Hư Trúc (phần 1)

Hư Trúc là người có võ công và nội lực cao nhất Thiên Long. Chú tu hành từ thưở mới lọt lòng mẹ tại Chuà Thiếu Lâm, chú vào sân khấu Thiên Long với số tuổi mười sáu, mười bẩy nên chú không còn là chú tiểu song chú vẫn chưa phải là Sư bác, Sư ông. Ta gọi chú là Sư chú.

Hư Trúc trạc tuổi Đoàn Dự, Mộ Dung Phục, Du Thản Chi. Chú chỉ muốn tu hành suốt đời và tuy tu trong chuà Thiếu Lâm, nơi ai cũng võ nghệ cùng mình, võ từ Phương Trượng Đại sư đến ông bếp già quanh năm và cả đời chỉ đánh lộn với đám nồi niêu, soong chảo; Sư chú Hư Trúc hoàn toàn không có chút síu võ công nào cả. Như đã nói chú chỉ muốn tu thành chánh quả, chú không muốn học võ.

Hư Trúc được đi theo hầu hạ Sư phụ, một cao tăng chùa Thiếu Lâm đi vân du. Khi ấy trên giang hồ có tin Tổng Đàn Vô Vi Phái ở Hồ Nam mở cuộc tuyển lựa người làm Chưởng Môn Nhân. Sư phụ của Hư Trúc đến đó chứng kiến cuộc tuyển người. Vì uyên nguyên ấy Sư chú Hư Trúc cũng đến Tổng Đàn Vô Vi Phái ở Hồ Nam.

Vô Vi Phái có thủ tục lạ kỳ: không tuyển người trong phái làm Chưởng môn nhân mà lại tuyển người ngoài. Cách tuyển người cũng không giống ai: một bàn cờ đã sắp sẵn được đặt ra, ai phá được thế cờ, thắng được ván cờ sẽ được Vô Vi Phái nhận làm Chưởng môn nhân.

Tô Tinh Hà, một nhân vật cao cấp trong Vô Vi Phái, chủ trì bàn cờ. Nơi đấu cờ được tổ chức trên bãi cỏ rộng lưng đồi, trước một căn nhà gỗ, bên hàng thông xanh. Được tin biểu huynh của nàng là Mộ Dung Công Tử sẽ đến dự cuộc tuyển lựa, Vương Ngọc Yếùn đến Tổng Đàn Vô Vi Phái. Đoàn Dự đi theo nàng nên Đoàn Dự cũng đến Tổng Đàn Vô Vi Phái.

Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh đến dự tuyển. Lão ngồi vào bàn cờ trước nhất. Lão rất cao cờ — cờ này là Cờ Vi, không phải Cờ Tướng — nhưng thế cờ bí hiểm làm lão đầu váng, mắt hoa, kinh mạch đảo lộn. lão đành chịu thua. Đoàn Dự rồi Mộ Dung Công Tử được Tô Tinh Hà long trọng mời vào bàn cờ. Tô Tinh Hà rất muốn một trong hai chàng trẻ tuổi đẹp trai, hào hoa phong nhã Đoàn Dự, Mộ Dung Phục giải được thế cờ, làm Chưởng môn Tinh Tú phái.

Đoàn Dự không thích võ công, cũng chẳng ham làm Chưởng môn bất cứ bang phái nào trên cõi đời này. Chàng đến đây chỉ vì chàng đi theo Vương Ngọc Yến. Và chàng xây sẩm mặt mày khi nhìn thấy tình yêu của Vương Ngọc Yến với biểu huynh của nàng, chàng còn tinh thần đâu mà cờ với quạt. Chàng ngồi vào bàn cờ vì được Tô Tinh Hà trịnh trọng mời.

Đây là lần thứ nhất Mộ Dung Công Tử xuất hiện bằng xương, bằng thịt trên sân khấu Thiên Long. Trước đó Kim Dung toàn diễn tả chàng qua lời những nhân vật Thiên Long nói đến chàng và bản lãnh gọi là ” Đẩu chuyển, tinh di” của nhà Mộ Dung.

Kim Dung cho Mộ Dung Phục xuất hiện đẹp như rồng, như phượng. Chàng đứng trên đỉnh hàng thông xanh gần đó tự lúc nào không ai hay. Từ xa một chiếc lá bay tới lơ lửng trên bàn cờ rồi rơi xuống một ô cờ. Mọi người quanh bàn cờ ồ lên một tiếng kinh ngạc và thán phục. Nước cờ quá hay. Người vừa đi nước cờ tuyệt diệu ấy phải là một Vô Địch Kỳ Vương.

Vương Ngọc Yến kêu lên:

– Biểu huynh của ta đến.. Biểu huynh của ta là Mộ Dung Công Tử.. Biểu huynh của ta chắc sẽ giải đuợc thế cờ này…

Quần hùng biết người vừa ném chiếc lá là Mộ Dung Công Tử, và Công Tử sắp đến. Công Tử đến thật. Công Tử thần thái hào hoa, phong nhã, ung dung ngồi vào bàn cờ. Công Tử còn điển trai hơn cả Đoàn Vương tử nước Đại Lý. Mọi người nín thở. Tô Tinh Hà bồi hồi chỉ mong Công Tử phá được thế cờ.

Nhưng sau vài nước cờ có vẻ sáng sủa, thế cờ của Công Tử lập tức đi vào ngõ bí. Mộ Dung ngồi lặng trước bàn cờ. Chàng thấy thế cờ giống như tình trạng mộng ước khôi phục ngai vàng Yên quốc của gia đình chàng. Chàng chỉ còn một nhúm tàn quân bị quân địch bao vây kín mít. Chàng tiến lên là chết, lùi lại cũng chết, sang phải chết, sang trái cũng chết, ở yên cũng chết. Biết làm sao đây? Sự suy nghĩ và tuyệt vọng làm Mộ Dung Phục mắt hoa, đầu váng, máu tươi ứa ra trong miệng chàng.

Đến lượt Sư chú Hư Trúc ngồi vào bàn cờ. Chú không có ý định ngồi vào bàn cờ vì chú mù tịt về cờ quạt. Chú ngồi vào bàn cờ vì chú nghe có tiếng người bảo chú ngồi vào. Chú tưởng người ra lệnh cho chú là Sư phụ của chú. Nhưng người ra lệnh cho chú là Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh. Lão dùng phép “truyền âm nhập mật” nói vào tai Hư Trúc. Truyền âm nhập mật là phép người nói không nói ra tiếng, và người nói muốn nói với ai thì chỉ người được cho nghe mới nghe được tiếng.

Lão Ác Ma đã thua cuộc, ra đứng chầu rìa, nhưng lão còn cay cú. Lão cho nhà sư trẻ vào cuộc để phá chơi cho bõ ghét. Lão, vẫn dùng phép truyền âm nhập mật, chỉ cho Hư Trúc đánh bậy, đánh bạ. Mọi người lại ồ lên ngạc nhiên khi thấy nhà sư trẻ đi một nước cờ.

Đây là nước cờ tự sát: đẩy quân mình vào chỗ chết. Không ai, kể cả những tay cờ cao đến đít vịt xiêm lai, lại đi nước cờ ngu ngốc này.

Tô Tinh Hà giận dữ quát lên:

– Đây không phải là nơi mấy người đến rỡn chơi..

Lão đánh một chưởng lên tảng đá gần bên. Tảng đá vỡ làm nhiều mảnh…

Hư Trúc ngồi chết trân. Chú muốn xin lỗi nhưng chú chưa mở miệng ra nói được. Thái độ mọi người bỗng trở thành khác lạ. Người ta thấy nhà sư trẻ vừa đi một nước cờ tuyệt diệu. Cờ lâm thế bí, phải hy sinh một số quân mới có thể thoát được trùng vi, mới có đường thoát ra trung thổ để tranh thắng, tranh hùng. Mà đúng như vậy. Sau nước cờ thí quân, thế cờ bí của Hư Trúc bắt đầu được giải. Từ nước này trở đi là dễ rồi. Đoàn Diên Khánh dùng truyền âm nhập mật chỉ tiếp, Hư Trúc thắng ván cờ.

Nhà sư trẻ không muốn được tuyển làm bất cứ chức tước gì trên cõi đời này, định mệnh an bài cho chú thành Chưởng Môn Vi Vô Phái. Chú được Tô Tinh Hà đưa đến trước căn nhà gỗ. Chú ngẩn ngơ:

– Nhà không có cửa! Làm sao vào..?

Tô Tinh Hà nói lớn:

– Không có cửa thì phá vách mà vào…

Lão đẩy mạnh Hư Trúc. Nhà sư trẻ lao vào vách gỗ. Vách bể, nhà sư ngã vào trong căn nhà.

Khi ngồi lên được Hư Trúc nhìn quanh. Trong nhà tối mờ. Chú sợ hãi khi thấy bóng người lơ lửng giữa chừng. Chú tưởng là ma. Sau đó chú nhìn kỹ mới biết đó là một người được treo vào sợi dây buộc lên mái nhà. Người được treo xếp vòng tròn, chân ở trên, đầu ở dưới.

Chú nghe tiếng người đó gọi:

– Tiểu tử.. Lại đây…

Chú lại gần. Người treo lơ lửng là một ông già đẹp lão, sắc mặt hồng hào, ánh mắt sáng long lanh. Ông này là Vô Nhai Tử, Chưởng Môn Vô Vi Phái. Thời trẻ ông rất đẹp trai. Ông sắp từ trần, ông chỉ còn sống để chờ truyền nhân. Một lần nữa người đọc thấy điểm độc đáo của Vô Vi Phái: muốn Chưởng Môn nhân là người đẹp trai. Vô Nhai Tử nhìn truyền nhân của ông, thấy Hư Trúc xí trai quá, thất vọng ông thở dài:

– Sao ngươi lại có thể xấu đến thế được?

Hư Trúc mắt trố, mũi huyếch, răng hô, bị chê nên tự ái dồn dập, chú nói:

– Tôi không muốn vào đây. Nếu tiền bối không thích, tôi xin kiếu…

Chú định quay ra. Vô Nhai Tử dơ một ngón tay. Hư Trúc không bước đi được. Vô Nhai Tử nhìn Hư Trúc kỹ hơn. Ông lại thở dài:

– Mười việc ở đời có đến chín việc không được như ý. Ngươi vào được đây là ngươi có uyên nguyên với ta. Đành vậy. Tiểu tử.. Lại đây…

Hư Trúc bị một sức mạnh kéo tới chỗ Vô Nhai Tử. Ông già tung người lên, đặt đỉnh đầu ông lên đỉnh đầu Hư Trúc. Nhà sư bị đè xuống ngồi trên sàn. Bằng cách đặt đỉnh đầu mình lên đỉnh đầu Hư Trúc, Vô Nhai Tử truyền công lực gọi là Bắc Minh Chân khí cho Hư Trúc.

Hư Trúc mê người trong thời gian được truyền công lực không biết là bao lâu. Khi tỉnh lại, chú thấy ông già Vô Nhai Tử ngồi trước mặt chú. Thần sắc ông thay đổi khác hẳn, da ông răn reo, khô héo, mắt ông lạc thần. Ông khẽ nói:

– Con đã nhận công lực tám mươi năm tu dưỡng của ta. Từ nay con là Chưởng Môn Vi Vô Phái. Ta là Sư phụ của con. Con lậy ta đi…

Hư Trúc chỉ nhận Sư phụ Thiếu Lâm của chú là sư phụ, nhưng lòng dạ chú thương người. Người sắp chết có ước muốn cuối cùng được chú gọi là Sư phụ, thấy việc đó cũng chẳng có gì quan trọng, chú quỳ gối lậy ông và gọi ông ba tiếng:

– Sư phụ..

Hài lòng, Vô Nhai Tử thở hơi cuối cùng.

Hư Trúc đi ra khỏi căn nhà. Trời đã tối, quần hùng đã đi hết. Trên bãi cỏ rộng đang diễn ra trận đấu chưởng lực giữa Đinh Xuân Thu, Chưởng Môn Tinh Tú phái và Tô Tinh Hà, cao thủ Vô Vi phái.

Đinh Xuân Thu và bọn đồ đệ Tinh Tú phái dàn hàng ngồi một bên, Tô Tinh Hà và đám môn đồ Vô Vi phái dàn hàng ngồi một bên. Đống lửa cháy ở giữa. Đinh Xuân Thu và Tô Tinh Hà dùng chưởng lực đẩy ngọn lửa sang phía nhau.
Hư Trúc thấy Tô Tinh Hà sắp bại đến nơi. Chưởng lực của Tô Tinh Hà yếu hơn chưởng lực của Đinh Xuân Thu, ngọn lửa bị đẩy tới sắp táp vào mặt Tô Tinh Hà. Bên kia bọn đồ đệ Tinh Tú phái thổi kèn, đánh trống ca tụng Sư phụ của chúng rầm rĩ…

Hoàn toàn không biết mình có Bắc Minh chân khí, cũng không biết mình có thể giúp được Tô Tinh Hà, Hư Trúc chỉ thấy Tô Tinh Hà sắp bại, phải ngả người về phía sau tránh lửa táp vào mặt nên thương hại. Chú đến ngồi sau lưng Tô Tinh Hà, đặt bàn tay lên lưng Tô Tinh Hà để đỡ cho ông ta khỏi ngã.

Và như thế là Bắc Minh Chân Khí trong người Hư Trúc, Chưởng Môn Tinh Tú Phái, cuồn cuộn trôi sang người Tô Tinh Hà. Chân khí lập tức đánh bạt ngọn lửa về phiá Đinh Xuân Thu, mạnh như bão tố. Đinh Lão Quái bị lửa đốt cháy râu tóc phải lộn nhào ra đằng sau. Lão bỏ chạy luôn. Bọn đồ đệ của Lão bị lửa đốt kêu chói lói. Bỏ trống kèn lại chúng theo Sư phụ đi một đường chạy vắt giò lên cổ…

***

Từ Tổng Đàn Vô Vi phái bước ra Sư Chú Hư Trúc đi một mình trên giang hồ. Giờ đây chú có công lực kinh người nhưng vì chưa có võ công, chú chưa biết xử dụng pho công lực ấy. Đời chú chỉ thực sự thay đổi khi định mệnh an bài cho chú gập Thiên Sơn Đồng Mỗ.

Thiên Sơn Đồng Mỗ, nữ nhân vật kỳ quái nhất trong toàn bộ tiểu thuyết Kim Dung : Võ Lâm Ngũ Bá, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Kiếm–Đồ Long Đao, Thiên Long Bát Bộ, Tiếu Ngạo Giang Hồ, Lộc Đỉnh Ký…

Quần hùng ba mươi sáu đảo, bẩy mươi hai động bị Thiên Sơn Đồng Mỗ bắt phải thần phục, đàn áp, họp đại hội tính chuyện gỡ bỏ ách thống trị của Đồng Mỗ. Họ bị Đồng Mỗ thống trị, chế ngự bằng cách cấy Sinh Tử Phù vào người họ. Mỗi năm họ phải lên Linh Thứu Cung trên đỉnh Thiên Sơn nộp cống cho Đồng Mỗ. Họ thuận phục, Đồng Mỗ sẽ cho họ thuốc giải. Nếu không Sinh Tử Phù sẽ phát tác, làm họ phát điên.

Thiên Sơn Đồng Mỗ luyện một thứ võ công làm cho Mụ trẻ mãi không già, dung nhan Đồng Mỗ dừng lại ở số tuổi 25–30 cái xuân xanh. Vì lúc luyện công Mụ bị tẩu hoả nhập ma nên thân hình Mụ chỉ bằng em gái muời ba, mười bốn tuổi. Vì vậy Mụ có xước hiệu là Thiên Sơn Đồng Mỗ tuy số tuổi thực của Mụ khi Mụ vào sân khấu Thiên Long là khoảng Sáu Bó Gập đến Bẩy Bó.

Quần hùng 36 đảo, 72 động dò biết cứ mười năm một lần Thiên Sơn Đồng Mộ phải bế môn để luyện công. Khi tái luyện công như thế Đồng Mỗ trở thành đứa nhỏ bẩy, tám tuổi yếu sìu, công lực Mụ cùng cơ thể Mụ tăng trưởng dần với số ngày Mụ luyện công. Lại dò biết đúng lúc Thiên Sơn Đồng Mỗ đang luyện công nên quần hùng tấn công vào Linh Thứu Cung. Họ không thấy Đồng Mỗ đâu cả. Trong mật cung họ bắt được một đứa con gái chừng mười tuổi. Họ nghi đứa nhỏ chính là Thiên Sơn Đồng Mỗ.

Đại hội bất thường của quần hùng 36 đảo, 72 động họp ban đêm ở bãi biển. Đoàn Dự, Vương Ngọc Yến, Mộ Dung Phục đến dự. Hư Trúc đi tìm Sư phụ của chú cũng đến dự.

Người chủ trì cuộc họp là Ô Lão Đại. Trong ánh lửa bập bùng Hư Trúc thấy Ô Lão Đại mở cái túi vải, trình diễn với quần hùng một cô bé. Cô bé sợ hãi chỉ biết khóc. Thấy quần hùng bị Sinh Tử phù phát tác, phát điên, có thể giết cô bé, Hư Trúc thương hại bất ngờ nhẩy đến ôm cô bé trong túi vải lên vai, bỏ chạy.

Nhờ có Bắc Minh Chân Khí Hư Trúc chạy thật nhanh. Chú cõng cô gái chạy lên đỉnh Thiên Sơn. Cô gái trong túi vải chính là Thiên Sơn Đồng Mỗ. Bà chỉ cho Hư Trúc cách vận công nhẩy lên và chạy trên những ngọn cây tùng. Rồi bà dậy Hư Trúc cách đối phó với đám quần hùng đuổi theo bằng cách vận công ném những trái tùng. Quần hùng bị trái tùng bắn trúng rụng ngã hàng loạt. Thiên Sơn Đồng Mỗ bắt Ô Lão Đại phải hầu hạ bà.

Đồng Mỗ ở lại trên đỉnh Thiên Sơn để tiếp tục luyện công, Hư Trúc, Ô Lão Đại cũng phải ở lại đó để phục vụ Bà. Mỗi ngày Ô Lão Đại phải đi bắt sống một thú rừng — hươu nai, hoẵng — đem về cho Đồng Mỗ luyện công. Đồng Mỗ ngồi xếp bằng tròn, cắn cổ con vật hút máu, rồi một tay chỉ lên trời, theo cách chỉ tay của Thích Ca trong tư thế “Thiên thượng, địa hạ, duy ngã độc tôn”, mắt nhắm lại, luyện công. Khi ấy có làn sương trắng hiện lên trên đầu Đồng Mỗ. Sau mỗi lần luyện công như thế công lực Đồng Mỗ phục hồi mấy thành, dung nhan già thêm mấy tuổi.

Một đêm Đồng Mỗ đánh thức Hư Trúc dậy, bà sợ hãi nói:

– Tử thù của ta tìm đến. Cõng ta chạy mau..

Hư Trúc cõng Đồng Mỗ chạy. Trời sáng, chú đặt Đồng Mỗ xuống bên môt dòng suối. Đồng Mỗ nói:

– Nếu ta luyện công thêm được mấy ngày nữa, ta chẳng sợ gì con tiện tì. Nhưng nay công lực ta còn yếu, ta phải tạm tránh nó…

Nhìn thấy cái nhẫn sắt Chưởng Môn Vô Vi Phái ở tay Hư Trúc, Đồng Mỗ kinh ngạc hỏi:

– Sao ngươi có cái nhẫn sắt đó? Đưa đây ta coi..

Hư Trúc kể uyên nguyên việc chàng được Chưởng Môn Vô Nhai Tử truyền công lực và trao nhẫn sắt Chưởng Môn. Đồng Mỗ khóc khi nghe kể Chưởng Môn Vô Nhai Tử đã chết. Bà là người trong phái Vô Vi. Vô Nhai Tử là Sư đệ của bà. Tử thù của bà, người Đồng Mỗ gọi khinh miệt là con tiện tì, người sắp đuổi tới, là Lý Thu Thủy, Hoàng hậu nước Tây Hạ, sư muội của bà và cũng là sư muội của Vô Nhai Tử.

Cuộc tình rắc rối tơ, Đồng Mỗ yêu Vô Nhai Tử, Lý Thu Thủy cũng yêu Vô Nhai Tử. Vì tranh dành tình ái Sư tỉ, sư muội thù nhau. Lý Thu Thủy hại Sư tỉ bằng cách làm Sư tỉ bị kinh hoàng trong lúc luyện công, thân hình đứng lại ở số tuổi mười ba, mười bốn, Đồng Mỗ hại Sư muội bằng cách dùng kiếm để thẹo trên mặt Sư muội.

Hư Trúc là đồ đệ của Vô Nhai Tử, chú phải gọi Đồng Mỗ là Sư bá, Lý Thu Thủy là Sư thúc.

Lý Thu Thủy dò biết Sư tỉ đang luyện công dở dang nên tìm đến để giết. Nhờ có Hư Trúc bảo vệ, bà không làm hại được Đồng Mỗ ngoài việc đánh Đồng Mỗ gẫy chân. Hư Trúc lại cõng Đồng Mỗ chạy trốn. Lần này Đồng Mỗ chỉ đường cho Hư Trúc đưa mình vào ẩn nấp trong hầm chứa băng trong hoàng cung nước Tây Hạ. Bà đi nước cờ cao: Sư muội của bà có thể đi tìm bà ở bất cứ đââu nhưng sẽ không ngờ bà lại lọt vào ẩn náu trong chính hoàng cung Tây Hạ.

Hoàng cung Tây Hạ có một hầm chứa băng lạnh. Mùa đông người ta lấy những tảng băng đá ngoài trời chứa vào hầm này, để dành đến mùa hè trời nóng lấy đá lạnh ra ăn. Đây lại là một vụ Kim Dung pha chế sa tế, sì dầu quá nặng tay, tưởng tượng quá lố: người Á đông không có thói quen ăn nước đá lạnh, ăn càrem dù trong mùa hạ, người Á Đông ngày xưa không uống rượu pha đá lạnh.

Bị gẫy một chân Đồng Mỗ chống nạng đi lại được. Bà đã có đủ công lực để đêm đêm vào Vườn Ngự Uyển bắt chim về lấy máu tươi luyện công, vào nhà bếp hoàng cung lấy thức ăn. Hư Trúc chán ngán Sư bá của chàng vì thấy bà thù hận, sân si quá đỗi. Chàng từ biệt bà để ra đi, Đồng Mỗ không cho. Hư Trúc cứ đi. Đồng Mỗ điểm huyệt cho Hư Trúc ngã nằm trong hầm băng.

Đồng Mỗ đem thức ăn về cho Hư Trúc, nhưng đó toàn là thịt cá, Sư chú ăn chay, nhất định nhịn đói đến chết, không ăn thịt cá. Đồng Mỗ nói với chú:

– Ngươi chưa biết thủ đoạn của ta đâu. Ta rất ghét những kẻ nào chống lại ta. Với những kẻ chống ta, ta làm cho phải phục tòng ta ta mới chịu. Ngươi cũng vậy. Ngươi không chống nổi ta đâu.

Hư Trúc cứng đầu, chỉ nằm niệm kinh chờ chết. Để đánh gẫy sự phản kháng của nhà sư trẻ kiên cường, Thiên Sơn Đồng Mỗ xử dụng một tuyệt chiêu…

Tuyệt chiêu đúng là… tuyệt chiêu. Chiêu thức này mà đánh sợ trên cõi đời này khó có chú thiếu niên mười bẩy, mười tám nào không gục. Thoạt đầu Đồng Mỗ tỏ ra nhân nhượng, Bà chịu lấy thức ăn chay về cho Hư Trúc ăn. Và đây là tuyệt chiêu của Đồng Mỗ: Hoàng cung Tây Hạ khi đó có nàng Công chuá mới mười lăm, mười sáu tuổi. Nửa đêm Đồng Mỗ vào phòng ngủ của Công chuá, điểm huyệt cho Công chuá ngủ mê, cuộn nàng trong mền bông, bồng nàng vào hầm băng, thả nàng vào nằm chung chăn với Hư Trúc.

Chuyện tả rằng Hư Trúc đang ngủ bỗng thấy có người thiếu nữ khoả thân nằm ôm mình, mùi da thịt trinh nữ thơm phức bay vào mũi làm chàng ngây ngất — Từ đây trở đi chúng ta phải gọi Hư Trúc Tử là chàng — Chàng ôm nàng và nàng ôm chàng. Họ yêu nhau như họ yêu nhau trong mơ.

Gần sáng, Đồng Mỗ lại điểm huyệt cho Công Chuá Tây Hạ ngủ mê, cuốn nàng trong mền gấm, đưa nàng trở về phòng ngủ.

Từ đó Hư Trúc sống để chờ đêm đến lại được ân ái với người thiếu nữ. Có đêm Công chúa nửa tỉnh, nửa mơ hỏi người tình:

– Chàng ơi.. Chúng ta đang ở đâu? Đây là đâu? Sao em thấy lạnh quá?

Hư Trúc cho nàng biết họ đang ở trong hầm băng, Công chuá lại hỏi:

– Chàng là ai? Tên chàng là gì?

Diêm Vương có ra lệnh Nhà Sư Trẻ phá giới cũng không dám nói mình là ai, Công Chuá không hỏi tới, nàng mơ màng:

– Em gập chàng trong mộng. Em gọi chàng là Mộng Trung Lang…

Sau năm bẩy đêm ái ân thần tiên, ngà ngọc, Hư Trúc quen mùi. Bỗng đêm ấy chàng nằm chờ suốt sáng không thấy Sư bá thân thương đưa người đẹp đến. Chàng đành chờ đêm sau. Đêm sau không thấy rồi đêm sau nữa, đêm sau nữa… Trong bụng chàng như có lò lửa hồng mà Sư bá của chàng thì cứ tỉnh queo coi như trên cõi đời nói chung và trong hầm băng nói riêng chẳng có chuyện gì quan trọng cả.

Xấu hổ, ngượng ngùng nhưng sau cùng Hư Trúc cũng phải lên tiếng xin Sư bá cho mình được gập lại người thiếu nữ.

Đồng Mỗ hừ lên một tiếng:

– Bây giờ ngươi mới chịu mở miệng năn nỉ ta ư? Ngươi còn chống ta nữa thôi?

Thôi.. Nhất định là thôi rồi.. Hư Trúc đầu hàng không điều kiện. Kiếp này chàng không thể tu thành chánh quả được, đành để kiếp sau. Để kiếp sau thì Hư Trúc cũng chẳng có gì khác người. Trên cõi đời này có đến tỉ tỉ người vẫn kiếp nào cũng hẹn để dành kiếp sau sẽ tu hành. Chàng ăn thịt, ăn mỡ, ăn cá, ăn tôm, chàng ngoan ngoãn làm theo lời Sư bá.

Hư Trúc (phần 2)

Nhưng cuộc tình Hầm Băng không thể kéo dài. Thời gian không đứng về phe Đồng Mỗ–Hư Trúc. Một đêm Lý Thu Thủy vào hầm băng. Lần này Thiên Sơn Đồng Mỗ, tuy cụt một chân, đã đủ sức đấu chưởng ngang tay với Lý sư muội. Hai bà long tranh, hổ đấu kịch liệt trước sự chứng kiến bất động của Hư Trúc. Lý Thu Thủy sợ Hư Trúc đánh giúp Thiên Sơn Đồng Mỗ nên bà điểm huyệt cho chàng nằm đó.

Hai bà già giết giặc loạn đả trong hầm băng, chưởng lực hai bà đánh ra làm những cây đuốc rơi xuống những bành rơm giữ cho đá lạnh trong hầm không tan. Lửa đuốc làm những bành rơm bốc cháy. Băng tan thành nước, chẩy đầy trong hầm. Hai bà cùng hết công lực, cùng nằm ngay đơ, cán cuốc. Nước dâng lên đưa hai bà đến nằm gần nhau, Hư Trúc vẫn bị điểm huyệt nằm giữa hai bà. Đến lúc ngay đơ cán cuốc này hai bà vẫn còn đánh nhau bằng cách truyền công lực qua người Hư Trúc.

Băng đá bị lửa đốt tan thành nước. Lửa tắt, hầm băng trở lại lạnh giá. Nước đóng lại thành băng. Hai bà già cùng Hư Trúc như ba người nằm trong những cây nước đá.

Bắc Minh chân khí trong người Hư Trúc tự hành làm chàng giải khai được huyệt đạo. Chàng mỗi tay ôm một bà già chạy ra khỏi hoàng thành Tây Hạ. Trời sáng, Hư Trúc nghỉ lại trong rừng. Chàng cẩn thận để hai bà già mỗi bà nằm một bên bờ suối, đề phòng khi tỉnh lại hai bà lại tiếp tục đánh nhau.

Đúng như Hư Trúc sợ, vừa tỉnh lại Thiên Sơn Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy lại chửi nhau, đe dọa giết nhau rồi hai bà xoay ra đấu võ mồm. Vì mỗi bà nằm một bên bờ suối, cả hai cùng kiệt sức không thể vượt qua dòng suối để kết liễu đời nhau, hai bà dùng anh sư điệt Hư Trúc để đánh nhau. Bằng cách:

Thiên Sơn Đồng Mỗ nói:

– Nếu ta đánh chiêu Niêm Hoa Vi Tiếu thì con tiện tỳ chỉ có nước chắp tay chịu chết. Hư Trúc.. Ngươi thay ta biểu diễn cho con tiện tỳ thấy chiêu thức này, xem nó đối phó ra làm sao..

Đồng Mỗ chỉ chiêu thức cho Hư Trúc, Hư Trúc qua bờ suối bên kia biểu diễn chiêu thức với Lý Thu Thủy.

Bà già này cười nhạt:

– Tưởng gì. Chiêu thức của Mụ Lùn ta hoá giải cái một. Mụ ra chiêu, ta sẽ đỡ như vầy.. như vầy. Ta sẽ đánh lại như vầy.. Ngươi biểu diễn chiêu thức của ta cho Mụ coi, để Mụ hết còn vênh váo…

Cứ như thế hai bà già truyền những chiêu thức võ công cao siêu nhất của mình cho Hư Trúc. Tuy không muốn Hư Trúc nghiễm nhiên trở thành đệ nhất cao thủ võ lâm. Thế rồi cuối cùng hai bà già ác liệt cũng phải tắt thở…

Người tắt thở trước là bà Lý Thu Thủy, môn đồ Vô Vi phái, Hoàng Hậu nước Tây Hạ.

Bên kia suối bà Thiên Sơn Đồng Mỗ nở nụ cười hài lòng:

- Con tiện tỳ cuối cùng cũng chết trước ta. Ta được thấy Mụ chết. Vậy là ta mãn nguyện. Ta cũng đi thôi…

Đồng Mỗ truyền chức Chủ nhân Linh Thứu Cung, trao nhẫn sắt cho Hư Trúc. Dù không muốn định mệnh an bài cho Hư Trúc trở thành Chưởng môn Vô Vi phái kiêm Chủ nhân Thiên Sơn Linh Thứu Cung, một môn phái chỉ có toàn là nữ đồ.

Thiên Sơn Đồng Mỗ chết rồi, Hư Trúc thấy bà Lý Thu Thủy động đậy. Thì ra bà già này chưa chết, bà chỉ giả chết để đánh lừa bà Sư tỉ ác ôn của bà. Bà nói với nụ cười:

– Mụ Lùn chết rồi. Ta mãn nguyện vì ta được thấy Mụ chết. Ta đã đánh lừa được Mụ…

Trong lòng bất nhẫn Hư Trúc nói:

– Thì Sư bá cũng đã giả chết đánh lừa được Sư thúc một lần rồi…

Trong trận kịch đấu dưới hầm băng Đồng Mỗ đã giả chết, nằm chịu đòn, Lý Thu Thủy tưởng Sư tỉ chết thật nên tới cúi xuống gỡ nhẫn sắt Chưởng môn Vô Vi phái ra khỏi tay Sư tỉ — Đồng Mỗ lấy nhẫn sắt này của Hư Trúc — bà bị Sư tỉ của bà quay lại đánh bà một chưởng vào ngực làm bà cũng nằm thẳng cẳng.

Lý Thu Thủy thở dài:

– Ngươi sống gần Sư bá ngươi nên ngươi có thiên về Sư bá ngươi mấy thành..

Đến phút cuối cùng này Lý Thu Thủy mới nhìn thấy cuộn tranh trong mình Hư Trúc rơi ra. Bà hỏi chàng:

– Ngươi có cái gì đó?

Hư Trúc trả lời đây là bức tranh do Sư phụ Vô Nhai Tử của chàng trước khi tịch diệt trao cho chàng. Chàng mở tranh cho Lý Sư thúc xem. Tranh vẽ hình một nữ lang thật đẹp trạc hai mươi tuổi. Lý Thu Thủy xúc động nhìn người đẹp trong tranh…

Kim Dung lại dành cho ta một ngạc nhiên: Nữ lang trong tranh là Vương phu nhân, bà mẹ của Vương Ngọc Yến. Bà này cũng là môn đồ Vô Vi phái, là sư muội của Đồng Mỗ, Lý Thu Thủy. Chưởng môn Vô Nhai Tử là sư huynh của bà. Sự đời rắc rối tơ… Đám sư huynh, sư tỉ, sư muội của cái gọi là Vô Vi phái yêu nhau, thù nhau loạn cào cào. Đồng Mỗ, Lý Thu Thủy cùng yêu Vô Nhai, thù nhau, hại nhau vì Vô Nhai. Trong khi đó Vô Nhai Tử — coi bộ — yêu Vương Sư muội, và Vương Sư muội lại yêu Đại Lý Nam Vương Đoàn Chính Thuần… Chưởng môn Vô Vi — coi bộ — thất tình Vương Sư muội, trọn đời không có đàn bà nên chân khí, công lực còn nguyên vẹn chăm phần chăm. Thương nhớ nàng Chưởng môn họa hình nàng mang theo trong người. Trước khi chết ông trao nhẫn sắt Chưởng môn cùng bức họa cho truyền nhân của ông là Hư Trúc.

Bức họa mỹ nhân của Vô Nhai Tử làm Lý Thu Thủy ngậm ngùi. Bà nói:

– Người trong hình là sư muội của ta và của Sư bá ngươi. Thì ra Sư huynh ta yêu Sư muội của ta..

Rồi khóc nức lên, bà kêu lớn:

– Sư tỉ ơi.. Hai chị em ta cùng bị con người vô lương tâm ấy lường gạt.. Chàng không yêu chị em mình, chàng yêu Vương sư muội của chúng ta..

Kêu lên mấy tiếng thê thảm ấy Lý Thu Thủy ngã ra chết. Lần này bà chết thật, bà chết đến nỗi trên đời này không ai còn có thể chết hơn bà được nữa…

***

Những mùa tuyết rơi, tuyết phủ, tuyết tan theo nhau đến trên đỉnh Thiên Sơn. Vào một mùa xuân quần hùng tấp nập kéo nhau đến kinh đô Tây Hạ dự cuộc Công Chuá Tây Hạ tuyển phu, tức Công Chúa kén chồng.

Trong số quần hùng có mấy người bạn quen của chúng ta: Mộ Dung Phục — Mộ Dung Công Tử rất muốn làm Phò Mã Tây Hạ để có thể mượn binh lực Tây Hạ về khôi phục ngai vàng nước Yên, Đoàn Dự đến kinh đô Tây Hạ không cốt ý dự cuộc tuyển phu, chàng đến vì Vương Ngọc Yến đang ở trong hoàng cung Tây Hạ, Vương phu nhân là sư muội của Lý Hoàng hậu nên Vương cô nương và Công chúa Tây Hạ là chị em, Hư Trúc trở lại kinh đô Tây Hạ để sống lại những đêm ngà ngọc xưa trong hầm băng.

Người dự cuộc tuyển phu của Công chuá chỉ phải trả lời có một câu hỏi:

– Ở đâu Các hạ thấy mình sung sướng nhất?

Mộ Dung Công Tử trả lời:

– Tại hạ sung sướng nhất khi ngồi trên ngai vàng nước Yên.

Đúng thôi. Nhưng đúng với Công Tử, không đúng với Công Chuá Tây Hạ. Công chuá chung tình ra câu hỏi để tìm Mộng Trung Lang, người tình trong mộng của nàng, nàng không cần người thích ngồi trên ngai vàng bất cứ nước nào.

Đoàn Vương tử nước Đại Lý trả lời:

– Tại hạ sung sướng nhất khi ở dưới đáy giếng khô.

Cũng đúng thôi, Vương Ngọc Yến cô nương bị đánh rơi xuống giếng, Đoàn Vương tử nhẩy xuống giếng để cùng chết với nàng. Giếng cạn, không những chàng và nàng không chết mà chàng và nàng còn yêu nhau ra rít ở đáy giếng. Vương Ngọc Yến dự cuộc tuyển phu bên cạnh Công Chuá Tây Hạ. Nàng nghe được câu trả lời của Đoàn Vương tử. Xúc động nàng bằng lòng để chàng xúc tiến hôn lễ. Chàng gửi thư về kinh đô Đại Lý xin phép Phụ vương, Mẫu hậu cưới Vương Ngọc Yến, cuộc tình dẫn đến chuyện đổ bể tùm lum làm chàng lăn đùng, ngã ngửa: Vương Ngọc Yến cô nương là em cùng cha, khác mẹ với chàng…

Hư Trúc Tử, Chưởng Môn Vô Vi phái, Chủ nhân Linh Thứu Cung, cựu Tu sinh Thiếu Lâm Tự, trả lời:

– Tại hạ sung sướng nhất khi ở trong hầm băng.

Chuông trống nổi lên, hoàng gia hoan hỉ loan báo Công Chúa đã tuyển được Phò Mã. Giấc mơ tu thành chánh quả, dứt dục căn, thoát luân hồi, thuyền Từ thuận gió về Tây Trúc của Sư Chú Thiếu Lâm kiếp này tiêu tan trong tiếng pháo động phòng hoa chúc…

Bèn có thơ rằng:

HƯ TRÚC

Thiếu Lâm Hư Trúc, Mộng Trung Lang
Sư chú, tình nhân.. cũng một chàng.
Hành cước đi quàng vào Tổ Quỉ,
Hầm băng đêm lạnh biết ôm nàng.
Tay nào gõ mõ, tay nào bóp?
Kiếp nào Phò Mã, kiếp nào tăng?
Thuyền Từ cũng muốn về Tây tróc,
Trái gió cho nên phải lộn đàng.

THIÊN SƠN ĐỒNG MỖ

Thiên Sơn Đồng Mỗ Sinh Tử Phù
Hiệu lệnh thiên hạ, trấn giang hồ.
Quần hùng tam thập lục châu đảo
Giai lai khấu thủ, quì thu lu.
Sinh Tử… Ô hô… Sinh Tử Phù
Hại nhân, lợi kỷ tuyệt công phu.
Duy ngã độc tôn, tâm bão hận,
Niêm hoa vi tiếu, ý tồn thù.
Nhất chiêu đáo tử, quy Âm phủ
Liêu lạc quần ma, nhữ vị phú

Thiên Sơn Đồng Mỗ Sinh Tử Phù
Em trùm thiên hạ, Chúa giang hồ.
Quần hùng lẻ sáu ba mươi đảo
Đều về cúi mặt, quì thu lu.
Sinh Tử… Than ôi… Sinh Tử Phù
Hại người, lợi mình tuyệt công phu.
Chỉ một Em hơn, Em vẫn hận,
Nâng hoa cười mỉm, dạ còn thù.
Một mai Em chết, về Âm phủ
Giữa quần ma Em chẳng Bố Cu.

Không chồng Em sống là dư,
Em ôm bí kíp, kỳ thư uổng đời.
Võ công lệch đất, nghiêng trời,
Em mơ toàn chuyện hại người, ích chí!
Độc tôn nào có hay gì!

***

Như Tam Quốc Chí mở đầu với bài thơ “Kỷ Độ Tịch Dương Hồng” và kết thúc với ý Thơ “Kỷ Độ Tịch Dương Hồng”, Thiên Long Bát Bộ Luận Anh Hùng mở đầu và kết thúc với bài “Này Những Tình Oan, Những Thủy Chung”:

Thiên Long Bát Bộ luận anh hùng
Kỳ hiệp, quần ma kể chẳng cùng.
Ba mươi năm trước ai quên, nhớ
Những Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung?
Ai Hư Trúc Tử, ai Đồng Mỗ?
Đâu Thành Tây Hạ, Linh Thứu Cung?
Nhớ chăng Lục Mạch, Phù Sinh Tử?
Quên chưa Cực Ác với Cùng Hung?
Kìa Vương Ngọc Yến yêu Đoàn Dự,
Nọ chàng Đầu Sắt bắt băng trùng..
Chuyện xưa trong trí ta lần giở
Này những tình oan, những thủy chung.

Thơ làm năm 1980 ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sàigòn, Việt Nam Cộng Hòa.
Lời bình viết năm 1996 ở Rừng Phong, Virginia Xú Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Du Thản Chi

Khi yêu ai ta cần được người ta yêu yêu lại ta. Được yêu lại là điều kiện tối cần thiết, tối quan trọng, bất khả thiếu để tình yêu của ta có thể sống. Nếu ta yêu mà ta không đươc người ta yêu yêu lại ta, chuyện sẽ xẩy ra chắc hơn bắp rang, hơn cua gạch là tình yêu của ta sẽ chết. Sớm muộn gì tình yêu của ta cũng chết dù ta có viết hoa Tình Yêu, có tô son, vẽ phấn cho tình yêu của ta đến chừng nào đi nữa.

Nhưng trên cõi đời này cũng có người — ít thôi, rất ít — yêu mà không đòi hỏi được người họ yêu yêu lại họ, người họ yêu không những không yêu lại họ mà còn hắt hủi họ, đối xử tàn nhẫn với họ, vậy mà họ vẫn cứ yêu.

Trong Tình sử Thiên Long có một người yêu như thế. Người đó là Du Thản Chi. Tôi quan niệm yêu mà không đòi hỏi được người mình yêu yêu lại mới đích thực là yêu. Yêu mà đòi hỏi được yêu lại vẫn là yêu chính mình, muốn cho mình sung sướng chứ chưa phải là yêu chân chính. Tôi vinh danh Du Thản Chi danh hiệu Thiên Long Tình Sử Đệ Nhất Tình Quân!

Du Thản Chi là con của một trong Du Thị Song Hùng, hai anh em họ Du chủ nhân Tụ Hiền Trang, hai người tổ chức cuộc hội họp quần hùng võ lâm các phái không phân biệt chính tà, hắc bạch để lên án Kiều Phong và tìm cách tru diệt Kiều Phong. Du Thị Song Hùng xử dụng đại đao. Trong trận kịch đấu cả hai anh em đều bỏ mạng dưới tay Kiều Phong.

Khi ấy Du Thản Chi mới muời bốn, mười lăm tuổi. Chàng chỉ được chứng kiến trận đấu chứ không được tham gia. Thấy cha và bác cùng không biết bao nhiêu cao thủ chết thảm vì Kiều Phong, Du căm hận quyết chí báo thù.

Sau đó đươc tin Kiều Phong đã về Khiết Đan, Du Thản Chi mang một đao trong mình đi lên miền Bắc. Chàng đi sang Khiết Đan tìm cơ hội giết Kiều Phong để báo thù. Kiều Phong và A Tử đi chơi ngoài thành, gập Du Thản Chi trong đám người Hán vượt biên bất hợp pháp bị quân Khiết Đan bắt làm nô lệ. Thấy chú thiếu niên là người Hán, trạc tuổi A Tử, Kiều Phong lấy Du Thản Chi về phủ hầu hạ Quận Chuá A Tử — Lúc này Kiều Phong, tức Tiêu Phong, được Hoàng Đế Khiết Đan phong Vương, A Tử là Quận Chuá — và để cho A Tử có dịp được nói tiếng Hán với người Hán.

Tất nhiên Du Thản Chi không nói chàng là con cuả Du Thị Song Hùng. Chàng yêu A Tử ngay khi chàng nhìn thấy nàng ngồi trên ngựa. Ngược lại A Tử tỏ ra ác độc hết cỡ với Du Thản Chi. Nàng đặt tên chàng là A Ngưu. Và nàng có vẻ thích thú khi nàng hành hạ chàng, người đồng hương với nàng nơi xứ lạ, quê người.

A Tử bị trọng thương nhưng không đến nỗi quá nặng như A Châu. Tới kinh đô Khiết Đan, nàng được chữa thương và nàng mạnh lại. Khi có Du Thản Chi hầu hạ, nàng lấy Bích Ngọc Vương Đỉnh ra luyện công.

Bích Ngọc Vương Đỉnh, bảo vật trấn môn của Tinh Tú phái. A Tử lấy cắp Bích Ngọc Vương Đỉnh trốn về trung thổ như ta đã biết. Nàng mang đỉnh ngọc trong mình, phóng ngựa ra ngoài thành, A Ngưu Du Thản Chi chạy theo. Đến góc rừng vắng vẻ, A Tử xuống ngựa, đốt hương thơm bỏ vào trong đỉnh. Mùi hương quyến gọi loài độc trùng rắn, rết, nhện, bọ cạp .. quanh đó kéo đến. Độc trùng theo mùi hương mò vào đỉnh ngọc. A Tử mang đỉnh ngọc về phủ, bắt Du Thản Chi thò tay vào đỉnh cho độc trùng hút máu tươi. Khi độc trùng no máu, bụng căng phồng, rời cánh tay Du Thản Chi rơi xuống, A Tử đập chết độc trùng, lấy máu xoa vào hai lòng bàn tay, luyện công.

Trước đó đã một lần Kim Dung dùng đến cách luyện công tương tự như cách này. Chuyện em Hân Thù Nhi trong Ỷ Thiên Kiếm–Đồ Long Đao. Hân Thù Nhi luyện võ công Thiên Thù Tuyệt Hộ Thủ, lấy nọc độc của loài nhện độc để luyện công. Vì có nọc độc trong máu nên mặt và da thịt Hân Thù Nhi sần sùi, xanh đỏ dễ sợ. Về sau nàng được Giáo chủ Minh Giáo Trương Vô Kỵ giải trừ chất độc và chỉ cho nàng cách khác để luyện võ công; Hân Thù Nhi trở lại xinh đẹp. A Tử cũng dùng nọc độc của loài độc trùng, trong số có nhện độc, để luyện công nhưng không thấy nói nhan sắc của nàng bị ảnh hưởng gì.

Trong một đêm bị nọc độc hành hạ khủng khiếp Du Thản Chi lăn lộn, quằn quại trên sàn đá nơi chàng ngủ. Tình cờ chàng nhìn thấy hình vẽ trong một quyển sách chàng mang theo. Quyển sách này rơi xuống chỗ chàng nằm. Hình vẽ một người nằm trong tư thế giống như kiểu chàng đang nằm. Trong lục phủ, ngũ tạng của người trong hình vẽ có một đường chỉ đỏ chạy qua những kinh mạch. Du Thản Chi hướng dẫn bằng tâm ý cơn ngứa trong người chàng theo đường chỉ đỏ ấy. Và chàng thấy cơn ngưá hạ đi, chàng dễ chịu. Từ đó mỗi đêm chàng dùng cách đó để hoá giải, đúng hơn là để dồn chứa nọc độc trong người chàng vào một chỗ, không để chúng phát tác, chạy loạn. Vô tình chàng đã học được phép luyện công theo Dịch Cân Kinh. Quyển sách chàng mang theo từ nhà chàng đó là bí kíp Dịch Cân Kinh mà không ai biết. Từ đó trong người Du Thản Chi tích tụ một lượng độc tính âm hàn khủng khiếp. A Tử không biết A Ngưu của nàng sống được là nhờ chàng có phép luyện công Dịch Cân Kinh. Nhiều lần nàng lấy làm lạ khi thấy A Ngưu bị loại độc trùng kịch độc như con Hàn Ngọc Băng Tầm cắn mà vẫn không chết.

Bọn quân hầu Quận Chuá A Tử thấy Quận Chúa còn ít tuổi mà thích hành hạ tên A Ngưu nên chúng bầy ra trò Diều Người cho Quận Chuá giải trí. Ngoài kinh thành là thảo nguyên, tức bãi cỏ, mông mênh. Mùa đông tuyết trắng, mùa hè cỏ xanh, gió lộng. Bọn quân hầu đề nghị Quận Chuá chơi trò Diều Ngươi bằng cách lấy A Ngưu làm diều. A Ngưu bị trói vào dây, buộc vào ngựa. Ngựa chạy kéo A Ngưu theo. Khi ngựa chạy nhanh người bị kéo theo sẽ bay lên như cánh diều. Khi rớt xuống Diều Người sẽ hộc máu.

A Tử bằng lòng cho A Ngưu làm diều. Du Thản Chi chết đi, sống lại nhiều lần nhưng chàng vẫn không trốn đi. Thế rồi bọn quân hầu Khiết Đan bầy thêm trò chơi làm A Ngưu trở thành Người Đầu Sắt. Chúng đề nghị Quận Chuá cho thợ hàn gắn hai mảnh đầu sắt vào đầu A Ngưu, làm cho A Ngưu trở thành Người Đầu Sắt. A Tử cũng bằng lòng. Từ đó nàng gọi A Ngưu là Thiết Sửu.

Bị gắn đầu sắt A Ngưu–Thiết Sửu vẫn không chịu trốn đi. Nhưng sức chịu đựng của con người — dù con người chịu đựng vì Tình Yêu — không phải là vô hạn. Đến một lúc nào đó Du Thản Chi cũng phải bỏ đi. Chàng vẫn yêu A Tử nhưng chàng thấy không còn có thể sống gần nàng được nữa. Khi ấy A Tử sai đánh chàng đến chết rồi sai đem xác chàng ra quăng ở dòng suối trong rừng. Nàng không muốn nhìn thấy chàng ở gần nàng nữa. Du Thản Chi tỉnh lại trong đêm khuya. Chàng dùng dao cắt và lột hai mảnh sắt ra khỏi đầu chàng. Sắt dính thịt nên chàng đau đến chết ngất một lần nữa.

Du Thản Chi ra đi. Nhờ có chất kịch độc của Hàn Ngọc Băng Tầm trong người, chàng có công lực Cực Ââm. Chàng xuất chưởng đánh ai là người đó lạnh run lên cầm cập. Nhiều hồi sau chàng trở thành Giáo Chủ Vương Tinh Thiên. Chàng gập lại A Tử khi chàng đã là Giáo chủ và nàng đã bị mù.

Sau thời gian sống ở Khiết Đan, Kiều Phong trở vào trung thổ. A Tử về theo. Nàng gập lại Đinh Xuân Thu, Tinh Tú Lão Quái, Chưởng Môn Tinh Tú Phái, Sư phụ của nàng, người bị nàng lấy trộm Bích Ngọc Vương Đỉnh. Nàng phóng độc châm đánh Đinh Xuân Thu nhưng bị Lão phất tay áo đánh độc châm bay ngược lại làm nàng mù hai mắt.

Du Thản Chi can thiệp, đánh Đinh Xuân Thu, cứu A Tử thoát chết. Nàng mù rồi, nàng không thể biết Giáo Chủ Vương Tinh Thiên, vị đại hiệp ân nhân cứu tử của nàng, cũng chính là tên A Ngưu–Thiết Sửu của nàng năm xưa. Nàng một điều: “Thưa Giáo chủ.. em thế này — Dạ..Thưa Giáo chủ em thế nọ..” ngọt hơn đường phèn. Du Thản Chi tự nguyện cho Tiết Thần Y lấy cặp mắt của mình lắp cho A Tử. Chàng chịu mù để cho nàng có mắt nhìn đời.

Những mùa tuyết trắng theo nhau đến, theo nhau qua trên Đỉnh Tuyết Sơn, những mùa lá xanh chuyển mầu thành vàng, đỏ đến trên Rừng Phong… Cuối cùng những mối tình Thiên Long cũng đi đến tuyệt đỉnh. Tất cả những duyên nghiệp, những ân oán đều đươc người tạo ra chúng là Kim Dung giải quyết ở cửa chùa Thiếu Lâm. Trong trận long tranh, hổ đấu cuối cùng trước cửa Thiền hai nhân vật bí mật vẫn ẩn hiện như rồng suốt chiều dài của Thiên Long — Tiêu Viễn Sơn, thân phụ Tiêu Phong, và Mộ Dung Bác, thân phụ Mộ Dung Phục — cùng tỉnh ngộ và quy y Phật pháp, Vô Aùc Bất Tác Diệp nhị nương đến chùa cho vị đương kim Phương Trượng, người tình cũ của nàng, biết Sư Chú Hư Trúc là kết quả cuộc tình của nàng với ông trước đây…

Tiêu Phong làm người Hán không được, làm người Khiết Đan cũng không xong. Ân hận vì mình giết oan quá nhiều người, Tiêu Phong tự phế bỏ võ công và tự sát chết trước cổng chùa.

Đến phút cuối cùng này A Tử mới nói lên tình yêu thầm kín của nàng. Và cũng đến phút cuối cùng này người đọc Thiên Long mới biết A Tử yêu Tiêu Phong, người nàng gọi là ” Tỉ phu “, dù Tiêu Phong chưa chính thức là chồng A Châu. A Tử yêu Kiều Phong, chàng chết, nàng chết theo chàng…

Kim Dung cho A Tử ôm xác Tiêu Phong nhẩy xuống vực. Hình ảnh này không đẹp và không đúng. Tiêu Phong có thể bồng A Tử — đại hán bồng thiếu nữ — nhưng A Tử không thể bồng được Tiêu Phong. Con mèo tha con chuột thì đuợc, nhưng con chuột không thể tha được con mèo. Nếu tôi là đạo diễn làm phim Thiên Long Bát Bộ, tôi sẽ cho xác Tiêu Phong nằm đàng hoàng trên cỗ xe ngựa, A Tử cầm cương cho xe đi xuống núi Thiếu Thất. Nửa đường, nàng giật cương cho ngựa lao xuống vực thẳm.

Khi thấy A Tử định chết với Tiêu Phong, Du Thản Chi kêu lên:

– Cô nương không thể chết được..

A Tử hỏi:

– Tại sao ta lại không chết được?

Đến lúc này Du Thản Chi mới nói lên tình yêu của chàng:

– Tại vì Du mỗ yêu cô nương. Tại vì đôi mắt cô đang nhìn đó là mắt của Du mỗ.

A Tử lạnh lùng:

– Anh yêu tôi nhưng tôi không yêu anh. Tôi không có bổn phận gì với anh cả. Còn mắt của anh thì tôi trả lại cho anh đây.

Nàng móc cặp mắt vứt lại rồi ôm xác Tiêu Phong nhẩy xuống vực.

***

Tôi nhớ lại những cuộc tình Thiên Long và làm những bài thơ vịnh nhân vật Thiên Long trong những đêm buồn năm 1980, 1981 khi tôi mới trở về mái nhà xưa sau 2 năm tù lần thứ nhất ở số 4 Phan đăng Lưu. Nằm trong tù buồn khổ chỉ mong được về nhà. Về nhà lại thấy buồn. Các con tôi tản đi kiếm sống ở các nơi xa, chỉ có vợ chồng tôi quanh quẩn bên nhau trong căn nhà nhỏ..

Quân lịch phong trần, quân bất dĩ.
Ngã hồi phố thị, ngã do liên.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Giai nhân, thi sĩ đối sầu miên.

Phong trần Em vẫn là Em.
Anh về phố chợ, đêm đêm lại buồn.
Một đi hoàng hạc đi luôn,
Giai nhân, thi sĩ đối buồn nằm mơ.

Thấp thoáng — 1980–1997 — đã mười bẩy mùa lá rụng trôi qua đời tôi. Sáng nay trời Virginia bắt đầu vào thu, Rừng Phong trở mình thay lá, ngồi xem lại bản thảo lần cuối trước khi gửi đến nhà xuất bản, tôi lại bồi hồi đi một đường cảm khái vì cuộc tình của A Châu và cuộc tình Du Thản Chi, hai người yêu đẹp nhất Thiên Long.

DU THẢN CHI

Thiên Long Bát Bộ luận anh hùng
Ai người yêu Đệ nhất thủy chung?
Người ấy suốt đời đau với khổ,
Nhưng Tình Yêu rực rỡ không cùng.
Tự thưở Tụ Hiền Trang máu đổ,
Thù cha quyết báo, giết Kiều Phong.
Một đao phiêu bạt lên miền Bắc,
Giang hồ mưa gió những long đong.
Lưới tình trọn kiếp thân vương mắc,
Nợ máu nhà Du trả chẳng xong.
                    ***
Yêu Em chẳng tiếc máu Anh hồng,
Dâng cho Em, Em luyện võ công.
Đỉnh ngọc xá gì loài nhện độc,
Diều người liều với gió phiêu bồng.
Đất Hồ tù rạc, ai cười khóc,
Được gần Em chết cũng ung dung.
Yêu Em dù biết Em tàn khốc,
Em chẳng yêu mà vẫn thủy chung.
                    ***
Cũng là Giáo chủ, cũng anh hùng,
Vương Tinh Thiên, oai vũ chẳng cùng.
Yêu Em khi thấy Em mù mắt,
Móc mắt cho Em chẳng ngại ngùng.
Tim ấy như son, đầu ấy sắt,
Du Thản Chi yêu đẹp lạ lùng.
Thiên Long Tình Sử trăng vằng vặc
Du Tình Quân Đệ Nhất Thủy Chung.

Bắc Kiều Phong

Khi những ân oán giang hồ diễn ra trong Thiên Long Bát Bộ, triều đại nhà Tống đang trên dốc suy vong, Trung Quốc sắp bị ngoại nhân — Nhà Nguyên, Mông Cổ — chinh phục và đô hộ. Những anh người Hán từ ngàn xưa vẫn tự phụ, tự phong đất nước mấy ảnh là nước trung tâm vũ trụ — Trung Quốc — tất cả những nước khác đều là phụ thuộc giống như hàng rào, phên dậu, tất cả những giống dân khác đều là Man, Di, Nhung, Địch .. — nôm na là Mán, Mọi — thua xa dân Hán mấy ảnh.

Tự kiêu vậy mà trong lịch sử hai ngàn mùa lá rụng dân Hán mấy ảnh bị ngoại nhân đô hộ những hai lần. Lần đầu mấy ảnh mất nước vì Nhà Nguyên Mông Cổ, lần thứ hai mấy ảnh mất nước vì Nhà Thanh Mãn Châu.

Kiều Phong – cùng Du Thản Chi – là hai nhân vật đau khổ, bất đắc chí nhất Thiên Long. Được người Hán nuôi dưỡng trên đất Hán, Kiều Phong vẫn tự hào chàng là người Hán, vẫn thù và khinh bỉ dân Khiết Đan. Chàng yêu nước và sẵn sàng chết vì Trung Quốc nhưng chàng bị đất nước Trung Hoa và dân Hán ruồng bỏ, khinh bỉ, thù hận. Trời đất mênh mang nhưng Kiều Phong, con người bất đắc chí ấy, không những chỉ không có ai là tri kỷ mà còn không có cả đất để đặt chân.

Võ lâm Thiên Long có câu: “Bắc Kiều Phong.. Nam Mộ Dung..” Người võ công cao nhất miền Bắc Trung Hoa là Kiều Phong, người võ công cao nhất miền Nam Trung Hoa là Mộ Dung Phục. Mộ Dung làm người đọc thất vọng còn cuộc đời ái tình và sự nghiệp của Kiều Phong làm ta cảm khái. Nhân vật đại hiệp bản lĩnh võ công lệch đất, nghiêng trời không một lần chiến bại cuối cùng phải tìm cái chết để tránh định mệnh của mình.

Đại hiệp sống vì sự tồn vong của Cái Bang và của Trung Quốc, Đại Hiệp sống không cần có Tình Yêu, không cần đàn bà. A Châu yêu Kiều Phong, Kiều Phong thương A Châu nhiều hơn là chàng yêu nàng. Cho đến khi chàng chết dưới núi Thiếu Thất, Kiều Phong vẫn không biết A Tử yêu chàng.

KIỀU PHONG

Cái Bang Bang Chủ vị chí tôn
Lý lịch sưu tra: Rợ Khiết Đôn.
Đi khắp Thiên Long không chiến bại
Bắc Kiều Phong, tuyệt thế võ công.
Đào hoa nhưng dại không mê gái
Mã phu nhân xuân sắc phải lòng.
Nàng yêu mù tịt không yêu lại
Danh liệt vì đâu, có biết không?

Kiều đã không xong, Tiêu tất vong
Nghiêng trời bản lĩnh cũng long đong.
Đã Thím A Châu thừa vất vả
Sẵn Dì A Tử lại đèo bòng
Hươu vẫn đợi người về đuổi thỏ
Nhạn môn quan nhạn vẫn phiêu bồng.
Anh hùng khó vượt tình nhân ải
Em vợ yêu… Anh có sướng không?

Thủ Cung Sa

Trong Ngôn Ngữ tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung còn có một danh từ không được giải nghĩa: “Thủ Cung Sa”.

Thủ Cung Sa là cái chi dzậy? Cũng cái Thủ Cung Sa kỳ bí này còn được gọi là “điểm chu sa”. Cứ như những gì được diễn tả mơ hồ trong bí kíp thì cái gọi là Thủ Cung Sa này có liên hệ mật thiết với các nàng trinh nữ hoặc không còn là trinh nữ.

Tiểu Siêu – người “chỉ muốn suốt đời được hầu hạ Công Tử” Trương Vô Kỵ, Giáo chủ Minh Giáo – là con Bà Đại Ỷ Ty, Thánh Nữ của Bái Hỏa Giáo Ba Tư.

Đại Ỷ Ty là tên phiên âm của Diety, tên gọi các vị thần thời cổ. Deity không có giới tính, tức là không nhất định là nam hay nữ. Bồ Tát Quan Thế Âm cũng không có giới tính. Trong nhiều bức tranh cổ ta thấy người xưa vẽ hình Quan Thế Âm Bồ Tát là đàn ông, có râu. Cả ngàn năm sau ngày con người biết cõi đời đầy tai họa khổ đau này có Quan Thế Âm Bồ Tát có quyền năng cứu trợ, bảo vệ mình thoát được những tai ương, vì nhu cầu – con người thường năn nỉ, van xin, vòi vĩnh bà mẹ dễ dàng hơn xin ông bố – nên con người thể hiện hình ảnh Quan Thế Âm Bồ Tát bằng người đàn bà đẹp hiền, dịu dàng.

Tiểu Siêu sẽ trở thành Đại Ỷ Ty Bái Hỏa Giáo Ba Tư. Nhưng muốn lên ngôi Đại Ỷ Ty nàng phải là trinh nữ. Đến đây ta thấy có điểm khó hiểu trong kinh điển: Bà Đại Ỷ Ty nếu đã sinh ra Tiểu Siêu tức là – chắc hơn bắp rang, hơn cua gạch – bà không còn là trinh nữ. Vậy thì nếu không còn là trinh nữ nữa tại sao bà vẫn mần được chức Đại Ỷ Ty trong khi Tiểu Siêu, con gái bà, lại bắt buộc phải là trinh nữ mới được mần Đại Ỷ Ty?

Tiểu Siêu mười sáu mùa soài chín, Vô Kỵ mười tám mùa ổi xanh, sống quanh quẩn với nhau cả năm trời trong hầm bí mật dưới Tổng Đàn Minh Giáo trên Quang Minh Đỉnh. Sự kiện này giống như chuyện Tiểu Long Nữ và Dương Qua sống với nhau cả năm trời trong cổ mộ. Hầm đá được kiến tạo và trang bị để tránh bom khinh khí nên có máy điện nguyên tử, máy điều hòa không khí, kho chứa thực phẩm cả trăm năm vưỡn còn nguyên tươi sống. Đôi người trẻ tuổi rạo rực lửa sống và lửa tình ấy có thể không cần ăn mà vẫn sống được dưới lòng hầm đá cả ngàn năm. Nhưng còn chuyện họ yêu nhau thì sao? Người đọc giầu tưởng tượng, dễ tính và cả tin đến mấy cũng không thể chấp nhận được việc đôi người trẻ tuổi chàng đẹp trai, nàng đẹp gái sống với nhau cả năm trời ngày đêm quanh quẩn giữa mấy gian hầm đá lại không có gì mí nhau.

Dù ba mươi mùa lá rụng không đọc lại kinh điển ta còn nhớ mang máng là khi Vô Kỵ bị đẩy xuống hầm đá, tảng đá cửa hầm tự động đóng cửa hầm. Người trong hầm phải mở cửa hầm để đi ra, người bên ngoài không mở được cửa hầm. Muốn đẩy được tảng tá cửa hầm người trong hầm phải có Càn Khôn Đại Nã Di.

Dương Phá Thiên, Giáo Chủ Minh Giáo, xuống hầm luyện Càn Khôn Đại Nã Di. Tiểu Siêu được xuống hầm theo để hầu hạ Giáo chủ. Giáo Chủ Minh Giáo bắt buộc phải có công phu Càn Khôn Đại Nã Di. Vì nhiều lý do Dương Phá Thiên luyện không thành Càn Khôn Đại Nã Di, đành chết khô dưới hầm. Vô Kỵ tìm được bí kíp Càn Khôn Đại Nã Di trước xác chết ngồi của Dương Phá Thiên. Và chàng luyện được thần công này.

Khi Vô Kỵ và Tiểu Siêu đưa nhau trở lên được Quang Minh Đỉnh, Đại Ỷ Ty chờ sẵn để đón Tiểu Siêu về Ba Tư làm Thánh Nữ. Bà lo âu hỏi con gái:

- Con… có.. gì với Trương Công Tử không? Công tử có… làm gì con không ? Con vẫn còn.. nguyên… chứ?

Tiểu Siêu đau khổ gật đầu.

Đại Ỷ Ty vạch tay áo con gái ra xem. Bà yên lòng khi thấy cái gọi là điểm “Thủ Cung Sa” trên cánh tay nàng còn đỏ au.

Điểm Thủ Cung Sa còn đỏ au? Ký gì dzậy? Người đọc lờ mờ hiểu rằng các vị quân tử Tầu ngày xưa – các vị quân tải tối ư ích kỷ, các vị năm thê, bẩy thiếp, chín nàng hầu nhưng các vị bắt buộc người phụ nữ chỉ được biết một người đàn ông trong đời mà thôi – Các vị bắt buộc người thiếu nữ phải giữ trinh tiết, tức là không được tự ý cho người nam nào giao hợp với mình trước khi được các vị cho phép. Các vị bầy đặt ra cái gọi là Thủ cung Sa. Dùng một thủ thuật chích choác, châm chọc chi đó các vị gây nên một điểm son đỏ trên da cánh tay người trinh nữ. Khi người trinh nữ làm tình với phái nam, nàng mất trinh và điểm Thủ Cung Sa trên da thịt nàng mất đi. Người ta – không cần đưa nàng đến nhờ y sĩ khám nghiệm chi cho mất công – chỉ cần vén tay áo nàng, xem điểm Thủ Cung Sa còn mất là biết ngay, trúng phóc, hết đường chối cãi, nàng còn trinh hay nàng đã mất trinh!

Thủ Cung Sa thực sự có giá trị thông tin, báo cáo thần sầu như thế hay đó chỉ là thủ đoạn các nhà quân tải Tầu bịa ra để đe dọa, để răn đe các em trinh nữ? Nếu cách dùng Thủ Cung Sa có thật thì bi giờ thủ thuật ấy còn ở đời không? Còn có cao nhân nào biết điểm Thủ Cung Sa không? Trong Đồ Long – Ỷ Thiên không phải chỉ một mình Tiểu Siêu bị điểm Thủ Cung Sa, dường như Em Chu Chỉ Nhược cũng bị Diệt Tuyệt Sư Thái xét điểm chu sa trinh nữ trên cánh tay em còn hay mất, đỏ au hay đã phai mầu, trước khi trao chức Chưởng Môn Nga My và Ỷ Thiên Kiếm cho em.

Thủ Cung Sa có thật hay là chuyện bịa? Người viết chịu không trả lời được nghi vấn này. Xin nêu lên với hải nội chư quân tải.

Tiểu thuyết võ hiệp Trung Hoa trước 1945 thường không có việc phân biệt chính phái, tà phái, chính giáo, ma giáo. Những trận mưa máu, gió tanh chỉ xẩy ra quanh quẩn giữa những môn phái quen thuộc Thiếu Lâm, Không Động, Võ Đang, Côn Luân, Nga My. Quần hùng thường gây thù gây oán chém giết nhau vì những trận thách đấu gọi là Đả Lôi Đài. Một nhà nào đó lập lôi đài thách quần hùng tỉ đấu tranh chức vô địch để dương danh, lập oai. Đánh nhau chí chạt. Một mạng hộc máu lăn đùng ngã ngửa trên đài, khiêng về đến nhà thì đi tầu suốt không kịp trăn trối vợ con. Và thế là thù oán bắt đầu. Đàn anh nạn nhân thấy hiền đệ bị đánh chết bèn hạ sơn, bèn lên lôi đài đánh chết tên đã đánh chết em mình để trả thù. Đến lượt anh cu vừa đánh chết người bị người đánh chết. Đàn anh của nạn nhân lôi đài thứ hai lại hạ sơn, lại đánh chết người đã đánh chết em mình v.v.. Cứ leo thang như thế mãi lên đến Chưởng môn nhân, Trưởng Lão Phương Trượng, Giáo chủ…

Trong những tiểu thuyết võ hiệp Tiền Thế Chiến Thứ Nhất Cát Tó–Đít zuýt ấy những người học võ dường như chẳng phải để hành hiệp giang hồ, cứu nhân độ thế mà chỉ để hung hăng con bọ xít đánh nhau, tranh đoạt những chức vị ruồi bâu, kiến đậu như Vô Địch Lôi Đài, Giang Nam nhất kiếm. Kể cả những vị tu hành sư sãi trong truyện cũng thù hận ra trò, các vị còn thù hận nặng nề, dữ dội, cay cú, gay cấn, dai dẳng hơn cả bọn phó thường dân cả đời chẳng biết thế nào là tu hành, trai tịnh, bọn đàn ông quanh năm ăn đủ các thứ thịt, kể cả thịt đàn bà, con gái. Đại biểu giới tu hành trong tiểu thuyết võ hiệp Tầu Tiền 45 là Chí Thiện Thiền Sư. Ông Sư này gây nợ máu tùm lum trong Hỏa Thiêu Hồng Liên Tự hay Càn Long Du Giang Nam chi đó – Xin lỗi không nhớ đích xác kinh điển – Cuối truyện – nếu người viết nhớ không lầm – Sư Ông bị địch thủ đánh vỡ đầu.

Tiểu thuyết võ hiệp Tầu hậu Thế Chiến bắt đầu phân biệt hai phái chính tà. Thêm vào những môn phái cũ là những bang phái. Kim Dung là người viết thứ nhất đưa những bang phái vào tiểu thuyết. Bang phái nổi tiếng nhất của Kim Dung là Cái Bang: Bang hội của những Ông Bị Gậy Ăn Mày. Khi sáng tác Cái Bang rất có thể Kim Dung chịu ảnh hưởng, hay lấy cảm hứng, từ những trang tả Triều Đình Ăn Mày trong Notre Dame de Paris của Victor Hugo.

Cái Bang của Kim Dung có những vị trưởng lão chấp pháp. Chấp pháp: chấp hành pháp luật. Chức vụ và công việc của những trưởng lão chấp pháp là bảo vệ và thi hành pháp luật của bang phái. Cũng giống như những anh Cớm Mẽo được gọi là những Law Enforcer. Công An Tầu Cộng có bọn Cán Bộ Chấp Pháp. Công An Việt Cộng học mót cũng có những anh Cán Bộ Chấp Pháp. Bọn này chỉ là bọn Công An không hơn không kém. Năm 1980 sau lần bị bắt thứ nhất trở về Ngã Ba Ông Tạ tôi nói chuyện đến bọn cán bộ chấp pháp hỏi cung tôi, anh bạn tôi – anh này lúc ấy chưa bị tù nên chưa biết – théc méc:

- Gọi chúng nó là cán bộ chấp pháp là gọi đùa theo ngôn ngữ tiểu thuyết võ hiệp hay là tên thật của chúng nó như thế?

Đặc biệt Trưởng Lão Chấp Pháp Cái Bang trong tiểu thuyết Kim Dung có đẳng cấp được tính theo số túi mang trên người. Đệ ngũ đẳng hay Đệ Ngũ Thập Đẳng Huyền Đai-Hồng Đai cũng chỉ là một đai được đánh dấu bằng những nẹp trắng. Trưởng Lão Chấp Pháp Cái Bang cao cấp nhất mang đến Chín Túi trên người. Những ông này thường được gọi tắt là Trưởng Lão Chín Túi.

Chín túi? Làm ký gì mà đến những chín cái túi? Gọi là túi thì phải là túi may trong áo, trong quần, những cái túi rời xách tay hay đeo trên vai không còn đúng là túi nữa. Anh Con Trai Bà Cả Đọi vưỡn có cái tật coi trọng những gì nhiều người coi thường, coi thường những gì nhiều người coi trọng, anh théc méc về số túi của các Trưởng Lão Cái Bang.

Anh không biết y phục chín túi của Trưởng Lão Cái Bang nó ra nàm thao, anh chỉ biết cái gọi là bộ com-lê vét-tông đời nay có đến chín túi. Này nhé: áo vét-tông có năm túi: hai túi trong, một túi ngực gọi là pốt-xét, hai túi ngoài; cái quần tây có bốn túi: hai túi sau, hai túi trước. Vị chi là chín túi.

Anh lại chi ly tính thêm: nếu người bận com-lê vét-tông đi thêm một đường gilet – Từ sau Thế Chiến Thứ Hai gilet gần như hoàn toàn tuyệt tích. Nhưng từ 1990 gilet đã thập thò trở lại trong bộ com-lê vét-tông. Nếu tính cả gilet thì những Trưởng Lão Cái Bang Tây có không phải chín túi mà là những mười một túi. Những Trưởng Lão, Thiếu Lão chơi bật lửa, hộp quẹt, có cái túi đựng hộp quẹt ở cạp quần nữa là mười hai túi.

Thần Điêu Đại Hiệp Dương Quá

Năm 1989 tôi sống ở Trại Lao Động Cải Tạo Z 30 A ở Xuân Lộc, Đồng Nai.

Tài Ngạn là người tù có nhiều tiền nhất trong số gần một ngàn tù nhân Z 30 A năm 1989. Tài Ngạn có tiền và chịu chi. Anh áp dụng bí kíp: “Lấy của che thân..” nên anh rất có thế lực với bọn Cai Tù. Đặc biệt Tài Ngạn không dùng thế lực vật chất của anh để làm hại anh em tù. Anh không những chỉ dùng của để lo cho thân anh, anh còn sẵn sàng dùng của để giúp cho anh em đỡ khổ. Chẳng hạn Tài Ngạn cung cấp giầy, áo, quần, bóng cho hai đội bóng Z 30 A: Đội Tù, Đội Cai Tù, gần như tháng nào Tài Ngạn cũng mua một con heo nguyên con – do bọn Cai Tù nuôi bán cho tù kiếm lời – xẻ thịt chia đều cho anh em cả trại. Tài Ngạn, Tầu Chợ Lớn, vì có hai con mắt bự nên được gọi là Tài Ngạn – Đại Nhãn – bị tù 10 năm vì tội liên hệ với Mười Vân, Trùm Công An VC Đồng Nai, Lãnh Chúa Đồng Nai những năm đầu 1980. Nghe nói Mười Vân đã bị tử hình – Sau mấy năm ở Lầu Bát Giác Chí Hòa, Tài Ngạn ra tòa, lãnh án, lên Trại Z 30 A. Anh khai bệnh, được về Thành Hồ điều trị trong bệnh viện nên tuy đang chịu án tù anh vẫn sống và kinh doanh ở Thành Hồ.

Tài Ngạn mang TiVi, đầu máy Video lên trại tặng Ban Quản Đốc Trại một dàn, tặng riêng anh em tù một dàn. Phim Video được vợ con tù mang lên Trại cung cấp đều đều. Những phim võ hiệp nói tiếng Việt được anh em tù hưởng ứng nhất. Nhiều anh em bị đưa lên đây từ những nơi gọi là “miệt vuờn” xa tít mù khơi Ô Môn, Thốt Nốt, Bằng Tăng, Đồng Tháp Mười, Mỏ Cày, Thạnh Phú, Cái Mơn, Sông Tiền, Sông Hậu.., trước đó chưa từng biết phim xi-nê là gì, khoan nói đến phim video.

Khi có phim mới, anh tù coi về “văn hóa” tổ chức chiếu phim tại Hội Trường từ 2 giờ trưa ngày chủ nhật. Từ 12 giờ nhiều anh em tù đã xách những chiếc ghế xếp tự chế đến Hội Trường giữ chỗ tốt.

Một chiều nghe nói chiếu phim Thần Điêu Hiệp Lữ, tôi lên hội trường xem. Với tôi cuộc tình của Tiểu Long Nữ và Dương Qua là cuộc tình tuyệt đẹp. Tôi vẫn mê Thần Điêu Hiệp Lữ. Về nhân vật Dương Qua tôi thấy không có chi đặc biệt nhưng nàng Tiểu Long Nữ làm tôi mê mệt tâm thần. Trong tất cả những nữ nhân vật võ hiệp Kim Dung tôi yêu nhất, mèn ơi … phải nói là tôi mê nhất, Tiểu Long Nữ.

Quan Thế Âm Bồ Tát ở Nam Hải, vị Siêu Nhiên chuyên cứu khổ cứu nạn những chúng sinh gặp tai nạn trong cõi ta bà. Bồ Tát ở Tử Trúc Lâm, có một người nữ hầu hạ. Người nữ đó là Long Nữ. Dường như nàng là ái nữ của Tứ Hải Long Vương, nàng không muốn lấy chồng và nàng có lòng muốn thoát tục nên quy y Bồ Tát để tu hành.

Tiểu Long Nữ Thần Điêu Hiệp Lữ sống dưới hầm đá. Khi Dương Qua gặp nàng, chú mười lăm mùa cóc chín, nàng mười bẩy, mười tám mùa soài thơm. Nàng hơn tuổi chú và lúc đầu chú là đồ đệ của nàng. Nói cách khác cho thêm rườm rà hoa lá cành nàng là Sư Mẫu của chú. Sư Mẫu dùng roi mây quất đồ đệ nhiều roi quắn đít, bắt chú nằm ngáo trên Hàn Ngọc Băng Sàng.

Lửa gần rơm lâu ngày cũng cháy. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, quy luật ấy không bao giờ thay đổi. Hai ông bà già bà Sáu Bó, ông Năm Bó, sống chung mí nhau ngày ngày đêm đêm ròng rã ba bốn mùa Cô Hồn Rằm Tháng Bẩy quanh quẩn duới một hang đá giống như những Hầm Rượu Saint Germain des Prés — Pré có S hay không có S? Lâu quá quên mất. Thôi cứ cho S đi, tốn kém gì — xứ Tây Vực thì… chém chết Tình Ái cũng nở hoa. Nói chi đến đôi thiếu niên nàng mười bẩy bẻ gẫy sừng trâu rừng, chàng mười lăm đang tuổi dậy thì.

Cuộc tình Sư Mẫu, Đồ Đệ dưới hầm đá nở hoa tưng bừng rực rỡ. Tất nhiên. Đó là điều hợp lý. Họ sống với nhau êm đềm kín mít một chỗ như vậy mà họ dửng dưng lửng lơ con cá vàng với nhau mới là chuyện lạ.

Ba mươi năm trước ai quên nhớ…
Vòng Tay Cô Giáo ví học trò…

Cuộc tình Sư Mẫu – Đồ Đệ không phải là chuyện hoàn toàn không có trên cõi đời tình ái được mùa này. Không những chỉ không phải hoàn toàn không có, những cuộc tình ấy còn có khá nhiều nữa. Ba mươi năm trước ở SàiGòn Đẹp Lắm SàiGòn ơi có tiểu thuyết Vòng Tay Học Trò gây bàn tán một thời. Như tên truyện, đây là vòng tay học trò ôm cô giáo – hay nói cách khác – cô giáo nằm trong vòng tay anh học trò.

Tiểu thuyết SàiGòn Xưa Muôn Mặt Muôn Mầu có Vòng Tay Học Trò nhưng – hơi lạ – không thấy có quyển Vòng Tay Cô Giáo hay Vòng Tay Bà Thầy. Cũng chẳng phải trên cõi đời này chỉ có cô giáo yêu học trò, chắc cũng có đôi ba ông giáo mô phạm yêu nữ sinh. Chỉ có điều đáng nói là cô giáo yêu học trò thì viết tiểu thuyết Vòng Tay Học Trò, ông giáo mà yêu nữ sinh thì không viết tiểu thuyết Vòng Tay Nữ Sinh, ông còn bận làm một trong những việc hấp dẫn như sau: một: dấu như mãn dấu vàng, hai: vào Đại Học Chí Hòa tu nghiệp dài hạn, ba: cưới em nữ sinh trong vòng tay thầy làm vợ.

Sư Mẫu Trẻ Măng yêu Đồ Đệ Dậy Thì. Cuộc tình xứng đôi đẹp quá chứ? Nhưng cuộc tình này bị nhiều vị cao thủ võ lâm tiền bối phản đối. Các vị tôn trọng tôn ti trật tự lễ giáo có từ ngàn xưa: Vua là Vua, Tôi là Tôi, Thầy là Thầy – Cô Thầy cũng là Thầy – Trò là Trò. Không thể nhập nhằng xi-nê vé đồng hạng mí nhau được. Trò không thể làm chồng Thầy, dù Trò chỉ kém Thầy có hai, ba tuổi, Thầy không thểø làm vợ Trò, dù Thầy chỉ hơn Trò có hai, ba tuổi. Cuộc tình Sư Mẫu-Đồ Đệ Thần Điêu Hiệp Lữ gặp nhiều gian nan, tai họa, trắc trở. Nhưng họ vẫn yêu nhau ra rít, họ vẫn sống chết với nhau bất chấp tất cả.

Tiểu Long Nữ bị trúng thương rất nặng. Nàng phải ở ẩn dưỡng thương. Nàng và Dương Qua hẹn gặp lại nhau sau mười sáu mùa bướm nở ở cửa Động Hoa Vàng Hồ Điệp Cốc.

Mười sáu mùa thu lá bay sau chàng đã trở thành Thần Điêu Đại Hiệp. Đúng ngày, đúng giờ chàng đến vách núi đợi nàng. Đây là nơi khi phải chia tay nhau để nàng đi ở ẩn dưỡng thương mười mấy mùa thu xưa họ hẹn sẽ gặp lại nhau. Nhưng chờ đợi mãi không thấy xe limo, hay xe taxi, đưa nàng đến, chàng nhẩy lên dùng ngón tay khắc lên vách đá:

Long Nữ Em.
Đúng hẹn anh đến đón Em. Nhưng Em không đến.
Chắc Em đã trở về Non Bồng, Nước Nhược.
Anh không thể sống ở cõi đời này mà không có Em.

Ký tên lên vách đá xong chàng rú lên những tiếng thanh thoát:

- Nàng đã lỗi hẹn.. Nàng đã lỗi hẹn…

Rú xong Đại Hiệp co cẳng nhẩy xuống vực sâu.

Ba mươi mí năm xanh thắm ngày xưa đọc đến đoạn này Anh Công Tử Hà Đông đi một đường cảm khái. Tất nhiên anh chẳng giống Thần Điêu Đại Hiệp một ly ông cụ nào nhưng anh đêm khuya, gác vắng, đèn vàng, thành phố ngủ yên, anh nằm hiu hiu đọc truyện tình xưa, rít năm bẩy điếu Philip Morris vàng, hoặc Lucky Strike Ba Hàng Chữ, anh đi một đường viễn tưởng nếu anh là Đại Hiệp chắc anh cũng mần y như Đại Hiệp. Chỉ khác tí đỉnh về chi tiết như sau.

Không có nội công nên anh không thể dùng chỉ lực hay dùng bất cứ cái gì vạch được chữ lên đá, lên tường, lên bất cứ đâu. Nhưng anh có cách làm cho nàng – Nàng của anh là Nàng Tý Con Em – biết tin anh, anh có thể làm nàng ăn không ngon, ngủ không yên vì sốt ruột, anh sẽ đăng báo nhắn tin nàng dài dài. Báo nhà, không mất tiền quảng cáo, tội gì không sài. Đại khái anh sẽ:

NHẮN TIN KHẨN CẤP

Tý Con Em,

Anh đến Bưu Điện Saigon — (Sở Thú) — chờ em nửa ngày không thấy em tới. Em bị kẹt ở đâu liên lạc mí anh ngay. Phôn cho anh về:

Nếu nhắn tin năm 1960 anh đề:

- Tòa Soạn Saigon Mới. Điện Thoại 22242

Nếu là năm 1966 địa chỉ liên lạc là:

- Tòa Soạn Nhật Báo Tiền Tuyến, Số 2 Hồng Thập Tự, Cục Tâm Lý Chiến. Cổng dzô ra có lính gác. Số điện thoại: Quên mất.

***

Ân ái vợ chồng không biết là được bao nhiêu ngày đã phải xa nàng, đã phải “chai trường – bouteille longue “- đến những mười sáu mùa ổi chín, hí hửng đến chỗ nàng hẹn để gập nàng – nàng không đến ! Làm gì mà Đại hiệp chẳng rú lên mấy tiếng thanh thoát, thổ ra mấy búng máu tươi.!

Nhưng mà.. chỉ mới đến chỗ hẹn có một ngày không thấy nàng, chàng đã nhẩy xuống vực thẳm tự kết liễu cuộc đời… phải chăng có vội vàng quá không? Nàng không đến đúng ngày giờ hẹn vì nhiều lý do. Trung thổ rộng mênh mang. Đâu có phải chàng ở Ngã Tư Bẩy Hiền, nàng ở Ngã Ba Ông Tạ, hẹn hò nhau ở rạp Xi-nê Đại Lợi, đến giờ chiếu phim nàng không đến, chàng tuyệt vọng nhẩy xuống con rạch đầu chợ Ông Tạ.

Trong Thần Điêu Hiệp Lữ Tiểu Long Nữ có thể đến chậm vì:

- Phi cơ Air France bị không tặc cướp. Thay vì cất cánh từ Paris Có Gì Lạ Đâu Anh phi cơ không đưa nàng đến phi trường John F. Kennedy New York mà lại đưa nàng rẽ sang Cuba hay Bakou.

- Nàng có thể ham dzui ở lại Roma thêm năm bữa, nửa tháng để đi chơi với ký giả Gregory Peck trên xe Vespa.

- Nàng có thể bị lột nhẵn nhụi ở Las Vegas. Mất cả Credit Card, vé máy bay, passport nên nàng chưa đi khỏi đó được.. vân vân và vân vân..

Nhưng như đã nói nhiều lần và sẽ còn nhắc đi, nhắc lại nhiều lần: Định Mệnh an bài. Con người ta ở cõi đời này chẳng phải chỉ có miếng ăn, miếng uống là đã được định trước mà thôi, kể cả chuyện vợ chồng gập lại nhau sớm muộn cũng đã được định trước. Khi đến vách núi Thiên Sơn chờ nàng, không thấy nàng, tưởng nàng lỗi hẹn, Đại Hiệp không biết Tiểu Long Nữ đã đến đó chờ chàng từ lâu rồi. Nàng đã bị bọn ma giáo tấn công bề hội đồng đánh nàng ngã xuống vực thẳm.

Đại Hiệp tuyệt vọng nên nhẩy xuống vực để chết nhưng chính vì nhẩy xuống đấy Đại Hiệp mới gập lại được Long Nữ, Đại Hiệp mới đoàn tụ gia đình được với Long Nữ. Nếu không nhắm mắt nhẩy xuống cốc, Đại Hiệp cứ ngất ngư con tầu đi về là cuộc tình tuyệt đẹp chấm dứt rồi. Đã bảo Định Mệnh an bài mà.

Cái vực thẳm ngàn trượng đứng trên nhìn xuống không thấy đáy, đứng dưới đáy nhìn lên chỉ thấy mây mù ấy không phải là cái vực thẳm tầm thường ta thấy nhan nhản trong tiểu thuyết võ hiệp Tầu. Nó là Tình Cốc. Dưới Cốc có loài hoa tên là Tình Hoa.

Tình Hoa có tính cách rất ly kỳ. Hoa đẹp, thơm. Thường thì ai khỏe mạnh cũng thích hái hoa này. Người trẻ mười sáu, hai mươi que hung hãn hái Tình Hoa đã đành, những ông bà Năm Bó, Sáu Bó gặp Tình Hoa cũng hái như điên. Tình Hoa đẹp nhưng có gai sắc nhọn. Người nào hái Hoa Tình sẽ có hoa đẹp nhưng cũng sẽ bị gai đâm chẩy máu tùm lum. Ý nghĩa của Tình Hoa là người gập ái tình sẽ yêu và sẽ đau khổ vì yêu.

Thần Điêu Đại Hiệp gập lại Tiểu Long Nữ dưới Tình Cốc, cùng hái Tình Hoa với nàng và sau tuần trăng mật, dùng trực thăng đưa nàng lên khỏi cốc. Trực thăng của Đại Hiệp là hai con thần điêu. Kiểu trực thăng hiện đại này bay ngày đêm không biết mỏi, không cần người lái, không cần radar, không cần xăng nhớt gì ráo trọi. Mười thế kỷ sau Thần Điêu Đại Hiệp Dương Qua, tức ngàn lẻ mùa crawfish nhẩy lên bờ sông Mississippi, Xê Kỳ vẫn chưa chế tạo được kiểu trực thăng nào tuyệt diệu như trực thăng Thần Điêu.

***

Tôi kể linh tinh lang tang vài chuyện tôi nhớ về Thần Điêu Hiệp Lữ để nói lên tình yêu của tôi với Tiểu Long Nữ. Trong tưởng tượng của tôi – xin nói rõ hơn: không phải là trong tưởng tượng mà là trong cảnh thực nằm trong tiềm thức của tôi — Long Nữ trẻ đẹp, mạnh khỏe, có da thịt, tóc nhung dầy, mắt to đen, sáng long lanh, đôi lông mày như rặng núi xanh mùa xuân, ngực nở, eo thon, mông tròn, chân dài, nhưng không dài lắm.

Hình ảnh Tiểu Long Nữ Mếch In Tài Oan, Hoớng Koỏng tôi thấy trên màn ảnh TiVi buổi chiều chủ nhật mùa lao cải cũ ở Trại Z 30 A Quê hương ta làm tôi chán mớ đời. Tiểu Long Nữ gì mà ốm nhom. Hình như mắt còn lé nữa! Từ đầu giờ Tý đến cuối giờ Hợi nàng chỉ bận có mỗi một bộ áo trắng dài tay, không hở cổ, váy kín mít. Thần Điêu Đại Hiệp có dáng dấp, mặt mũi giống một anh đứng trấn Quán Tây Kỳ ở cửa Nhà Dây Thép Gió trên đường vào Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa gần Ngã Ba Ông Tạ hay một anh Tàu chà cháo quẩy Chợ Lớn.
Những trận kịch đấu cà chớn hết diễn ra trong nhà lại ra ngoài vườn. Hết đánh nhau ngoài vườn lại lôi nhau vào trong nhà đánh nhau nữa. Tôi thất vọng đến cái độ vừa ngơ ngẩn nhìn thấy Em Tiểu Long Nữ mềm như bún trên màn ảnh TiVi chiều ấy tôi quay gót đi ngay ra khỏi Hội Trường Z 30 A.

Năm 1984, khi tôi bị bắt lần thứ hai Thành Hồ chưa có Video. Nghe nói đến những năm 1986, 1987 mới có đầu máy Video đưa lén vào Thành Hồ. Lúc đầu Việt Cộng ác ôn cấm không cho nhân dân dùng Video. Nhà nào có đầu máy là phải giữ bí mật như đồ quốc cấm và có thể bị Công An cùng bọn Thông Tin Văn Hóa Phường, Quận ập vào xét nhà tịch thu máy bất cứ lúc nào. Về sau đầu máy nhập lậu từ biên giới Campuchia — Thái Lan sang — đầu máy do các cơ sở Nhà Nước Cộng sản nhập kéo vào Việt nam quá nhiều, bọn Cộng sản không sao kiểm xoát được đành bỏ cho dân sài luôn.

Mới đây tôi tình cờ nhìn thấy Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn trên màn ảnh Video. Phim Tầu Tà-oan. Anh kép đóng vai Kim Mao Sư Vương nếu được dùng thủ vai anh nghiện sì ke sẽ thích hợp hơn. Tôi chắc Kim Dung không được hài lòng lắm với những bộ phim được thực hiện theo tiểu thuyết của ông. Phim ảnh được làm theo những bộ tiểu thuyết hay thường làm khán giả thất vọng. Đó là thông lệ. Những nhân vật võ hiệp kiệt xuất do Kim Dung sáng tạo trong tiểu thuyết khó có thể hiện hình trên phim ảnh.

A Châu (phần 1)

Thiên Long kể lại chuyện xưa sau
Trọn tình, vẹn hiếu có A Châu…

A Châu, con gái của Đoàn Chính Thuần và Nguyễn Tinh Trúc, là nữ nhân vật có cuộc sống, và cuộc tình trong sáng nhất Thiên Long. Suốt một đời tôi quí trọng Tình Yêu, đề cao Tình Yêu, trái tim tôi bồi hồi trong những đêm buồn ghê gớm những năm 80 ở Thành Hồ, trằn trọc trong căn gác nhỏ, nghe tiếng thời gian chậm bước đi, tôi thao thức nhớ lại chuyện xưa, những cuộc tình Thiên Long Bát Bộ..

Chuyện xưa trong trí ta lần dở
Này những tình oan, những thủy chung…

Cuộc tình của A Châu làm tôi xúc động, con người A Châu làm tôi yêu mến. Nàng xuất hiện lần đầu trong nhà của Mộ Dung Công Tử ở Cô Tô Yến Tử Ổ.

Cảnh sắc Trung Quốc diễn tả trong những tiểu thuyết võ hiệp thật thơ mộng. Không cần đến tận nơi, chỉ nghe tả và tưởng tượng thôi cũng đã thấy đẹp tuyệt vời. Đôi khi cảnh sắc trong tưởng tượng của ta còn đẹp, hùng vĩ hay thơ mộng gấp nhiều lần cảnh thật. Như cảnh Cô Tô Yến Tử Ổ Thiên Long chẳng hạn.

Cô Tô Yến Tử Ổ Thiên Long là một hòn đảo nằm giữa Hồ Động Đình. Người ngoài muốn vào ra Cô Tô Yến Tử Ổ phải được bầy chim yến dẫn đường. Không có chim yến dẫn đường, tức không được chủ nhân Yến Tử Ổ cho phép, không ai có thể vào hay ra khỏi Cô Tô Yến Tử Ổ.

Cưu Ma Trí, Quốc Sư nước Thổ Phồn, một vương quốc láng giềng của vương quốc Đại Lý, trên đường đi khắp giang hồ để sưu tầm võ công thiên hạ — nói cho rõ và đúng hơn là đi đánh cướp võ công của thiên hạ đem về làm của mình. Khi đến Chùa Thiên Long đấu chưởng vớùi các vị cao tăng trong chùa, tình cờ gập Vương tử Đoàn Dự đang ở trong chùa thăm ông bác Bảo Định Đế tu hành, Cưu Ma Trí bắt Đoàn Dự đem đi theo. Cưu Ma Trí đến Cô Tô Yến Tử Ổ và vì vậy Đoàn Dự cũng đến Cô Tô Yến Tử Ổ. Không có chuyện gì đáng nói xẩy ra trong vụ Cưu Ma Trí đến Cô Tô Yến Tử Ổ: Lão chủ nhân Mộ Dung Bác đi vắng, Thiếu chủ Mộ Dung Phục cũng không có mặt tại nhà.

Đoàn Dự lạc vào nhà bếp nhà Mộ Dung, nơi chàng thấy vui vui vì có mấy em nữ tì trạc tuổi chàng — Một Bó lẻ Năm, Sáu Que chi đó — rồi chàng thấy một lão bà tóc trắng, chống gậy trúc, đi vào. Đoàn Dự cung kính chào hỏi lão bà và chàng ngạc nhiên khi thấy mấy em nữ tì nói chuyện nhủng nhẳng như đùa rỡn với lão bà.

Lão Bà Đoàn Dự gặp trong nhà bếp Môï Dung phủ là A Châu hoá trang. Nguyễn Tử Trúc Lâm phu nhân sinh hai chị em A Châu, A Tử nhưng không biết vì sao bà không để cô nào sống yên lành trong Tử Trúc Lâm với bà. Bà cho A Châu vào sống trong phủ Mộ Dung, cho A Tử theo Tinh Tú Phái, làm đồ đệ Lão Quái Đinh Xuân Thu. A Châu học được thuật hoá trang thần kỳ. Không những nàng chỉ có thể giả làm lão bà, nàng còn có thể giả làm đàn ông, giả làm bất cứ ai y như người đó. Thuật hoá trang này chẳng giúp ích gì được cho A Châu, nó còn góp phần vào việc làm cho nàng chết thảm.

Ngày tháng qua đi, những trang truyện Thiên Long Bát Bộ theo nhau mở đóng, ta gặp lại A Châu khi Kiều Phong nửa đêm lọt vào Chuà Thiếu Lâm.

Khi ấy Kiều Phong đã biết mình là người Khiết Đan, cha mẹ mình bị một nhóm võ lâm cao thủ Trung Hoa phục kích, tấn công giết chết ở biên giới. Ông thân của chàng là Tiêu Viễn Sơn, quí tộc Khiết Đan,võ nghệ cao cường, một mình đánh ngang tay với cả chục cao thủ Trung nguyên. Nhưng khi thấy bà vợ yêu của ông bị chết trong trận kịch đấu, Tiêu Viễn Sơn đau khổ ôm đứa con trai nhỏ mới mấy tháng nhẩy xuống vực tự sát. Trên đường rơi xuống bỗng ông thấy ông không có quyền giết con, ông ném đưá nhỏ trở lên cho nó sống. Các cao thủ võ lâm tấn công biết họ giết lầm — đúng ra họ bị kẻ cho tin lừa gạt — các ông hối hận. Đứa nhỏ sống sót được giao cho Phương Trượng chuà Thiếu Lâm đem về nuôi. Đứa nhỏ Khiết Đan ấy ba mươi năm sau là Kiều Phong, Bang Chủ Cái Bang, người có võ công lệch đất, nghiêng trời.

Bây giờ Kiều Phong không còn ảo tưởng gì về việc chàng là người Hán nhưng bị kẻ thù vu cáo là người Khiết Đan, chàng đã biết chàng là người Khiết Đan. Và chàng đi tìm kẻ được gọi mơ hồ là Thủ Lãnh Đại ca, vị cầm đầu đám cao thủ võ lâm Trung nguyên đã giết cha mẹ chàng.

Và máu đổ trên đường Kiều Phong đi. Nói cho đúng hơn máu đổ ở những nơi Kiều Phong định đến, sắp đến. Bí mật dầy đặc bao quanh người hùng cô đơn. Có một nhân vật đi trước Kiều Phong, nhân vật này giết những người Kiều Phong đến gập để hỏi về thân thế chàng và về tung tích Thủ Lãnh Đại ca.

Phương Trượng Thiếu Lâm đem đứa nhỏ Khiết Đan về giao cho vợ chồng Kiều công, ông bà giữ vườn rau của nhà chùa, nuôi làm con. Vì vậy đứa nhỏ mang họ Kiều và yên trí nó là con ông bà họ Kiều. Người nuôi Kiều Phong là ông bà họ Kiều, người truyền thụ võ công cho Kiều Phong là một vị tăng chuà Thiếu Lâm.

Kiều Phong về đến vưòn rau lúc nửa đêm. Căn nhà nhỏ tối om không ánh đèn. Chàng bồi hồi gọi:

– Gia gia ơi.. Má má ơi.. Con về đây..

Ông bà Kiều đã bị người đánh chết. Ông bà mới bị giết cách đây chưa lâu, kẻ sát nhân chỉ đi trước Kiều Phong ít bước. Chưa hết bàng hoàng, chưa kịp đau thương Kiều Phong đã nghe tiếng ngươi hô hoán bên ngoài:

- Tên ác tặc Khiết đan đã giết ông bà Kiều.. Đừng để nó chạy thoát..

Võ lâm kết tội Kiều Phong đã hạ sát một số cao thủ. Tất nhiên Kiều Phong bị oan. Chàng thoát khỏi vườn rau để lọt vào chùa Thiếu Lâm, đến thiền phòng của Sư phụ chàng.

Lại một đoạn diễn tả những sự việc sôi nổi biểu lộ tài năng kể chuyện của Kim Dung. Vừa vào thiền phòng của Sư phụ, Kiều Phong trông thoáng thấy bóng một đại hán. Người này có hình dáng, khuôn mặt hao hao giống chàng. Định thần nhìn lại Kiều Phong thấy đó chỉ là hình chàng phản chiếu trên tấm gương đồng lớn — Thời này người Ai Cập chưa tìm được cách lấy thủy tinh từ cát biển để đúc gương, làm kiến lão–Việc nhìn thấy bóng người thoáng qua không làm cho Kiều Phong thắc mắc lâu. Chàng không có thì giờ để thắc mắc. Sư phụ chàng vẫn tọa thiền trên bồ đoàn, nhưng ông đã bị trúng thương nặng. Ông sắp thở hơi cuối cùng. Kiều Phong không hiểu gì cả khi vị đại sư mở mắt nhìn thấy chàng, nhận ra chàng, Ông chỉ thốt lên mấy tiếng:

– Con đấy ư ? Hay lắm.. Tốt lắm..

Rồi Đại sư viên tịch. Kiều Phong thấy nét mặt ông phảng phất ý vui mừng. Chàng không cả thì giờ xem xét hiện trường, tìm biết về cái chết của Sư phụ. Các nhà sư Thiếu Lâm thấy trong chuà có biến đã tới bên ngoài thiền phòng. Nhìn quanh Kiều Phong thấy một chú tiểu bị điểm huyệt nằm trong một góc thiền phòng. Chú tiểu chỉ bị điểm huyệt nằm bất động nhưng không bất tỉnh. Nghĩ rằng chú có thể kể lại có những chuyện gì xẩy ra trong thiền phòng Kiều Phong vác chú lên vai, thoát ra khỏi chùa Thiếu Lâm.

Lại một đoạn Kim Dung diễn tả thật gay cấn, hấp dẫn. Không muốn đối chưởng với vác vị sư chùa Thiếu Lâm, Kiều Phong tìm đường chạy. Trên đường ra khỏi thiền phòng của Sư phụ, chàng lấy tấm gương bằng đồng che lên chú tiểu nằm trên vai chàng. Chàng nhẩy lên mái nhà. Một vị tăng đánh chàng một chưởng với trọn mười hai thành công lực. Chưởng đánh vào tấm gương trên vai chàng, phát lên một tiếng choang. Chưởng lực làm một đầu gối Kiều Phong khuỵu xuống, nhưng chàng mượn sức đẩy của chưởng, phóng mình bay qua tường chuà ra ngoài…

Vác chú tiểu trên vai Kiều Phong chạy đến một dòng suối. Trời tảng sáng. Các vị sư chùa Thiếu Lâm đuổi theo đã bị chàng bỏ rơi. Chàng đặt chú tiểu trên vai xuống bờ suối. Đến lúc này chàng mới biết chú tiểu bị trọng thương. Vì nằm trên vai chàng, chú lãnh trọn phát chưởng nhà chùa đánh theo chàng. May chú được tấm gương đồng che cho, nếu không chú đã chết ngắc vì những oan khiên của người khác.

Nhưng chú bị thương rất nặng, chú chết ngất và chú chỉ còn thoi thóp thở. Kiều Phong vội truyền nội lực cưúù chú. Chàng cởi áo chú và ngạc nhiên khi thấy chú không phải là chú tiểu mà chú là cô tiểu. Nói rõ hơn chú là Thiếu nữ.

Chú tiểu chùa Thiếu Lâm có uyên nguyên với Kiều Bang Chủ tên chùa là Trí Thanh, tên nhà là A Châu, người đã xuất hiện trên sân khấu Thiên Long trong đoạn Đoàn Dự bị Cưu Ma Trí đưa vào phủ Mộ Dung trong Cô Tô Yến Tử Ổ. Lần ấy Kim Dung chỉ cho nàng ra sân khấu thoáng qua để giới thiệu nàng. Đây là lúc A Châu chính thức bước vào tình sử.

Bên dòng suối khi trời mới bình minh, A Châu mở mắt và thấy Kiều Phong săn sóc, lo âu đến sự sống chết của nàng. Kim Dung ít cho nhân vật của ông nói những tiếng: “Em yêu anh.. Anh yêu em..” nhạt nhẽo và thực sự không nói lên được ký gì cả. Ông cho nhân vật của ông nói lên tình yêu của họ bằng việc làm. A Châu yêu Kiều Phong nhưng suốt thời gian ngắn ngủi nàng được sống bên chàng, không một lần ta nghe nàng nói :”Anh ơi.. Em yêu anh..!”

– Cô nương là ai? Cô nương có thể cho tại hạ biết vì sao cô nương lại giả trang vào tu trong chuà Thiếu Lâm được không? Tại hạ thật có tội với cô nương. Vì tại hạ mà cô nương bị trúng thương. Xin cô nương đừng lo, cô nương không chết đâu, cô nương không chết được. Tại hạ sẽ đưa cô nương đi nhờ Thần Y cứu sống. Từ lúc này sự sống chết của cô nương sẽ là chuyện quan trọng nhất của tại hạ…

Đại hiệp oai phong, khôi vĩ, đường đường hảo hán, danh trấn giang hồ.. Đại hiệp nói những câu như dzậy mí em thì Đại hiệp giết em rồi còn gì! Em mới mười bẩy tuổi, em còn nguyên bản — thuật ngữ quảng cáo hàng họ Phú Lang Sa là ” Tú nớp, ja-me cát-xê” — Em chưa yêu ai, em chưa biết yêu là gì, em chưa biết hơi trai đừng nói gì đến hơi đàn ông.. Gặp trường hợp này em không yêu, em không mê Đại hiệp mới là chuyện lạ, em yêu, em mết Đại hiệp là chuyện thuờng tình, chuyện tự nhiên.

Và A Châu yêu Kiều Phong. Chàng lập tức đưa nàng đi chữa thương. Nàng bị thương rất nặng. Nàng còn sống được chỉ là nhờ Kiều Phong ngày ngày truyền công lực cho nàng. Nhưng chàng không thể cứ truyền công lực giữ cho nàng khỏi chết như thế mãi. Trên cõi đời này chỉ có một người có thể cứu mạng nàng. Người đó là Tiết Thần Y — tên cúng cơm là Tiết Mộ Hoa — Thầy lang họ Tiết trị bệnh thần sầu đến nỗi được giang hồ tôn xưng là Thần Y.

Kiều Phong tìm một chiếc xe ngựa, để A Châu trong xe, chàng cầm cương, đi về điạ phương của Tiết Thần Y. Họ ngày đi, đêm nghỉ ở quán trọ bên đường thiên lý. Những tác giả tiểu thuyết võ hiệp thường bị chế nhạo là luôn luôn cho nhân vật của mình ra đi không mang va-ly, cả quần áo cũng không thấy cắp nách, tức là đi chân tay không, không hành lý, không tiền.. Mà không phải là đi gần, đi xa vạn dậm, đi khắp trung nguyên, tức là đi ngang, đi dọc, đi lên, đi xuống khắp lãnh thổ Ba Tầu. Khi viết đến đoạn Kiều Phong đưa A Châu đi chữa thương, chắc Kim Dung nhớ đến lời phê bình trên nên ông tả Kiều Phong khi cần tiền, chờ đêm xuống, vào Kho Bạc Nhà Nước ở địa phương, bẻ khóa lấy bạc tiêu dùng. Đại hiệp cũng đạo chích như ai!

Có thể đây là những ngày sung sướng nhất của A Châu kể từ lúc nàng mở mắt nhìn thấy Kiều Phong bên bờ suối. Trên đường đi, nằm yên ổn trong xe, nàng nói chuyện với chàng. Nàng không nói cho chàng biết nàng là người của nhà Mộ Dung, được phái vào Chuà Thiếu Lâm để lấy trộm bí kíp võ công cất trong Tàng Kinh Các nhà chuà. Kiều Phong cũng không hỏi kỹ về lý lịch của nàng. Chàng còn nhiều chuyện bận tâm khác.
Trên đường họ đi đến nhà Tiết Thần Y nhiều nhân vật võ lâm đủ các bang phái cũng kéo nhau đi. Quần hùng đến Tụ Hiền Trang theo lời mời của Du Thị Song Hùng để dự đại hội bàn chuyện trừ diệt tên ác tặc Kiều Phong, tên Khiết Đan từng giữ chức Bang Trưởng Cái Bang sau khi bị lột mặt nạ đã giết quá nhiều nhân vật võ lâm, gây quá nhiều nợ máu. Kiều Phong biết chuyện ấy. Chàng đưa A Châu đi thẳng đến Tụ Hiền Trang vì chàng biết chàng sẽ gập Tiết Thần Y ở đấy.

Kiều Bang Chủ giao tình với Thần Y rất hậu. Nay hai người ở hai phe đối nghịch nhau nhưng Thần Y vẫn nhận lời yêu cầu của cố nhân một lần cuối. Ôâng nhận chữa thương cho A Châu. Kiều Phong giao nàng cho Thần Y. Chàng nói với nàng lời cuối:

– Thần Y đã nhận lời cứu cô nương, cô nương sẽ sống, Kiều mỗ yên lòng. Xin vĩnh biệt cô nương..

Khi nói với A Châu như thế Kiều Phong nghĩ chàng sẽ chẳng bao giờ gập lại nàng. Nhưng con người ta đâu có thể thoát ra khỏi lưới tình và định mệnh một cách khơi khơi, dễ dàng như dzậy được. Định mệnh an bài. bao giờ định mệnh cũng an bài.., và khi định mệnh đã an bài, không ai có thể thoát…

***

Thiên Long Bát Bộ có nhiều trận kịch đấu trời long, đất lở. Trận kịch đấu ở Tụ Hiền Trang giữa một bên là Kiều Phong, một bên là quần hùng, là trận kịch đấu dữ dội, bi hùng tráng nhất Thiên Long.

Kiều Phong biết quần hùng tụ họp ở Tụ Hiền Trang để bàn chuyện giết chàng. Nhiều người trong số họ có người thân, sư huynh, sư đệ bị nhân vật bí mật giết chết trong thời gian gần đây — tất cả mọi người đều cho rằng nhân vật bí mật ấy là Kiều Phong — nên họ căm phẫn đến cái độ thấy Kiều Phong là phải giết để trả thù. Kiều Phong biết như thế, giao A Châu cho Tiết Thần Y xong, chàng đi thẳng đến Tụ Hiền Trang.

Không ai ngờ tên ác tặc lại dám ngang nhiên đến ngay nơi hội họp của quần hùng ở Tụ Hiền Trang. Người người căm hận chỉ muốn ăn gan, uống máu tên ác tặc nhưng khi Kiều Phong đến nơi, người ta không xô ra đánh chém loạn cào cào châu chấu ngay. Quân tử Tầu khi giết nhau cũng vẫn hành xử theo lối quân tử Tầu. Người ta vẫn lễ độ với nhau, vẫn mời nhau uống rượu trước khi giết nhau.

– Kiều mỗ mời các vị uống với Kiều mỗ một bát rượu đoạn tình, đoạn nghĩa…

Quân tử Tầu dùng rượu trong mọi trường hợp, mọi nơi, mọi lúc, mọi chuyện, mọi tình cảnh. Thi đỗ rượu, thi trượt rượu, đám cưới rượu, đám ma rượu. buồn rượu, vui rượu, gập nhau rượu, xa nhau rượu. thắng rượu, thua rượu, kết ngãi — tức kết bạn — rượu, đoạn ngãi — không còn bạn bè gì nữa — rượu… Và họ — ít nhất cũng là quần hùng trong tiểu thuyết võ hiệp — uống rượu bằng bát chứ không bằng ly, chén.

Và cứ như thế Kiều Phong mời những người bạn cũ uống rượu của anh em Du Thị Song Hùng. Chàng uống với mỗi ông bạn giang hồ một bát. Nhưng..không khí trầm trần theo đúng lễ nghi, đôi bên đối xử với nhau lịch sự, ôn hoà. Cũng có thể khi uống với nhau chán rồi người ta nói:

– Thôi.. Nghỉ uống. Ta đánh nhau.. Mời túc hạ xuất chưởng…

Viết như vậy cũng được nhưng viết như vậy là không có hay, là không có nghệ thuật. Phải có một động tác, một sự kiện nào đó làm hiện trường đột biến, từ hoà nhã chuyển sang dữ dội, để người ta có thể đang uống rượu với nhau quay ra đánh giết nhau. Kim Dung biết sự cần thiết ấy và ông đã làm sân khấu đột biến bằng cách cho một anh Ma giáo không giống ai ngất ngưởng bước ra đòi uồng rượu tay đôi với Kiều Phong.

Anh Ma giáo này chỉ có cái thuật gọi là phúc ngữ: nói bằng bụng. Thuật này tiếng Phú Lang Sa là ventriloque và là thuật chuyên để làm xiếc chứ không dùng được việc gì khác. Những người có thuật phúc ngữ thường làm xiếc với một hình nộm, khán giả tưởng như hình nộm nói cười nhưng thật ra là người làm xiếc nói cười mà không mở miệng.

Anh Ma giáo mặt mũi đen đủi, hình dung xấu xí, người không ra người, ngợm không ra ngợm, ngất ngưởng bước đến trước mặt Kiều Phong:

– Kiều Phong.. Ta uống với người bát rượu chấm dứt tình bạn..

Trừng mắt nhìn gã, Kiều Phong quát lên:

– Ai là bạn của mày..?

Chàng đập mạnh bát rượu trên tay xuống đất.

Choang.!

Bát rượu vỡ. Cùng với tiếng choang Kiều Phong đánh ngay một chưởng vào ngực anh Ma giáo.Tội nghiệp. Chưa được uống tí rượu nào anh Ma giáo hộc máu chết ngay tại chỗ.

Và thế là người ta xông vào đánh nhau…

***

Vì mặc cảm là người Khiết Đan. Kiều Phong chỉ dùng cái gọi là Thái Tổ Trường Quyền đấu với quần hùng. Thời đó đang là triều nhà Tống. Thái Tổ đây là Tống Thái Tổ. Triệu Khuông Dẫn dùng võ nghệ dành được thiên hạ, lập lên nhà Tống, để lại cho đời quyền phổ mang tên Thái Tổ Trường Quyền. Những chiêu thức trong quyền phổ đều rất thường, không có gì bí hiểm, ác độc nhưng Kiều Phong có nội lực thâm hậu, chàng xử dụng những chiêu thức rất thường này mà quần hùng không áp đảo được chàng. Dùng Thái Tổ Trường Quyền, Kiều Phong có ý nói với quần hùng :”Các người thù ta vì ta không phải là người Hán như các người. Nhưng ta chống lại các người không bằng võ công nào khác ngoài võ công của chính các người..”

Rồi máu chẩy, thịt rơi, người chết, trận kịch đấu trở thành ác liệt. Say máu, người ta trở thành điên loạn. Kiều Phong cũng phát điên. Chàng giết người không nương tay. Như đã nói: Đây là trận đấu mưa máu, gió tanh dữ dội nhất Thiên Long.

Kiều Phong, dù có nội lực kinh hồn, võ công lệch đất, bản lĩnh nghiêng trời, kể cả chàng có là Siêu nhân, cũng không thể đánh mãi với quần hùng. Trước sau, sớm muộn gì chàng cũng phải chết nếu chàng cứ một mình kịch chiến với quần hùng như thế trong Tụ Hiền Trang. Lại một trận kịch đấu mưa máu, gió tanh chính hiệu được Kim Dung diễn tả. Sự kiện bất ngờ xẩy đến người đọc không thể đoán trước được. Khi Kiều Phong đuối sức, mắt chàng đã mờ đi, những chiêu thức của chàng trở thành loạng quạng, Đại Hán Áo Nâu bí mật xuất hiện cứu chàng.

Đại hán ở trên ngọn cây tùng bên sân Tụ Hiền Trang tự bao giờ không ai biết. Đại hán tung dây cuốn vào đỉnh cột cờ giữa sân Tụ Hiền Trang, nắm dây bay xuống. Đại hán quét một vòng đường dây làm những cao thủ đang bao vây Kiều Phong lăn đùng, ngã ngửa. Đại hán ôm sốc Kiều Phong theo đường dây bay lên rồi đặt Kiều Phong nằm trên vai, thi triển khinh công chạy đi…

Khi đó Kiều Phong chưa ngất hẳn. Nằm trên vai người bí mật chàng biết mình được đưa lên núi. Rồi chàng được đặt cho đứng trước cửa động trên núi cao. Đại hán đứng trước mặt chàng. Người bí mật bận y phục nâu, mặt có khăn bịt kín nên Kiều Phong không biết tuổc tác của ân nhân, chàng chỉ thấy ánh mắt ông lóng lánh sáng trong hai lỗ mắt trên khăn bịt mặt, ông ta có khổ người cao lớn cũng như chàng.

– Thật ngốc dại.. Có võ công lệch đất, nghiêng trời mà đi chết vì một đưá con gái…

Đấy là lời Đại hán mắng Kiều Phong. Ông đưa tay lên tát chàng. Kiều Phong không né tránh cũng không đánh lại. Chàng chỉ đưa ngón tay trỏ lên đỡ. Nếu Đại hán tát chàng, bàn tay ông sẽ trúng chỉ của chàng và ông ta sẽ bị thương trước. Đại hán chuyển thế bàn tay của ông, Kiều Phong chuyển thế ngón tay của chàng.. Sau cả chục lần như thế Đại hán vẫn không tát được Kiều Phong. Cuối cùng ông ta buông tay, nhìn Kiều Phong, thở dài rồi quay mình nhẩy xuống núi.

Trong động có trữ thức ăn, có rượu, Kiều Phong ở lại đây dưỡng thương…

A Châu (phần 2)

Rồi một hay hai, ba mùa lá rụng, hoa rơi, trăng soi, suối chẩy trên những trang tình sử Thiên Long — như đã nói yếu tố thời gian, không gian không được coi là quan trọng hay được ước lượng đúng trong tiểu thuyết võ hiệp Tầu — người đọc Thiên Long gập lại Kiều Phong khi chàng lên Nhạn Môn Quan ở biên giới thăm viếng chỗ cha mẹ chàng bị thảm tử ngày xưa.

Nhạn Môn Quan: Cưả quan chim nhạn, cửa thông sang nước Khiết Đan. Năm năm khi muà đông tới, chim nhạn ở miền Bắc tránh cái lạnh, bay xuống miền Nam ấm áp hơn, không thể bay vượt qua những đỉnh núi cao, phải bay vào con đường giữa hai thành núi có cửa quan này. Vì vậy cưả được gọi là Cửa Nhạn.

Đứng ở nơi cha mẹ chàng bị chết năm xưa Kiều Phong bồi hồi tưởng tượng trận phục kích tấn công. Rồi chàng nghe tiếng người gọi:

– Đại ca.. Đại ca..

Thiếu nữ chạy tới. Chàng nhận ra nàng là A Châu, nàng còn sống. Không những nàng chỉ còn sống suông mà thôi, nàng còn sống mạnh khỏe, hồng hào, tươi tắn. Hai người xúc động nhìn nhau:

– Thần Y đã cứu sống cô nương, tại hạ rất mừng…

Tại sao cô nương A Châu lại có mặt ở nơi biên ải khỉ ho, cò gáy, chó ăn đá, gà ăn muối này? Cô nương có mặt ở đây không phải là sự tình cờ, cô nương cố tình đến đây chờ đợi người cô yêu.

– Em biết thế nào Đại ca cũng đến đây nên em tới trước, em đợi Đại ca..

Việc cho A Châu từ Hoa Nam một mình lên Nhạn Môn Quan chờ gập lại Kiều Phong là một điểm yếu trong tiểu thuyết võ hiệp Tầu nói chung, trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung nói riêng. Đã viết rồi song để cho rõ hơn, nay viết lại: Vì đất nước quá rộng, vì có lịch sử quá dài, những người viết tiểu thuyết Trung Hoa có phản ứng ngược. Họ coi những nơi cách xa nhau vạn dậm như ở liền nhau, coi ba, bốn trăm năm ngắn gọn như giấc ngủ trưa.

Trong Ỷ Thiên Kiếm — Đồ Long Đao, Kim Dung cho Vô Kỵ 10 tuổi, dắt Dương Bất Hối, 8 tuổi, đi từ Hồ Điệp Cốc ở đâu đó trong vùng Hoa Nam — phiá Nam nước Tầu, thuộc địa phận Quảng Toóng, Phước Kiến, Phước Ong chi đó, đi lên tận Núi Côn Luân ở biên giới Tân Cương, hay Tây Tạng, Ấn độ cũng chi đó, để tìm cha của Bất Hối là Dương Tiêu, Tả Sứ Minh Giáo. Cảnh Vô Kỵ, Bất Hối gập Dương Tiêu trong rừng phong là một cảnh gợi cảm. Dương Tả Sứ người cao như khổ người ông Mai Thảo, mặt cũng dài và lạnh như mặt ông Mai Thảo, bận y phục toàn trắng, đôi mão trắng, đi hài trắng. Khi được Vô Kỵ báo cho biết mẹ của Bất Hối, cô Kỷ Hiểu Phù, đã bị bà Diệt Tuyệt Sư Thái giết chết, Dương Tả Sứ ngửa mặt lên trời, hú một tiếng dài. Lá vàng rơi lả tả…

Đẹp thì có đẹp nhưng chẳng cần phải xét nét ta cũng thấy cho hai đứa nhỏ dưới mười tuổi dắt nhau đi — đi bộ — xa không phải ngàn dặm mà là vạn dặm — mười ngàn dặm — là chuyện không thể nào xẩy ra được. Cũng như chuyện A Châu lên Nhạn Môn Quan chờ đợi Kiều Phong.

Đó là một trong vài ba nhược điểm của tiểu thuyết Kim Dung. Tác giả có cả trăm ưu điểm, trăm cái hay, ta hưởng những cái hay của Người, ta phải chấp nhận vài cái dở của Người.

A Châu đề nghị nàng cùng với Kiều Phong đi tìm tung tích Thủ Lãnh Đại ca. Vì quá cô đơn và cần có tình người Kiều Phong nhận lời. Từ Nhạn Môn Quan chàng và nàng đi trở về trung thổ.

Tôi không nhớ A Châu tỏ tình với Kiều Phong như thế nào, lúc nào, ở đâu? Tôi cũng không nhớ Kiều Phong biết A Châu yêu chàng lúc nào. Dường như Tình Yêu — Tình Yêu viết hoa cả năm chữ, hoa luôn dấu huyền, dấu mũ — Tình Yêu đến với họ thật êm và thật tự nhiên. Họ yêu nhau màï không cần nói là họ yêu nhau. Lần thứ nhất trong đời Kiều Đại hiệp, Kiều Bang chủ, có một phụ nữ ở gần. Với A Châu là Tình Yêu, với Kiều Phong — có lẽ — chưa hẳn là Tình Yêu mà chỉ là Tình Mến, Tình Nghĩa, Tình Người.

A Châu có linh tính nên luôn luôn sợ hãi trước hiện tại đầy bất trắc, nàng mơ được có một cuộc sống bình yên với người yêu. Nhiều lần nàng nói với Kiều Phong:

– Đại ca ơi.. Em sợ.. Em thấy giang hồ cứ ân oán, hận thù chém giết nhau mãi, không bao giờ ngừng. Em muốn chúng ta thoát ra khỏi cuộc ân oán triền miên ấy. Em muốn khi Đại ca trả xong được thù nhà, Đại ca đưa em về bên kia Nhạn Môn Quan. Chúng ta sẽ sống với nhau trên vùng tuyết trắng mênh mông ấy. Chúng ta vui với gió trăng, ta săn hươu, đuổi thỏ. Suốt đời ta sống yên lành bên nhau… Đại ca hứa với em nhé..

Mộng nhỏ thôi ! Đại ca hưá nhưng cuộc đời đầy những oan khiên tàn nhẫn không cho người thiếu nữ hiền hậu nhất Thiên Long được sống giấc mộng nhỏ của nàng. Vì muốn giúp người yêu tìm ra được kẻ thù, vì có tài hoá trang, A Châu bầy ra mưu nàng giả làm Bạch Thế Kính, Trưởng Lão Cái Bang, hóùa trang cho Kiều Phong là gia nhân theo hầu, đến nhà Mã phu nhân, vợ goá Mã Đại Nguyên Phó Bang Chủ Cái Bang, hỏi dò bà này về vị Thủ Lãnh Đại Ca. Mưu lừa của A Châu làm sao đánh lừa được nàng Sương Phụ Đa Tình — Đa Dâm — Đa Đủ Thứ của Tình Sử Thiên Long. Mã phu nhân giả vờ bị lưà, tiết lộ vị Thủ Lãnh Đại Ca là.. Đoàn Nam Vương Đoàn Chính Thuần, cha của A Châu.

A Châu lặng người. Nàng bị đẩy vào tình trạng bên hiếu, bên tình. Nói rõ hơn nàng bắt buộc phải chọn mộtä là hiếu, một là tình, không thể lửng lơ con cá tai tượng có trọn vẹn cả hai. Trường hợp bắc cân Tình, Hiếu này chỉ xẩy đến với những phụ nữ sống trước đây hai, ba, bốn, năm, bẩy trăm năm. Phụ nữ thời gọi là Thế Kỷ Hai Mươi trần ai khoai hà này không phải bận trí, mất công, théc méc về việc phải chọn lựa. Khi cần chọn lựa, các nàng chọn liền tù tì tút suỵt. Và thường là các nàng chọn bên Tình, các nàng lơ bên Hiếu.

A Châu không thể ngăn người yêu trả thù, trước đó nàng không nói — vì thấy không cần phải nói — Đoàn Chính Thuần là cha nàng. Bây giờ nàng lại càng không thể nói. Kiều Phong không biết Đoàn Chính Thuần là cha A Châu. Nay được biết họ Đoàn là Thủ Lãnh Đại Ca, chàng đi tìm họ Đoàn để đòi nợ máu.

A Châu cũng không thể để cha nàng phải chết dưới tay người nàng yêu. Nhưng.. làm sao được! Nàng giải quyết bằng cách hy sinh. Nàng hoá trang thành Đoàn Chính Thuần, nửa đêm đến bên cầu đá xanh, đấu chưởng với Kiều Phong.

Một cảnh đặc biệt tiểu thuyết võ hiệp. Đêm mưa tầm tã, sấm rền, chớp nhoáng, hai cao thủ gập nhau thanh toán nợ máu. Tất nhiên Kiều Phong không biết A Châu giả làm Đoàn Chính Thuần. Đã biết nhà họ Đoàn Đaị Lý có võ công Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch Thần Kiếm, Kiều Phong xuất chưởng với tất cả công lực của chàng. Chưởng đánh vào ngực A Châu. Kiều Phong ngạc nhiên khi thấy Đoàn Chính Thuần không đỡ gạt, không tránh né, cũng không thấy có tí síu công lực nào hộ thân. Biết có chuyện gì đó chàng thu chưởng lại. Nhưng.. không còn kịp nữa…

Không còn kịp nữa bởi vì Định Mệnh đã an bài.. A Châu, dưới vóc dáng Đoàn Chính Thuần, đứng trên cầu đá xanh, trúng chưởng bay xuống bãi cỏ chân cầu, Kiều Phong bay theo ôm nàng lên. Nàng nói nàng là con gái Đoàn Chính Thuần, nàng xin chàng tha chết cho cha nàng, nàng đã chết thay ông. Nàng nhắc lại ước mơ:” Đại ca ơi.. Em sợ giang hồ ân oán, mưa máu, gió tanh. Em muốn Đại ca đưa em về bên kia Nhạn Môn Quan. Chúng ta sống, chúng ta yêu nhau suốt đời ở đấy. Chúng ta có nhau, có gió, có trăng, có tự do.. Ta sẽ săn hươu, đuổi thỏ…”

Ba mươi mấy mùa thu vàng đi qua cuộc đời kể từ những đêm xưa tôi đọc Thiên Long Bát Bộ. Năm ấy cuộc tình và cuộc đời A Châu làm tôi xúc động. Năm nay sau cuộc biển dâu muời chìm, hai mươi nổi, ba mươi mấy cái lênh đênh, sau những ngày, những tháng năm ngồi rù gãi háng trong những nhà tù, những ngày đêm khắc khoải, tủi nhục, vô vọng sống trong thành phố thương yêu đầy cờ đỏ, sao vàng, hình Ông Hồ, khi mái tóc phong sương, những vết roi đời in hằn trên khuôn mặt não nề, ngồi bình an ở Rừng Phong sửa lại những trang bản thảo này để chuẩn bị xuất bản, cuộc tình và cuộc đời A Châu một lần nữa lại làm tôi bồi hồi cảm khái. Tôi nhớ lại những đêm buồn ghê gớm trong căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sàigòn, trong một đêm buồn ấy tôi làm thơ vinh danh người thiếu nữ tôi yêu, tôi thương nhất Thiên Long:

A CHÂU

Thiên Long kể lại chuyện xưa sau
Trọn tình, vẹn hiếu có A Châu.
Hiếu để trên đầu, Tình ở ngực.
Chữ Tình Em nặng, Hiếu Em sâu.
Cô Tô mắt ngọc trong như nước,
Yến Tử Tình Châu trắng một mầu.
Ông già, bà lão Em chơi kịch,
Em vẫn cười vui, có khổ đâu.
Thiếu Lâm trúng chưởng, Em gần tịch,
Đời Em từ ấy biết thương đau.

Võ lâm, nưa máu, gió tanh hôi,
Hổ đấu, long tranh mãi chẳng thôi.
Em sợ giang hồ ân oán mãi,
Đưa Em về ải, Đại ca ơi !
Nhạn Môn ngày gió, đêm trăng dãi,
Săn hươu, đuổi thỏ, chúng ta chơi.
Mộng nhỏ nhưng đời oan với trái,
Em với tình Em nát tả tơi !

Ngàn năm ải vắng trăng soi
Này hươu, này thỏ… đợi người, người đâu ?
Thiên Long tưởng nhớ A Châu
Lòng ta lẻ một nét sầu, Em ơi …

***

Cảnh tuyệt đẹp và bi tráng. Đêm thu mưa gió, dưới chân cây cầu đá — cầu đá nhưng không phải cầu đá thường mà là cầu đá xanh — chàng Đại hiệp ôm nàng Trinh nữ sắp chết. Nàng chết vì chàng. Nàng nói nàng muốn chàng đưa nàng về bên kia Nhạn Môn Quan. Ở đấy có gió trăng và Tình Yêu, không có những trận mưa máu, gió tanh, giang hồ ân oán. Ở đấy họ sẽ yêu thương nhau, sẽ sống với nhau mãi mãi…Mộng ước đúng là nhỏ thôi. Chàng đưa nàng về Nhạn Môn Quan quá dễ. Nhưng dễ đây là dễ với ngày hôm qua, với sáng nay, trưa nay, không còn dễ với lúc này, không òn ễ trong đêm nay. Bởi vì nàng sắp chết. Bây giờ dù có võ công lệch đất, nghiêng trời chàng cũng không thể giữ cho nàng đừng chết.

Đại hiệp khóc. Không những Đại hiệp chỉ khóc mà thôi, Đại hiệp còn khóc mùi mẫn, khóc nghẹn ngào, khóc nức nở, khóc vỡ tim, khóc đứt ruột. Khi đau thương Đại hiệp cũng khóc như ai. Đừng nói gì đến Đại hiệp, khi đau thương thì đến Đại vương uy danh cái thế cũng khóc. Bằng chứng:

Ô Giang vó ngựa ngập ngừng
Cùng đường Hạng Vũ, đoạn trường Ngu cơ…
Anh hùng lệ cũng sa mưa..

A Châu tắt thở rồi, Kiều Phong ôm nàng ngồi dưới mưa khóc mãi. Chàng không nỡ rời nàng. Nhưng khi chàng chôn nàng, chàng dùng tay bới đất thật nhanh, chôn nàng bên bờ dòng sông trắng. Lấp đấùt xong chàng bỏ đi luôn. Kim Dung diễn tả hành động của Kiều Phong không những chỉ hay mà còn thật đúng. Người đa tình nhiều lúc hành xử giống như người vô tình. Người yêu đã chết, trái tim đã vỡ, cuộc tình đã đứt, thương khóc đã xong. Đi thôi, có còn gì đâu mà quyến luyến…

Đến đây ta làm một đọan trở về quá khứ, tức là rời hiện tại để trở lại với sự việc xẩy ra trước đó — thuật ngữ xi-la-ma gọi việc này là flashback — có sự théc méc:” Nếu Đoàn chính Thuần không phải là Thủ Lãnh Đại ca, tại sao ông ta lại nhận ông là Thủ Lãnh Đại ca và chịu để cho Kiều Phong đòi nợ máu? Tức là nhận lời đêm ấy ra Thạch Thanh Kiều đấu chưởng — Thanh toán OK Corral — với Kiều Phong?”

Đoàn Nam Vương — đúng ra — hổng có nhận mình là Thủ Lãnh Đại ca. Đôi bên có sự hiểu lầm. Người đòi nợ không nói rõ về khoản nợ, người mắc nợ cũng không hỏi rõ về nơ nần của mình. Đại khái nội vụ xẩy ra như vầy:

Kiều Phong gập Đoàn Chính Thuần ở đâu đó. Đôi bên thi lễ vv và vv… Kiều Phong nói:

– Ba mươi năm xưa ông đã làm một việc tồi bại ở Nhạn Môn Quan…

Lời kết tội mơ hồ đến cái độ có thể nói là mơ hồ nhất trên cõi đời đầy những chuyện mơ hồ này. Đoàn Chính Thuần, như đã nói, là Vua Playboy cơm hàng, cháo chợ, vợ mười phương, con rơi, con vãi loạn trên đường.. Vô phúc cho Đoàn Chính Thuần, đúng ra là không may cho A Châu, bị kết tội Đoàn Chính Thuần nhớ lại ba mươi mùa lệ chi chín đỏ trước đây ông ta có làm một chuyện bị gọi là “tồi bại” ở Nhạn Môn Quan. Kim Dung không viết rõ cái gọi là “việc tồi bại” ấy của Đoàn Chính Thuần là việc gì. Song người đọc chẳng cần tinh tế chi mấy cũng biết ngay, biết chắc cái “việc tồi bại” của Vua Ta chỉ là việc ba mươi năm xưa Vua từ nước Đại Lý ở tận cùng củ tỉ miền Nam bánh xe lãng tử lên tuốt tận Nhạn Môn Quan ở tít mú miền cực Bắc với mục đích thưỡng lãm phong cảnh biên thuỳ và thưởng thức phụ nữ biên thùy. Vua đã — nói huỵch toẹt ra cho nhanh gọn — gập một thiếu nữ biên thùy, Vua hứa cưới nàng, Vua phá trinh nàng và Vua phú lỉnh… Đoàn Chính Thuần chỉ có thể phạm cái tội đó thôi, Vua đâu có thể phạm cái tội nào khác. Nhớ lại cái gọi là “tội” đó, Vua nhận:

– Túc hạ nói đúng. Ba mươi năm xưa ta có làm một việc đáng xấu hổ ở Nhạn Môn Quan. Ta vẫn ân hận mãi…

Kiều Phong:

– Hôm nay tôi là người đến đòi Nhà Vua phải trả món nợ đó..

Đoàn Chính Thuần:

– Túc hạ cho ta biết ta phải gập túc hạ ở đâu?

– Đúng nửa đêm nay, tôi chờ Nhà Vua ở Thạch Thanh Kiều.

– Ta sẽ đến!

Thật là vớ vẩn, ấm ớ. Hà tiện tiền bạc, ai lại hà tiện lời nói. Chỉ vì không chịu hỏi lại cho kỹ, vừa nghe kể tội là nhận tội ngay nên Đoàn Nam Vương làm A Châu chết thê thảm, chết oan uổng. Phải chi cuộc đối thoại diễn ra như vầy:

– Ba mươi năm xưa Nhà Vua đã làm một việc tồi bại ở Nhạn Môn Quan..

– Túc hạ nói chi? Ký gì là việc tồi bại?

– Ba mươi năm xưa Nhà Vua là Thủ Lãnh Đại ca thống lãnh một đám cao thủ võ lâm lên Nhạn Môn Quan, phục kích giết chết cha mẹ Kiều mỗ. Nay Kiều mỗ yêu cầu Nhà Vua cho Kiều mỗ được báo thù..

– Ý chời.. Kiều bằng hữu nói chi? Lạ rứa? Bằng hữu nói ta là Thủ Lãnh Đại ca ư? Bằng hữu đừng có khôi hài, rỡn chơi chọc quê ta như dzậy chứ? Ta mà là Thủ Lãnh Đại ca ư? Ha.. Ha.. Sức mấy.. Không dám đâu.. Võ lâm trung nguyên có hết nhẵn cao thủ chức Thủ Lãnh Đại ca cũng chẳng có đến tay ta.. Võ công của ta chỉ xử dụng với đàn bà đẹp, đa tình thôi. Mà ta có oán thù gì với lệnh song thân mà ta lại vất vả lên tận Nhạn Môn Quan để hãm hại nhị vị? Cả đời ta có đánh nhau với ai bao giờ đâu? Bộ ta hết chuyện làm, chuyện chơi rồi hay sao mà ta lại đi giết người? Kẻ nào ác độc nói với bằng hữu ta là Thủ Lãnh Đại ca?

Bạn có thể nói nếu sự việc xẩy ra như vậy thì đó là chuyện khôi hài rồi, đâu còn là tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình long tranh, hổ đấu, mưa máu, gió tanh nữa? Đúng vậy. Tiểu thuyết khôi hài nhiều khi vô duyên nhưng được cái là không làm hại ai, không làm ai chết oan, chết lảng nhách. Việc hỏi kỹ cũng dzậy. Bài học Luân Lý Giáo Khoa Thư kiêm Công Dân Giáo Dục ta rút ra được đoạn Thiên Long này là: Người đi đòi nợ có thể không cần nói rõ từng chi tiết khoản nợ nhưng người bị đòi nợ thì không thể không hỏi thật kỹ về khoản nợ của mình. Khoan nói đến chuyện mình có thể bị mất mạng hay bị đánh hộc máu mồm, chỉ cần nói khi mình có thể bị tù tội vài niên vì cái gọi hết sứ mơ hồ là “việc tồi bại”, mình phải hỏi thật kỹ — mình có quyền, mình có bổn phận — cái “việc tồi bại” ấy là việc gì? Tại sao lại cho đó là việc tồi bại? Mình làm việc đó hồi nào? Ai làm chứng? Người làm chứng có thể tin được không? vv… Và việc ta phải làm khi ta bị kết tội là chối phắt đi. Đừng có nhận. Ít nhất cũng đừng có nhận tội ngay. Đợi đến lúc ta không sao còn chối được nữa, hoặc khi ta thấy ta chối ta sẽ bị thiệt hại hơn ta nhận, ta nhận cũng vừa.

Bài Công Dân Giáo Dục thứ hai là: Khi cần khóc ta cứ khóc. Đừng có mặc cảm. Anh hùng khí bạt sơn như Hạng Vũ lúc phải khóc cũng khóc, huống hồ là ta!

Tình Oan, Những Thủy Chung

Phúc bồn dĩ hĩ nan thu thủy…
Thơ Nguyễn Du. Bài “Ngộ gia đệ cựu ca cơ”.

Đây là toàn bài:

Phồn hoa nhân vật loạn lai phi
Huyền hạc quy lai kỷ cá tri.
Hồng tụ tằng văn ca uyển chuyển
Bạch đầu tương kiến khốc lưu ly
Phúc bồn dĩ hĩ nan thu thủy
Đoạn ngẫu thương tai vị tuyệt ty
Kiến thuyết giá nhân dĩ tam tử
Khả lân do trước khứ thì y.

Dịch nghĩa:

Gặp Nữ ca sĩ cũ của Em tôi.
Nhân vật thuở phồn hoa từ khi có loạn đã đổi khác.
Hạc đen trở về mấy người biết?
Đã từng được nghe giọng hát mê ly của Em
ngày em trẻ Em mặc áo hồng.
Nay bạc đầu gặp lại nhau ta khóc nỗi lưu lạc, ly loạn.
Chậu đã đổ rồi khó thu lại được nước
Ngó gẫy thương thay vẫn chưa dứt đường tơ.
Nghe nói Em đã có chồng được ba con
Thương Em vẫn mặc chiếc áo ngày cũ.

Công Tử Hà Đông phóng Thơ:

Sau loạn người đời đã đổi thay
Hạc đen trở lại mấy ai hay.
Áo hồng từng thấy Em ca hát
Bạc đầu lại gập nhau đắng cay.
Chậu đổ thế thôi nước khôn vét
Sen gẫy thương thay tơ vẫn bay.
Em đã có chồng, ba con nhỏ
Thương Em áo cũ đã bao ngày.

Hạc đen: Huyền hạc, dùng để gọi người đi ẩn tu một số mùa lá rụng vắng bóng nay trở về phố chợ. Huyền thoại : những ông Tầu đi ở ẩn, tu tiên, khi trở về thăm lại phố cũ thường biến thành con hạc đen.

Lâu rồi. Không nhớ đã bao nhiêu mùa thu lá bay xưa cũ tôi đọc trên một trang truyện viết về cuộc đời một số nhà sư ở Trung Hoa. Chuyện kể lại vào thời nào đó cả ngàn năm xưa ở một thành phố Ấn Độ có một nàng kỹ nữ trẻ đẹp có tình cảm nặng với một Sư Ông. Nàng tìm mọi cách để được gặp, được gần người nàng ái mộ nhưng Sư Ông cũng dùng đủ mọi cách để không cho nàng được gặp. Thế rồi sau chừng năm sáu bẩy tám chín mười mùa Vu Lan đến trên biển đông đầy nước mắt của chúng sinh trong cõi ta bà nàng kỹ nữ chẳng may bị tai họa làm mặt mũi như hoa của nàng trở nên xấu xí – Một tai họa kiểu nàng vũ nữ Cẩm Nhung bị tạt át-xít ở Saigon năm 1960 – Nàng kỹ nữ sống những ngày cuối đời mỏi mòn trong u ám và hoang vắng. Khi ấy Sư Ông đến thăm nàng.

Xúc động nàng hỏi:

- Sao ngày xưa em trẻ, em đẹp em muốn được gặp Thầy, Thầy không cho em được gặp? Nay em không còn nhan sắc nữa sao Thầy lại đến gặp em?

Sư Ông trả lời:

- Ngày xưa cô đẹp nên tôi không đến với cô. Nay tôi đến để an ủi cô…

Chuyện được ghi lại lưu truyền hậu thế đề cao lòng nhân hậu của Sư Ông. Tôi đọc và tôi suy nghĩ bậy bạ: “… Chèn đét ơi.. An ủi, nâng đỡ cho người ta sống đâu chẳng thấy, ông làm thế là ông giết người ta đấy.” Đàn bà – nhất là đàn bà đẹp từng được vương tôn, công tử, thương gia giầu sụ quì mọp bên giường dâng kim ốc, kim cang, kim Mỹ…, từng được các nhà thơ mần thơ ca tụng vung xích chó đề tặng trang trọng đăng tùm lum trên những trang báo phong tình – đàn bà đẹp và đa tình thường có lòng tự ái, tự trọng nặng đến cái độ các nàng thà chết còn hơn là để người đời nhìn thấy nhan sắc các nàng tàn tạ. Sau cuộc gặp mặt ân tình muộn màng của Sư Ông chắc nàng kỹ nữ không còn con đường nào khác ngoài đường gạt lệ tự cho năm bẩy gói thuốc chuột vào bao tử.

Đấy là những chuyện linh tinh chung quanh việc nói đến những bí kíp kinh điển Võ Lâm Ngũ Bá, Ỷ Thiên Kiếm – Đồ Long Đao, Thần Điêu Hiệp Lữ, Thiên Long Bát Bộ hiện còn được tàng trữ và nghiên kíu ở Thành Hồ. Ở Xê Kỳ việc tìm đọc những kinh điển ấy không những chỉ dễ thôi mà còn phải nói là dễ ợt. Tất cả những bí kíp kể tên trên đây đều được tái ấn hành, tái bản. tái nạm, tái gầu năm bẩy lần từ hai mươi mùa tuyết trắng kể từ 1975. Sách in lại mới tinh, bìa láng coóng, giấy Mẽo trắng, dầy, sốp, thơm mùi.. giấy Mẽo và có những đặc điểm là không xếp chữ lại, xé nguyên trang truyện cũ đem chụp lại, dán lên máy in, giữ nguyên những lỗi chính tả, giấy tốt nhưng chữ in thì lem nhem, và không trả tiền bản quyền tác giả. Không những chỉ những bí kíp Cắm Dùng được in lại, những giá sách hải ngoại có nguyên bộ Lệnh Xé Xác của Lã Phi Khanh – Dương Chí Tôn tung ra một chưởng.. Bùng.. Bùng.. Bùng… Bọn ác ma lăn đùng, ngã ngửa – Chú Tư Cầu Lê Xuyên ngồi bán thuốc lá lẻ ở vỉa hè ngã tư Bà Hạt – Ngô Quyền từ năm giờ sáng đến muời một giờ đêm rách ba mươi mấy cái đũng quần tây nát, hai mông đít thâm như được quét bằng hắc ín, có năm quyển tiểu thuyết in rất đẹp bầy bán ở Xê Kỳ. Dương Chí Tôn Lã Phi Khanh và Chú Tư Cầu Lê Xuyên không được những người in và bán tác phẩm của mình ở hải ngoại chi cho một đô gọi là có.

Khi định viết về những Tình Oan, Những Thủy Chung Thiên Long Bát Bộ tôi nghĩ đến chuyện tìm đọc lại những tác phẩm Kim Dung. Nhưng tôi đã không làm công việc đọc lại vì tôi muốn “Viết về những truyện Kim Dung nằm trong trí nhớ của tôi..” Tôi có thể quên nhiều sự kiện cần kể, tôi có thể kể sai nhiều đoạn. Nhưng đó là “nguyên chất truyện võ hiệp Kim Dung của tôi”, hoặc đó là những gì tôi còn nhớ về tiểu thuyết Kim Dung. Tôi đọc Thiên Long Bát Bộ lần cuối khoảng năm 1970. Gần ba mươi mùa cóc chín đã qua trên quê hương ta kể từ ngày ấy. Như tôi nhớ hình ảnh người yêu ngày tôi còn trẻ như thế nào, năm nay Sáu Bó Lẻ Vài Que, tuổi đời chồng chất, mái tóc phong sương, vết thù in hằn trên khuôn mặt võ vàng, tôi viết về nàng như thế. Tôi kể và bình những nhân vật Thiên Long yêu thương, thù hận, giết nhau, lấy nhau theo như chuyện tôi còn nhớ.

Tình cờ – mới tối qua thôi – xem xong hai Kênh History, Discovery trên Tivi – hai tiếng đồng hồ, quá nhiều quảng cáo đến mất hứng – mắt đã kèm nhèm tôi tắt TiVi nằm đọc mấy tờ báo Việt – tôi vớ được mấy trang báo đăng tải từng kỳ tiểu thuyết Thiên Long Bát Bộ – tình cờ nữa là tờ báo đăng đúng đoạn Đoàn Dự cứu Vương Ngọc Yến từ Đại Hội Cái Bang Rừng Hạnh, bồng nàng và thi triển Lăng Ba Vi Bộ chạy đến Nhà Xay Lúa, dùng Lăng Ba Vi Bộ tránh những đường đao của Dũng sĩ Tây Hạ. Tôi đọc và được biết – biết chứ không phải nhớ lại – tên Dũng Sĩ Tây Hạ là Lý Diên Niên. Tôi đọc lại và thấy Kim Dung cho nhân vật í oẳng cãi qua cãi lại quá nhiều trong đoạn này làm chậm nhịp độ của trận đấu ác liệt – đánh nhau, giết nhau là không có cãi nhau, không còn đấu lý sự cùn – Kỹ thuật viết Phơi Ơ Tông – Feuilleton – tiểu thuyết dài đăng mỗi ngày trên nhật báo, bắt buộc người viết phải cho nhân vật đối thoại với nhau – nói qua, cãi lại thật nhiều – để kéo dài, câu dầm. Một trận đánh kéo dài trên năm bẩy số báo có thể tả gọn trong một trang. Nhưng sơ lược quá sẽ là báo cáo chứ không phải tiểu thuyết, còn dùng đối thoại quá nhiều truyện sẽ trở thành lòng thòng, không thật.

Một thời – vào những năm 1970 – khi Kim Dung viết Lộc Đỉnh Ký, bộ truyện võ hiệp cuối cùng của ông, ở Saigon trong ngôn ngữ những người đọc Kim Dung có một số từ ngữ đặc biệt Kim Dung: Cấy Sinh Tử Phù, thân bại, danh liệt, tẩu hoả nhập ma, tiếu ngạo, truyền âm nhập mật, ma đầu, ma giáo… Đây chỉ là thứ ngôn ngữ được dùng một thời rồi thôi nhưng dù sao cũng có một thời được dùng. Khi được hỏi đi đâu, nhiều bà, nhiều cô trả lời:

- Đi tiếu ngạo..

Người ta có thể mắng yêu nhau:

- Ma giáo…

- Định dở trò ma giáo hả?

- Cho một chưởng tẩu hoả nhập ma bi giờ..

Hoặc chửi thật:

- Đồ ma giáo..

- Thằng ấy ma giáo…

Phê phán thiên hạ:

- Thằng cha đó là Nhạc Bất Quần..

Gập em nào thủ đoạn cao, tức cao tay ấn, giang hồ có thể nói:

- Em đánh toàn võ công Ba Tư quái dị không à..!

Thời ấy trẻ em Sàigòn có câu hát:

- Có Cô Gái Đồ Long lắc bầu cua
Lắc ba cái ra ba con gà mái…

Độc Hành Đại Đạo Điền Bá Quang trong Tiếu Ngạo Giang Hồ kỵ nhất là những em ni cô. Đại Đạo thường nói:

- Gặp ni cô sui lắm. Đi đánh bạc mà gặp ni cô thì chỉ có nước cháy túi…

Điền Bá Quang mất hết thoải mái mỗi lần gặp ni cô Nghi Lâm phái Hành Sơn, hay Hằng Sơn chi đó – quý vị nào muốn biết rõ xin làm theo lời Thi sĩ Vũ Hoàng Chương năm 1975 nói với Văn sĩ Mai Thảo ở Thành Hồ:

Buồn như Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật
Về Đỉnh Trời xem lại Chúc Thư

Bài thơ bốn câu. Xin lỗi tôi quên mất hai câu đầu. Quý vị không phải là Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật, quý vị sẽ không như ông Mai Thảo về Đỉnh Trời xem lại Chúc Thư, nếu quý vị muốn biết đích xác Nghi Lâm Sư Thái ở môn phái nào xin mời quý vị đến tiệm sách xem lại Tiếu Ngạo Giang Hồ.

Vì vậy trong ngôn từ mấy ông dzăng nghệ sỡi tôi được hân hạnh đánh đu với tinh, theo đi ăn, đi chơi thời ấy tôi thường nghe các ông nói về một em phún nào đó mà các ông cho là chỉ mang sui sẻo đến cho đàn ông mấy ổng:

- Em là Nghi Lâm đấy. Đừng có đụng vào. Thằng XXX chỉ chở em đi một vòng Sègoòng – Chợlớn là xế tông cột đèn, bẹp rúm…

Về một người đàn bà đẹp nào đó có thủ đoạn làm đàn ông tối tăm mắt mũi, các ông nói:

- Công lực em thâm hậu lắm. Em xử dụng võ công Ba Tư quái dị. Nhưng rồi em cũng vẫn bị tẩu hỏa nhập ma như thường.

***

Giữa năm 1975 Thi sĩ Vũ Hoàng Chương và bà vợ về sống ở khu Khánh Hội. Thi sĩ làm rất nhiều bài thơ nhỏ tặng anh em đến thăm. Chính tay ông viết vào những tờ giấy nhỏ. Tôi đọc bài thơ ông viết cho Mai Thảo nhân một tối tôi đi chơi rồi về ngủ với Mai Thảo trong căn nhà ở đường Phan Đình Phùng. Hôm nay hai mươi năm sau viết lại kỷ niệm này tôi làm thêm hai câu đầu cho bài thơ được vẹn.

Giã Từ Hà Nội Đêm còn nhớ?
Bẫy Ngầm ai biết chuyện bây giờ.
Buồn như Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật
Về Đỉnh Trời Xem Lại Chúc Thư.

Về cuộc tình nào đó sẽ có kết quả trong chín tháng mười ngày các ông nói:

- Em bị nó cấy Sinh Tử Phù…

Những năm vàng son 1965 đến 1972 có nhiều đêm ăn uống xong ở những Nhà Hàng Ngân Đình, Chương Nam, Kim Hoa, Thiên Nam v.v.. tôi được hân hạnh đi theo vài ông văn sĩ lớn đến một sân bay của các ông ở trên tầng lầu một tòa nhà gần Nhà BGI Chợ Lớn. Các ông gọi sân bay của các ông là Quang Minh Đỉnh. Chỉ cần nghe các ông bảo nhau:

- Lên Quang Minh Đỉnh..

… là tôi biết các ông đi đâu rồi. Chuyện xẩy ra ba mươi mùa hoa dâm bụt trổ bông về trước nếu bạn còn nhớ dù chỉ nhớ mang máng: Quang Minh Đỉnh là Tổng Đàn của Minh Giáo. Quang Minh Đỉnh ở trên đỉnh núi cao, tất nhiên. Đó là nơi quần hùng chính phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga My, Không Động kéo nhau đến với mục đích tấn công tận diệt Minh Giáo sau khi Giáo Chủ Minh Giáo Dương Phá Thiên – có tin đồn đã tịch – Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn biệt tích giang hồ, Tía Sam Long Vương Kim Hoa Bà Bà cùng Dương Tiêu, người yêu của Kỷ Hiểu Phù Nga My, cha của em Dương Bất Hối – tôi quên mất tước hiệu trong Minh Giáo của Dương Tiêu, dường như ông này là Tả Sứ – không thể đủ sức bảo vệ Tổng Đàn Minh Giáo trước năm mũi tiến công của võ lâm trung thổ. Quang Minh Đỉnh là nơi Trương Vô Kỵ gặp Tiểu Siêu trong Hầm Đá, học được Càn Khôn Đại Nã Di và được em Tiểu Siêu nói những lời yêu đương ngọt lịm:

- Em chỉ muốn được suốt đời đun nước tắm, kỳ lưng, giặt quần áo, đấm bóp cho Công Tử!

Giang hồ Sàigòn những năm 60 vinh danh Tiểu Siêu là Thánh Tổ giới Mari Sến.

Ngôn ngữ tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung được người đọc Việt Nam dùng nhiều nhất. Ngọa Long Sinh, Cổ Long cũng có nhiều bộ truyện được dịch sang văn Việt và được chiếu cố đến nhiều ở những nhà cho mướn sách – Nhà Lớn Nhất Nam Kỳ, lớn nhất luôn cả Đông Dương, là Thư Viện Cảnh Hưng trước cửa Trường Aurore đường Phan Đình Phùng. Ở Thư Viện Cảnh Hưng bí kíp cho mướn xếp cao đến chín tầng Tàng Kinh Các – nhưng ngôn ngữ tiểu thuyết võ hiệp của Ngọa Long Sinh, Cổ Long chẳng có gì đặc biệt, không mầu sắc, không hấp dẫn, không gợi cảm. Cũng rất ít người đọc nhớ cốt truyện hay bàn tán về những nhân vật Lục Tiểu Phụng, Hoa Mãn Đường trong những truyện của Ngọa Long Sinh, Cổ Long.

Tẩu Hỏa Nhập Ma, cấy Sinh Tử Phù, võ công Ba Tư quái dị, lên Quang Minh Đỉnh v.v.. Những câu được một số người dùng trong một thời.. theo thông lệ.. quên dần, mất dần. Một thời xa xưa ta đã nghe, ta đã nói những câu gần như thành ngữ:

- Nghèo mà ham

- Sức mấy..

- Của chùa..

- Bỏ đi Tám… v.v..

Ngôn ngữ võ hiệp Kim Dung cũng bị quên lãng theo thời gian nhưng phải kể nó có đời sống tương đối lâu. Kể từ những ngày thanh bình 1960 đến nay đã ba mươi sáu mùa tuyết rơi trên đỉnh Thiên Sơn vài thuật ngữ Kim Dung vẫn còn sống dai dẳng:

- Mưa máu, gió tanh…

- Thân bại, danh liệt..

- Ân oán giang hồ..

Một tối cuối Tháng Tư ở Saigon, Thủ Đô Việt Nam Cộng Hòa, khi quân Bắc Việt Cộng xâm lược đã kéo vào đến cửa ngõ Sàigòn, chúng ta choáng váng vì bị tẩu hỏa nhập ma, mất hết công lực khi nghe Phó Tổng Thống Trần Văn Hương – trên màn ảnh Tivi, qua radio – kêu gọi Đại Tướng Dương Văn Minh:

-… Hãy quên đi những ân oán giang hồ…

Đúng là đau hơn hoạn. Quốc gia còn các ông – các ông thôi, không phải là nhân dân – còn ân oán giang hồ với nhau dài dài. Việt Cộng nó dzô, không những nó chỉ đá các ông ra khỏi Dinh Độc lập, nó còn cho các ông đi tù mút muà Lệ Thủy, kiêm Lệ Thu, Lệ Liễu.. Và thế là các ông hết còn ân, còn oán..

Mã Phu Nhân: Dâm Thì Dâm Cũng Có Ngần Ấy Thôi

Mã phu nhân xuất hiện ở Đại Hội Cái Bang Rừng Hạnh với hình ảnh Nàng Sương Phụ Áo Trắng hiền hậu, trang nghiêm làm đám bang chúng Cái Bang – Bang phái bụi đời của Võ Lâm Trung Thổ – phải kính phục. Nhưng.. nhìn dzậy, thấy dzậy mà hổng phải dzậy: Mã phu nhân đẹp thì có đẹp nhưng hiền thì nàng không hiền một li ông cụ nào. Nàng là người đàn bà đa tình ác liệt nhất Thiên Long.

Dùng danh từ “đa tình” cho có vẻ văn huê. Thực ra theo ngôn ngữ ông cha ta nàng “đa dâm” thì đúng hơn. Hoặc nói nàng “dâm” cho gọn ghẽ, trong sáng và dễ hiểu.

Mã phu nhân tên trong giấy căn cước, tên cúng cơm là gì tôi không nhớ, tôi gọi nàng bằng cái tên Lệ Hoa. Nàng là Vợ Góa Mã Đại Nguyên Phó Bang Chủ Cái Bang. Mã Phó Bang Chủ có vợ đẹp, đa tình nhưng không có số phúc, lộc, thọ để hưởng hạnh phước, Phó Bang Chủ bị ám sát chết thê thảm. Mã phu nhân đến phó hội để làm chứng tố cáo:

- Kiều Phong, Bang Chủ Cái Bang, là người Khiết Đan, không phải người Hán.

- Mã Phó Bang Chủ, chồng nàng, biết bí mật lý lịch Kiều Phong nên bị Kiều Phong giết để bịt miệng.

Nàng tố Kiều Phong hai tội trời không dung, đất không tha, thần giận dữ, người thù ghét. Hiền hậu, đoan trang như Nàng nói ai mà không tin. Tên đại gian đại ác Kiều Phong chỉ từ chết đến chết.

Nhưng… chính nàng là người chủ mưu giết Mã Đại Nguyên chồng nàng. Nàng toa rập với Bạch Thế Kính, một Trưởng Lão Cái Bang, giết Mã Đại Nguyên rồi đổ tội cho Kiều Phong. Bạch Thế Kính là một tình nhân tay sai của nàng Sương Phụ Đa Tình. Lão vừa muốn nàng vừa muốn lên làm Bang Chủ Cái Bang. Và trước khi làm vợ Mã đại Nguyên, nàng đã gập, đã là tình nhân của Đoàn Chính Thuần.

Như đã kể trong đoạn viết về A Châu, nhiều hồi sau cuộc Đại Hội Rừng Hạnh, A Châu giả làm Bạch Thế Kính đến lừa Mã phu nhân để hỏi về vị Thủ Lãnh Đại Ca, người cầm đầu trận tàn sát gia đình Tiêu Viễn Sơn ở Nhạn Môn Quan nhiều năm trước. Mưu lừa của A Châu ngây thơ làm sao qua mắt được Nàng Sương Phụ Đa Tình. Mã phu nhân lợi dụng ngay A Châu và Kiều Phong để giết chết Đoàn Chính Thuần, người đàn ông nàng yêu nhưng nàng không chiếm được độc quyền. Giả vờ bị lừa nàng tiết lộ vị Thủ Lãnh Đại Ca là Đoàn Chính Thuần. Kết quả việc làm tàn ác của nàng là A Châu bị chết oan khốc.

A Châu chết thay cho cha nàng là Đoàn Chính Thuần. A Châu chết oan vì Đoàn Chính Thuần đâu phải, và không thể là Thủ Lãnh Đại ca. Người thống lãnh quần hùng Trung thổ phục kích ở Ải Nhạn Môn ba mươi năm xưa để tấn công vợ chồng Tiêu Viễn Sơn là Huyền Từ Phương Trượng Thiếu Lâm Tự. Kim Dung đã pha phách sì dầu, sa tế hơi quá tay khi cho Huyền Từ Phương Trượng từng “tình là dây oan”, tức là từng ân ái với Nàng Diệp Nhị Nương Vô Ác Bất Tác, sinh ra Hư Trúc.

A Châu chết rồi Kiều Phong một mình đi truy tầm lý lịch của mình. Nhiều hồi sau chàng gặp lại Mã phu nhân và được nàng cho biết tại sao nàng thù chàng, nàng vu cáo chàng.

Đây là đoạn kể truyện tuyệt hay của Kim Dung. Những tình tiết trong đoạn này dồn dập đến như sóng biển. Ly kỳ, bất ngờ, hồi hộp, hấp dẫn. Đợt sóng này đánh tới làm người đọc tối tăm mắt mũi. Tưởng hết nhưng đợt khác lại ào tới. Lại tưởng hết nhưng vẫn chưa hết. Nghệ thuật kể chuyện của Kim Dung lên đỉnh cao nhất ở đoạn này.

Đêm ấy ở Hàng Châu tuyết trắng phủ trắng trời, trắng đất, như tuyết đang phủ trắng trời, trắng đất Virginia Của Những Người Yêu, Kiều Phong theo dấu Đoàn Chính Thuần đến gia trang của Mã Sương Phụ. Mẹ con A Tử Nguyễn Tinh Trúc đã đến đây trước. Kiều Phong bắt gặp hai mẹ con đang nằm trên mái nhà, đục ngói nhìn xuống phòng ngủ của Mã Sương Phụ. Không muốn để hai mẹ con gây chuyện phá rối trật tự công cộng Kiều Phong điểm huyệt cho họ nằm ngay đơ cán cuốc trên mái.

Dùng chỉ lực Kiều Phong đục một lỗ trên vách nhìn vào phòng. Phòng ngủ nhung lụa ấm áp, lò sưởi than hồng lách tách reo vui, Đoàn Chính Thuần pi-ja-ma Made in China nằm trên giường. Sương phụ Lệ Hoa áo ngủ mỏng tanh cũng Made in China khêu gợi đứng ở bàn rượu.

Nàng đã cho Đoàn Chính Thuần uống ma dược làm họ Đoàn mất hết công lực. Nàng muốn hạ thủ giết họ Đoàn đêm nay. Nhưng trước khi cho tình nhân chết nàng muốn Y phải chịu trừng phạt thật não nề đau khổ. Trước khi trừng trị Bạc Tình Lang nàng cần biết chắc Y có còn nội lực hay không. Ma dược không đủ mạnh làm Y tiêu công lực mà nàng trổ mòi giết Y thì rửa hận chẳng thấy đâu, nàng khốn khổ khốn nạn là cái chắc.

Kiều Phong nghe, nhìn từng chi tiết màn kịch Ái Tình trong Phòng Ngủ Mã Phu nhân.

Choang…

Bình rượu bồ đào trên tay Lệ Hoa rơi xuống sàn..

- Đoàn lang…

Nàng kinh hãi kêu lên. Tay vịn vào thành bàn, người nàng nghiêng đi, khuôn mặt nàng ngước lại nhìn người yêu đầy vẻ sợ hãi:

- Có kẻ địch ám toán.. Nó đánh trúng em rồi.. Nó nấp sau cửa sổ kia.. Chàng ra tay đi…

Đã bị rượu độc làm mất hết nội lực, Đoàn Chính Thuần bối rối:

- Nàng lại đây với ta..

- Em không đi được.. Chàng xuất Nhất Dương Chỉ diệt nó đi.. Chàng còn chờ gì nữa?

Đoàn lang có Nhất Dương Chỉ bao giờ đâu mà xuất với lại chẳng xuất, chàng ú ớ:

- Em ơi.. Không biết tại sao ta.. ta…

Lệ Hoa càng thêm hoảng sợ:

- Chàng nói sao? Chàng làm sao..?

- Ta.. ta.. không biết vì sao.. ta mất công lực…

Khi biết chắc ma dược đã có hiệu nghiệm Lệ Hoa mới âu yếm nói cho Đoàn lang yêu mến biết tại sao:

- Em đã làm chàng mất hết nội lực rồi. Ly rượu đào em vừa mời chàng uống ấy có pha chất Nhuyễn Cân Tán cực nặng. Em cần làm chàng mất nội lực để nói với chàng chuyện này..

Nàng trở lại giường, vuốt ve Đoàn lang:

- Chàng có quá nhiều đàn bà. Em muốn chàng là của riêng em, nhưng không được. Em không muốn chàng coi em cũng chỉ là một tình nhân của chàng như bao nhiêu mợ khác. Chàng có nhớ ngày chàng mới yêu em chàng hứa gì với em không?

Chàng hứa gì làm sao chàng nhớ đuợc? Một triệu anh đàn ông, con trai hứa nhăng hứa cuội với đàn bà, con gái trên cõi đời này có đến chín trăm chín mươi chín ngàn chín trăm chín mươi chín anh rưỡi đi một đường quên béng. Nam Vương Đoàn Chính Thuần, Đoàn lang yêu dấu của Mợ Sương Phụ Đa Tình, cũng chỉ can tội quên như bất cứ anh đàn ông phó thường dân vô tội nào trên cõi đời này.

- Chàng quên phải hông? Em hổng ngạc nhiên khi thấy chàng quên. Chàng quên thì em nhắc cho chàng nhớ. Ngày đầu ta yêu nhau chàng thề nếu chàng phụ em chàng sẽ để em cắn từng miếng thịt chàng cho đến khi chàng chết. Chàng nhớ chưa? Có đúng là chàng thề mí em như vậy không?

Đoàn Chính Thuần can tội phong tình nhưng không hèn – nhất là không hèn với đàn bà. – Nhiều người đàn ông cực kỳ hiên ngang trước kẻ địch, khẳng khái trước cái chết nhưng lại yếu sìu, khóc ròng, năn nỉ trong phòng ngủ, úp mặt vào bụng đàn bà mà nức nở. Đoàn Chính Thuần không ở trong loại đàn ông can đảm này.

Chàng thản nhiên nói:

- Ta nhớ ta có thề như thế…

- Dzậy thì bi giờ em… cắn chàng đấy…

- Nàng muốn cắn cứ cắn..

Lệ Hoa vạch áo pijama của người yêu để lộ bờ vai vương giả trắng ngần. Như một thứ Vampira nàng nhe hàm răng trắng giữa đôi môi hồng..

Kiều Phong vốn là đại hiệp. Chàng không muốn nghe lỏm, rình trộm người khác. Nhất là khi hai người khác lại là đôi tình nhân đang tình tự với nhau. Nhưng vì nóng lòng muốn biết ai là thủ phạm đã giết cha mẹ chàng nên chàng đành phải nhìn trộm, nghe trộm. Chẳng gì Đoàn Chính Thuần cũng là cha của A Châu. Kiều Phong đã định ra tay cứu ông ta nhưng chàng thấy ông ta ái tình giăng dện linh tinh, bê bối quá, để cho ông ta bị đau đớn một phen cũng đáng nên chàng để yên.

Lệ Hoa ghé răng cắn vào vai Đoàn Chính Thuần. Tất nhiên là Đoàn lang yêu dấu đau tới óc. Thịt da Vua Chúa cũng chẳng có gì khác thịt da phó thường dân và dân ngu cu đen.

Sương Phụ Đa Tình Mã phu nhân Áo Trắng Rừng Hạnh Tô Châu Phước Kiến là loại đàn bà được Ông Bác sĩ Phổ Lộ Xứ Tây Dương – tiếng Tây Dương gọi là Bác sĩ Phờ Rây, Phờ Râu, Phờ Roi chi đó – xếp vào loại Masochist, tạm dịch là Bạo Dâm: thích làm tình nhân đau đớn khi hành lạc. Có làm, có thấy người tình bị đau đớn, quằn quại, rên la nàng mới thấy hứng. Nàng sung sướng cắn thịt người yêu, miệng nàng đỏ máu tươi, mắt nàng long lanh sáng, tim nàng đập mạnh, má nàng hồng lên, ngực nàng phập phồng…

Đoàn Chính Thuần mất hết nội lực nằm nhũn như con chi chi theo nghĩa đen. Được cái hơn người là đau thấy mồ, đau đến óc và thấy mình chết đến nơi chàng vẫn cười:

- Em có giết anh, anh cũng vui.

Và chàng đọc hai câu thơ:

– Mẫu đơn hoa hạ tử
Tố quỉ dã phong lưu…

Lệ Hoa đi đến bàn lấy con dao găm nàng dấu ở đó. Thấy ông bố vợ hụt chết đến cổ rồi Kiều Phong bèn ra tay. Chàng chọc thủng bức vách luồn bàn tay vào đặt trên lưng Đoàn Chính Thuần. Như cách chàng đã cứu A Tử thoát khỏi tay Trích Tinh Tử, Đại đệ tử Tinh Tú phái, Kiều Phong truyền nội lực cho Đoàn Chính Thuần.

Đoàn Nam Vương biết có người ám trợ mình bèn phóng ra một chỉ phong – Đây không phải là Nhất Dương Chỉ. Đoàn Nam Vương chỉ đánh ra chiêu “Cách không đả huyệt” rất thường — chiêu này Anh Con Trai Bà Cả Đọi nào cũng đánh được, khỏi cần học hành, tập luyện chi –nhưng vốn mê tín vì võ công Nhất Dương Chỉ danh vang giang hồ của nhà họ Đoàn, Sương Phụ Đa Tình tưởng Đoàn Nam Vương đánh Nhất Dương Chỉ.

Mã phu nhân bị trúng chỉ phong vào mạng sườn. Lần này nàng trúng chưởng — xin lỗi ; trúng chỉ — thật sự, nàng không còn vờ vẫn kịch coọc gì nữa. Bạch Thế Kính, Trưởng Lão Cái Bang, tình nhân sơ-cua của nàng, nhẩy vào khi nàng ngã xuống sàn:

- Cẩn thận đấy – Mã phu nhân la lên – Hắn vẫn còn công lực. Hắn chỉ vờ mất công lực thôi…

Bạch Thế Kính căm hận tình địch đến xương tủy. Y đánh ngay hai chưởng làm Đoàn Nam Vương gẫy rắc rắc hai cổ tay. Kiều Phong vừa định xuất hiện can thiệp thì sự kiện đột biến..

Mấy ngọn nến trắng lung linh trong phòng ngủ bỗng sáng lên rồi tắt ngấm. Trong bóng tối mờ mờ Kiều Phong nhìn thấy bóng người áo sám từ trên trần nhà rơi xuống. Kỳ nhân này nấp trên trần từ hồi nào linh mẫn đến như Kiều Phong cũng không phát hiện.

Kỳ nhân áo sám vừa rơi xuống cả Bạch Thế Kính và Mã phu nhân cùng thảng thốt kêu lên:

- Mã Đại Nguyên…

Kỳ nhân không nói một tiếng, xử dụng chiêu thức đặc biệt của Mã Đại Nguyên, nhẩy lên tung hai tay chặt vào cổ Bạch Thế Kính.

Rắc..! Cái Bang Trưởng Lão Chín Túi đam mê cả Tình lẫn Địa Vị đi một đường gẫy cổ, hồn du địa phủ.
Kỳ nhân áo xám vút ra khỏi phòng đi luôn. Kiều Phong vội đuổi theo ông ta. Trên vùng tuyết trắng mênh mông hai cao thủ chạy đua maratông. Công lực họ bằng nhau nhưng Kỳ nhân đề-pa trước nên giữa hai người vẫn có khoảng cách. Kiều Phong gia tăng cước lực, Kỳ nhân chạy nhanh hơn. Kiều Phong giảm tốc lực, Kỳ nhân chạy chậm lại.

Thấy mình không thể nào đuổi kịp được Kỳ nhân Kiều Phong dùng lời gạ gẫm:

- Xin tiền bối dừng chân cho tiểu sinh được trò chuyện đôi lời…

Không quay lại Kỳ nhân chỉ nói:

- Lúc này chưa phải là lúc ta và túc hạ nói chuyện với nhau..

- Xin cho tiểu sinh được biết cao danh của tiền bối. Người là ai? Tại sao người lại can thiệp vào vụ ân oán giang hồ này?

Kỳ nhân thở dài:

- Giang hồ có nhiều chuyện khó nói lắm. Rồi túc hạ sẽ biết. Đừng theo nữa. Ta đi đây…

Kiều Phong đứng lại nhìn theo bóng người áo xám chìm mất trong vùng tuyết trắng.

***

Đến đây người luận Thiên Long một lần nữa phải ngừng luận để ca tụng nghệ thuật tả truyện của Kim Dung.
Như đã nói đoạn Thiên Long này đầy những sự kiện ly kỳ, hấp dẫn, bất ngờ.. hồi hộp, gây kinh ngạc đến ngẩn ngơ. Những sự kiện liên tiếp theo nhau đến như những đợt sóng biển khi biển động.

Sự kiện Sương Phụ Đa Tình kể tội rồi cắn thịt Đoàn Nam Vương, Kiều Phong tiếp nội lực cho Nam Vương “cách không đả huyệt” Sương Phụ Đa Tình đã là hấp dẫn, ly kỳ rồi. Kỳ nhân áo xám đột ngột xuất hiện dùng võ công của Mã Đại Nguyên đánh gẫy cổ Bạch Thế Kính là sự kiện bất ngờ thứ hai. Kỳ nhân này là ai? Kiều Phong biết cao nhân này không phải là vị áo nâu đã cứu chàng ở Tụ Hiền Trang.

Vẫn chưa hết. Tác giả còn dành cho người đọc một ngạc nhiên lớn nữa. Kiều Phong trở lại gia trang của Lệ Hoa. Phòng ngủ hoang vắng, lạnh lẽo. Gia nhân của Đoàn Nam Vương – những anh vệ sĩ này đáng bị chặt đầu vì tội đến cứu giá quá muộn màng – đã đến đưa Nam Vương lên am-bu-lăng đi bệnh viện. Xác Cái Bang Trưởng Lão Bạch Thế KÍnh nằm đâu chẳng ai cần biết. Kiều Phong gặp lại Mã phu nhân mình đầy máu tươi nằm chịu kiến lửa đốt.

Trong khi Kiều Phong đuổi theo Kỳ nhân áo xám mẹ con Nguyễn Tinh Trúc–A Tử đã tự giải khai được huyệt đạo, nhẩy xuống, vào phòng hành hạ M phu nhân. Bà Nguyễn Tinh Trúc ghen tuông nghe lời con gái ác độc dùng kiếm rạch nát mặt hoa, nát tấm thân ngà ngọc của nàng Sương Phụ Đa Tình rồi không giết nàng ngay, bỏ nàng nằm đấy cho kiến vàng, tức kiến lửa, đốt nàng, hút máu cho nàng đau đớn đến chết.

Kiều Phong thương hại Mã phu nhân. Tuy nàng đã vu cáo, hãm hại , có thể nói là tàn phá, cả đời tư lẫn đời công của chàng ở Đại Hội Cái Bang Rừng Hạnh nhưng chàng không thù hận gì nàng. Nàng sắp chết. Không thể cứu được nàng sống lại. chàng chỉ còn có thể an ủi nàng mấy câu trước khi nàng chết.

Mã phu nhân mở mắt thấy Kiều Phong, nàng bảo chàng:

- Ôm em đi. Em muốn được chết trong tay Bang chủ…

Chàng làm theo lời. Nàng lại hỏi:

- Chàng có biết tại sao em hãm hại chàng không?

Làm sao chàng biết được? Đây là chuyện thường xẩy đến với nhiều anh Con Trai Bà Cả Đọi trên cõi đời này: Em yêu anh anh hổng biết tại sao, em thù anh anh cũng hổng biết tại sao. Em yêu anh anh cám ơn em. Em thù anh thì anh phú lỉnh đi chỗ khác kiếm ăn. Em đánh, anh đỡ, anh đỡ hổng được thì anh chịu đòn. Đại hiệp võ công lệch đất, nghiêng trời hay anh Con Trai Bà Cả Đọi cả đời chẳng đánh nhau với ai đều ngơ ngáo như nhau trước sự Yêu Thù của Đàn Bà Đẹp Đa Tình.

Đây là đại khái câu chuyện rắc rối tơ Mã phu nhân kể với Kiều Phong khi nàng sắp chết. Đại khái thôi vì bộ nhớ rệu rã sau ba mươi mấy mùa soài tượng chỉ còn giữ lại được ngần này:

- Em kể anh nghe. Ngày xưa khi tuổi em mới tám, chín mùa táo tầu em là con nhỏ xinh đẹp nhất xóm. Nhưng nhà em nghèo. Tết đến giagia, mámá em không sắm được cho em bộ y phục mới. Con nhỏ nhà bên bằng tuổi em có y phục mới mà em không có. Đêm Ba Mươi Tết em lẻn sang nhà nó dùng cái kéo em mang theo cắt bộ y phục Tết của nó ra làm trăm mảnh. Em không được mặc đồ Tết thì nó cũng không được mặc đồ Tết. Anh hiểu em muốn nói gì không? Anh biết tại ao em làm thế không?

Lại một lần nữa Kiều Phong, cùng những anh Con Trai Bà Cả Đọi.., thở hắt ra. Làm sao các anh hiểu được tâm trạng rắc rối tơ vò của đàn bà đa tình, đa dâm, đa tham, đa đủ thứ trên cõi đời này. Họa chăng chỉ có Ông Bác sĩ Phờ Rơi Xứ Âu Lạp Ba bên Tây Vực xa xôi nói là ông hiểu. Mà ông cũng tự cho là ông hiểu thôi. Chẳng ai có thẩm quyền để biết ông Sích Mông Phờ Rơi hiểu như vậy là đúng hay trật. Thôi thì ta cứ tán nhăng, tán cuội theo sự hiểu biết không đầy cái lá mít của ta như sau:

- Mã phu nhân, Sương Phụ Đa Tình, là người đàn bà tối ích kỷ, chỉ biết mình, ghen tuông, ghen tị, ghen ghét. Cái gì nàng không được ăn là nàng đạp đổ. Em muốn em bá chủ, em độc tôn, độc quyền. Vì em không chiếm được Đoàn Chính Thuần cho riêng em nên em giết họ Đoàn. Em giết Đoàn lang yêu dấu của em thì thôi, cũng được đi. Nhưng còn Kiều Phong? Bang Chủ Cái Bang có ân oán gì với em mà em làm Bang Chủ thân bại, danh liệt?

Đây là nguyên nhân làm Sương Phụ Đa Tình hận và hại Kiều Phong:

- Xuân năm ấy.. ở Hàng Châu.. Đại Hội Hoa Anh Đào… Em được bầu làm Hoa Hậu.. Em đẹp nhất đại hội. Bao nhiêu vương tôn, công tử quì mọp dưới chân em. Nhưng em chỉ muốn một người trên cõi đời này biết là em đẹp, yêu em và mong được em yêu thôi. Người ấy là… Bang Chủ, là chàng. Chàng đến dự Hội Hoa Xuân nhưng chàng không đến mí em. chàng chẳng để ý gì đến em cả, chàng cứ ngồi trên cao lâu uống rượu. Em đi ngang mặt chàng cũng chẳng thèm nhìn em. Em thù chàng từ đó. Em thù chàng nên em hại chàng..

Than ôi.. Quân tử Tây có lời răn: “Đừng đùa rỡn với Ái Tình – Ne badine pas avec l’Amour..” Đúng phóoc. Đùa rỡn với Ái Tình là vỡ mặt nhưng không chịu đùa rỡn với Ái Tình nhiều khi, ngoài mặt mũi,sự nghiệp, người ta còn bị vỡ rất nhiều thứ khác nữa. Tâm trạng rắc rối tơ và võ công Ba Tư quái dị của những nữ lang đa đủ thứ trên cõi đời này như Nàng Sương Phụ Đa Tình Thiên Long Bát Bộ làm cho người viết hãi hùng kinh sợ.

Vì các nàng xử dụng võ công Ba Tư quái dị nên khi bị các nàng xuất chiêu, các anh Con Trai Bà Cả Đọi khốn khổ, khốn nạn trên cõi đời này không biết phải đỡ gạt, tránh né ra sao. Ngỏ lời ong bướm, ve vãn, gạ gẫm các nàng thì bị các nàng chửi là nham nhở, dơ dáy, kết cho cái tội khinh khi các nàng, là thứ đàn ông không xứng đáng được tán tỉnh, được muốn các nàng. Ung dung tự tại như ông Khổng Khâu nước Lỗ khi học nhạc Thiều, dửng dừng dưng với các nàng thì các nàng thù oán, các nàng cũng kết tội là khinh các nàng. Các nàng cho mà không chịu lấy, dí tận mồm mà không chịu ăn là chỉ có nước từ chết đến chết với các nàng.

Vậy thì muốn được sống hai chữ bình an với một chữ Thọ trên cõi đời tục lụy này ta phải làm sao đây? Thảo hèn quân tử Tầu có lời than: “Vi nhân nan..” Làm người khó thay. Đừng nói gì đến chuyện ho hen kèn cựa, bon chen chèn lấn, tranh cướp với bọn đàn ông, chỉ nói riêng đến chuyện ứng phó với các chị con Dâu, Con Gái Bà Cả Đọi thôi những anh Con Trai Bà Cả Đọi trên cõi đời này cũng đã đủ tối tăm mắt mũi, tẩu hỏa nhập ma, thổ ra mấy búng máu tươi, thân bại, danh liệt…

Nàng Sương Phụ Đa Tình chỉ vì muốn được Bang Chủ Cái Bang yêu nhưng bị Bang Chủ đối xử hờ hững kiểu con cá vàng lơ lửng nên thù hận Bang Chủ, hãm hại Bang Chủ. Làm vợ Mã Phó Bang Chủ Cái Bang nàng vẫn không hài lòng. Có chồng nàng ngoại tình và tham gia vào việc giết chồng. Rồi nàng tiến hành cuộc vu cáo hãm hại Kiều Phong. Mã phu nhân, trước sự phê phán của người viết ở Rừng Phong, là nữ nhân vật đa dâm nhất Thiên Long.

Qua thảm kịch Tình Thù Kiều Phong — Mã phu nhân ta thấy với những người đàn bà đa tình, ta:

Thả lời ong bướm nhiều khi vỡ mặt.
Không thả lời ong bướm nhiều khi bỏ mạng..

Tình cảnh ấy, khó khăn này làm người viết nhớ đến một chuyện trong Cổ Học Tinh Hoa:

Trang Châu cùng môn đệ đi chơi. Qua chỗ mấy người tiều phu chặt cây, nghe họ hỏi nhau:

- Cây gỗ tốt, cây gỗ xấu. Chặt cây nào?

- Chặt cây gỗ tốt. Ngốc. Còn phải hỏi. Gỗ xấu lấy làm gì?

Trang Châu dậy:

- Các trò suy nghĩ nhen: Ở đời Tốt là chết

Thầy trò vào tiệm ăn, nghe người trong tiệm bàn chuyện làm thịt đãi khách:

- Nhà có hai Cờ Tây. Cờ Vện chăm giữ nhà, Cờ Cộc lười chỉ đớp rồi ngáo. Hạ Cờ nào?

- Hạ Cờ Cộc. Lười. Chỉ ăn rồi ngủ, để làm gì. Giữ Cờ Vện lại vì nó chăm chỉ…

Trang Châu dậy:

- Các trò suy nghĩ nhen: Ở đời lười là chết..

Anh Con Trai Bà Cả Đọi đọc chuyện trên từ thuở tuổi đời anh mới có mười mấy que. Theo lời Thầy Trang đôi khi anh cũng đi một đường suy nghĩ – sự thực anh rất lười suy nghĩ – về những nguyên nhân sống chết ở cõi đời này. Nhưng đến năm đời anh Sáu Bó anh vẫn chưa biết chắc anh phải làm gì, phải ứng xử như thế nào khi đời anh gặp tai họa. Ngày Ba Mươi Tháng Tư Đen, bỏ của chạy lấy người không kịp, vất vả tả tơi ở Thành Hồ anh thấy anh cần bổ xung thêm công thức Khôn-Dại-Sống-Chết mà anh nghe nói là của Trạng Trình:

– Dại thì chết
Khôn cũng chết
Biết thì sống…

Sau 1975 ở Thành Hồ công thức ấy được Anh Con Trai thêm thắt như vầy:

– Dại thì chết
Khôn cũng chết
Biết lại càng chết..

Ông cha ta có lời khuyên:

- Bẩy mươi.. Chửa đui, chửa què.. Chớ khoe mình giỏi..

Sau cơn hoạn nạn ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh kéo dài đến hai mươi mùa lệ chi đỏ vỏ ở Thành Hồ người viết có điều ghi nhận:

- Khi tai họa đến, thấy chết cả mười phần mà ta không chết, ta thoát nạn, ta đừng nói ta tài, ta giỏi, ta may mắn. Ta phải nói:

- Nhờ Chúa cứu

- Nhờ Quan Âm Cứu Khổ Cứu Nạn cứu

Hoặc:

- Nhờ Trời..

- Nhờ ông bà, ông vải linh thiêng

Hay:

- Số ta chưa đến ngày ra nghĩa địa.

Thúc Kỳ Tâm khi mất Thúy Kiều ngà ngọc, tiếc ngẩn tiếc ngơ, đành dựa vào cái gọi là Vận Mệnh để tự an ủi:

Tìm đâu cho thấy cố nhân
Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương…

Anh Con Trai cũng dựa vào cái gọi là “Định Mệnh An Bài” để giải thích việc tại sao mình chết và tại sao mình chết đến cổ rồi mà mình lại vẫn còn sống – Không những chỉ sống vất vả ở Thành Hồ mà còn dắt được Chị Con Dâu ngơ ngáo sang được đất Xê Kỳ, một việc mà khi hò hẹn gặp lại vợ chồng mí nhau từ muôn kiếp trước hai anh chị không hề nói đến. Đúng là “Định Mệnh An Bài..” Sông có thể cạn, núi có thể mòn, qui luật “Định Mệnh An Bài” không bao giờ thay đổi.

Lại nhớ những ngày ảm đạm sau Ba Mươi Tháng Tư 75 ở Thành Hồ, Anh Con Trai đi với một người bạn từ Hà Nội vừa vào đến gặp Ông Vũ Tài Lục. Nhà ông Vũ ở trong Cư Xá Công Chức trên đường Hòa Hưng đi vào Thánh Thất Chí Hòa. Cổng nhà ông có đề hai chữ Dưỡng Chân. Nhà Dưỡng Chân đầy sách. Tất nhiên. Nhà ông Vũ Tài Lục, tác giả Tướng Mệnh Khảo Lục, Xem Tướng Đàn Bà, Thủ Đoạn Chính Trị Tam Quốc Chí v.v.. mà không nhiều sách thì còn nhà ai nhiều sách nữa. Trong cuộc nói chuyện không có gì mặn mà lắm giữa chủ và khách, Anh Con Trai nghe ông Vũ nói:

- Tôi ở lại để xem người ta có Số hay không.

Anh Con Trai mù tịt về tướng pháp, mệnh số nên khi nghe ông Vũ nói câu đó anh ngồi yên. Anh nghĩ: “Con người có số là tất nhiên rồi. Nhưng con người không biết trước được những sự việc sẽ xẩy ra trong đời mình, tức là không biết được số mệnh mình sẽ ra sao, nên con người có số mà cũng như không có số”.

Anh Con Trai lý luận một cách sơ đẳng rằng con người không thể biết trước được – dù là mơ hồ – những hoan lạc cũng như những tai họa sẽ đến với mình. Trước năm 1975 ở Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa có cả trăm ông bà thầy bói sáng, thầy bói mù nổi tiếng tiên đoán như thần, có cả vài triệu người tháng tháng, tuần tuần đi xem bói, xin sâm, nhờ lấy số tử vi. Có thể nói từ ông Tổng Thống đến ông Tống Thư Văn, từ Thầy Đội đến ông Quan Sáu Đại tướng, đều ít nhiều tin và nhờ cậy bói toán, tướng số, tử vi. Và Tử Vi của các ông cho các ông biết ông nào cũng thăng quan, tiến chức, ăn nên làm ra, hậu vận sáng như gương Tầu. Thế rồi, đùng một cái, cả nước bỏ của chạy lấy người. Ông nọ chửi ông kia là chạy như chuột để rồi cuối cùng cả làng chuột chạy. Những ông chạy không kịp cúi mặt đi tù, cuộc sống của những người chiến bại đen hơn mõm chó mực.

Ngày xưa Trang Tử cổ bồn, hát rằng: “Khi ta chết rồi con ta người mắng mỏ, vợ ta người vuốt ve..” Nghe đã thảm nhưng đấy là chuyện “..khi ta đã chết rồi..”. Khi ta đã phiêu diêu nơi Cực Lạc ta còn để ý làm quái gì đến những đổi thay trần tục. Với những người đàn ông Việt Nam Cộng Hòa sau 1975 thì ngay khi còn sống nhăn đã thấy: “..Nhà mình người ở, xe mình người đi, vợ mình người dùng, con mình người đuổi ra vỉa hè..” Thấy những cảnh ấy mà đành ngậm miệng – thâm gan, tím ruột, nhưng phản ứng chỉ thêm nhục – đành tự an ủi với ý nghĩ: “Mình chưa chết là may..”.

Trước ngày Ba Mươi Tháng Tư 75 chỉ cần thấy độ năm bẩy ông sĩ quan lo âu nói: “Không biết tại sao tử vi của mình sắp đi vào đại hạn tai họa nặng lắm. Mình có thể mất chức, lại có thể bị tù, bị mất nhà, mất vợ..” Anh Triều Đẩu, tác giả Phóng sự tiểu thuyết “Trên Vỉa Hè Hà Nội” – phóng sự tiểu thuyết thứ nhất sau 1945 – đăng trên Tạp Chí Thế Kỷ ở Hà Nội những năm 1952, một cây nghiên cứu Tử Vi có hạng, từng xem kỹ lá số Tử Vi của anh Nguyễn Mạnh Côn. Anh Triều Đẩu thấy địa vị, uy tín của anh Côn càng ngày càng vững chắc. Tất nhiên. Nếu Quốc gia của chúng ta không mất, anh Vũ Hoàng Chương sẽ là thi bá cho đến lúc anh trở về ngôi, anh Nguyễn Mạnh Côn càng ngày càng được trọng vọng. Nhưng anh Chương đã chết trong hoang vắng, cô đơn, anh Côn đã chết thảm ở Trại Cải Tạo Xuyên Mộc. Ba anh Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Triều Đẩu đều đã ra người thiên cổ.

Vì những nguyên nhân trên kẻ viết bài này tin rằng con người có số mệnh – và cái ta gọi là số mệnh này đã được định trước. Ai định? Xin chịu không thể trả lời.- Nhưng con người không thể biết trước được số mệnh của mình.

Nếu bạn từng đọc tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí, bạn đã thấy thời Vua Lê, Chúa Trịnh có Loạn Kiêu Binh ở Thăng Long, Nhà Chúa đưa một ông lên làm Chúa, lấy hiệu Án Đô Vương – một chữ Hán ông cha ta đọc thành hai âm Án và Yến – Khi ấy có người nói:

- Lấy cái tên này thì làm sao mà yên được? Còn là loạn. Án Đô tức là Đố An…

Vào những năm đầu Thế Kỷ Hai Mươi trần ai khoai củ này ông cha ta có thói quen chờ sẵn vợ vừa đẻ là ghi giờ sinh, ngày tháng sinh của con để lấy số tử vi cho quí tử. Chẳng cần phải là nhà quyền quí, giầu sang mới có lệ này, nhà phó thường dân cũng nhiều nhà làm như vậy. Dù là nhà quyền quí hay nghèo hèn, nhà nào trong xã hội ta có thể lấy số Tử Vi cho quí tử đầy đủ, đàng hoàng bằng nhà Vua? Như Vua Bảo Đại chẳng hạn. Nếu khi ông ra đời, hoàng tộc chấm số Tử Vi cho ông, thấy đường công danh, sự nghiệp của ông nửa đường gẫy gọng, đến tuổi trung niên ông sẽ trắng tay, bị hạ bệ, bị mất ngôi, bị bêu riếu, lang thang xứ người, hoàng tộc nào ngu dại đến cái độ cứ để ông lên làm vua?

Cái tên Án Đô Vương Hoàng Lê Nhất Thống Chí Loạn Kiêu Binh gợi cho người viết nhớ đến cái tên ông Bảo Đại. Nói lái theo kiểu Án Đô-Đố An, với Yến Đô-Đố Yên thì tên Vua Bảo Đại là Bại Đảo. Bại đã đủ vỡ mặt rồi, còn Đảo nữa thì nhà Nguyễn đến đời Vua Bảo Đại tất phải chấm dứt. Tên tiền định chăng? Có thể lắm.

***

Thiên Long Bát Bộ là chuyện kể về những người bất đắc chí. Năm Nam Nhân Vật chính thì hai người chết thảm: Kiều Phong, Du Thản Chi, một người điên: Mộ Dung Phục, một người chỉ đến được Thành Tây Hạ mà không về được Tây Trúc: Hư Trúc, người thứ năm lấy được người yêu làm vợ nhưng phải trầy vi, tróc vẩy, sống dở, chết dở, gián tiếp gây ra cái chết thê thảm của bà mẹ: Đoàn Dự.

Các Nữ Nhân Vật cũng đều có những cuộc sống đắng cay, sầu hận. Sao mà cuộc đời các nàng đen tối, u ám đến như thế? Đúng là đen hơn mõm chó mực. Chẳng nàng nào có được hạnh phúc. Thiên Sơn Đồng Mỗ và Sư Muội Lý Thu Thủy tranh nhau tình yêu của Sư Đệ, Sư Huynh mà hãm hại nhau, thù nhau đến lúc ngáp ngáp vẫn còn thù. Vương phu nhân hận Bạc Tình Lang đến cái độ giận cá chém thớt, chém luôn cả rổ rá vô tội, tổ chức Đội Nữ Biệt Kích chuyên đi bắt cóc bọn đàn ông hai, ba vợ đem về hành hạ — danh từ mới là bọn Thuyền Trưởng Hai Tầu — Nguyễn Tinh Trúc, Nữ Chủ nhân Tử Trúc Lâm, tuy có hai con với Vua Playboy Đoàn Chính Thuần, vẫn không chiếm được một chỗ nhỏ xíu nào trong trái tim người yêu, Mã phu nhân đi từ tội ác này đến tội ác khác rồi chết thảm thê chỉ vì không được như ý trong tình trường. Ngay đến bà Vương Hậu vợ chính thức của Đoàn Nam Vương cũng đau khổ, thất tình, thù hận ông chồng Vua đến cái độ trả thù chồng bằng cách tự hiến thân cho gã hành khất dơ bẩn, đau ốm nằm chờ chết trước cổng chùa. Trong số những nàng thiếu nữ Thiên Long ta thấy A Châu yêu Kiều Phong và chết vì tình yêu của nàng, A Tử yêu Kiều Phong nhưng không được chàng yêu lại. A Tử bất hạnh ở chỗ không những Kiều Phong không yêu nàng, chàng còn không biết cả chuyện nàng yêu chàng.

Cuộc sống muôn mặt, tình yêu muôn sắc được đúc kết trong thế giới Thiên Long. Người đúc kết, tạo lại, tả lại cho người khác thấy như thật là một Đấng Tạo Hóa Quyền Năng nho nhỏ. Hai mươi nhăm năm đẩu chuyển, tinh di, Quẻ Bác đến với những Anh Con Trai Bà Cả Đọi Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa nhưng Quẻ Phục không đến! Than ôi.. Phải chăng Quẻ Phục sẽ không bao giờ đến? Thay vì Quẻ Phục là Quẻ Đoạn, Quẻ Tuyệt, Quẻ Tịch. Hai mươi mùa lá rụng trên cỏ xanh Sở Thú, trên đường Duy Tân cây dài, bóng mát, hai mươi lần Cộng Sản kỷ niệm chiến thắng 30 Tháng Tư ở Thành Phố Hồ Chí Minh, chuyện xưa trong trí ta lần giở, nhớ nhơ, ù quên quên nhưng nhớ vẫn nhiều hơn.

Phúc bồn dĩ hỷ nan thu thủy
Đoạn ngẫu thương tai vị tuyệt ty…
Bát nước đã đổ rồi không thể vét nước lại
Cành sen gẫy nhưng thương thay tơ sen vẫn còn vương…

Đã đổ rồi không dựng đứng lại được, nhưng lòng ta vẫn nhớ, còn thương…

Thôi thì hãy để “Định Mệnh an bài..”, ta trở về với Mã Phu nhân, Nàng Sương Phụ Đa Tình nhất Tình Sử Thiên Long.

Gieo gió, gặt bão, nàng ác độc, nàng hại người, nàng chết thảm. Suốt một đời đố kỵ, ghen tuông, mưu mô, xảo trá, nàng có gì hơn ai? Không những chẳng hơn ai nàng còn là người đàn bà đau khổ có số mệnh bi thảm nhất Thiên Long.

Công Tử Hà Đông bèn có Thơ Vịnh Nàng:

MÃ PHU NHÂN

Dối chồng.. Em nói, Em cười
Giết chồng nửa đoạn, nửa đời.. Vô luân.
Ngoại tình chẳng một tình nhân
Dâm thì dâm cũng có ngần ấy thôi.
Em ơi.. Rừng Hạnh trăng soi
Sao Em áo trắng hại người thản nhiên?
Kiều Phong đại ngốc vô duyên
Thân danh bại liệt nhãn tiền vì Em.
Thương Em tóc mượt, da mềm
Âm Ty làm quỷ đêm đêm thở dài.

Đoàn Nam Vương: Cơm Hàng, Cháo Chợ, Vợ Mười Phương

Trân trọng nhắc lại: ta có thể nói một cách vơ đũa cả nắm mà không sợ bị ai kiện cáo lôi thôi là: bao nhiêu người đàn bà đẹp trong Thiên Long — đàn bà xấu không kể — đều là nhân tình, nhân bánh của Nam Vương Đoàn Chính Thuần. “Người đẹp” đây là những nàng Sồn Sồn Ba Bó, Bốn Bó. Chỉ có hai bà già giết giặc Sáu Bó Thiên Sơn Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy là không có liên hệ tình ái gì với Đoàn Chính Thuần Vua Playboy..

Và đây là danh sách – có thể còn thiếu sót – những người đàn bà đẹp, đa tình chết mê, chết mệt vì Đoàn Nam Vương. Không những chỉ chết mê, chết mệt mà thôi, tuyệt đại đa số các nàng còn có con với Héng nữa. Xin kể theo thứ tự thời gian và hệ thống giai nhân:

- Bà mẹ Mộc Uyển Thanh. Bà này dường như không có tên trong Thiên Long. Người đọc chỉ biết Mộc Uyển Thanh là con gái Đoàn Chính Thuần, anh em cùng cha khác mẹ với Đoàn Dự.

- Em Chung Linh, trên khai sinh là con Ông Chung Vạn Cừu ở Cổ Mộ nhưng trên thực tế rất có thể cũng là con gái Đoàn Chính Thuần.

- Vương phu nhân, bà mẹ Vương Ngọc Yến. Phu nhân vì hận Đoàn Chính Thuần – quá yêu nên hận – trở thành “giận cá chém thớt”. Phu nhân thành lập một Trại Trừng Giới ở Cô Tô Đảo, cho Bình Má Má làm Quản Đốc, huấn luyện một số em , những em đau khổ vì chồng có vợ bé trẻ đẹp, tình tứ hơn mình, thành Nữ Biệt Kích chuyên đi bắt cóc những anh hai, ba vợ về trại trừng phạt mút chỉ cà tha không ngày ân xá.

- Nguyễn Tinh Trúc, Chủ nhân Tử Trúc Lâm, mẹ của A Châu, A Tử.

- Mã phu nhân Sương Phụ Đa Tình. Người đẹp này không có con.

Như vậy ta thấy còn người đẹp Thiên Long nào thoát khỏi, ở ngoài vòng tay phong tình của Đoàn Nam Vương? Có thể nói tất cả những nàng Thiên Long Ba Bó, Ba Bó Rưỡi, Bốn Bó đều là tình nhân của Đoàn Nam Vương, Tất cả những nàng Mười Lăm, Mười Sáu, Mười Bẩy, Mười Tám Que đều là con gái của Đoàn Chính Thuần.

Đoàn Chính Thuần là nhân vật phong tình thoải mái nhất Thiên Long. Đương sự mù tịt về hai bí kíp võ công gia bảo của dòng họ Đoàn: Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch Thần Kiếm. Suốt một đời Đoàn Chính Thuần không luyện võ công ở võ đường mà chỉ luyện võ công ở trên giường với đàn bà đẹp. Công lực nào còn để mà luyện Lục Mạch Thần Kiếm với Nhất Dương Chỉ. Văn ôn, võ luyện. Ôn luyện tử công phu mỗi ngày năm, bẩy giờ còn chưa ăn ai. Nói gì đến chuyện không ôn luyện mà đòi đánh thắng được thiên hạ. Đoàn Chính Thuần không khá về võ chân, võ tay nhưng ta phải nhận về Võ Miệng đương sự là tay cự phách. Khi bị Mã phu nhân cho uống Nhuyễn Cân Tán mất hết công lực, bị Phu nhân cắn thịt chẩy máu rồi cầm dao dọa cắt gân, cắt tiết, Đoàn Nam Vương vẫn phong tình:

- Em muốn giết anh, em cứ giết. Anh vui vẻ chết dưới tay em…

Và Vua đọc Thơ:

- Mẫu đơn hoa hạ tử
Tố quỉ dã phong lưu.

Dịch nghĩa với sự không bảo đảm trúng trật:

- Chết dưới hoa mẫu đơn
Làm ma cũng phong lưu..

Quân tử Tầu thường ví hoa mẫu đơn với đàn bà đẹp. Người viết không biết tại sao, hoa mẫu đơn một chùm bằng cái chén, mầu đỏ có cái gì giống với người đàn bà? Xin để tồn nghi.

Đoàn Chính Thuần vợ nọ, con kia bừa bãi, Tình ái thoải mái với vợ người khác. Cuối đời Vương bị đòn quả báo: Trong khi Vương đi ân ái với vợ người ta bà vợ Vương trả thù Vương bằng cách ái ân với người đàn ông khác. Trước khi chết Vương mới được biết Đoàn Dự, chàng trai anh tuấn mà Vương vẫn tưởng là con Vương, là con của người khác.

Những năm 1970, mắt tôi còn sáng, tóc tôi chưa trắng lắm, khi đọc những trang Kim Dung tả Bà Vương Hậu nói cho Đoàn Dự, con trai bà, biết chàng không phải là con Đoàn Nam Vương, chàng với Vương Ngọc Yến không phải là anh em cùng cha, khác mẹ và chàng có thể vợ chồng với Vương Ngọc Yến, tôi bùi ngùi rút ra được bài Luân Lý Giáo Khoa Thư Lớp Đồng Ấu: Đừng làm vợ người khác để vợ mình không bị người khác làm. Các anh chuyên làm vợ người khác cứ tưởng bở: chính vợ các anh lại bị người khác làm tơi bời hoa lá.

Nhưng đó là bài học năm 1970 – Từ đó đến nay đã hai mươi nhăm mùa hoa nở, hoa tàn ở Động Hoa Vàng, bưóm bay, bướm lượn ở Hồ Điệp Cốc của Hồ Điệp Cốc tiên sinh – Năm nay, Tháng Giêng 1996, Trận Bão Tuyết Đầu Năm đến Virginia – Tuyết trắng trời, trắng đất – tôi bẩy ngày, bẩy đêm ở kín trong phòng không bước nửa bước ra khỏi nhà, ngồi gõ máy chữ viết những giòng vô thưởng, vô phạt bình luận vẩn vương những nhân vật tiểu thuyết Thiên Long Bát Bộ Kim Dung, tôi có ý nghĩ khác về bài học Qủa Báo trong vụ Đoàn Chính Thuần. Ý nghĩ năm 1996 của tôi là: Quả báo cũng vô ích mà thôi. Ít nhất với những gã đàn ông phóng đãng thích làm tình vợ người khác thì luật Quả Báo là vô ích. Các anh này có coi vợ các anh ra cái thống chế gì đâu.

Bèn có thơ vịnh:

ĐOÀN CHÍNH THUẦN

Nam phương Đại Lý Đoàn Nam Vương
Cơm hàng, cháo chợ, vợ mười phương
Thiên Long người đẹp Vương vồ hết
Trẻ không tha, già cũng chẳng thưong.
Nhân tình, nhân bánh chơi quen nết
Con rơi, con vãi loạn trên đường
Lưng ngà, vế ngọc tay ôm riết
Kiếm thần, chỉ lực cũng đi bương.
Nhất Dương Chỉ Pháp chuyên mò huyệt
Võ công toàn luyện ở trên giường
Mã phu nhân cắn đau gần chết
Miệng còn tình ngãi, lưỡi văn chương:
– Mẫu đơn hoa hạ kim sinh tuyệt
Thác dã phong lưu tố Quỉ vương…

Mộ Dung Công Tử: Cháu Chúa, Con Vua Mất Bản Đồ

Được giới thiệu như Rồng, như Phượng trước khi xuất hiện trên sân khấu Thiên Long, Mộ Dung Phục kết thúc cuộc đời bất đắc chí của chàng bằng những ngày sống điên điên khùng khùng. Mộng phục quốc chỉ là hư ảo, Ngai Vàng và giang sơn Yên Quốc đã vĩnh viễn thuộc quyền làm chủ của dòng họ khác. Họ Mộ Dung từng oanh liệt một thời từ đời Mộ Dung Phục trở đi không sao phục hồi được. Kể từ đó họ Mộ Dung chỉ là một họ bách tính tầm thường.

Mộ Dung Phục đáng thương, không đáng ghét. Chàng hạ mình làm đồ đệ, rồi con nuôi Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh mong học được võ công cũng chỉ là để dùng làm biện pháp khôi phục ngai vàng. Tận kỳ nhân lực, Mộ Dung Phục đã làm tất cả những gì chàng có thể làm để thực hiện mộng ước và bổn phận. Nhưng ở cõi đời này không phải con người cứ muốn là được, Mộ Dung Phục đã thất bại thê thảm. Song ít nhất ta phải công nhận chàng có điểm hơn người: Tinh thần trách nhiệm với tổ phụ, với giòng họ, chấp nhận hy sinh gian khổ để thực hiện mục đích.

Năm nhân vật chính của Thiên Long: Kiều Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc, Mộ Dung Phục, Du Thản Chi.. nhưng chỉ bốn người có liên hệ tình cảm với phụ nữ. Yêu hoặc thương. Kiều Phong không yêu A Châu theo như kiểu tình yêu nam nữ thông thuờng chúng ta vẫn hiểu, vẫn yêu, chàng thương và cảm động vì tình cảm A Châu đối với chàng nên đền đáp tình nàng, Kiều Phong lại càng không bao giờ yêu A Tử. Đoàn Dự yêu Vưong ngọc Yến, Hư Trúc yêu Công Chuá Tây Hạ, Du Thản Chi yêu A Tử. Riêng Mộ Dung Công Tử không yêu ai mà cũng chẳng thương ai, chẳng vướng mắc dây tình với ai cả.

Ở những trang cuối cùng của Thiên Long ta thấy cảnh buổi chiều ở một bãi tha ma trong lãnh thổ Trung Quốc mênh mang, người thanh niên ngẩn ngơ ngồi trên ngôi mộ. Quanh chàng là bọn trẻ chăn trâu bái lậy chàng, gọi chàng là Bệ Hạ để được chàng phát kẹo. Ông Vua Tha Ma ấy là Mộ Dung Cô Tô, cao thủ võ lâm từng một thời được quần hùng xưng tụng: “Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung”. Người võ công cao nhất Hoa Bắc là Kiều Bang Chủ, người võ công cao nhất Hoa Nam là Mộ Dung Cô Tô. Cuối cùng Mộ Dung cũng được làm vua.

MỘ DUNG PHỤC

Mộ Dung Công Tử ở Cô Tô
Cháu chúa, con vua mất bản đồ.
Đẩu chuyển, tinh di, đời bạt vía
Yên bang phục quốc, mộng mơ hồ
Dời non, lấp biển mơ vương đế
Cô em diễm lệ chẳng thèm vồ
Nam Mộ Dung… uy danh cái thế
Chẳng được bao giờ Quả với Cô
Theo Đoàn Ác Quán nhơ còn để
Làm Ông Vua Mộ ở trên mồ.

A Tử: Hoá Công Đại Pháp Luyện Không Thành …

Em ruột A Châu, kém chị chừng hai mùa mít chín, chính xác hơn là Một Bó Lẻ Năm Que, phụ đề Việt ngữ: 15 tuổi, A Tử có tính nết khác hẳn A Châu.

A Châu hiền hậu, nhân đức, hiếu đễ chừng nào, A Tử sắc xảo, ác độc, tàn nhẫn, ích kỷ chừng ấy. Là đồ đệ Tinh Tú Lão Quái Đinh Xuân Thu, A Tử lấy trộm Bích Ngọc Vương Đỉnh, bảo bối luyện công của Tinh Tú Phái, từ Nam Hải trốn về trung thổ. Đinh Lão Quái đích thân thống lĩnh đệ tử Tinh Tú vào trung thổ đuổi bắt A Tử, thu hồi Vương Đỉnh. A Tử về Tử Trúc Lâm, gia cư của Nguyễn Tinh Trúc, bà me của cô, đúng lúc Nam Vương Đoàn Chính Thuần, ông bố không đứng tên trên giấy khai sinh của cô, đang ở đây tình tự với Nguyễn phu nhân.

Bốn anh vệ sĩ Ngư, Tiều, Canh, Độc có bổn phận trấn giữ các đường vào Tử Trúc Lâm để bảo vệ cho Vua được thơ thới, an ninh hưởng cuộc giao hoan với đàn bà đẹp trong gấm hoa, nhung lụa. – Cùng là đàn ông như nhau nhưng anh đàn ông Đoàn Chính Thuần đẻ bọc điều, bốn anh Ngư, Tiều, Canh, Độc đẻ bọc than, nên cuộc sống vệ sĩ gia nô của bốn anh Con Trai Bà Cả Đọi Ngư, Tiều, Canh, Độc không có điểm gì có thể gọi là trắng hơn mõm chó mực – Cô Chanh Cốm Chum Chúm A Tử phăng phăng đi vào Tử Trúc Lâm không thèm khai báo nửa lời với các vệ sĩ. Bị chặn lại A Tử không chịu khai cô là ái nữ của Tử Trúc Lâm Phu nhân, cô ngang nhiên và cố tình cướp đường đi vào.

Trên đường đi tìm lý lịch của mình Kiều Phong, Cựu Bang Chủ Cái Bang, đến Tử Trúc Lâm tìm Nam Vương Đoàn Chính Thuần và được chứng kiến cảnh A Tử bị hai vệ sĩ Ngư, Canh đánh văng xuống hồ sen. Cô dùng Qui Tức Công nín thở giả chết. Xác cô được vớt lên bờ. Nguyễn phu nhân than khóc oán trách Đoàn Chính Thuần làm chết con gái. Ngư, Canh, hai anh Con Trai Bà Cả Đọi Vất Vả trên cõi đời này, thấy mình can tội làm chết con gái của chủ nhân, bèn tự tử đền tội.

A Tử giả chết thản nhiên để cho bọn Ngư Tiều Canh Độc theo nhau chết. Đoàn Chính Thuần xúc động nên không biết cô con rơi giả vờ chết. Nhưng Kiều Phong phát hiện ngay dã tâm của A Tử.

Kiều Phong xuất hiện, dùng thủ pháp điểm huyệt — tức cù lét, lại tức cù nách, cù sườn — làm A Tử nhột chịu không nổi, phải nhổm dậy cười khanh khách. Nhưng khi ấy hai anh Con Trai Bà Cả Đọi Ngư Canh đã được giải phóng khỏi kiếp gia nô vệ sĩ chuyên đứng ghếch ngoài đêm lạnh sương mù tuyết rơi gió cuốn cho Nhà Vua trong phòng the ấm áp hưởng lạc với đàn bà đẹp.

Không ai biết từ phút ấy, phút “bị” hay ” được” Bang Chủ Cái Bang dùng chỉ lực cù vào gan bàn chân làm cho nàng đang giả chết bị nhột chịu không nổi phải bật lên cười khanh khách, Nàng Chanh Cốm A Tử đã đem lòng yêu Cái Bang Bang Chủ Kiều Phong, vị đại hán võ công cao siêu nhất Thiên Long Bát Bộ. Không ai biết chuyện ấy cả trừ Cắm Dzùng tiên sinh.

Tan hàng ở Tử Trúc Lâm, Nam Vương Đoàn Chính Thuần bánh xe vương tử rời đi nơi khác. Mẹ con A Tử theo dõi, bắt được Vua Playboy Đoàn Chính Thuần tự tình với tình nhân của Vua là Nàng Sương Phụ Đa Tình Mã Phu nhân trong trang trại của nàng. Kiều Phong cũng theo đến đây. Thấy mẹ con A Tử đang phục trên mái nhà nhìn xuống phòng ngủ của Sương phụ, Kiều Phong điểm huyệt cho mẹ con nàng nằm cứng ở đấy. Hai mẹ con A Tử chỉ không cử động được. Họ vẫn tỉnh và họ nhìn, họ nghe rõ tất cả những gì xẩy ra trong phòng ngủ của Mã phu nhân Sương Phụ Đa Tình. Những tình tiết sôi nổi chứng tỏ tài nghệ kể chuyện tuyệt vời của Kim Dung trong đoạn này sẽ được kể trong chương viết về Mã phu nhân.

Vài hồi sau đó A Tử bị đám môn đồ Tinh Tú Phái bắt sống. Lão Quái Đinh Xuân Thu chưa đến nơi. Người cầm đầu cuộc xử tội phản đồ A Tử là Trích Tinh Tử, một sư huynh của A Tử. A Tử leo lẻo chối tội lấy trộm Bích Ngọc Vương Đỉnh. Cuộc đấu chưởng giữa nàng và Trích Tinh Tử diễn ra.

Vì tò mò Kiều Phong theo đám môn đồ Tinh Tú phái đến nơi xử tội A Tử. Ban đêm. Tòa án thiết lập trên bãi cỏ rộng ngoài thành. A Tử đứng dựa lưng vào hàng rào gỗ. Kiều Phong đến đứng sau hàng rào ấy, đưa bàn tay qua rào, đặt lên lưng A Tử, truyền nội lực cho nàng đánh bại Trích Tinh Tử.

Thế rồi.. qua nhiều hồi, nhiều chuyện về sau.. A Châu chết thảm, oan cừu trong lòng Kiều Phong nguội lạnh đi khi chàng thấy có quá nhiều người bị chết oan vì cuộc trả thù của chàng. Hết hy vọng tìm ra được vị Thủ Lãnh Đại Ca chính danh thủ phạm đã giết cha mẹ chàng, đành nhận mình là người Khiết Đan, Kiều Phong một mình đi trở lên Nhạn Môn Quan để về nước Khiết Đan bên kia biên giới.

A Tử đón đường Kiều Phong, đòi đi theo. Chàng không chịu. A Tử phóng độc châm hại chàng. Không ngờ nàng ra tay ác độc đến như vậy Kiều Phong đánh nàng một chưởng. A Tử lãnh chưởng trúng ngực – giống y như A Châu. Quả thực định mệnh đã an bài: Kiều Bang Chủ có duyên nợ với hai cô con gái bà Nguyễn Tinh Trúc – Kiều Phong ân hận thấy mình đã đánh chết người chị, nay không sao có thể để chết cả cô em, đành bồng A Tử trên tay đi lô-ca-chân qua vùng tuyết trắng về bên kia quan ải.

Về Khiết Đan, Kiều Phong lập công cứu Vua Khiết Đan thoát nạn bị cường thần hạ bệ cướp ngôi. Chàng được phong Vương, A Tử thành Quận Chúa. A Tử yêu Kiều Phong từ lâu như ta đã biết nhưng nàng chưa có cơ hội tỏ tình.

Kiều Phong coi nàng như em gái. Chàng trở thành đại quan, bận việc nước, việc dân, không còn lý gì đến những ân oán giang hồ xưa cũ.

Quận Chúa A Tử dùng Bích Ngọc Vương Đỉnh bắt độc trùng, rắn rết, nhện, băng tầm về luyện công. Du Thản Chi, con của Du Thị Tụ Hiền Trang, hai anh em cùng chết trong trận tấn công Kiều Phong, xách một đao lên miền Bắc tìm Kiều Phong để trả thù. Du Thản Chi bị quân Khiết Đan bắt, “được” và “bị” Quận Chúa A Tử lấy về làm gia nô để có người nói tiếng Hán với nàng. Du Thản Chi yêu A Tử, hy sinh hết cho A Tử. Chàng bị nàng hành hạ thê thảm. Đó là những chuyện chúng ta sẽ kể lại với nhau trong đoạn viết về Du Thản Chi Vương Tinh Thiên Giáo Chủ Chàng Đầu Sắt – Người Yêu Đẹp Nhất Thiên Long, đồng hạng suýp-pe với A Châu.

Thảm kịch cuộc đời của Kiều Phong là cha mẹ chàng người Khiết Đan nhưng chàng lớn lên trên đất Hán, chàng được người Hán cưu mang, nuôi dưỡng, yêu thương, chàng là người Hán. Về sống ở Khiết Đan một số mùa tuyết trắng chàng lại nhớ đất Hán, chàng trở về đất Hán.

Kiều Phong trở về trung thổ, A Tử về theo. Du Thản Chi trở thành Giáo Chủ Vương Tinh Thiên cũng theo A Tử trở về cố quốc. A Tử gặp lại Tinh Tú Lão Quái Đinh Xuân Thu. Nàng dùng độc châm bắn Lão nhưng bị Lão đánh ngược lại, dùng chính độc châm của nàng đánh nàng mù hai mắt. Bị mù A Tử không biết Giáo Chủ Vương Tinh Thiên chính là tên nô lệ A Ngưu Đầu Sắt của nàng ở kinh đô Khiết Đan. Du Thản Chi tự nguyện để Tiết Thần Y lấy mắt chàng gắn cho A Tử sáng mắt… Chuyện tình oan này được dành để kể trong bài luận về Du Thản Chi.

Tại Đại Hội Quần Hùng cuối cùng trước cổng chùa Thiếu Lâm, Tiêu Phong tự hủy võ công và tự sát, A Tử móc mắt vứt lại trả Du Thản Chi rồi ôm xác Tỉ phu của nàng nhẩy xuống vực thẳm. Người viết Kim Dung, qua miệng anh đào A Tử, đưa vào ngôn ngữ tiểu thuyết phơi-ơ-tông Sàigòn những năm 1970 danh từ Hán Việt “Tỉ phu”: Chồng chị. Chúng ta có tiếng “Anh Rể”, nhưng những cô em vợ chỉ gọi những anh chồng chị mình là “anh” thôi, các cô không gọi “Anh Rể”. A Tử là người duy nhất trong Thiên Long Bát Bộ dùng tiếng “Tỉ phu”.

Khi Kiều Phong đã chết A Tử mới tỏ tình bằng tiếng kêu đứt ruột:

- Tỉ phu ơi… em chỉ yêu anh…

A Tử ác độc, hại người suốt một đời. Chỉ có Tình Yêu của nàng là đẹp. Trên cõi đời này có những anh đàn ông Bốn Bó, Năm Bó chỉ yêu những cô gái Mười Lăm, Mười Sáu Que thì cũng có những cô Mười Lăm, Mười Sáu Que Chum Chúm chỉ yêu những anh đàn ông Bốn Bó, Năm Bó. A Châu, A Tử thuộc loại Thiếu Nữ Thích Đàn Ông Sồn Sồn ấy.

***

Này những Tình Oan, những Thủy Chung…

Nhớ lại những chuyện tình Thiên Long ta phải thán phục sức tưởng tượng phong phú của Kim Dung. Nếu là tôi, chỉ cần dàn dựng được một cuộc tình như cuộc tình A Tử – Kiều Phong – Du Thản Chi, tôi đã viết được một truyện dài và hài lòng hiu hiu tự đắc với tác phẩm. Riêng Thiên Long Bát Bộ, Kim Dung đã dàn dựng thật ly kỳ, hấp dẫn đến năm bẩy cuộc tình như thế.

Công Tử Hà Đông bèn có thơ vịnh:

A Tử

Hóa Công Đại Pháp luyện không thành
Gái tơ mà quỷ quái, tinh ranh.
Đi học phản thầy, chôm Bích Ngọc,
Về nhà hại bố, giết Ngư Canh.
Chơi những Diều Người, Đầu Bịt Sắt
Võ toàn Rắn Rết, Nhện hôi tanh.
Mắt nhung ác độc nên mù mắt
Thông minh tàn nhẫn hóa thông manh
Cuối đời được một câu xanh ngắt:
– Tỉ phu ơi… Em chỉ yêu Anh..!

Đoàn Dự – Vương Ngọc Yến: Con Vua Chẳng Thích Làm Vua

Thiên Long Bát Bộ là chuyện kể về những người bất đắc chí, những người không được toại ý trong đời, những người bị bắt buộc phải sống những cảnh đời họ không muốn sống.

Kiều Phong vẫn yên trí mình là người Hán, chàng chỉ muốn là người Hán, kiêu hãnh là dân Hán. Chàng khinh thị và thù ghét người Khiết Đan cũng như tuyệt đại đa số người Hán yêu nước cùng thời với chàng. Định mệnh an bài với những tiền oan, nghiệp chướng làm cho Kiều Phong tối tăm mắt mũi khi phát hiện chàng là người Khiết Đan.

Hư Trúc Tử, Sư Chú Thiếu Lâm, chỉ muốn tu hành chay tịnh một đời, thuyền từ thuận buồm, suôi gió về Tây Trúc. Duyên nghiệp hay oan nghiệp an bài làm chàng “được” Thiên Sơn Đồng Mỗ thu xếp cho nằm chung mền bông với Công Chúa Tây Hạ trong Hầm Băng. Nhà Sư trẻ đành hẹn cuộc tu hành đến kiếp sau vì kiếp này chàng còn phải trở thành Cung Chủ Linh Thứu Cung rồi Phò Mã Tây Hạ.

Mộ Dung Phục, Cô Tô Mộ Dung Công Tử, chỉ muốn khôi phục ngai vàng Vua nước Yên của tổ phụ. Kim Dung giới thiệu Mộ Dung Công Tử như Rồng Vàng trên đám rắn rết, như Phụng Hoàng trong đàn gà. Mộ Dung Công Tử xuất hiện trên sân khấu Thiên Long oai phong lẫm lẫm nhưng chàng đi từ thất bại này đến thất bại khác. Cuối cùng Mộ Dung thân bại, danh liệt, trở thành điên khùng.

Du Thản Chi yêu mê A Tử đến cái độ tự móc mắt mình để Thần Y lắp mắt cho A Tử khi A Tử bị mù vì độc thủ của Lão Ma Đầu Đinh Xuân Thu. Nhưng Du Thản Chi là người yêu đau khổ nhất Thiên Long. Chàng hy sinh hết cho A Tử nhưng chàng không được nàng đoái thương ban cho nửa lời thương xót. Nàng còn tàn nhẫn móc mắt vứt trả lại chàng trước khi ôm xác Tiêu Phong nhẩy xuống vực thẳm.

Thiên Long có năm nhân vật chính, bốn nhân vật trong số có cuộc đời ái tình và sự nghiệp đen hơn mõm chó mực. Tuy vậy cũng có một nhân vật được toại nguyện, đạt được ước mơ, vớ được hạnh phúc. Nhân vật may mắn đó là Đoàn Dự.

Đoàn Dự, Vương Tử Đại Lý, vương quốc ở miền Nam Trung Hoa đời nhà Tống. Trong giang hồ có lời đồn đại khi quân Nguyên xâm chiếm Đại Lý, họ Đoàn bỏ nước chạy xuống phía Nam rồi trở thành giòng Vua Thái Lan. Nước Đại Lý nhỏ bằng bàn tay nhưng cũng như nước Việt đời Trần, đời Lê, có cả Đế với Vương. Đoàn Dự là con của Đoàn Nam Vương Đoàn Chính Thuần. Ông anh Đoàn Nam Vương là Bảo Định Đế mới là Vua nước Đại Lý, ông Đế này tu hành, chay trường, không vợ con. Ngôi vua nuớc Đại Lý sẽ về Thế Tử Đoàn Dự. Nhưng Thế Tử lại không thích làm Vua. Thế Tử chỉ thích ngao du sơn thủy, một thứ Bụi Đời Vương Giả.

Khi Đoàn Dự được Cắm Dùng – Kim Dung – đẩy vào sân khấu Thiên Long, chàng ở số tuổi mười bẩy, mười tám mùa táo tầu trở ngọt trên cành. Đây là một điểm yếu của Cắm Dùng: Đoàn Thế Tử bỏ lầu vàng, điện ngọc đi khơi khơi như con nhà phó thường dân không có lấy được một vệ sĩ. Khi ấy Đoàn Dự chưa có qua một xu teng võ công nào cả. Chàng bị Mộc Uyển Thanh bắt đi như quạ bắt gà con, bị Nam Hải Ngạc Thần để nhẹ một chưởng rơi xuống tuyệt cốc. Cốc sâu ngàn trượng, từ đáy cốc nhìn lên chỉ thấy mây mù ngút ngàn. Dzậy mà người rơi xuống vưỡn cứ sống nhăn. Dưới tuyệt cốc Đoàn Dự đi loạng quạng lạc vào điện đài nguy nga không biết do những ông thợ xây cất nào và dựng nên tự đời nào. Trong điện có bức tượng Mỹ Nhân tuyệt đẹp. Đoàn Dự rập đầu trước tượng và nhờ vậy được truyền Lăng Ba Vi Bộ.

Lăng Ba Vi Bộ là võ công nhưng là võ công Phú Lỉnh, Võ Công Chạy. Bí kíp Lăng Ba Vi Bộ được rất nhiều cao thủ võ lâm Giao Chỉ xử dụng nhuần nhuyễn trong những thập niên 1975, 1980. Chạy, tránh né, luồn cúi, nâng bi vv… và lợi hại nhất là Võ công Chui, kẻ địch lợi hại đến mấy cũng không đụng được đến thân.

Trong những ngày sống dưới tuyệt cốc Đoàn Dự đói quá bắt nhái ăn. Xin lỗi, lâu quá không ôn lại lịch sử, kinh điển, quên mất tên khoa học của loài nhái đỏ này này – ( Chu cáp, tên loài nhái đỏ, và Chu cáp thần công do loài nhái đỏ có tính cực dương cung cấp. Lời viết thêm ở Rừng Phong, Xê Kỳ, Thu 2000, khi sửa lại bản thảo để xuất bản.) Vì tình cờ ăn sống năm bẩy chục con nhái đỏ có chất nóng dữ dội làm cơ thể Đoàn Dự có nội lực thuần dương, cực dương. Về sau có lần Đoàn Dự đấu công lực với Du Thản Chi. Công lực của Du Thản Chi thuần âm. Cực Dương đấu với Cực Âm. Tình cảnh giống như cái tủ lạnh thi đấu với cái bếp điện. Chỉ có điều khác tí chút là nếu tủ lạnh thi đấu với bếp điện chủ nhà sẽ lăn đùng ngã ngửa vì phải chi tiền điện. Còn Đoàn Dự Cực Dương mà đấu nội lực với Du Thản Chi Cực Âm thì cả hai cậu sẽ lăn đùng ngã ngửa nếu không có hai đại cao thủ Tiêu Viễn và Mộ Dung Bác ra tay chia rẽ.

Từ đáy cốc sâu ngàn trượng Đoàn Dự lò mò trở lên mặt đất, trở về với cuộc bụi đời dễ dàng như không có chuyện gì lạ xẩy ra. Chàng tình cờ gặp Bang Chủ Cái Bang Kiều Phong. Hai người uống rượu. Đoàn Dự nhờ biết lõm bõm bí kíp Lục Mạch Thần Kiếm gia truyền – chàng biết lơ mơ về lý thuyết, chưa xử dụng được – nên vận dụng khí lực đẩy rượu ra giữa kẽ hai ngón tay. Rượu uống vào được cho tia xuống chậu hoa để bên bàn. Kiều Bang Chủ không biết nên thán phục tửu lượng của Đoàn Dự. Hai người kết tình huynh đệ. Đoàn Dự theo nghĩa huynh rời cao lâu đi đến dự khán Đại Hội Cái Bang ở Rừng Hạnh.

Tiểu thư Vương Ngọc Yến yêu biểu huynh của nàng là Mộ Dung Công Tử. Đến đây bèn có một đoạn viết riêng về Tục Lệ Hôn Nhân Hoa tộc và Việt tộc. Nói nôm na là luật lệ lấy nhau, vợ chồng mí nhau của người Tầu và người Ta.

Luật Ta: Con cô, con cậu, con dì, con già làm vợ chồng mí nhau hổng có được. Anh chị nào can tội nặng này chỉ có nước dắt nhau sang sống bên Congo, Mozambique, Yemen, Dzimbaboué, thay họ, đổi tên, mãn đời không được đọc tiểu thuyết của Bà Tùng Long đăng tải nơi trang trong Nhật Báo Saigon Mới của Bà Bút Trà, không ăn bún riêu, bún ốc, mắm tôm, mắm ruốc, rau muống, cà pháo.

Vì đây là vấn đề thuộc pháp luật nên cần phải viết chi ly, đi vào tiểu tiết để bạn đọc nắm bắt ngay sự kiện không phải mất công suy nghĩ, hỏi han. Luật Ta cấm ngặt, cấm triệt để, cấm đến không còn gì có thể cấm hơn, việc những anh Con Trai Bà Cả Đọi vợ chồng mí những chị Con Gái Bà Hai Đọi. Vì hai bà Đọi là chị em. Mặc dù anh họ Mít, chị họ Soài. Không được là không được. Bất kể anh chị có duyên nợ mí nhau từ muôn kiếp trước, anh chị hò hẹn nhau kiếp này luân hồi để trả nợ nhau. Cũng không được. Càng duyên nợ lại càng không được. Pháp luật dòng họ, gia đình, huyết thống trần ai khoai củ không công nhận những chuyện vớ vẩn gọi là “duyên nợ ái tình tiền kiếp”.

Cũng trong tinh thần ấy anh Con Trai Ông Tư Đọi không thể nào mần vợ chồng với chị Con Gái Bà Năm Đọi. Bởi vì Ông Tư Đọi với Bà Năm Đọi là anh em ruột.

Nhưng Pháp Luật Tầu thì lại cho phép đám con cô, con cậu, con dì, con già được vợ chồng mí nhau. Vợ chồng hợp pháp. Bằng chứng rõ ràng ghi trong kinh điển Hồng Lâu Mộng: Giả Bảo Ngọc mần vợ chồng với Tiết Bảo Thoa. Bà mẹ Bảo Ngọc và bà mẹ Bảo Thoa là chị em ruột. Nếu không lấy Tiết Bảo Thoa, Giả Bảo Ngọc có thể mần vợ chồng với Lâm Đại Ngọc, con bà cô ruột của chàng. Bà mẹ Lâm Đại Ngọc là em ruột ông bố Giả Bảo Ngọc.

Cũng nghe nói dường như – chuyện này người viết không nắm vững nên chỉ nêu lên để hải nội chư quân tải rộng đường suy luận – ở những xã hội Âu Tây đám cousin, cousine – cu-zanh, cu-zin – cũng được mần vợ chồng mí nhau thoải mái, hợp pháp, hợp đạo đức như đám biểu huynh, biểu muội Ba Tầu. Trong khi đó thì riêng ở Xứ Giao Chỉ, một xứ nhỏ bé nằm sát ngay cạnh đất nước vĩ đại của những Chú Con Trời, nơi người dân chịu ảnh hưởng nặng văn hóa, phong tục Tầu, lại tuân thủ điều luật Hôn Phối khác hẳn. Trong nhiều đêm khắc khoải ở Thành Hồ, anh Công Tử Hà Đông – vì là anh em cùng vợ với anh Con Trai Bà Cả Đọi nên hai anh nằm chung giường, chung đèn dầu hôi – đêm tắt điện – đọc chung trang sử ái tình, cùng thắc mắc với câu hỏi: Tại sao Luật Ta lại khác Luật Tầu về mục con dì, con già được và không đươc mần vợ chồng với nhau?

Câu hỏi “Tại sao?” đó không nằm trong loạt bài Thiên Long Hoài Cổ. Vậy xin gác lại để dịp khác. Ta trở lại với Đoàn Dự – Vương Ngọc Yến – Mộ Dung Phục.

Thông số trong Thiên Long Bát Bộ về liên hệ huyết thống giữa Vương Ngọc Yến và Mộ Dung Phục không được rõ ràng. Dường như Mộ Dung Bác, ông bố của Mộ Dung Phục, là anh của Vương phu nhân, bà mẹ của Vương Ngọc Yến. Nàng với chàng là biểu huynh, biểu muội. Nàng yêu chàng. Chàng đi giang hồ, nhớ chàng nàng cũng đi giang hồ tìm chàng.

Có nhà phê bình Âu Tây nhận xét: vì nước Trung Hoa quá lớn nên những văn sĩ Trung Hoa có phản ứng ngược là luôn luôn quan niệm, diễn tả một không gian thật nhỏ hẹp. Trong tiểu thuyết võ hiệp những cao thủ Côn Luân – ở mãi tận biên giới Tây Tạng hay Ấn Độ chi đó – chạm trán soành soạch với những cao thủ Thổ Phồn ở miền cực nam Trung thổ. Ví von cho thêm sáng sủa ta có thể coi địa lý Trung Quốc trong tiểu thuyết võ hiệp chỉ lớn bằng thành phố Sàigòn Đẹp Lắm Sàigòn Ơi: Hồng Thất Công đấu chưởng kịch liệt trong tiệm phở gà Hiền Vương – bao nhiêu đĩa bát bể tùm lum – loạng quạng đi sang Tân Định, Hồng Thất Công gặp Tây Độc Âu Dương Phong đang ngồi cạo râu trong Động Hoàng Thơ. Hai đại cao thủ gặp nhau đâu là đánh nhau đó, nhị vị thi triển Đả Cẩu Bổng Pháp, Hàm Mô Công làm toong-đưa, dao cạo, que móc tai văng lung tung ra đường Hai Bà Trưng. Đi xa hơn, Hồng Thất Công đến tận Khu Bàn Cờ, gặp Đoàn Nam Tăng từ trong Kỳ Viên Tự ôm bình bát đi ra đường Phan Đình Phùng. Rồi đi xa hơn nữa vào đến tận khu Cầu Ba Cẳng Hồng Thất Công gặp Vương Trùng Dương đang được các Bang Hội Tiều, Quảng Toóng, Phước Kiến, Hẹ, Hành tiếp đón long trọng, mời đến tham quan Hãng Sà Bông Việt Nam Cô Ba 72 phần dầu của Ông Trương Văn Bền bên chợ Kim Biên, rồi lên xe Huê Kỳ Pontiac đến Cao Lầu Ngọc Lan Đình dự tiệc.

***

Theo Dịch, quẻ Bác là quẻ vật đổ, quẻ Phục là vật bắt đầu gượng dậy. Đặt tên hai cha con Mộ Dung Bác, Mộ Dung Phục, Cắm Dzùng Tiên Sinh có ý báo cho ta biết họ Mộ Dung đến Mộ Dung Bác là hết chu kỳ rơi xuống, đến Mộ Dung Phục là khởi đầu chu kỳ đi lên.

Mộ Dung Phục khôi ngô, tuấn tú, thông minh, ôm mộng phục quốc, lấy lại ngai vàng Yên quốc. Chàng rời Cô Tô Yến Tử Ổ đi giang hồ với mục đích không rõ ràng lắm là học thêm võ công để thực hiện ý đồ phục quốc. Nhà Mộ Dung được giang hồ kinh sợ ngoài mục có võ công riêng còn có thủ đoạn học bí kíp võ công của nhà khác rồi dùng chính chiêu thức riêng của nhà ấy đánh chết chính người nhà ấy. Thủ đoạn này được gọi văn hoa là ” Đẩu chuyển, tinh di “, nôm na là ” Gậy ông đập lưng ông “. Vương Ngọc Yến được hai gia nhân Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác hộ vệ đi tìm Mộ Dung Công Tử. Ít nhất Vương cô nương còn có hai gia nhân võ nghệ hạng khá đi theo, Đoàn Vương Tử con vua nhưng đi sô-lô trên răng dưới không có hành lý.

Nghĩ rằng Mộ Dung Phục có thể đến Rừng Hạnh dự Đại Hội Cái Bang, Vương Ngọc Yến đến Rừng Hạnh. Nhìn thấy nàng là Đoàn Dự hồn xiêu, phách tán. Dung nhan nàng giống y như Pho Tượng Mỹ Nhân chàng được thấy dưới tuyệt cốc. Từ giây phút đó Đoàn Dự yêu Vương Ngọc Yến. Chàng chỉ sống với ước mộng được yêu nàng, được có nàng làm vợ, cùng chung sống đến ngày đầu bạc, răng giả trong cung điện vàng son hay ở bất cứ mái tranh nghèo nào nàng muốn.

Đại Hội Cái Bang Rừng Hạnh, theo đúng thông lệ của những Đại Hội Tự Do Bát Nháo trên cõi đời này, là một Đại Hội Bang Chúng đấu tố nhau vung… đả cẩu bổng. Kiều Bang Chủ – Bang Chủ Cái Bang Hiện Đại, không mặc áo chín túi, không dùng Đả Cẩu Bổng, không xách bị ăn mày – có võ công lệch đất, nghiêng trời nhưng mù tịt về chuyện bổn bang. Bang chủ hạ Cờ Tây, bụa Cognac, Whisky tối ngày nhưng lại không có Ban Mật Vụ rình mò, báo cáo những chuyện nội bộ của bang, không biết nên không trừng trị mà cũng không đề phòng bọn phản đồ nên khi Đại Hội khai mạc Bang Chủ ú ớ thấy mình bị bang chúng tố cáo những tội tầy đình.

Vụ án Kiều Phong Khiết Đôn và vụ Kiều Bang Chủ bị Sương Phụ Mã Phó Bang Chủ phu nhân – Phó Bang Chủ Mã Đại Nguyên đã bị ám sát chết thảm thiết – sẽ được viết đến trong một đoạn riêng về Nàng Sương Phụ Đa Tình.

Theo đúng những bang hội có đám bang chúng chỉ lo, và chỉ giỏi ủng oẳng chửi nhau, bới xấu nhau, tranh dành ngôi vị trên cõi đời này, Cái Bang nhóm đại hội mà không có Phú-lít giữ an ninh, trật tự. Bang chủ đang bị bang chúng tố tội giết người, nhận vơ quốc tịch thì đám dũng sĩ Tây Hạ ập vào tấn công. Không ai biết đám người được gọi là dũng sĩ Tây Hạ này từ Vương quốc Tây Hạ xa sôi đến Rừng Hạnh, Hoa Nam, nước Đai Tống bằng cách nào, quan quân Đại Tống ở đâu hết mà để cho họ mang đao, vác giáo, đeo kiếm, cung tên lỉnh kỉnh, bận quân phục, cưỡi ngựa chiến, cờ xí đàng hoàng, phây phây đi ngang giang sơn Đại Tống như đi qua sa mạc không người. Đánh nhau chí chóe. Vương cô nương bị thương, Đoàn Vương Tử lập tức thi triển Lăng Ba Vi Bộ nhào đến bồng Vương Cô nương đi một đường Lăng Ba Vi Bộ.

Chàng bồng nàng chạy thẳng một lèo đến một nhà Xay Lúa ở giữa đồng. Đến đây ta thấy Cắm Dzùng xử dụng kỹ thuật tả cảnh giống như phim xi-nê Mỹ. Cối Xay Lúa chạy bằng sức nước dòng suối bên nhà. Cảnh giống như cảnh phim Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ – The Three Muskeeters – Gene Kelly D’Artagnan, Lana Turner Milady, Van Helflin Athos, June Allyson Constance Bonacieux – cảnh D’Artagnan Gene Kelly đánh với Lính Hồng Y Giáo Chủ Richelieu ở Nhà Xay Lúa. D’Artagnan đứng trên guồng nước, địch thủ đưa kiếm chém chân chàng, guồng nước đưa chàng lên tầm cao hơn làm đường kiếm chém hụt. Đoàn Dự cũng tránh những đường đao của dũng sĩ Tây Hạ chém hai chân chàng bằng cách lên dần những bực thang. Đôi người trẻ tuổi ở trên gác lửng, anh dũng sĩ Tây Hạ nào thò đầu lên là bị Vương Cô Nương chỉ điểm cho Đoàn Vương Tử đánh một chưởng ngã xuống – Bắc Kỳ gọi là chết tươi, Nam Kỳ gọi là chết tốt. Một dũng sĩ Tây Hạ lên lầu bằng thang cuốn nước. Anh này leo cửa sổ vào lầu và cũng bị Vương Cô Nương chỉ điểm cho Đoàn Vương Tử đánh chết không kịp ngáp.

Trong trận kịch đấu này ta thấy Đoàn Dự thi triển Lăng Ba Vi Bộ chạy luẩn quẩn trong nhà xay lúa mà các dũng sĩ Tây Hạ không sao đụng được vào chàng. Nhưng cuối cùng Đoàn Dự cũng bị đánh ngã nằm chờ chết. Người dũng sĩ Tây Hạ đánh ngã chàng và có thể giết chàng dễ dàng được tả một cách mơ hồ, bí mật. Dũng sĩ này mang mặt nạ da người. Y chỉ cần xuống đao là Đoàn Dự hết còn Lăng Ba Vi Bộ, tiêu luôn cả Nhất Dương Chỉ, Lục Mạch Thần Kiếm. May ra trước khi chết chàng chỉ còn có thể ngóc cổ dậy ca Sáu Câu mùi mẫn, hẹn Vương Cô Nương mùa thu lá bay kiếp sau cùng nhau ăn gà xé phay…

Nhưng người dũng sĩ Tây Hạ kỳ bí đã không xuống đao. Đoàn Dự nằm ngửa chờ chết, nhìn lên thấy bộ mặt nạ da người lạnh lùng. Dũng sĩ Tây Hạ thở dài, thâu đao, lặng lẽ bỏ đi. Cả chục xác dũng sĩ Tây Hạ Đơ Dzèm Cù Bắp bị bỏ lại chiến trường.

Người đọc Thiên Long đến đoạn Dũng Sĩ Tây Hạ bỏ đi không giết Đoàn Dự đoán chắc – theo kinh nghiệm – Dũng Sĩ này có cái gọi là “uyên nguyên” chi đó với Đoàn Dự. Cắm Dzùng Tiên Sinh thắt cái nút này để rồi sẽ cởi nút trong năm bẩy chục hồi sau.

Nhưng những gì xẩy ra sau đó cho thấy cái nút Dũng Sĩ Tây Hạ chỉ được thắt mà không bao giờ được mở. Người Dũng Sĩ mang Mặt Nạ Da Người Hành Tung Qủi Bí này từ Nhà Xay Lúa ra đi là một đi không trở lại sân khấu Thiên Long.

Đến đây xin có lời thưa với quí bạn đọc:

Tôi viết Thiên Long Tình Sử và kể lại những chuyện tình Thiên Long theo trí nhớ của tôi. Tôi đọc Thiên Long khoảng năm 1970, đọc một lần, và từ đó không lần nào tôi đọc lại. Trí nhớ của tôi không thể nhớ hết, nhớ đúng từng chi tiết một truyện võ hiệp tôi đọc một lần từ ba mươi năm trước. Vì vậy trong những trang này quí bạn sẽ thấy có nhiều chi tiết tôi kể sai. Xin quí bạn sửa dùm và xin coi truyện Thiên Long Tình Sử quí bạn đang đọc là Thiên Long Tình Sử trong trí nhớ của tôi, nó có nhiều điểm không giống với tiểu thuyết Thiên Long Bát Bộ của người viết tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung.

Chẳng hạn như đoạn chàng Dũng Sĩ Tây Hạ mang mặt nạ da người đánh ngã Đoàn Dự nhưng không xuống đao giết chết trên đây, tôi viết chàng dũng sĩ ấy không trở lại sân khấu Thiên Long và Kim Dung không cho người đọc biết tên thật của người dũng sĩ ấy. Có người bạn nhớ Thiên Long hơn tôi, đọc đoạn này, cho tôi biết chàng Dũng Sĩ Tây Hạ mang mặt nạ da người ấy là Mộ Dung Công Tử.

***

Sau trận kịch đấu ở Nhà Xay Lúa Đoàn Dự và Vương Ngọc Yến chia tay nhau. Gia nhân nhà họ Vương tìm đến đón nàng.

Từ đó Đoàn Dự lằng nhằng, lẵng nhẵng đi theo Vương Ngọc Yến. Vô Vi Phái mở cuộc tuyển lựa nhân tài anh tuấn vào chức Chưởng Môn Nhân – Cái phái này có tục lệ kỳ cục: không chọn Chưởng Môn trong bổn bang mà lại tuyển người ngoài – Vương Ngọc Yến nghe tin Mộ Dung biểu huynh yêu qúi của nàng sẽ đến Tổng Đàn Vô Vi ở Hồ Nam dự tuyển nên nàng đến đó chờ gặp chàng. Vì vậy Đoàn Dự cũng đến Tổng Đàn Vô Vi Phái ở Hồ Nam.

Tô Tinh Hà, đại diện phái Vô Vi, tuyển nhân tài bằng một thế cờ vi. Thứ cờ vi này khác với cờ tướng. Đoàn Dự, Mộ Dung Phục được mời vào bàn cờ. Tô Tinh Hà rất muốn người anh tuấn như Đoàn Dự hay Mộ Dung Phục giải được thế cờ để làm chưởng môn. Nhưng hai chàng vương tôn công tử này đều bị thế cờ bí hiểm làm cho hộc máu. Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh có mặt bên bàn cờ, dùng phép “Truyền âm nhập mật” chỉ nước cờ cho Sư Chú Hư Trúc Thiếu Lâm phá thế, thắng cuộc. Đó là chuyện sẽ được kể kỹ hơn trong đoạn viết về Hư Trúc Tử.

Sau nhiều lần được nói đến qua những lời truyền tụng trên cửa miệng người khác Mộ Dung Công Tử xuất hiện như Rồng, như Phượng. Chàng từ xa liệng chiếc lá lên trời, chiếc lá bay đến rơi đúng xuống ô cờ chàng muốn đặt quân. Chưa thấy Mộ Dung, chỉ mới thấy chiếc lá rơi, Vương Ngọc Yến đã sung sướng kêu lên:

- Mộ Dung biểu huynh…

Đoàn Dự vỡ tim khi nhìn thấy ánh mắt yêu đương của Vương cô nương. Nàng yêu biểu huynh của nàng – Chàng thầm nghĩ:”Đúng thôi. Mộ Dung Công Tử hơn ta cả trăm lần…”

Mộ Dung Phục không yêu Vương Ngọc Yến. Không phải chàng vô tình, chàng là người làm chính trị mê say với mục đích khôi phục ngai vàng Yên quốc, ngai vàng ông cha chàng đã để mất. Chàng không lý gì đến tình yêu nam nữ.

Những ngày như lá, tháng như mây trôi qua Tình Sử Thiên Long. Nhiều hồi sau đến trận xung đột với Lão Quái Đinh Xuân Thu, Vương Ngọc Yến bị Lão Quái đánh rơi xuống giếng sâu. Mộ Dung không đoái hoài gì đến nàng. Đoàn Dự nhẩy xuống giếng cùng chết với nàng. Vương Ngọc Yến cảm động: “Chàng yêu ta chân tình. Ta phải yêu chàng…”. Cuộc tình Đoàn Dự–Vương Ngọc Yến nở hoa dưới đáy giếng. Bọn Phong Ba Ác, Bao Bất Đồng – gia nhân nhà họ Vương – đem thang dây đến thả xuống giếng cứu đôi tình nhân lên. Từ đó họ yêu nhau, thề sẽ là vợ chồng…

Nhiều hồi sau nữa, đến những trang gần kết Bộ Tình Sử Thiên Long, Đoàn Dự xin cưới Vương Ngọc Yến. Chàng và nàng – kể cả một số anh chị Con Trai, Con Dâu Bà Cả Đọi theo dõi Thiên Long Bát Bộ – ngã ngửa người khi được biết chuyện động trời:

- Đoàn Dự và Vương Ngọc Yến không có thể mần vợ chồng với nhau được vì hai người là anh em ruột. Họ là anh em cùng cha khác mẹ. Vương Ngọc Yến là con rơi của Đoàn Nam Vương…

Không thấy tả Vương Ngọc Yến cô nương đau khổ chi lắm trước tin này, còn Đoàn Dự thì lăn đùng, ngã ngửa, tối tăm mắt mũi theo nghĩa đen chứ không phải theo nghĩa trắng. Than ôi… Tình là dây oan. Đúng vậy. Nước Trung Hoa có cả mấy chục triệu thiếu nữ xinh đẹp, nõn nà, nết na, thơm phức, sẵn sàng và hoan hỉ chờ được Vương Tử dùng đến. Nhưng Vương Tử không yêu ai, Vương Tử lại yêu cô em cùng cha khác mẹ. Yêu quá là yêu. Yêu đến cái cái độ không lấy được nàng thì chàng phải chết…

Và Đoàn Vương Tử sắp chết. Chàng sắp chết thật chứ không phải giả vờ. Chàng thổ ra nhiều búng máu tươi, nằm thẳng cẳng, mắt trợn trắng, sùi bọt mép, tay bắt cả chuồn chuồn lẫn cào cào, châu chấu, bọ ngựa…

Đoàn Dự chết chắc như bắp rang nếu không có bà mẹ của chàng can thiệp. Bên giường bệnh cậu con trai duy nhất của bà, trước mặt nhiều người Mẫu Hậu nói với cậu con:

- Con yên tâm. Đừng ra nghĩa địa vội. Sống mà hưởng sự đời. Con với Vương Ngọc Yến có thể là vợ chồng với nhau được vì con không phải là con của Đoàn Nam Vương như con và cả và thiên hạ vẫn tưởng…

Ui chui choa.. Cái chi kỳ dzậy? Đoàn Dự không phải là con Nam Vương Đoàn Chính Thuần – Ông Vua Playboy Thiên Long – thì chàng là con ai?

Mẫu Hậu đi một đường kể chuyện lòng. Số là bà hờn giận ông chồng Vương Giả đa tình chia xẻ tình yêu, đáng lẽ phải dành độc quyền cho bà, với không biết bao nhiêu người đàn bà khác. Bà đau, bà muốn trả thù ông chồng vương giả chủ trương chính sách “cả sông, đông chợ, lắm vợ nhiều con” nhưng bà trả thù bằng cách nào bi giờ?

Người đàn bà đau khổ vì chồng ngoại tình thường dùng cách trả thù thông thường nhất, phổ biến nhất, dễ làm nhất là… ngoại tình với anh đàn ông khác. Nhưng với Mẫu Hậu khả kính thì bà khó có thể tìm được người đàn ông nào hào hoa phong nhã ngang với ông chồng bà để trả thù. Mẫu Hậu tìm đến một gã hành khất dơ bẩn nằm ở cổng chùa. Chịu sự chi phối cuả cái gọi là phản ứng ngược, Bà dùng gã hành khất này để trả thù ông chồng. Và gã hành khất đó mới là bố của Đoàn Dự, con bà đẻ ra, không phải Đoàn Chính Thuần, bố của Vương Ngọc Yến.

Và trái đất không tròn, trái đất méo. Vì trái đất méo nên những người có duyên nợ với nhau trên cõi đời này loạng quạng thế nào rồi cũng gặp nhau. Gã hành khất dơ dáy, thối tha nằm tuyệt vọng trước cửa Thiền đó lại là Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh. Trên đường lưu lạc giang hồ tìm phương tiện và cơ hội trở lại ngôi báu của ông cha, Doàn Diên Khánh bị trọng thương rồi đau ốm, nằm ở trước cổng chùa chờ chết. Đêm ấy bà Vương Hậu đến với Y, tự ý trao thân cho Y, Đoàn Diên Khánh mơ màng thấy bà bận toàn xiêm y trắng, hiện ra với Y như một nữ thần. Kim Dung không cho ta biết khi cho gã hành khất dơ bẩn hưởng thụ ân huệ Vương Hậu có biết Y là Đoàn Diên Khánh, ông anh của chồng mình hay không. Nếu lúc đó bà không biết thì vào lúc nào, do cơ hội nào, nhờ lý do gì mà bà biết gã hành khất đó là Đoàn Diên Khánh? Cuộc giao tình này sinh ra Đoàn Dự. Và nhu dzậy Đoàn Dự là con của Ác Quán Mãn Doanh, người đứng đầu Tứ Ác.

Và cũng như vậy là Đoàn Dự và Vương Ngọc Yến không phải là anh em cùng cha khác mẹ. Nhưng… khoan khoan… hãy hượm… Đừng có nóng. Đừng có vội…Để xét thêm lý lịch chút nữa xem sao. Đoàn Diên Khánh là người họ Đoàn chi trên. Ông nội Đoàn Diên Khánh xưa là Vua Đại Lý. Đến đời ông bố của Đoàn Diên Khánh thì vì bị bệnh điên loạn sao đó, Hoàng Tộc truất phế ông ta, cho chi thứ lên làm vua. Vì vâỵ ngôi vua Đại Lý về tay Bảo Định Đế, ông anh của Đoàn Chính Thuần. Đoàn Diên Khánh muốn dùng võ công lấy lại ngôi vua nên luyện võ công tà ma ngoại đạo, trở thành Lão Ma Đầu Đại Ác như ta đã thấy…

Tuy không phải là anh em cùng cha khác mẹ, Đoàn Dự với Vương Ngọc Yến lại là anh em đồng tông, tức là cùng họ. Văn huê họ là anh em thúc bá, nôm na họ là anh em con chú, con bác. Con chú, con bác làm sao lấy nhau được? Con cô, con cậu, con dì, con già vợ chồng với nhau cũng được đi nhưng còn anh em con chú, con bác? Về huyết thống kể ra cũng gần đấy chứ? Chú rể là con ông bác chi trên, cô dâu là con ông em chi dưới. Hai họ nhà trai, nhà gái cùng là một họ.

Nhưng thôi… Luật lệ là luật lệ. Tình yêu là tình yêu. Ta chớ nên khắt khe áp dụng luật đến từng chữ một. Mình lấy vợ con nhà khác kệ mình, anh em họ người ta lấy nhau mặc người ta. Live and let live. Mình sống thì cũng phải để cho người ta sống mí chứ.

Mẫu Hậu Ngoại Tình kể uyên nguyên cứu tử con trai xong là tự vận chết ngay. Đoàn Chính Thuần bị trọng thương cũng chết. Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh đến nơi họp mặt gia đình và thanh toáùn chuyện gia đình này với ý đồ giết Đoàn Chính Thuần, giết luôn cả Đoàn Dự. Khi được biết chàng thanh niên khôi ngô, anh tuấn ấy là con mình, Áùc Quán Đoàn Diên Khánh sung sướng cười lên ha hả rồi phơi phới đi khỏi Thiên Long. Đoàn Diên Khánh là người hạnh phúc nhất đời vì giấc mộng khôi phục ngai vàng của ông đã thành: Con trai ông sẽ là Vua Đại Lý.

Trong Năm Nhân Vật Chính của Thiên Long, như đã viết ở đoạn đầu, chỉ có một mình Đoàn Dự là toại nguyện. Trong những đêm dài ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Thành phố Sài Gòn bị cưỡng hiếp đổi tên, Công Tử Hà Đông làm cuộc Thiên Long Hoài Cổ, mần thơ Vịnh Chàng Vương Tử Thiên Long:

ĐOÀN DỰ

Con vua chẳng thích làm vua
Lang thang đi quét lá chùa vẩn vương.
Yêu Vương Ngọc Yến cô nương
Toát mồ hôi lạnh tưởng Nường là em.
Nhất Dương, Lục Mạch lem nhem
Lăng Ba chỉ giỏi cõng em chạy dài.
Nhờ ơn Ông Bố Ăn Mày
Lại thêm Mẫu Hậu ăn chay, ngoại tình.

Thiên Long Bát Bộ Luận Anh Hùng

Thiên Long Bát Bộ luận anh hùng
Kỳ Hiệp, quần ma kể chẳng cùng
Mười lăm năm trước ai quên nhớ
Những Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung?
Ai Hư Trúc Tử, ai Đồng Mỗ?

Đâu Thành Tây Hạ, Linh Thứu Cung…? Mười lăm năm trước ai quên nhớ? Tôi làm những bài thơ Thiên Long Hoài Cổ ở Sài Gòn Tháng Tư năm 1980. Nên tôi hỏi những ai đã quên, những ai còn nhớ truyện Thiên Long Bát Bộ, một tên khác là Lục Mạch Thần Kiếm, đăng nơi trang trong nhiều nhật báo Sai Gon Đẹp Lắm những năm 1965. Từ 1965 đến 1980 là mười lăm năm.

Kim Dung đạt đến đỉnh cao nhất của nghệ thuật viết tiểu thuyết võ hiệp Phơi-ơ-tông với tác phẩm Đồ Long Đao Ỷ Thiên Kiếm. Thiên Long Bát Bộ đến sau Đồ Long. Và Thiên Long Bát Bộ vẫn còn ở trên đà bay lên chưa rơi xuống của Người Viết Kim Dung.

Cái gì lên cao rồi cũng phải hạ xuống. Không người viết truyện nào có thể cứ viết hay được mãi. Cái khó của những người viết tiểu thuyết nổi tiếng là “tác phẩm sau bắt buộc phải hay hơn tác phẩm trước”. Người viết tiểu thuyết cũng như nhà Vô Địch Nhẩy Cao. Lần này nhảy qua sào cao 2 thước 40, lần tới phải nhẩy vượt cao hơn: 2 thước 45, 2 thước 41 cũng được nhưng nếu cũng chỉ vượt qua 2 thước 40 thôi, nhà Vô Địch đã bị coi là bắt đầu xuống dốc.

Tôi thích Thiên Long Bát Bộ hơn Đồ Long Ỷ Thiên. Trong Đồ Long, Trương Vô Kỵ là vai chính duy nhất. Tất cả sự việc đều xẩy ra quanh Vô Kỵ. Gần như Vô Kỵ có mặt suốt tiến trình Đồ Long. Thiên Long Bát Bộ có nhiều nhân vật, nhiều cuộc tình hơn. Những nhân vật khác trong Đồ Long chỉ là những vai phụ, mờ nhạt dưới bóng dáng Tạ Tốn, Vô Kỵ. Thiên Long Bát Bộ không có nhân vật chính. Nói cách khác Thiên Long Bát Bộ có Năm Vai Chính. Cả Năm Nhân Vật này đều là nam giới:

Kiều Phong – Đoàn Dự – Hư Trúc – Mộ Dung Phục – Du Thản Chi.

Xoay quanh Năm Ngôi Sao Thiên Long ấy là một lô những Nữ Vệ Tinh linh tinh gồm những em tuổi đời từ Sáu, Bẩy Bó xuống đến Mười Lăm, Mười Sáu Que. Đặc biệt em nào cũng đa tình, cũng yêu đương ra rít, nhiều em thù hận nhau đến cái gọi là giây phút cuối cùng ngắc ngoải vẫn còn hận thù.

- Thiên Sơn Đồng Mỗ. Sáu Bó Rưỡi.

- Lý Thu Thủy, Hoàng Hậu Tây Hạ. Sáu Bó thêm Năm Que.

- Vương Ngọc Yến. Tiểu thư Cô Tô Yến Tử Ổ. Hình ảnh Mơ Hồ giống Em Kiều Thu của Công Tử Hà Đông. Mười bẩy trăng tròn.

- A Châu. Người thiếu nữ dịu hiền nhất Thiên Long, người chỉ muốn cùng Kiều Phong rời bỏ Trung Thổ với những trận mưa máu, gió tanh, những ân oán giang hồ, những thù hận oan khiên để dắt tay nhau đi qua Nhạn Môn Quan, về nhận vùng tuyết trắng mênh mang biên giới làm quê hương và nghĩa địa, người chỉ muốn được cùng Kiều Phong suốt đời săn hươu, đuổi thỏ nơi biên ải. A Châu, Người Yêu Tuyệt Diệu của Thiên Long, số tuổi Nàng: Mười Bẩy Mùa Tuyết tan trên Đỉnh Thiên Sơn.

- A Tử. Em này ác ôn nhất Thiên Long. Em mới Mười Lăm Que chum chúm Chũm Cau nhưng em đã đa tình ghê rợn. Em dửng dưng con cá vàng hoe, em săng phú những chàng hào hoa phong nhã hơn em bốn năm mùa cóc chín như Đoàn Dự, Mộ Dung Công Tử. Cũng như cô chị A Châu, em yêu mê Cái Bang Bang Chủ Kiều Phong. Bang Chủ là một đại hán tuổi đời gấp đôi tuổi em. Vẫn biết yêu là Mù Quáng. Ai yêu cũng vậy thôi nhưng em không tính đến chuyện em mười lăm que, Bang Chủ đã Ba Bó. Những năm em sấp sỉ, em trên dưới Ba Bó là thời gian nội lực em sung mãn, võ công Ba Tư quái dị của em lên đến đỉnh cao nhất, Bang Chủ chồng em đã gần Năm Bó rồi. Chàng không còn đủ công lực để luyện võ, đấu chưởng mí em được nữa. Khi ấy công lực của em không phát tiết ra được em sẽ tẩu hỏa nhập ma…

Nhưng đó là chuyện riêng của A Tử cô nương. Ta sẽ có lời bàn Mao Tôn Cương về Cô Nương sau.

Thiên Long Bát Bộ còn có một lô nhân vật nữ nữa. Các nàng này đều là những hình bóng mờ nhạt sau Năm Nàng vừa kể. Mấy em vaiï phụ cũng thơm như múi mít. Em thứ nhất là Mộc Uyển Thanh. Em này vừa lên sân khấu là thiên hạ đã tối tăm mắt mũi vì võ công em ghê quá. Gần như em cứ dơ tay là có ác đồ lăn đùng, ngã ngửa. Nhưng ngay sau đó khi em gặp Nam Hải Ngạc Thần ta lại thấy võ công của em không giống ai mà cũng không ai giống. Ai đời em ném năm bẩy mũi phi tiêu hung hãn vào bụng Nam Hải Ngạc Thần mà lão vẫn đứng tỉnh queo, bao nhiêu phi tiêu của em rơi hết xuống đất. Lão tóm cổ em dễ hơn lão thò tay lấy đồ trong túi người không có tí ti ông cụ võ công nào.

Em thứ hai là em Chung Linh. Em này còn chưa cả chum chúm nữa, em vào sân khấu khi em mới có nhiều lắm là mười bốn mùa trái cóc chuyển mầu vàng. Em là nữ sinh Trường… – muốn vinh danh Trường nào cũng sợ đụng chạm, đành chỉ để Trường Chấm Chấm – nhưng em chơi con rắn vàng trong tay áo, em bỏ trường, bỏ nhà đi lang thang trên giang hồ.

Nhân nói đến em Chung Linh Chanh Cốm ta nhắc vài lời đến ông Bố Độc Đáo của em: Ông Chung Vạn Cừu. Ông này ghen dữ dội, ông ghen với Đoàn Chính Thuần Vua Phong Tình nhân tình nhân bánh với vợ ông nhưng ông không có làm gì được tình địch, ông phản ứng một cách tiêu cực và yếu sìu là ông đi trốn và bắt vợ con ông xuống ở mí ông dưới Cổ Mộ. Chưa đã ông còn lấy biệt hiệu là Chung Vạn Cừu. Ý nghĩa biệt hiệu này là ông thù Đoàn Chính Thuần đến vạn đời. Đáng sợ thay uy lực và giá trị của người đàn bà. Đời xưa, đời nay, đời sau cũng vậy thôi. Anh đàn ông đời nào cũng chẳng khá gì hơn anh đàn ông đời nào. Anh khư khư ôm giữ người đàn bà anh yêu thương làm của riêng của anh, không cho thằng nào đụng đến. Thằng nào đụng đến người nàng là anh – nếu hổng giết được nó – thù nó đến vạn đời. Thảo hèn ông cha ta có câu:

- Nóc nhà xa hơn chợ
Mông vợ gần hơn mả cha…

Chí lý vậỵ thay. Nóc nhà xa hơn chợ bởi vì anh thường theo đít vợ đi chợ mua đồ nhưng suốt đời anh chẳng bao giờ trèo lên mái nhà. Còn mả bố anh thì vì ở xa nên cả năm anh mới đến thăm được một lần, mông vợ anh ở gần nên anh bảo quản được mỗi ngày, đấy là chưa kể đến chuyện mả bố anh thằng nào nó ngồi, nó nằm lên cũng được, nhưng mông vợ anh mà có thằng nào nó sờ vào là anh đỏ mặt, tía tai, mắt anh đổ lửa, miệng anh sùi bọt mép, anh ăn thua đủ mí nó ngay.

Em thơm hơn múi sầu riêng thứ ba là em Công Chúa Tây Hạ. Công Chúa mười sáu mùa mưa xuân phơi phới bay. Em được Thiên Sơn Đồng Mỗ vào Cung Cấm điểm huyệt nhẹ nhàng cho em ngủ mê, cuộn em vào mền gấm, ôm em vào Hầm Băng, thả em nằm chung với Sư Chú Hư Trúc. Gần sáng Đồng Mỗ lại mất công dậy sớm, không cà phe cà pháo cũng không có trà cháo chi cả, vất vả ôm Công Chúa trả về cấm phòng.

Chuyện đáng nói là đang nằm ngáo một mình trên giường Sô Li Te nơi cấm cung bỗng thấy mình nằm chung mền với con trai, Công Chúa nhà ta không thấy gì đáng gọi là lạ. Không những không sợ hãi, không mở miệng hoa thốt lên nửa tiếng kêu cứu gọi là có, Công Chúa lại tỉnh hơn con sáo sậu, Công Chuá mở vòng tay ngọc đáp ứng thuận chiều với anh chàng trai lạ liền một khi. Công Chúa gọi Người Tình Trong Mộng của Nàng là Mộng Trung Lang. Có lẽ vì Công Chúa tưởng nàng nằm mơ nên mới không cho việc mê ly hắt hủi đó là quan trọng. Nằm mơ mà. Ăn thua gì..

Cuộc tình Công Chúa Tây Hạ – Hư Trúc Thiếu Lâm trong Hầm Băng cho ta thấy nỗi hàm oan của Tiểu Thuyết và Phim Video. Trước tình trạng nhiều em mầm non, măng non mới chỉ qua có mười lăm, mười sáu mùa lá rụng đã mần tình vung xích chó, hung hãn, đủ kiểu, đủ mô-đen, những nhà đạo đức chân chính thường nói: ” Chúng nó dâm sớm vì chúng nó bị ảnh hưởng bởi tiểu thuyết tình lãng mạn, khiêu dâm, phim video đồi trụy, ca tụng bạo lực..” Công bình mà xét cái nọ cũng quả thực có ảnh hưởng cái kia: nhiều anh liệt dương từ thuở mười ba thích xem phim Sex, nhiều anh khác nhát như cáy cả đời không gây gổ với ai, thấy ai to tiếng thì lỉnh cút mất – những anh hòa bình chủ trương “Một sự nhịn là chín sự lành. Tránh voi chẳng xấu mặt nào. Thứ nhất sợ kẻ anh hùng. Thứ nhì sợ kẻ bần cùng, thất phu” – Những anh gián ngày thích xem phim đấm đá, bắn giết, bẻ cổ, chặt chém để tưởng tượng mình là người hùng trên giường, người bạo trên sàn đấm. Vì vậy những người làm phim ảnh, viết tiểu thuyết tình mới nắm thị hiếu ấy mà sản xuất hàng hóa bán lấy tiền. Nhưng quả quyết rằng những cô cậu mần tình chí chạp, giết người không gớm tay chỉ là vì bị ảnh hưởng tiểu thuyết và phim ảnh thì quả có oan cho cái gọi là bộ môn văn nghệ này. Bằng chứng Sư Chú Thiếu Lâm, Công Chúa Tây Hạ có đọc tiểu thuyết, có xem phim ảnh bao giờ đâu? Hai vị cũng chẳng hề nghe lỏm ai nói đến chuyện tình dục nhưng khi được thả nằm chung trong một mền bông là hai vị làm liền một khi, không chút lạ lùng, cũng chẳng cần mò mẫm.

Sau những vai phụ nữ mới nửa chừng xuân vừa kể Thiên Long Bát Bộ còn năm bẩy vai nữ phụ tuổi đời từ Hai Bó Gập đến Ba Bó, Bốn Bó cũng đa tình, võ công Ba Tư quái dị thần sầu quỉ khốc. Đứng đầu Bảng Phong Thần Phún Sồn Sồn này là em:

- Mã phu nhân Sương Phụ Đa Tình, Vợ Mã Đại Nguyên Phó Bang Chủ Cái Bang.

- Nguyễn Tinh Trúc, Nữ Chủ nhân Tử Trúc Lâm, người tình không toại nguyện của Nam Vương Đoàn Chính Thuần, mẹ hai em A Châu, A Tử, Bà Mẹ Vợ hụt của Kiều Phong.

- Vương phu nhân, bà mẹ Tiểu thư Vương Ngọc Yến, Nữ chủ nhân Cô Tô Yến Tử Ổ. Đặc biệt từ đầu đến cuối nhân vật Vương phu nhân không một lần xuất hiện trên sân khấu. Người đời chỉ nghe nói đến Vương phu nhân mà không được một lần nhìn thấy dung nhan phu nhân trên trang giấy in. Có thể nói vơ đũa cả thúng mà không sợ bị kiện cáo lôi thôi là tất cả những nàng Sồn Sồn Ba Bó-Bốn Bó trong Thiên Long đều là người tình của Đoàn Nam Vương. Vương phu nhân huyền bí cũng vậy. Nàng cũng là tình nhân của Đoàn Nam Vương.

Đến đây người viết thấy có chuyện rắc rối khó hiểu: có thể là người viết không còn nhớ chi tiết — thời gian qua đã khá lâu, làm sao nhớ hết được — không thấy Kim Dung viết gì về ông chồng bà Vương phu nhân. Như đã nói người Tầu có tục đàn bà có chồng vẫn giữ họ của mình, như bà Vương phu nhân mẹ của Giả Bảo Ngọc Hồng Lâu Mộng; nhưng đàn bà Tầu cũng có thể lấy họ của chồng làm họ mình. Vậy thì họ Vương là họ của Vương phu nhân hay họ của ông chồng bà? Nếu bà họ Vương thì bà không phải là họ Mộ Dung, em của Mộ Dung Bác, ông bố của Mộ Dung Phục. Và nếu bà không phải là người họ Mộ Dung thì Vương Ngọc Yến và Mộ Dung Phục không phải là anh em con cô, con cậu, con dì, con già với nhau. Trong Thiên Long ta thấy Kim Dung viết rõ Vương Ngọc Yến gọi Công Tử Mộ Dung là “Biểu huynh..”

Bởi những lý do tình ái rắc rối đó ta chỉ thấy Cô Tô Yến Tử Ổ có Vương phu nhân mà không có Vương tướng công. Vương phu nhân thù ghét bọn đàn ông hai vợ đến cái độ bà thu thập, tuyển mộ một lô những em đau khổ vì chồng có vợ bé về Yến Tử Ổ, bà huấn luyện các em thành những Nữ Biệt Kích Com-Măng-Đô chuyên đi điều nghiên — điều tra nghiên kíu — lập hồ sơ, bắt cóc những tên đàn ông can tội có vợ bé về Cô Tô Yến Tử Ổ trị tội. Những anh hai, ba vợ bị tó, bị tù khổ sai mút mùa Lệ Thủy, tù không có ngày về. Vương phu nhân là Nữ Thần Pháp Luật chuyên trừng trị những anh Thuyền Trưởng Bỏ Tầu theo Nữ Hải Tặc và Thuyền Trưởng Hai Ba Tầu trên cõi đời này.

Sau Vương phu nhân là Bà Vương Hậu vợ Đoàn Nam Vương, bà mẹ của Đoàn Dự. Vương Hậu đẹp hiền, đức hạnh cùng mình, nghiêm trang, trinh trắng không chỗ chê. Nhưng dường như cõi đời này lại có những anh đàn ông ngu muội không thích gần những người đàn bà đức hạnh mà lại cứ thích dây dưa với những Nữ Tà Ma Rừng Rực Lửa Tình, những Nũ Ma Đầu có đủ thói hư tật xấu. Nam Vương Đoàn Chính Thuần là một trong số những anh đàn ông ngu muội ấy. Ông quanh năm bỏ bà vợ đẹp hiền lạnh lẽo trong Cung Cấm để đi tiếu ngạo giang hồ khắp Hoa Hạ, Hoa Trung luôn cả Hoa Thượng. Vua đi và đến với những bà tình nhân ở khắp bốn phương trời. Vương Hậu Đẹp Hiền Muôn Thuở êm ái trả thù chồng bằng một chiêu cực kỳ độc đáo, một tuyệt chiêu điển hình đàn bà đẹp hiền trả thù rắc rối trên cõi đời này. Đến những trang cuối của Thiên Long, Cắm Dùng tiên sinh mới tiết lộ hành động trả thù của Vương Hậu làm thiên hạ tối tăm mắt mũi.
Nhưng đó là chuyện hồi sau phân giải. Bây giờ để mở màn Vở Tuồng Thiên Long Hoài Cổ chúng ta hãy nghe bài ca:

TỔNG VỊNH THIÊN LONG

Thiên Long Bát Bộ luận anh hùng
Kỳ hiệp, quần ma kể chẳng cùng
Mười lăm năm trước ai quên, nhớ
Những Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung?
Ai Hư Trúc Tử, ai Đồng Mỗ?
Đâu Thành Tây Hạ, Linh Thứu Cung?
Nhớ chăng Lục Mạch, Phù Sinh Tử?
Quên chưa Cực Ác với Cùng Hung?
Kìa Vương Ngọc Yến yêu Đoàn Dự,
Nọ Chàng Đầu Sắt bắt băng trùng.
Chuyện Xưa trong trí ta lần giở
Này những Tình Oan, những Thủy Chung.

Thiên Long Tình Sử – Lời phi lộ

19.jpgNhững năm đầu thập niên 40 xanh thắm của Thế Kỷ 20 Trần Ai Khoai Sùng tôi đang ở vào số tuổi thường được gọi văn huê là “tuổi hồng, tuổi ngọc”, nôm na là mười, mười mấy hoặc Một Bó Lẻ Hai Ba Que, trong lòng thị xã Hà Đông có dòng Nhuệ Giang hiền hoà. Mới có mười tuổi đầu tôi đã say mê đọc tiểu thuyết.

Tôi đọc tất cả những truyện tôi vớ được, mượn được. Nhà tôi không có nhiều tiểu thuyết. Bà mẹ tôi xuân thu nhị kỳ mới chi tiền cho tôi đi mua tờ Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, nhà tôi chỉ có vài quyển truyện do Nhà Tân Dân của ông Vũ Đình Long xuất bản trong loại sách có cái tên chung rất mơ hồ là “Phổ Thông Bán Nguyệt San”. Ông bố tôi công chức gương mẫu, không ưa cái gọi là tiểu thuyết nhảm nhí. Mỗi năm cũng xuân thu nhị kỳ ông đến hiệu sách ở Hà Nội mua cho anh em tôi mấy tập Học Sinh, Sách Hồng. “Tủ sách” của bố tôi vỏn vẹn chừng mười quyển truyện Pháp Les Trois Mousquetaires, Les Miserables, Notre Dame de Paris.. Tôi nhớ ông mỗi năm, cũng xuân thu nhị kỳ, đọc sách chừng hai, ba lần. Ông đọc vào những buổi trưa thứ bẩy, trua chủ nhật, những ngày ông được nghỉ không phải đi làm. Nhiều lắm là sau một hai trang ông đã ngủ ngon.

Vì vậy gần như “chăm phần chăm” những quyển truyện tôi đọc lia lịa, ngốn ngấu trong thời gian này là truyện tôi đi mượn. Mượn và đem truyện đổi lẫn cho nhau. Thời ấy toàn thị xã Hà Đông chỉ có một tiệm cho thuê truyện. Sách của những nhà Tự Lực Văn Đoàn, Tân Dân đều “cấm cho thuê”. Tiệm cho thuê truyện của thị xã Hà Đông thời tôi còn ngây thơ ở khu Đầu Cầu, trước bến xe điện, cạnh nhà “Régie d’Opium” treo tấm bảng RO. Tiệm này chỉ có toàn những truyện Tầu do nhà Tín Đức Thư Xã ở Sài Gòn xuất bản. Những chú Mít Con Bắc Kỳ đã được xem những phim xi-nê Toute la ville danse, L’Incendie de Chicago, L’Appel de la Foret, Le Bossu de Notre Dame.., đã được nhìn thấy Nàng Esmeralda Maureen O’Hara cho Anh Gù Quasimodo Charles Laughton uống nước trên dàn gỗ nhục hình, được chứng kiến cuộc tình của Nhạc sĩ Johann Straus trên bờ sông Danube — không chỉ Đa-nuýp suông mà còn là Đa-nuýp Blơ — những chú Mít Con Bắc Kỳ ấy, trong số có tôi, dù có mê đọc truyện đến đâu cũng không thích thú lắm với những truyện Tầu Ngũ Hổ Bình Tây, La Thông Tảo Bắc, Tam Quốc Chí, Tây Du Ký, Phong Thần với giọng văn dịch Nam Kỳ: “Thổ Hành Tôn lểnh mểnh đi đến, Tiết Đinh San cầm khí giái nhẩy lên ngựa..”

Một trong những chú tiểu yêu Hà Đông có nhiều truyện thời đó là một tên trạc tuổi tôi. Tên hắn là Phú, nhà Phú bán bát đĩa nên chúng tôi gọi hắn là Phú Bát. Tên này chỉ đổi truyện chứ nhất định không cho mượn. Không có tình cảm chi ráo trọi, tên nào có truyện mang đến đổi thì được. Nhà Phú Bát ở đầu đường, có cái cửa sổ bên cạnh. Phú Bát đứng trong cửa sổ, xem xét quyển truyện được mang đến. Hắn chỉ chịu đổi truyện hắn chưa đọc — tất nhiên — nhưng hắn xem quyển truyện mang đến dầy mỏng ra sao, thuộc loại gì, hắn sẽ đưa ra một quyển tương đương. Chịu thì trao đổi. Không chịu thì huề, cầm quyển của mình về. Đổi rồi không đem trả để lấy lại quyển của mình cũng huề. Đôi bên không bên nào thiệt hại.

Chỉ nhờ mượn và trao đổi lẩm cẩm thế thôi mà ngay từ những năm mười tuổi tôi đã đọc được gần như tất cả những tiểu thuyết nổi tiếng và cần được đọc đương thời. Tôi đọc Lê văn Trương: Trường Đời với Trọng Khang, Marie Khánh Ngọc, Francois Giáp, Vũ Trọng Phụng: Giông Tố với Vạn Tóc Mai, Nghị Hách, Thị Mịch, Long, Tú Anh, Trọng Lang: Hà Nội Lầm Than, Tô Hoài: Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, O Chuột, Xóm Giếng Ngày Xưa, Thạch Lam: Gió Đầu Mùa, Hồ Dzếnh: Quê Mẹ, Khái Hưng-Nhất Linh: Nửa Chừng Xuân, Gánh Hàng Hoa, Trống Mái, Hồn Bướm Mơ Tiên, Thế Lữ: Lê Phong phóng viên, Vàng và Máu vv…

Và tôi say mê đọc những quyển tiểu thuyết kiếm hiệp thời ấy: Bồng Lai Hiệp Khách, Long Hình Quái Khách, Hồng Long Hiệp Khách, Hoàng Giang Nữ Hiệp vv. Tôi nhớ trong truyện Sơn Đông Hiệp Khách có nhân vật dùng võ khí độc đáo là cái sừng trâu rừng–muời mấy mùa lá rụng sau tôi biết chi tiết võ khí sừng trâu của Cao Hùng Phi Sơn Đông Hiệp Khách được tác giả, tôi không nhớ tên, lấy từ sự tích Samson và Dalila trong Kinh Thánh Gia Tô, phần Cựu Ước.

Những vị tác giả tiểu thuyết kiếm hiệp Việt Nam tiền bối–tiền tiền chiến nay đều đã ra người thiên cổ. Tôi chắc chỉ còn một vị hiện sống ở Hoa Kỳ: Lão tiền bối Văn Tuyền Phạm Cao Củng.

Một trong số những bộ tiểu thuyết kiếm hiệp thời ấy tôi thấy quá hay là bộ Chu Long Kiếm.

Những mùa lá rụng theo nhau qua.. Thế chiến.. Chiến tranh Việt Pháp, chia đôi đất nước. Biển dâu. Sao rơi, vật rớt. Tuổi thơ qua thật mau. Đúng ra thì tuổi nào qua cũng mau nhưng tuổi thơ có vẻ như qua mau nhất. Năm 1960 một chiều vào Nhà Sách Tân Quang xế cửa Rạp Xi-nê Văn Quang, Chợ Đũi, Sài Gòn, thấy quyển Chu Long Kiếm ngày tôi còn bé được tái bản bầy trên giá sách, tôi hí hửng nói với với vợ tôi:

– Chu Long Kiếm.. Truyện này hay lắm.. Mua cho em đọc..

Alice đọc và hỏi tôi:

– Truyện như thế mà anh cho là hay à?

Gần hai mươi năm sau đọc lại Chu Long Kiếm tôi thấy truyện viết quá dở. Chu Long Kiếm làm tôi thất vọng và ngẩn ngơ. Tại sao một truyện tồi đến như thế mà mười mấy năm trước tôi thấy là hay quá xá? Đâu phải tất cả những tiểu thuyết tôi thấy hay năm tôi mười tuổi tôi đều thấy dở ẹt năm tôi ba mươi tuổi. Giông Tố, Nửa Chừng Xuân, Hồn Bướm Mơ Tiên, Trống Mái vẫn còn nguyên giá trị dù tuổi tác người đọc có nhiều hơn.

Những năm 1960 màn ảnh xi-nê Sài Gòn có chiếu vài bộ phim kiếm hiệp Hongkong. Phim đen trắng. Tôi đưa vợ con đi xem phim Hoàng Giang Nữ Hiệp, Lý Lệ Hoa đóng vai chính. Lại một thất vọng não nề. Phim đánh kiếm, đánh võ mà trẻ con cũng không mê được. Đánh nhau theo kiểu tuồng cải lương: lùng tùng xoèng.. bọn ác ôn bị đá văng ra khỏi sân khấu, một anh ngớ ngẩn vào võ đường học đuợc cái gọi là “chưởng quét nhà”: hai bàn tay phóng chưởng phong ra đẩy rác vào một góc. Anh này học võ không phải để hành hiệp giang hồ hay Sơn Đông mãi võ biểu diễn ở các chợ, bến xe để bán cao đan, hoàn tán mà là để làm gia nô.

Vì những nguyên nhân ấy tôi có ác cảm nặng với tiểu thuyết kiếm hiệp-võ hiệp. Những năm ấy, những năm đầu thập niên 1960, vài nhật báo Sàigòn đã dịch đăng vài bộ truyện võ hiệp Kim Dung: Đơn kiếm diệt quần ma, Bích Huyết Kiếm, Võ Lâm Ngũ Bá vv.. Có người bạn bảo tôi:

– Bây giờ nó viết truyện mới. Đọc được lắm. Không giống những truyện mình đọc trước 1945 đâu…

Tôi vẫn không đọc những truyện võ hiệp Tầu, dù đó là truyện mới, là những truyện đang được viết. Tôi không đọc vì thành kiến và vì ác cảm với những cái gọi là Tẫu–như nhiều người Việt tôi thích Thơ Đường, bị hấp dẫn, mê hoặc bởi những truyện cổ điển Trung Hoa Tam Quốc Chí, Đông Châu Liệt Quốc, Tình Sử, Hồng Lâu Mộng, Sử Ký Tư Mã Thiên vv nhưng tối kỵ với những cái gọi là văn nghệ, văn gừng của những anh Tầu Đài Loan, HongKong hiện đại–phần khác tôi không đọc vì tôi không còn thì giờ. Đang thời xuân sắc tôi bận làm, bận ăn chơi, cuộc đời lại có quá nhiều tiểu thuyết Pháp, Anh, Mỹ cho tôi đọc.

Những năm đầu thập niên 1960 trời đất yên bình. Thời tiết Sài Gòn thuần hậu nhất thế giới, quanh năm ấm áp, dễ chịu, dễ thương cả trong những đêm cuối năm trời lạnh nhất. Thời ấy vào khoảng năm, sáu giờ chiều vương tôn, công tử, tiểu thư, mệnh phụ, tay chơi nam nữ Sài Gòn thường đến ngồi ở Ngân Đình Tửu Gia bên sông. Nhà Hàng này có cột cờ do Tây Thực Dân xây lên nên từng được gọi là Cột Cờ Thủ Ngữ. Trước 1954 Tây Đầm Sàigòn là thực khách chính của nhà hàng này nên nhà hàng có tên Tây là Point des Blagueurs — Tụ Điểm của các Tay Đấu Hót — Sau 1956 Tây Đầm xách va-ly về nước, Point des Blagueurs đổi sang tên Việt là Ngân Đình Tửu Gia.

Mai Thảo thường ngồi đây uống rượu, ăn cơm tối. Nhiều văn nghệ sĩ khác cũng hay đến Ngân Đình. Tôi cơm nhà, quà vợ nên chỉ lâu lâu mới đến đấy một tối.

Tối ấy tôi đang ngồi với Mai Thảo ở Ngân Đình, Phan Nghị đến, mang theo tờ nhật báo Đồng Nai mới in có trang trong, tức trang ruột, gọi theo thuật ngữ của làng báo Sàigòn. Nhật báo Sàigòn những năm 60 chỉ có 4 trang, 2 trang trong gồm tiểu thuyết, bài nằm, được in từ chiều hôm trước.

Tôi loaáng thoáng nghe hai ông hỏi đáp nhau:

– Con Chu Chỉ Nhược nó có dùng Ỷ Thiên Kiếm đâm thằng Vô Kỵ không mày?

– Chưa — Phan Nghị trả lời — Nhưng mà coi bộ nó dám đâm lắm ạ.

Tò mò tôi hỏi và được biết hai ông đang bàn tán về truyện võ hiệp Cô Gái Đồ Long của Kim Dung đăng trên báo Đồng Nai. Phan Nghị vừa ghé qua nhà in báo Đồng Nai lấy một tờ trang ruột báo để xem Cô Gái Đồ Long trước thiên hạ một ngày. Ôâng mang tờ báo đó đến cho ông Mai Thảo xem. Tôi không đọc truyện nhưng qua những lời hai ông trao đổi tôi biết láng máng là truyện đang đến hồi gay cấn. Bà Diệt Tuyệt Sư Thái, Chưởng Môn Phái Nga My toàn Thị Phún thất tình đi tu — Nữ Chưởng Môn là người thất tình nặng nhất môn phái. Về võ công Nga My phái cũng sìu sìu ển ển như các môn phái cùng thời thôi, đặc biệt Nga My phái căm thù, cay cú đàn ông, con trai. Thù không những chỉ không đội trời chung mà còn là không ngồi cùng một bàn trong cao lâu, nằm cùng một giường trong khách sạn. Đúng ra thì chỉ có Chưởng Môn Nga My Diệt Tuyệt Sư Thái Thượng Diệt, Hạ Tuyệt mới căm thù đàn ông kịch liệt đến như vậy thôi. Nhiều nữ đệ tử Nga My thơm như múi mít như Kỷ Hiểu Phù, Chu Chỉ Nhược tỏ ra đa tình và thân mật với đàn ông, con trai ra rít.

Diệt Tuyệt Sư Thái thống lãnh đám nữ môn đồ hạ sơn đi lô-ca-chân qua không biết mấy chục ngàn dậm để lên Quang Minh Đỉnh hợp sức với các chính phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Không Động tiêu diệt Ma gíáo. Việc lớn này không thành. Sau đó Diệt Tuyệt Sư Thái đưa các nữ đạo đồng Nga My đi dự một đại hội võ lâm.

Sư Thái Chưởng môn Nga My, cùng tất cả những vị chưởng môn các chính phái võ lâm trung thổ, loạng quạng bị Công Chúa Triệu Minh, và đám cao thủ Mông Nguyên dưới quyền Công Chúa, hạ độc thủ, dùng cái gọi là Nguyễn Cân Tán đánh cho lăn đùng, ngã ngửa, mất hết công lực. Tất cả các vị này đều bị bắt, bị đưa lên tầng cao nhất của tháp Chùa Vạn Pháp. Tháp này cao đến mấy chục tầng. Trong tháp này các vị chưởng môn khả kính của võ lâm Trung Hoa, kể cả Phương Trượng Chùa Thiếu Lâm, Thài Sơn Bắc Đẩu võ lâm thiên hạ, bị cao thủ Mông Cổ lôi cổ ra tấn công bằng những chiêu thức cực kỳ ác liệt. Không đánh lại, không đỡ, không tránh né là chết mà đánh, đỡ, tránh né, tức hóa giải, là kẻ thù học được tuyệt chiêu của môn phái mình. Nhiều vị thà chịu chết chứ không chịu xử dụng tuyệt chiêu.

Em Triệu Minh còn tỏ ra cực kỳ ác độc ở việc ra lệnh đốt tháp cho các cao thủ võ lâm bị kẹt ở tầng tháp trên cùng trở thành chả nướng. Tháp quá cao. Liều mạng nhẩy xuống đất là chết dù người nhẩy có cái gọi là bản lĩnh khinh công mái nhà, đầu tường chỉ cần vỗ đít là nhẩy qua dễ ợt. Ở lại chết cháy, nhẩy xuống chết nát. Chỉ có Giáo Chủ Minh Giáo Trương Vô Kỵ là có thể nhẩy xuống đất mà không hề hấn gì. Vô Kỵ cứu mạng quần hùng bằng cách la lớn bảo các vị, từng vị một, cứ nhẩy xuống, chàng sẽ từ dưới đất nhẩy lên đưa tay đỡ cho các vị từ từ hạ xuống. Vô Kỵ nhẩy lên cao đến nửa chiều cao của tháp.

Bằng cách ấy các vị chưởng môn, phó môn, viên môn xuống đất an toàn. Các vị đạo cô trẻ măng Nga My cũng phải chịu để cho bàn tay của Xú tiểu tử Vô Kỵ — Sìn Foóng dịch là “Tiểu tử hôi thối” — đặt vào chỗ để ngồi của các nàng để nâng các nàng trên đường các nàng rơi xuống. Sự kiện lịch sử này cho ta thấy như vậy là Giáo Chủ Minh Giáo Trương Vô Kỵ đã sờ mông tất cả những đạo cô Nga My Phái.

Nhưng Diệt Tuyệt Sư Thái thì không chịu cho nâng. Bà già giết giặc này cũng nhẩy xuống nhưng khi gập Vô Kỵ nhẩy lên đỡ bà lại thu hết công lực thất tình — thù hận đàn ông đánh một chưởng vào đầu chàng cho chàng chết luôn.

Vô Kỵ chỉ bị choáng váng thôi còn Diệt Tuyệt Sư Thái thượng diệt, hạ tuyệt thì rơi xuống đất nằm một đống. Trong phút ngắc ngoải bà truyền chức chưởng môn và Ỷ Thiên Kiếm cho Chu Chỉ Nhược. Bà bắt Chu Chỉ Nhược phải thề sẽ dùng Ỷ Thiên Kiếm đâm chết tên Vô Kỵ hôi thối. Chu Chỉ Nhược khóc, nhận chức, nhận kiếm và thề sẽ giết Vô Kỵ.

Đó là lý do làm cho buổi tối năm 1960 — đã ba mươi bẩy mùa lá rụng trên những lối mòn mờ dấu chân xưa — ở Nhà Hàng Ngân Đình bên sông Sài Gòn lộng gió Thủ Thiêm, ông Phan Nghị đem trang ruột tờ báo Đồng Nai đến cho Mai Thảo và tôi được nghe hai ông hỏi đáp nhau:

– Con Chu Chỉ Nhược nó có dùng Ỷ Thiên Kiếm đâm thằng Vô Kỵ không mày?

Tôi xía vào chuyện của hai ông:

– Lạ thật. Chúng mày cũng là những thằng viết tiểu thuyết, chúng mày cũng biết cách làm cho người đọc phải theo dõi truyện của chúng mày. Sao chúng mày lại mê đọc truyện của một anh Tầu cũng viết tiểu thuyết như chúng mày là ký gì? Đã đọc mà còn bàn tán nữa??

Mai Thảo chỉ thản nhiên bảo tôi:

– Mày chưa đọc Kim Dung phải không? Đọc đi rồi hãy nói.

Vài tháng sau tôi mới đọc Đồ Long. Truyện càng ngày càng có nhiều người đọc, nhiều người mê. Khi ấy Cô Gái Đồ Long, phần đầu, đã được xuất bản thành sách.

Tôi mua Cô Gái Đồ Long dễ thôi nhưng vì ác cảm với tiểu thuyết võ hiệp Tầu tôi ghé vào tiệm cho mướn sách lấy hai tập đầu về đọc chơi cho biết. Gọi là hai tập nhưng chỉ là Cô Gái Đồ Long Tập 1, nhà cho mướn chia ra làm hai tập, đóng bià lại, cho mướn rẻ tiền cọc.

Tôi đọc và tôi mê luôn. Đồ Long Đao — Ỷ Thiên Kiếm mở màn bằng cuộc tình của Ân Tố Tố — Trương Thúy Sơn. Đây là đoạn gọi là Dẫn Truyện. Theo bố cục của những đại tác phẩm tiểu thuyết người viết Kim Dung cho đôi nhân vật phụ Tố Tố — Thúy Sơn ra sân khấu trước nhân vật chính Trương Vô Kỵ. Kim Dung đúng là dài hơi. Chỉ nội đoạn mở đầu Cuộc Tình Tố Tố — Thúy Sơn cũng đủ dài bằng trọn bộ một truyện võ hiệp hay nhất Bắc Kỳ, nhì Đông Dương của tiểu thuyết gia Giao Chỉ tiền 1945.

Yêu như Ân Tố Tố yêu Trương Thúy Sơn — theo tôi — là tuyệt đỉnh tình yêu. Yêu nhất. Yêu đến không còn ai có thể yêu hơn được nữa. Thù đến như Tạ Tốn thù Thành Khôn là thù nhất, là tuyệt đỉnh của hận thù. Tôi gọi Đồ Long Đao là truyện của Tuyệt Đỉnh Tình Yêu và Thù Hận.

Trước khi nói đến Hận Thù ta hãy nói đến Tình Yêu trong Đồ Long. Nàng là con gái Chưởng môn Ma Giáo, chàng là thiếu hiệp danh môn, chính phái. Trong tiểu thuyết võ hiệp chính và tà luôn luôn xung đột nhau, tiêu diệt nhau. Xung đột chính tà, thiện ác là nguồn gốc sản sinh, là nhựa sống của tiểu thuyết võ hiệp. Cuộc tình Ân Tố Tố — Trương Thúy Sơn có tính cách như cuộc tình Romeo và Juliet. Tôi thấy Tố Tố yêu Thúy Sơn hơn Thúy Sơn yêu Tố Tố. Yêu như Tố Tố mới là tuyệt đỉnh Tình Yêu, sống chết với Tình. Nàng yêu chàng nên nàng đạo diễn cho chàng xuống thuyền cùng nàng đi ra Vương Bàn Sơn dự hội Dương Đao Lập Oai: Bạch Mi Giáo đoạt được đao Đồ Long từ tay Dư Đại Nham Võ Đang, đem ra đảo Vương Bàn Sơn ngoài biển đông làm lễ dương đao lập oai với võ lâm, báo cho võ lâm biết Bạch Mi Giáo làm chủ đao Đồ Long — Đoạn này Kim Dung viết hơi yếu: Đại Hội Dương Đao Lập Oai mà tân khách đại biểu các môn phái đến dự chỉ là mấy chú tiểu hiệp cắc ké kỳ nhông. Tôi chắc Kim Dung cũng biết sự kiện này hơi yếu song ông đành phải để. Bởi vì nếu cho Bạch Mi Giáo Chủ Ân Thiên Chính hay Thanh Dực Bức Vương Bạch Mi Giáo đến chủ trì đại hội thì Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn không thể xuất hiện, đoạt đao, kể tội, giết người, bắt người khơi khơi dễ dàng như thế được.

Tố Tố chỉ đưa Thúy Sơn ra đảo để nàng được gần chàng. Nàng không ngờ — định mệnh an bài — biến cố xẩy ra, Tạ Tốn bắt nàng và Thúy Sơn xuống thuyền đi lên biển bắc.

Và thế là cuộc phiêu lưu tuyệt kỳ đưa nàng và chàng vào Tình Yêu. Sau lần ân ái đầu tiên nằm ôm nhau trong khoang thuyền lênh đênh trên biển lớn, nàng nói:

– Anh yêu.. Em muốn ở nhân gian, trên tiên cảnh, dưới địa ngục… lúc nào đôi ta cũng gần nhau..

Và chàng nói:

– Anh cũng muốn nói với em một câu như thế…

Thuyền gập bão, vỡ, đắm. Trong đêm tối ba người nhẩy lên băng sơn, trôi giạt vào Băng Hoả Đảo. Họ sống trên đảo đến mười năm. Tạ Tốn, bị Tố Tố bắn độc châm mù hai mắt, ngày ngày ngồi suy nghĩ về sự bí mật của đao Đồ Long:

Đồ Long bảo đao
Võ lâm chí tôn
Hiệu lệnh thiên hạ
Mặc cảm bất tòng.
Ỷ Thiên bất xuất
Thùy dữ tranh phong…

Tạ Tốn nổi điên, làm cuộc “tấn công tình dục” Tố Tố. Nói dễ hiểu là Tạ Tốn hiếp dâm Tố Tố. Kỳ quá. Kim Mao Sư Vương Đại hiệp mà lại đi hiếp dâm? Đại hiệp mần ký gì cũng được nhưng Đại hiệp hiếp dâm đàn bà là hổng có được. Người đời không chấp nhận Đại hiệp làm cái việc tồi bại ấy. Bất cứ tên đàn ông nào trên cõi đời này cũng có thể can tội hiếp dâm nhưng Đại hiệp là hổng có thể. Đã là Đại hiệp là không hiếp dâm. Đã hiếp dâm thì không phải là Đại hiệp.

Về chuyện Tạ Đại hiệp hiếp dâm Ân phu nhân một ông đàn anh văn nghệ của tôi năm xưa nói với tôi khi chúng tôi ở bên bàn thờ Phù Dung Tiên nữ:

– Cậu biết tại sao Tạ Tốn lại bắt Tố Tố với Thúy Sơn lên thuyền đi lên Bắc Hải không? Tại vì Đại hiệp yêu em trinh nữ Tố Tố. Đại hiệp yêu em nhưng Đại hiệp là.. Đại hiệp, đại hiệp không thể mở miệng bầy tỏ tình yêu như bọn đàn ông tầm thường. Đại hiệp không thể vồ em được vì danh vọng, vì địa vị, vì tuổi tác của Đại hiệp. Nhưng yêu em, muốn em thì Đại hiệp vẫn cứ yêu, cứ muốn. Vì yêu nên Tạ Tốn bắt Tố Tố đi theo. Bắt Tố Tố một mình lên thuyền thì âm mưu lộ liễu qua, Tạ Tốn bắt luôn Thúy Sơn cùng đi. Trên Băng Hoả Đảo tình yêu bị dồn nén làm Đại hiệp phát điên, Đại hiệp chịu không nổi, Đại hiệp hiếp em…

Tiếng khóc của Vô Kỵ khi lọt lòng mẹ làm Tạ Tốn tỉnh cơn điên. Đại hiệp trở lại là Đại hiệp. Chính Tạ Tốn là người quyết định cho Vô Kỵ trở về đất liền:

–Vợ chồng hiền muội và ngu huynh có thể sống suốt đời trên đảo hoang này–Tạ Tốn nói với Tố Tố, Thúy Sơn — nhưng chúng ta không thể để cho thằng Vô Kỵ sống mãi ở đây. Phải đưa nó về trung thổ, cho nó sống với mọi người, sống như mọi người…

Tuy mù Tạ Tốn vẫn biết được hướng gió. Họ đóng bè, đợi mùa gió thổi về nam là thả bè theo gió về đất liền. Khi vợ chồng Thúy Sơn ôm Vô Kỵ xuống bè, Tạ Tốn cắt dây cho bè trôi còn mình ở lại. Đến đây Kim Dung quên mất con Bạch Diện Hỏa Hầu.

Khi lên Băng Hoả Đảo họ bắt và thuần phục được con vượn mặt trắng được gọi là con Bạch Diện Hoả Hầu. Con vượn này không sợ lửa, có sức khoẻ đánh vỡ sọ gấu rừng. Tạ Tốn dậy nó võ công, cho nó bảo vệ Vô Kỵ. Bạch Diện Hoả Hầu cùng xuống bè với Vô Kỵ. Khi bè Thúy Sơn gập thuyền và được vớt, thuyền về đến đất liền, ghé bến, mọi người lên chợ bến mua đồ, Vô Kỵ lên chợ chơi và bị đám Cái Bang bắt đi, không thấy con Bạch Diện Hỏa Hầu gác-đờ-co đâu cả. Nếu có con Bạch Diện Hoả Hầu bên cạnh Vô Kỵ, sức mấy đám Cái Bang bắt cóc được Vô Kỵ một cách quá dễ dàng như thế. Nghe nói có người nhắc Kim Dung mới nhớ nên cả tuần sau người đọc mới thấy hai dòng ngắn về chuyện con Bạch Diện Hoả Hầu đột nhiên mất tích: bè trôi về nam, con Hoả Hầu chịu … nóng không nổi, nhẩy lên một băng sơn trôi trở về biển bắc..!

Trước khi về đến đất liền, trước khi Vô Kỵ bị bắt cóc, bè Thúy Sơn gập thuyền Võ Đang của Dư Liên Châu, người thứ hai trong Võ Đang thất hiệp. Khi nghe Dư Liên Châu nói:

–Hiền đệ hãy để hiền muội cùng cháu nhỏ về Bạch Mi giáo, còn hiền đệ theo ta về Võ Đang thưa chuyện với Sư phụ.

Thúy Sơn đã định nói: “Thưa vâng..” Chàng nhìn Tố Tố, thấy nàng ngước mắt nhìn lên trời, rồi nhìn chàng và nhìn xuống đất. Chàng nhớ lời hẹn hò trên thuyền tình năm xưa:

– Ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục lúc nào đôi ta cũng gần nhau…

Gia đình, rõ hơn là vợ chồng, chia rẽ, xa nhau rất dễ, rất mau nhưng vợ chồng đoàn tụ lại rất là nhiêu khê, khó khăn, tốn nhiều thì giờ, giấy tờ, tiền bạc. Đó là quy luật. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, quy luật gia đình chia rẽ dễ, đoàn tụ khó không bao giớ thay đổi. Ân Tố Tố đa tình, thông minh, biết ngay ý đồ Dư Liên Châu định chia rẽ vợ chồng nàng. Thúy Sơn lấy nàng không xin phép Sư phụ Trương Tam Phong, Chưởng Môn kiêm Tổ Sư Sáng Lập Võ Đang. Nàng là con gái Chưởng Môn Tà giáo Bạch Mi nổi tiếng ác ôn. Sức mấy Trương Tam Phong chịu cho đệ tử yêu kết hôn với con gái Ma giáo. Chỉ cần ôâng tuyên bố lửng lơ con cá vàng một câu nghe rất có vẻ vô thưởng, vô phạt như: “Để đấy ta xét sau..” là có sớm lắm cũng mười, mười lăm muà lá rụng may ra nàng mới được đoàn tụ với chồng.

May quá anh chàng Trương Thúy Sơn khù khờ còn nhớ lời hẹn ước. Chàng xin cho vợ con cùng chàng về núi Võ Đang. Và thế là đôi người yêu nhau nhất Đồ Long Đao Ký ấy cùng chết bên nhau trên núi Võ Đang.

Thúy Sơn tự sát vì hai nguyên nhân:

– Tố Tố đoạt đao Đồ Long làm cho Dư Đại Nham, Tam Ca của chàng, bại liệt nằm chờ chết.

– Quần hùng ép chàng phải tiết lộ chỗ ở của Kim Mao Sư Vương.

Thúy Sơn tự sát bằng kiếm, Tố Tố tự tử bằng dao. Trước khi chết nàng còn đánh đòn “di họa Giang đông” làm cho mấy ông Sư Chùa Thiếu Lâm vất vả, tả tơi mà không ăn cái giải gì. Khi hấp hối nàng ra hiệu cho Sư ông. Sư ông tưởng bở, nghĩ rằng nàng rỉ tai cho riêng mình biết chỗ ở của Kim Mao Sư Vương bèn vội vàng ghé tai gần miệng nàng. Sư ông chỉ được nghe người đàn bà sắp chết thều thào nói một câu vớ vẩn chẳng có nghĩa gì cả. Rồi nàng tắt thở và thế là Sư ông bị quần hùng cho là được nghe tiết lộ địa chỉ của Kim Mao Sư Vương. Cho là nhà chùa khoảnh, giữ bí mật để độc quyền đi giết Kim Mao Sư Vương, quần hùng kéo nhau đến Thiếu Lâm Tự đòi nhà chùa phải chia xẻ bí mật. Tạ Tốn giết người của họ, họ đòi được biết Tạ Tốn đang ẩn nấp nơi đâu để đến trả thù.

Trước khi chết Ân Tố Tố dặn con trai một câu xanh rờn:

– Con hãy đề phòng những người đàn bà đẹp. Đàn bà càng đẹp chừng nào càng lừa dối đàn ông nhiều chừng ấy. Như mẹ lừa dối cha con đấy…

Tố Tố — Thúy Sơn chết, Trương Vô Kỵ Vai Chính bắt đầu ngự trị độc quyền trên sân khấu Đồ Long. Tất cả sự kiện Đồ Long đều xẩy ra quanh nhân vật chính Vô Kỵ. Đồ Long chỉ có một nhân vật chính là Vô Kỵ, khác vóùi Thiên Long có năm nhân vật chính : Kiều Phong, Đoàn Dự, Mộ Dung Phục, Hư Trúc, Du Thản Chi.

Tôi gọi Đồ Long là truyện của Tuyệt Đỉnh Tình Yêu và Thù Hận, tôi cũng gọi Đồ Long là truyện của Những Người Không Giữ Lời Thề.

Khi thấy bố mẹ chết thê thảm, chú nhóc Vô Kỵ, lúc ấy mới bẩy, tám tuổi, rút con dao cắm ở ngực mẹ — chú run lẩy bẩy, mặt chú xanh lè vì chú trúng độc chưởng quá nặng và chú quá xúc cảm — chú cầm dao, mắt rực lửa nhìn mặt quần hùng. Chú nói trước khi ngã ra chết ngất:

– Những người này bức tử cha mẹ ta. Mai sau ta sẽ bắt họ phải đền tội!

Đến đây nhiều người đọc nghĩ Đồ Long-Ỷ Thiên sẽ lại là một truyện trả thù. Như truyện Đơn kiếm diệt quần ma nghe nói cũng của Kim Dung viết trước đó, chú nhóc Vô Kỵ lớn lên, học được võ công kinh người, sẽ đi giết người la liệt để trả thù.

Vô Kỵ thấy cha mẹ chết thảm trước mặt, chú thề sẽ trả thù cho cha mẹ. nhưng mười mấy năm sau khi trở thành Giáo chủ Minh giáo, có võ công lệch đất, nghiêng trời, chú quên béng thù xưa. Khi Giáo chủ lên núi Võ Đang, dùng Càn Khôn Đại Nã Di chữa thương cho Dư sư bá, Kim Dung đã không viết hai dòng cho Giáo chủ ra nghĩa trang sau núi thăm mộ bố mẹ. Vô Kỵ cũng quên béng lời Mẹ chú dặn lúc lâm chung: “Con phải đề phòng những người đàn bà đẹp..!” Chuyện xẩy ra cho ta thấy không những chú không đề phòng, chú còn chơi xả láng với nhừng người đàn bà đẹp.

Người quên lời thề, hay lời hưá cũng rứa, thứ hai trong Đồ Long là Em Chu Chỉ Nhược. Em hứa với Sư phụ em sẽ giết Xú tiểu tử Vô Kỵ nhưng khi Vô Kỵ chịu đưa ngực ra cho em “xử lý, giải quyết” — nói theo ngôn ngữ Bắc Việt Cộng — “thanh toán” — nói theo ngôn ngữ Việt Nam Cộng Hoà — Em chỉ đẩy nhẹ thanh Ỷ Thiên là cuộc đời ái tình và sự nghiệp của Giáo Chủ Minh Giáo kiêm Âm Giáo đi đời nhà ma, nhưng em đã không đẩy. Nói cho đúng em có đẩy nhưng em cố tình đẩy trật, em chỉ làm cho Giáo Chủ bị thương, không làm Giáo Chủ chết.

Bạn có thể bào chữa cho Chu Chỉ Nhược: “Nàng không giết nó vì nàng yêu nó. Yêu nó thì nàm thao đâm nó lòi phèo ra được? Yêu thì tội gì cũng tha thứ được, huống chi nó có tội chăng là có tội với Sư phụ sắt máu cuả nàng, nó có làm gì nên tội mí nàng đâu. Hai nữa thề là một chuyện, giữ lời thề hay không là chuyện hoàn toàn khác. Trên cõi đời này thiếu giống gì người không giữ lời thề..” Đồng ý. Tôi chỉ nói nàng hưá nàng mần mà rồi nàng hổng mần thôi, tôi hổng nói đến lý do, nguyên nhân làm cho nàng hổng mần.

Người quên lời thề thứ ba trong Đồ Long là Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn. Sư Vương thù hận Thành Khôn đến cốt tủy. Vì thù hận Sư Vương giết oan không biết bao nhiêu người, nhưng khi có điều kiện trả được thù Sư Vương lại lửng lơ con cá tai tượng, chỉ đánh mù mắt Thành Khôn rồi thôi…

Chu Chỉ Nhược, Tiểu Siêu, Triệu Minh.. ba người đẹp Thiên Long cùng yêu Trương Vô Kỵ. Ba người đẹp với ba Tình Yêu khác nhau. Triệu Minh, Quận Chúa Mông Nguyên, trở thành vợ Vô Kỵ. Chu Chỉ Nhược, Tiểu Siêu yêu và đau khổ. Tình Yêu của Tiểu Siêu ly kỳ, độc đáo tuyệt vời…

Tiểu Siêu là Thánh Nữ Bái Hoả Gíáo Ba Tư, nàng là con gái Bà Đại Ỷ Ty — Diety — và nàng sẽ là Đại Ỷ Ty của Bái Hoả Giáo. Theo truyền thống trước khi lên ngôi Đại Ỷ Ty nàng phải lập một công trạng. Nàng giả dạng thường dân sâm nhập Quang Minh Đỉnh, Tổng đàn Minh Giáo để lấy bí kíp võ công của Minh Giáo. Vô Kỵ gập nàng trong hầm đá trên Quang Minh Đỉnh. Đôi người trẻ tuổi sống với nhau cả năm trời trong hầm đá suốt thời gian Vô Kỵ luyện Càn Khôn Đại Nã Di.

Khi Vô Kỵ lọt xuống hầm đá tảng đá lớn tự động đóng kín cửa hầm, người trong hầm phải tự sức đẩy tảng đá để đi ra. Muốn có sức đẩy được tảng đá người trong hầm phải có công lực Càn Khôn Đại Nã Di. Giáo chủ Minh Giáo vào hầm luyện Càn Khôn Đại Nã Di tâm pháp nhưng không thành công, Vô Kỵ tìm thấy xác vị Giáo chủ tiền nhiệm chết ngồi trước bí kíp Càn Khôn Đại Nã Di Tâm Pháp. Vô Kỵ luyện và thành công. Có công lực Càn Khôn Đại Nã Di chàng trở thành Giáo chủ Minh giáo.

Ra khỏi hầm bí mật, Tiểu Siêu vẫn theo hầu Vô Kỵ. Nàng giữ kín thân thế Thánh Nữ Bái Hoả giáo của nàng. Nàng yêu Vô Kỵ nhưng bà Đại Ỷ Ty, mẹ nàng, đến đón nàng về Ba Tư làm Thánh Nữ. Khi chia tay Tiểu Siêu khóc, nói với Vô Kỵ:

– Em chỉ muốn suốt đời được hầu hạ Công tử, giặt ủi sà-lỏn cho Công Tử, đun nước hầu Công tử tắm, kỳ lưng cho Công tử.. Khi nào Công tử có khách em nằm dưới bếp. Lâu lâu Công tử rảnh rỗi, Công tử gọi em…

Yêu như Tiểu Siêu mới thật là yêu. Yêu mà không đòi hỏi Công tử phải yêu lại, Công tử bằng lòng cho hầu hạ, lâu lâu Công tử dùng đến là em hài lòng. Nếu em là con nhà dân dã em yêu khiêm tốn như thế ta chẳng nói làm gì, nhưng Tiểu Siêu là Thánh nữ. Thánh nữ mà yêu như thế mới lạ kỳ. Tiểu Siêu là Thánh nữ Bái Hỏa giáo Ba Tư mà cũng là Thánh nữ các em Mari Sến Sàigòn tiền 1965. Sau 1965 giới Mari Sến biến mất ở Sàigòn. Đa số các em trở thành Me Mỹ.

Nón cối, giép râu vào Sài Gòn…
Anh hùng uổng tử, tiểu nhân vong…

Việt Nam Cộng Hoà tan hàng, sập tiệm, đầu hàng.. Anh hùng chết mà tiểu nhân cũng chết vì Việt Cộng…

Việt Cộng nó bắt hết, nó bỏ tù hết. Và thế là bao nhiêu công lao cùng những cái gọi là ân oán giang hồ của anh em ta đi đoong. Tất cả đều tù tội, đều chết dần, chết mòn trong những thạch lao, xi măng lao, dây thép gai lao…

Công Tử Hà Đông ngẩn ngơ giữa một rừng cờ đỏ, sống đìu hiu giữa bốn khoảnh tường nhà khi nó chưa cho Công tử dzô số 4 Phan Đăng Lưu, buồn phiền nhớ lại những cuộc tình xưa trong Đ Long đao — Ỷ Thiên kiếm, bèn mần thơ vịnh. Thơ rằng:

HOÀI NIỆM ĐỒ LONG BẢO ĐAO

Lôi Phong Tích Lịch Thủ…
Càn Khôn Đại Nã Di…
Cắm Dùng cha đẻ Trương Vô Kỵ,
Sìn Foóng con nuôi Đại Ỷ Ty..!

Thương về đâu, nhớ về đâu..?
Chuyện xưa nhớ lại trong đầu ngẩn ngơ.
Rõ ràng mở mắt còn ngờ
Mười lăm năm ấy bây giờ là đâu?

Quang Minh đỉnh thượng Dương Tiêu mộng.
Băng Đảo sơn trung Tạ Tốn sầu.
Nhuyễn cân tán độc, quần anh tịch.
Diệt Tuyệt bi ai vũ hạ lầu.
Thiếu Lâm môn tỏa thành âm hộ.
Tam Phong tẩu hoả nhập ma đầu.
Tiểu Siêu bảo lãnh Trương Vô Kỵ.
Triệu Minh thí mạng tẩu hồi Tầu.

Chân kinh lại dấu trong dầu.
Đồ Long gẫy cán để rầu Ỷ Thiên.
Thạch Lao Tạ Tốn nằm yên,
Sư Tử hống, Thất Thương quyền, để đâu?
Tóc xanh Chỉ Nhược phai mầu,
Cửu Âm Trảo để gãi sầu hôm mai.
Thiếu Lâm cửa đóng, then cài,
Thuyền từ Phương trượng tính bài vượt biên.
Não nùng Hồ Điệp Y Tiên
Động hoa tàn, bướm ưu phiền không bay.
Đại Ỷ Ty sống qua ngày,
Chợ Trời Thánh Hoả Lệnh bầy bán son.
Tiểu Siêu nghĩa nặng nghìn non,
Ba Tư thùng lớn, thùng con gửi về.

Thiên Thù Tuyệt Hộ thủ… âm hộ.
Cửu Âm Bạch Cốt Trảo.. kỳ âm.
Càn Khôn Đại Nã Di… tinh mộng.
Tích Lịch Lôi Phong Thủ… phạm dâm.
Quần hùng thằng ngọng, thằng câm,
Thằng nói không được, thằng thầm kêu cay.
Mút mùa Giáo chủ đi đầy
Mơ ngày về vẽ lông mày? Còn khuya!

Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ… Tên những bộ tiểu thuyết nhất, nhì, ba của Kim Dung đều giữ nguyên tên Hán Việt. Tại sao Đồ Long đao–Ỷ Thiên kiếm lại có cái tên quê năm bẩy cục, không giống ai là Cô Gái Đồ Long?

Trong toàn bộ Cô Gái Đồ Long ta không thấy nữ nhân vật nào tên là Đồ Long cả.

Sìn Foóng là anh Tiền Phong, người Việt lai Hoa, sinh trưởng ở Bắc Việt. Anh từng tham gia diễn kịch ở Hà Nội trước năm 1954, là người dịch Kim Dung đầu tiên ở Sài Gòn, anh có bút hiệu thứ hai là Từ Khánh Phụng.

Anh Tiền Phong nói về cái tên Cô Gái Đồ Long:

– Chủ báo Đồng Nai Huỳnh Thành Vị nói tên tiểu thuyết mà đao kiếm không thôi nghe không hấp dẫn. Nên có tên phụ nữ, ái tình ân thù chi đó nghe cho mùi mẫn. Tôi lấy đại cái tên Cô Gái Đồ Long!

Sìn Foóng dịch tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung bên bàn đèn á phiện. Kim Dung viết truyện theo kiểu làng báo Sài Gòn gọi theo các đàn anh Phú Lang Sa là phơi-ơ-tông–feuilleton– truyện viết mỗi ngày, viết đủ đăng trong ngày là ngừng, mai viết tiếp. Truyện Kim Dung đăng mỗi ngày trên nhật báo HongKong, phi cơ Hàng Không Việt Nam mang báo HongKong về Sài Gòn. Sìn Foóng cho con lên phi trường Tân Sơn Nhất đón phi cơ về lấy báo, anh nằm hút và dịch Kim Dung bằng miệng cho một ông bạn của anh đánh máy chữ. Ông bạn này sau đó đem bài đi giao cho các báo bằng xe đạp, ông cũng là lính của Cô Ba Phù Dung. Trong căn gác nhỏ ở Tân Định anh Tiền Phong nằm một bàn đọi trên đi-văng, ông bạn anh nằm một pờ-la-ti dưới sàn gác. Hai vị cùng đong. Vì vậy văn của anh Tiền Phong là lối văn nói. Anh đọc chứ không tự viết xuống giấy. Loại văn nói có vài điểm khác với văn viết. Anh có mấy câu riêng như “thổ ra một búng máu tươi, rú lên một tiếng thanh thoát..” Anh để lại trong ngôn ngữ của chúng ta mấy tiếng mới như “rửa tay, gác kiếm, mưa máu, gió tanh..”

Hai cây đong Bắc Việt–Dịch giả Tiền Phong Từ Khánh Phụng và ông bạn thư ký của anh — đã ra người thiên cổ từ lâu.

***

– Ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục.. em muốn lúc nào đôi ta cũng gần nhau…

Một câu biểu lộ Tình Yêu tuyệt hay của Kim Dung. Khi cho Tố Tố, Thúy Sơn hứa hẹn sống chết với nhau, không bao giờ xa nhau, trên hải thuyền trong đêm chàng và nàng mới yêu nhau Kim Dung đã tính trước: mười năm sau sẽ cho Tố Tố–Thúy Sơn nhắc lại với nhau lời cam kết này.

Trong sáu năm tù lần thứ hai của tôi — từ 1984 đến 1989 — tôi sống chung một phòng tù với Tu sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát đến năm năm. Sau một lần tôi kể chuyện Đồ Long, Trí Siêu bảo tôi:

– Tôi không đọc truyện nhưng tôi biết Hân Tố Tố là sai. Tầu không có họ Hân. Chắc là họ Ân… Ân Tố Tố. Không phải Hân Tố Tố.

Lôi Phong Tích Lịch Thủ
Càn Khôn Đại Nã Di…
Cắn Dùng cha đẻ Trương Vô Kỵ.
Sìn Foóng con nuôi Đại Ỷ Ty..

… là thơ Vũ Hoàng Chương. Anh Chương làm bài thơ này đang trên nhật báo Ngày Nay năm 1984. Cắm Dùng phiên âm tên Kim Dung. Năm 1964 nhật báo Ngày Nay do anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt làm chủ nhiệm, anh Vũ Khắc Khoan chủ bút, anh Trần Việt Sơn Thư ký tòa soạn. Bốn anh tôi vừa kể trên đây nay đều đã khuất bóng.

Bọn Cán Cộng Văn nghệ thù ghét truyện võ hiệp Sài Gòn. Không có chi lạ. Mấy ảnh thù ghét tất cả những gì văn nghệ, văn gừng ở Sài Gòn. Mấy ảnh lên án truyện võ hiệp là “xa rời thực tại”. Mấy ảnh kỵ nhất truyện Kim Dung vì mấy ảnh cho là Kim Dung “trộn lẫn chính tà”. Mấy ảnh tự nhận mấy ảnh là “chính”. Kim Dung diễn tả phe chính cũng có những mặt xấu, người xấu. Mấy ảnh cho như thế là Kim Dung “bôi lọ” mấy ảnh..! Nghe nói trong mấy năm đầu sau 1975 có người Sài Gòn bị án tù cả mười năm trời vì tội định in lại tiểu thuyết Kim Dung để bán.

Việt Cộng cấm lưu hành, tịch thu, tiêu hủy tất cả sách truyện Việt Nam Cộng Hoà, nhưng những anh chị Con Trai, Con Dâu Bà Cả Đọi Bắc Kỳ 75 khi vào được Sài Gòn lại líu tíu tìm mua truyện võ hiệp đem về miền Bắc xã hội chủ nghĩa cho thuê. Vật đổi, sao rời.. Đến những năm 1990 người ta thấy có chuyện ruồi bâu, kiến đậu: tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung vẫn bị cấm, những phim video HoóngKỏng, TàiOăn thực hiện theo tiểu thuyết Kim Dung được cơ quan nhập phim ảnh Nhà nước XHCN quảng cáo trên màn ảnh TiVi, chiếu và mua bán công khai, thoải mái.

Năm 1984 Tầu Cộng mời Giáo sư Kim Dung đến nói chuyện với sinh viên Đại học Bắc Kinh. Các tạp chí văn nghệ Tầu Cộng đăng tường thuật, phỏng vấn, ca tụng thiên tài tiểu thuyết Kim Dung, bàn loạn về tư tưởng Phật giáo trong tiểu thuyết Kim Dung vv Các báo Việt Cộng tranh nhau dịch, đăng lại những bài báo Tầu Cộng ca ngợi Kim Dung, tác giả từng bị họ mạt sát vung xích chó…

Tôi viết những dòng này ở Rừng Phong, Arlington, Virginia của Những Người Yêu, một ngày tuyết trắng trời, trắng đất, trắng những cành phong trụi lá. Tôi bồi hồi tưởng nhớ tuổi xuân xưa — những năm 1960 cuộc đời tôi rất đẹp ở Sài Gòn — nhớ những người bạn cùng tôi vui sống những tháng năm vàng son ấy, nhiều bạn nay không còn nữa.

Tôi nhớ Thanh Nam và Túy Hồng. Bọn tôi đã nhớ truyện Kim Dung nhưng chúng tôi thua hết chị Túy Hồng. Như việc nhớ xước hiệu của bốn cao thủ Tứ Ác trong Thiên Long Bát Bộ. Không biết tại sao bọn tôi giống nhau ở điểm tên nào cũng quên xước hiệu của Ác Quái thứ ba trong Tứ Ác: Ác quán mãn doanh Đoàn diên Khánh, Vô Ác bất tác Diệp nhị nương — không nhớ xước hiệu của Nam Hải Ngạc Thần — đến Cùng Hung cực Ác Vân Trung Hạc thì lại nhớ.

Tôi nhớ Đinh Hùng. Ba mươi năm xưa anh nói với tôi:

–Các cậu đọc Kim Dung, các cậu ca tụng Băng Hoả Đảo. Các cậu cóc biết là trước Kim Dung xa tôi đã viết về một hòn đảo y như thế trong Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu..

Những năm 1955, 1956 Đinh Hùng viết hai tiểu thuyết Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu, Người Đao phủ Thành Đại La đăng trên các nhật báo Tự Do, Ngôn Luận. Sau 1986 hai tiểu thuyết trên đều được tái bản ở Thành Hồ. Thi sĩ Đinh Hùng mất năm 1966, chị Hùng cũng đã từ trần. Anh chị có một cháu trai Đinh Ngọc, một cháu gái Đinh Hương, hiện sống ở Thành Hồ.

***

Những cuộc hỏi ý kiến độc giả của những tạp chí HongKong, Đài Loan cho thấy người Hoa hải ngoại không đọc Kim Dung nhiều bằng họ đọc các tác giả tiểu thuyết võ hiệp Cổ Long, Ngọa Long Sinh. Với độc giả Sài Gòn thì Kim Dung là nhất. Ngôn ngữ tiểu thuyết Kim Dung từng một thời được nói đến ở Sài Gòn: đi một đường tiếu ngạo, đi tiếu ngạo giang hồ, tẩu hoả nhập ma, cấy Sinh Tử Phù, rửa tay, gác kiếm, mưa máu, gió tanh, ân oán giang hồ, võ công Ba Tư quái dị…

Và Tết đến.. Bạn ta còn nhớ chứ? Những ngày Tết 1965-1970 chúng ta nghe trẻ em trong những xóm nghèo Sàigòn Ta hồn nhiên hát:

– Có cô gái Đồ Long lắc bầu cua…
Lắc mấy cái ra mấy con gà mái…

***

Mơ ngày về vẽ lông mày…

Minh Giáo được lập ra với mục đích “Kháng Nguyên, phục Tống”, hoặc Phục quốc. Trương Vô Kỵ khi nhận chức Giáo chủ Minh Giáo tất phải thề sẽ lãnh đạo giáo chúng đánh đuổi quân Nguyên, khôi phục giang sơn. Thế nhưng Giáo chủ lại trở thành Phò Mã nhà Nguyên, an phận làm chồng em Công chúa Triệu Minh đa tình thơm như múi mít. Những trang cuối của Ỷ Thiên–Đồ Long cho người đọc thấy — sau cơn mưa máu, gió tanh, trời lại sáng — cảnh vợ chồng vương giả êm đềm trong phòng the nhung luạ, Công chuá hỏi Phò Mã bi giờ Phò Mã muốn gì, Phó Mã trả lời:

– Chẳng muốn gì sất cả.. Chỉ muốn sáng sáng vẽ lông mày cho Ái khanh…

Ngày xưa Tiền bối Khái Hưng viết về cuộc tình Phạm Thái-Trương Quỳnh Như trong tiểu thuyết Tiêu Sơn Tráng sĩ có hạ bút than một câu xanh rờn:

– Chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy đôi mắt của giai nhân…

Năm mươi mùa lá rụng sau ông Khái Hưng Hồn Bướm Mơ Tiên, nhân hoài niệm Đồ Long Bảo Đao hành động của Trương Vô Kỵ quên nhiệm vụ, quên lời thề làm kẻ viết bài này phải thở hắt ra:

– Than ôi.. Chí lớn trong Võ Miệng không làm uớt nổi đôi lông mày của đàn bà đẹp…

Câu nói “chỉ muốn sáng sáng vẽ lông mày cho Ái khanh” nặng trĩu tính chất “cơm nhà, quà vợ” như dzậy mà cũng đi vào văn học sử Tầu, trở thành bất tử. Ít nhất câu đó cũng đã bất tử trong cả ngàn năm.. Bất cứ anh Cơm Nhà, Quà Vợ ở cõi đời nào cũng có thể nói được câu “Sáng sáng vẽ lông mày cho Ái Khanh”, riêng những anh Vô Kỵ Giao Chỉ Hậu Ba Mươi Tháng Tư Đen hơn mõm chó mực ở Thành Hồ là nói hổng được. Mấy ảnh đi tù mút muà, “Ái khanh” của mấy ảnh một là đi một đường vượt biên sang Mẽo lấy chồng khác, hai là lập lại cuộc đời với Cán Cộng. Mấy ảnh mơ ngày về vẽ lông mày cho Ái khanh ư? Còn lâu. Sức mấy!

Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu

Những năm 1965, 1966, thời cực thịnh của Tiểu Thuyết Kim Dung ở Sài Gòn, anh Đinh Hùng nói với tôi:

- Các cậu đọc truyện Kim Dung, các cậu ca tụng Băng Hỏa Đảo, các cậu không biết tôi đã từng viết một cái đảo như thế trong Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu.

kynugoonkhau.jpg
Những ngày như lá, tháng như mây.. Năm xưa 1965, 1966.. Năm nay 2007.. Tôi vẫn nhớ câu nói của anh Hùng trong một chiều xanh ở Sài Gòn xưa. Thực ra trong bao nhiêu năm chẳng bao giờ tôi bị thắc mắc nhiều vì câu nói của anh Hùng. Không biết vì sao trong mấy tháng nay, sống cô liêu ở xứ người, tôi nhớ câu nói tôi nghe từ gần 50 năm trước, lời anh Đinh Hùng nói về chuyện anh từng viết về một hải đảo trong tiểu thuyết Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu của anh như Băng Hỏa Đảo trong tiểu thuyết Đồ Long Đao Ỷ Thiên Kiếm của Kim Dung. Năm xưa khi nghe ông đàn anh văn nghệ nói thế, tôi có đôi chút áy náy vì tôi đã không đọc truyện của anh, nhưng mặc cảm ấy chỉ thoáng qua, tôi quên ngay.

Như đã viết, năm nay, qua bao nhiêu mùa lá rụng, bao nhiêu dâu biển, sống buồn ở xứ người, lòng nhớ những chuyện xưa, không biết vì sao, câu nói của anh Đinh Hùng trở lại với tôi, ray rứt tôi: tôi đã có lỗi vì tôi không đọc Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu, tôi thấy nay tôi phải đọc Kỳ Nữ Gò Ôn Kháu xem cái hải đảo do anh Đinh Hùng sáng tạo trong đó nó ra sao.

Những năm 1955, 1956 Đinh Hùng giữ mục Thơ Trào Phúng Đàn Ngang Cung trên nhật báo Tự Do, làm thơ khôi hài anh ký tên Thần Đăng – Thần Đèn – anh viết tiểu thuyết cho Tự Do,ký tên Hoài Điệp Thứ Lang, trước sau hai truyện Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu, Người Đao Phủ Thành Đại La. Đăng xong trên báo, hai truyện được Nhà Nguyễn Đình Vượng – Nguyệt san VĂN – xuất bản khoảng năm 1957. 1958. Năm xưa tôi không đọc cả hai truyện ấy, truyện đăng báo tôi không đọc, truyện in thành sách tôi cũng không đọc.

Năm 2007, ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi tìm đọc truyện Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu để xem đàn anh Đinh Hùng của tôi viết những gì về hải đảo tiểu thuyết của anh, hải đảo anh nói là giống như Băng Hỏa Đảo của Kim Dung, nhưng theo lời anh nói, anh đã viết trước Kim Dung 10 năm.

Những năm 1990, hai tiểu thuyết Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu, Người Đao Phủ Thành Đại La của Đinh Hùng được tái bản ở Sài Gòn. Hai truyện được bán trong một nhà sách Việt ở Cali. Tôi gửi mua Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu.

Tôi kể về Băng Hỏa Đảo Kim Dung trước. Tôi kể chuyện theo trí nhớ của tôi, tôi đọc Đồ Long – Ỷ Thiên một lần, chỉ một lần, năm 1962. Đây là những gì tôi nhớ:

Sân khấu Đồ Long Đao mở với cuộc tình của Trương Thúy Sơn – Ân Tố Tố. Trên đường hành hiệp giang hồ, Dư Đại Nham, một trong bẩy hiệp sĩ của phái Võ Đang – Võ Đang Thất Hịệp – tình cờ gặp cây đao Đồ Long, một bảo đao mà giới võ lâm thời ấy đồn là chìa khoá mở một bí kíp, ai có bí kíp đó có thể làm bá chủ võ lâm:

Đồ Long bảo đao
Võ lâm chí tôn
Hiệu lệnh thiên hạ
Thùy cảm bất tòng

Bảo đao Đồ Long, vật quí nhất trong võ lâm. Có đao, ra lệnh cho mọi người, ai dám không tuân theo…

Dư Đại Nham lấy được đao Đồ Long nhưng ngay sau đó chàng bị bọn muốn chiếm bảo đao ám toán, chàng bị trọng thương, được đưa về núi Võ Đang, chàng không chết nhưng nằm liệt. Trương Thúy Sơn, người thứ bẩy trong Võ Đang Thất Hiệp, được Sư Phụ Trương Tam Phong, Chưởng môn Võ Đang, cho xuống núi, đến Hàng Châu điều tra tìm bọn nào đã ám hại Dư Đại Nham.

Trương Thúy Sơn gặp Ân Tố Tố trên sông Tiền Đường, chàng 20, 21 tuổi, nàng 16, 17, cả hai cùng trẻ đẹp, họ xứùng lứa, vừa đôi nhưng chàng là đệ tử danh môn chính phái, nàng là ái nữ của Ân Thiên Chính, Giáo Chủ Bạch Mi Giáo, một giáo phái bị gọi là ma giáo, tà giáo. Đôi người trẻ tuổi ở hai phe chính, phe tà, hai võ phái thù địch nhau. Lẽ ra họ không nên yêu nhau, yêu nhau họ sẽ khổ,. Định mệnh cho họ gặp nhau. Họ yêu nhau. Họ sung sướng và họ đau khổ. Định Mệnh an bài.

Ân Tố Tố yêu Trương Thúy Sơn trước. Nàng chủ động trong Tình Yêu của nàng. Ân Tố Tố yêu Trương Thúy Sơn hơn Trương Thúy Sơn yêu Ân Tố Tố. Tố Tố biết Thúy Sơn đến Hàng Châu điều tra vụ ám toán cướp đao Đồ Long, Bạch Mi Giáo của nàng là thủ phạm vụ ám toán Dư Đại Nham, nhưng nàng không thể nói với chàng nàng là một người có trách nhiệm trong vụ ám toán Dư Đại Nham. Vì yêu chàng, nàng không nói sự thật. Vì yêu chàng, nàng dụ chàng xuống thuyền của nàng. Chàng vừa xuống thuyền, thuyền lập tức ra giữa sông, xuôi dòng ra biển.

Ân Tố Tố đưa Trương Thúy Sơn ra đảo Vương Bàn Sơn ngoài biển đông dự Hội Dương Đao Lập Oai, Hội do Bạch Mi Giáo tổ chức để tuyên cáo cho võ lâm biết Bạch Mi Giáo nay làm chủ đao Đồ Long.

Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn xuất hiện trong Hội Dương Đao Lập Oai ở Vương Bàn Sơn, Họ Tạ đoạt cây đao, kể tội nhiều người, phóng tay giết người, rồi dùng Thần Công Sư Tửù Hống, hú lên mấy tiếng, người bị nghe tiếng Sư Tử hú ngã ra bất tỉnh, sau đó trở thành điên, không nhớ được chuyện cũ, tức không ai nhớ là Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn đã đến đảo, đoạt Đao Đồ Long.

Trước khi dùng Thần Công Sư Tử Hống, Tạ Tốn bảo Thúy Sơn, Tố Tố đi ra xa, bịt tai lại để không bị chấn động. Rồi Tạ Tốn nói:

- Ta sẽ ra một hải đảo với cây đao này, ta cần yên tĩnh một thời gian để tìm hiểu tại sao cây đao này có thể chỉ huy được võ lâm, tại sao ai làm chủ cây đao này lại là bá chủ võ lâm. Ở hoang đảo ta cần có bạn, hai người cùng đi với ta ra đảo.

Kim Dung có một cái dở, một cái hay trong đoạn truyện này. Bạch Mi Giáo mở Đại Hội Dương Đao Lập Oai nhưng Giáo Chủ Ân Thiên Chính, Thanh Dực Bức Vương, nhân vật thứ hai của Bạch Mi Giáo, không đến dự Hội, để cho cô gái 16, 17 tuổi chủ trì Đại Hội. Ân Tố Tố không thể là đại diện của Bạch Mi Giáo. Đại biểu những võ phái khác đến dự hội toàn là những chú trẻ tuổi lấc cấc, gà tồ, không giống ai. Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn là một Pháp Vương trong Tứ Đại Pháp Vương của Bạch Mí Giáo, vì mái tóc mầu đỏ nên có biệt hiệu là Kim Mao Sư Vương, nhưng họ Tạ đến đảo phá Đại Hội của Bạch Mi Giáo, khơi khơi cướp bảo đao, giết người và không tỏ ra có chút tình niên trưởng đồng môn nào với cô cháu Ân Tố Tố.

Chắc Kim Dung cunõg biết truyện viết như thế là dở nhưng không tránh được, vì nếu Giáo Chủ Ân Thiên Chính hay Thanh Dực Bức Vương của Bạch Mi Giáo đến đảo chủ trương Đại Hội thì Tạ Tốn không thể đến đó giết người, đoạt bảo đao dễ như thế.

Cái hay trong đoạn truyện này của Kim Dung là cho Tạ Tốn dùng Thần Công Sư Tử Hống làm mọi người trên đảo phát điên, hai chứng nhân Thúy Sơn, Tố Tố bị bắt đi theo, ai là người kể cho võ lâm biết chuyện Tạ Tốn cướp đao? Người kể là Bạch Qui Thọ, một giáo chúng Bạch Mi Giáo. Tạ Tốn đánh Bạch Qui Thọ chết ngất trước khi hú Thần Công Sư Tử, nên Bạch Qui Thọ không bị tiếng hú làm cho điên loạn, mất trí nhớ. Tạ Tốn đi rồi, Bạch Qui Thọ tỉnh lại, kể cho quần hùng nghe chuyện Tạ Tốn đến đảo cướp đao.

Tạ Tốn đưa Thúy Sơn, Tố Tố xuống thuyền. Chiếc thuyền lớn, nhiều lao công phục vụ dưới thuyền. Tất cả những người này đều bị Kim Mao Sư Vương làm cho câm, để không thể nói được chuyện của Sư Vương với người đời.

Thuyền dong buồm ra khơi. Gió nổi, buồm căng gió, trôi trên sóng. Cuộc hành trình đi vào Tình Yêu và Thương Đau của đôi người trẻ tuổi bắt đầu. Trong hoạn nạn, họ sát lại gần nhau. Họ sát nhau đến họ ôm nhau thật chặt trong vòng tay nhau. Sau cuộc ái ân thứ nhất, chàng và nàng nằêm bên nhau trong một góc thuyền ấm, tối, huyền ảo, thơ mộng, nồng nàn, nàng nói:

- Anh yêu.. Em muốn..

- Em muốn gì ?

- Em muốn ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục, lúc nào chúng ta cũng gần nhau.

Ân Tố Tố nói, Trương Thúy Sơn không đa tình, không sâu sắc như nàng, nói theo:

- Anh cũng muốn nói với em một câu như thế.

Tôi gọi Đồ Long Đao là truyện của Tuyệt Đỉnh Yêu Thương và Thù Hận. Câu nói của Ân Tố Tố là Tuyệt Đỉnh Tuyên Ngôn của Tình Yêu.

Phiêu lưu lên Bắc Cực mới thật là phiêu lưu. Cần gì biết đi đâu, lo gì ngày mai, họ yêu nhau, họ có nhau là họ sống được. Không chỉ sống được, họ sống hạnh phúc. Ân Tố Tố sung sướng nhất. Nàng biết cuộc tình của nàng với Thúy Sơn sẽ khó bền nếu họ sống trong đất liền. Hai phe chính, tà kình chống nhau sẽ không để yên cho nàng yêu Thúy Sơn.

Thuyền càng lên phía bắc, trời càng lạnh. Giờ đây trên biển có những tảng băng trôi xuống phía nam. Trong một đêm, đôi tình nhân thấy Tạ Tốn ngồi ở góc thuyền bên kia, vừa đánh đàn vừa ca. Guọng ca bi thảm, tiếng đàn não nuột. Bỗng Tạ Tốn nổi cơn hung dữ, nhẩy đến tấn công Thúy Sơn. Võ công của Thúy Sơn không thể địch lại Tạ Tốn. Chàng ngồi xếp bằng trên sàn thuyền, hai tay đưa lên đỡ hai tay Tạ Tốn đánh xuống. Tố Tố kinh hoàng thấy Thúy Sơn sắp chết dưới công lực của Tạ Tốn. Nàng phóng ra hai mũi phi tiêu, bắn trúng hai mắt Tạ Tốn.

Tạ Tốn hét lên, phóng chưởng rầm rầm, Thúy Sơn dắt Tố Tố tránh né. Trong cơn kinh hoàng ấy bỗng có tiếng ầm ầm nổi lên. Bão đến. Gió sóng đánh vỡ thuyền. Ba người rời thuyền nhẩy lên những tảng băng trôi quanh thuyền. Đến sáng tạnh bão, Thúy Sơn, Tố Tố lên được một hoang đảo, Tạ Tốn đã lên đó trước. Lúc này Tạ Tốn đã mù.

Hải đảo họ lên đó là Băng Hỏa Đảo. Đảo ở Bắc Cực nhưng có núi lửa bốc lửa giữa đảo nên không khí ấm, cây cỏ xanh tốt. Đảo không người ở. Ba người quên chuyện họ xung đột dưới thuyền, kết làm anh em, họsống trên đó cho đến lúc Tố Tố sinh Vô Kỵ. Tạ Tốn mù, ngày ngày ngồi lặng trước thanh đao Đồ Long, suy nghĩ, nhưng năm tháng qua vẫn không khám phá được sự bí mật của Đồ Long Đao. Khi Vô Kỵ ba, bốn tuổi, Tạ Tốn nói với vợ chồng Thúy Sơn:

- Ta với vợ chồng hiền đệ có thể sống mãi trên đảo này, nhưng chúng ta không thể để cho thằng Vô Kỵ nó sống như chúng ta. Chúng ta phải cho nó về đất liền để nó sống với mọi người, cho nó sống như mọi người.

Họ chặt cây, đóng bè, thả theo gió, sóng trôi về nam. Phút cuối, Tạ Tốn chặt đứt dây buộc bè, một mình ở lại đảo với bảo đao Đồ Long..

Đó là Băng Hỏa Đảo Đồ Long Kim Dung.

Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu đến Rừng Phong. Đêm, phòng vắng, đèn vàng, an ninh năm chăm phần chăm, tôi nằm đọc Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu, đọc để tìm Băng Hỏa Đảo Kỳ Nữ Hoài Điệp Thứ Lang. Tôi tìm không thấy, tôi tìm không thấy vì trong Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu không có cái đảo nào cả, hải đảo giống như Băng Hỏa Đảo Đồ Long Kim Dung lại càng không có.

Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu là tiểu thuyết dã sử, xẩy ra trong đời nhà Trần, những nhóm dũng sĩ Việt chiến đấu ngăn chặn, tiêu diệt bọn quân Nguyên Mông và tay sai đến thám thính nước ta ở vùng rừng núi Lạng Sơn. Chuyện xẩy ra trên đất liền, làm sao có đảo? Chỉ có một đoạn các dũng sĩ Việt đi vào một thung lũng có cây xanh, hoa thắm, suối trong, có tòa cổ tự, trong chùa có Sư Ông. Thế thôi.

Tôi không thất vọng vì trong Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu không có hải đảo. Rất có thể anh Đinh Hùng không đọc Đồ Long, anh chỉ nghe nói đến Băng Hỏa Đảo, anh tưởng thung lũng Hoa Thơm, Suối Ngọt trong Kỳ Nữ của anh giống như Băng Hỏa Đảo Đồ Long Kim Dung.

Ngày nào gặp lại anh Đinh Hùng, tôi sẽ nói với anh;

- Ông ơi, sang Mỹ tôi tìm kỳ được Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu để đọc xem cái hải đảo ông tả trong đó ra sao. Nhưng Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu có cái đảo nào đâu.

Một chiều xưa, ở Nhà Hàng Ngân Đình bên sông Sài Gòn, Mai Thảo nói với tôi:

- Mày biết tại sao Tạ Tốn bắt Thúy Sơn với Tố Tố lên thuyền đi lên biển Bắc không? Tạ Tốn yêu Tố Tố. Tạ Tốn muốn bắt Tố Tố đi theo nhưng bắt riêng một mình Tố Tố thì kỳ quá, nên bắt luôn Thúy Sơn đi theo.

Tôi thấy chuyện ấy rất có thể. Tạ Đại hiệp trạc 35, 40 tuổi, Tố Tố trạc 16, 17 tuổi. Đại hiệp không thể yêu một em nữ sinh ở tuổi con gái mình. Không thể nhưng Đại hiệp cứ yêu. Trên Băng Hỏa Đảo, có lần Tạ Tốn nổi cơn điên, toan hiếp dâm Tố Tố. Thúy Sơn lại phải liều mạng tử chiến với Tạ Tốn. May sao lúc ấy Tố Tố đẻ, tiếng thằng nhỏ Vô Kỵ oe oe khóc làm cho Tạ Tốn tỉnh cơn điên. Tạ Tốn là nghĩa phụ của Vô Kỵ.

Đêm mới yêu nhau trong hải thuyền trôi trên biển lớn, nằm ôm nhau, Ân Tố Tố nói với người yêu:

- Anh ơi..Em muốn ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục, lúc nào chúng ta cũng sống gần nhau.

Ôi.. Cảm khái cách gì..! Cảm khái quá chời!

Chiếc bè đưa Thúy Sơn, Tố Tố,ø Vô Kỵ trở về trung thổ, nôm na là về đất liền, lại tức về đất Tầu. Vừa về đến biển Nam, bè gặp thuyền của Dư Liên Châu, người thứ hai trong Võ Đang Thất Hiệp. Dư Liên Châu được Sư Phụ giao trách nhiệm đi đến những hải đảo ngoài khơi tìm tung tích Trương Thúy Sơn. Trên thuyền lớn, Dư Liên Châu bảo Trương Thúy Sơn:

- Hiền đệ hãy để cho hiền muội và cháu nhỏ về Tổng Đàn Bạch Mi, hiền đệ theo ta về Võ Đang gặp Sư Phụ, thưa với Sư Phụ chuyện vợ con của hiền đệ, chờ Sư Phụ dậy ra sao, cho đón hiền muội và cháu nhỏ về núi sau.

Lúc ấy Thúy Sơn đã định nói “Thưa vâng..” Chàng nhìn Tố Tố, thấy nàng đưa mắt nhìn lên trời, rồi nhìn xuống đất, chàng nhớ lại lời nàng nói:

- Em muốn ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục, lúc nào chúng ta cũng gần nhau.

Chàng nói với Dư Liên Châu:

- Xin đại ca cho vợ con em được cùng em về núi lậy chào Sư Phụ.

Truyện viết như thế các nhà bình luận văn chương Tầu gọi là “phục ba”, tức làn sóng trở lại. Kim Dung viết có cốt truyện, khi cho Tố Tố , nằm với Thúy Sơn trong thuyền, nói : “Anh ơi..Em muốn.. ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục, lúc nào chúng ta cũng gần nhau..” Kim Dung đã tính khi cho đôi tình nhân đó trở về trung thổ, Tố Tố sẽ nhắc cho Thúy Sơn nhớ câu nàng nói, nhớ lời họ đã nguyện cùng nhau.

Ân Tố Tố, không phải Hân Tố Tố. Người Tầu không có họ Hân.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 124 other followers