• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Hư Trúc (phần 1)

Hư Trúc là người có võ công và nội lực cao nhất Thiên Long. Chú tu hành từ thưở mới lọt lòng mẹ tại Chuà Thiếu Lâm, chú vào sân khấu Thiên Long với số tuổi mười sáu, mười bẩy nên chú không còn là chú tiểu song chú vẫn chưa phải là Sư bác, Sư ông. Ta gọi chú là Sư chú.

Hư Trúc trạc tuổi Đoàn Dự, Mộ Dung Phục, Du Thản Chi. Chú chỉ muốn tu hành suốt đời và tuy tu trong chuà Thiếu Lâm, nơi ai cũng võ nghệ cùng mình, võ từ Phương Trượng Đại sư đến ông bếp già quanh năm và cả đời chỉ đánh lộn với đám nồi niêu, soong chảo; Sư chú Hư Trúc hoàn toàn không có chút síu võ công nào cả. Như đã nói chú chỉ muốn tu thành chánh quả, chú không muốn học võ.

Hư Trúc được đi theo hầu hạ Sư phụ, một cao tăng chùa Thiếu Lâm đi vân du. Khi ấy trên giang hồ có tin Tổng Đàn Vô Vi Phái ở Hồ Nam mở cuộc tuyển lựa người làm Chưởng Môn Nhân. Sư phụ của Hư Trúc đến đó chứng kiến cuộc tuyển người. Vì uyên nguyên ấy Sư chú Hư Trúc cũng đến Tổng Đàn Vô Vi Phái ở Hồ Nam.

Vô Vi Phái có thủ tục lạ kỳ: không tuyển người trong phái làm Chưởng môn nhân mà lại tuyển người ngoài. Cách tuyển người cũng không giống ai: một bàn cờ đã sắp sẵn được đặt ra, ai phá được thế cờ, thắng được ván cờ sẽ được Vô Vi Phái nhận làm Chưởng môn nhân.

Tô Tinh Hà, một nhân vật cao cấp trong Vô Vi Phái, chủ trì bàn cờ. Nơi đấu cờ được tổ chức trên bãi cỏ rộng lưng đồi, trước một căn nhà gỗ, bên hàng thông xanh. Được tin biểu huynh của nàng là Mộ Dung Công Tử sẽ đến dự cuộc tuyển lựa, Vương Ngọc Yếùn đến Tổng Đàn Vô Vi Phái. Đoàn Dự đi theo nàng nên Đoàn Dự cũng đến Tổng Đàn Vô Vi Phái.

Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh đến dự tuyển. Lão ngồi vào bàn cờ trước nhất. Lão rất cao cờ — cờ này là Cờ Vi, không phải Cờ Tướng — nhưng thế cờ bí hiểm làm lão đầu váng, mắt hoa, kinh mạch đảo lộn. lão đành chịu thua. Đoàn Dự rồi Mộ Dung Công Tử được Tô Tinh Hà long trọng mời vào bàn cờ. Tô Tinh Hà rất muốn một trong hai chàng trẻ tuổi đẹp trai, hào hoa phong nhã Đoàn Dự, Mộ Dung Phục giải được thế cờ, làm Chưởng môn Tinh Tú phái.

Đoàn Dự không thích võ công, cũng chẳng ham làm Chưởng môn bất cứ bang phái nào trên cõi đời này. Chàng đến đây chỉ vì chàng đi theo Vương Ngọc Yến. Và chàng xây sẩm mặt mày khi nhìn thấy tình yêu của Vương Ngọc Yến với biểu huynh của nàng, chàng còn tinh thần đâu mà cờ với quạt. Chàng ngồi vào bàn cờ vì được Tô Tinh Hà trịnh trọng mời.

Đây là lần thứ nhất Mộ Dung Công Tử xuất hiện bằng xương, bằng thịt trên sân khấu Thiên Long. Trước đó Kim Dung toàn diễn tả chàng qua lời những nhân vật Thiên Long nói đến chàng và bản lãnh gọi là ” Đẩu chuyển, tinh di” của nhà Mộ Dung.

Kim Dung cho Mộ Dung Phục xuất hiện đẹp như rồng, như phượng. Chàng đứng trên đỉnh hàng thông xanh gần đó tự lúc nào không ai hay. Từ xa một chiếc lá bay tới lơ lửng trên bàn cờ rồi rơi xuống một ô cờ. Mọi người quanh bàn cờ ồ lên một tiếng kinh ngạc và thán phục. Nước cờ quá hay. Người vừa đi nước cờ tuyệt diệu ấy phải là một Vô Địch Kỳ Vương.

Vương Ngọc Yến kêu lên:

– Biểu huynh của ta đến.. Biểu huynh của ta là Mộ Dung Công Tử.. Biểu huynh của ta chắc sẽ giải đuợc thế cờ này…

Quần hùng biết người vừa ném chiếc lá là Mộ Dung Công Tử, và Công Tử sắp đến. Công Tử đến thật. Công Tử thần thái hào hoa, phong nhã, ung dung ngồi vào bàn cờ. Công Tử còn điển trai hơn cả Đoàn Vương tử nước Đại Lý. Mọi người nín thở. Tô Tinh Hà bồi hồi chỉ mong Công Tử phá được thế cờ.

Nhưng sau vài nước cờ có vẻ sáng sủa, thế cờ của Công Tử lập tức đi vào ngõ bí. Mộ Dung ngồi lặng trước bàn cờ. Chàng thấy thế cờ giống như tình trạng mộng ước khôi phục ngai vàng Yên quốc của gia đình chàng. Chàng chỉ còn một nhúm tàn quân bị quân địch bao vây kín mít. Chàng tiến lên là chết, lùi lại cũng chết, sang phải chết, sang trái cũng chết, ở yên cũng chết. Biết làm sao đây? Sự suy nghĩ và tuyệt vọng làm Mộ Dung Phục mắt hoa, đầu váng, máu tươi ứa ra trong miệng chàng.

Đến lượt Sư chú Hư Trúc ngồi vào bàn cờ. Chú không có ý định ngồi vào bàn cờ vì chú mù tịt về cờ quạt. Chú ngồi vào bàn cờ vì chú nghe có tiếng người bảo chú ngồi vào. Chú tưởng người ra lệnh cho chú là Sư phụ của chú. Nhưng người ra lệnh cho chú là Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh. Lão dùng phép “truyền âm nhập mật” nói vào tai Hư Trúc. Truyền âm nhập mật là phép người nói không nói ra tiếng, và người nói muốn nói với ai thì chỉ người được cho nghe mới nghe được tiếng.

Lão Ác Ma đã thua cuộc, ra đứng chầu rìa, nhưng lão còn cay cú. Lão cho nhà sư trẻ vào cuộc để phá chơi cho bõ ghét. Lão, vẫn dùng phép truyền âm nhập mật, chỉ cho Hư Trúc đánh bậy, đánh bạ. Mọi người lại ồ lên ngạc nhiên khi thấy nhà sư trẻ đi một nước cờ.

Đây là nước cờ tự sát: đẩy quân mình vào chỗ chết. Không ai, kể cả những tay cờ cao đến đít vịt xiêm lai, lại đi nước cờ ngu ngốc này.

Tô Tinh Hà giận dữ quát lên:

– Đây không phải là nơi mấy người đến rỡn chơi..

Lão đánh một chưởng lên tảng đá gần bên. Tảng đá vỡ làm nhiều mảnh…

Hư Trúc ngồi chết trân. Chú muốn xin lỗi nhưng chú chưa mở miệng ra nói được. Thái độ mọi người bỗng trở thành khác lạ. Người ta thấy nhà sư trẻ vừa đi một nước cờ tuyệt diệu. Cờ lâm thế bí, phải hy sinh một số quân mới có thể thoát được trùng vi, mới có đường thoát ra trung thổ để tranh thắng, tranh hùng. Mà đúng như vậy. Sau nước cờ thí quân, thế cờ bí của Hư Trúc bắt đầu được giải. Từ nước này trở đi là dễ rồi. Đoàn Diên Khánh dùng truyền âm nhập mật chỉ tiếp, Hư Trúc thắng ván cờ.

Nhà sư trẻ không muốn được tuyển làm bất cứ chức tước gì trên cõi đời này, định mệnh an bài cho chú thành Chưởng Môn Vi Vô Phái. Chú được Tô Tinh Hà đưa đến trước căn nhà gỗ. Chú ngẩn ngơ:

– Nhà không có cửa! Làm sao vào..?

Tô Tinh Hà nói lớn:

– Không có cửa thì phá vách mà vào…

Lão đẩy mạnh Hư Trúc. Nhà sư trẻ lao vào vách gỗ. Vách bể, nhà sư ngã vào trong căn nhà.

Khi ngồi lên được Hư Trúc nhìn quanh. Trong nhà tối mờ. Chú sợ hãi khi thấy bóng người lơ lửng giữa chừng. Chú tưởng là ma. Sau đó chú nhìn kỹ mới biết đó là một người được treo vào sợi dây buộc lên mái nhà. Người được treo xếp vòng tròn, chân ở trên, đầu ở dưới.

Chú nghe tiếng người đó gọi:

– Tiểu tử.. Lại đây…

Chú lại gần. Người treo lơ lửng là một ông già đẹp lão, sắc mặt hồng hào, ánh mắt sáng long lanh. Ông này là Vô Nhai Tử, Chưởng Môn Vô Vi Phái. Thời trẻ ông rất đẹp trai. Ông sắp từ trần, ông chỉ còn sống để chờ truyền nhân. Một lần nữa người đọc thấy điểm độc đáo của Vô Vi Phái: muốn Chưởng Môn nhân là người đẹp trai. Vô Nhai Tử nhìn truyền nhân của ông, thấy Hư Trúc xí trai quá, thất vọng ông thở dài:

– Sao ngươi lại có thể xấu đến thế được?

Hư Trúc mắt trố, mũi huyếch, răng hô, bị chê nên tự ái dồn dập, chú nói:

– Tôi không muốn vào đây. Nếu tiền bối không thích, tôi xin kiếu…

Chú định quay ra. Vô Nhai Tử dơ một ngón tay. Hư Trúc không bước đi được. Vô Nhai Tử nhìn Hư Trúc kỹ hơn. Ông lại thở dài:

– Mười việc ở đời có đến chín việc không được như ý. Ngươi vào được đây là ngươi có uyên nguyên với ta. Đành vậy. Tiểu tử.. Lại đây…

Hư Trúc bị một sức mạnh kéo tới chỗ Vô Nhai Tử. Ông già tung người lên, đặt đỉnh đầu ông lên đỉnh đầu Hư Trúc. Nhà sư bị đè xuống ngồi trên sàn. Bằng cách đặt đỉnh đầu mình lên đỉnh đầu Hư Trúc, Vô Nhai Tử truyền công lực gọi là Bắc Minh Chân khí cho Hư Trúc.

Hư Trúc mê người trong thời gian được truyền công lực không biết là bao lâu. Khi tỉnh lại, chú thấy ông già Vô Nhai Tử ngồi trước mặt chú. Thần sắc ông thay đổi khác hẳn, da ông răn reo, khô héo, mắt ông lạc thần. Ông khẽ nói:

– Con đã nhận công lực tám mươi năm tu dưỡng của ta. Từ nay con là Chưởng Môn Vi Vô Phái. Ta là Sư phụ của con. Con lậy ta đi…

Hư Trúc chỉ nhận Sư phụ Thiếu Lâm của chú là sư phụ, nhưng lòng dạ chú thương người. Người sắp chết có ước muốn cuối cùng được chú gọi là Sư phụ, thấy việc đó cũng chẳng có gì quan trọng, chú quỳ gối lậy ông và gọi ông ba tiếng:

– Sư phụ..

Hài lòng, Vô Nhai Tử thở hơi cuối cùng.

Hư Trúc đi ra khỏi căn nhà. Trời đã tối, quần hùng đã đi hết. Trên bãi cỏ rộng đang diễn ra trận đấu chưởng lực giữa Đinh Xuân Thu, Chưởng Môn Tinh Tú phái và Tô Tinh Hà, cao thủ Vô Vi phái.

Đinh Xuân Thu và bọn đồ đệ Tinh Tú phái dàn hàng ngồi một bên, Tô Tinh Hà và đám môn đồ Vô Vi phái dàn hàng ngồi một bên. Đống lửa cháy ở giữa. Đinh Xuân Thu và Tô Tinh Hà dùng chưởng lực đẩy ngọn lửa sang phía nhau.
Hư Trúc thấy Tô Tinh Hà sắp bại đến nơi. Chưởng lực của Tô Tinh Hà yếu hơn chưởng lực của Đinh Xuân Thu, ngọn lửa bị đẩy tới sắp táp vào mặt Tô Tinh Hà. Bên kia bọn đồ đệ Tinh Tú phái thổi kèn, đánh trống ca tụng Sư phụ của chúng rầm rĩ…

Hoàn toàn không biết mình có Bắc Minh chân khí, cũng không biết mình có thể giúp được Tô Tinh Hà, Hư Trúc chỉ thấy Tô Tinh Hà sắp bại, phải ngả người về phía sau tránh lửa táp vào mặt nên thương hại. Chú đến ngồi sau lưng Tô Tinh Hà, đặt bàn tay lên lưng Tô Tinh Hà để đỡ cho ông ta khỏi ngã.

Và như thế là Bắc Minh Chân Khí trong người Hư Trúc, Chưởng Môn Tinh Tú Phái, cuồn cuộn trôi sang người Tô Tinh Hà. Chân khí lập tức đánh bạt ngọn lửa về phiá Đinh Xuân Thu, mạnh như bão tố. Đinh Lão Quái bị lửa đốt cháy râu tóc phải lộn nhào ra đằng sau. Lão bỏ chạy luôn. Bọn đồ đệ của Lão bị lửa đốt kêu chói lói. Bỏ trống kèn lại chúng theo Sư phụ đi một đường chạy vắt giò lên cổ…

***

Từ Tổng Đàn Vô Vi phái bước ra Sư Chú Hư Trúc đi một mình trên giang hồ. Giờ đây chú có công lực kinh người nhưng vì chưa có võ công, chú chưa biết xử dụng pho công lực ấy. Đời chú chỉ thực sự thay đổi khi định mệnh an bài cho chú gập Thiên Sơn Đồng Mỗ.

Thiên Sơn Đồng Mỗ, nữ nhân vật kỳ quái nhất trong toàn bộ tiểu thuyết Kim Dung : Võ Lâm Ngũ Bá, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Kiếm–Đồ Long Đao, Thiên Long Bát Bộ, Tiếu Ngạo Giang Hồ, Lộc Đỉnh Ký…

Quần hùng ba mươi sáu đảo, bẩy mươi hai động bị Thiên Sơn Đồng Mỗ bắt phải thần phục, đàn áp, họp đại hội tính chuyện gỡ bỏ ách thống trị của Đồng Mỗ. Họ bị Đồng Mỗ thống trị, chế ngự bằng cách cấy Sinh Tử Phù vào người họ. Mỗi năm họ phải lên Linh Thứu Cung trên đỉnh Thiên Sơn nộp cống cho Đồng Mỗ. Họ thuận phục, Đồng Mỗ sẽ cho họ thuốc giải. Nếu không Sinh Tử Phù sẽ phát tác, làm họ phát điên.

Thiên Sơn Đồng Mỗ luyện một thứ võ công làm cho Mụ trẻ mãi không già, dung nhan Đồng Mỗ dừng lại ở số tuổi 25–30 cái xuân xanh. Vì lúc luyện công Mụ bị tẩu hoả nhập ma nên thân hình Mụ chỉ bằng em gái muời ba, mười bốn tuổi. Vì vậy Mụ có xước hiệu là Thiên Sơn Đồng Mỗ tuy số tuổi thực của Mụ khi Mụ vào sân khấu Thiên Long là khoảng Sáu Bó Gập đến Bẩy Bó.

Quần hùng 36 đảo, 72 động dò biết cứ mười năm một lần Thiên Sơn Đồng Mộ phải bế môn để luyện công. Khi tái luyện công như thế Đồng Mỗ trở thành đứa nhỏ bẩy, tám tuổi yếu sìu, công lực Mụ cùng cơ thể Mụ tăng trưởng dần với số ngày Mụ luyện công. Lại dò biết đúng lúc Thiên Sơn Đồng Mỗ đang luyện công nên quần hùng tấn công vào Linh Thứu Cung. Họ không thấy Đồng Mỗ đâu cả. Trong mật cung họ bắt được một đứa con gái chừng mười tuổi. Họ nghi đứa nhỏ chính là Thiên Sơn Đồng Mỗ.

Đại hội bất thường của quần hùng 36 đảo, 72 động họp ban đêm ở bãi biển. Đoàn Dự, Vương Ngọc Yến, Mộ Dung Phục đến dự. Hư Trúc đi tìm Sư phụ của chú cũng đến dự.

Người chủ trì cuộc họp là Ô Lão Đại. Trong ánh lửa bập bùng Hư Trúc thấy Ô Lão Đại mở cái túi vải, trình diễn với quần hùng một cô bé. Cô bé sợ hãi chỉ biết khóc. Thấy quần hùng bị Sinh Tử phù phát tác, phát điên, có thể giết cô bé, Hư Trúc thương hại bất ngờ nhẩy đến ôm cô bé trong túi vải lên vai, bỏ chạy.

Nhờ có Bắc Minh Chân Khí Hư Trúc chạy thật nhanh. Chú cõng cô gái chạy lên đỉnh Thiên Sơn. Cô gái trong túi vải chính là Thiên Sơn Đồng Mỗ. Bà chỉ cho Hư Trúc cách vận công nhẩy lên và chạy trên những ngọn cây tùng. Rồi bà dậy Hư Trúc cách đối phó với đám quần hùng đuổi theo bằng cách vận công ném những trái tùng. Quần hùng bị trái tùng bắn trúng rụng ngã hàng loạt. Thiên Sơn Đồng Mỗ bắt Ô Lão Đại phải hầu hạ bà.

Đồng Mỗ ở lại trên đỉnh Thiên Sơn để tiếp tục luyện công, Hư Trúc, Ô Lão Đại cũng phải ở lại đó để phục vụ Bà. Mỗi ngày Ô Lão Đại phải đi bắt sống một thú rừng — hươu nai, hoẵng — đem về cho Đồng Mỗ luyện công. Đồng Mỗ ngồi xếp bằng tròn, cắn cổ con vật hút máu, rồi một tay chỉ lên trời, theo cách chỉ tay của Thích Ca trong tư thế “Thiên thượng, địa hạ, duy ngã độc tôn”, mắt nhắm lại, luyện công. Khi ấy có làn sương trắng hiện lên trên đầu Đồng Mỗ. Sau mỗi lần luyện công như thế công lực Đồng Mỗ phục hồi mấy thành, dung nhan già thêm mấy tuổi.

Một đêm Đồng Mỗ đánh thức Hư Trúc dậy, bà sợ hãi nói:

– Tử thù của ta tìm đến. Cõng ta chạy mau..

Hư Trúc cõng Đồng Mỗ chạy. Trời sáng, chú đặt Đồng Mỗ xuống bên môt dòng suối. Đồng Mỗ nói:

– Nếu ta luyện công thêm được mấy ngày nữa, ta chẳng sợ gì con tiện tì. Nhưng nay công lực ta còn yếu, ta phải tạm tránh nó…

Nhìn thấy cái nhẫn sắt Chưởng Môn Vô Vi Phái ở tay Hư Trúc, Đồng Mỗ kinh ngạc hỏi:

– Sao ngươi có cái nhẫn sắt đó? Đưa đây ta coi..

Hư Trúc kể uyên nguyên việc chàng được Chưởng Môn Vô Nhai Tử truyền công lực và trao nhẫn sắt Chưởng Môn. Đồng Mỗ khóc khi nghe kể Chưởng Môn Vô Nhai Tử đã chết. Bà là người trong phái Vô Vi. Vô Nhai Tử là Sư đệ của bà. Tử thù của bà, người Đồng Mỗ gọi khinh miệt là con tiện tì, người sắp đuổi tới, là Lý Thu Thủy, Hoàng hậu nước Tây Hạ, sư muội của bà và cũng là sư muội của Vô Nhai Tử.

Cuộc tình rắc rối tơ, Đồng Mỗ yêu Vô Nhai Tử, Lý Thu Thủy cũng yêu Vô Nhai Tử. Vì tranh dành tình ái Sư tỉ, sư muội thù nhau. Lý Thu Thủy hại Sư tỉ bằng cách làm Sư tỉ bị kinh hoàng trong lúc luyện công, thân hình đứng lại ở số tuổi mười ba, mười bốn, Đồng Mỗ hại Sư muội bằng cách dùng kiếm để thẹo trên mặt Sư muội.

Hư Trúc là đồ đệ của Vô Nhai Tử, chú phải gọi Đồng Mỗ là Sư bá, Lý Thu Thủy là Sư thúc.

Lý Thu Thủy dò biết Sư tỉ đang luyện công dở dang nên tìm đến để giết. Nhờ có Hư Trúc bảo vệ, bà không làm hại được Đồng Mỗ ngoài việc đánh Đồng Mỗ gẫy chân. Hư Trúc lại cõng Đồng Mỗ chạy trốn. Lần này Đồng Mỗ chỉ đường cho Hư Trúc đưa mình vào ẩn nấp trong hầm chứa băng trong hoàng cung nước Tây Hạ. Bà đi nước cờ cao: Sư muội của bà có thể đi tìm bà ở bất cứ đââu nhưng sẽ không ngờ bà lại lọt vào ẩn náu trong chính hoàng cung Tây Hạ.

Hoàng cung Tây Hạ có một hầm chứa băng lạnh. Mùa đông người ta lấy những tảng băng đá ngoài trời chứa vào hầm này, để dành đến mùa hè trời nóng lấy đá lạnh ra ăn. Đây lại là một vụ Kim Dung pha chế sa tế, sì dầu quá nặng tay, tưởng tượng quá lố: người Á đông không có thói quen ăn nước đá lạnh, ăn càrem dù trong mùa hạ, người Á Đông ngày xưa không uống rượu pha đá lạnh.

Bị gẫy một chân Đồng Mỗ chống nạng đi lại được. Bà đã có đủ công lực để đêm đêm vào Vườn Ngự Uyển bắt chim về lấy máu tươi luyện công, vào nhà bếp hoàng cung lấy thức ăn. Hư Trúc chán ngán Sư bá của chàng vì thấy bà thù hận, sân si quá đỗi. Chàng từ biệt bà để ra đi, Đồng Mỗ không cho. Hư Trúc cứ đi. Đồng Mỗ điểm huyệt cho Hư Trúc ngã nằm trong hầm băng.

Đồng Mỗ đem thức ăn về cho Hư Trúc, nhưng đó toàn là thịt cá, Sư chú ăn chay, nhất định nhịn đói đến chết, không ăn thịt cá. Đồng Mỗ nói với chú:

– Ngươi chưa biết thủ đoạn của ta đâu. Ta rất ghét những kẻ nào chống lại ta. Với những kẻ chống ta, ta làm cho phải phục tòng ta ta mới chịu. Ngươi cũng vậy. Ngươi không chống nổi ta đâu.

Hư Trúc cứng đầu, chỉ nằm niệm kinh chờ chết. Để đánh gẫy sự phản kháng của nhà sư trẻ kiên cường, Thiên Sơn Đồng Mỗ xử dụng một tuyệt chiêu…

Tuyệt chiêu đúng là… tuyệt chiêu. Chiêu thức này mà đánh sợ trên cõi đời này khó có chú thiếu niên mười bẩy, mười tám nào không gục. Thoạt đầu Đồng Mỗ tỏ ra nhân nhượng, Bà chịu lấy thức ăn chay về cho Hư Trúc ăn. Và đây là tuyệt chiêu của Đồng Mỗ: Hoàng cung Tây Hạ khi đó có nàng Công chuá mới mười lăm, mười sáu tuổi. Nửa đêm Đồng Mỗ vào phòng ngủ của Công chuá, điểm huyệt cho Công chuá ngủ mê, cuộn nàng trong mền bông, bồng nàng vào hầm băng, thả nàng vào nằm chung chăn với Hư Trúc.

Chuyện tả rằng Hư Trúc đang ngủ bỗng thấy có người thiếu nữ khoả thân nằm ôm mình, mùi da thịt trinh nữ thơm phức bay vào mũi làm chàng ngây ngất — Từ đây trở đi chúng ta phải gọi Hư Trúc Tử là chàng — Chàng ôm nàng và nàng ôm chàng. Họ yêu nhau như họ yêu nhau trong mơ.

Gần sáng, Đồng Mỗ lại điểm huyệt cho Công Chuá Tây Hạ ngủ mê, cuốn nàng trong mền gấm, đưa nàng trở về phòng ngủ.

Từ đó Hư Trúc sống để chờ đêm đến lại được ân ái với người thiếu nữ. Có đêm Công chúa nửa tỉnh, nửa mơ hỏi người tình:

– Chàng ơi.. Chúng ta đang ở đâu? Đây là đâu? Sao em thấy lạnh quá?

Hư Trúc cho nàng biết họ đang ở trong hầm băng, Công chuá lại hỏi:

– Chàng là ai? Tên chàng là gì?

Diêm Vương có ra lệnh Nhà Sư Trẻ phá giới cũng không dám nói mình là ai, Công Chuá không hỏi tới, nàng mơ màng:

– Em gập chàng trong mộng. Em gọi chàng là Mộng Trung Lang…

Sau năm bẩy đêm ái ân thần tiên, ngà ngọc, Hư Trúc quen mùi. Bỗng đêm ấy chàng nằm chờ suốt sáng không thấy Sư bá thân thương đưa người đẹp đến. Chàng đành chờ đêm sau. Đêm sau không thấy rồi đêm sau nữa, đêm sau nữa… Trong bụng chàng như có lò lửa hồng mà Sư bá của chàng thì cứ tỉnh queo coi như trên cõi đời nói chung và trong hầm băng nói riêng chẳng có chuyện gì quan trọng cả.

Xấu hổ, ngượng ngùng nhưng sau cùng Hư Trúc cũng phải lên tiếng xin Sư bá cho mình được gập lại người thiếu nữ.

Đồng Mỗ hừ lên một tiếng:

– Bây giờ ngươi mới chịu mở miệng năn nỉ ta ư? Ngươi còn chống ta nữa thôi?

Thôi.. Nhất định là thôi rồi.. Hư Trúc đầu hàng không điều kiện. Kiếp này chàng không thể tu thành chánh quả được, đành để kiếp sau. Để kiếp sau thì Hư Trúc cũng chẳng có gì khác người. Trên cõi đời này có đến tỉ tỉ người vẫn kiếp nào cũng hẹn để dành kiếp sau sẽ tu hành. Chàng ăn thịt, ăn mỡ, ăn cá, ăn tôm, chàng ngoan ngoãn làm theo lời Sư bá.

Hư Trúc (phần 2)

Nhưng cuộc tình Hầm Băng không thể kéo dài. Thời gian không đứng về phe Đồng Mỗ–Hư Trúc. Một đêm Lý Thu Thủy vào hầm băng. Lần này Thiên Sơn Đồng Mỗ, tuy cụt một chân, đã đủ sức đấu chưởng ngang tay với Lý sư muội. Hai bà long tranh, hổ đấu kịch liệt trước sự chứng kiến bất động của Hư Trúc. Lý Thu Thủy sợ Hư Trúc đánh giúp Thiên Sơn Đồng Mỗ nên bà điểm huyệt cho chàng nằm đó.

Hai bà già giết giặc loạn đả trong hầm băng, chưởng lực hai bà đánh ra làm những cây đuốc rơi xuống những bành rơm giữ cho đá lạnh trong hầm không tan. Lửa đuốc làm những bành rơm bốc cháy. Băng tan thành nước, chẩy đầy trong hầm. Hai bà cùng hết công lực, cùng nằm ngay đơ, cán cuốc. Nước dâng lên đưa hai bà đến nằm gần nhau, Hư Trúc vẫn bị điểm huyệt nằm giữa hai bà. Đến lúc ngay đơ cán cuốc này hai bà vẫn còn đánh nhau bằng cách truyền công lực qua người Hư Trúc.

Băng đá bị lửa đốt tan thành nước. Lửa tắt, hầm băng trở lại lạnh giá. Nước đóng lại thành băng. Hai bà già cùng Hư Trúc như ba người nằm trong những cây nước đá.

Bắc Minh chân khí trong người Hư Trúc tự hành làm chàng giải khai được huyệt đạo. Chàng mỗi tay ôm một bà già chạy ra khỏi hoàng thành Tây Hạ. Trời sáng, Hư Trúc nghỉ lại trong rừng. Chàng cẩn thận để hai bà già mỗi bà nằm một bên bờ suối, đề phòng khi tỉnh lại hai bà lại tiếp tục đánh nhau.

Đúng như Hư Trúc sợ, vừa tỉnh lại Thiên Sơn Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy lại chửi nhau, đe dọa giết nhau rồi hai bà xoay ra đấu võ mồm. Vì mỗi bà nằm một bên bờ suối, cả hai cùng kiệt sức không thể vượt qua dòng suối để kết liễu đời nhau, hai bà dùng anh sư điệt Hư Trúc để đánh nhau. Bằng cách:

Thiên Sơn Đồng Mỗ nói:

– Nếu ta đánh chiêu Niêm Hoa Vi Tiếu thì con tiện tỳ chỉ có nước chắp tay chịu chết. Hư Trúc.. Ngươi thay ta biểu diễn cho con tiện tỳ thấy chiêu thức này, xem nó đối phó ra làm sao..

Đồng Mỗ chỉ chiêu thức cho Hư Trúc, Hư Trúc qua bờ suối bên kia biểu diễn chiêu thức với Lý Thu Thủy.

Bà già này cười nhạt:

– Tưởng gì. Chiêu thức của Mụ Lùn ta hoá giải cái một. Mụ ra chiêu, ta sẽ đỡ như vầy.. như vầy. Ta sẽ đánh lại như vầy.. Ngươi biểu diễn chiêu thức của ta cho Mụ coi, để Mụ hết còn vênh váo…

Cứ như thế hai bà già truyền những chiêu thức võ công cao siêu nhất của mình cho Hư Trúc. Tuy không muốn Hư Trúc nghiễm nhiên trở thành đệ nhất cao thủ võ lâm. Thế rồi cuối cùng hai bà già ác liệt cũng phải tắt thở…

Người tắt thở trước là bà Lý Thu Thủy, môn đồ Vô Vi phái, Hoàng Hậu nước Tây Hạ.

Bên kia suối bà Thiên Sơn Đồng Mỗ nở nụ cười hài lòng:

- Con tiện tỳ cuối cùng cũng chết trước ta. Ta được thấy Mụ chết. Vậy là ta mãn nguyện. Ta cũng đi thôi…

Đồng Mỗ truyền chức Chủ nhân Linh Thứu Cung, trao nhẫn sắt cho Hư Trúc. Dù không muốn định mệnh an bài cho Hư Trúc trở thành Chưởng môn Vô Vi phái kiêm Chủ nhân Thiên Sơn Linh Thứu Cung, một môn phái chỉ có toàn là nữ đồ.

Thiên Sơn Đồng Mỗ chết rồi, Hư Trúc thấy bà Lý Thu Thủy động đậy. Thì ra bà già này chưa chết, bà chỉ giả chết để đánh lừa bà Sư tỉ ác ôn của bà. Bà nói với nụ cười:

– Mụ Lùn chết rồi. Ta mãn nguyện vì ta được thấy Mụ chết. Ta đã đánh lừa được Mụ…

Trong lòng bất nhẫn Hư Trúc nói:

– Thì Sư bá cũng đã giả chết đánh lừa được Sư thúc một lần rồi…

Trong trận kịch đấu dưới hầm băng Đồng Mỗ đã giả chết, nằm chịu đòn, Lý Thu Thủy tưởng Sư tỉ chết thật nên tới cúi xuống gỡ nhẫn sắt Chưởng môn Vô Vi phái ra khỏi tay Sư tỉ — Đồng Mỗ lấy nhẫn sắt này của Hư Trúc — bà bị Sư tỉ của bà quay lại đánh bà một chưởng vào ngực làm bà cũng nằm thẳng cẳng.

Lý Thu Thủy thở dài:

– Ngươi sống gần Sư bá ngươi nên ngươi có thiên về Sư bá ngươi mấy thành..

Đến phút cuối cùng này Lý Thu Thủy mới nhìn thấy cuộn tranh trong mình Hư Trúc rơi ra. Bà hỏi chàng:

– Ngươi có cái gì đó?

Hư Trúc trả lời đây là bức tranh do Sư phụ Vô Nhai Tử của chàng trước khi tịch diệt trao cho chàng. Chàng mở tranh cho Lý Sư thúc xem. Tranh vẽ hình một nữ lang thật đẹp trạc hai mươi tuổi. Lý Thu Thủy xúc động nhìn người đẹp trong tranh…

Kim Dung lại dành cho ta một ngạc nhiên: Nữ lang trong tranh là Vương phu nhân, bà mẹ của Vương Ngọc Yến. Bà này cũng là môn đồ Vô Vi phái, là sư muội của Đồng Mỗ, Lý Thu Thủy. Chưởng môn Vô Nhai Tử là sư huynh của bà. Sự đời rắc rối tơ… Đám sư huynh, sư tỉ, sư muội của cái gọi là Vô Vi phái yêu nhau, thù nhau loạn cào cào. Đồng Mỗ, Lý Thu Thủy cùng yêu Vô Nhai, thù nhau, hại nhau vì Vô Nhai. Trong khi đó Vô Nhai Tử — coi bộ — yêu Vương Sư muội, và Vương Sư muội lại yêu Đại Lý Nam Vương Đoàn Chính Thuần… Chưởng môn Vô Vi — coi bộ — thất tình Vương Sư muội, trọn đời không có đàn bà nên chân khí, công lực còn nguyên vẹn chăm phần chăm. Thương nhớ nàng Chưởng môn họa hình nàng mang theo trong người. Trước khi chết ông trao nhẫn sắt Chưởng môn cùng bức họa cho truyền nhân của ông là Hư Trúc.

Bức họa mỹ nhân của Vô Nhai Tử làm Lý Thu Thủy ngậm ngùi. Bà nói:

– Người trong hình là sư muội của ta và của Sư bá ngươi. Thì ra Sư huynh ta yêu Sư muội của ta..

Rồi khóc nức lên, bà kêu lớn:

– Sư tỉ ơi.. Hai chị em ta cùng bị con người vô lương tâm ấy lường gạt.. Chàng không yêu chị em mình, chàng yêu Vương sư muội của chúng ta..

Kêu lên mấy tiếng thê thảm ấy Lý Thu Thủy ngã ra chết. Lần này bà chết thật, bà chết đến nỗi trên đời này không ai còn có thể chết hơn bà được nữa…

***

Những mùa tuyết rơi, tuyết phủ, tuyết tan theo nhau đến trên đỉnh Thiên Sơn. Vào một mùa xuân quần hùng tấp nập kéo nhau đến kinh đô Tây Hạ dự cuộc Công Chuá Tây Hạ tuyển phu, tức Công Chúa kén chồng.

Trong số quần hùng có mấy người bạn quen của chúng ta: Mộ Dung Phục — Mộ Dung Công Tử rất muốn làm Phò Mã Tây Hạ để có thể mượn binh lực Tây Hạ về khôi phục ngai vàng nước Yên, Đoàn Dự đến kinh đô Tây Hạ không cốt ý dự cuộc tuyển phu, chàng đến vì Vương Ngọc Yến đang ở trong hoàng cung Tây Hạ, Vương phu nhân là sư muội của Lý Hoàng hậu nên Vương cô nương và Công chúa Tây Hạ là chị em, Hư Trúc trở lại kinh đô Tây Hạ để sống lại những đêm ngà ngọc xưa trong hầm băng.

Người dự cuộc tuyển phu của Công chuá chỉ phải trả lời có một câu hỏi:

– Ở đâu Các hạ thấy mình sung sướng nhất?

Mộ Dung Công Tử trả lời:

– Tại hạ sung sướng nhất khi ngồi trên ngai vàng nước Yên.

Đúng thôi. Nhưng đúng với Công Tử, không đúng với Công Chuá Tây Hạ. Công chuá chung tình ra câu hỏi để tìm Mộng Trung Lang, người tình trong mộng của nàng, nàng không cần người thích ngồi trên ngai vàng bất cứ nước nào.

Đoàn Vương tử nước Đại Lý trả lời:

– Tại hạ sung sướng nhất khi ở dưới đáy giếng khô.

Cũng đúng thôi, Vương Ngọc Yến cô nương bị đánh rơi xuống giếng, Đoàn Vương tử nhẩy xuống giếng để cùng chết với nàng. Giếng cạn, không những chàng và nàng không chết mà chàng và nàng còn yêu nhau ra rít ở đáy giếng. Vương Ngọc Yến dự cuộc tuyển phu bên cạnh Công Chuá Tây Hạ. Nàng nghe được câu trả lời của Đoàn Vương tử. Xúc động nàng bằng lòng để chàng xúc tiến hôn lễ. Chàng gửi thư về kinh đô Đại Lý xin phép Phụ vương, Mẫu hậu cưới Vương Ngọc Yến, cuộc tình dẫn đến chuyện đổ bể tùm lum làm chàng lăn đùng, ngã ngửa: Vương Ngọc Yến cô nương là em cùng cha, khác mẹ với chàng…

Hư Trúc Tử, Chưởng Môn Vô Vi phái, Chủ nhân Linh Thứu Cung, cựu Tu sinh Thiếu Lâm Tự, trả lời:

– Tại hạ sung sướng nhất khi ở trong hầm băng.

Chuông trống nổi lên, hoàng gia hoan hỉ loan báo Công Chúa đã tuyển được Phò Mã. Giấc mơ tu thành chánh quả, dứt dục căn, thoát luân hồi, thuyền Từ thuận gió về Tây Trúc của Sư Chú Thiếu Lâm kiếp này tiêu tan trong tiếng pháo động phòng hoa chúc…

Bèn có thơ rằng:

HƯ TRÚC

Thiếu Lâm Hư Trúc, Mộng Trung Lang
Sư chú, tình nhân.. cũng một chàng.
Hành cước đi quàng vào Tổ Quỉ,
Hầm băng đêm lạnh biết ôm nàng.
Tay nào gõ mõ, tay nào bóp?
Kiếp nào Phò Mã, kiếp nào tăng?
Thuyền Từ cũng muốn về Tây tróc,
Trái gió cho nên phải lộn đàng.

THIÊN SƠN ĐỒNG MỖ

Thiên Sơn Đồng Mỗ Sinh Tử Phù
Hiệu lệnh thiên hạ, trấn giang hồ.
Quần hùng tam thập lục châu đảo
Giai lai khấu thủ, quì thu lu.
Sinh Tử… Ô hô… Sinh Tử Phù
Hại nhân, lợi kỷ tuyệt công phu.
Duy ngã độc tôn, tâm bão hận,
Niêm hoa vi tiếu, ý tồn thù.
Nhất chiêu đáo tử, quy Âm phủ
Liêu lạc quần ma, nhữ vị phú

Thiên Sơn Đồng Mỗ Sinh Tử Phù
Em trùm thiên hạ, Chúa giang hồ.
Quần hùng lẻ sáu ba mươi đảo
Đều về cúi mặt, quì thu lu.
Sinh Tử… Than ôi… Sinh Tử Phù
Hại người, lợi mình tuyệt công phu.
Chỉ một Em hơn, Em vẫn hận,
Nâng hoa cười mỉm, dạ còn thù.
Một mai Em chết, về Âm phủ
Giữa quần ma Em chẳng Bố Cu.

Không chồng Em sống là dư,
Em ôm bí kíp, kỳ thư uổng đời.
Võ công lệch đất, nghiêng trời,
Em mơ toàn chuyện hại người, ích chí!
Độc tôn nào có hay gì!

***

Như Tam Quốc Chí mở đầu với bài thơ “Kỷ Độ Tịch Dương Hồng” và kết thúc với ý Thơ “Kỷ Độ Tịch Dương Hồng”, Thiên Long Bát Bộ Luận Anh Hùng mở đầu và kết thúc với bài “Này Những Tình Oan, Những Thủy Chung”:

Thiên Long Bát Bộ luận anh hùng
Kỳ hiệp, quần ma kể chẳng cùng.
Ba mươi năm trước ai quên, nhớ
Những Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung?
Ai Hư Trúc Tử, ai Đồng Mỗ?
Đâu Thành Tây Hạ, Linh Thứu Cung?
Nhớ chăng Lục Mạch, Phù Sinh Tử?
Quên chưa Cực Ác với Cùng Hung?
Kìa Vương Ngọc Yến yêu Đoàn Dự,
Nọ chàng Đầu Sắt bắt băng trùng..
Chuyện xưa trong trí ta lần giở
Này những tình oan, những thủy chung.

Thơ làm năm 1980 ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sàigòn, Việt Nam Cộng Hòa.
Lời bình viết năm 1996 ở Rừng Phong, Virginia Xú Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.

Du Thản Chi

Khi yêu ai ta cần được người ta yêu yêu lại ta. Được yêu lại là điều kiện tối cần thiết, tối quan trọng, bất khả thiếu để tình yêu của ta có thể sống. Nếu ta yêu mà ta không đươc người ta yêu yêu lại ta, chuyện sẽ xẩy ra chắc hơn bắp rang, hơn cua gạch là tình yêu của ta sẽ chết. Sớm muộn gì tình yêu của ta cũng chết dù ta có viết hoa Tình Yêu, có tô son, vẽ phấn cho tình yêu của ta đến chừng nào đi nữa.

Nhưng trên cõi đời này cũng có người — ít thôi, rất ít — yêu mà không đòi hỏi được người họ yêu yêu lại họ, người họ yêu không những không yêu lại họ mà còn hắt hủi họ, đối xử tàn nhẫn với họ, vậy mà họ vẫn cứ yêu.

Trong Tình sử Thiên Long có một người yêu như thế. Người đó là Du Thản Chi. Tôi quan niệm yêu mà không đòi hỏi được người mình yêu yêu lại mới đích thực là yêu. Yêu mà đòi hỏi được yêu lại vẫn là yêu chính mình, muốn cho mình sung sướng chứ chưa phải là yêu chân chính. Tôi vinh danh Du Thản Chi danh hiệu Thiên Long Tình Sử Đệ Nhất Tình Quân!

Du Thản Chi là con của một trong Du Thị Song Hùng, hai anh em họ Du chủ nhân Tụ Hiền Trang, hai người tổ chức cuộc hội họp quần hùng võ lâm các phái không phân biệt chính tà, hắc bạch để lên án Kiều Phong và tìm cách tru diệt Kiều Phong. Du Thị Song Hùng xử dụng đại đao. Trong trận kịch đấu cả hai anh em đều bỏ mạng dưới tay Kiều Phong.

Khi ấy Du Thản Chi mới muời bốn, mười lăm tuổi. Chàng chỉ được chứng kiến trận đấu chứ không được tham gia. Thấy cha và bác cùng không biết bao nhiêu cao thủ chết thảm vì Kiều Phong, Du căm hận quyết chí báo thù.

Sau đó đươc tin Kiều Phong đã về Khiết Đan, Du Thản Chi mang một đao trong mình đi lên miền Bắc. Chàng đi sang Khiết Đan tìm cơ hội giết Kiều Phong để báo thù. Kiều Phong và A Tử đi chơi ngoài thành, gập Du Thản Chi trong đám người Hán vượt biên bất hợp pháp bị quân Khiết Đan bắt làm nô lệ. Thấy chú thiếu niên là người Hán, trạc tuổi A Tử, Kiều Phong lấy Du Thản Chi về phủ hầu hạ Quận Chuá A Tử — Lúc này Kiều Phong, tức Tiêu Phong, được Hoàng Đế Khiết Đan phong Vương, A Tử là Quận Chuá — và để cho A Tử có dịp được nói tiếng Hán với người Hán.

Tất nhiên Du Thản Chi không nói chàng là con cuả Du Thị Song Hùng. Chàng yêu A Tử ngay khi chàng nhìn thấy nàng ngồi trên ngựa. Ngược lại A Tử tỏ ra ác độc hết cỡ với Du Thản Chi. Nàng đặt tên chàng là A Ngưu. Và nàng có vẻ thích thú khi nàng hành hạ chàng, người đồng hương với nàng nơi xứ lạ, quê người.

A Tử bị trọng thương nhưng không đến nỗi quá nặng như A Châu. Tới kinh đô Khiết Đan, nàng được chữa thương và nàng mạnh lại. Khi có Du Thản Chi hầu hạ, nàng lấy Bích Ngọc Vương Đỉnh ra luyện công.

Bích Ngọc Vương Đỉnh, bảo vật trấn môn của Tinh Tú phái. A Tử lấy cắp Bích Ngọc Vương Đỉnh trốn về trung thổ như ta đã biết. Nàng mang đỉnh ngọc trong mình, phóng ngựa ra ngoài thành, A Ngưu Du Thản Chi chạy theo. Đến góc rừng vắng vẻ, A Tử xuống ngựa, đốt hương thơm bỏ vào trong đỉnh. Mùi hương quyến gọi loài độc trùng rắn, rết, nhện, bọ cạp .. quanh đó kéo đến. Độc trùng theo mùi hương mò vào đỉnh ngọc. A Tử mang đỉnh ngọc về phủ, bắt Du Thản Chi thò tay vào đỉnh cho độc trùng hút máu tươi. Khi độc trùng no máu, bụng căng phồng, rời cánh tay Du Thản Chi rơi xuống, A Tử đập chết độc trùng, lấy máu xoa vào hai lòng bàn tay, luyện công.

Trước đó đã một lần Kim Dung dùng đến cách luyện công tương tự như cách này. Chuyện em Hân Thù Nhi trong Ỷ Thiên Kiếm–Đồ Long Đao. Hân Thù Nhi luyện võ công Thiên Thù Tuyệt Hộ Thủ, lấy nọc độc của loài nhện độc để luyện công. Vì có nọc độc trong máu nên mặt và da thịt Hân Thù Nhi sần sùi, xanh đỏ dễ sợ. Về sau nàng được Giáo chủ Minh Giáo Trương Vô Kỵ giải trừ chất độc và chỉ cho nàng cách khác để luyện võ công; Hân Thù Nhi trở lại xinh đẹp. A Tử cũng dùng nọc độc của loài độc trùng, trong số có nhện độc, để luyện công nhưng không thấy nói nhan sắc của nàng bị ảnh hưởng gì.

Trong một đêm bị nọc độc hành hạ khủng khiếp Du Thản Chi lăn lộn, quằn quại trên sàn đá nơi chàng ngủ. Tình cờ chàng nhìn thấy hình vẽ trong một quyển sách chàng mang theo. Quyển sách này rơi xuống chỗ chàng nằm. Hình vẽ một người nằm trong tư thế giống như kiểu chàng đang nằm. Trong lục phủ, ngũ tạng của người trong hình vẽ có một đường chỉ đỏ chạy qua những kinh mạch. Du Thản Chi hướng dẫn bằng tâm ý cơn ngứa trong người chàng theo đường chỉ đỏ ấy. Và chàng thấy cơn ngưá hạ đi, chàng dễ chịu. Từ đó mỗi đêm chàng dùng cách đó để hoá giải, đúng hơn là để dồn chứa nọc độc trong người chàng vào một chỗ, không để chúng phát tác, chạy loạn. Vô tình chàng đã học được phép luyện công theo Dịch Cân Kinh. Quyển sách chàng mang theo từ nhà chàng đó là bí kíp Dịch Cân Kinh mà không ai biết. Từ đó trong người Du Thản Chi tích tụ một lượng độc tính âm hàn khủng khiếp. A Tử không biết A Ngưu của nàng sống được là nhờ chàng có phép luyện công Dịch Cân Kinh. Nhiều lần nàng lấy làm lạ khi thấy A Ngưu bị loại độc trùng kịch độc như con Hàn Ngọc Băng Tầm cắn mà vẫn không chết.

Bọn quân hầu Quận Chuá A Tử thấy Quận Chúa còn ít tuổi mà thích hành hạ tên A Ngưu nên chúng bầy ra trò Diều Người cho Quận Chuá giải trí. Ngoài kinh thành là thảo nguyên, tức bãi cỏ, mông mênh. Mùa đông tuyết trắng, mùa hè cỏ xanh, gió lộng. Bọn quân hầu đề nghị Quận Chuá chơi trò Diều Ngươi bằng cách lấy A Ngưu làm diều. A Ngưu bị trói vào dây, buộc vào ngựa. Ngựa chạy kéo A Ngưu theo. Khi ngựa chạy nhanh người bị kéo theo sẽ bay lên như cánh diều. Khi rớt xuống Diều Người sẽ hộc máu.

A Tử bằng lòng cho A Ngưu làm diều. Du Thản Chi chết đi, sống lại nhiều lần nhưng chàng vẫn không trốn đi. Thế rồi bọn quân hầu Khiết Đan bầy thêm trò chơi làm A Ngưu trở thành Người Đầu Sắt. Chúng đề nghị Quận Chuá cho thợ hàn gắn hai mảnh đầu sắt vào đầu A Ngưu, làm cho A Ngưu trở thành Người Đầu Sắt. A Tử cũng bằng lòng. Từ đó nàng gọi A Ngưu là Thiết Sửu.

Bị gắn đầu sắt A Ngưu–Thiết Sửu vẫn không chịu trốn đi. Nhưng sức chịu đựng của con người — dù con người chịu đựng vì Tình Yêu — không phải là vô hạn. Đến một lúc nào đó Du Thản Chi cũng phải bỏ đi. Chàng vẫn yêu A Tử nhưng chàng thấy không còn có thể sống gần nàng được nữa. Khi ấy A Tử sai đánh chàng đến chết rồi sai đem xác chàng ra quăng ở dòng suối trong rừng. Nàng không muốn nhìn thấy chàng ở gần nàng nữa. Du Thản Chi tỉnh lại trong đêm khuya. Chàng dùng dao cắt và lột hai mảnh sắt ra khỏi đầu chàng. Sắt dính thịt nên chàng đau đến chết ngất một lần nữa.

Du Thản Chi ra đi. Nhờ có chất kịch độc của Hàn Ngọc Băng Tầm trong người, chàng có công lực Cực Ââm. Chàng xuất chưởng đánh ai là người đó lạnh run lên cầm cập. Nhiều hồi sau chàng trở thành Giáo Chủ Vương Tinh Thiên. Chàng gập lại A Tử khi chàng đã là Giáo chủ và nàng đã bị mù.

Sau thời gian sống ở Khiết Đan, Kiều Phong trở vào trung thổ. A Tử về theo. Nàng gập lại Đinh Xuân Thu, Tinh Tú Lão Quái, Chưởng Môn Tinh Tú Phái, Sư phụ của nàng, người bị nàng lấy trộm Bích Ngọc Vương Đỉnh. Nàng phóng độc châm đánh Đinh Xuân Thu nhưng bị Lão phất tay áo đánh độc châm bay ngược lại làm nàng mù hai mắt.

Du Thản Chi can thiệp, đánh Đinh Xuân Thu, cứu A Tử thoát chết. Nàng mù rồi, nàng không thể biết Giáo Chủ Vương Tinh Thiên, vị đại hiệp ân nhân cứu tử của nàng, cũng chính là tên A Ngưu–Thiết Sửu của nàng năm xưa. Nàng một điều: “Thưa Giáo chủ.. em thế này — Dạ..Thưa Giáo chủ em thế nọ..” ngọt hơn đường phèn. Du Thản Chi tự nguyện cho Tiết Thần Y lấy cặp mắt của mình lắp cho A Tử. Chàng chịu mù để cho nàng có mắt nhìn đời.

Những mùa tuyết trắng theo nhau đến, theo nhau qua trên Đỉnh Tuyết Sơn, những mùa lá xanh chuyển mầu thành vàng, đỏ đến trên Rừng Phong… Cuối cùng những mối tình Thiên Long cũng đi đến tuyệt đỉnh. Tất cả những duyên nghiệp, những ân oán đều đươc người tạo ra chúng là Kim Dung giải quyết ở cửa chùa Thiếu Lâm. Trong trận long tranh, hổ đấu cuối cùng trước cửa Thiền hai nhân vật bí mật vẫn ẩn hiện như rồng suốt chiều dài của Thiên Long — Tiêu Viễn Sơn, thân phụ Tiêu Phong, và Mộ Dung Bác, thân phụ Mộ Dung Phục — cùng tỉnh ngộ và quy y Phật pháp, Vô Aùc Bất Tác Diệp nhị nương đến chùa cho vị đương kim Phương Trượng, người tình cũ của nàng, biết Sư Chú Hư Trúc là kết quả cuộc tình của nàng với ông trước đây…

Tiêu Phong làm người Hán không được, làm người Khiết Đan cũng không xong. Ân hận vì mình giết oan quá nhiều người, Tiêu Phong tự phế bỏ võ công và tự sát chết trước cổng chùa.

Đến phút cuối cùng này A Tử mới nói lên tình yêu thầm kín của nàng. Và cũng đến phút cuối cùng này người đọc Thiên Long mới biết A Tử yêu Tiêu Phong, người nàng gọi là ” Tỉ phu “, dù Tiêu Phong chưa chính thức là chồng A Châu. A Tử yêu Kiều Phong, chàng chết, nàng chết theo chàng…

Kim Dung cho A Tử ôm xác Tiêu Phong nhẩy xuống vực. Hình ảnh này không đẹp và không đúng. Tiêu Phong có thể bồng A Tử — đại hán bồng thiếu nữ — nhưng A Tử không thể bồng được Tiêu Phong. Con mèo tha con chuột thì đuợc, nhưng con chuột không thể tha được con mèo. Nếu tôi là đạo diễn làm phim Thiên Long Bát Bộ, tôi sẽ cho xác Tiêu Phong nằm đàng hoàng trên cỗ xe ngựa, A Tử cầm cương cho xe đi xuống núi Thiếu Thất. Nửa đường, nàng giật cương cho ngựa lao xuống vực thẳm.

Khi thấy A Tử định chết với Tiêu Phong, Du Thản Chi kêu lên:

– Cô nương không thể chết được..

A Tử hỏi:

– Tại sao ta lại không chết được?

Đến lúc này Du Thản Chi mới nói lên tình yêu của chàng:

– Tại vì Du mỗ yêu cô nương. Tại vì đôi mắt cô đang nhìn đó là mắt của Du mỗ.

A Tử lạnh lùng:

– Anh yêu tôi nhưng tôi không yêu anh. Tôi không có bổn phận gì với anh cả. Còn mắt của anh thì tôi trả lại cho anh đây.

Nàng móc cặp mắt vứt lại rồi ôm xác Tiêu Phong nhẩy xuống vực.

***

Tôi nhớ lại những cuộc tình Thiên Long và làm những bài thơ vịnh nhân vật Thiên Long trong những đêm buồn năm 1980, 1981 khi tôi mới trở về mái nhà xưa sau 2 năm tù lần thứ nhất ở số 4 Phan đăng Lưu. Nằm trong tù buồn khổ chỉ mong được về nhà. Về nhà lại thấy buồn. Các con tôi tản đi kiếm sống ở các nơi xa, chỉ có vợ chồng tôi quanh quẩn bên nhau trong căn nhà nhỏ..

Quân lịch phong trần, quân bất dĩ.
Ngã hồi phố thị, ngã do liên.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Giai nhân, thi sĩ đối sầu miên.

Phong trần Em vẫn là Em.
Anh về phố chợ, đêm đêm lại buồn.
Một đi hoàng hạc đi luôn,
Giai nhân, thi sĩ đối buồn nằm mơ.

Thấp thoáng — 1980–1997 — đã mười bẩy mùa lá rụng trôi qua đời tôi. Sáng nay trời Virginia bắt đầu vào thu, Rừng Phong trở mình thay lá, ngồi xem lại bản thảo lần cuối trước khi gửi đến nhà xuất bản, tôi lại bồi hồi đi một đường cảm khái vì cuộc tình của A Châu và cuộc tình Du Thản Chi, hai người yêu đẹp nhất Thiên Long.

DU THẢN CHI

Thiên Long Bát Bộ luận anh hùng
Ai người yêu Đệ nhất thủy chung?
Người ấy suốt đời đau với khổ,
Nhưng Tình Yêu rực rỡ không cùng.
Tự thưở Tụ Hiền Trang máu đổ,
Thù cha quyết báo, giết Kiều Phong.
Một đao phiêu bạt lên miền Bắc,
Giang hồ mưa gió những long đong.
Lưới tình trọn kiếp thân vương mắc,
Nợ máu nhà Du trả chẳng xong.
                    ***
Yêu Em chẳng tiếc máu Anh hồng,
Dâng cho Em, Em luyện võ công.
Đỉnh ngọc xá gì loài nhện độc,
Diều người liều với gió phiêu bồng.
Đất Hồ tù rạc, ai cười khóc,
Được gần Em chết cũng ung dung.
Yêu Em dù biết Em tàn khốc,
Em chẳng yêu mà vẫn thủy chung.
                    ***
Cũng là Giáo chủ, cũng anh hùng,
Vương Tinh Thiên, oai vũ chẳng cùng.
Yêu Em khi thấy Em mù mắt,
Móc mắt cho Em chẳng ngại ngùng.
Tim ấy như son, đầu ấy sắt,
Du Thản Chi yêu đẹp lạ lùng.
Thiên Long Tình Sử trăng vằng vặc
Du Tình Quân Đệ Nhất Thủy Chung.

Bắc Kiều Phong

Khi những ân oán giang hồ diễn ra trong Thiên Long Bát Bộ, triều đại nhà Tống đang trên dốc suy vong, Trung Quốc sắp bị ngoại nhân — Nhà Nguyên, Mông Cổ — chinh phục và đô hộ. Những anh người Hán từ ngàn xưa vẫn tự phụ, tự phong đất nước mấy ảnh là nước trung tâm vũ trụ — Trung Quốc — tất cả những nước khác đều là phụ thuộc giống như hàng rào, phên dậu, tất cả những giống dân khác đều là Man, Di, Nhung, Địch .. — nôm na là Mán, Mọi — thua xa dân Hán mấy ảnh.

Tự kiêu vậy mà trong lịch sử hai ngàn mùa lá rụng dân Hán mấy ảnh bị ngoại nhân đô hộ những hai lần. Lần đầu mấy ảnh mất nước vì Nhà Nguyên Mông Cổ, lần thứ hai mấy ảnh mất nước vì Nhà Thanh Mãn Châu.

Kiều Phong – cùng Du Thản Chi – là hai nhân vật đau khổ, bất đắc chí nhất Thiên Long. Được người Hán nuôi dưỡng trên đất Hán, Kiều Phong vẫn tự hào chàng là người Hán, vẫn thù và khinh bỉ dân Khiết Đan. Chàng yêu nước và sẵn sàng chết vì Trung Quốc nhưng chàng bị đất nước Trung Hoa và dân Hán ruồng bỏ, khinh bỉ, thù hận. Trời đất mênh mang nhưng Kiều Phong, con người bất đắc chí ấy, không những chỉ không có ai là tri kỷ mà còn không có cả đất để đặt chân.

Võ lâm Thiên Long có câu: “Bắc Kiều Phong.. Nam Mộ Dung..” Người võ công cao nhất miền Bắc Trung Hoa là Kiều Phong, người võ công cao nhất miền Nam Trung Hoa là Mộ Dung Phục. Mộ Dung làm người đọc thất vọng còn cuộc đời ái tình và sự nghiệp của Kiều Phong làm ta cảm khái. Nhân vật đại hiệp bản lĩnh võ công lệch đất, nghiêng trời không một lần chiến bại cuối cùng phải tìm cái chết để tránh định mệnh của mình.

Đại hiệp sống vì sự tồn vong của Cái Bang và của Trung Quốc, Đại Hiệp sống không cần có Tình Yêu, không cần đàn bà. A Châu yêu Kiều Phong, Kiều Phong thương A Châu nhiều hơn là chàng yêu nàng. Cho đến khi chàng chết dưới núi Thiếu Thất, Kiều Phong vẫn không biết A Tử yêu chàng.

KIỀU PHONG

Cái Bang Bang Chủ vị chí tôn
Lý lịch sưu tra: Rợ Khiết Đôn.
Đi khắp Thiên Long không chiến bại
Bắc Kiều Phong, tuyệt thế võ công.
Đào hoa nhưng dại không mê gái
Mã phu nhân xuân sắc phải lòng.
Nàng yêu mù tịt không yêu lại
Danh liệt vì đâu, có biết không?

Kiều đã không xong, Tiêu tất vong
Nghiêng trời bản lĩnh cũng long đong.
Đã Thím A Châu thừa vất vả
Sẵn Dì A Tử lại đèo bòng
Hươu vẫn đợi người về đuổi thỏ
Nhạn môn quan nhạn vẫn phiêu bồng.
Anh hùng khó vượt tình nhân ải
Em vợ yêu… Anh có sướng không?

Thủ Cung Sa

Trong Ngôn Ngữ tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung còn có một danh từ không được giải nghĩa: “Thủ Cung Sa”.

Thủ Cung Sa là cái chi dzậy? Cũng cái Thủ Cung Sa kỳ bí này còn được gọi là “điểm chu sa”. Cứ như những gì được diễn tả mơ hồ trong bí kíp thì cái gọi là Thủ Cung Sa này có liên hệ mật thiết với các nàng trinh nữ hoặc không còn là trinh nữ.

Tiểu Siêu – người “chỉ muốn suốt đời được hầu hạ Công Tử” Trương Vô Kỵ, Giáo chủ Minh Giáo – là con Bà Đại Ỷ Ty, Thánh Nữ của Bái Hỏa Giáo Ba Tư.

Đại Ỷ Ty là tên phiên âm của Diety, tên gọi các vị thần thời cổ. Deity không có giới tính, tức là không nhất định là nam hay nữ. Bồ Tát Quan Thế Âm cũng không có giới tính. Trong nhiều bức tranh cổ ta thấy người xưa vẽ hình Quan Thế Âm Bồ Tát là đàn ông, có râu. Cả ngàn năm sau ngày con người biết cõi đời đầy tai họa khổ đau này có Quan Thế Âm Bồ Tát có quyền năng cứu trợ, bảo vệ mình thoát được những tai ương, vì nhu cầu – con người thường năn nỉ, van xin, vòi vĩnh bà mẹ dễ dàng hơn xin ông bố – nên con người thể hiện hình ảnh Quan Thế Âm Bồ Tát bằng người đàn bà đẹp hiền, dịu dàng.

Tiểu Siêu sẽ trở thành Đại Ỷ Ty Bái Hỏa Giáo Ba Tư. Nhưng muốn lên ngôi Đại Ỷ Ty nàng phải là trinh nữ. Đến đây ta thấy có điểm khó hiểu trong kinh điển: Bà Đại Ỷ Ty nếu đã sinh ra Tiểu Siêu tức là – chắc hơn bắp rang, hơn cua gạch – bà không còn là trinh nữ. Vậy thì nếu không còn là trinh nữ nữa tại sao bà vẫn mần được chức Đại Ỷ Ty trong khi Tiểu Siêu, con gái bà, lại bắt buộc phải là trinh nữ mới được mần Đại Ỷ Ty?

Tiểu Siêu mười sáu mùa soài chín, Vô Kỵ mười tám mùa ổi xanh, sống quanh quẩn với nhau cả năm trời trong hầm bí mật dưới Tổng Đàn Minh Giáo trên Quang Minh Đỉnh. Sự kiện này giống như chuyện Tiểu Long Nữ và Dương Qua sống với nhau cả năm trời trong cổ mộ. Hầm đá được kiến tạo và trang bị để tránh bom khinh khí nên có máy điện nguyên tử, máy điều hòa không khí, kho chứa thực phẩm cả trăm năm vưỡn còn nguyên tươi sống. Đôi người trẻ tuổi rạo rực lửa sống và lửa tình ấy có thể không cần ăn mà vẫn sống được dưới lòng hầm đá cả ngàn năm. Nhưng còn chuyện họ yêu nhau thì sao? Người đọc giầu tưởng tượng, dễ tính và cả tin đến mấy cũng không thể chấp nhận được việc đôi người trẻ tuổi chàng đẹp trai, nàng đẹp gái sống với nhau cả năm trời ngày đêm quanh quẩn giữa mấy gian hầm đá lại không có gì mí nhau.

Dù ba mươi mùa lá rụng không đọc lại kinh điển ta còn nhớ mang máng là khi Vô Kỵ bị đẩy xuống hầm đá, tảng đá cửa hầm tự động đóng cửa hầm. Người trong hầm phải mở cửa hầm để đi ra, người bên ngoài không mở được cửa hầm. Muốn đẩy được tảng tá cửa hầm người trong hầm phải có Càn Khôn Đại Nã Di.

Dương Phá Thiên, Giáo Chủ Minh Giáo, xuống hầm luyện Càn Khôn Đại Nã Di. Tiểu Siêu được xuống hầm theo để hầu hạ Giáo chủ. Giáo Chủ Minh Giáo bắt buộc phải có công phu Càn Khôn Đại Nã Di. Vì nhiều lý do Dương Phá Thiên luyện không thành Càn Khôn Đại Nã Di, đành chết khô dưới hầm. Vô Kỵ tìm được bí kíp Càn Khôn Đại Nã Di trước xác chết ngồi của Dương Phá Thiên. Và chàng luyện được thần công này.

Khi Vô Kỵ và Tiểu Siêu đưa nhau trở lên được Quang Minh Đỉnh, Đại Ỷ Ty chờ sẵn để đón Tiểu Siêu về Ba Tư làm Thánh Nữ. Bà lo âu hỏi con gái:

- Con… có.. gì với Trương Công Tử không? Công tử có… làm gì con không ? Con vẫn còn.. nguyên… chứ?

Tiểu Siêu đau khổ gật đầu.

Đại Ỷ Ty vạch tay áo con gái ra xem. Bà yên lòng khi thấy cái gọi là điểm “Thủ Cung Sa” trên cánh tay nàng còn đỏ au.

Điểm Thủ Cung Sa còn đỏ au? Ký gì dzậy? Người đọc lờ mờ hiểu rằng các vị quân tử Tầu ngày xưa – các vị quân tải tối ư ích kỷ, các vị năm thê, bẩy thiếp, chín nàng hầu nhưng các vị bắt buộc người phụ nữ chỉ được biết một người đàn ông trong đời mà thôi – Các vị bắt buộc người thiếu nữ phải giữ trinh tiết, tức là không được tự ý cho người nam nào giao hợp với mình trước khi được các vị cho phép. Các vị bầy đặt ra cái gọi là Thủ cung Sa. Dùng một thủ thuật chích choác, châm chọc chi đó các vị gây nên một điểm son đỏ trên da cánh tay người trinh nữ. Khi người trinh nữ làm tình với phái nam, nàng mất trinh và điểm Thủ Cung Sa trên da thịt nàng mất đi. Người ta – không cần đưa nàng đến nhờ y sĩ khám nghiệm chi cho mất công – chỉ cần vén tay áo nàng, xem điểm Thủ Cung Sa còn mất là biết ngay, trúng phóc, hết đường chối cãi, nàng còn trinh hay nàng đã mất trinh!

Thủ Cung Sa thực sự có giá trị thông tin, báo cáo thần sầu như thế hay đó chỉ là thủ đoạn các nhà quân tải Tầu bịa ra để đe dọa, để răn đe các em trinh nữ? Nếu cách dùng Thủ Cung Sa có thật thì bi giờ thủ thuật ấy còn ở đời không? Còn có cao nhân nào biết điểm Thủ Cung Sa không? Trong Đồ Long – Ỷ Thiên không phải chỉ một mình Tiểu Siêu bị điểm Thủ Cung Sa, dường như Em Chu Chỉ Nhược cũng bị Diệt Tuyệt Sư Thái xét điểm chu sa trinh nữ trên cánh tay em còn hay mất, đỏ au hay đã phai mầu, trước khi trao chức Chưởng Môn Nga My và Ỷ Thiên Kiếm cho em.

Thủ Cung Sa có thật hay là chuyện bịa? Người viết chịu không trả lời được nghi vấn này. Xin nêu lên với hải nội chư quân tải.

Tiểu thuyết võ hiệp Trung Hoa trước 1945 thường không có việc phân biệt chính phái, tà phái, chính giáo, ma giáo. Những trận mưa máu, gió tanh chỉ xẩy ra quanh quẩn giữa những môn phái quen thuộc Thiếu Lâm, Không Động, Võ Đang, Côn Luân, Nga My. Quần hùng thường gây thù gây oán chém giết nhau vì những trận thách đấu gọi là Đả Lôi Đài. Một nhà nào đó lập lôi đài thách quần hùng tỉ đấu tranh chức vô địch để dương danh, lập oai. Đánh nhau chí chạt. Một mạng hộc máu lăn đùng ngã ngửa trên đài, khiêng về đến nhà thì đi tầu suốt không kịp trăn trối vợ con. Và thế là thù oán bắt đầu. Đàn anh nạn nhân thấy hiền đệ bị đánh chết bèn hạ sơn, bèn lên lôi đài đánh chết tên đã đánh chết em mình để trả thù. Đến lượt anh cu vừa đánh chết người bị người đánh chết. Đàn anh của nạn nhân lôi đài thứ hai lại hạ sơn, lại đánh chết người đã đánh chết em mình v.v.. Cứ leo thang như thế mãi lên đến Chưởng môn nhân, Trưởng Lão Phương Trượng, Giáo chủ…

Trong những tiểu thuyết võ hiệp Tiền Thế Chiến Thứ Nhất Cát Tó–Đít zuýt ấy những người học võ dường như chẳng phải để hành hiệp giang hồ, cứu nhân độ thế mà chỉ để hung hăng con bọ xít đánh nhau, tranh đoạt những chức vị ruồi bâu, kiến đậu như Vô Địch Lôi Đài, Giang Nam nhất kiếm. Kể cả những vị tu hành sư sãi trong truyện cũng thù hận ra trò, các vị còn thù hận nặng nề, dữ dội, cay cú, gay cấn, dai dẳng hơn cả bọn phó thường dân cả đời chẳng biết thế nào là tu hành, trai tịnh, bọn đàn ông quanh năm ăn đủ các thứ thịt, kể cả thịt đàn bà, con gái. Đại biểu giới tu hành trong tiểu thuyết võ hiệp Tầu Tiền 45 là Chí Thiện Thiền Sư. Ông Sư này gây nợ máu tùm lum trong Hỏa Thiêu Hồng Liên Tự hay Càn Long Du Giang Nam chi đó – Xin lỗi không nhớ đích xác kinh điển – Cuối truyện – nếu người viết nhớ không lầm – Sư Ông bị địch thủ đánh vỡ đầu.

Tiểu thuyết võ hiệp Tầu hậu Thế Chiến bắt đầu phân biệt hai phái chính tà. Thêm vào những môn phái cũ là những bang phái. Kim Dung là người viết thứ nhất đưa những bang phái vào tiểu thuyết. Bang phái nổi tiếng nhất của Kim Dung là Cái Bang: Bang hội của những Ông Bị Gậy Ăn Mày. Khi sáng tác Cái Bang rất có thể Kim Dung chịu ảnh hưởng, hay lấy cảm hứng, từ những trang tả Triều Đình Ăn Mày trong Notre Dame de Paris của Victor Hugo.

Cái Bang của Kim Dung có những vị trưởng lão chấp pháp. Chấp pháp: chấp hành pháp luật. Chức vụ và công việc của những trưởng lão chấp pháp là bảo vệ và thi hành pháp luật của bang phái. Cũng giống như những anh Cớm Mẽo được gọi là những Law Enforcer. Công An Tầu Cộng có bọn Cán Bộ Chấp Pháp. Công An Việt Cộng học mót cũng có những anh Cán Bộ Chấp Pháp. Bọn này chỉ là bọn Công An không hơn không kém. Năm 1980 sau lần bị bắt thứ nhất trở về Ngã Ba Ông Tạ tôi nói chuyện đến bọn cán bộ chấp pháp hỏi cung tôi, anh bạn tôi – anh này lúc ấy chưa bị tù nên chưa biết – théc méc:

- Gọi chúng nó là cán bộ chấp pháp là gọi đùa theo ngôn ngữ tiểu thuyết võ hiệp hay là tên thật của chúng nó như thế?

Đặc biệt Trưởng Lão Chấp Pháp Cái Bang trong tiểu thuyết Kim Dung có đẳng cấp được tính theo số túi mang trên người. Đệ ngũ đẳng hay Đệ Ngũ Thập Đẳng Huyền Đai-Hồng Đai cũng chỉ là một đai được đánh dấu bằng những nẹp trắng. Trưởng Lão Chấp Pháp Cái Bang cao cấp nhất mang đến Chín Túi trên người. Những ông này thường được gọi tắt là Trưởng Lão Chín Túi.

Chín túi? Làm ký gì mà đến những chín cái túi? Gọi là túi thì phải là túi may trong áo, trong quần, những cái túi rời xách tay hay đeo trên vai không còn đúng là túi nữa. Anh Con Trai Bà Cả Đọi vưỡn có cái tật coi trọng những gì nhiều người coi thường, coi thường những gì nhiều người coi trọng, anh théc méc về số túi của các Trưởng Lão Cái Bang.

Anh không biết y phục chín túi của Trưởng Lão Cái Bang nó ra nàm thao, anh chỉ biết cái gọi là bộ com-lê vét-tông đời nay có đến chín túi. Này nhé: áo vét-tông có năm túi: hai túi trong, một túi ngực gọi là pốt-xét, hai túi ngoài; cái quần tây có bốn túi: hai túi sau, hai túi trước. Vị chi là chín túi.

Anh lại chi ly tính thêm: nếu người bận com-lê vét-tông đi thêm một đường gilet – Từ sau Thế Chiến Thứ Hai gilet gần như hoàn toàn tuyệt tích. Nhưng từ 1990 gilet đã thập thò trở lại trong bộ com-lê vét-tông. Nếu tính cả gilet thì những Trưởng Lão Cái Bang Tây có không phải chín túi mà là những mười một túi. Những Trưởng Lão, Thiếu Lão chơi bật lửa, hộp quẹt, có cái túi đựng hộp quẹt ở cạp quần nữa là mười hai túi.

Thần Điêu Đại Hiệp Dương Quá

Năm 1989 tôi sống ở Trại Lao Động Cải Tạo Z 30 A ở Xuân Lộc, Đồng Nai.

Tài Ngạn là người tù có nhiều tiền nhất trong số gần một ngàn tù nhân Z 30 A năm 1989. Tài Ngạn có tiền và chịu chi. Anh áp dụng bí kíp: “Lấy của che thân..” nên anh rất có thế lực với bọn Cai Tù. Đặc biệt Tài Ngạn không dùng thế lực vật chất của anh để làm hại anh em tù. Anh không những chỉ dùng của để lo cho thân anh, anh còn sẵn sàng dùng của để giúp cho anh em đỡ khổ. Chẳng hạn Tài Ngạn cung cấp giầy, áo, quần, bóng cho hai đội bóng Z 30 A: Đội Tù, Đội Cai Tù, gần như tháng nào Tài Ngạn cũng mua một con heo nguyên con – do bọn Cai Tù nuôi bán cho tù kiếm lời – xẻ thịt chia đều cho anh em cả trại. Tài Ngạn, Tầu Chợ Lớn, vì có hai con mắt bự nên được gọi là Tài Ngạn – Đại Nhãn – bị tù 10 năm vì tội liên hệ với Mười Vân, Trùm Công An VC Đồng Nai, Lãnh Chúa Đồng Nai những năm đầu 1980. Nghe nói Mười Vân đã bị tử hình – Sau mấy năm ở Lầu Bát Giác Chí Hòa, Tài Ngạn ra tòa, lãnh án, lên Trại Z 30 A. Anh khai bệnh, được về Thành Hồ điều trị trong bệnh viện nên tuy đang chịu án tù anh vẫn sống và kinh doanh ở Thành Hồ.

Tài Ngạn mang TiVi, đầu máy Video lên trại tặng Ban Quản Đốc Trại một dàn, tặng riêng anh em tù một dàn. Phim Video được vợ con tù mang lên Trại cung cấp đều đều. Những phim võ hiệp nói tiếng Việt được anh em tù hưởng ứng nhất. Nhiều anh em bị đưa lên đây từ những nơi gọi là “miệt vuờn” xa tít mù khơi Ô Môn, Thốt Nốt, Bằng Tăng, Đồng Tháp Mười, Mỏ Cày, Thạnh Phú, Cái Mơn, Sông Tiền, Sông Hậu.., trước đó chưa từng biết phim xi-nê là gì, khoan nói đến phim video.

Khi có phim mới, anh tù coi về “văn hóa” tổ chức chiếu phim tại Hội Trường từ 2 giờ trưa ngày chủ nhật. Từ 12 giờ nhiều anh em tù đã xách những chiếc ghế xếp tự chế đến Hội Trường giữ chỗ tốt.

Một chiều nghe nói chiếu phim Thần Điêu Hiệp Lữ, tôi lên hội trường xem. Với tôi cuộc tình của Tiểu Long Nữ và Dương Qua là cuộc tình tuyệt đẹp. Tôi vẫn mê Thần Điêu Hiệp Lữ. Về nhân vật Dương Qua tôi thấy không có chi đặc biệt nhưng nàng Tiểu Long Nữ làm tôi mê mệt tâm thần. Trong tất cả những nữ nhân vật võ hiệp Kim Dung tôi yêu nhất, mèn ơi … phải nói là tôi mê nhất, Tiểu Long Nữ.

Quan Thế Âm Bồ Tát ở Nam Hải, vị Siêu Nhiên chuyên cứu khổ cứu nạn những chúng sinh gặp tai nạn trong cõi ta bà. Bồ Tát ở Tử Trúc Lâm, có một người nữ hầu hạ. Người nữ đó là Long Nữ. Dường như nàng là ái nữ của Tứ Hải Long Vương, nàng không muốn lấy chồng và nàng có lòng muốn thoát tục nên quy y Bồ Tát để tu hành.

Tiểu Long Nữ Thần Điêu Hiệp Lữ sống dưới hầm đá. Khi Dương Qua gặp nàng, chú mười lăm mùa cóc chín, nàng mười bẩy, mười tám mùa soài thơm. Nàng hơn tuổi chú và lúc đầu chú là đồ đệ của nàng. Nói cách khác cho thêm rườm rà hoa lá cành nàng là Sư Mẫu của chú. Sư Mẫu dùng roi mây quất đồ đệ nhiều roi quắn đít, bắt chú nằm ngáo trên Hàn Ngọc Băng Sàng.

Lửa gần rơm lâu ngày cũng cháy. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, quy luật ấy không bao giờ thay đổi. Hai ông bà già bà Sáu Bó, ông Năm Bó, sống chung mí nhau ngày ngày đêm đêm ròng rã ba bốn mùa Cô Hồn Rằm Tháng Bẩy quanh quẩn duới một hang đá giống như những Hầm Rượu Saint Germain des Prés — Pré có S hay không có S? Lâu quá quên mất. Thôi cứ cho S đi, tốn kém gì — xứ Tây Vực thì… chém chết Tình Ái cũng nở hoa. Nói chi đến đôi thiếu niên nàng mười bẩy bẻ gẫy sừng trâu rừng, chàng mười lăm đang tuổi dậy thì.

Cuộc tình Sư Mẫu, Đồ Đệ dưới hầm đá nở hoa tưng bừng rực rỡ. Tất nhiên. Đó là điều hợp lý. Họ sống với nhau êm đềm kín mít một chỗ như vậy mà họ dửng dưng lửng lơ con cá vàng với nhau mới là chuyện lạ.

Ba mươi năm trước ai quên nhớ…
Vòng Tay Cô Giáo ví học trò…

Cuộc tình Sư Mẫu – Đồ Đệ không phải là chuyện hoàn toàn không có trên cõi đời tình ái được mùa này. Không những chỉ không phải hoàn toàn không có, những cuộc tình ấy còn có khá nhiều nữa. Ba mươi năm trước ở SàiGòn Đẹp Lắm SàiGòn ơi có tiểu thuyết Vòng Tay Học Trò gây bàn tán một thời. Như tên truyện, đây là vòng tay học trò ôm cô giáo – hay nói cách khác – cô giáo nằm trong vòng tay anh học trò.

Tiểu thuyết SàiGòn Xưa Muôn Mặt Muôn Mầu có Vòng Tay Học Trò nhưng – hơi lạ – không thấy có quyển Vòng Tay Cô Giáo hay Vòng Tay Bà Thầy. Cũng chẳng phải trên cõi đời này chỉ có cô giáo yêu học trò, chắc cũng có đôi ba ông giáo mô phạm yêu nữ sinh. Chỉ có điều đáng nói là cô giáo yêu học trò thì viết tiểu thuyết Vòng Tay Học Trò, ông giáo mà yêu nữ sinh thì không viết tiểu thuyết Vòng Tay Nữ Sinh, ông còn bận làm một trong những việc hấp dẫn như sau: một: dấu như mãn dấu vàng, hai: vào Đại Học Chí Hòa tu nghiệp dài hạn, ba: cưới em nữ sinh trong vòng tay thầy làm vợ.

Sư Mẫu Trẻ Măng yêu Đồ Đệ Dậy Thì. Cuộc tình xứng đôi đẹp quá chứ? Nhưng cuộc tình này bị nhiều vị cao thủ võ lâm tiền bối phản đối. Các vị tôn trọng tôn ti trật tự lễ giáo có từ ngàn xưa: Vua là Vua, Tôi là Tôi, Thầy là Thầy – Cô Thầy cũng là Thầy – Trò là Trò. Không thể nhập nhằng xi-nê vé đồng hạng mí nhau được. Trò không thể làm chồng Thầy, dù Trò chỉ kém Thầy có hai, ba tuổi, Thầy không thểø làm vợ Trò, dù Thầy chỉ hơn Trò có hai, ba tuổi. Cuộc tình Sư Mẫu-Đồ Đệ Thần Điêu Hiệp Lữ gặp nhiều gian nan, tai họa, trắc trở. Nhưng họ vẫn yêu nhau ra rít, họ vẫn sống chết với nhau bất chấp tất cả.

Tiểu Long Nữ bị trúng thương rất nặng. Nàng phải ở ẩn dưỡng thương. Nàng và Dương Qua hẹn gặp lại nhau sau mười sáu mùa bướm nở ở cửa Động Hoa Vàng Hồ Điệp Cốc.

Mười sáu mùa thu lá bay sau chàng đã trở thành Thần Điêu Đại Hiệp. Đúng ngày, đúng giờ chàng đến vách núi đợi nàng. Đây là nơi khi phải chia tay nhau để nàng đi ở ẩn dưỡng thương mười mấy mùa thu xưa họ hẹn sẽ gặp lại nhau. Nhưng chờ đợi mãi không thấy xe limo, hay xe taxi, đưa nàng đến, chàng nhẩy lên dùng ngón tay khắc lên vách đá:

Long Nữ Em.
Đúng hẹn anh đến đón Em. Nhưng Em không đến.
Chắc Em đã trở về Non Bồng, Nước Nhược.
Anh không thể sống ở cõi đời này mà không có Em.

Ký tên lên vách đá xong chàng rú lên những tiếng thanh thoát:

- Nàng đã lỗi hẹn.. Nàng đã lỗi hẹn…

Rú xong Đại Hiệp co cẳng nhẩy xuống vực sâu.

Ba mươi mí năm xanh thắm ngày xưa đọc đến đoạn này Anh Công Tử Hà Đông đi một đường cảm khái. Tất nhiên anh chẳng giống Thần Điêu Đại Hiệp một ly ông cụ nào nhưng anh đêm khuya, gác vắng, đèn vàng, thành phố ngủ yên, anh nằm hiu hiu đọc truyện tình xưa, rít năm bẩy điếu Philip Morris vàng, hoặc Lucky Strike Ba Hàng Chữ, anh đi một đường viễn tưởng nếu anh là Đại Hiệp chắc anh cũng mần y như Đại Hiệp. Chỉ khác tí đỉnh về chi tiết như sau.

Không có nội công nên anh không thể dùng chỉ lực hay dùng bất cứ cái gì vạch được chữ lên đá, lên tường, lên bất cứ đâu. Nhưng anh có cách làm cho nàng – Nàng của anh là Nàng Tý Con Em – biết tin anh, anh có thể làm nàng ăn không ngon, ngủ không yên vì sốt ruột, anh sẽ đăng báo nhắn tin nàng dài dài. Báo nhà, không mất tiền quảng cáo, tội gì không sài. Đại khái anh sẽ:

NHẮN TIN KHẨN CẤP

Tý Con Em,

Anh đến Bưu Điện Saigon — (Sở Thú) — chờ em nửa ngày không thấy em tới. Em bị kẹt ở đâu liên lạc mí anh ngay. Phôn cho anh về:

Nếu nhắn tin năm 1960 anh đề:

- Tòa Soạn Saigon Mới. Điện Thoại 22242

Nếu là năm 1966 địa chỉ liên lạc là:

- Tòa Soạn Nhật Báo Tiền Tuyến, Số 2 Hồng Thập Tự, Cục Tâm Lý Chiến. Cổng dzô ra có lính gác. Số điện thoại: Quên mất.

***

Ân ái vợ chồng không biết là được bao nhiêu ngày đã phải xa nàng, đã phải “chai trường – bouteille longue “- đến những mười sáu mùa ổi chín, hí hửng đến chỗ nàng hẹn để gập nàng – nàng không đến ! Làm gì mà Đại hiệp chẳng rú lên mấy tiếng thanh thoát, thổ ra mấy búng máu tươi.!

Nhưng mà.. chỉ mới đến chỗ hẹn có một ngày không thấy nàng, chàng đã nhẩy xuống vực thẳm tự kết liễu cuộc đời… phải chăng có vội vàng quá không? Nàng không đến đúng ngày giờ hẹn vì nhiều lý do. Trung thổ rộng mênh mang. Đâu có phải chàng ở Ngã Tư Bẩy Hiền, nàng ở Ngã Ba Ông Tạ, hẹn hò nhau ở rạp Xi-nê Đại Lợi, đến giờ chiếu phim nàng không đến, chàng tuyệt vọng nhẩy xuống con rạch đầu chợ Ông Tạ.

Trong Thần Điêu Hiệp Lữ Tiểu Long Nữ có thể đến chậm vì:

- Phi cơ Air France bị không tặc cướp. Thay vì cất cánh từ Paris Có Gì Lạ Đâu Anh phi cơ không đưa nàng đến phi trường John F. Kennedy New York mà lại đưa nàng rẽ sang Cuba hay Bakou.

- Nàng có thể ham dzui ở lại Roma thêm năm bữa, nửa tháng để đi chơi với ký giả Gregory Peck trên xe Vespa.

- Nàng có thể bị lột nhẵn nhụi ở Las Vegas. Mất cả Credit Card, vé máy bay, passport nên nàng chưa đi khỏi đó được.. vân vân và vân vân..

Nhưng như đã nói nhiều lần và sẽ còn nhắc đi, nhắc lại nhiều lần: Định Mệnh an bài. Con người ta ở cõi đời này chẳng phải chỉ có miếng ăn, miếng uống là đã được định trước mà thôi, kể cả chuyện vợ chồng gập lại nhau sớm muộn cũng đã được định trước. Khi đến vách núi Thiên Sơn chờ nàng, không thấy nàng, tưởng nàng lỗi hẹn, Đại Hiệp không biết Tiểu Long Nữ đã đến đó chờ chàng từ lâu rồi. Nàng đã bị bọn ma giáo tấn công bề hội đồng đánh nàng ngã xuống vực thẳm.

Đại Hiệp tuyệt vọng nên nhẩy xuống vực để chết nhưng chính vì nhẩy xuống đấy Đại Hiệp mới gập lại được Long Nữ, Đại Hiệp mới đoàn tụ gia đình được với Long Nữ. Nếu không nhắm mắt nhẩy xuống cốc, Đại Hiệp cứ ngất ngư con tầu đi về là cuộc tình tuyệt đẹp chấm dứt rồi. Đã bảo Định Mệnh an bài mà.

Cái vực thẳm ngàn trượng đứng trên nhìn xuống không thấy đáy, đứng dưới đáy nhìn lên chỉ thấy mây mù ấy không phải là cái vực thẳm tầm thường ta thấy nhan nhản trong tiểu thuyết võ hiệp Tầu. Nó là Tình Cốc. Dưới Cốc có loài hoa tên là Tình Hoa.

Tình Hoa có tính cách rất ly kỳ. Hoa đẹp, thơm. Thường thì ai khỏe mạnh cũng thích hái hoa này. Người trẻ mười sáu, hai mươi que hung hãn hái Tình Hoa đã đành, những ông bà Năm Bó, Sáu Bó gặp Tình Hoa cũng hái như điên. Tình Hoa đẹp nhưng có gai sắc nhọn. Người nào hái Hoa Tình sẽ có hoa đẹp nhưng cũng sẽ bị gai đâm chẩy máu tùm lum. Ý nghĩa của Tình Hoa là người gập ái tình sẽ yêu và sẽ đau khổ vì yêu.

Thần Điêu Đại Hiệp gập lại Tiểu Long Nữ dưới Tình Cốc, cùng hái Tình Hoa với nàng và sau tuần trăng mật, dùng trực thăng đưa nàng lên khỏi cốc. Trực thăng của Đại Hiệp là hai con thần điêu. Kiểu trực thăng hiện đại này bay ngày đêm không biết mỏi, không cần người lái, không cần radar, không cần xăng nhớt gì ráo trọi. Mười thế kỷ sau Thần Điêu Đại Hiệp Dương Qua, tức ngàn lẻ mùa crawfish nhẩy lên bờ sông Mississippi, Xê Kỳ vẫn chưa chế tạo được kiểu trực thăng nào tuyệt diệu như trực thăng Thần Điêu.

***

Tôi kể linh tinh lang tang vài chuyện tôi nhớ về Thần Điêu Hiệp Lữ để nói lên tình yêu của tôi với Tiểu Long Nữ. Trong tưởng tượng của tôi – xin nói rõ hơn: không phải là trong tưởng tượng mà là trong cảnh thực nằm trong tiềm thức của tôi — Long Nữ trẻ đẹp, mạnh khỏe, có da thịt, tóc nhung dầy, mắt to đen, sáng long lanh, đôi lông mày như rặng núi xanh mùa xuân, ngực nở, eo thon, mông tròn, chân dài, nhưng không dài lắm.

Hình ảnh Tiểu Long Nữ Mếch In Tài Oan, Hoớng Koỏng tôi thấy trên màn ảnh TiVi buổi chiều chủ nhật mùa lao cải cũ ở Trại Z 30 A Quê hương ta làm tôi chán mớ đời. Tiểu Long Nữ gì mà ốm nhom. Hình như mắt còn lé nữa! Từ đầu giờ Tý đến cuối giờ Hợi nàng chỉ bận có mỗi một bộ áo trắng dài tay, không hở cổ, váy kín mít. Thần Điêu Đại Hiệp có dáng dấp, mặt mũi giống một anh đứng trấn Quán Tây Kỳ ở cửa Nhà Dây Thép Gió trên đường vào Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa gần Ngã Ba Ông Tạ hay một anh Tàu chà cháo quẩy Chợ Lớn.
Những trận kịch đấu cà chớn hết diễn ra trong nhà lại ra ngoài vườn. Hết đánh nhau ngoài vườn lại lôi nhau vào trong nhà đánh nhau nữa. Tôi thất vọng đến cái độ vừa ngơ ngẩn nhìn thấy Em Tiểu Long Nữ mềm như bún trên màn ảnh TiVi chiều ấy tôi quay gót đi ngay ra khỏi Hội Trường Z 30 A.

Năm 1984, khi tôi bị bắt lần thứ hai Thành Hồ chưa có Video. Nghe nói đến những năm 1986, 1987 mới có đầu máy Video đưa lén vào Thành Hồ. Lúc đầu Việt Cộng ác ôn cấm không cho nhân dân dùng Video. Nhà nào có đầu máy là phải giữ bí mật như đồ quốc cấm và có thể bị Công An cùng bọn Thông Tin Văn Hóa Phường, Quận ập vào xét nhà tịch thu máy bất cứ lúc nào. Về sau đầu máy nhập lậu từ biên giới Campuchia — Thái Lan sang — đầu máy do các cơ sở Nhà Nước Cộng sản nhập kéo vào Việt nam quá nhiều, bọn Cộng sản không sao kiểm xoát được đành bỏ cho dân sài luôn.

Mới đây tôi tình cờ nhìn thấy Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn trên màn ảnh Video. Phim Tầu Tà-oan. Anh kép đóng vai Kim Mao Sư Vương nếu được dùng thủ vai anh nghiện sì ke sẽ thích hợp hơn. Tôi chắc Kim Dung không được hài lòng lắm với những bộ phim được thực hiện theo tiểu thuyết của ông. Phim ảnh được làm theo những bộ tiểu thuyết hay thường làm khán giả thất vọng. Đó là thông lệ. Những nhân vật võ hiệp kiệt xuất do Kim Dung sáng tạo trong tiểu thuyết khó có thể hiện hình trên phim ảnh.

A Châu (phần 1)

Thiên Long kể lại chuyện xưa sau
Trọn tình, vẹn hiếu có A Châu…

A Châu, con gái của Đoàn Chính Thuần và Nguyễn Tinh Trúc, là nữ nhân vật có cuộc sống, và cuộc tình trong sáng nhất Thiên Long. Suốt một đời tôi quí trọng Tình Yêu, đề cao Tình Yêu, trái tim tôi bồi hồi trong những đêm buồn ghê gớm những năm 80 ở Thành Hồ, trằn trọc trong căn gác nhỏ, nghe tiếng thời gian chậm bước đi, tôi thao thức nhớ lại chuyện xưa, những cuộc tình Thiên Long Bát Bộ..

Chuyện xưa trong trí ta lần dở
Này những tình oan, những thủy chung…

Cuộc tình của A Châu làm tôi xúc động, con người A Châu làm tôi yêu mến. Nàng xuất hiện lần đầu trong nhà của Mộ Dung Công Tử ở Cô Tô Yến Tử Ổ.

Cảnh sắc Trung Quốc diễn tả trong những tiểu thuyết võ hiệp thật thơ mộng. Không cần đến tận nơi, chỉ nghe tả và tưởng tượng thôi cũng đã thấy đẹp tuyệt vời. Đôi khi cảnh sắc trong tưởng tượng của ta còn đẹp, hùng vĩ hay thơ mộng gấp nhiều lần cảnh thật. Như cảnh Cô Tô Yến Tử Ổ Thiên Long chẳng hạn.

Cô Tô Yến Tử Ổ Thiên Long là một hòn đảo nằm giữa Hồ Động Đình. Người ngoài muốn vào ra Cô Tô Yến Tử Ổ phải được bầy chim yến dẫn đường. Không có chim yến dẫn đường, tức không được chủ nhân Yến Tử Ổ cho phép, không ai có thể vào hay ra khỏi Cô Tô Yến Tử Ổ.

Cưu Ma Trí, Quốc Sư nước Thổ Phồn, một vương quốc láng giềng của vương quốc Đại Lý, trên đường đi khắp giang hồ để sưu tầm võ công thiên hạ — nói cho rõ và đúng hơn là đi đánh cướp võ công của thiên hạ đem về làm của mình. Khi đến Chùa Thiên Long đấu chưởng vớùi các vị cao tăng trong chùa, tình cờ gập Vương tử Đoàn Dự đang ở trong chùa thăm ông bác Bảo Định Đế tu hành, Cưu Ma Trí bắt Đoàn Dự đem đi theo. Cưu Ma Trí đến Cô Tô Yến Tử Ổ và vì vậy Đoàn Dự cũng đến Cô Tô Yến Tử Ổ. Không có chuyện gì đáng nói xẩy ra trong vụ Cưu Ma Trí đến Cô Tô Yến Tử Ổ: Lão chủ nhân Mộ Dung Bác đi vắng, Thiếu chủ Mộ Dung Phục cũng không có mặt tại nhà.

Đoàn Dự lạc vào nhà bếp nhà Mộ Dung, nơi chàng thấy vui vui vì có mấy em nữ tì trạc tuổi chàng — Một Bó lẻ Năm, Sáu Que chi đó — rồi chàng thấy một lão bà tóc trắng, chống gậy trúc, đi vào. Đoàn Dự cung kính chào hỏi lão bà và chàng ngạc nhiên khi thấy mấy em nữ tì nói chuyện nhủng nhẳng như đùa rỡn với lão bà.

Lão Bà Đoàn Dự gặp trong nhà bếp Môï Dung phủ là A Châu hoá trang. Nguyễn Tử Trúc Lâm phu nhân sinh hai chị em A Châu, A Tử nhưng không biết vì sao bà không để cô nào sống yên lành trong Tử Trúc Lâm với bà. Bà cho A Châu vào sống trong phủ Mộ Dung, cho A Tử theo Tinh Tú Phái, làm đồ đệ Lão Quái Đinh Xuân Thu. A Châu học được thuật hoá trang thần kỳ. Không những nàng chỉ có thể giả làm lão bà, nàng còn có thể giả làm đàn ông, giả làm bất cứ ai y như người đó. Thuật hoá trang này chẳng giúp ích gì được cho A Châu, nó còn góp phần vào việc làm cho nàng chết thảm.

Ngày tháng qua đi, những trang truyện Thiên Long Bát Bộ theo nhau mở đóng, ta gặp lại A Châu khi Kiều Phong nửa đêm lọt vào Chuà Thiếu Lâm.

Khi ấy Kiều Phong đã biết mình là người Khiết Đan, cha mẹ mình bị một nhóm võ lâm cao thủ Trung Hoa phục kích, tấn công giết chết ở biên giới. Ông thân của chàng là Tiêu Viễn Sơn, quí tộc Khiết Đan,võ nghệ cao cường, một mình đánh ngang tay với cả chục cao thủ Trung nguyên. Nhưng khi thấy bà vợ yêu của ông bị chết trong trận kịch đấu, Tiêu Viễn Sơn đau khổ ôm đứa con trai nhỏ mới mấy tháng nhẩy xuống vực tự sát. Trên đường rơi xuống bỗng ông thấy ông không có quyền giết con, ông ném đưá nhỏ trở lên cho nó sống. Các cao thủ võ lâm tấn công biết họ giết lầm — đúng ra họ bị kẻ cho tin lừa gạt — các ông hối hận. Đứa nhỏ sống sót được giao cho Phương Trượng chuà Thiếu Lâm đem về nuôi. Đứa nhỏ Khiết Đan ấy ba mươi năm sau là Kiều Phong, Bang Chủ Cái Bang, người có võ công lệch đất, nghiêng trời.

Bây giờ Kiều Phong không còn ảo tưởng gì về việc chàng là người Hán nhưng bị kẻ thù vu cáo là người Khiết Đan, chàng đã biết chàng là người Khiết Đan. Và chàng đi tìm kẻ được gọi mơ hồ là Thủ Lãnh Đại ca, vị cầm đầu đám cao thủ võ lâm Trung nguyên đã giết cha mẹ chàng.

Và máu đổ trên đường Kiều Phong đi. Nói cho đúng hơn máu đổ ở những nơi Kiều Phong định đến, sắp đến. Bí mật dầy đặc bao quanh người hùng cô đơn. Có một nhân vật đi trước Kiều Phong, nhân vật này giết những người Kiều Phong đến gập để hỏi về thân thế chàng và về tung tích Thủ Lãnh Đại ca.

Phương Trượng Thiếu Lâm đem đứa nhỏ Khiết Đan về giao cho vợ chồng Kiều công, ông bà giữ vườn rau của nhà chùa, nuôi làm con. Vì vậy đứa nhỏ mang họ Kiều và yên trí nó là con ông bà họ Kiều. Người nuôi Kiều Phong là ông bà họ Kiều, người truyền thụ võ công cho Kiều Phong là một vị tăng chuà Thiếu Lâm.

Kiều Phong về đến vưòn rau lúc nửa đêm. Căn nhà nhỏ tối om không ánh đèn. Chàng bồi hồi gọi:

– Gia gia ơi.. Má má ơi.. Con về đây..

Ông bà Kiều đã bị người đánh chết. Ông bà mới bị giết cách đây chưa lâu, kẻ sát nhân chỉ đi trước Kiều Phong ít bước. Chưa hết bàng hoàng, chưa kịp đau thương Kiều Phong đã nghe tiếng ngươi hô hoán bên ngoài:

- Tên ác tặc Khiết đan đã giết ông bà Kiều.. Đừng để nó chạy thoát..

Võ lâm kết tội Kiều Phong đã hạ sát một số cao thủ. Tất nhiên Kiều Phong bị oan. Chàng thoát khỏi vườn rau để lọt vào chùa Thiếu Lâm, đến thiền phòng của Sư phụ chàng.

Lại một đoạn diễn tả những sự việc sôi nổi biểu lộ tài năng kể chuyện của Kim Dung. Vừa vào thiền phòng của Sư phụ, Kiều Phong trông thoáng thấy bóng một đại hán. Người này có hình dáng, khuôn mặt hao hao giống chàng. Định thần nhìn lại Kiều Phong thấy đó chỉ là hình chàng phản chiếu trên tấm gương đồng lớn — Thời này người Ai Cập chưa tìm được cách lấy thủy tinh từ cát biển để đúc gương, làm kiến lão–Việc nhìn thấy bóng người thoáng qua không làm cho Kiều Phong thắc mắc lâu. Chàng không có thì giờ để thắc mắc. Sư phụ chàng vẫn tọa thiền trên bồ đoàn, nhưng ông đã bị trúng thương nặng. Ông sắp thở hơi cuối cùng. Kiều Phong không hiểu gì cả khi vị đại sư mở mắt nhìn thấy chàng, nhận ra chàng, Ông chỉ thốt lên mấy tiếng:

– Con đấy ư ? Hay lắm.. Tốt lắm..

Rồi Đại sư viên tịch. Kiều Phong thấy nét mặt ông phảng phất ý vui mừng. Chàng không cả thì giờ xem xét hiện trường, tìm biết về cái chết của Sư phụ. Các nhà sư Thiếu Lâm thấy trong chuà có biến đã tới bên ngoài thiền phòng. Nhìn quanh Kiều Phong thấy một chú tiểu bị điểm huyệt nằm trong một góc thiền phòng. Chú tiểu chỉ bị điểm huyệt nằm bất động nhưng không bất tỉnh. Nghĩ rằng chú có thể kể lại có những chuyện gì xẩy ra trong thiền phòng Kiều Phong vác chú lên vai, thoát ra khỏi chùa Thiếu Lâm.

Lại một đoạn Kim Dung diễn tả thật gay cấn, hấp dẫn. Không muốn đối chưởng với vác vị sư chùa Thiếu Lâm, Kiều Phong tìm đường chạy. Trên đường ra khỏi thiền phòng của Sư phụ, chàng lấy tấm gương bằng đồng che lên chú tiểu nằm trên vai chàng. Chàng nhẩy lên mái nhà. Một vị tăng đánh chàng một chưởng với trọn mười hai thành công lực. Chưởng đánh vào tấm gương trên vai chàng, phát lên một tiếng choang. Chưởng lực làm một đầu gối Kiều Phong khuỵu xuống, nhưng chàng mượn sức đẩy của chưởng, phóng mình bay qua tường chuà ra ngoài…

Vác chú tiểu trên vai Kiều Phong chạy đến một dòng suối. Trời tảng sáng. Các vị sư chùa Thiếu Lâm đuổi theo đã bị chàng bỏ rơi. Chàng đặt chú tiểu trên vai xuống bờ suối. Đến lúc này chàng mới biết chú tiểu bị trọng thương. Vì nằm trên vai chàng, chú lãnh trọn phát chưởng nhà chùa đánh theo chàng. May chú được tấm gương đồng che cho, nếu không chú đã chết ngắc vì những oan khiên của người khác.

Nhưng chú bị thương rất nặng, chú chết ngất và chú chỉ còn thoi thóp thở. Kiều Phong vội truyền nội lực cưúù chú. Chàng cởi áo chú và ngạc nhiên khi thấy chú không phải là chú tiểu mà chú là cô tiểu. Nói rõ hơn chú là Thiếu nữ.

Chú tiểu chùa Thiếu Lâm có uyên nguyên với Kiều Bang Chủ tên chùa là Trí Thanh, tên nhà là A Châu, người đã xuất hiện trên sân khấu Thiên Long trong đoạn Đoàn Dự bị Cưu Ma Trí đưa vào phủ Mộ Dung trong Cô Tô Yến Tử Ổ. Lần ấy Kim Dung chỉ cho nàng ra sân khấu thoáng qua để giới thiệu nàng. Đây là lúc A Châu chính thức bước vào tình sử.

Bên dòng suối khi trời mới bình minh, A Châu mở mắt và thấy Kiều Phong săn sóc, lo âu đến sự sống chết của nàng. Kim Dung ít cho nhân vật của ông nói những tiếng: “Em yêu anh.. Anh yêu em..” nhạt nhẽo và thực sự không nói lên được ký gì cả. Ông cho nhân vật của ông nói lên tình yêu của họ bằng việc làm. A Châu yêu Kiều Phong nhưng suốt thời gian ngắn ngủi nàng được sống bên chàng, không một lần ta nghe nàng nói :”Anh ơi.. Em yêu anh..!”

– Cô nương là ai? Cô nương có thể cho tại hạ biết vì sao cô nương lại giả trang vào tu trong chuà Thiếu Lâm được không? Tại hạ thật có tội với cô nương. Vì tại hạ mà cô nương bị trúng thương. Xin cô nương đừng lo, cô nương không chết đâu, cô nương không chết được. Tại hạ sẽ đưa cô nương đi nhờ Thần Y cứu sống. Từ lúc này sự sống chết của cô nương sẽ là chuyện quan trọng nhất của tại hạ…

Đại hiệp oai phong, khôi vĩ, đường đường hảo hán, danh trấn giang hồ.. Đại hiệp nói những câu như dzậy mí em thì Đại hiệp giết em rồi còn gì! Em mới mười bẩy tuổi, em còn nguyên bản — thuật ngữ quảng cáo hàng họ Phú Lang Sa là ” Tú nớp, ja-me cát-xê” — Em chưa yêu ai, em chưa biết yêu là gì, em chưa biết hơi trai đừng nói gì đến hơi đàn ông.. Gặp trường hợp này em không yêu, em không mê Đại hiệp mới là chuyện lạ, em yêu, em mết Đại hiệp là chuyện thuờng tình, chuyện tự nhiên.

Và A Châu yêu Kiều Phong. Chàng lập tức đưa nàng đi chữa thương. Nàng bị thương rất nặng. Nàng còn sống được chỉ là nhờ Kiều Phong ngày ngày truyền công lực cho nàng. Nhưng chàng không thể cứ truyền công lực giữ cho nàng khỏi chết như thế mãi. Trên cõi đời này chỉ có một người có thể cứu mạng nàng. Người đó là Tiết Thần Y — tên cúng cơm là Tiết Mộ Hoa — Thầy lang họ Tiết trị bệnh thần sầu đến nỗi được giang hồ tôn xưng là Thần Y.

Kiều Phong tìm một chiếc xe ngựa, để A Châu trong xe, chàng cầm cương, đi về điạ phương của Tiết Thần Y. Họ ngày đi, đêm nghỉ ở quán trọ bên đường thiên lý. Những tác giả tiểu thuyết võ hiệp thường bị chế nhạo là luôn luôn cho nhân vật của mình ra đi không mang va-ly, cả quần áo cũng không thấy cắp nách, tức là đi chân tay không, không hành lý, không tiền.. Mà không phải là đi gần, đi xa vạn dậm, đi khắp trung nguyên, tức là đi ngang, đi dọc, đi lên, đi xuống khắp lãnh thổ Ba Tầu. Khi viết đến đoạn Kiều Phong đưa A Châu đi chữa thương, chắc Kim Dung nhớ đến lời phê bình trên nên ông tả Kiều Phong khi cần tiền, chờ đêm xuống, vào Kho Bạc Nhà Nước ở địa phương, bẻ khóa lấy bạc tiêu dùng. Đại hiệp cũng đạo chích như ai!

Có thể đây là những ngày sung sướng nhất của A Châu kể từ lúc nàng mở mắt nhìn thấy Kiều Phong bên bờ suối. Trên đường đi, nằm yên ổn trong xe, nàng nói chuyện với chàng. Nàng không nói cho chàng biết nàng là người của nhà Mộ Dung, được phái vào Chuà Thiếu Lâm để lấy trộm bí kíp võ công cất trong Tàng Kinh Các nhà chuà. Kiều Phong cũng không hỏi kỹ về lý lịch của nàng. Chàng còn nhiều chuyện bận tâm khác.
Trên đường họ đi đến nhà Tiết Thần Y nhiều nhân vật võ lâm đủ các bang phái cũng kéo nhau đi. Quần hùng đến Tụ Hiền Trang theo lời mời của Du Thị Song Hùng để dự đại hội bàn chuyện trừ diệt tên ác tặc Kiều Phong, tên Khiết Đan từng giữ chức Bang Trưởng Cái Bang sau khi bị lột mặt nạ đã giết quá nhiều nhân vật võ lâm, gây quá nhiều nợ máu. Kiều Phong biết chuyện ấy. Chàng đưa A Châu đi thẳng đến Tụ Hiền Trang vì chàng biết chàng sẽ gập Tiết Thần Y ở đấy.

Kiều Bang Chủ giao tình với Thần Y rất hậu. Nay hai người ở hai phe đối nghịch nhau nhưng Thần Y vẫn nhận lời yêu cầu của cố nhân một lần cuối. Ôâng nhận chữa thương cho A Châu. Kiều Phong giao nàng cho Thần Y. Chàng nói với nàng lời cuối:

– Thần Y đã nhận lời cứu cô nương, cô nương sẽ sống, Kiều mỗ yên lòng. Xin vĩnh biệt cô nương..

Khi nói với A Châu như thế Kiều Phong nghĩ chàng sẽ chẳng bao giờ gập lại nàng. Nhưng con người ta đâu có thể thoát ra khỏi lưới tình và định mệnh một cách khơi khơi, dễ dàng như dzậy được. Định mệnh an bài. bao giờ định mệnh cũng an bài.., và khi định mệnh đã an bài, không ai có thể thoát…

***

Thiên Long Bát Bộ có nhiều trận kịch đấu trời long, đất lở. Trận kịch đấu ở Tụ Hiền Trang giữa một bên là Kiều Phong, một bên là quần hùng, là trận kịch đấu dữ dội, bi hùng tráng nhất Thiên Long.

Kiều Phong biết quần hùng tụ họp ở Tụ Hiền Trang để bàn chuyện giết chàng. Nhiều người trong số họ có người thân, sư huynh, sư đệ bị nhân vật bí mật giết chết trong thời gian gần đây — tất cả mọi người đều cho rằng nhân vật bí mật ấy là Kiều Phong — nên họ căm phẫn đến cái độ thấy Kiều Phong là phải giết để trả thù. Kiều Phong biết như thế, giao A Châu cho Tiết Thần Y xong, chàng đi thẳng đến Tụ Hiền Trang.

Không ai ngờ tên ác tặc lại dám ngang nhiên đến ngay nơi hội họp của quần hùng ở Tụ Hiền Trang. Người người căm hận chỉ muốn ăn gan, uống máu tên ác tặc nhưng khi Kiều Phong đến nơi, người ta không xô ra đánh chém loạn cào cào châu chấu ngay. Quân tử Tầu khi giết nhau cũng vẫn hành xử theo lối quân tử Tầu. Người ta vẫn lễ độ với nhau, vẫn mời nhau uống rượu trước khi giết nhau.

– Kiều mỗ mời các vị uống với Kiều mỗ một bát rượu đoạn tình, đoạn nghĩa…

Quân tử Tầu dùng rượu trong mọi trường hợp, mọi nơi, mọi lúc, mọi chuyện, mọi tình cảnh. Thi đỗ rượu, thi trượt rượu, đám cưới rượu, đám ma rượu. buồn rượu, vui rượu, gập nhau rượu, xa nhau rượu. thắng rượu, thua rượu, kết ngãi — tức kết bạn — rượu, đoạn ngãi — không còn bạn bè gì nữa — rượu… Và họ — ít nhất cũng là quần hùng trong tiểu thuyết võ hiệp — uống rượu bằng bát chứ không bằng ly, chén.

Và cứ như thế Kiều Phong mời những người bạn cũ uống rượu của anh em Du Thị Song Hùng. Chàng uống với mỗi ông bạn giang hồ một bát. Nhưng..không khí trầm trần theo đúng lễ nghi, đôi bên đối xử với nhau lịch sự, ôn hoà. Cũng có thể khi uống với nhau chán rồi người ta nói:

– Thôi.. Nghỉ uống. Ta đánh nhau.. Mời túc hạ xuất chưởng…

Viết như vậy cũng được nhưng viết như vậy là không có hay, là không có nghệ thuật. Phải có một động tác, một sự kiện nào đó làm hiện trường đột biến, từ hoà nhã chuyển sang dữ dội, để người ta có thể đang uống rượu với nhau quay ra đánh giết nhau. Kim Dung biết sự cần thiết ấy và ông đã làm sân khấu đột biến bằng cách cho một anh Ma giáo không giống ai ngất ngưởng bước ra đòi uồng rượu tay đôi với Kiều Phong.

Anh Ma giáo này chỉ có cái thuật gọi là phúc ngữ: nói bằng bụng. Thuật này tiếng Phú Lang Sa là ventriloque và là thuật chuyên để làm xiếc chứ không dùng được việc gì khác. Những người có thuật phúc ngữ thường làm xiếc với một hình nộm, khán giả tưởng như hình nộm nói cười nhưng thật ra là người làm xiếc nói cười mà không mở miệng.

Anh Ma giáo mặt mũi đen đủi, hình dung xấu xí, người không ra người, ngợm không ra ngợm, ngất ngưởng bước đến trước mặt Kiều Phong:

– Kiều Phong.. Ta uống với người bát rượu chấm dứt tình bạn..

Trừng mắt nhìn gã, Kiều Phong quát lên:

– Ai là bạn của mày..?

Chàng đập mạnh bát rượu trên tay xuống đất.

Choang.!

Bát rượu vỡ. Cùng với tiếng choang Kiều Phong đánh ngay một chưởng vào ngực anh Ma giáo.Tội nghiệp. Chưa được uống tí rượu nào anh Ma giáo hộc máu chết ngay tại chỗ.

Và thế là người ta xông vào đánh nhau…

***

Vì mặc cảm là người Khiết Đan. Kiều Phong chỉ dùng cái gọi là Thái Tổ Trường Quyền đấu với quần hùng. Thời đó đang là triều nhà Tống. Thái Tổ đây là Tống Thái Tổ. Triệu Khuông Dẫn dùng võ nghệ dành được thiên hạ, lập lên nhà Tống, để lại cho đời quyền phổ mang tên Thái Tổ Trường Quyền. Những chiêu thức trong quyền phổ đều rất thường, không có gì bí hiểm, ác độc nhưng Kiều Phong có nội lực thâm hậu, chàng xử dụng những chiêu thức rất thường này mà quần hùng không áp đảo được chàng. Dùng Thái Tổ Trường Quyền, Kiều Phong có ý nói với quần hùng :”Các người thù ta vì ta không phải là người Hán như các người. Nhưng ta chống lại các người không bằng võ công nào khác ngoài võ công của chính các người..”

Rồi máu chẩy, thịt rơi, người chết, trận kịch đấu trở thành ác liệt. Say máu, người ta trở thành điên loạn. Kiều Phong cũng phát điên. Chàng giết người không nương tay. Như đã nói: Đây là trận đấu mưa máu, gió tanh dữ dội nhất Thiên Long.

Kiều Phong, dù có nội lực kinh hồn, võ công lệch đất, bản lĩnh nghiêng trời, kể cả chàng có là Siêu nhân, cũng không thể đánh mãi với quần hùng. Trước sau, sớm muộn gì chàng cũng phải chết nếu chàng cứ một mình kịch chiến với quần hùng như thế trong Tụ Hiền Trang. Lại một trận kịch đấu mưa máu, gió tanh chính hiệu được Kim Dung diễn tả. Sự kiện bất ngờ xẩy đến người đọc không thể đoán trước được. Khi Kiều Phong đuối sức, mắt chàng đã mờ đi, những chiêu thức của chàng trở thành loạng quạng, Đại Hán Áo Nâu bí mật xuất hiện cứu chàng.

Đại hán ở trên ngọn cây tùng bên sân Tụ Hiền Trang tự bao giờ không ai biết. Đại hán tung dây cuốn vào đỉnh cột cờ giữa sân Tụ Hiền Trang, nắm dây bay xuống. Đại hán quét một vòng đường dây làm những cao thủ đang bao vây Kiều Phong lăn đùng, ngã ngửa. Đại hán ôm sốc Kiều Phong theo đường dây bay lên rồi đặt Kiều Phong nằm trên vai, thi triển khinh công chạy đi…

Khi đó Kiều Phong chưa ngất hẳn. Nằm trên vai người bí mật chàng biết mình được đưa lên núi. Rồi chàng được đặt cho đứng trước cửa động trên núi cao. Đại hán đứng trước mặt chàng. Người bí mật bận y phục nâu, mặt có khăn bịt kín nên Kiều Phong không biết tuổc tác của ân nhân, chàng chỉ thấy ánh mắt ông lóng lánh sáng trong hai lỗ mắt trên khăn bịt mặt, ông ta có khổ người cao lớn cũng như chàng.

– Thật ngốc dại.. Có võ công lệch đất, nghiêng trời mà đi chết vì một đưá con gái…

Đấy là lời Đại hán mắng Kiều Phong. Ông đưa tay lên tát chàng. Kiều Phong không né tránh cũng không đánh lại. Chàng chỉ đưa ngón tay trỏ lên đỡ. Nếu Đại hán tát chàng, bàn tay ông sẽ trúng chỉ của chàng và ông ta sẽ bị thương trước. Đại hán chuyển thế bàn tay của ông, Kiều Phong chuyển thế ngón tay của chàng.. Sau cả chục lần như thế Đại hán vẫn không tát được Kiều Phong. Cuối cùng ông ta buông tay, nhìn Kiều Phong, thở dài rồi quay mình nhẩy xuống núi.

Trong động có trữ thức ăn, có rượu, Kiều Phong ở lại đây dưỡng thương…

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 138 other followers