. Từ khi được giao phụ trách đơn vị này, anh đã chịu khó đọc hàng lô sách, tiểu thuyết của số “nhà văn” cũ và sách báo mới được bọn phản động lưu vong ấn hành ở nước ngoài. Thật là chán đến buồn nôn. Nhưng anh vẫn ráng đọc “để xem chúng thế nào”. Rặt một lũ chống cộng cuồng si, thể hiện lộ liễu ý thức phản động cao độ. Đã có anh em nói đùa rằng “anh Tư đang trở thành nhà nghiên cứu văn học thực dân mới” Cũng không ngoa đâu vì đến nay Tư Tuân có thể quen thuộc khuynh hướng, bút pháp những tên “nổi tiếng”. Nhưng cái tên Trần Tam Tiệp này thì anh chịu.

Khi Tư Tuân đọc xong, chỉ huy trưởng hỏi:

- Anh thấy thế nào?

- Thằng này láo, – Tư Tuân buột miệng.

- Đành thế. Nhưng cái mà chúng ta quan tâm là sự tác động ngầm đối với những người ở lại đây, mặc dầu những người ấy không cần và không muốn nó bảo vệ. Sau gần mười năm sống dưới chế độ mới, họ đã tìm câu kết luận cho chính họ, họ đã tạo dựng một cuộc sống mới. Nhiều người tiếp tục theo đuổi nghề văn, nghề báo, một số đã chuyển sang nghề khác vì thấy phù hợp với họ hơn; trừ một số ít ngựa quen đường cũ, bị rủ rê, có người không đủ nghị lực, lại chứng nào tật ấy. Có người phải di chuyển đến một nơi xa xôi nào đó để cắt mối liên lạc cũ. Thậm chí có người tự nguyện trở vào trại.

Thế đấy. Cuộc sống nào cũng có quy luật riêng của nó. Ở đây là quy luật của bọn phản cách mạng, bọn vong quốc lang thang ở các nước Tây phương. Do bản chất và chịu sự tác động của bọn chủ, chúng còn biết làm gì khác, nếu không tiếp tục chống lại tổ quốc bằng cách thò vòi, kích động, móc nối những đồng bọn của chúng còn lại ở trong nước. Nếu ta chặt đứt những cái vòi ấy, chúng sẽ tịt ngòi.

- Vâng. Tôi nắm được vấn đề anh gợi ý. Xin anh cho tôi có thời gian nghiên cứu thêm.

Chỉ huy trưởng đứng dậy, trao cho Tư Tuân cả mớ báo ấy và dặn:

- Anh mang về đọc hết đi. Tôi chỉ xem qua, nhưng thấy có một số bài có giọng văn quen quen. Trong hoàn cảnh đất nước ta mọi sự phức tạp hơn chứ chẳng phải là chuyện văn chương nhảm nhí. Có những tín hiệu có ích cho chúng ta đấy! Tôi sẽ gửi thêm cho anh những tin tức từ bên ngoài để anh nắm thêm. Ta sẽ có dịp bàn tiếp.

Tôi bỏ qua không điểm khoảng 40 trang hai anh cớm cộng viết tưởng tượng lèm bèm về anh em chúng tôi. Chương VIII của NTBKCB quý bạn vừa đọc gồm 8 trang, đánh số từ 74 đến 81.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 18)

Trong Chương VIII hai anh đại tá công an Việt cộng đả động đến một số văn nghệ sĩ ở hải ngoại. Những ông văn nghệ sĩ đẻ bọc điều này, nhanh chân bỏ nước chạy lấy người, phú lỉnh được sang Pháp, sang Mỹ. Nếu các ông bị kẹt giỏ ở Thành Hồ chắc chắn tên tuổi các ông không được Cớm ViXi nhắc đến trong quái phẩm chúng gọi là “Truyện” này. Kẹt giỏ, các ông cũng giã từ vòng tay ấm, vòng tay lạnh của bà vợ gầy để đi tù mút mùa Lệ Thu như chúng tôi thôi.

Những người bị nhắc đến trong chương này là Việt Định Phương, em Martine Bokassa, rồi “Mai Thảo, Trần Bích Loan của nhóm Sáng Tạo do USIS dựng lên…” – tên cúng cơm của thi sĩ Nguyên Sa được Cớm Cộng thêm vô một chữ O to tổ bố – Võ Đại Tôn, đặc biệt luật sư Trần Thanh Hiệp, Chủ tịch – dường như anh là chủ tịch tiên khởi, tức bom-nhe, thứ nhất – của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại – tôi không biết nên sài ở đây tiếng “bị” hay tiếng “được” với việc bọn Cớm Cộng nhắc đến Luật sư Trần thanh Hiệp và Hội Văn Bút: “… chủ tịch của nó là Trần Thanh Hiệp mà mọi người đều biết là tay sai lâu năm của Sứ quán Mỹ ở Sàigòn…”

Tôi thú nhận trong những gì tôi viết ra cứ 10 phần thì có 5 phần diễu cợt, bông lơn, tán nhảm, đấu hót lia chia, 3 phần do tôi phịa ra, chỉ có may mắn hai phần là sự thật. Song ở cái bài viết hôm nay – một sáng chủ nhật mùa xuân ở vườn đất xứ Mẽo Virginia của những người Mẽo yêu nhau, người Mít ở nhờ – tôi long trọng xin lỗi tất cả quý vị – nhân sĩ quốc gia, quốc dzô và bạn hữu, thân cũng như sơ – những người đã bị công an Việt cộng vu khống, bôi bẩn vì các vị có liên can xa gần đến anh em chúng tôi. Các vị đã phải chịu một tình trạng mà bọn tù nạn nhân cộng sản chúng tôi trong những nhà tù gọi là “bị văng miểng”. Miểng đây là miểng lựu đạn. Bọn xấu quẳng lựu đạn vào gầm bàn bọn ngồi ăn nhậu ở cùng phòng ăn với các vị. Chúng định giết bọn kia nhưng vì các vị ngồi gần bọn kia nên các vị bị miểng lựu đạn nổ dzăng trúng, thường thì các vị bị trúng miểng lựu đạn nơi gọi là ti-bịa, các bà các cô thường bị trúng vào chỗ để ngồi.

Và “đặc bịt” Chương BKCB này đụng đến nhà văn Mai Thảo. Tôi nghe nói ông có làm bài thơ gì đó trong có hai câu:

Ta thấy tên ta những bảng đường
Đời ta lịch sử chép ngàn chương.

Đời ông lịch sử chép ngàn chương là chuyện tất nhiên kiêm tự nhiên, chuyện chắc như bắp rang, như gạch tầu, như đinh 10 phân đóng cột gỗ lim. Trong số ngàn trang ấy tôi xí phần viết về ông vài ba trang lấy thảo.

Cả đời tôi không có một trang truyện nào ký tên tôi được xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo. Đúng thôi. Những gì tôi viết đều thuộc loại “hàng chợ”, mà đã là “hàng chợ” tức là hàng rẻ tiền, hổng phải thứ hàng nghệ thuật cao giá. Ba mươi mùa cóc chín trước đây ở Sàigòn tôi nghe nói – tôi chỉ nghe nói lại thôi, người nói không nói trước mặt tôi – ông Sần Foóng, tức Trần Phong Giao, báo Văn, tòa soạn ở đường Phạm Ngũ Lão trước rạp xi nê Thanh Bình – xếp hạng tôi – Hát Hát Tê – hổng phải là “nhà văn”. Nghe nói lại câu đó, không những tôi không buồn mà trái lại tôi còn coi ông Sần Foóng như người tri kỷ. Tôi hổng phải là nhà văn và chưa một lần tôi tự nhận là nhà văn. Cho đến bây giờ tôi vẫn tự nhận tôi là người viết tiểu thuyết. Khi bị gọi là “nhà văn” tôi thấy ngượng. Bởi vậy việc tôi không có mặt trên tạp chí Sáng Tạo của ông Mai Thảo là hợp lý.

Và cũng bởi vậy, tôi không được giao du thân mật với ông chi nhiều, tôi hân hạnh được ông gọi bằng mày, xưng tao nên “kính trọng không bằng vâng lời”, tôi cũng xưng tao với ông và kêu ông bằng mày.

Nhà văn Mai Thảo, tháng Ba, tháng Tư năm 1975, chỉ có một thân, một mình, không vợ, không con. Dường như tháng ấy, ngày ấy ông cũng chẳng có nhân tình, nhân bánh gì cả. Vậy mà nhiều ông văn nghệ sỡi vợ con đùm đề, có ông còn đèo bòng vợ lớn, vợ bé, vẫn bỏ nước chạy lấy người thoát thân, ông Mai Thảo cu ky đờ luých vẫn cứ lang thang trên những vỉa hè Sàigòn thất thủ. Trước ngày 30 Tháng Tư 75 ông ngụ trong một phòng ở Nhà Chiều Tím cạnh phở 79 đường Võ Tánh. Sau Tháng Tư đen hơn mõm chó ông về ở một phòng trong căn nhà của ông anh ông — ông Nguyễn đăng Viên — đường Phan Đình Phùng.

Từ 30 Tháng Tư năm 1975 ông Mai Thảo cũng sống lêu bêu, vất vưởng không khác gì các ông văn nghệ sĩ VNCH lớn nhỏ khác. Phải nói rõ, những ông văn nghệ sĩ được nói đây là những ông văn nghệ sĩ xi -dzin, tức là thường dân, lại có nghĩa là không ở trong quân đội. Những ông văn nghệ sĩ quân nhân còn kẹt lại một tháng sau ngày Việt cộng vào Sàigòn đã lên đường đi cải tạo hết. Ngày tháng phất phơ không có việc làm, các ông văn nghệ sĩ bắt chước các thầy Min Đơ, Min Toa đạp xế đạp đi lang thang tìm nhau, gặp nhau ở những quán cà phê vỉa hè, đi ăn nhậu cũng vỉa hè cho đỡ buồn. Thường dân Sàigòn thất nghiệp cũng mần y như những ông văn nghệ sĩ cho qua thì giờ. Nghĩa là thường dân ngày ngày cũng không có việc làm, cũng đạp xế đi lang thang, cũng ngồi cà phê vỉa hè cả buổi tán dóc cho đỡ buồn. Gặp nhau tất nhiên là hỏi thăm kẻ còn, người phú lỉnh, người đi cải tạo, rồi trao đổi những tin đồn. Thường dân làm như thế thì không sao, nhưng văn nghệ sĩ làm như vậy là không được, văn nghệ sĩ không có quyền tụ tập, trao đổi với nhau những tin đồn.

Những ngày ấy Sàigòn có thật nhiều tin đồn. Đại khái vài tin: quân ta còn rất đông trong rừng sẽ kéo về một ngày rất gần, Rằn ri xuất hiện ở ngay Cát Lái, Thủ Thiêm, phi cơ thả dù đồ tiếp tế xuống Dốc Mơ, Đà Lạt v.v… Ai sáng tác những tin đồn ấy? Tôi không biết. Tôi chỉ biết những ông văn nghệ sĩ kẹt giỏ Sàigòn không phải là những người sáng tác tin đồn. Các ông loan truyền những tin đồn các ông nghe được thì có, sáng tác thì không.

Hai ký giả Nguyễn Tú, Như Phong Lê Văn Tiến bị tóm ngay từ những ngày đầu tháng Năm 1975.

Tiếp theo là Uyên Thao, Vũ Ánh, Đoàn Kế Tường, Văn Chi. Nếu các ông Chu Tử, Hồ Anh, Phạm Duy còn kẹt lại ở Sàigòn tôi chắc bọn công an đặc vụ từ Hà Nội vào cũng đem xe bông đến tận nhà các ông, ưu ái đưa các ông đi cất ngay mà không đợi đến mùa ổi chín năm sau.

Tháng Ba năm 1976, công an Vixi mở chiến dịch bắt văn nghệ sĩ Saigon. Trước khi viết đến chiến dịch bắt bớ này, tôi ghi lại vài dòng về vụ nổ bom làm chết người mà bọn công an Việt cộng nói là có dính líu đến một số văn nghệ sĩ. Tôi xin nói ngay những gì tôi viết đây là những gì cá nhân tôi được nghe nói. Những sự kiện này không có gì bảo đảm là chính xác.

Vụ nổ xẩy ra ở Hồ Con Rùa đường Duy Tân. Cả Thành Hồ xã hội chủ nghĩa chỉ có một tờ nhật báo Saigon Giải Phóng. Tờ báo này không loan một mẩu tin nào về vụ nổ ở Hồ Con Rùa, nên người dân chỉ biết về vụ nổ qua những tin truyền miệng mơ hồ. Nghe nói có nhiều người chết oan. Vụ nổ Hồ Con Rùa xẩy ra vào khoảng đầu năm 1976. Vài tháng sau chiến dịch bắt bớ văn nghệ sĩ Sàigòn được tiến hành.

Huỳnh Bá Thành, dân Quảng Nam, trước năm 1975 vẽ biếm họa ký tên họa sĩ Ớt ở nhật báo Điện Tín do Thượng nghị sĩ Hồng Sơn Đông làm chủ nhiệm. Trước năm 1975, làng báo Sàigòn có những họa sĩ Chóe, Tuýt, Hĩm, anh họa sĩ Ớt không sao nổi lên được. Việt cộng vào Sàigòn, anh cu Ớt trở thành công an nằm vùng Huỳnh Bá Thành. Quyển “Vụ án Hồ Con Rùa” do Huỳnh Bá Thành viết là quyển truyện mở đầu một lô những quyển “Vụ án đủ thứ” sau đó.

Vụ nổ xưa rồi. Đã hơn hai mươi mùa lá rụng trên đường Duy Tân cây dài bóng mát. Riêng tôi, tôi có hai điều cần viết về vụ nổ Hồ Con Rùa:

- Người anh em nào gài chất nổ tại sao không cho nổ ở một cơ sở nào của Việt cộng? Bất cứ cơ sở nào cũng được, không cần phải là cơ sở quan trọng. Ngay gần đó, có Nhà Thanh Niên của ta bị Việt cộng chiếm làm nhà triển lãm thường trực Tội Ác Mỹ Ngụy. Tại sao người anh em không làm cử chỉ đẹp, cho chúng tôi được vinh hạnh theo là cho nổ trong cái phòng triển lãm ấy? Biết là khó đấy nhưng anh em cho nổ ở công trường Hồ Con Rùa, người bị chết chỉ là anh em, con cháu chúng ta thôi.

Công an Việt cộng không bắt được ai là người đặt bom ở Hồ Con Rùa. Vụ án chìm dần trong quên lãng và thời gian. Bọn cộng sản có cái bệnh chung là chuyên giấu giếm, che đậy những sự kiện xấu xảy ra trong xã hội chúng cầm quyền. Việt cộng tiết lộ rất mơ hồ về vụ nổ Hồ Con Rùa cũng như về vụ cô đào Thanh Nga cùng ông chồng Đổng Lân bị bắn chết ở Thành Hồ năm 1978. Đây là thời gian Tàu cộng và Việt cộng đang hục hặc hăm he đánh nhau. Việt cộng đổ là do bàn tay lông lá của bọn phản động Bắc Kinh đã hạ sát đào Thanh Nga chỉ vì Thanh Nga đóng vai “Thái Hậu Dương Vân Nga” trong vở tuồng cùng tên. Đại khái sự tích vở tuồng như sau: Cuối đời nhà Đinh, nước Đại Cồ Việt nhỏ bé ở miền Nam sau ít năm độc lập lại bị người Hán tính chuyện xâm lăng. Quốc gia lâm nguy, vua ít tuổi không thể lãnh đạo quân dân chống cường địch, may sao nước nhà có Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn là người anh dũng. Bà Thái Hậu họ Dương bèn dẹp tình riêng, lo chuyện chung, lấy hoàng bào của Vua cho Lê Tướng quân mặc. Hành động của bà Thái hậu đa tình cho nhân dân biết cơ nghiệp nhà Đinh — mở đầu bởi người hùng Cờ Lau Đinh Bộ Lĩnh — đến đây là chấm dứt. Ngôi Vua đã được đích thân Thái Hậu Mẹ Vua trao cho Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn để Tướng quân đánh giặc ngoại xâm, cứu nước. Nghe nói Dương Thái Hậu còn đi xa một bước nữa trên đường thưởng công cho Thập đạo Tướng quân bằng cách trở thành vợ của Tướng quân.

Đấy là ý chính vở tuồng “Thái Hậu Dương Vân Nga.” Ngoài việc kêu gọi đánh quân nhà Hán – năm 1978 là quân Trung cộng cờ đỏ búa liềm năm sao vàng – vở tuồng còn có ý đồ khuyên đàn bà con gái miền Nam bại trận nên quên chồng cũ – những anh bại trận này đã chết và còn sống cũng như đã chết – để trao thân gửi phận cho những anh chồng mới trẻ, khỏe hơn, những anh chiến thắng v.v….

Và chỉ có thế thôi – mà theo Việt cộng – “bọn phản động Bắc Kinh đã giết nữ nghệ sĩ Thanh Nga…” Năm 1962, đào Thanh Nga đóng vai chính trong bộ phim tình cảm Hai Chuyến Xe Bông của đạo diễn Hoàng Anh Tuấn hiện sống ở San José, Cali. Hai chuyến xe bông? Phải chăng đây là cái tên tiền định? Cô đào tài sắc có ông chồng chết theo. Đám tang hai người cùng cử hành một ngày, một giờ. Dù là vợ chồng cũng không tiện hai quan tài đi cùng một chuyến xe bông ra nghĩa địa. Khi cô đào bị bắn chết thê thảm anh Con trai bà Cả Đọi đang nằm phơi rốn cho muỗi đốt trong cái gọi là Trại Tạm Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, anh chắc đám tang cô ít nhất phải có Hai Chiếc Xe Bông chứ không phải một.

Vòng vo tam quốc. Xin lỗi đã đưa quý vị đi theo cô đào Thanh Nga Cải Lương chi bảo tài sắc nổi nhất, đắt giá nhất một thời … đến nghĩa trang, bỏ quên nhà văn Mai Thảo Bảng Đường nằm cu ky hơi lâu trong căn phòng của ông ở đường Phan Đình Phùng. Căn nhà đẹp này nguyên là nhà của một ông anh của ông. Ông anh ù té chạy được trước 30 tháng 4. Một ông anh khác của ông về ở nhà này, dành cho ông một phòng. Có đêm theo ông đi chơi quá khuya — nhà tôi ở mút chỉ cà tha tận đầu đường Lê Văn Duyệt, bị đổi tên là đường Cách Mạng Tháng Tám, gần Ngã Tư Bẩy Hiền — tôi theo ông về ngáo với ông trong phòng này. Tôi thấy trong ngăn kéo bàn ngủ bên giường của ông có mấy bài thơ mới làm của Thi bá Vũ Hoàng Chương. Sau 30 tháng 4 năm 1975, Thi bá và bà vợ bị đuổi ra khỏi cái vi la sang trọng trong khu Lăng Cha Cả – khi Thi bá là Thi bá, người ta hân hoan được mời ông về nhà ở với người ta trong vi la này. Khi cộng sản nói cối dép râu vào Sàigòn. Thi bá không những chỉ hết là Thi bá mà còn bị coi như một thứ tội nhân văn học, người ta đuổi ông bà đi không chút xót thương.

Thi bá cùng bà vợ về sống trong một khu lao động bên Khánh Hội, Thi bá vẫn mần thơ. Ông làm nhiều bài thơ ngắn, bốn câu, sáu câu, viết ngay vào mảnh giấy trao cho người đến thăm ông. Lý do Việt cộng bắt ông là: “sáng tác và phổ biến thi văn phản cách mạng”.

Trong tác phẩm Quần đảo Ngục tù – The Gulag Archipelago – Tác giả Alexander Solzhenytsin viết đại khái: Sống trong kìm kẹp của bọn mật vụ cộng sản, người dân khiếp sợ đến nỗi không những không ai không dám làm một hành động phản kháng mà còn không ai dám bỏ trốn. Như con chim trước con rắn, người ta chỉ mong bọn công an đến gõ cửa nhà người khác. Nhớ lại thời người dân ở Leningrad bị khủng bố, tôi nghĩ nếu chúng tôi, những người dân hiền lành, chỉ chống đối bọn công an đêm đêm đi bắt người bằng cách lén ra phá hoại xe ô tô của chúng thôi, đã có biết bao nhiêu người không bị bắt, thoát khỏi việc bị chết trong ngục tù vì bọn công an Leningrad không có xe để đi bắt họ. Có thể nói tất cả mọi người dù biết mình sắp bị bắt vẫn cứ chịu chết ở nhà chờ chúng đến bắt. Người ta nghĩ rằng với sự kiểm soát chặt chẽ của công an mình không thể nào trốn thoát được. Bỏ trốn chỉ thêm tội nặng. Nhưng tôi biết một sinh viên khi thấy bọn công an đến bắt anh, tung cửa sổ nhẩy ra vườn sau chạy thoát. Và anh thoát luôn. Mười mấy năm sau trở về thành phố tôi lại gặp anh….

Tình trạng người dân khiếp sợ bọn công an ở Nga dù sao cũng vẫn không nặng bằng tình trạng xẩy ra ở Sàigòn và những tỉnh miền Nam Việt Nam, nơi từng là một quốc gia riêng với đủ thứ lệ bộ, lễ nghi của một quốc gia độc lập, nơi người dân trong mấy chục năm trời từng đổ máu, đổ nước mắt chống cộng sản. Trong cái gọi là Khóa bồi dưỡng chính trị cho văn nghệ sĩ Sàigòn, Hai Khuynh một cán bộ biên tập tạp chí Đại Đoàn Kết, đến dự với tư cách hướng dẫn viên , nói:

- Nếu chúng tôi còn yếu như năm 1954 thì lần này có thể trong số các anh có vài anh bị chúng tôi cho đi mò tôm rồi đấy. Chuyện trả thù tắm máu không xảy ra vì bây giờ chúng tôi mạnh rồi, chúng tôi có Đảng lãnh đạo với chính sách đúng đắn…

Ý Hai Khuynh muốn nói là Việt cộng khi vào Sàigòn đã tha, đã không đè cổ năm bảy văn nghệ sĩ VNCH ra cắt tiết lấy máu tươi cúng Chủ tịch Hồ Chí Minh mừng ngày Chủ tịch dzô dinh Độc Lập. “Mò tôm” là hai tiếng mới tinh, mới có từ những năm 1946, 1947 trong ngôn ngữ Việt Nam bốn ngàn bốn mươi năm văn hiến diễn tả việc giết người của Việt cộng. Đêm đến , người chống đối hay không chống đối nhưng bị Việt cộng cho là nguy hiểm bị chúng trói tay, bịt mắt dẫn ra bờ sông, bãi cát vắng tanh — Tội nhân được đưa ra bờ sông không phải để đứng ngóng đò như trong thơ Tê Tê Ca Hát mà là để — bị bắn vào đầu, bị đâm, bị cắt cổ rồi bị đạp một đạp cho nhào xuống sông. Từ đó, nạn nhân sẽ vĩnh viễn làm bạn với cá tôm. Người dân miền Bắc gọi việc đó là “cho đi mò tôm”. Hai Khuynh là dân miền Nam kháng chiến tập kết ra Bắc nên sài tiếng “mò tôm” khá nhuyễn.

Tôi nghĩ ta không nên vu cho Việt cộng nhiều tội ác hơn là những tội ác họ đã làm với đồng bào của họ. Việt cộng, nón cối, dép râu, AKa, tóc bím, răng cải mả, mông đít to như cái thúng, ngơ ngáo kéo nhau vào Sàigòn như đàn bò vào thành phố ba triệu dân mà chỉ có ba anh – Xin lỗi – Tính lại chỉ có bốn anh Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn, Vũ Hạnh và Thái Bạch là bốn người quen sơ sơ. Ký giả Thái Bạch, thường được anh em gọi là Thái Bịch, mặt mũi khó đăm đăm, những ngày trước 30 Tháng Tư năm 1975 ngồi xào nấu tin lô can, tin xe cán chó, tin người đánh nhau được gọi là tin “Từ thành đến tỉnh” trong tòa soạn nhật báo Xây Dựng của Linh mục Thiên Hổ Nguyễn Quang Lãm ở đường Thánh Mẫu, Ngã Ba Ông Tạ nổi tiếng về mục Cờ Tây.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 19)

Công tử Hà Đông nhấn nút linh tử xem lại vài cảnh bỏ nước chạy lấy người thê thảm hai mươi mốt mùa cô hồn tháng Bảy năm xưa. Phải nói là ngày ấy, tháng ấy, năm ấy Công tử gà què kẹt giỏ chạy không kịp chứ không phải là không muốn chạy. Từ trưa ngày 29 tháng Tư trực thăng Mẽo bay vần vũ trên trời Sàigòn, tiếng máy bay quần thảo suốt đêm. Tảng sáng Ba Mươi, trực thăng Mẽo vắng bóng trên thành phố đầu hàng. 11 giờ trưa “Toỏng Thoóng” Dương Văn Minh đọc lệnh buông súng trên ra-dzô, những người lính Việt Nam Cộng Hòa bại trận, buông súng, vừa đi vừa khóc trên hè phố. Đường phố Sàigòn náo loạn, người ta chạy lên, chạy xuống như kiến vỡ tổ. Bốn giờ chiều có anh nào đó tên là Tòng — Nguyễn hay Lê Văn Tòng — cùng vài anh nữa hát bài “Nối Vòng Tay Lớn” chào mừng Việt cộng trên đài phát thanh.

Năm, sáu, bẩy, tám, chín, mười ngày sau một số ký giả nhanh chân chạy đến “trình diện” ở Câu Lạc Bộ Báo Chí đường Lê Lợi. Ở đây có một anh cán bộ nào đó tên là Kỳ Nhân cấp cho đám ký giả Sàigòn nhanh chân chạy đến với chủ mới những giấy chứng nhận “có đến trình diện” ký tên Kỳ Nhân. Ít ngày sau, anh Kỳ Nhân này mất tích. Nhiều ký giả nói với nhau: “Không biết thằng Kỳ Nhân là thằng nào. Có lẽ tên nó là Kỳ Nhông thì đúng hơn…”

Bọn Văn Nghệ Giải Phóng Miền Nam chiếm tòa Đại sứ Đại Hàn ở đường Nguyễn Du – nghe nói nhà này nguyên là nhà của ông Nguyễn Hữu Hào, ông Quốc cữu thời vua Bảo Đại – văn nghệ sĩ Sàigòn kẹt giỏ bảo nhau đến đó “trình diện cách mạng”. Thực ra Việt cộng nó chỉ ra lệnh và kêu gọi các sĩ quan, công chức và đặc biệt là quý ông phú lít, bác sĩ, giáo viên, nhân viên bệnh viện v.v… đi trình diện thôi. Mới vào được Sàigòn Việt cộng đang có quá nhiều việc rối tinh, rối mù. Họ không ngờ họ chiếm được Sàigòn đẹp quá Sàigòn ơi dễ và nhanh ngon lành đến thế, hai là họ chẳng thèm để ý, để tứ, để mắt, để mũi gì đến đám văn nghệ sĩ Sàigòn nên họ hổng có kêu gọi mấy anh đi “trình diện, trình mạo” chi ráo trọi. Mấy ảnh sợ và mấy ảnh tưởng bở, mấy anh nghĩ “đi trình diện là tốt”, nên mấy ảnh lơ láo đến Tòa Đại sứ Đại Hàn nay đã đổi chủ. Công tử Hà Đông cũng đến đấy.

Đến đấy mấy ảnh gặp ký giả Thái Bịch. Bộ mặt Thái Bịch những ngày Việt Nam Cộng Hòa còn hùng mạnh trông đã khó thương rồi, nay cờ đỏ sao vàng đầy thành phố bộ mặt ấy trông lại càng ghê rợn. Ký giả nhà ta lúc thì mặt lạnh như tiền, lúc thì hòa nhã với cái vẻ cố ý để cho những kẻ đến gặp anh biết anh muốn nói với họ: “Bi giờ ngươi đã biết Thái Bịch này chưa?”

Để chứng tỏ mình không phải là thường dân, mình là chiến sĩ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, mấy anh cách mạng Ba mươi chạy cờ, chạy hiệu, chạy bàn thường đeo cái băng đỏ ở cánh tay. Đặc biệt Ký giả Thái Bịch đeo sề sệ một khẩu Côn Đui bên hông.

Ký giả Thái Bịch nhờ ơn Bác, Đảng, được hạnh phúc đeo Côn Đui– hay Côn Bạt, súng Mỹ –liên tục dễ đến hơn cả tháng. Ít lâu sau, Việt cộng tổ chức lại, đem cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng về tòa nhà Tình báo Việt Nam Cộng Hòa đường Trương Minh Giảng-Tú Xương. Bộ mặt hãm tài của ký giả Thái Bịch không còn xuất hiện nữa.

Trở lại với Sàigòn ngày tan hàng. Nhiều anh em tù cải tạo gọi là Ngày Đứt Phim. Lấy ý như là mình đang ngồi trong rạp Rex xem đào E-Li-Za-Bét Tê-Lo mần tình với kép Rốc-Hất-sân. Đang cụp lạc bỗng màn ảnh tối om rồi đèn bật sáng. Những cặp tình nhân ngồi nghiêm chỉnh lại, tay chân, miệng lưỡi không còn dính nhau, những trinh nữ sửa lại y phục. Đèn sáng trong một lúc. Nhân tiện kháng giả đi đé. Đứt phim. Khi phim nối lại, cuộc sống sẽ trở lại như trước.

Saigon ngày tan hàng. Nhìn lên trời thấy những chiếc trực thăng bay ra biển Công tử Hà Đông cảm khái lẩy Kiều:

Ào ào gió dục mây vần
Trực thăng trong cõi hồng trần như bay…

Mai Thảo là văn nghệ sĩ Sàigòn duy nhất công an Việt cộng muốn bắt mà không bắt được. Đúng là con người có số. Số ông Mai Thảo, số ông Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều — những ông ba chân bốn cẳng vắt giò lên cổ chạy thoát được trước Ngày Ba Mươi Tháng Tư không nói làm chi — hai ông Mai Thảo, Lê Trọng Nguyễn sống ở Thành Hồ cả mấy năm mà vẫn không bị Việt Cộng bắt — Số hai ông là số không ở tù nên hai ông không bị ở tù. Giản dị và trong sáng, dễ hiểu như vậy thôi. Hai ông chẳng giỏi giang gì cả.

Công an Việt cộng, nhất là anh Huỳnh Bá Thành họa sĩ Ớt nhật báo Đồng Nai của Thượng nghị sĩ Hồng Sơn Đông, rất lấy làm cay cú vì không bắt được Mai Thảo. Chúng lại càng ức hơn khi chúng biết Mai Thảo vẫn sống giữa lòng Thành Hồ, vẫn gặp anh em. Cuối năm 1977 sau khi vác mặt mo đi dự cái khóa Bồi dưỡng chính chị, chính em ruồi bâu kiến đậu Công tử Hà Đông được nhà văn lớn Bảng Đường cho người đến nhà đưa thư.

Thư nhà văn lớn viết đại ý: “Tưởng mày cũng bị bắt nên tao không liên lạc. Người cầm thư này là người thân của tao. Đưa nó mang về cho tao mấy quyển truyện trinh thám Pháp. Tao suốt ngày nằm đọc sách. Tao là kẻ thù của mặt trời…”

Công tử học hành dốt nát, tiếng Tây, tiếng Mẽo tiếng nào cũng ăn đong nhưng tiểu thuyết tiếng Tây, tiếng Mẽo lại có khá nhiều. Toàn là loại sách bìa mềm rẻ tiền. Đọc thư nhà văn lớn, Công tử bèn xếp, không phải mười quyển mà là hai mươi quyển liền một khi, đưa anh mang thư đem về cho nhà văn đọc. Đồng thời một thư cũng được gửi Công tử gửi cho nhà văn lớn: “Hôm nào mày đến nhà tao chơi…”

Người giao liên của Mai Thảo là anh cháu con bà chị của ổng. Anh và gia đình hiện ở San José, Cali. Lần sau trở lại, anh cho biết Mai Thảo chỉ ra khỏi nhà lúc sáng sớm và trở về nhà lúc tối mịt, anh sẽ đưa ông cậu anh đến nhà tôi sớm, để ông ở nhà tôi, tối anh đến đón về…

Một sáng Mai Thảo đến nhà tôi. Ông đội mũ phớt, để hàng ria mép. Vợ tôi nấu cơm. Tôi đi mời bà dì tôi ở gần nhà sang chơi. Bà dì tôi, vợ tôi, cậu, cháu Mai Thảo là bốn tay đánh chắn cừ khôi. Tôi chắn cạ A B C nhưng phải ngồi dzô cho đủ năm tay. Tôi sinh trưởng trong một gia đình tổ tôm, tài bàn, chắn cạ, bất, đố mười gia truyền. Những tờ giấy bạc lương thiện do sức lao động đầu tiên tôi kiếm được trong đời tôi là tiền chia bài. Những năm 40 với việc chia bài mỗi canh chắn khoảng ba , bốn tiếng đồng hồ tôi kiếm được hai ba đồng tiền công chia bài. Tôi chi số tiền này vào việc đớp bò khô thoải mái. Năm ấy thịt bò khô Hà Đông – Sàigòn là gỏi đu đủ – một đĩa là một hào. Một đồng bạc Đông Dương đớp được những mười đĩa. Ở số tuổi một bó, một bó hai ba que tôi đớp liền tù tì bẩy tám dĩa thịt bò khô giấm chua trinh nữ són đé mà vẫn tỉnh queo không xót ruột, sót gan gì cả.

Vậy mà khi lớn lên, tôi lại không ưa cờ bịch một ly Cửu Sừng, Ông Cụ nào cả. Về bộ môn cờ bịch có thể nói tôi biết đủ thứ. Nhưng vì tôi không thích nên dù biết bí kíp mà không tập luyện nên võ công của tôi không cao. Chắn cạ, mạt chược, cờ tướng tôi chơi thấp hơn vịt… Vì thiếu chân nên tôi phải ngồi vào bàn chắn cho Mai Thảo tiêu thì giờ trong một ngày quanh quẩn ở nhà tôi từ sáng đến tối.

Trước sau Mai Thảo đến nhà tôi chừng ba lần. Thế rồi tình cờ khi gặp anh em ký giả ở đâu đó nghe họ nói:

- Mai Thảo bị bắt rồi

Tôi hỏi:

- Bị bắt hồi nào? Cách đây bao lâu rồi?

Với vẻ thản nhiên đầy quan trọng tôi nói:

- Bậy. Mới tuần trước Mai Thảo đến nhà tôi.

“Tin Mai Thảo đến nhà Hoàng Hải Thủy…” dần dần được chuyền đến tai bọn công an muốn bắt Mai Thảo. Tôi tuy ngu nhưng không đến nỗi không biết là tin ấy sẽ được truyền đến tai bọn công an Việt cộng, tôi chỉ ngu si – vì lúc đó tôi chưa bị bắt – khi nghĩ tôi không có tội gì khi tôi biết Mai Thảo bị lùng bắt mà tôi không báo cáo cho công an đến bắt Mai Thảo, là công dân tốt, theo nghĩa tốt của Việt cộng – tôi phải báo cáo với công an Việt cộng để họ giăng bẫy bắt Mai Thảo. Nếu tôi vì tính chất phản động không chịu làm việc ấy thì vợ tôi phải sáng mắt, sáng lòng đi khai báo mà không cho tôi biết.

Vì vậy, khi tôi bị bắt lần thứ nhất – lần bị bắt này của tôi không được hai anh Nam Thi – Minh Kiên nhắc đến, dù chỉ nhắc sơ nửa dòng trong quyển Những Tên Biệt Kích Cầm Bút – người phụ trách thẩm vấn tôi là Huỳnh Bá Thành. Lần thứ nhất gặp tôi trong phòng thẩm vấn của Nhà giam số 4 Phan Đăng Lưu, Huỳnh Bá Thành tự giới thiệu:

- Tôi là Huỳnh Bá Thành, họa sĩ Ớt báo Đồng Nai. Anh gặp những anh chị bị bắt và đã được thả chắc cũng có nghe nói đến tên tôi.

Khi tôi vào Số 4 Phan Đăng Lưu một số văn nghệ sĩ bị bắt tháng Ba, tháng Tư năm 1976 đã được thả về: Hồng Dương, Minh Đăng Khánh, Hoàng Vĩnh Lộc, Sao Biển, Hoàng Anh Tuấn, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Nhã Ca, Xuyên Sơn, Minh Vồ, Hồ Nam, Lê Xuyên, Trần Việt Sơn v.v… Tôi có nghe anh em kể vài mẩu chuyện trong tù nhưng thực sự tôi chưa một lần nghe nói đến tên anh Huỳnh Bá Thành.

Trước mắt tôi, Huỳnh Bá Thành gầy, đen, tóc chải sang bên trái cho tôi biết anh thuận tay trái. Anh cho tôi biết bí danh anh là Ba Trung. Anh cũng tự giới thiệu anh là tác giả quyển Vụ án Hồ Con Rùa.

Tôi không nói cho anh biết là tôi chưa nghe ai nói đến tên anh lần nào, tôi không biết họa sĩ Ớt và tôi cũng chưa từng để mắt đọc nửa trang truyện Vụ Án Hồ Con Rùa.

Tôi bị bắt chiều thứ Bảy – công an đến nhà tôi lúc 11 giờ trưa, khám xét, tìm tang vật mãi đến khoảng 5 giờ chiều tôi mới vào đến Biệt giam 15 khu B, Số 4 Phan Đăng Lưu – 10 giờ sáng Chủ nhật hôm sau Huỳnh Bá Thành đã gọi tôi ra phòng thẩm vấn.

Mỗi lần Ba Trung thẩm vấn tôi rất lâu. Ngoài phần hỏi đáp còn có phần nói chuyện linh tinh, lang tang về văn nghệ, văn gừng, chính em, chính chị. Ba Trung thường gọi tôi ra thẩm vấn vào buổi chiều, ngồi mãi đến chín, mười giờ tối mới thả tôi về biệt giam. Tôi không lấy gì làm phiền nhiễu vì những lần hỏi cung dài lòng thòng này. Mới bị bắt nằm xà lim một mình buồn thấy mồ đi. Được ra ngoài ngồi thoải mái, được có người nói chuyện qua lại – dù người đó là Vixi – cũng đỡ buồn hơn là cứ nằm đến mỏi nhừ cả người trên nền xi măng xà lim. Tôi phải nói rằng Huỳnh Bá Thành đối xử với tôi rất nhã nhặn, lịch sự. Anh ta không nói nặng tôi nửa câu, không tỏ ra khinh bỉ hay vô lễ với tôi, cũng không đe dọa tôi nửa lời. Anh có thể đe dọa tôi, nhưng anh đã không làm. Anh cũng không nói lời gì để tôi thêm buồn , thêm sợ. Anh có đọc tập thơ của tôi — Sau ngày oan nghiệt, tôi có làm một số bài thơ vẩn vương, chép vào một tập để ngay trên bàn. Bọn công an xét nhà vồ được tập thơ này của tôi. Giờ này tập thơ vẫn nằm yên trong kho Lưu trữ tang vật của Sở Công an thành phố Hồ Chí Minh, trong tập có bài thơ tả cảnh Chợ Trời Saigòn sau ngày ta mất nước:

Chợ Trời

Trời chiều đi dạo Chợ Trời
Xem đồ ta, ngắm đồ người cho vui
Tìm vui chỉ thấy ngậm ngùi
Vỉa hè này những khóc cười bầy ra
Lạc loài áo gấm, quần hoa
Này trong khuê các, sao mà đến đây?
Chợ bầy những đọa cùng đầy
Vàng phơi nắng quái, ngọc vầy mưa sa
Bán đồ toàn những người ta
Mua đồ thì rặt những ma cùng Mường
Chợ Trời hay Chợ Đoạn Trường
Đầu âm phủ, cuối thiên đường là đây!

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 20)

Việt cộng vào Sàigòn, theo đúng thông lệ Cộng đi tới đâu ruồi bâu đến đấy, thành phố Sàigòn thất thủ một sớm, một chiều trở thành cái Chợ Trời khổng lồ. Người Sè Goòng mang ra vỉa hè bán đủ thứ linh tinh. Hai chợ Trời đông đảo nhất Sàigòn là Chợ Cũ và Chợ Lăng Cha Cả. Mộng ước cao đẹp nhất của những anh nông dân Bắc Việt đi lính cụ Hồ vào được Sàigòn là được làm chủ cái đồng hồ “không người lái”. Người bán đồ toàn là dân Sàigòn, người mua đồ toàn là lính Bắc Việt cộng sản. Các em Lính Cái Việt cộng mông to hơn cái thúng đi chợ trời tìm mua “Áo Mông” – Montagut – đồ các em mua phải là đồ có chữ U Ét – US- hay U Ét A – USA.

Ba Trung có đọc bài thơ Chợ Trời, anh nói:

- Anh làm thơ gọi chúng tôi là Mán, là Mường. Nếu các chú đi bắt anh mỗi chú chỉ đánh anh một cái thôi giờ này anh cũng ngồi không vững.

Cay cú nặng vì vụ vồ hụt Mai Thảo, Ba Trung nói:

- Anh thấy đấy… Chúng tôi định bắt một trăm anh là đúng một trăm anh bị bắt. Chúng tôi chỉ có bắt hụt mỗi một mình Mai Thảo.

Thấy anh đối xử với tôi tử tế, tôi nói:

- Các anh bắt vậy là hay quá rồi. Chỉ vì cái sơ suất này mà các anh không bắt được Mai Thảo: chúng tôi có vợ con, khi nghe tin anh em chúng tôi bị bắt chúng tôi quyến luyến vợ con nên chúng tôi cứ ở nhà chờ không chịu bỏ đi. Mai Thảo không có vợ con, sau giải phóng nó lại quen ở nhà này ít lâu, ở nhà khác năm bữa nửa tháng. Nghe nói bị bắt là nó lững thững hai tay không nó đi. Lẽ ra các anh phải bắt Mai Thảo trước nhất, sau nó mới đi bắt những người khác.

Ba Trung hỏi:

- Anh có nhiều lần gặp Mai Thảo phải không?

Có cái tật không thích nói dối — mặc dầu đôi khi cũng nói dối như máy — và không nói dối được, tôi trả lời:

- Có. Mai Thảo đến nhà tôi vài lần.

Ba Trung bất thần hỏi mánh:

- Cũng có khi anh đến rủ Mai Thảo đi chơi chứ?

Phải nói thật là tôi chẳng lần nào đến chỗ Mai Thảo trốn tránh gọi anh đi chơi cả. Nên tôi trả lời ngay boong.

- Không.

Và tôi giải thích “tại sao không”:

- Mai Thảo không nói cho tôi biết chỗ hắn ở là vì việc đó không cần thiết, tôi không cần biết chỗ hắn ở làm chi. Tôi không hỏi chỗ Mai Thảo ở vì tôi sợ nếu tôi bị bắt, các anh sẽ hỏi tôi Mai Thảo ở đâu. Tôi không khai thì sợ các anh hành hạ tôi. Tôi khai thì tôi ân hận vì tôi mà Mai Thảo bị bắt. Vì vậy, tôi không hỏi. Nhưng bây giờ, khi đã bị bắt vào đây rồi, nếu tôi biết chỗ Mai Thảo ở tôi khai với các anh ngay. Nếu tôi còn ở ngoài mà tôi làm cho hắn bị bắt, tôi mới ân hận. Đã bị bắt rồi, tôi chẳng có gì mà để sợ. Mai Thảo có bị bắt thì nó cũng chỉ khổ như tôi thôi. Tôi chẳng áy náy gì về việc khai ra chỗ nó ở để nó bị bắt vì tôi biết trước sau gì nó cũng bị bắt thôi. Làm sao nó trốn mãi được…

Ba Trung không nói gì cả. Chèn đét ơi… tôi nói có lý quá trời đi, còn bắt bẻ tôi vào đâu được. Bị Việt cộng bắt mình khai báo với nó phải có lý may ra mới được nó nể nang phần nào. Có lần, tôi nhớ vào buổi tối đã khuya, khi đã sửa soạn ra về, cho tôi vào xà lim ăn cơm tù nguội cứng ngắc, Ba Trung nói:

- Làm việc với anh, tôi cũng học được nhiều điều hay hay…

Ba Trung nuôi mộng qua tôi, qua vợ tôi, bắt được Mai Thảo. Có lần hắn bảo tôi:

- Tôi muốn anh viết một thư cho Hoài Bắc. Ý thư là anh báo cho Hoài Bắc biết người ta, tức là chúng tôi, đã biết chỗ ở của Mai Thảo, Hoài Bắc phải đến cho Mai Thảo biết để Mai Thảo đi nơi khác ngay…

Tôi biết ngay mánh mung của Ba Trung. Trong tù thường có người bị bắt khi được thả lén mang thư của người tù ra ngoài, đem đến cho thân nhân người tù. Ba Trung muốn tôi viết thư cho Hoài Bắc, hắn sẽ cho một chú công an nào đó giả làm tù ở chung phòng với tôi trong Số 4 Phan Đăng Lưu mới được thả, đem thư HHT đến cho Hoài Bắc. Được thư Hoài Bắc sẽ nhẩy lên ngựa sắt lọc cọc đến chỗ Mai Thảo hay cho người nhà đi báo tin cho Mai Thảo biết là công an đã biết chỗ ở của Mai Thảo, nên đi chỗ khác ngay.. Anh em Ba Trung chờ sẵn ngoài đường sẽ đi theo, ập vào nơi Mai Thảo ở, còng tay Mai Thảo ngon lành.

Tháng 10 năm 1977, khi tôi ngơ ngáo tay bị còng, theo những anh Công An Nhăn Dăn thành Hồ, đặt những bước chân đầu tiên đi vào con đường tù đầy nạn nhân Cộng sản, đặt những bước chân đầu tiên là lời nói văn huê để diễn tả việc loạng quạng đi vào trại giam số 4 Phan Đăng Lưu, các ông Mai Thảo, Hoài Bắc vẫn còn vất vưởng ở Thành Hồ. Nói rõ hơn là ngày tôi bị bắt các ông chưa vượt biên đi thoát. Sở dĩ công an Thành Hồ không tóm được Mai Thảo là vì Thành Hồ có trò vượt biên. Nhờ có vượt biên, Mai Thảo mới thoát được tù đầy cộng sản. Nếu không có vượt biên làm sao ông có thể lẩn tránh mãi. Bị Việt cộng vồ trượt, lùng bắt từ tháng 3 năm 1976 cho đến đầu năm 1978 ông mới đi thoát. Thành tích sống ẩn mình chờ đi chui của ông như dzậy là khoảng hai niên. Kỷ lục Guiness Mít.

Khi Ba Trung Huỳnh Bá Thành đưa cho tôi mảnh giấy bao thuốc lá, cây bút, bảo tôi viết thư cho Hoài Bắc theo ý hắn, tôi ngồi lặng đi nửa phút. Tôi thầm đọc Ba Kinh Kính Mừng xin Đức Mẹ Maria làm cho lá thư tôi viết không gây tác hại gì cho các bạn tôi. Tôi cẩn thận khẩn cầu cho chắc ăn. Trong lòng tôi không tin Hoài Bắc khi nhận được thư tôi — nếu Ba Trung cho công an giả làm tù được ra đến đưa thư thực sự — lại lóc cóc đạp xe đến chỗ Mai Thảo ở để phi báo ngay. Tôi chắc vậy, vì tôi biết Hoài Bắc cũng không biết rõ chỗ Mai Thảo ẩn náu như tôi. Dù có nhận thư báo, anh cũng chỉ chờ anh cháu liên lạc viên của ông bạn lại mới nói cho biết. Nếu tôi là Hoài Bắc tôi cũng làm như vậy.

Hai mươi mùa lá rụng đã qua kể từ ngày ấy – không nhớ là sáng, hay chiều, hay tối, trong phòng thẩm vấn số 4 Phan Đăng Lưu, cửa ngõ tù đầy của những công dân thành phố Hồ Chí Minh quang vinh, tôi cầm bút viết. Đại khái lời thư tôi còn nhớ:

Hoài Bắc,

Người ta đã biết chỗ ở của Mai Thảo. Mày đi cho nó biết ngay để nó đi chỗ khác. Ở lại đấy là bị vồ đấy.

H.H.T.

Tôi ký tờ thư ngắn. Ba Trung bảo tôi:

- Anh vẽ bông hoa dưới chữ ký anh.

Y xem tập thơ của tôi, thấy tôi thường vẽ bông hoa trên đầu bài, trên chữ ký. Tôi có con dấu bằng đồng hình bông hoa và chữ ký tôi khá đẹp. Khi đến bắt tôi, bọn công an lục soát lấy đi tất cả những con dấu hoa hòe hoa sói của tôi. Tôi vẫn nghĩ bông hoa là biểu hiệu tiền định của đời tôi. Hoa đẹp, hoa thơm, nhưng người ta không ăn được hoa. Đời tôi an nhàn, có chút tiếng tăm còm, có vài ba nữ độc giả ái mộ, vợ không đẹp lắm, con không khôn lắm nhưng cũng không quá ngu. Đời tôi đúng như bông hoa. Không có tiền. Phải chi thời trẻ tôi lấy dấu hiệu là trái sầu riêng hay trái mít. Tiếc thật. Lấy dấu hiệu là trái đu đủ cũng có ăn. Hoa thì hèn chi hổng nghèo phai nhạt nụ tầm xuân.

Dễ thôi. Tôi là người tù dễ bảo có hạng. Tôi vẽ bông hoa bên chữ ký theo lời của Ba Trung. Tôi tin dù thư có đến tay Hoài Bắc anh sẽ không tin đó là thư tôi. Vì tôi “mày tao” mí ông Mai Thảo, tôi không “mày tao” mí ông Hoài Bắc. Ông Hoài Bắc không mày tao với ai cả thì đúng hơn. Thư tôi “mày tao” vớí ông chắc vừa đọc ông đã thấy có cái gì khác lạ. Tôi có thể “toa, moa” nhưng nhất định không thể “mày, tao” vớí ông. Có vài lần tôi nghe ông Thanh Nam mày tao vớí ông Hoài Bắc, nhưng ông Hoài Bắc vẫn cứ “tôi, anh” với ông Thanh Nam.

Ba Trung có thực hiện mánh mung cho đàn em giả tù được thả đem thư rởm của tôi đến cho Hoài Bắc hay không? Chuyện đó tôi không biết và không bao giờ tôi biết. Hoài Bắc đã qua đời, hình như anh mất năm 1993. Ở Thành Hồ chúng tôi biết tin Hoài Bắc nhờ nghe đài VOA. Công an Việt cộng Ba Trung Huỳnh Bá Thành cũng đã chết.

Tôi bị giam 12 tháng 2 ngày trong xà lim, Biệt giam số 15 khu B hai tháng, Biệt giam 6 khu C Một mừời tháng. Khi sang phòng tập thể cuối năm 1978 tôi được anh em tù báo tin:

- Mai Thảo, Hoài Bắc, Lê Thiệp, Nguyễn Hữu Hiệu… đi thoát hết. Sang Mỹ cả rồi…

Nghe tin tôi nhẹ người.

*****

Tuy không biết nơi ẩn náu của Mai Thảo tôi vẫn có thể chỉ cho Ba Trung bắt được anh. Số là vợ chồng tôi chỉ về ở căn nhà nhỏ của mẹ tôi vẫn bỏ không trong Cư xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ ba tháng sau ngày nón cối, dép râu ngơ ngáo vào Sàigòn. Khoảng tháng Mười, tháng Mười Một đen hơn mõm chó năm 1975 một tối buồn, trời trở lạnh, tôi đạp xế lang thang trong những đường phố tang thương của Sàigòn thương yêu. Khoảng mười giờ khuya ở đường Phan Đình Phùng, đèn tắt tối om, tôi gặp ông Mai Thảo, Hoài Bắc trên hai con ngựa sắt. Chúng tôi vào tiệm Nghi Xuân đớp phở. Khi đang dùng dằng chưa nỡ rời tay mà cũng chưa biết nên và có thể kéo nhau vào đâu chơi, chúng tôi nghe người gọi tên:

- Hoài Bắc… Mai Thảo… Hoàng Hải Thủy…

Gọi mà gọi lớn tiếng chứ không vừa đủ nghe. Ông Đoàn Khê – một tên khác là Khê Vinh – cầu thủ bóng tròn nổi tiếng trước năm 1954 – trên lưng ngựa sắt ghé đến. Chúng tôi trao đổi vài lời trên lề đường vắng.

- Bọn đá bóng Bắc Kỳ vào chúng nó có tìm ông không?

- Có chứ. Về bóng tròn thì tôi là Hồ Chí Minh của chúng nó…

Đó là lời tuyên bố giữa đường của ông Đoàn Khê, tức Khê Vinh, cựu cầu thủ Bắc Việt. Ba ông Khê Vinh, Mai Thảo, Hoài Bắc đều đã ra người thiên cổ.

Đêm ấy trời quá khuya, tôi theo ông Mai Thảo về ngáo một giường mí ông trong căn nhà một ông anh của ông phú lỉnh được để lại. Sáng hôm sau, tôi rủ Mai Thảo về nhà tôi chơi.

- Mẹ tao đau, vợ tao lên hầu bà cụ. Có mình tao ở nhà. Trưa mình đi đớp thịt chó.

Khu Ông Tạ Bắc Kỳ Ri Cư tám mươi phần trăm là dân công giáo, nổi tiếng khắp Sàigòn về mục Cầy Tơ. Ngã Ba Ông Tạ có một điểm độc đáo không nơi nào có là Ngã Ba được gọi bằng tên ông thầy thuốc hành nghề ở đó. Ông thầy thuốc tên là Tạ vẫn còn sống, vẫn ngày ngày hành nghề, nhân dân ta đã lấy tên ông đặt cho toàn khu. Không có văn bản địa đồ chính thức nào ghi địa danh ông Tạ nhưng địa danh ấy nằm trên cửa miệng của người Sàigòn từ những năm 1950 đến chưa biết bao giờ.

Trên đường đi, chúng tôi gặp Nguyễn Đình Toàn. Toàn đã biết nhà tôi, anh bảo:

- Chúng mày về trước. Trưa tao đến.

Mai Thảo chỉ đến nhà tôi ở Cư xá Tự Do có lần ấy. Khi nhờ anh cháu đến nhà tôi mượn truyện, anh chỉ có thể chỉ đường lờ mờ.

Anh cháu của Mai Thảo nói với tôi:

- Ông cậu tôi đâu có nhớ số nhà. Ông chỉ nói là ông ở trong cư xá Tự Do trước hồ tắm Cộng Hòa. Tôi có người quen ở ngay cùng dẫy với ông, chỉ cách nhà ông có mấy nhà. Tôi hỏi là trúng phóc.

Người quen của anh cháu Mai Thảo ở ngay gần nhà tôi. Mỗi lần đến nhà tôi, anh đều ghé nhà ấy trước. Tôi có thể khai với Ba Trung về người quen anh ở cùng cư xá với tôi. Nếu tôi khai biết đâu anh cháu Mai Thảo đã chẳng bị công an VC theo rõi và biết đâu nhà văn lớn đã chẳng vì thế mà theo tôi vào Số 4 Phan Đăng Lưu, biết đâu Mai Thảo đã chẳng ở lại với quê hương, biết đâu giờ này tên ông đã chẳng nằm trên một bảng đường nào đó ở thủ đô tị nạn. Biết đâu v.v…??

Hai mươi tháng tù đầy kéo dài trong ba niên. Cuối 1979, trở về căn nhà nhỏ Alice kể cho tôi nghe:

- Ba Trung nó gọi em lên Sở. Nó dụ em chỉ chỗ cho nó bắt Mai Thảo. Nó nói bóng gió là nếu em muốn anh sớm được tha thì em phải giúp chúng nó bắt Mai Thảo. Nó gọi em lên sở từ 9 giờ sáng để em chờ tới 11 giờ nó mới ra tiếp em. Nó nói đủ thứ ba lăng nhăng đến bốn, năm giờ chiều mới cho em về. Nó nói: “… Chúng tôi sẽ xây dựng nước Việt Nam thành một vườn hoa bên bờ Thái Bình Dương…”. Nó còn hỏi em đã coi phim Chiến Tranh Và Hòa Bình của Liên Sô chưa? Nó nói phim chiến tranh và hòa bình của Liên Sô mới thật vĩ đại. Phim Mỹ không đi đến đâu. Nó còn nói: “Cái gọi là quốc gia Việt Nam Cộng Hòa nó đã chết rồi. Anh ấy cứ đào nó lên anh ấy thương xót nó…”. Em điên lên em nói: “Nếu mà nó đúng thì nó có chết đến một trăm năm cũng vẫn đào nó lên. Việt Nam Cộng Hòa mới mất có mấy năm nay mà…”. Nó dọa em: “Chị mới là người đáng bị chúng tôi bắt…”. Em nói: “Các anh làm ơn bắt ngay tôi đi. Tôi mừng. Bị bắt là tôi hết lo. Bây giờ tôi phải lo nuôi chồng tôi ở trong tù, lo nuôi các con tôi. Tôi không sợ các anh bắt đâu…”

Nàng cay cú nhiều vì bị Ba Trung quấy rầy. Nàng từng hẹn hò:

- Nếu có ngày đổi đời, phe ta lại nắm quyền, ai giành cái gì thì giành, em giành thằng Ba Trung. Em bắt nó về em xích cổ nó ở chân giường, em cho nó ăn uống tử tế nhưng em bắt nó suốt ngày phải nói câu: “Xây vườn hoa bên bờ Thái Bình Dương…”

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 21)

“Sở Công an thành phố Hồ Chí Minh khởi tố vụ án gián điệp hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh…”

Đó là câu đầu tiên trong cái gọi là bản khởi tố Bọn Gián Điệp của Sở Công An Thành phố mang tên bác Keo. Tôi đọc được mấy câu này trên tập khởi tố do chị nhân viên cái gọi là Viện Kiểm Sát Nhăn Dăn vào nhà tù Chí Hòa gọi tôi ra hỏi đôi câu ra cái điều viện cũng chú ý đến người tù, dù là tù phản động. Bản khởi tố ấy đặt ngược với tôi, vì mắt yếu tôi chỉ đọc ké được mấy dòng đầu.

Cứ như những gì hai anh Cớm cộng Nam Thi – Minh Kiên kể trong NTBKCB thì anh em chúng tôi chỉ can tội viết và gửi một số bài viết ra nước ngoài. Nhưng năm 1986 khi định đưa chúng tôi ra tòa, bọn Công An Thành Hồ, hung hăng con bọ xít khép chúng tôi vào tội gián điệp. Chúng đòi giết một người, cho tù chung thân một người trong chúng tôi.

Nhưng vở kịch “Vụ án gián điệp thành Hồ” do bọn Công An Thành Hồ dàn dựng như quả bóng xì hơi, đầu voi đuôi chuột. Bọn chúng la lối với ý định giết người nhưng rồi chúng tẽn tò, xụi lơ v.v… Đó là những chuyện đã xưa rồi.

Theo thủ tục những cái gọi là Truyện Vụ Án bao giờ cũng có vài chương đề cao cá nhân vài tên công an: “những chiến sĩ công an cương cường bắt, bỏ tù nhân dân không mệt mỏi”. Trong đoạn dưới đây trích trong NTBKCB ta thấy nói đến đồng chí Tư Tuân, người phụ trách đơn vị công an “chống phá hoại tư tưởng”

Ban này có cái tên là “Ban Công tác chống phá hoại tư tưởng”. Đại khái “chủ nghĩa cộng sản là hoàn toàn tốt đẹp, chủ nghĩa cộng sản sẽ đem lại hạnh phúc cho loài người”. Chuyện ấy chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch. Kẻ nào nói ngược lại, hay chỉ cần tỏ vẻ nghi ngờ thôi, kẻ ấy can tội “phá hoại tư tưởng”. Phải bắt giam kẻ ấy để bảo vệ tư tưởng chủ nghĩa cộng sản là đỉnh cao trí tuệ loài người.

Trích Những Tên Biệt Kích Cầm Bút:

Chỉ huy trưởng rút từ trong ngăn kéo ra một xấp báo lá cải của bọn phản động lưu vong in ở nước ngoài để trên bàn.

- Anh Tư đã xem mấy thứ này chưa?

- Dạ có. Tôi vẫn nhận được thường xuyên nhưng…

- Tôi biết. Mấy thứ giấy lộn này có đáng gì, nhưng đó là khói của đốm lửa cần dập tắt. Do đó, nhiệm vụ của chúng ta là cần phải chú ý tới nó.

- Vâng, Tư Tuân vừa nói, vừa lắc đầu – Thú thật với anh, tôi chán ngấy mà vẫn phải đọc. Anh em Việt kiều về thăm quê hương cũng nói với tôi, họ chẳng bao giờ thèm để mắt tới món hàng ôi đó!

….

Tư Tuân đọc lướt mấy trang báo. Cũng những luận điệu vu cáo rẻ tiền. Cả cái lối hành văn, thuật ngữ đã quen thuộc đối với anh. Từ khi được giao phụ trách đơn vị này, anh đã chịu khó đọc hàng lô sách, tiểu thuyết của số “nhà văn” cũ và sách báo mới được bọn phản động lưu vong ấn hành ở nước ngoài. Thật là chán đến buồn nôn…

Hai đoạn chữ in nghiêng trên đây được trích ở trang 79 NTBKCB. Anh cu Tư Tuân nói anh đọc và thấy “buồn nôn” thì cũng đúng thôi. Toàn là những gì viết về cái xấu, cái bẩn, cái tàn ác của Việt cộng, anh không thấy buồn nôn làm sao được. Có điều anh nói đó toàn là “những luận điệu vu cáo rẻ tiền” thì chúng tôi không dám đâu. Tội của mấy ảnh nhiều quá rồi. Cần gì chúng tôi phải vu cáo mấy ảnh. Hai nữa, chúng tôi muốn bịa thêm ra tội để vu cáo mấy ảnh cũng hổng có được. Loài người ác độc nghĩ ra được bao nhiêu cách hành hạ nhau, làm nhau đau đớn, giết nhau… mấy ảnh mần ráo trọi. Mấy ảnh còn sáng chế ra nhiều tội ác mới nữa mà loài người hổng thể nào ngờ được có những tên cũng nhận là người mà làm nổi. Sức mấy mà chúng tôi vu cáo nổi mấy ảnh.

Bọn công an Thành Hồ vẫn theo dõi anh em chúng tôi từ những ngày đầu chúng chiếm được Sàigòn. Tôi chắc đến năm 1982 chúng mới mở cuộc điều tra riêng về chúng tôi. Trong số “sách báo mới của bọn phản động lưu vong ấn hành ở nước ngoài” được nói đến trong đoạn trên đây chắc chắn có tập “Tắm Mát Ngọn Sông Đào

Trích: Tắm Mát Ngọn Sông Đào. Thơ, văn, nhạc sáng tác từ quốc nội
Nhà xuất bản Lá Bối in lần thứ nhất, Paris 1981.

Lời mở đầu

Những giai đoạn khó khăn của đất nước dù kéo dài đến mấy cũng không làm tiêu hao được niềm tin của chúng ta nơi khả năng của dân tộc, của cả một dân tộc. Đành rằng chiến tranh, tình trạng áp bức và nghèo khổ có làm băng hoại đi nhiều giá trị tinh thần, nhưng không phải vì vậy mà những viên kim cương bất hoại không được tiếp tục phát triển giữa lòng dân tộc. Ngày mai khi đất nước lại đi vào giai đoạn sáng sủa mới ta lại thấy được khả năng và tiềm lực của giống nòi. Sống xa quê hương, ta không thấy và không cảm được một cách trực tiếp và thường xuyên nỗi đau, niềm thương của người trong nước, vì vậy ta vẫn phải thỉnh thoảng về tắm lại trong dòng sông dân tộc để tự tìm lấy mình, để tự mình đánh mất mình, và như thế cũng có thể đóng góp được phần mình vào sức sống đi lên của dân tộc. Văn nghệ sĩ sống trong nước chính là những người có thể giúp ta rung cảm cái rung cảm của dân tộc, bởi họ chính là một trong những thành phần dễ bị rung cảm nhất bởi cái rung cảm chung. Đọc họ, nghe họ, ta có cảm tưởng được chia xẻ những nỗi đau, niềm thương của dân tộc, và như thế ta cũng có cảm tưởng được đất nước đưa hai cánh tay cứu chuộc ta về.

Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh…

Nước mát ở ngọn sông đào và trái sim chín ở rừng xanh bao giờ cũng còn đó đợi ta. Ta có tắm mát và ta có ăn sim chín thì ta mới còn là người Việt Nam, dám nói, dám làm cho đất nước, cho dân tộc.

… Những tác phẩm Lá Bối trình bày trong tập này đều xuất phát từ quốc nội, trong đó nhiều bài đã được đưa ra từ chốn lao tù. Bạn đọc sẽ dễ dàng nhận ra sự kiện này. Một điều nữa mà ta nhận thấy khi đọc là các tác giả đã chứng tỏ một sức kiên nhẫn và chịu đựng lớn lao; nhiều người đã biết nhìn bằng con mắt từ bi hơn là con mắt căm thù. Chính ưu điểm là ở chỗ đó. Sức mạnh của dân tộc không nằm ở chỗ giận dữ hung hăng bên ngoài mà nằm ở khả năng bền bỉ chịu đựng và ý chí thắng vượt hoàn cảnh.

Mong rằng những giọt máu, những dòng lệ và những tiếng cười của họ có thể giúp chúng ta vượt thoát trạng thái vô tâm thụ động và quên lãng, đồng thời giúp ta phương tiện cứu chuộc lấy chính chúng ta.

Ông bạn Sáu Bó Gập, xưa là sĩ quan Dù, hiện làm việc tại Đại học NOVA, Virginia nói với tôi:

- Tôi đọc anh từ những năm tôi mới nhập ngũ, đọc anh dài dài trong bao nhiêu năm. Những năm 80 khi đọc mấy bài viết từ trong nước gửi ra ký tên Con Trai Bà Cả Đọi, tôi hỏi Trần Tam Tiệp, Con Trai Bà Cả Đọi có phải là anh không, hắn chịu ngay. Ngôn ngữ của anh nó lù lù ra đấy, làm gì bọn Việt cộng nó chẳng biết…

Ông bạn Sáu Bó Gẫy khác nói:

- Đọc những bài anh viết gửi ra tôi lấy làm lạ. Tôi tự hỏi, anh cu này không sợ Việt cộng nó bỏ tù hay sao mà dám viết phoong phoong gửi ra nước ngoài như thế này?

Nhiều ông, phải nói rất là nhiều ông, khi còn kẹt trong nước thì nín khe, một lá thư ngắn gửi ra nước ngoài cũng không viết, có ông khi được người đem tiền cứu trợ từ nước ngoài gửi về đến cho cũng sài lắc, không lãnh, dù đang đọi, sợ mang vạ. Các ông giữ thân: không dính dáng gì đến Việt cộng để ÔĐiPi Mẽo có cớ từ chối không cho mình và vợ con sang Mẽo, hai: không làm gì để cộng sản có cớ bắt lại, đi nằm ấp thêm vài niên, hỏng mất cơ hội đưa vợ con sang Xê Kỳ. Tám anh em chúng tôi chẳng có tài cán cũng chẳng can đảm hơn ai, những gì chúng tôi viết gửi ra ngoài cũng chẳng có gì đáng gọi là giá trị, nhưng ít nhất chúng tôi cũng đã viết, đã gửi tác phẩm ra phổ biến ở nước ngoài, gọi là nói lên một trong trăm ngàn nỗi đau thương, tuyệt vọng, căm hận của đồng bào ta sống trong kềm kẹp của cộng sản.

Năm 1980, tôi được người bạn cho mượn quyển tự truyện của Stefan Zweig. Ông viết quyển này vào khoảng năm 1944. Ông bà nguyên là người Đức gốc Do Thái, phải bỏ nước đi tị nạn, Hít Le Nazi muốn giết hết người Do Thái. Viết xong quyển tự truyện hồi ký này, hai ông bà cùng tự tử ở nước Anh. Trang đầu quyển sách in bức thư nhà văn viết để lại cho người đời. Hai ông bà thấy chiến tranh quá ghê rợn, dân Do Thái bị tàn sát quá mức khủng khiếp. Ông viết:

Các bạn còn niềm tin ở ngày mai tươi sáng, các bạn ở lại. Chúng tôi tuyệt vọng, chúng tôi đi thôi. Vĩnh biệt các bạn…

Trong căn nhà tối của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, năm 76, 77, có lần Alice nói với tôi: “Hay là chúng mình cùng chết đi anh…”. Chúng tôi tuyệt vọng đến nỗi chúng tôi cũng có ý định chết như ông bà Stefan Zweig, nhưng chúng tôi không cùng tự tử được như ông bà. Định mệnh an bài. Ông bà Zweig mà tự tử chậm một tí thôi, chỉ chưa đầy một mùa lá rụng sau ông bà đã thấy Đức Quốc Xã sụp đổ không còn viên gạch, Hít Le Ria Cứt Mũi chết tồi tàn hơn con chó chết.. Vợ chồng Anh Con Trai Bà Cả Đọi Cư xá Tự Do Ngã Ba Ông Tạ Cờ Tây Leo Dây Xe Kiếm Đen cửa Nhà Dây Thép Gió tuy ngu ngây song cũng biết như ai cái chân lý ngàn đời: “Chết là thoát. Chết là hết khổ. Chết là quỵt hết nợ nần. Chết là những tên khốn nạn không còn hành hạ được mình. Mình chết là chúng nó trơ mõm…”. Nhưng anh chị hổng chết được bởi vì trước hết anh chị nghèo quá, người ta nghèo không có miếng đất để cắm dùi, anh chị – những năm 80 – nghèo đến nỗi không có cả cái dùi đem đi tìm đất cắm nhờ. Sống đời dân Ngụy giữa lòng Thành Hồ những năm 80 muốn tự tử cho êm ả đôi chút cũng khó chứ không phải dễ.

Tôi đọc bản dịch Việt ngữ truyện “Lá Thư Của Người Không Quen Biết” từ trước 1945. Đến năm 1954, tôi đọc bản tiếng Pháp “Lettre d’une Inconnue“. Truyện tình cảm động ướt át thuộc loại truyện diễm tình những năm 1920. Một ông nhà văn nổi tiếng Áo quốc, quốc gia có dòng sông Đa Nuýp Bờ Lơ, tuổi đời chừng Bốn Bó, độc thân, một tối về nhà nhận được thư của một người phụ nữ không quen biết. Người phụ nữ viết thư cho ông kể cô ta là độc giả ái mộ ông, cô coi ông còn hơn cả thần tượng. Cô ở với bà mẹ gần nhà ông nhưng ông đâu có biết cô là ai. Còn cô, tất nhiên là cô biết ông. Không những cô chỉ biết ông mà thôi, cô còn mê ông nữa. Cô đọc văn ông và cô mê đến nỗi cô muốn được gần ông, được ông yêu, dù chỉ là được ông yêu một lần. Cơ hội đến với cô. Một tối khuya cô đứng tránh mưa trong cửa vào tòa nhà trên lầu có phòng của nhà văn lớn, cô gặp ông đi về. Cô chào ông và ông chào lại. Đôi người bắt chuyện nhau. Cô độc giả ái mộ này con nhà lành, còn nguyên trinh, đẹp, có duyên, có học. Ông nhà văn mời cô lên phòng. Cô lên theo ông. Ông mời cô ăn tối, cô nói với ông về cảm nghĩ của cô đối với những tác phẩm của ông. Và rồi chuyện phải đến đã đến. Nam nữ gặp nhau, thi văn đàn địch gì thì rồi cũng phải sát lại làm một. Cuộc tình văn nghệ, văn gừng, văn sĩ, nữ độc giả ái mộ thơm hơn múi mít êm đềm diễn ra không phải trên bàn viết với cái máy đánh chữ hay máy computer mà là trên giường với nệm bông, mền gối.

Thư người phụ nữ không quen biết viết tiếp: “Sáng ra anh còn ngủ, em lặng lẽ ra đi. Được gần anh một đêm, nhà văn thần tượng của em, được anh yêu, em thỏa mãn rồi. Em không còn đòi hỏi gì hơn. Em sống suốt đời em với cảm giác hạnh phúc khi em được anh yêu…”. Thế rồi cô viết tiếp: sau đêm yêu đương ấy cô có thai. Nhưng cô không cho nhà văn biết cô có thai. Cô chửa rồi cô đẻ, cô đẻ và cô đi mần cô nuôi con cô. Cô thương đứa nhỏ ghê gớm. Nhưng con cô và con nhà văn lớn bị bệnh… “… Khi em ngồi viết thư này cho anh con chúng ta sắp chết. Đêm khuya. Trời lạnh quá. Anh yêu ơi… Con của chúng ta đã chết rồi…”

Thư đến đây là hết. Ông nhà văn bàng hoàng. Người viết không đề tên, không cho ông biết địa chỉ, số phône. Đúng là thư của người nữ không quen biết. Mà người nữ không quen biết ấy lại là một nữ độc giả ái mộ, người từng ân ái với ông, người mẹ đứa con của ông mà ông không hay biết.

Không thể biết mức độ xúc cảm của ông nhà văn khi ông đọc bức thư ấy cao thấp chừng nào, cũng có thể ông tỉnh queo coi thư như một truyện ngắn. Chỉ biết những năm tuổi đời vừa ngoài một bó đọc truyện “Thư của người không quen biết” tôi thấy cuộc đời tư của những ông nhà văn mê ly hất hủi quá. Mấy ông được đàn bà đẹp yêu mê còn hơn cả kép hát. Chính vì bị mê hoặc bởi những truyện như “Thư của người không quen biết” nên ngay từ số tuổi chưa biết đàn bà với con gái giống nhau, khác nhau ra sao tôi đã mơ giấc mộng hoang tưởng cực kỳ là mai sau ta lớn ta mần văn sĩ.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 22)

Thế rồi, những mùa lá rụng theo nhau qua… Những năm tuổi đời ba bó có dzợ, có con, không có nhân tình, không dzợ bé, có công ăn, có việc làm báo, viết truyện giữa thành phố Sàigòn đẹp lắm Sàigòn ơi đọc lại truyện “Lettre d’un Inconnue” tôi nghĩ: “Ông văn sĩ tiểu thuyết hóa hơi quá. Đồng ý là các ông nhà văn lớn có nhiều nữ độc giả thơm như múi mít ái mộ nhưng ái gì thì ái đâu có ái quá xá ể như cô nữ sinh trong truyện này.” Bạn có thể nói tôi nghĩ như thế vì ghen tuông, vì tôi hổng được nữ độc giả nào ái mộ nên tôi ghen mí những ông nhà văn lớn. Bạn nói đúng một nửa. Quả thực là cả đời viết lách mấy chục mùa khoai lang, khoai sọ của tôi, tôi không có qua một nữ độc giả nào ái ố í é tôi cả, song thực tình tôi cũng rất muốn thấy những ông nhà văn lớn được nữ độc giả ái mộ đến cái độ cực kỳ như người nữ độc giả trong truyện “Lettre d’une Inconnue“. Mấy ông được nữ độc giả yêu thì có thiệt hại gì đến của chìm, của nổi của tôi đâu. Nhưng tôi nghi không có hoặc ít nhất có nhưng không đến cái độ kịch liệt đem thân nữ độc giả trinh nguyên con gái nhà lành tình nguyện hiến dâng một đêm cho nhà văn rồi lặng lẽ ra đi khỏi đời chàng, ôm bầu tâm sự, yêu con chàng cho đến đêm con chết mới chịu ngồi vào bàn cầm bút viết thư cho chàng. Trong cuộc đời thực tế phũ phàng ta thấy có nhiều ông văn sĩ lớn nhỏ bị vơ, bị người yêu bỏ rơi thảm hại thấy mồ đi.

Như đã kể hơn một lần: tôi có tật viết lang thang chuyện nọ dọ sang chuyện kia. Tôi không có ý định viết về nhà văn Stefan Zweig để nói về chuyện những ông văn sĩ nổi tiếng được nữ độc giả ái mộ yêu mê. Đây là chuyện về ông Stefan Zweig mà tôi muốn viết:

Những năm 1927, 1928 ở Nga Sô, Stalin đã lên nắm chính quyền khá lâu, một số nhân sĩ trí thức Âu châu được mời sang thăm nước Nga để thấy tận mắt cuộc sống hồ hởi của nhân dân Nga dưới chính thể xã hội chủ nghĩa công bằng, văn minh, tiến bộ, để thấy những xưởng máy hoạt động rộn rịp, những nam nữ công nhân Xô-viết hân hoan làm việc, những trường học sáng sủa, sạch sẽ, học sinh học không mất tiền, những bệnh viện khang trang, bác sĩ phục vụ tận tâm, lương y như từ mẫu, những công dân có bệnh vào nằm như thượng khách quốc gia, hưởng mọi phương tiện y khoa mà không phải chi một đồng kopek nào v.v… Trong số nhân sĩ trong phái đoàn thăm Nga Sô có nhà văn Stefan Zweig.

Ông viết: “… Một tối về phòng khách sạn, tôi thấy trong túi áo của tôi có bức thư không biết ai đã bỏ vào đó. Thư viết vắn tắt: “Ông đừng có tin những gì chúng nó bầy ra cho các ông thấy. Cuộc sống thực ở xứ này không như thế đâu. Thê thảm lắm. Chúng tôi khổ cực lắm…”

*****

Một buổi tối cuối năm trời lạnh ở Thành Hồ — năm 1981, 1982 — ông bạn chở tôi trên chiếc xe Bridgestone cọc cạch của ông – ở Thành Hồ những năm 80 còn đi xe gắn máy được là dân hách – tôi ấm lòng khi nghe ông nói:

- Thằng nào giỏi chửi cộng sản ngay ở đây nè. Sang Pháp, sang Mỹ thằng nào chửi cộng sản chẳng được.

Đọc bài Lời Mở Đầu đăng trên trang đầu tập Tắm Mát Sông Ngọn Đào tôi sướng rên mé đìu hiu khi thấy mình được gọi là “Kim Cang Bất Hoại”. Các vị trong Nhà Xuất bản Lá Bối dùng chữ tất nhiên phải đúng. Chắc quý vị dùng “Kim Cang Bất Hoại” để gọi những ai kia, không phải để gọi tôi. Tôi không kim cang bất hoại một ly ông cụ nào cả, tôi mềm hơi đậu hũ. Bị công an Việt cộng gọi từ xà lim ra phòng thẩm vấn, tôi mềm hơn bún thiu, tôi nhận tội liền tù tì tút suỵt. Không những chỉ nhận những gì bị cộng sản coi là tội mà thôi, tôi còn khai thêm những việc tôi làm mà họ không biết. Tôi không chối vì tôi thấy tôi chẳng có gì phải xấu hổ vì những việc tôi làm. Tôi nói với họ: “Tôi bắt buộc phải viết thôi. Mà viết là tôi phải gửi ra nước ngoài để phổ biến. Nếu không làm thế, tôi thấy tôi là thằng không có xương sống…”

Tôi nhận tội vì tôi biết tôi có nhận hay chối họ đã định giam tôi mấy niên là họ sẽ giam tôi đủ từng ấy niên. Bắt chước cộng sản đàn anh Nga, Tầu, Việt cộng có một cái gọi là Ủy ban Luận tội. Thành phần ban này gồm nhân viên công an, viện kiểm sát, tòa án. Kể là ba, nhưng chỉ là một. Ba anh đảng viên này quyết định án tù của người bị bắt. Người tù không bị đưa ra tòa sẽ chịu án tập trung cải tạo. Án này có cái khó chịu là không biết mức án mấy niên, án có thể co rãn, thường chỉ rãn chứ không co, cứ mòn mỏi ở trại khổ sai cải tạo mút chỉ cho đến ngày được gọi cho ra về.. Người tù bị đưa ra tòa sẽ bị bọn chánh án tay sai áp dụng mức án đã được cái gọi là Ủy ban Luận tội quyết định. Mức án của người tù đã được định trước khi tòa xử. Ra tòa, nếu người tù tỏ thái độ cương nghị, bất chấp cái gọi là tù đầy xã hội chủ nghĩa, bọn chánh án thường tăng mức án cao hơn, chẳng bao giờ chúng xử người tù dưới mức án phạt bọn Ủy ban Luận tội đã định trước.

Tòa án Việt cộng chỉ là nơi chúng dựng lên dễ tuyên những cái án đã định trước. Việc biện hộ, bảo vệ quyền lợi của người bị cáo trước tòa án cộng sản là chuyện vô ích. Tôi khó chịu khi thấy nhiều tổ chức tranh đấu nhân quyền thế giới vẫn đòi Việt cộng phải đưa những người tù lương tâm ra xử trước tòa. Đưa ra xử trước tòa án Việt cộng thì người tù lương tâm được lợi gì? Vẫn là án tù đó. Thay vì nó ỉm đi, nó đưa anh em đi tù mười niên, nó cho anh em ta ra tòa một buổi và nó tuyên án mười niên. Cũng vậy thôi. Muốn bảo vệ có hiệu quả đôi chút người tù chính trị, người ta phải đòi có luật sư đến với người tù ngay từ buổi thẩm vấn đầu tiên. Ít nhất người tù cũng phải được gặp riêng luật sư của mình vài lần trong thời gian giam cứu. Đòi nó đưa ra tòa xử và đến lúc đó mới gửi luật sư đến nói láp nháp dăm câu là việc làm ngớ ngẩn. Đòi cộng sản cho tù nhân chính trị được có luật sư, được gặp riêng luật sư trong thời gian giam cứu là chuyện Việt cộng nó không bao giờ tưởng tượng có thể có, nói gì đến chuyện nó chấp nhận.

Năm 1977 khi đến bắt tôi, bọn công an Thành Hồ vớ được tập thơ Ễnh Ương tôi để ngay trên bàn. Tập thơ này hiện nằm trong Kho Tang Vật Sở Công An Thành Hồ. Ba Trung Huỳnh Bá Thành nói với tôi trong cuộc thẩm vấn:

- Nếu anh làm thơ, hay anh viết bất cứ cái gì chống chúng tôi mà anh cất đi, chúng tôi không bắt anh đâu. Anh gửi ra nước ngoài thì chúng tôi phải bắt anh thôi…

Tù Đậu Hũ ngồi im re, trong bụng nghĩ thầm: “Anh đừng nói chuyện ruồi bâu, kiến đậu. Tôi viết rồi cất đi làm sao anh biết mà bắt tôi được. Nói vớ vẩn!” Tôi không nói ra ý nghĩ của tôi vì tôi thấy: nói ra làm quái gì, chỉ dậy khôn chúng nó. Dậy khôn cho nó là việc mình không nên làm.” Chẳng hạn như khi Ba Trung nói đến tên ông William Colby, Y gọi là “… Côn Bai…” tôi không sửa là “Côn Bi”. Tôi nghĩ thầm: “Lạ nhỉ. Nó biết nói Ken Nét Đi sao nó không gọi là Côn Bi mà gọi là Côn Bai…”

Huỳnh Bá Thành có lẽ vì ít học nên có mặc cảm tự ti, thỉnh thoảng lại nhét cho bằng được vài câu tiếng Mỹ vào những trang truyện hắn viết. Trong một đoạn tả Cớm Cộng thẩm vấn tù nhân, Huỳnh Bá Thành viết:

- Anh tên gì?

- ….

- Không. Cho tôi biết full name của anh kia…

Công an Việt cộng hỏi cung tù nhân Mít trong ngục tù thành phố Hồ Chí Minh quang vinh mà tự dưng tương vào hai tiếng full name. Thật quái dị.

Trong một buổi hỏi cung tôi năm 1977, 1978, Ba Trung hỏi:

- Anh nghĩ có thể nào những tổ chức văn hóa tư bản, như giải Văn Chương Nobel chẳng hạn, nó trao giải thưởng cho nhà văn ngụy trong nước để làm khó nhà nước ta không?

Tôi nghĩ đến Mai Thảo. Chắc Ba Trung khi nói đến câu đó cũng nghĩ đến Mai Thảo. Năm ấy, Hà Nội chưa có vụ Nguyễn Chí Thiện cầm tập thơ chạy vào gửi ở Tòa Đại Sứ Anh Quốc. Tôi nghĩ: “Làm mẹ gì có chuyện ấy. Nếu Nobel mà phát giải nhăng cuội như vậy thì Nobel đâu còn là Nobel nữa. Cộng sản Tàu chiếm Trung Hoa đã gần hai mươi niên rồi có tên văn sĩ Tầu ca tụng chủ nghĩa cộng sản hay chống chủ nghĩa cộng sản nào được Giải Văn Chương Nobel đâu? Việt Nam còn khuya…” Tôi nghĩ thế nhưng nói chuyện đó với Ba Trung làm quái gì? Tôi chỉ trả lời lửng lơ con cá vàng:

- Tôi chắc không có chuyện đó đâu.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 23)

Chúng tôi, bọn văn nghệ sĩ Sàigòn bại trận, chúng tôi có anh có em. Trong nhục nhã, trong khổ cực, chúng tôi vẫn có nhau, chúng tôi vẫn là những văn nghệ sĩ Sàigòn. Cảnh “phi cầm, phi thú” hiện ra rõ nhất trong những cái gọi là buổi sinh hoạt tại Hội Văn Nghệ Sĩ Thành Phố Hồ Chí Minh, trụ sở đặt trong tòa nhà có vườn rộng trước 75 là một cơ sở nghe nói là Tình báo của Việt Nam Cộng Hòa, góc đường Trương Minh Giảng, Tú Xương. Bọn trong Ban Chấp Hành cái gọi là Hội Văn Nghệ, thường là Tổng thư ký Việt Phương, lên Ủy ban thành phố họp nghe chỉ thị gì đó về phổ biến với các văn nghệ sĩ. Những buổi như thế gọi là buổi sinh hoạt.

Trong những buổi sinh hoạt này bọn trong Ban Chấp Hành Hội ngồi hàng ghế chủ tọa đối diện với hàng ghế của văn nghệ sĩ Sàigòn. Hai bên ngồi đối mặt với nhau. Hai anh Kỳ Nhông, Kỳ Đà Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn cũng dự buổi sinh hoạt. Hai anh không thể ngồi cùng hàng ghế hay ngồi sau lưng bọn Giải Phóng Miền Nam. Sức mấy chúng nó cho hai anh ngồi chung. Hai anh không ngồi chung chỗ với bọn chúng tôi, chắc hai anh sợ ngồi với chúng tôi hai anh xấu hổ…

Hai anh ngồi sau đít bọn Văn nghệ Giải phóng đối diện với bọn văn nghệ sĩ Sàigòn bại trận không được, hai anh không muốn ngồi chung với bọn văn nghệ sĩ Sàigòn nhục nhã. Dzậy thì trong những buổi họp chia hai phe rõ rệt mặt đối mặt, chính tà hai phái như dzậy hai anh Kỳ Nhông đặt đít ở đâu???

Hai anh ngồi ở hai ghế bên cạnh. Hai anh không ngồi trong phe giải phóng, hai anh cũng không ngồi trong phe Việt Nam Cộng Hòa bại trận.

Dường như Phạm Trọng Cầu — Phạm Trọng: Em ra đi mùa thu…. mùa thu không trở lại… cũng đã được sáng mắt, sáng lòng đôi chút trước cái gọi là xã hội chủ nghĩa do cách mạng vô sản dựng lên vì thấy nó bê bối, bết bát, dơ dáy quá đỗi. Nhiều anh chị nhờ gia đình có tiền cho sang Tây ăn học đớp phải bả xã hội chủ nghĩa, tưởng bở, hung hăng con bọ xít, theo đuôi cộng sản mần “cách mạng”, bị cộng sản cho hộc máu, vỡ mặt khi chúng cướp được chính quyền. Điển hình và đại diện cho giới “phi cầm, phi thú” này là Mợ Dương Quỳnh Hoa. Nghe nói chỉ sau vài mùa kỷ niệm bác Hồ đầu thai Phạm Trọng đã có vẻ thất vọng. Phạm Trọng có mần lời ca theo điệu nhạc bài Quê Em — Quê em miền Trung du. Đồng quê lúa xanh rờn. Giặc tràn lên cướp phá. Anh về quê cũ. Đi diệt thù giữ quê. Giặc tan đón em về – Lời ca của Phạm Trọng theo nhạc Quê Em có câu mở đầu:

Ba tôi trồng khoai lang…
Đào lên thấy khoai mì
Thật là điều phi lý…

Những anh Kỳ Nhông đi theo cộng sản mần “cách mạng xây dựng xã hội chủ nghĩa” tưởng bở: Xã Hội Chủ Nghĩa nhất định phải tốt đẹp hơn xã hội tư sản dân chủ. Mấy ảnh vỡ mộng khi thấy sao nó bẩn quá. Thứ củ có thể ăn được người Bắc gọi là sắn, người Nam gọi là mì hoặc khoai mì. Những chị đi bán rong trong những xóm nghèo thường rao: “Ai khoai lang, khoai mì…” Thứ củ người Nam kêu là củ sắn, người Bắc gọi là củ đậu. Ông bố mấy anh Kỳ Nhông trồng khoai lang, đào lên thấy khoai mì cũng còn là khá, ông nội anh không có trồng khoai lang, khoai mì, ông nội ác ôn của anh trồng người. Các em nhỏ bất hạnh bị đem ra trồng đầu vùi dưới đất, chân chổng lên trời. Ở những cánh đồng cách mạng vô sản ấy, khi đào đất lên người ta không thấy khoai mì, khoai lang chi cả, người ta chỉ thấy có sọ người, có xương người và máu người.

Lo việc mười năm trồng cây
Lo việc trăm năm trồng người.

Câu nói của một Quân Tải Tàu nào ngày xưa, được ghi trong sách Minh Tâm Bảo Giám do ông Đoàn Trung Còn biên soạn. Già Hồ mượn dùng cũng được đi. Nhưng trồng là trồng cây: trồng cây si, trồng đậu, trồng gạch, trồng gì cũng được, “trồng người” nghe sao man rợ quá trời. Những anh cộng sản coi đồng bào như những con vật để họ sai khiến, bóc lột, như những cái cây để họ đem trồng. Những em bé Việt Nam bất hạnh được coi là những khúc măng non…

Em là khúc măng non…
Em chín queo trong nồi cách mạng

và:

Cháu lên ba… Cháu vô mẫu giáo
Cô thương cháu là cháu không khóc nhè…
Không khóc nhè…. È é e…
Em vào trường học
Mẹ cha vào nhà máy…
Ông bà lo cấy cầy…

Ông bà lo cấy cầy??? Chèng đét théng thèng ơi… Ông bà xã hội chủ nghĩa cho có trẻ lắm cũng phải sáu mươi, bẩy mươi… Khứa lão lọm cọm sống trong xã hội thối nát tư sản đến tuổi sáu bó là đã bị con cháu cho ngồi chơi xơi nước. Khứa ông buổi sáng nhâm nhi ly trà tầu nếu có tiền, ly nước vối nóng nếu sống giản dị, để móng tay dài, râu ba chòm, tay phe phẩy cái quạt, chống gậy đi chơi, gặp ông bạn cũng khứa lão đánh vài ván cờ tướng, trưa mùa rét ăn cơm uống ly rượu tăm rồi ngáo. Khứa bà trông nom các cháu, giúp con dâu, ngày rằm, mùng một lên chùa lễ Phật, sáng sáng chiều chiều đến nhà thờ cảm ơn và xin ơn Thiên Chúa.

Đấy là đại khái vài hình ảnh, cuộc sống những ông già, bà lão trong xã hội tư sản. Những ông gia,ø bà lão trong xã hội vô sản ra đồng làm trâu bò cho đến lúc ngã xuống thở hơi cuối cùng. Trong khi đó thì thi sĩ Đảng Tố Hữu mần thơ diễn tả tấm lòng cao cả của bác Hồ muôn kính, ngàn yêu, ngày đêm bác vẫn mơ mộng làm sao để có:

Sữa tặng em thơ, lụa tặng già

*****

Trích Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, trang 82 đến 91

Thời gian một tuần đã trôi qua. Như thường lệ, sáng hôm ấy, Tư Tuân dến cơ quan từ sáu giờ rưỡi sáng. Còn đúng một tiếng đồng hồ nửa mới đến giờ làm việc, chỉ có các cán bộ trực đêm có mặt. Anh tự nấu nước để pha trà. Đêm qua, anh thức quá khuya để đọc đi đọc lại những bài đăng trên các báo phản động của bọn di tản. Dạo này, trời cuối năm trở lạnh làm những khúc xương của anh đau ê ẩm. Những năm tháng gian khổ trong ngục tù, những trận đòn man rợ của quân thù, những cơn sốt rét kéo dài đã tàn phá sức khỏe của anh như mưa nắng dội lên cội tùng già. Dường như bộ phận nào trong lục phủ, ngũ tạng của anh cũng suy yếu. Anh đã cố gắng chăm chút giữ gìn sức khỏe, thường xuyên luyện tập để có thể tiếp tục đứng vững. Năm mười hai tuổi chưa phải lúc cam chịu tụt về tuyến sau của cuộc sống đang rực lửa.

Vào khoảng hơn một giờ sáng, vợ anh thức giấc dục anh đi ngủ. Thấy anh vẫn chong đèn đọc, chị dậy pha cho anh ly sữa. Chị cũng là cán bộ, có thể hiểu và chia xẻ trách nhiệm nặng nề của chồng, nhưng cũng không thể để cho anh ngã bệnh.

- Này ông, ông tính làm cho mau chết hay sao? Việc gì cũng để đến mai làm tiếp có được không?

Anh cười giả lả:

- Bà lấy cái chết để dọa tôi đấy hả? Tụi mình sống được đến ngày nay là đã lời quá rồi, lẽ ra đã theo ông bà lâu rồi…

- Thôi đừng nói liều ông ơi! Chết thì không ai sợ, nhưng ngã xuống đau thì dừng báo hại vợ con.

- Bà đừng có lo, tôi coi vậy chứ ngon lành lắm, mấy cậu thanh niên theo không kịp đâu — Anh cười làm lành với vợ — Này, vậy chớ bà đã mua thuốc cho tôi chưa?

Chị Tư làm mặt giận:

- Xí, thuốc với thang. Người ta uống thuốc thì phải nghỉ ngơi, chứ làm thí mạng như ông thì uống làm gì. Chừng nào ông xin nghỉ phép năm thì tôi mới mua cho ông uống.

Tư Tuân lặng thinh. Anh không giận vợ — đúng hơn càng thương vợ. Nhưng chính lúc ấy, anh cảm thấy cột xương sống tê buốt. Nó muốn thừa cơ hội để tấn công anh chăng? Bệnh tật, làm thế nào tránh khỏi khi người ta đã ngoài năm mươi với ngần ấy gian truân. Tư Tuân hai mươi năm về trước còn đủ sức mang vác ba lô, vũ khí nặng mấy chục ký lô đi liền mấy ngày không nghỉ. Tư Tuân của tuổi hai mươi đã là một tiền đạo có tiếng của đội bóng tiểu đoàn.

Thấy anh trầm mặc, chị Tư sợ chồng giận, nắm bàn tay chồng thỏ thẻ:

- Thôi khuya rồi, mình đi ngủ đi mai còn đi làm.

Lát sau, Tư Tuân mới nói với vợ:

- Anh bao giờ cũng nghĩ rằng em rất hiểu anh và lo lắng cho anh. Em xem, tụi mình sống, lấy công tác làm vui. Nhiều lúc anh cũng muốn nghỉ vài tuần phép, cũng có lúc muốn xin đi chữa bệnh dài hạn, nhưng anh sợ nhất là sự nhàn rỗi. Vô công rỗi nghề thì buồn bực không gì bằng. Thôi thì cứ làm việc còn hơn. Nói vậy chứ mình đâu có phung phí sức. Nếu em thuốc thang cho anh thì anh còn sống lâu với em và các con chớ đâu đã đến nỗi nào.

Nghe anh nói, chị Tư ứa nước mắt. Chị có tính hay mủi lòng. Thương vợ, anh đã xếp hồ sơ và lên giường ngủ. Đến năm giờ sáng, theo thói quen, anh đã dậy tập thể dục, ăn qua loa mấy chén cơm chiên và đi làm. Khi anh dắt xe ra khỏi nhà, chị chạy theo trao cho anh một lọ thuốc và dặn:

- Em nhờ mấy anh bên Viện Y học dân tộc làm thuốc tễ cho anh đây, nhơ uống năm viên một lần vào lúc nửa buổi sáng và một lần trước bữa cơm trưa nghe.

Giờ đây ngồi ở bàn làm việc, Tư Tuân càng thấy thương vợ. Anh mở cặp lấy lọ thuốc ra, mở nắp đưa lên mũi ngửi. Vị thuốc thơm thơm làm anh sao xuyến.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 24)

Trích NTBKCB, tiếp theo:

Những hàng chữ trên các tập sách báo phản động vẫn lướt qua mắt anh, chúng thoạt nhòe đi khi anh nghĩ đến vợ và hiện ra những vết đen bẩn thỉu trên mặt giấy trắng chẳng khác gì lũ vi trùng trên tiêu bản đặt dưới ống kính hiển vi. Thật gớm ghiếc. Thế mà Tư Tuân vẫn phải đọc, vẫn phải chép trên giấy những đoạn cần thiết để làm tư liệu.

Nghe ấm nước sôi, Tư Tuân buông cây bút xuống bàn. “Mình cũng chưa hiểu hết chúng” — Anh tự nhủ thầm trong lúc pha trà — “Chúng là thế đấy. Đến lúc này mới nắm được là quá chậm”

Chén trà đầu tiên buổi sáng làm anh nguôi ngoai đi nỗi bực dọc. Chính lúc đó Kiên Trinh tươi tỉnh bước vào. Tư Tuân lên tiếng chào:

- Trà mới pha đấy. Còn sớm nên mình đang lo phải độc ẩm thì buồn chết. Trà ngon không có bạn hiền không ngon.

- Tôi đoán thế nào anh cũng đến sớm mà!

Trên bàn làm việc của Tư Tuân, cạnh ấm trà mới pha là bao thuốc lá Mai còn nguyên. Tư Tuân không nghiện thuốc, nên Kiên Trinh biết chỉ huy đơn vị dành cho anh.

- Thế nào, nhà nghiên cứu văn học! Tư Tuân thường có lối dùng từ ngữ dí dỏm như thế.

Kiên Trinh kéo ghế ngồi, nhận chén trà của người chỉ huy trao. Anh là thí sinh sắp trả bài, mà người chấm thi vui vẻ này lại rất nghiêm khắc khi ra đề thi. Anh lấy từ trong áo ra một tờ giấy nhỏ có ghi độ mươi dòng và cây bút bi.

- Cậu chưa chuẩn bị xong à? Tư Tuân ngạc nhiên hỏi.

- Tôi sẵn sàng báo cáo. Kiên Trinh giọng nghiêm túc.

- Nghĩa là cậu đã thuộc lòng? Tư Tuân cười. Thế thì tốt. Nào ta bắt đầu đi!

- Xin anh cho biết ta nên bắt đầu từ đâu?

Tư Tuân lại cười:

- Chà, cậu khôn lắm. Cậu nhường cho tôi giao bóng trước để thăm dò chứ gì? Thôi được, cậu lần lượt giới thiệu từng chương của “công trình nghiên cứu văn học” của cậu đi. Trước hết, sau khi nghiên cứu các bài vở đăng trên báo chí của bọn phản động lưu vong, được chúng quảng cáo là do các tác giả trong nước gửi ra, cậu thấy thật giả thế nào, nếu có thật thì khả năng tên nào viết? Hai là nếu có bọn trong nước viết bài thì chúng gửi ra bằng đường nào, làm sao phát hiện các đường dây ấy?

Kiên Trinh dụi điếu thuốc vừa mới đốt vào gạt tàn. Anh nhìn vào tờ giấy trước mặt. Chắc chắn với mười dòng chữ trên đó không thể nào gói gọn nội dung trả lời hai câu hỏi ấy. Tuy thế, Tư Tuân biết rõ người cán bộ dưới quyền mình đã chuẩn bị để giải đáp các vấn đề do anh đặt ra. Nhưng cậu ta vẫn có thói quen chừng nào vấn đề còn phải được bàn cãi thì chưa vội viết thành văn bản báo cáo. Kiên Trinh giải thích rằng viết các báo cáo mà vấn đề chưa được nghiên cứu hoàn chỉnh là động tác thừa. Tư Tuân tán đồng quan điểm ấy và anh cũng đã rất tin vào trí nhớ của đồng chí mình. Đối với anh, trí nhớ tốt là điều kiện bắt buộc của nghề nghiệp. Hàng chục năm làm cán bộ quân báo trong kháng chiến, anh đã có thói quen bắt bộ óc phải ghi nhận tin tức, tài liệu thay cho giấy tờ để bảo đảm an toàn, chỉ khi nào cần gửi báo cáo đi xa anh mới dùng đến chữ nghĩa dầu là với mực bí mật hoạc vi ảnh.

- Xin báo cáo trước với anh, những điều tôi sẽ trình bày chỉ là đánh giá từ những cơ sở chưa có chứng cứ chắc chắn. Tôi đã đọc hai mươi mốt bài ký tên mười bốn tác giả khác nhau. Dựa trên nội dung, cách hành văn, tôi tin rằng ít nhất có mười lăm bài do ít nhất bốn tên từ trong nước gửi ra, nhưng lấy nhiều bút hiệu. Dĩ nhiên không có tên nào dại dột dùng bút hiệu cũ. Cái khó là chỗ đó. Nhưng điều may mắn là văn chương cũng như chữ viết có đặc điểm riêng của người viết. Hình như khoa học hình sự chưa có bô môn xác định văn phong như xác định tự dạng. Tuy thế không phải ai cũng viết văn được. Do đó, số người viết văn không nhiều lắm, nên ta dễ “khoanh” lại.

- Hay lắm — Tư Tuân cười hóm hỉnh — Xem ra cậu có thể là nhà phát minh ra một môn mới trong khoa học điều tra hình sự rồi đấy. Cậu đang giữ bóng tốt đấy, sút đi.

- Trong số 15 bài ấy có hai truyện ngắn, bốn bài thơ, ba bài phóng sự, hai bài nghị luận chính trị, văn học và bốn bài phiếm luận. Tất cả đều là những loại chống cộng “có cỡ” cả. Tôi xin trình bày từng loại dễ “nhận diện” nhất. Đó là loại phiếm luận như bài tựa “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai” chắc chắn tác giả của nó trước đây thuộc nhóm “nồi niêu xoong chảo” của báo Hòa Bình do Anh Quân chủ trương. Anh Quân bỏ báo Hòa Bình đem theo cả nhóm này về báo Độc Lập. Hiện nay ở thành phố ta chỉ còn vài ba tên trong cái nhóm đó thôi. Còn những bài ký tên Công tử Hà Đông tôi nghĩ đến Hoàng Hải vì tên này quê quán ở Hà Đông, vốn công tử bột, con thầy Thông phán, cháu ruột quan tri huyện.

- Tạm chấp nhận cách suy luận và “bộ môn xét nghiệm” văn phong của cậu — Tư Tuân suy nghĩ rồi phát biểu — Nếu giả thuyết đó đúng thì vấn đề còn lại là… bắt đối tượng vào lưới nhặt bóng. Nhưng chính sự thành công dễ dàng ấy khiến ta không dễ dàng chấp nhận cách nhìn đơn giản toàn bộ vấn đề. Cậu nghĩ xem đằng sau các tờ báo rẻ tiền ấy là gì? Trong những điều kiện hiện nay, thử hỏi chúng sử dụng loại tay sai nào khác cho những hoạt động chiến tranh tâm lý? Nhiều khi chiến tranh tâm lý chỉ là những thứ hỏa mù để che đậy cho những hoạt động ngầm khác, đành rằng loại kẻ thù này chúng ta đã từng chạm mặt và quá quen thuộc bài bản của chúng: chúng rất “rẻ tiền” nhưng cũng rất xảo quyệt. Bọn trong nước gửi bài, tin, bọn bên ngoài đăng trên báo, tạp chí. Gần đây lại có thêm đài phát thanh của bọn được mệnh danh là “phục quốc” đặt ở biên giới Thái Lan cũng đã léo nhéo phát trên sóng nhiều bài, tin của bọn này. Cứ bên ngoài bọn chúng càng la to, bọn bên trong càng dễ lộ mặt. Việc làm này của chúng nào có khác gì cho “voi đẻ giữa chợ” thì khó nói đến chuyện giấu kín được.

Bọn chúng đánh giá thấp chúng ta chăng? Tư Tuân tự đặt một câu hỏi và liền sau đó anh ta tự trả lời — Chưa hẳn thế. Đánh nhau mấy chục năm, biết rõ nhau quá rồi. Nhưng chúng vẫn chống ta vì hận thù, vì ảo tưởng. Hơn thế nữa, chống cộng là hái ra tiền. Thằng nào cũng có “mánh” riêng. Cái đám Hoàng Cơ Minh, Phạm Văn Liễu lợi dụng chiêu bài “phục quốc” để quyên tiền trong số người Việt di tản và đút vào túi hàng chục triệu đô la của nước ngoài. Trần Tam Tiệp cũng vậy thôi. Có khác nhau chăng là hắn nhân danh hoạt động văn hóa để tổ chức quyên góp và nhận tài trợ của bọn phản động các nước để “cứu tế” văn nghệ sĩ ở trong nước. Giờ đây, nếu nằm im không “lên tiếng” bằng cách này hay cách khác thì moi được tiền của ai, nhất là bọn chủ của chúng cũng chẳng phải bọn ngu ngốc cứ tung tiền mà không thu lại được gì. Đám văn nghệ sĩ phản động còn lại trong nước đối với chúng vẫn còn có tác dụng trong việc gây lung lạc một số quần chúng trong và ngoài nước. Bọn này bị “tóm” ư? Chẳng lỗ lã gì với bọn quan thầy. Thậm chí chúng sẽ vin vào đó để mở chiến dịch vu cáo cộng sản khủng bố tù đầy văn nghệ sĩ. Và đây lại là một cú áp phe mới. Rồi sau đó, chúng tiếp tục tìm cách tạo dựng ra những âm binh mới để tác động, hòng gây tình hình không ổn định thường xuyên cho ta. Tôi nói thủ đoạn của chúng “rẻ tiền” vì hai lẽ: một là nó ít tốn kém mà có hiệu quả, hai là nó không có gì mới lạ. Song đó cũng chính là sự xảo quyệt của kẻ thù. Liên hệ thực tế vụ án này cậu nghĩ thế nào?

- Thú thật với anh, khi khoan lại diện đối tượng như đã trình bày và cho anh em rà lại để xác minh đánh giá của mình, tôi cảm thấy thất vọng vì đã có những cơ sở bước đầu cho thấy giả thiết của tôi có khả năng là hiện thực. Tôi thất vọng vì cái mà anh gọi là thành công dễ dàng và sự “rẻ tiền” của đối thủ mình. Còn điều thứ hai mà anh gợi ý, quả thật tôi chưa nghĩ đến.

- Đừng vội thất vọng, anh bạn trẻ. Hãy đi vào vấn đề cụ thể này là làm thế nào chúng có thể gửi đều đặn các bài viết ra ngoài? Hẳn có đường dây ổn định. Nghĩa là có một tổ chức hẳn hoi, một thứ “tòa soạn tại chỗ” để đặt hàng và trả tiền cho bọn bồi bút đó. Cái tòa soạn bí mật đó là đối thủ trực tiếp của chúng ta. Cậu có tin tức gì chưa? Nếu chưa có thì tính toán để có lời giải tiếp theo.

Tư Tuân làm việc không biết mệt mỏi, làm ngày, làm đêm. Mần việc đến một, hai giờ đêm, ngáo đến năm giờ sáng mà đã mò dậy tập thể dục và “ăn qua loa mấy chén cơm chiên…” Mèn ơi, cơm chiên mà đảng viên ta chỉ đớp qua loa mỗi sáng có mấy chén thôi. Cơm chiên mà đảng viên ta buổi sáng đớp qua loa được những mấy chén thì dù không có ưa cộng sản đến mấy, ta cũng phải nhận đảng viên đớp khỏe quá. Đảng viên có thể đau bất cứ bệnh gì, song chắc chắn không phải là đau dạ dày.

Khi anh dắt xe ra khỏi nhà chị chạy theo trao cho anh lọ thuốc và dặn:

- Em nhờ mấy anh bên Viện Y học dân tộc làm thuốc tễ cho anh đây, nhớ uống năm viên một lần vào lúc nửa buổi sáng và một lần trước bữa cơm trưa nghe.

Giờ đây ngồi ở bàn làm việc, Tư Tuân càng thấy thương vợ. Anh mở cặp lấy lọ thuốc ra, mở nắp đưa lên mũi ngửi. Vị thuốc thơm thơm làm anh sao xuyến.

Ta nói “nửa đêm” nhưng chẳng ai nói “nửa buổi sáng”. Ta nói “giữa buổi sáng” hay chín, mười giờ sáng. Riêng Cớm Cộng vợ dặn chồng uống thuốc vào lúc “nửa buổi sáng”. Nhưng thôi, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ ấy. Ta nên nói đến thứ thuốc tễ đặc bịt mà Cớm Tư Tuân, trong lúc ngồi lên phương án truy tầm tung tích và tóm bọn Biệt Kích Thành Hồ, đưa lên mũi ngửi và thấy thơm thơm.

Sau ngày Ba Mươi Tháng Tư những người dân Việt Nam Cộng Hòa bại trận tối tăm mắt mũi trong một sớm một chiều thấy mình mất hết tất cả. Sàigòn đang đầy ắp hàng hóa, thực phẩm, thuốc men, Việt cộng trên răng vẩu, cải mả, dưới lựu đạn thối, ngơ ngáo dắt nhau vào Sàigòn, bỗng dưng Sàigòn trở thành một Chợ Trời, chợ vỉa hè khổng lồ. Tất cả những cửa hàng đều đóng cửa. Những người có tiền gửi ngân hàng đều không được lấy ra, mất trắng. Những người mắc nợ ngân hàng, nợ Nhà Nước VNCH, bị Việt cộng truy tầm đòi trả nợ đến nơi, đến chốn. Nhiều người miền Nam Cộng Hòa cũng biết bọn Việt cộng Bắc Kỳ đói khổ nhưng thực tình chẳng ai ngờ chúng lại đói rách đến cái độ cực kỳ như thế.

Bọn lý thuyết gia cộng sản từng viết những câu hung hăng con bọ xít hơn cả thánh tổ của chúng là Các Mác, Ăng Ghen — anh cu Lê Nin không đáng được nói đến — chẳng hạn như câu:

- Chủ nghĩa tư bản ngay từ lúc nó ra đời đã mang máu tươi trên từng lỗ chân lông của nó…

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 25)

Lời nhận xét và kết tội ấy áp dụng cho chủ nghĩa cộng sản mới đúng. Cũng như câu tiên đoán của Mác trong tuyên ngôn của đảng cộng sản năm 1884.

Chủ nghĩa tư bản có đặc tính ăm bám, thối nát và đang giẫy chết.

Đến giờ này mà còn lải nhải kể chuyện cộng sản chuyên môn lừa bịp nhiều Cố Hồng chắc chắn sẽ kêu: “Biết rồi… Khổ lắm… Nói mãi…” Vì vậy chỉ kể sơ thôi. Thuốc men Nga cộng, Tầu cộng là thứ dở ẹt nhất thế giới. Nga cộng, Tàu cộng chỉ chi viện súng đạn, mìn, hỏa tiễn cho đàn em. Nhưng Tầu cộng có phương thuốc tễ thần sầu quỷ khốc bổ dưỡng cho các lãnh tụ, những bạo chúa cuối thế kỷ hai mươi.

Tầu cộng truyền phương thuốc bí truyền lãnh tụ cộng sản chi bảo ấy cho đàn em Việt cộng. Cũng rất có thể đàn anh khoảnh độc, giữ bí mật chỉ cho đàn em thuốc sực thôi, không chỉ cách mần. Nhưng đàn em ma lanh, ma bùn, học lén được bí kíp chế tạo mật phương. Nhờ bí phương này có thể nói tất cả lãnh tụ cao cấp thế giới cộng sản đều béo tốt, hồng hào, phương phi trông no đủ hơn hẳn những nhân vật lãnh đạo các nước tư bản.

Phương thuốc bổ dưỡng đại quý Việt cộng học lén được của đàn anh Tầu cộng là Nhân Cao. So với Nhân cao, thì cao hổ cốt, cao ban long, cao xương khiếu, cao khỉ đột không đi đến đâu. Nhân cao, hay cao nhân, như tên gọi, là cao người, được cộng sản làm bằng thịt và xương người. Không phải thịt và xương những người tầm thường đã mất nguyên khí hay nguyên trinh mà là xương thịt thai nhi. Trong cái gọi là xã hội chủ nghĩa dài lòng thòng việc con gái — những cháu ngoan bác Hồ mười sáu, mười bẩy tuổi, con gái còn trinh chứ không phải đàn bà — chửa hoang đi nạo thai là việc được chế độ khuyến khích, bảo vệ. Thai nhi được lấy ra bất chấp sự an nguy của người mang thai. Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa thiên hạ lấy thai ra khỏi bụng mẹ như thiến gà, thiến chó.

Ở những xưởng đẻ Xã hội Chủ nghĩa thai con nít nhiều đến nỗi được lấy đi nuôi lợn. Một số thai được dược học Xã hội Chủ nghĩa làm thành Nhân cao. Những cái tên gọi là Viện Y Học Dân Tộc Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ có mỗi một thứ thuốc khốn nạn gọi là Xuyên Tâm Liên. Nhân cao chỉ để dành cho cán bộ đảng viên. Thứ thuốc vợ Tư Tuân nhờ mấy đồng chí bên cái gọi là Viện Y học Dân tộc đặc chế đưa cho chồng chính là một trong những dược phẩm nhân cao ác ôn. Nhân cao được làm bằng xương, thịt, máu bào thai, bất cứ người nào ngửi cũng thấy tanh tưởi. Bọn công an cộng sản không giống người thường, như Tư Tuân chẳng hạn, y ngửi thấy thơm thơm.

Theo như chi tiết được tả Cớm Tư Tuân phải làm việc ngày đêm, ăn thì chỉ ăn sáng qua loa có mấy chén cơm chiên – Cớm mà đớp thật tình chắc phải hết cả chảo – mà Cớm mần việc chi mà dữ quá dzậy? Ngôn từ Việt cộng gọi là “khẩn trương”. Cớm ngày đêm đọc “sách báo của bọn phản động lưu vong ở nước ngoài” tìm xem những tên gan cóc tía nào sống dưới gông cùm cộng sản mà dám viết những bài tố cáo tội ác cộng sản, mô tả đời sống cực khổ của nhân dân, cười khóc thay cho nhân dân, nguyền rủa cộng sản thay cho nhân dân. Tìm ra những tên mật lớn này để tóm cổ chúng nhốt vào tù mút mùa Đỗ Đít.

Việc làm này dễ ợt, dễ hơn đớp cơm sườn. Những năm 81, 82 ở Thành Hồ, bọn văn sĩ Sàigòn viết được và dám viết bài gửi ra ngoại quốc có thể đếm được trên mấy đầu ngón tay. Để có thể có những bài viết, gọi là bài viết thôi, đừng nói đến “tác phẩm” đao to búa lớn — để có thể có được những bài viết tả đời sống thật của nhân dân Thành Hồ gửi ra nước ngoài, điều kiện cần nhất và quan trọng nhất là người viết “dám viết, dám gửi đi, nhận chịu nguy hiểm”. Nhiều ông ra được nước ngoài viết vung xích chó, viết loạn cào cài châu chấu, nhưng trong khi còn ở trong nước thì thủ khẩu như bình, một chữ cũng không viết đi. Mấy ông như dzậy là mấy ông khôn. Chỉ có những thằng ngu sống dưới ách Việt cộng chưa biết chết lúc nào mà còn ngứa ngáy viết bậy viết bạ gửi ra nước ngoài. Bị tù mút chỉ cà tha, bị bỏ mạng trong tù là đáng kiếp.

Nhưng đến đoạn này ta lại thấy lòi ra anh Cớm cộng Kiên Trinh. Vậy là thủ trưởng giao việc điều tra tóm bọn văn nghệ sĩ Sàigòn viết bài gửi ra nước ngoài cho Tư Tuân, Tư Tuân trao việc này cho Kiên Trinh. Vậy mà vừa mới đoạn trên ta thấy tả Tư Tuân nghiên kíu điều cha, điều mẹ ngày đêm, chị vợ phải đi kiếm nhân cao cho đương sự tẩm bổ. Đây là lời báo cáo của anh cớm cộng có cái tên không hợp với cớm cộng chút nào là Kiên Trinh:

- Trong số 15 bài ấy có hai truyện ngắn, bốn bài thơ, ba bài phóng sự, hai bài nghị luận chính trị, văn học và bốn bài phiếm luận. Tất cả đều là những loại chống cộng “có cỡ” cả. Tôi xin trình bày từng loại dễ “nhận diện” nhất. Đó là loại phiếm luận như bài tựa “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai” chắc chắn tác giả của nó trước đây thuộc nhóm “nồi niêu xoong chảo” của báo Hòa Bình do Anh Quân chủ trương. Anh Quân bỏ báo Hòa Bình đem theo cả nhóm này về báo Độc Lập. Hiện nay ở thành phố ta chỉ còn vài ba tên trong cái nhóm đó thôi. Còn những bài ký tên Công tử Hà Đông tôi nghĩ đến Hoàng Hải vì tên này quê quán ở Hà Đông, vốn công tử bột, con thầy Thông phán, cháu ruột quan tri huyện.

Chàng Công tử Hà Đông sướng rên mé đìu hiu — chữ của Duyên Anh Tuổi Ngọc những năm tháng xa xưa — khi được Cớm cộng gọi là “Công tử bột”. Dân Bắc kỳ ngày xưa — ngày xưa tức là phần đầu nửa thế kỷ Hai mươi Trần ai khoai củ — có câu “Công tử Bột, Tiểu thư Vôi” để gọi những cô cậu cũng ăn diện đấy nhưng không được thanh lịch, không sang, rẻ tiền. Đúng vậy, Công tử Hà Đông đúng là một thứ Công tử Bột Bắc kỳ điển hình và chính cống. Nhưng mà Công tử Bột cũng là, vẫn là công tử. Đời trước, đời này, đời sau không biết ra sao, có thật ít người dám nhận mình là công tử. Vài ba anh tự phong mình là công tử ăn diện đúng mác thường bị người đời chê là rởm, khoác lác hoặc phét lác. Khi Công tử Hà Đông tự nhận là Công tử Hà Đông tức là chàng muốn nhận chàng chỉ là một thứ công tử bột “… Công tử bột con thầy thông phán, cháu ruột quan tri huyện…”. Ní nịch trích ngang, trích dọc không có gì nhiều, không nặng mà cũng không nhẹ, song nghe cũng không không đến nỗi quá ư hạ cấp.

Có điều cần viết cho đúng về câu nói của anh Cớm cộng Kiên Trinh trên đây: “… như bài tựa đề “Nếu chàng Trương Phi đẹp trai” chắc chắn tác giả nó trước đây thuộc nhóm “nồi niêu soong chảo” của báo Hòa Bình do Anh Quân chủ trương..”. Bài được đăng dưới bút hiệu “Lão Dương”. Con nít lên ba, cụ già chín bó cũng biết “Lão Dương” là Dương Hùng Cường Dê Húc Càn. Thứ hai, nhóm “nồi niêu soong chảo” là nhóm ký giả trẻ chủ lực của tòa soạn báo Sống của anh Chu Tử Chu Văn Bình từ những ngày đầu ho hen kèn cựa, chết đi sống lại của báo Sống đầu năm 1965. Sau ngày ba anh em ông Diệm, Nhu, Cẩn bị bắn chết, đảng Cách Mạng Quốc Gia, đảng Cần Lao Nhân Vị, Lực lượng Thanh Niên Cộng Hòa xẹp nhanh hơn bong bóng xà bông, nguyên thủ Ngô Đình Diệm bị bể đầu, Big Minh lên thay chức nguyên thủ chưa đầy ba tháng thì bị Nguyễn Khánh chỉnh lý hạ bệ, cho ngồi chơi xơi nước mút chỉ. Những cuộc binh biến theo nhau xảy ra, những thủ tướng theo nhau rớt đài, anh Chu Tử không ra được báo nên phải mướn “măng xét” của báo người khác để làm. Làng báo Sàigòn – và toàn thể làng báo Bắc Kỳ, Nam Vang, Viên Chiên do quan thầy Phú Lang Sa truyền nghề. Vì vậy báo Sàigòn dùng rất nhiều thuật ngữ chuyên môn tiếng Phú Lang Sa. “Măng xét: Manchette” là tên tờ báo có giấy xuất bản. Nhiều anh viết cái biên lai giặt ủi cũng ướt mồ hôi trán nhờ những thế lực nào đó xin được giấy phép ra báo. Mấy ảnh mà báo bổ ký gì. Mấy ảnh mướn ký giả chuyên nghiệp hoặc cho ký giả chuyên nghiệp mướn giấy phép ra báo của mình. Việc làm đó được giới trong nghề gọi tắt và giản dị là “Mướn măng xét”. Mỗi lần báo bị đóng cửa, anh Chu Tử mô tả nhóm anh em ký giả của anh “lêu bêu như chó mất chủ”. Khi mướn được một măng xét nào đó trong bài trình làng anh viết: “Nhóm chủ trương báo Sống sẽ đua hết nồi niêu soong chảo sang tờ báo này vv..” Từ đó thành cái tên Nhóm Nồi Niêu Soong Chảo. Toàn Nhóm Nồi Niêu Soong Chảo sẽ tái ngộ với bạn đọc thân mến trên tờ báo X v.v…”

Nhóm “Nồi niêu soong chảo” không bao giờ là “của Anh Quân”. Anh Quân có thời làm ký giả báo Sống, nhưng chính Anh Quân không ở trong nhóm “Nồi niêu xoong chảo” của báo Sống những ngày đầu. Sau khi anh Chu Tử bị bắn mà không chết vào giữa năm 1965, báo Sống sống vững, mấy tiếng “Nồi niêu xoong chảo” không được dùng đến nữa và bị quên dần. Năm 1970, nhân báo Sống đăng phóng sự làm lớn vụ PM Mẽo dẹp khu lều dân Việt nghèo dựng lên ngoài hàng rào căn cứ quân sự Mỹ trên bán đảo Cam Ranh để bán sì ke cho GI Mỹ, cho đó là vụ lính Mỹ xâm phạm, đi bốt đờ sô lên chủ quyền quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, báo Sống bị đóng cửa. Ký giả báo Sống mới tản đi kiếm sống ở những báo khác.

Nhóm “Nồi niêu soong chảo” chính cống gồm có Trần Dạ Từ, Đằng Giao, Tú Kếu, Trần Tử, Nguyễn Văn Đông, Nguyễn Thụy Long, Nhã Ca, Anh Hợp. “Hiện nay tại thành phố ta còn vài ba tên trong nhóm đó thôi.” Khi Cớm cộng nói câu đó thì ở cái gọi là “thành phố ta” chỉ còn có hai tay cựu “nồi niêu soong chảo” là Nguyễn Thụy Long và Nhã Ca là còn lạng quạng vất vưởng ở ngoài nhà tù. Ký giả Trần Tử, Anh Hợp đã chết, Nguyễn Văn Đông sang Mỹ, Trần Dạ Từ, Đằng Giao, Tú Kếu đang ở trong những trại tù khổ sai. Dê Húc Càn Dương Hùng Cường và tôi, người viết những dòng này, không ở trong nhóm ký giả gọi là nhóm “Nồi niêu xoong chảo” do anh Chu Tử đứng đầu.

- Dĩ nhiên không có tên nào dại dột dùng bút hiệu cũ. Trong một chế độ mà người viết văn, làm thơ không dám ký tên thật dưới những tác phẩm của mình, bọn cầm quyền, bọn đầu sỏ của chế độ đó phải thấy xấu hổ, thấy nhục nhã hơn những người viết không dám ký tên thật. Người viết không dám ký tên thật can tội hèn nhát. Đúng vậy. Nhưng họ còn có lý do chạy tội là họ muốn giữ bí mật tên tuổi để không bị bọn đầu trâu mặt ngựa nửa đêm ập đến nhà còng tay đưa đi năm bảy mùa thu lá rụng chưa nhìn thấy mơ hồ bóng dáng đường trở về mái nhà xưa. Họ mong họ không bị bắt để họ còn có thể viết được nhiều nữa.

Đời nào cũng vậy thôi, rất nhiều người làm văn nghệ nhưng chỉ có rất ít người được nổi tiếng. Nổi tiếng và được đời công nhận là văn nghệ sĩ. Nổi tiếng cũng là thành công. Như Tản Đà, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, không cần có hai tiếng thi sĩ đứng trước tên. Phạm Duy, Văn Cao, Hoài Bắc không cần có hai tiếng nhạc sĩ, như Thái Thanh không cần được giới thiệu là nữ ca sĩ. Có rất nhiều người viết rất nhiều truyện ngắn, truyện vừa, làm nhiều bài thơ nhưng vẫn chẳng được ai nhìn nhận là văn sĩ hay thi sĩ. Người viết tạo được một văn phong riêng, bút pháo riêng — nôm na là giọng văn riêng, cách viết riêng, lối nhận xét cuộc đời trần ai khoai củ riêng — lại rất khó và hiếm.

Cớm Kiên Trinh báo cáo với cớm Tư Tuân:

- Trong số 15 bài ấy có hai truyện ngắn, bốn bài thơ, ba bài phóng sự, hai bài nghị luận chính trị, văn học và bốn bài phiếm luận. Tất cả đều là những loại chống Cộng “có cỡ” cả…

Cớm cộng đọc 15 bài anh em chúng tôi viết ra, công nhận: “Tất cả đều loại chống cộng “có cỡ”. Trong khi đó thì chính anh em chúng tôi, những người viết những bài cớm cộng cho là “chống cộng có cỡ” ấy, chúng tôi coi những gì chúng tôi viết gởi đi chỉ là loại viết chơi vì quá buồn. Chúng tôi không có ý viết những lời đao to, búa lớn. Chúng tôi áy náy vì thấy mình không diễn tả, không ghi lại được một phần trăm những đau khổ, những oán hận của nhân dân, những tai họa do cộng sản gây ra cho nhân dân ta.

“Những tên biệt kích cầm bút” trang 79, anh cu Tư Tuân cớm cộng, trưởng cái ban gọi là Ban Công Tác Chống Phá Hoại Tư Tưởng, được giám đốc cớm Thành Hồ giao nhiệm vụ điều tra mấy tên văn nghệ sĩ Sègoòng gan cóc tía dám viết bài tố cáo chế độ cộng sản ác ôn côn đồ gửi ra nước ngoài. Nói là điều tra cho huê dạng, đúng ra là giao cho anh cu Tư Tuân việc tìm bắt, bỏ tù bọn gan cóc tía. Tư Tuân đọc những bài báo phản động và thấy “buồn nôn vì toàn là những luận điệu rẻ tiền..” nhưng đến trang 87, tức là chưa đến mười trang sau, anh cu Kiên Trinh, anh Cớm Cộng có cái tên không có vẻ cớm chút nào là Kiên Trinh, được Trưởng ban Tư Tuân giao lại việc tìm bắt bọn gan cóc tía, báo cáo:

- Trong số 15 bài ấy có hai truyện ngắn, bốn bài thơ, ba bài phóng sự, hai bài nghị luận chính trị, văn học và bốn bài phiếm luận. Tất cả đều là những loại chống Cộng “có cỡ” cả…

Thằng đàn anh vừa chê: “… luận điệu vu cáo rẻ tiền. Chán đến buồn nôn…” Ngay sau đó thằng đàn em dộng tủ đứng, dộng luôn cả cái bàn thờ Chủ tịt Đảng vào mồm thằng đàn anh bằng câu nói:

- Em đọc 15 bài của chúng nó thấy bài nào cũng thuộc loại chống cộng “có cỡ” cả…

Rẻ tiền tức là không có cỡ, mà có cỡ tức là có giá trị, và có giá trị tức là không rẻ tiền. Anh cu Kiên Trinh, cái tên anh cu cớm cộng Thành Hồ này cũng kỳ. Bác Hồ học mót lối dùng bí danh có vẻ bình dân để gọi nhau trong Đảng của Tầu Cộng, bác lấy tên là Sáu Keo. Từ đó, bọn đảng viên Việt cộng anh nào cũng có tên mang số thứ tự hai, ba, năm, sáu đứng đầu. Chẳng hạn như Tư Bốn, Ba Thiên, Năm Lành, Bốn Lù v.v… Có anh còn mang cái tên gợi cảm là Hai Bi, Ba Bi. Nhưng ở trang này, ta lại thấy lòi ra một anh cớm cộng có cái tên là Kiên Trinh – Anh cu Kiên Trinh chỉ mới đọc có 15 bài còm của vài tên văn nghệ sĩ Sègoòng kẹt giỏ viết gửi ra nước ngoài là anh đã phải nhận là “… chống cộng có cỡ…” Nếu hai anh cu này đọc 150 bài do anh em chúng tôi viết về cuộc sống thê thảm của nhân dân thành Hồ dưới gông cùm Việt cộng, chắc hai anh sẽ buồn nôn đến cái độ nôn ra máu.

Được cớm cộng “đánh giá” là viết toàn những bài “chống cộng có cỡ” nghe cũng khoái tỉ. Nhưng quy luật của tự nhiên, theo Ăng Ghen là “càng được cộng sản đánh giá chống cộng cao cấp chừng nào càng bị cộng sản bỏ tù lâu chừng ấy”. Những trang NTBKCB cho anh em chúng tôi thấy tại sao bọn công an Thành Hồ lại hục hặc kết anh em chúng tôi vào tội gián điệp, đưa chúng tôi ra tòa với tội gián điệp và muốn tử hình một người trong bọn chúng tôi, bỏ tù chung thân tên thứ hai trong danh sách gián điệp, bỏ tù hai mươi cuốn lịch Tam Toong Méo tên đứng hạng thứ ba, mười lăm mùa khoai lang tên đứng thứ tư, mười hai mùa củ đậu tên đứng hạng thứ năm, mười mùa cốm giẹp tên đứng hàng thứ sáu. Hai tên gián điệp cuối cùng trong số 8 tên, tên số tám và tên số bẩy: mỗi tên tám mùa cô hồn cháo lá đa.

Bị tó tháng Năm 1984, một tháng sau ngày Nhóm Già Lam Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Thích Trí Hải giã từ cửa Thiền lên xe bông dzô cửa tù, chúng tôi bị bọn viết báo cộng sản chửi lai rai, chửi dài dài từ năm 1985. Năm 1986 trước ngày bọn công an Thành Hồ đưa chúng tôi ra tòa, bọn báo Công An và bọn báo Tuổi Trẻ Thành Hồ cùng đăng những bài mới về chúng tôi. Khi những tờ báo có những bài viết ấy vào đến tay chúng tôi trong nhà tù Chí Hòa, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, người ở tù cùng phòng với tôi trong suốt năm mùa Lễ Vu Lan, nói với tôi:

- Sao chúng nó thù các bác quá…

Tôi gọi Trí Siêu bằng thầy. Trí Siêu gọi tôi bằng bác. Trí Siêu kém tuổi tôi mười mùa bác Hồ đầu thai phá dân hại nước.

Nhưng như tôi đã viết, xin viết lại ở đây cho câu chuyện được mạch lạc, bạn đọc dễ theo dõi hơn. Công an Thành Hồ đã dàn dựng sân khấu, làm om sòm trên báo để đưa “bọn gián điệp ra tòa. Chúng sẽ phải cúi đầu nhận tội…v.v…”

Năm 1986, trước ngày chúng họp cái gọi là Đại Hội Đảng Mả Mẹ kỳ 6. Nhưng rồi, chúng không thể đưa chúng tôi ra tòa như chúng đã loan báo rình rang trên các báo. Chúng tẽn tò. Loạt bài nửa phóng sự, nửa điều tra, nửa chuyện bịa viết nhiều kỳ về bọn gián điệp mới đăng được ba kỳ trên báo Công An, Tuổi Trẻ bị ngưng. Không cả một mẩu tin cho độc giả biết phiên tòa xử bọn gián điệp được loan báo xử ngày đó, tháng đó đã được hoãn.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 26)

Bọn Công an thành Hồ có sách báo Việt hải ngoại không có gì khó. Sách báo Việt hải ngoại bán tự do. Chúng chỉ việc cho tay sai bỏ tiền mua gửi về. Nhưng chắc chắn chúng cũng không thể nào mua và có được tất cả các sách báo Việt chống cộng phát hành ở hải ngoại. Vì vậy anh cu Kiên Trinh chỉ được đọc có 15 bài. Và chỉ mới đọc 15 bài thôi anh đã phải nhận: “… bài nào cũng thuộc loại chống cộng có cỡ…”

Riêng tôi, tôi không lấy gì làm quan trọng những bài tôi viết. Tôi viết toàn những chuyện phiếm, tôi viết như tôi nói chuyện. Tôi tự coi tôi như anh lom khom đứng ở góc vườn, vạch rào nói ra ngoài, tiếng được, tiếng mất, mong những người đi ngoài đường nghe tiếng:

- Mấy ông, mấy bà ơi… Đừng có tin mấy thằng ăn cướp chúng nó chiếm cái nhà này của chúng tôi. Chúng nó nói với mấy ông, mấy bà là mọi người sống trong căn nhà này đều sung sướng là chúng nó nói láo. Chúng nó đểu lắm, ác lắm. Chúng nó làm chúng tôi điêu đứng…

Vì đã có thời làm phóng viên nhà báo, tôi tự cho tôi biết những người Việt bỏ của chạy lấy người trước ngày đứt phim trong thời gian ấy- những năm 76 đến 84 – sống lưu vong ở những nơi chân trời, góc biển muốn nghe, muốn đọc, muốn biết những chuyện gì đang xảy ra ở Sàigòn. Tôi tự đặt tôi vào tình trạng tinh thần của những người Việt lưu vong, những người từ đời ông cố, ông sơ sống truyền kiếp ở Sàigòn, quen thân từng ngõ ngách, từng vỉa hè, đôi mông quen thuộc với tất cả những chiếc ghế da rạp Rex, Đại Nam, Kim Châu, Khải Hoàn, Eden, Thanh Bình, Quốc Tế, Bonard Vĩnh Lợi… quen luôn cả những Lido, Đại Quang, Victory bỗng dưng một sớm một chiều bị bốc ra khỏi môi trường sống. Người Việt sống ở Sàigòn thoải mái, hồn nhiên, tự nhiên, thiên nhiên, tất nhiên, mặc nhiên, nghiễm nhiên, đủ thứ nhiên hằm bà lằng xíu oát, như con cá lóc sống trong biển Hồ Pleiku, nơi có người em Pleiku má đỏ, môi hồng, nơi cuộc đời quanh năm mùa đông. Người Việt Sègoòng bị trực thăng Mẽo bốc ra nước ngoài tình cảm chắc cũng không khác gì em cá bông lau bị đưa lên chợ Cá Trần Quốc Toản. Xin lỗi, không đến nỗi bi đát như thế nhưng nếu tôi là những người tha hương sầu xứ đột ngột và bất đắc dĩ ấy, tôi muốn được nghe, được đọc những chuyện gì đang xẩy ở Sàigòn.

Nếu tôi là người Việt lưu vong, tôi sẽ muốn đọc, muốn biết những chuyện linh tinh, lặt vặt xẩy đến trong cuộc sống thường ngày của người dân thường Sègoòng. Người Sègoòng sống ra sao, mần ăn chi, có bị Việt cộng hành hạ khổ sở lắm không? Dân Sègoòng nghĩ gì về bọn Việt cộng nay làm chủ Sàigòn? Vì vậy, tôi đã viết ra nước ngoài những việc rất thường như chuyện dân Sègoòng đi lãnh đồ ở những nhà bưu điện, ở kho hàng Tân Sơn Nhất.

Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
Đôi tay anh vín đôi cành
Quả chín anh hái quả xanh anh vồ
Năm sáu năm nay anh ăn ở thành Hồ
Anh ra bưu điện lãnh quà em cho
Đồ em vừa nặng vừa to
Anh đã con mắt anh no cái mồm

Tôi viết về những nghề mới của dân Sègoòng sau Ba mươi tháng Tư: bơm mực bút bi, mua bán chợ trời, chợ đất, thuốc tây, ve chai – một loại dze chai mới xã hội chủ nghĩa – nghề chà đồ nhôm. Trang điểm những bài viết ấy là những bài thơ nho nhỏ:

Chà đồ nhôm

Đi đâu bỏ con ở nhà?
Hỏi Em, Em nói: Đi chà đồ nhôm!
Đi đâu tay xách, nách ôm?
Hỏi Em, Em nói: Đi chôm đồ nhà!

Cộng sản đi đến đâu đói khổ, nheo nhóc, dơ dáy đi đến đấy. Quy luật ấy đã có từ bẩy mươi mùa củ chuối và đã xảy ra ở quá nhiều nơi. Nhưng như cái gọi là Thiền, phải đến những năm 75, 76 đen hơn cái lá đa dân Sègoòng mới thấy, mới biết, mới bị nó quật cho tối tăm mắt mũi, ứa máu ra đủ bẩy lỗ gọi là Thất khiếu. Như chợ trời chẳng hạn. Cộng sản đến bất cứ thành phố nào trên trái đất bất hạnh vì có tai họa cộng sản này lập tức thành phố đó xuất hiện những chợ vỉa hè. Người dân đem đủ thứ vật dụng ra vỉa hè bày bán. Đặc biệt năm 1975, có nhiều nhà cho Mỹ mướn, nhiều nhà giàu bỏ của, bỏ nhà, bỏ nước chạy lấy người, số vật dụng được dân nghèo vào những nhà đó lấy ra thật nhiều. Không chỉ quần áo, đồ dùng vặt vãnh mà thôi, người dân Sègoòng bán cả bàn ghế, giường tủ, xe gắn máy. Người ta như bị say đòn bán đồ. Thấy người khác bán đồ, nhiều người không cần tiền cũng đem đồ ra bán tống, bán tháo. Có người sợ: “Nhà mình nhiều đồ quá, nó để ý…” “Nó” đây là Việt cộng.

Giấc mộng huy hoàng nhất của những anh “bộ đội cụ Hồ” là có một chiếc đồng hồ tay. Những câu “đồng hồ không người lái, một cửa sổ, hai cửa sổ” xuất hiện trong ngôn ngữ dân Sègoòng. Nhân tiện nói đến chuyện đồng hồ, xin nhắc lại chuyện “giả chân” trong bài thơ Đồng Hồ của Tố Hữu.

Phùng Quán — nghe nói là cháu gọi Tố Hữu là cậu — viết một bài ngắn tả cảnh ông đi tù về đến nhà thăm ông cậu. Ông tả thời Tố Hữu đang hiển hách, khi Tố Hữu là Phó Thủ tướng kiêm đại đầu sỏ Văn nghệ xã hội chủ nghĩa, nhà Tố Hữu được canh gác như một phủ chúa, cận vệ bận đồng phục trắng, an ninh nổi chìm khắp dinh, quan khách ra vào tấp nập. Thế rồi Đảng cộng sản Nga tiêu tán thoòng, Liên Sô thành trì xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ, thánh tổ Lenin bị kéo cổ cho ra nằm bãi rác.

Biết rồi…. Nói mãi… Xin vắn tắt: Tố Hữu bị thất sủng. Đang là vị lãnh tụ được chuẩn bị thay thế Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch Hội Đồng Chánh Phủ, tức là làm Tể Tướng — Tố Hữu tụt xuống làm một thứ dở ông, dở thằng không giống ai và không ai giống. Phùng Quán tả nhà ông cậu xuống chó vắng như chùa Bà Đanh, như nhà cô Đạm Tiên khi người khách viễn phương đến thăm. Rồi Phùng Quán kể đến bài thơ mới làm của ông cậu xuống chó.

Thơ như vầy:

Anh bộ đội đi mua đồng hồ
Thật giả khó phân anh rất lo
Anh hỏi cô hàng, cô tủm tỉm:
Giả mà như thật, khó chi mô!

Ra cái điều Tố Hữu chửi bọn Đỗ Mười, Võ Văn Kẹt là bọn đệ tử Mác giả hiệu. Ý nghĩa bài thơ này, em bé lên ba, cụ già chín bó đọc qua đều biết. Bọn đệ tử Mác vẫn thường chửi nhau là đệ tử Mác giả hiệu, miệng nói theo Mác, việc làm phản lại lý thuyết Mác. Không những chúng chỉ chửi nhau mà thôi, chúng còn nhân chuyện ấy giết nhau tàn tệ. Từ lâu rồi, người ta đã nói: Nếu Các Mác mà sống dưới thời Sít Ta Lin, Các Mác cũng bị Sít Ta Lin bỏ tù vì tội “hiểu sai chủ nghĩa Mác”

Điều lạ là anh Tố Hữu, thi sĩ cộng sản đoạt giải thơ nâng bi lãnh tụ nhiều năm liên tiếp, tác giả những câu ca tụng Chúa Đỏ Sít-ta-lin đến cái độ ghê rợn — biết rồi, khỏi kể – đã không biết nhục mà còn mần thơ chửi bọn Mác Xít hoạt đầu. Bài viết ngắn của Phùng Quán tả cuộc đến thăm Tố Hữu chỉ được nhiều người để ý vì có bài thơ Đồng Hồ của Tố Hữu.

Có điều lạ nữa là dường như chẳng ai thấy cái vớ vẩn của bài thơ. Ý bài thơ không ăn khớp. Anh bộ đội đi mua đồng hồ nói một đường, chị bán đồng hồ trả lời một nẻo. Ý bài thơ anh chẳng, ả chuộc, anh nói gà, ả nói vịt vô lý quá rõ. Vậy mà tôi chẳng thấy ai nói gì về chuyện ấy cả.

Này nhé, anh bộ đội đi mua đồng hồ. Chợ xã hội chủ nghĩa bán nhiều thứ giả mạo quá, anh sợ anh mua phải đồ giả. Anh hỏi cô hàng làm sao phân biệt được đồng hồ nào giả, đồng hồ nào thiệt. Thay vì trả lời câu hỏi đó, cô hàng lưu manh trả lời một câu không ăn nhập gì đến câu hỏi:

- Đồng hồ giả mà làm như đồng hồ thật có gì khó đâu.

Anh bộ đội cụ Hồ có thể nổi cáu:

- Chị đừng có ăn nói vớ vẩn. Tôi hỏi nằm thao biết đồng hồ lào giả, đồng hồ lào thật… Chị khoe chị làm cho đồ giả như thật là nghĩa chi?

Bài thơ Đồng Hồ của Tố Hữu, theo tôi, phải như sau mới có nghĩa:

Anh bộ đội đi bán đồng hồ
Đồng hồ anh giả, anh rất lo
Anh nhờ cô hàng, cô tủm tỉm:
Giả mà như thật, khó chi mô!

Có lần tôi bi phẫn trước cảnh những anh chị dze chai mới đi khắp xóm rao mua đủ thứ đồng hồ, mắt kính, ra-zô, bàn ủi, máy may, nồi cơm điện… Chẳng thấy ai rao mua người. Anh bạn tôi nói:

- Cũng có đứa nó mua người chứ. Sao anh lại nói chẳng ai mua người…

Phẫn nộ một cách hết sức dzô dzang, tôi đi một đường Tác-giăng nổi giận:

- Nó mua là nó mua đàn bà, con gái còn sài được. Nó có mua loại đàn bà ho hen, kèn cựa, vú lép, mông teo đâu. Đằng này đồ hư, đồ cũ, đồ xập xệ, đồ nát. Đồ gì cũng có người mua hết. Đàn bà ốm nhách, xanh leo, xanh lét có cho không nó cũng không thèm lấy. Còn cái ra-zô cũ, chuột gặm mốc meo anh mua từ thời lính Mẽo chưa tham chiến ở Việt Nam nghe hết được anh bỏ quên trong gậm tủ, nay anh mang ra bán vẫn có người mua.

Vật quý hơn người. Đó là lẽ thường, lẽ tự nhiên và đương nhiên. Tôi bất bình vì chuyện đồ cũ bán có người mua, người cũ không ai mua cả là tôi vô lý. Quẳng cái bàn ủi cũ ra đường năm phút sau có người ôm đi ngay. Quẳng một em bốn bó, kể luôn cả ba bó, ho lao hen suyễn khặc khừ, hay đang trong tình trạng thượng thổ, hạ tả ra vỉa hè, nằm bẩy ngày người qua đường không ai thèm dừng chân lại nhìn cho một cái làm phúc. Tôi cũng dzậy thôi. Bố bảo tôi cũng không khiêng những em ốm o ấy về nhà, đừng nói đến chuyện tôi bỏ tiền ra mua.

Bất bình tắc minh. Tức cảnh sinh tình. Trong những năm 1976, 1977, rồi trong hai năm 1982, 1983 tôi viết một số bài linh tinh về những chuyện vặt đại khái như tôi vừa kể gửi ra nước ngoài. Rất tiếc, những bài tôi viết ra nước ngoài thời ấy, tuy được đăng trên nhiều báo ở Mỹ, Úc, Pháp, nhưng vì không được in thành sách nên bị chìm mất theo thời gian. Nay ở Rừng Phong tôi chỉ còn được một hai bài đăng trong tập “Tắm Mát Ngọn Sông Đào“, nhà xuất bản Lá Bối ấn hành ở Paria năm 1982, một bài trong Thời Tập, tạp chí do Viên Linh chủ trương, ấn hành ở Mỹ năm 1979.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 27)

Tôi trang trọng cám ơn bạn đã đọc tôi dến dòng chữ này. Mời bạn đọc — mời bạn đọc lại nếu bạn đã đọc rồi — một bài tôi viết về đời sống dân thành Hồ gửi ra nước ngoài năm 1981.

Chà Đồ Nhôm

Trích “Tắm Mát Ngọn Sông Đào,” bài viết ở Thành Hồ năm 1981.

Trong tiểu thuyết “1984″ George Orwell viết dự tưởng rằng năm 1984 của thế kỷ này, cái gọi là “socialism” — chế độ xã hội chủ nghĩa — được thiết lập ở nước Anh. Orwell viết “1984″ vào năm 1948, trong đó ông dự tưởng một số sự kiện sẽ xảy ra vào năm 1984 ở nước Anh xã hội chủ nghĩa. Trong số sự kiện này, có việc Orwell cho rằng khi xã hội chủ nghĩa được đặt ở nước Anh nước đó sẽ “mười lăm ngày có một kỳ xổ số”

Khi viết truyện đó cách đây ba mươi hai năm, Orwell cho rằng “mười lăm ngày một kỳ xổ số” là ghê gớm kỳ dị, khó chấp nhận, khó tưởng tượng lắm lắm. Thật ra George Orwell ngây thơ không biết chừng nào. Nếu ông còn sống đến năm nay, chắc ông phải ngượng vì sự dự tưởng không đúng mức, kém xa mức độ hiện thực, không đi đến đâu, chưa đáng gì, chưa nói được gì hết của ông ta. Bởi vì ở đây, từ năm 1980, trong cuộc sống của một nước xã hội chủ nghĩa đang lên, non trẻ, đầy sức sống “xổ số không phải là chỉ nửa tháng mà là một ngày ba kỳ”.

Ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, người ta xổ số mỗi ngày hai lần, có những ngày đặc biệt xổ ba lần, kể cả ngày chủ nhật. Một tháng trung bình tám mươi kỳ xổ số. Kỹ nghệ phồn thịnh này do nhà nước chủ trương và khai thác. Nó phát triển sâu rộng khắp miền Nam, đi sâu vào mọi ngã ngách, vào từng nhà ở thành cũng như tỉnh. Người ta nói một trong những nguyên nhân làm giá giấy đắt, học trò thiếu tập chép bài, quyển vở một trăm trang giấy đen hiện giá bốn đồng, là vì nhà nước dùng quá nhiều giấy để in vé số và giấy ban khen, tuyên dương công nhân tiên tiến. Về giấy khen trong vài năm đầu, những người được khen còn dán lên tường, đặt trong tủ kiến nhưng nay thì xếp đống, vì nhiều quá không có chỗ nào trưng nữa.

Ngành xổ số hiện cung cấp việc làm cho cả trăm ngàn người dân Thành Hồ. Ngoài những người mù, người già, người què, người sồn sồn, trẻ em mang vé đi bán ở những quán ăn, tiệm cà phê, vào các xóm, đi đường bạn thấy chỗ nào cũng có sạp bán vé số. Có những chỗ bán lớn đặt hai ba cái bàn, trên bầy kín các tập vé số, đằng sau có ba bốn cái bảng đen ghi bằng phấn kết quả những kỳ xổ số vừa ra trong ngày hôm qua. Những chỗ này tấp nập người ra vô, buổi sáng đến lựa mua số, buổi chiều đến dò số, đổi vé trúng. Mỗi chiều vào lúc bốn giờ rưỡi, xổ số được xổ và loan báo trên đài phát thanh. Báo không đăng nhưng những kết quả xổ cũng chẳng bao giờ lầm. Người có vé số chỉ việc ra đầu đường là có sẵn tấm bảng kết quả để dò. Mỗi chiều, công nhân đi làm về , xe đạp và người đứng chật cả nửa đường ở những chỗ đặt bảng kết quả xổ số.

Mỗi thành phố, mỗi tỉnh ở miền Nam đều được quyền mở xổ số để lấy lời cho quỹ tỉnh mình. Vì vậy có những kỳ xổ số của Thành phố Hồ Chí Minh, gọi tắt là số thành phố, và Tiền Giang, Hậu Giang, Đồng Nai, Sông Bé, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Cửu Long, Tây Ninh, Long An v.v… Phần lớn những vé này được tiêu thụ ở Thành Hồ. Mỗi địa phương mỗi tuần chỉ có một kỳ xổ số thôi, nhưng cứ tính sơ sơ như vậy, ta cũng thấy số lần xổ số trong một ngày, lại thỉnh thoảng có những kỳ đặc biệt. Hoặc thành phố có thể xổ số mỗi tuần ba kỳ.

Tưởng cũng nên nhắc qua lịch sử xổ số ở xứ này. Loterie do thực dân Pháp mang vào Đông Dương, có lẽ lần đầu vào những năm 1920. Vào thời kỳ này, Anh Con Trai Bà Cả Đọi còn đang giữ việc điếu đóm ở Thiên Đình, chưa bị Ngọc Hoàng đầy xuống trần ai, nên không biết rõ lắm. Có lẽ vào thời kỳ đầu tiên đó, xổ số được gọi là Xổ số Đông Pháp, phát hành khắp Việt-Miên-Lào Đến năm 1951, cái gọi là chính phủ quốc gia ở Sàigòn mở lại xổ số bán một đồng, độc đắc một triệu đồng, một tháng một kỳ. Qua Đệ nhất Cộng Hòa xổ số tiến lên một tuần một kỳ, tăng giá mười đồng cho đến ngày tan hàng.

Vì ngành xổ số phát hành đều mỗi ngày nên kỹ nghệ phụ của nó là Xổ Đề, đánh đề cũng theo nó bành trướng mạnh. Dân Thành Hồ có câu “Cả nước xổ số, toàn dân đánh đề” nói lên một cách rất đúng đắn hiện thực xã hội này. Trẻ con cũng chơi đề, nuôi số đề và việc chơi đề, nói lái là “đời chê” đem lại niềm vui, an ủi và hy vọng cho nhiều triệu người ở miền Nam.

Ngoài nghề bán, mua xổ số, huyện đề, chơi đề, nhân dân Thành Hồ hiện làm những nghề gì nữa? Nhân dân làm hàng trăm thứ nghề mới cũ do xã hội và thời cuộc tạo ra. Song đại đa số đều là những nghề buôn bán, cung cấp dịch vụ, không sản xuất vật phẩm. Đầy lề đường, nhân dân ngồi bán thuốc lá. Khoảng trăm thước có một chỗ sửa xe đạp. Giá vá một lỗ thủng xe đạp nay đã lên hai đồng, công bơm hai bánh xe đạp là năm mươi xu. Ở cửa các trường học có những người ngồi bơm mực bút bi cho học trò. Mỗi ống mực bơm là một đồng, trong lúc giá mua một bút mực Bic ngoại quốc mới là tám đồng. Từ sáng sớm có những ông già , bà lão, trẻ em lưng đeo cái bao bố, tay cầm móc sắt, đến những chỗ đổ rác, đi vào các xóm, bới các thùng rác nhặt bao ny lông, giấy vụn, bao rách, giấy bẩn, cứ ny lông và giấy là lượm, đem về bán cho Ba Tầu nấu lại. Bao, túi ny lông cũ nấu đi nấu lại nhiều lần, ép thành những bao túi mới mầu cà phê, mầu nâu. Giấy cũ tái sinh thành giấy carton.

Cũng trong các xóm đông đúc của Sàigòn ta thấy có nhiều nghề vặt hay hay. Chẳng hạn có nhiều người rao “đồ cũ đổi đồ mới”. Có những anh Tầu đi xe đạp chở một cần xé dép cao su đủ mầu, đi bán và đổi dép cũ đứt. Tất nhiên là phải các thêm tiền. Có những bà gánh nồi niêu xoong nhôm, đèn dầu tây đi bán, đổi. Đến năm nay, giá những chậu thùng bằng plastic quá đắt, dân Sàigòn bắt đầu quay lại dùng đồ sành. Vì nấu ăn bằng củi than, người Sàigòn dùng lại bếp lò. Cần đồ đựng nước, gạo, người dân Sàigòn dùng lại vại, chum sành. Có những ông chở trên một chiếc xe đạp bẫy cái vại cỡ trung đem vào các xóm bán từng nhà. Chắc bạn không sao tưởng tượng được bằng cách nào người ta có thể chở trên một cái xe đạp bẩy cái vại cồng kềnh và rất dễ vỡ. Người ta dùng những cái boọc ba ga bằng sắt lớn và chắc, lấy cây gỗ buộc thêm, giữa để một vại, hai bên sáu vại cân đối nhau, dùng dây chão chằng lại. Tất nhiên muốn chở nặng như vậy, xe đạp phải là xe tốt, khung niền cứng, vỏ ruột mới, loại xe gọi là xe thồ được chế tạo đặc biệt để chở đồ. Và người chạy xe phải thật cứng gân, cứng tay lái.

Trên đây là kể sơ sơ một số những nghề ít vốn, ai làm cũng được. Nếu có tiền, có chỗ, người Sàigòn mở tiệm ăn, cà phê, chè đường, trái cây có nước đá bào gọi là cocktail, mua bán quần áo cũ ở những chỗ gọi là khu chợ trời, bán đồ xe đạp, thuốc tây. Nhiều vốn nữa thì bán radio-cassette, quần áo ngoại quốc v.v… Tất cả đều mua đi bán lại. Tình trạng ly kỳ đập mạnh vào mắt mọi người và không ai trước đây có thể tưởng tượng nổi là Sàigòn hiện nay, 1981, lại có nhiều hàng hóa ngoại quốc hơn Sàigòn 1975. Ai có thể dự kiến được rằng sau sáu năm trái tim tư bản vẫn đập mạnh trong các xác vô sản gầy còm, khô khan. Trái tim tư bản đó sở dĩ còn đập được là vì nó được ngày ngày tiếp máu hồng từ những dòng máu tư bản ở khắp bốn châu truyền về. Tôi kể bốn châu là trừ châu Phi quá đọi nên không cung cấp gì cho Sàigòn. Những dòng máu đó là đường dây chi viện tư nhân do Việt kiều ở khắp thế giới gửi về cho người thân. 90% những người được hưởng chi viện này đều ở thành phố Hồ Chí Minh. Mọi thứ hàng về tới tám phần mười đổ ra bán ở thị trường. Trước tháng 6 năm 1980, khi thuốc lá ngoại quốc còn được gửi về, chưa bị tịch thâu, hang cùng ngõ hẻm nào cũng có bán Pall Mall, 555, Lucky, Craven A. Vào thời đó, thuốc lá ngoại át hẳn thuốc lá nội hóa, mua một gói Pall Mall dễ hơn, sẵn hơn là mua một gói Vàm Cỏ. Nay thì thuốc lá Anh Mỹ gần như hết hẳn ở Sàigòn. Chỉ còn thuốc Samit của Thái Lan được đổ lậu qua biên giới Thái-Kampuchia về và nếu có tiền chịu khó đi tìm thì ta vẫn còn mua được một gói 555 giá năm mươi đồng, một gói Craven A mười điếu cũng năm mươi đồng.

Những quần jean, áo pull, xà bông, kem đánh răng, vải xoa, nước hoa, bút, bật lửa thì chưa bao giờ Sàigòn có nhiều và đẹp như bây giờ. Sàigòn hiện có nhiều khu bán đồ ngoại quốc. Khu Huỳnh Thúc Kháng bán radio, cassette. Khu này bị dọn dẹp, cấm bán mấy lần, rồi lại cho bán. Quần áo, đồ dùng, thực phẩm và những đồ ngoại khác được bán rất nhiều ở khu Nguyễn Thông, đầu Hồng Thập Tự — chỗ công trường liền với Lý Thái To,å chợ An Đông, chợ Tân Định, khu Hải Ký mì gia và ở đường Tạ Thu Thâu chợ Bến Thành.

Khu nào đồ cũng nhiều và đẹp. Song tôi thấy không khu nào đồ nhiều, đẹp, sang, tốt nhìn mát mắt bằng khu Tạ Thu Thâu. Suốt con đường ngắn này và trên vỉa hè nhìn sang chợ Bến Thành, nhà nước cho dựng sạp đàng hoàng, mỗi sạp rộng một thước, hai dẫy đâu lưng nhau, treo bầy kín những quần jean, blousons, sơ mi đủ màu, đủ quốc tịch toàn cỡ vừa tầm người Việt, mua là mặc ngay, khỏi sửa. Có cả quần áo phụ nữ và trẻ em, giầy mũ là những thứ mà trước đây hàng PX Mỹ không hề có. Các tủ bầy nước hoa cũng có đủ thứ quốc tịch, xà bông, kem đánh răng đủ hiệu. Ngày xưa muốn mua một quần jean vừa ý, người ta phải kiếm mỏi mắt ở chợ trời khu Nhà Băng, nay thì theo ước lượng của tôi, muốn mua 50.000 bộ jeans-blousons người ta có thể đến khu Tạ Thu Thâu mua được ngay trong nửa tiếng đồng hồ. Giá quần jean từ hai trăm, đến năm trăm, pull và sơ mi rẻ hơn, khoảng một trăm năm mươi đến hai trăm đồng một áo.

Khu Hải Ký mì gia bán toàn thực phẩm: bơ, sữa, rượu, nho khô, bánh ngọt, trà sâm, kẹo mứt v.v… Đúng ra thì khu nào cũng có bán đủ mặt hàng, chỉ có nhiều hơn hoặc ít hơn, khu nào cũng có bán thuốc tây, bút. Nhưng thuốc tây nhiều nhất là ở khu Nguyễn Thông, bút bi, bút mực, bút chì, đồ văn phòng nhiều nhất ở vỉa hè Lê Lợi chỗ trước cửa nhà hàng Kim Hoa, cạnh Casino Sàigòn. Ở đây có đủ các thứ bút và bật lửa của Mỹ, Pháp, Đức, Nhật… Khu vỉa hè Tax bán phim ảnh v.v…

Tôi khó có thể tả hết những cảnh buôn bán của Sàigòn hiện nay. Vì thật ra tôi không thể biết hết. Và cũng không có đủ tài, đủ điều kiện để thu thập dữ kiện và diễn tả. Những gì tôi mô tả đây chỉ là một phần nhỏ của sinh hoạt Sàigòn. Còn biết bao nhiêu chuyện nữa không được viết vào đây. Thôi thì tôi dùng câu an ủi thông thường của tôi “Được bao nhiêu hay chừng nấy, Tùy duyên phương tiện”.

Những nghề tôi vừa kể ở thành Hồ đều là những nghề ít nhiều đã có từ trước ở Sàigòn. Trước năm 1975, người Sàigòn đã bán xổ số, đánh đề, làm đĩ, ăn cướp, ăn xin, đi moi thùng rác, bán quần áo cũ, bán chợ trời, đạp xích lô, mua ve chai v.v… Chỉ có trước năm 1975, dân Sàigòn bị Mỹ, Ngụy kìm kẹp nên ít người làm những nghề đó, nay thì được thả giàn.

Bây giờ đến một số nghề mà chỉ có Sàigòn xã hội chủ nghĩa hoặc thành phố Hồ Chí Minh mới có, Sàigòn tiền 75 không có. Cũng khá nhiều, như nghề đứng ở cửa nhà Bưu Điện để hỏi mua lại thuốc tây của những người đi lãnh đồ. Số này toàn thanh niên, nam nữ. Có những em đẹp ra gì, từ khoảng hai mươi đến ba mươi tuổi. Các em đón mua thuốc cho những sạp bán thuốc ở các chợ hoặc cung cấp thẳng cho bác sĩ, y sĩ Sàigòn hành nghề tư được quyền bán thuốc tây luôn cho khách. Bán thuốc tây là nguồn lợi chính của y sĩ, không phải tiền coi mạch hay khám bệnh. Thường thì bà vợ y sĩ giữ việc bán thuốc. Bác sĩ Huỳnh Kim Hữu đã già nhưng vẫn còn hành nghề. Bà vợ ông bán thuốc và mỗi toa thuốc của ông bác sĩ nổi tiếng này ít nhất cũng từ 1.000 đến 5.000 đồng.

Tôi đã viết về tình trạng sau khi cộng sản hạ những cái gọi là bức màn sắt, bức màn tre xuống nước Nga, nước Tầu, phải đợi đến cả hai mươi mấy mùa cóc chín sau thế giới tự do mới thấy lai rai vài bài viết tố cáo chế độ cộng sản ác ôn, bất nhân, bất lương, về thực trạng cộng sản bị thất bại nặng trong việc mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, do những người viết trong nước Nga, nước Tầu gửi ra. Đích xác hơn, ta thấy Nga cộng cướp chính quyền từ năm 1920 đến năm 1979 Nga mới có Alexandre Solzhenytsin. Đánh Nga cộng như Solzhenytsin mới thật là đánh. Tầu cộng cướp trọn lục địa Trung Hoa năm 1948, mãi đến cuối thập niên 80 mới thấy lác đác vài nhân vật Tầu trốn sang được Âu châu viết vài tác phẩm mỏng dính kết án cộng sản Tầu và Mao Sì Tung. Anh em chúng tôi, một số người viết phải ngơ ngáo và ngơ ngác sống trong ác mộng thấy Việt cộng đi ngờ ngờ trong thành phố, chỉ sáu tháng, một niên sau ngày trời long, đất ngả nghiêng, chúng tôi đã có lai rai những bài viết về đời sống cực khổ của đồng bào ta dưới ách cộng sản gửi ra nước ngoài.

Làm được việc ấy, thực ra anh em chúng tôi cũng chẳng can đảm hay giỏi giang gì mấy. Năm 1975, tình hình có khác với năm 1954, Việt cộng chiếm Sàigòn, đường liên lạc bưu tín giữa Sàigòn và các nước tự do Anh, Pháp, Mỹ vẫn không đứt đoạn. Những lá thư từ nước ngoài nườm nượp gửi về tìm hỏi người thân kẹt lại, còn hay đã chết. Những lá thư con cá trong nước cũng lũ lượt kéo nhau ra đi.

Chúng tôi lợi dụng tình trạng tương đối tự do về thư tín ấy. Nếu Việt cộng làm như Pol Pot Khờ Me Đỏ, ra lệnh hủy bỏ bưu điện, nhân dân không có thư từ điện tín, điện thoại chi ráo, chắc anh em chúng tôi đã không làm được cái việc viết và gửi tác phẩm khơi khơi bằng đường bưu cục ra nước ngoài.

Công an VC rất khó kiểm soát được hữu hiệu số thư của nhân dân trong nước gửi ra những nước ngoài. Lý do, quá nhiều thư gửi đi, bọn công an bảo vệ văn hóa có đông đến mấy cũng không có thể mở từng phong thư ra kiểm duyệt được. ViXi không nắm được những địa chỉ khả nghi ở các nước Âu Mỹ. Nghe nói ở Bưu điện Trung ương Sàigòn, bọn cán bộ thường kiểm duyệt bằng cách lấy đại một số thư mở ra coi. Thư trong nước gửi ra nước ngoài, những lá thư bị gọi là “phản cách mạng, phản động” như thư của chúng tôi chìm lẫn trong cả ngàn lá thư đi mỗi tuần. Vixi có rình cũng khó vồ được thư của chúng tôi. Nhưng thư từ nước ngoài gửi về thì tình hình lại khác hẳn.

Công an VC rất dễ kiểm duyệt thư từ nước ngoài gửi về. Nhà dân được chia thành từng khu, mỗi khu chừng 400 đến 500 hộ. Một nhân viên bưu cục phát thư phụ trách việc phát thư cho hai khu. Nhà tôi ở quận Tân Bình, thư gửi cho tôi được đưa về bưu cục Tân Bình, bưu cục nằm trên đường Võ Tánh xưa của ta, nay là đường Hoàng Văn Thụ, khoảng trước con đường đi vào Đệ Nhất Khách Sạn. Tại đây, thư của tôi được đưa vào hộp chờ người phát thư khu tôi lấy đem đi. CAVC chỉ ra lệnh giữ số thư nước ngoài gửi về khu nhà tôi tại bưu cục chờ kiểm soát. Bọn công an mới vào nghề được gọi theo Tầu cộng là những trinh sát viên hoặc chiến sĩ trinh sát, những năm đầu đói rách đạp xế guồng rạc cẳng, nay thì tên nào cũng Honda mới hoặc cũ, vài ba ngày đến bưu cục Tân Bình một lần. Chúng chỉ việc kiểm số thư gửi về khu nhà tôi, thấy có thư của tôi là lấy, đem về sở mở ra coi. Bằng chứng tôi có liên lạc với “bọn phản động chống phá cách mạng” ở nước ngoài nằm trong những lá thư anh em tôi gửi về đó.

Tôi viết bài gửi ra nước ngoài nhiều nhất trong hai năm 1982, 1983. Tôi nhớ những năm ấy tôi gửi bài viết linh tinh cho từng này người:

- Cô Phương Hương, anh Trần TamTiệp, Paris, Pháp.

- Ông Hồ Anh, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong ở Hoa Kỳ.

- Anh Nhất Giang ở Cabramatta, Úc.

Viết bài gửi đi, nhiều khi tôi bâng khuâng nghĩ đến chuyện không biết thư mình có đi thoát, có đến tay người mình gửi hay không? Một trong những sung sướng của tôi là được đọc bài viết của mình in trên trang giấy, sáng sủa, sạch sẽ, gọn gàng. Trong nhiều năm ở Thành Hồ, tuy vẫn viết bài gửi đi, tôi không hưởng được cái lạc thú ấy. Có lần tôi viết dặn ông chủ nhiệm Văn Nghệ Tiền Phong:

- … Anh viết về cho tôi biết anh nhận được bao nhiêu bài của tôi, ngày nào. Anh viết là “áo hoa” tôi hiểu.

Ông chủ nhiệm Văn Nghệ Tiền Phong làm đúng lời tôi yêu cầu. Tôi nhận được lá thư từ Hoa Kỳ gửi về:

- …Tôi nhận được ngày… hai áo hoa anh gửi, ngày … hai áo hoa nữa…

Đọc thư tôi thở hắt ra. Công an nó không đọc thư này thì thôi, nó mà đọc là nó biết tỏng tòng tong cái gọi là “áo hoa” này là cái gì. Bất cứ người dân Thành Hồ nào cũng có thể gửi áo hoa sang Tây, sang Mỹ, sang Úc, sang Ăng-lê – những năm đầu 80 có phong trào người Thành Hồ gửi những sấp hàng may áo dài cho thân nhân ở nước ngoài, những sấp hàng này được vẽ hoa nên gọi tắt là áo hoa – riêng Anh Con Trai Bà Cả đọi, anh em cùng vợ với Công tử Hà Đông, thì không thể. Cái gọi mánh “áo hoa, áo hoét” trong thư này chỉ là những bài viết phản động của anh thôi.

Khi CAVC nghi, mở cuộc theo dõi họ rất dễ tìm ra bằng chứng những người bị nghi phạm tội. Chúng tôi cứ viết, cứ gửi đi, cứ nhận thư về ngay nhà mình, một năm rồi hai năm. Cứ như vậy không thay đổi. Chuyện bại lộ và bị bắt là chuyện không thể tránh được.

CAVC chặn thư, mở thư xem, có thư họ lấy luôn, có thư họ chụp photocopy rồi để lại vào phong bì, gửi đến người nhận. Có những đêm nằm trằn trọc trên căn gác nhỏ Ngã Ba Ông Tạ, tôi xem lại lá thư mới nhận, lo âu khi thấy rõ vết phong bì thư bị mở ra, dán lại. Tôi sợ khi thấy những triệu chứng tôi sắp bị bắt lại. Nghe nói ở đời này có những người không ngán sợ tù đày, tôi không ở trong số những người đó. Tôi sợ tù đầy. Tôi đã nằm tù một lần hai mùa lá rụng, tôi đã biết thế nào là sự bẩn thỉu, nỗi buồn chán ghê rợn của cuộc sống trong tù. Những tháng giữa năm 1977, 1978, khi bị bắt lần thứ nhất, tôi nằm 12 tháng 2 ngày một mình còng queo, vò võ, buồn và nóng ruột nhiều khi muốn phát cuồng, trong hai xà-lim, văn huê kiểu Việt cộng là Biệt giam và Ca sô – số 15 khu B và số 6 khu C Một Nhà Tạm Giam số 4 Phan Đăng Lưu, tôi bắt chước thi sĩ Trần Văn Hương làm thơ:

Đã buồn cho nó buồn luôn
Vào tù xem mặt tù buồn ra sao
Vào tù mới rõ thấp cao
Buồn tù chẳng có buồn nào buồn hơn
Vào tù mới rõ nguồn cơn
Buồn nào thì cũng chẳng hơn buồn tù.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 28)

Nhân nhắc đến những năm 77, 78, tôi nằm xà lim ở Số 4 Phan Đăng Lưu, xin nhắc lại một vài kỷ niệm:

Trước hết là anh Nguyễn Mạnh Côn, một trong những ông đàn anh văn nghệ của tôi. Anh bị bắt trong chiến dịch càn quét văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa tại Sàigòn tháng Ba năm 1976.

Một chiều thứ bẩy, tháng Chín năm 1977, tôi vào xà lim số 15 khu B Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Khoảng 10 giờ sáng Chủ nhật hôm sau, tôi nhìn thấy anh Nguyễn Mạnh Côn.

Anh ở phòng tập thể số I khu B ngay trước dẫy xà lim trong có tôi. Chủ nhật, cai tù mở cửa phòng giam cho tù ra sân ngồi phơi nắng chừng nửa giờ. Tù phòng này được ra nửa giờ, trở vào phòng rồi mới mở cửa phòng tù khác.

Anh Côn ngồi xa tôi chừng 15 thước. Anh bận bô bà ba nâu. Người tù nào da dẻ cũng xanh mướt như tàu lá chuối non. Anh Côn tóc bạc, râu bạc. Buổi sáng hôm ấy tôi mới vào tù, tôi bồi hồi nhìn ông đàn anh của tôi qua ô cửa gió nhỏ bằng quyển sách trên cửa xa-lim. Hình ảnh anh Côn gầy yếu trong bộ bà ba nâu ngồi trong nắng trước cửa phòng tù số I khu B Nhà Tù Sâố 4 Phan Đăng Lưu hai mươi mùa thu trước sáng nay trở về ẩn hiện trước mắt tôi..

Anh Côn mua lại căn nhà lầu của Phạm Duy trong cư xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận. Vì anh chưa trả hết tiền, nên Phạm Duy chưa sang tên nhà cho anh, 30 Tháng Tư đến, Phạm Duy đi mất, anh chị Côn chưa chính thức làm chủ căn nhà. Tôi không biết anh chị Côn gặp khó khăn như thế nào vì căn nhà chưa sang tên này. Việt cộng theo lời dạy của thánh tổ Lênin, tịch thu hết “tài sản của những kẻ bỏ trốn ra nước ngoài”

Tôi vào tù được chừng bẩy ngày, được nói qua, nói lại với anh Côn vài câu ngắn ngủi, rồi tôi ngàn thu vĩnh biệt anh. Một tối nằm trong xà lim, tôi nghe có tiếng lịch kịch mở cửa sắt, tiếng gọi tên bên ngoài. Cánh cửa gió nhỏ ở trên xà lim bị đóng lại để người tù biệt giam không biết có chuyện gì xẩy ra bên ngoài. Đây là cuộc chuyển trại. Những người tù được chuyển đi, thường là sang Chí Hòa hoặc lên trại cải tạo, được gọi ra tập trung vào một hai phòng, chờ lên xe đi. Anh Côn đi khỏi số 4 Phan Đăng Lưu trong đêm hôm đó.

Nhiều đêm nằm trằn trọc trong xà lim đèn lờ mờ, tôi gợi ký ức nhớ lại đủ thứ chuyện. Tôi hình dung lại căn nhà của gia đình tôi ở Hà Đông. Tôi sắp xếp đồ đạc ở trong nhà: cửa sơn mầu nâu gụ, ngay bên cửa ra vào là hai cái ghế, bộ sa-lông Tàu kê ở giữa nhà, rồi sập gụ, tủ chè, hoành phi, câu đối, chiếc đồng hồ quả lắc treo cạnh cái đầu trâu rừng đắp bằng đất nung, cặp sừng là sừng thật, sản phẩm của nhà thủ công nghệ Hà Đông, cây súng săn Ca-líp Xe-giờ của thầy tôi đặt trên cái giá sừng hươu trên tủ chè…

Và tôi nhớ lại cuộc giao tình của tôi với anh Côn. Như tôi đã viết trong số những người viết trẻ từng thân với anh Côn như Nguyễn Đình Toàn, Duyên Anh, Trần Dạ Từ, chỉ có tôi là “bạn đồng sàng, đồng bàn đọi” với anh Côn.

Anh Côn có bàn thờ Cô Ba tại gia nhưng anh thích đi hút ở tiệm hơn. Anh hút nhiều, tự làm thuốc lấy vất vả, mất thú. Ít khi anh tiếp ai ở bàn đọi của anh. Đi hút ở tiệm quá đô rồi về nhà anh vẫn đốt đèn làm vài bi để chị Côn yên trí là anh không hút ở tiệm.

Tôi được anh tiếp tại bàn đọi ở nhà mấy lần. Anh bảo tôi:

- Vợ tôi bà ấy nói tội nghiệp cậu. Tôi nói nó kiếm được tiền, sợ quái gì. Vợ tôi nói: “…nhiều hay ít thì rồi cũng vất vả như anh thôi…”

Anh Côn mất khoảng năm 1979 trên trại cải tạo Xuyên Mộc, chị Côn mất khoảng năm 1990 tại thành Hồ. Anh chị có hai con trai. Cháu lớn ở với vợ con trong căn nhà anh chị mua lại của Phạm Duy ở cư xá Chu Mạnh Trinh. Cháu thứ hai sống với vợ con ở Houston, Texas.

Anh Côn là đại biểu Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội trong quốc hội thứ nhất của ta sau năm 1945. Anh nói:

- Năm ấy, chúng tôi làm một bản tổng kết tình hình đất nước sau chiến tranh. Bản tổng kết có kể nạn đói năm Ất Dậu làm đồng bào ta chết đầy đồng. Chúng tôi quyết định để là hai triệu người chết. Đâu có làm thống kê được mà biết chắc con số người chết vì không có ăn trong năm ấy là bao nhiêu. Con số hai triệu do chúng tôi đặt ra trở thành số liệu lịch sử.

Khi tôi và anh Côn chơi ở tiệm Đ.Q hẻm trường Đại học Vạn Hạnh cạnh cầu Trương Minh Giảng, anh Triều Đẩu cũng hay lui tới đây. Anh Triều Đẩu là tác giả tiểu thuyết phóng sự Trên Vỉa Hè Hà Nội đăng trên Tạp chí Thế Kỷ xuất bản khoảng năm 1952, 1953 ở Hà Nội. Tôi đọc Trên Vỉa Hè Hà Nội của anh Triều Đẩu thấy anh viết thật hay, giọng văn có duyên, hỏm hỉnh, hấp dẫn. Một phần nhờ đọc Trên Vỉa Hè Hà Nội mà tôi nẩy ra ý bắt chước, viết cái gọi là phóng sự tiểu thuyết tếu Ông Tây, Bà Đầm, Bà Lớn, Yêu Tì, đưa ra những nhân vật không giống ai và không ai giống như ký giả Cuốc Tô, bà Zô-zan Chủ tịch hội Lát-Sốt-sì-sần, Cập-pi-tên La Lô, ông Đội Đèn, chị em Ngọc Tũn ái nữ ông Lang Toe, có thế võ Kim kê áp noãn thần sầu quỷ khốc không nam cao thủ võ lâm nào chịu nổi.

Anh Triều Đẩu là công chức, anh không phải là người viết chuyên nghiệp. Anh nghiên cứu tử vi và giải số tử vi nổi tiếng. Cung cách tử vi của anh có mục gọi là “Thất sát triều đẩu” nên anh lấy bút hiệu là Triều Đẩu. Bút hiệu thật hay và đặc biệt. Bên bàn đọi, anh xem tử vi cho nhiều người. Tôi đích thân chứng kiến vài chuyện anh chỉ căn cứ vào tên mấy ngôi sao trên tờ giấy mà gọi ra đời tư người ta đúng vanh vách. Đơn cử một chuyện:

Anh bạn Đại úy hít tô phê nhờ anh Triều Đẩu xem giùm lá tử vi đã lập thành. Giải linh tinh một hồi, không có gì quan trọng, thầy nói:

- Theo lá số này, thì chị vợ của anh đã có một đời chồng.

Đại úy cười gượng:

- Thưa nhân tình, nhân bánh thì chắc có, chồng thì chưa…

Tôi nghe anh Triều Đẩu nói:

- Tôi nói là đã có một đời chồng kia. Nếu không phải thì tôi đoán sai, tôi xin lỗi.

Thầy xin lỗi và thầy không giải nữa.

Đại úy bèn nhận là vợ mình đã có một đời chồng và xin thầy giải tiếp. Sau đó, tôi được nghe một ông Đại úy cũng trong hội hít tô phê khác kể tại bàn đọi này:

- Vợ nó là nữ trợ tá, bị thằng Thiếu tá trưởng phòng nó lấy. Nhưng thằng Trưởng phòng đã có vợ con rồi, nó lấy ít lâu nó buông, nó làm mối em cho tên này lúc ấy mới là Thiếu úy. Chuyện ấy anh em trong Nha tôi ai mà chẳng biết….

Tôi kể lại chuyện xưa tích cũ để nói về tài giải đoán tử vi của anh Triều Đẩu. Anh đã qua đời ở Thành Hồ. Tôi chỉ théc méc một điều: coi tử vi cho anh Côn và tôi anh Triều Đẩu nói cả hai chúng tôi đều có hậu vận êm đềm, càng ngày càng có tiếng, sống lâu lên lão làng, địa vị bền vững….

Lời anh tiên đoán về hậu vận của chúng tôi chắc chắn là đúng nếu chúng ta không bại trận, nếu quốc gia Việt Nam Cộng Hòa đứng vững. Nhưng chuyện xảy ra cho tôi thấy cuộc đời anh Nguyễn mạnh Côn hoàn toàn khác với lời giải của anh Triều Đẩu. Trước năm 1975, làm sao tôi có thể tin nếu có người nói: “Anh Côn, anh Hoạt sẽ chết thảm thiết trong tù, các tướng lãnh, sĩ quan của ta sẽ đi tù hết…”

Tôi không tin nếu có người nói như thế, nhưng sự thực là chẳng có ai, kể cả những ông bà thầy bói mù lẫn bói sáng nói một câu như : “Coi chừng. Đến năm 1975 tử vi của ông đi vào đại hạn đen hơn mõm chó mực. Ông bị mất chức, mất nhà, mất cả vợ, ông bị đi tù…” Có một thời, những năm đầu của thập niên 70, từ ông Tổng thống đến ông Tống thư văn, từ vị Đại tướng đến vị binh Nhì, tất cả đều mê tín tử vi, xem tử vi lu bù kèn. Nhưng tử vi của vị nào cũng sáng hơn gương Tầu, quan văn, quan võ đều thăng quan tiến chức, tả phù, hữu bật, nhà buôn đều nhất bản vạn lợi, phúc lộc dồi dào. Đùng một cái, Việt cộng nó kéo vào Sàigòn. Banh ta lông tú lơ mo. Tử vi, tử véo của anh nào cũng có sao Quả Tạ đồng cung với sao Bị Gậy….

Anh Chu Tử Chu Văn Bình chết trên tầu Việt Nam Thương Tín khi tầu trên đường ra cửa biển, anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong nhà tù Chí Hòa, anh Nguyễn Mạnh Côn chết trong trại cải tạo Xuyên Mộc.

Tôi được nghe anh em kể anh Côn chết vì anh tuyệt thực đòi Việt cộng phải trả tự do cho anh. Không biết vì sao anh nghĩ rằng án tù của anh chỉ là ba năm và anh đã ở tù đủ ba năm, Việt cộng phải trả tự do cho anh.

Cai tù Việt cộng học cách đàn áp tù nhân của đàn anh Nga cộng, Tầu cộng, tàn ác khủng khiếp với những người tù dám công khai chống đối bạo quyền của chúng. Chúng đàn áp thẳng tay những người tù đó để trấn áp những người tù khác. Người tù nào không chịu làm khổ sai là bị chúng nhốt phòng tối, trần truồng, không mùng mền, không chiếu, ăn cơm nhạt, không được tắm rửa… Chúng nhốt cho chết luôn. Người tù sống sót chỉ được thả ra sau khi năm bẩy lần van xin bằng miệng, bằng đơn từ. Người tù nào tuyên bố tuyệt thực là chúng bắt phải chết bằng cách “không chịu ăn, không cho uống nước luôn…”

Nghe nói người ta có thể nhịn ăn và lả dần cho đến chết, nhưng không sao có thể nhịn uống được.. Bằng chứng là những năm Sàigòn bát nháo từ 1965 đến 1970 nhiều tu sĩ thường đến trước dinh Độc Lập để tuyệt thực, với những bình nước sâm Cao ly thượng hảo hạng do các nữ đệ tử cúng dâng. Ở trại cải tạo Xuyên Mộc, anh Côn tuyên bố tuyệt thực đòi tự do, bọn cai tù không cho anh uống nước cho đến lúc anh chết.

Từ Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, tác giả Đem tâm tình viết lịch sử, Ba người lính nhẩy dù lâm nạn, Mối tình mầu hoa đào, Tình cao thượng, Hòa bình… Nghĩ gì…? Làm gì…? bị Việt cộng đưa lên trại cải tạo Xuyên Mộc, Bà Rịa. Anh đến đó và nằm tại vùng rừng già ấy.

Hận thù nào rồi cũng qua đi với thời gian. Mai sau dầu có bao giờ… con cháu chúng ta đọc được những trang sử ghi lại những hận thù, những đau thương của ông cha chúng trong nửa cuối thế kỷ thứ 20 đầy máu và nước mắt chắc sẽ phải ngạc nhiên khi thấy ông cha chúng giết nhau, thù hận nhau quá đỗi.

Khi sống trong tù, mắt nhìn thấy những người bạn tù chết thảm thương, tôi vẫn nghĩ các bạn tôi chết, tôi cũng có thể chết như họ. Tại sao không phải là Hoàng Hải Thủy chết cứng trên nền xi măng xà lim số 4 Phan Đăng Lưu và hôm nay Dương Hùng Cường ngồi viết ở Rừng Phong Arlington kể lại cái chết thê thảm của bạn?

Tôi mượn lời văn sĩ Elie Wiesel để diễn tả tâm trạng tôi khi tôi viết những trang này. Văn sĩ Elie Wiesel người gốc Do Thái, sinh trưởng ở Romania, hiện sống trên đất Hoa Kỳ. Ông viết nhiều về thảm họa dân Do Thái ở Âu châu bị Đức quốc xã giết hại trong thế chiến thứ hai. Ông được tặng giải Nobel Hòa Bình năm 1986:

- Tôi không có quyền tha thứ cho bọn giết người về cái tội chúng đã tiêu diệt sáu triệu người Do Thái. Quyền tha thứ hay không là ở những người đã chết.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (phần 29)

Chỉ huy trưởng rút từ trong ngăn kéo ra một xấp báo lá cải của bọn phản động lưu vong in ở nước ngoài để trên bàn.

- Anh Tư đã xem mấy thứ này chưa?

- Dạ có. Tôi vẫn nhận được thường xuyên nhưng… Tư Tuân định hỏi có gì mới, nhưng anh thấy câu hỏi ấy thừa, bởi vì chỉ huy trưởng đã mời ở lại phải có “vấn đề cần trao đổi”. Vì vậy anh bỏ lững câu nói, nhìn đồng chí cấp trên của mình chờ đợi.

- Tôi biết. Mấy thứ giấy lộn này có đáng gì, nhưng nó là khói của một đám lửa cần dập tắt. Do đó, nhiệm vụ của chúng ta là phải chú ý đến nó…

Một đoạn trích từ những trang 74-75 của truyện “Những tên biệt kích cầm bút“. Hai anh Cớm Cộng Thành Hồ Minh Kiên — Nam Thi đồng tác giả. NTBKCB gọi những tờ báo của “bọn phản động lưu vong in ở nước ngoài” là “xấp lá cải”. Nhưng nếu hai anh bị người nào đó hỏi “Tại sao lại gọi là báo lá cải?” chắc chắn hai anh trả lời không thông. Vì mặc cảm răng đen, mã tấu lớ ngớ trước bọn ” ngụy dân Sàigòn” tên nào cũng học thức hơn mình, bọn Cán Cộng thường gồng mình tỏ ra hiểu biết một cách hết sức ngô nghê. Chuyện này chẳng có gì đáng phải théc méc. Đời nào và ở đâu cũng vậy, những anh “xấu hay khoe tốt, dốt hay nói chữ”. Đặc biệt là trong những bài viết của mấy anh VC người ta thường thấy tự dưng mấy ảnh tương vào vài câu tiếng Pháp, tiếng Anh không cần thiết và không giống ai.

Những năm 82, 83 đen hơn mõm chó mực ở Thành Hồ tôi thường tìm trong tờ tuần báo Công An Thành Hồ những tin tức có thể khai thác thành bài báo gửi ra nước ngoài, tất nhiên những tin tôi khai thác đều là những tin bất lợi cho Cộng sản, những tin nói lên đời sống cơ cực của người dân cùng sự bất lực cộng với sự thối nát, ngu ngốc của bọn Bắc Việt Cộng chiếm đóng miền Nam. Có lần tôi tình cờ nhìn thấy mấy chữ tiếng Anh in nghiêng một cách trịnh trọng trong phần truyện dài đăng từng kỳ “Lệnh Truy Nã” của Huỳnh Bá Thành — tức Họa sĩ Ớt báo Điện Tín Chủ nhiệm Thượng nghị sĩ Hồng Sơn Đông. “Lệnh Truy Nã“, tức “Lệnh Bắt Người” đăng trong tờ Công An Thành Hồ:

Đại úy Trường Sơn, cớm ViXi được Huỳnh Bá Thành diễn tả như một nhân vật Công An VC hào hoa phong nhã — anh Đại úy này chính là hóa thân của Cớm Huỳnh Bá Thành tức Ba Trung – khi thẩm vấn một can phạm Đại úy CAVC Trường Sơn ra lệnh:

- Cho tôi biết tên anh…

Can phạm trả lời.

Cớm lắc đầu:

- Không… Cho tôi biết full name của anh kia…

Bố khỉ. Có khỉ thì cũng khỉ vừa thôi, để cho người khác người ta khỉ mí chứ. Hai anh Mít đặc ở giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng giả, hơn nữa còn ở giữa phòng thẩm vấn của bọn Công an Việt Cộng, bọn nổi tiếng về mục bắt người dễ dàng, giam người thật lâu, bỏ quên người trong tù là chuyện thường ngày, đang tự nhiên phang nhau hai tiếng “full name“. Cớm Ba Trung học lóm được ở đâu hai tiếng “full name” lập tức đem ra xài trong tiểu thuyết để chứng tỏ mình cũng biết tiếng Mẽo như ai.

Nhân nói đến chuyện Cớm ViXi ham xài tiếng nước ngoài quê mấy cục, xin kể một chuyện nhỏ về chuyện vợ chồng tên Năm Tốt ở trại Tạm Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, cửa vào thế giới tù đầy của những công dân Thành Hồ.

Năm Tốt, dân miền Nam, tập kết ra Bắc năm 1954, thuở thiếu thời từng theo học Đại học Chăn Trâu với Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh – Năm Tốt ở dưới đàn anh Nguyễn Văn Linh vài lớp – Ra Bắc, cũng như đa số thanh niên Nam bộ chưa có vợ hay có vợ mà bỏ lại trong Nam, Năm Tốt lấy một chị vợ Bắc Kỳ chính cống Bà Lang Trọc, Vợ Năm Tốt có cái tên giả khá đẹp là Thị Loan. Thị người mập mạp, đặc biệt mặt thị ngắn và gẫy trông như mặt loài chó Fox. Những năm 1984, 1985 khi những tu sĩ nhóm Già Lam Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Ni cô Thích Trí Hải, Thượng tọa Thích Đức Nhuận cùng bọn tám người bị gọi là “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” đang ăn cơm tháng dài hạn ở Đại Học Xá Số 4 Phan Đang Lưu, Năm Tốt là Trưởng Trại, tức Quản Đốc Nhà Tù.

Những năm ấy – 1984, 1985- Năm Tốt trạc Năm Bó Gẫy tuổi đời, Thị Loan Năm Bó Chẵn. Thị Loan không phải là nhân viên Trại nhưng Thị tranh chức nhận thuốc và phát thuốc cho tù. Năm Tốt trao trách nhiệm nhận, phát thuốc cho Vợ để Thị ăn chặn thuốc của tù. Việc nhận phát thuốc cho tù là công việc béo bở, ra tiền nhiều và dễ dàng nhất trong nhà tù. Bọn Công An dưới quyền Năm Tốt cay cú nhưng vì sợ Năm Tốt nên chỉ lèm bèm chửi Thị Loan những lúc chúng ngồi riêng với nhau.

Sáng tinh sương ngày 2 tháng 5 năm 1984 tôi thiểu não theo bọn Công An đi vào hành lang khu C 1 Số 4 Phan Đăng Lưu, ông bạn cao niên của tôi là ông Vương Văn Bách – Luật sư – đã nằm ngâm thơ Trần Văn Hương được sáu tháng trong xà lim số 11 khu này. Tôi được đưa vào xà lim số 10. Nửa năm sau anh Bách và tôi đoàn tụ với nhau trong phòng giam tập thể số 6 cùng khu C 1. Anh với tôi ăn chung, nằm cạnh nhau cho đến ngày chúng tôi lên xe sang Thánh Thất Chí Hòa. Có lần tôi nghe anh kể:

- Thằng Năm Tốt sợ vợ thấy mẹ đi. Đàn bà Bắc kỳ loại con mụ Thị Loan đanh đá hạ cấp lắm. Trông cái mặt nó là biết nó nặc nô rồi. Năm Tốt hung hăng con bọ xít ở đâu chứ trước mặt Thị Loan là im re. Các cậu có biết con mụ Loan nó nói với thằng chồng nó ra sao không? Nó nói: “… Nè anh Năm à… anh chơi con đàn bà nào nó hai l… bốn vú thì anh hãy chơi, còn con nào nó chỉ có một l… hai vú thì anh đừng chơi. Tôi đây cũng có…”

Ông bạn cao niên của tôi học Albert Sarrault, từng than thời trẻ ông không học trường Việt nên khi chúng tôi nói với nhau những điển tích trong những sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Quốc Văn Độc Bản: “Ai bảo chăn trâu là khổ? Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy… không nơi nào đẹp bằng quê hương… Xuân đi học coi người hớn hở v.v…,” ông không biết gì để tham dự. Hai lần ông du học Pháp Quốc về ngành Luật. Vậy mà ông kể chuyện mụ vợ Năm Tốt nẹt chồng trơn tru, lưu loát và hết sức có duyên. Nằm bên ông tôi théc méc :

- Con vợ Năm Tốt nó chửi thằng chồng nó ở nhà nó, ai nghe được câu nó chửi chồng? Anh ở biệt giam anh lại càng không nghe được. Dzậy mà anh kể như chính tai anh nghe vậy?

Anh cười tủm:

- Cậu tưởng tôi bịa à? Tôi làm sao có đủ tài bịa một câu hay đến như thế? Vợ Năm Tốt chửi chồng nó công khai, càng nhiều người nghe nó càng khoái. Bọn công an nghe được, nói lại với nhau. Tù ra làm lao động nghe được chuyện bọn công an, kháo lại với nhau. Tôi đứng cửa gió biệt giam hóng chuyện chúng nó nên tôi nghe được.

Chừng một hai tháng Năm Tốt lờ phờ đi một vòng kiểm soát nhà tù. Khi đứng lại trước cửa một phòng tù Y có cái cử chỉ ruồi bâu kiến đậu là đưa tay lên bịt mũi, tay kia vẫy vẫy ra hiệu cho Trưởng phòng đứng lùi lại, đừng có đứng ngay sau cửa. Nhà tù là nhà tù Việt Cộng, bọn đàn anh Năm Tốt giao cho y giữ tù. Phòng tù chỉ có thể giam được 15 mạng, nó nhét vào đến 40 có khi 45 mạng. Cầu tiêu ngay trong phòng. Nước không có. Dàn ống dẫn nước lâu năm đóng rỉ sét, không có một giọt nước vào cầu tiêu trong tù. Làm gì mà không hôi thối. Thay vì Cai Tù Trưởng Trại phải xấu hổ vì phòng tù nhà nó hôi thối, nó lại bịt mũi khinh bỉ cái hôi thối của chính nhà nó.

Tết 1985, ngày 28 hay 29 Tết chi đó. Năm Tốt đi một vòng, gọi Trưởng Phòng Tù ra đứng cửa, nói:

- Ba ngày Tết tôi để cho mấy anh em vui chơi thong thả nhưng không được ồn ào. Sau ba ngày Tết triệt để cấm cờ bạc. Anh nào đánh bạc bắt được tôi phạt bảy ngày, Trưởng phòng tôi cho đờ-mi tăng

Bẩy ngày là bẩy ngày nằm xà lim, bị còng chân hoặc còng tay. Năm Tốt cho “Trưởng phòng đờ-mi tăng” tức là cho Trưởng Phòng nằm xà lim, còng tay chân… ba ngày rưỡi.

Chỉ cần nói thêm vài dòng nữa về mục nhận, phát thuốc của tù của Thị Loan. Trong truyện của Aleksandre Solzhenytsin viết về một ngày trong đời anh tù Ivan Denisovitch ở Liên Xô, tác giả tả anh tù Ivan may mắn được bọn công an cho ra hầu hạ chúng những việc vặt. Nhờ vậy Ivan được hưởng chút cà phê thừa, bánh mì vụn của bọn cai tù. Tù Liên Xô sống nhờ bọn cai tù. Tù Việt Cộng ngược hẳn: Bọn cai tù sống nhờ tù. Chúng bóc lột, ăn chận, ăn gian, ăn bớt, ăn chĩa của tù không chút ngượng ngùng.

Nhà tù Số 4 Phan Đăng Lưu không cho phép tù giữ số thuốc người nhà gửi vào, kể cả thuốc bổ. Khi đến gửi đồ nuôi thân nhân phải nộp số thuốc cho Thị Loan. Thị ngồi riêng một bàn nhận thuốc. Cũng ghi tên, ghi số thuốc vào sổ đàng hoàng nhưng người tù có thuốc xin được dùng thuốc của chính mình rất khó. Muốn xin thuốc của mình người tù phải nhờ mấy anh tù được ra làm lao công quét dọn, khiêng cơm, phát cơm trong
khu. Mấy anh tù này nói lại với Thị Loan. Thị Loan không xuất hiện, anh tù lao động không có trách nhiệm cũng không có thẩm quyền xin, đòi thuốc cho bất cứ ai. Và anh tù có thuốc chịu chết.

Thuốc gửi vào tù mười, người tù có thuốc được lãnh hai, ba phần là may. Nhiều người không biết người nhà mình gửi cho mình những thứ thuốc gì. Thị Loan đem bán số thuốc Thị lấy của tù cho lái thuốc để cung cấp cho thị trường Âu dược. Những năm ấy bất cứ thứ thuốc Tây nào cũng bán được và bán có giá ở Thành Hồ.

Hôm nay trong số những bạn đọc những dòng này viết về vợ chồng cai tù Năm Tốt và Nhà tù Số 4 Phan Đăng Lưu chắc phải có một số bạn từng sống những năm 84- 85- 86 ở nhà tù này. Đã từng biết Năm Tốt — Thị Loan, các bạn làm chứng là tôi viết đúng.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 124 other followers