<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	xmlns:georss="http://www.georss.org/georss" xmlns:geo="http://www.w3.org/2003/01/geo/wgs84_pos#" xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/"
	>

<channel>
	<title>Hoàng Hải Thuỷ</title>
	<atom:link href="http://hoanghaithuy.wordpress.com/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://hoanghaithuy.wordpress.com</link>
	<description>Vietnamese author, writer, literature, writings, short essays, Viết Ở Rừng Phong, Công Tử Hà Đông</description>
	<lastBuildDate>Sat, 14 Nov 2009 07:23:55 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.com/</generator>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<cloud domain='hoanghaithuy.wordpress.com' port='80' path='/?rsscloud=notify' registerProcedure='' protocol='http-post' />
<image>
		<url>http://www.gravatar.com/blavatar/faf9b506963877aed82eca9fed1442ad?s=96&#038;d=http://s.wordpress.com/i/buttonw-com.png</url>
		<title>Hoàng Hải Thuỷ</title>
		<link>http://hoanghaithuy.wordpress.com</link>
	</image>
			<item>
		<title>SỐNG và CHẾT</title>
		<link>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/14/song-va-chet/</link>
		<comments>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/14/song-va-chet/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 14 Nov 2009 07:23:55 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hoanghaithuy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Viết Ở Rừng Phong]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://hoanghaithuy.wordpress.com/?p=2497</guid>
		<description><![CDATA[
Năm 1989 tôi tù ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, Xuân Lộc, Đồng Nai. Một anh bạn ký giả của tôi, trước 1975 là nhiếp ảnh viên của Reuters, NewYork Times, đi thoát trước ngày 30 Tháng Tư 1975, nay về thăm quê hương, đưa cho con tôi quyển “Life and Death in [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2497&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p><img src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/books.jpg" alt="Books Cover" /></p>
<p>Năm 1989 tôi tù ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, Xuân Lộc, Đồng Nai. Một anh bạn ký giả của tôi, trước 1975 là nhiếp ảnh viên của Reuters, NewYork Times, đi thoát trước ngày 30 Tháng Tư 1975, nay về thăm quê hương, đưa cho con tôi quyển “<em>Life and Death in Shanghai</em>” của bà Nien Cheng, bảo con tôi đưa cho tôi. Con tôi mang sách lên trại tù, tôi quên không nhớ bằng cách nào tôi mang được quyển sách ấy vào trại. Người tù ra gặp mặt thân nhân, khi trở vào trại, bị cai tù xét kỹ những đồ mang vào. Thấy sách hay tài liệu chữ ngoại quốc là họ vứt đi.</p>
<p>Với bọn tù chúng tôi năm ấy, quyển Hồi Ký “<em>Life and Death in Shanghai</em>” quí hơn vàng. Đã 15 năm chúng tôi không dược đọc sách chữ Anh. Nay có quyển sách mới tinh, lại viết về Ngục Tù, chúng tôi mừng hết cỡ. Tôi đọc xong đến Trí Siêu Lê Mạnh Thát đọc. Rồi sách được truyền tay cho vài anh tù khác và sau cùng, khi tôi ra về, sách được để lại trong trại tù.</p>
<p>“<em>Life and Death in Shanghai</em>” là Hồi Ký Ngục Tù Tầu Cộng của bà Nien Cheng &#8212; tên Hán Việt là Trịnh Niệm &#8212; Những năm 1935 nữ sinh viên Trịnh Niệm du học ở London, Anh Quốc. Bà gặp ông Tầu Trịnh học cùng trường và hai người kết hôn. Năm 1940 ông bà về nước. Ông Trịnh trở thành một nhân vật được chính phủ Quốc Dân Đảng trọng dụng, ông làm nhân viên Bộ Ngoại Giao chính phủ Tưởng Giới Thạch rồi làm Tổng Giám Đốc Công Ty Xăng Shell Shanghai. Năm 1949 Tầu Cộng vào Shanghai. Ngoại Trưởng Chu Ân Lai cho Công Ty Shell hoạt động trong nước Tầu và ông Trịnh vẫn là Tổng Giám Đốc Shell Shanghai. Ông mất vì bệnh ung thư năm 1957. Bà Trịnh và cô con gái của ông bà được bọn Tầu Cộng để cho sống yên đến năm 1966, Mao Trạch Đông phát động cái gọi là cuộc Cách Mạng Văn Hóa, bà Trịnh bị bắt và bị kết tôi làm gián điệp. Bà Trịnh Niệm viết trong Hồi Ký:</p>
<p>- Bọn Giang Thanh muốn tôi nhận tội làm gián điệp, rồi khai ra Chu Ân Lai để chúng đánh họ Chu.<br />
 </p>
<p><img src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/dauto.jpg" alt="Dau To" /></p>
<p>Bà Trịnh Niệm nhất định không nhận tội làm gián điệp cho ngoại quốc. Bà bị tra tấn, bị còng hai tay suốt ngày đêm trong xà-lim. Bà kể chuyện người tù đàn bà, bị còng tay tay sau lưng những khi làm vệ sinh rất là dơ bẩn. Bà bị còng tay như thế trong cả năm trời. Bà kể:</p>
<p>- Khi ăn chúng cũng không mở còng tay cho tôi. Tôi phải quì, gục mặt xuống bát cơm, ăn như loài chó. Khi được mở còng, ba tháng sau tôi vẫn không giơ được hai tay tôi lên cao hơn đầu.</p>
<p>Năm 1973 sau 7 năm tù, Nữ tù nhân Trịnh Niệm được thả với ly do “có biểu hiện cải tạo tốt.” Ra tù, bà được biết cô con gái bà đã chết trong ngục tù Cộng sản. Nhà tù báo cáo cô tù tự tử, nhưng bà Trịnh cho rằng cô con bà bị đánh chết. Năm 1980 bà sang được Canada. Năm 1983 bà từ Canada sang Hoa Kỳ, đến sống ở Virginia. Năm 1985 bà viết xong Hồi Ký “<em>Life and Death in Shanghai</em>.” Bà được ông bà Tổng Thống Bush &#8212; Ông Bố &#8212; mời đến Nhà Trắng nhiều lần. Năm 1988 bà trở thành công dân Mỹ.</p>
<p>Nhật báo <em>The Washington Post</em>, ngày 6 October, 2009, loan tin Nữ sĩ Trịnh Niệm qua đời, thọ 94 tuổi. Tôi nhớ lại cảm nghĩ của tôi năm 1989 tôi đọc Hồ Ký Ngục Tù của bà trong Nhà Tù Cộng Sản ở quê hương tôi. Thấm thoắt vậy mà đã gần 30 năm cuộc đời. Khi đọc “<em>Life and Death in Shanghai</em>” chẳng có sát-na nào tôi mơ chuyện ngày nào mình viết về những người bạn của mình sống chết ở quê hương, mình sẽ bắt chước bà Trịnh Niệm, để tên sách là “<em>Sống và Chết ở Sài Gòn</em>.”</p>
<p>Năm 1995 bánh xe tị nạn đưa tôi sang Hoa Kỳ. Năm 2002, Hồi Ký “<em>Sống và Chết ở Sài Gòn</em>” được viết và xuất bản ở Virginia, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Mời quí vị đọc một chương trích trong:</p>
<p><strong><em>Sống và Chết ở Sài Gòn.</em></strong></p>
<p>Tôi có bốn ông bạn được cha mẹ cho sang Tây du học, tất nhiên cả bốn ông đều là con nhà giầu. Bốn ông với tôi không phải bạn quen thường mà là bạn mày tao. Những năm 1948, 1949 của thế kỷ 20, tức thế kỷ trước, trong lúc tôi ngày ngày đi bộ hai, ba mươi cây số trên đồng đất hai tỉnh Bắc Ninh &#8211; Bắc Giang, nơi thời Vua Lê, Chúa Trịnh có tên là Kinh Bắc &#8212; nói là những năm đó tôi đi kháng chiến cho oai, cho ra vẻ vai áo hào hoa bạc mầu kháng chiến &#8212; thực ra những ngày xưa hồng thắm đó tôi làm liên lạc viên, tức chú thiếu niên đi chân đưa thư tay cho một cơ quan Tình Báo ở hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang&#8211; văn huê kiểu kháng chiến là Bắc Bắc &#8212; năm 1949 tôi lên đến Đại Từ, Thái Nguyên, đi đến Đèo Khế mới trở về xuôi; những năm tôi sống như thế thì bốn chàng trai nước Việt tôi được quen và sắp kể tên dưới đây sống an ninh trong lòng Hà Nội rồi sang sống thơ thới hân hoan ở Nice, ở Paris bên nước Pháp.</p>
<p>Bốn chàng trai đất Việt ấy là ông Hoàng Anh Tuấn, thi sĩ kiêm đạo diễn điện ảnh, tác giả phim Hai Chuyến Xe Huê, Xa Lộ Không Đèn, ông Tuấn Ghẻ &#8212; ông này thì khỏi cần kể họ hay tiểu sử &#8212; ông Trịnh Viết Thành và ông Trần Bích Lan, tức Nhà Thơ Nguyên Sa Áo Lụa Hà Đông.</p>
<p>Trong bốn ông được sang Tây ăn học đó chỉ có ông Trần Bích Lan là có bằng cấp đem về nước, còn ba ông kia dường như sang Tây chỉ để ăn chơi. Ba ông Tây du nhưng không Tây du học mà là Tây du hý. Sau 1954, khi hết chiến tranh, đất nước đã bị cưa đôi, bốn ông về nước. Ba ông &#8212; hai ông Tuấn, một ông Thành &#8212; sang Tây học năm, bẩy năm mà không ông nào có qua một mảnh bằng gì cả, cả cái bằng lái xe ô tô, hay bằng Thợ May Tây, bằng Nhẩy Đầm ba ông cũng không có; về tiếng Tây, tiếng U, các ông bông xua, bông xoa, com xì com xà không khá hơn tôi bao nhiêu.</p>
<p>Nhưng thôi, việc học, việc chơi ngày xưa còn trẻ là việc riêng của mấy ông. Mấy ông có học, có bằng cấp, mấy ông là nhà khoa bảng thì mấy ông vinh thân, phì gia, vợ con các ông nhờ lộc của các ông, đất nước, dân tộc có được hưởng gì của các ông đâu. Năm mươi năm sau ngày các ông về nước &#8212; trong bốn ông ba ông nay đã không còn ở cõi đời này &#8212; hôm nay tôi viết về các ông với tình thương mến, tôi hồi tưởng hình ảnh các ông thời các ông trẻ trung mà bùi ngùi như tôi hồi tưởng tuổi trẻ của tôi.</p>
<p>Tôi gặp Trịnh Viết Thành lần đầu năm 1955 ở buy-rô của Thanh Nam trong Đài Phát Thanh Quân Đội. Trung sĩ Thanh Nam Trần Đại Việt có bàn giấy ngồi viết đàng hoàng. Thành mới từ Pháp về, Thanh Nam giới thiệu chúng tôi với nhau. Sau đó tôi được biết anh em gọi Thành là Trịnh Viết Thùng và Thành Nham Nhở &#8212; như Phan Nghị được gọi là Phan Nghệt, tên gọi thân thương không có ý gì khinh miệt. Phải nhờ đến tiếng <em>cynique</em> của Pháp để dùng cho Thành. Không phải thô tục hay thô bỉ, Thành rất thực tế, nói trúng vấn đề, không che đậy, không nghĩ sai.</p>
<p>Thành không viết văn, anh chỉ làm báo. Thành lấy em gái Nguyên Sa Trần Bích Lan từ thời hai người du học ở Pháp, nói cách khác Thành là em rể Nguyên Sa. Thành từng nói với chúng tôi:</p>
<p>&#8211; Nhà chúng mày chỉ mới có hai đời ăn nước máy, thắp đèn điện, nhà tao ba đời rồi.</p>
<p>Câu này có nghĩa ông nội tôi sống ở làng quê, ăn nước giếng, thắp đèn dầu, đến ông bố tôi ra tỉnh học mới ăn nước máy, thắp đèn điện, đến đời tôi ở thành phố, ăn nước máy, thắp đèn điện mới là hai đời; ông nội của Thành đã ở thành phố, đã ăn nước máy, thắp đèn điện, qua ông bố anh là hai đời, đến anh là ba đời.</p>
<p>Theo tiêu chuẩn ấy thì tôi ăn nước máy, thắp đèn điện được hai đời, đời ông bố tôi, đời tôi, Văn Quang Chân Trời Tím mới chỉ ăn nước máy, thắp đèn điện được một đời: đời Văn Quang. Căn cứ theo lời Văn Quang kể ngày xưa còn trẻ ở làng quê, anh từng cưỡi ngựa đi đòi nợ cho ông bố anh; tối xuống, trên đường về anh ngủ gà, ngủ gật trên yên ngựa, con ngựa biết đường cứ nhẩn nha lọc cọc, lịch kịch đưa anh về đến cổng nhà. Chuyện đó tôi nghe do chính Văn Quang kể. Như vậy chắc ông thân anh là Lý trưởng hay Chánh tổng, nhà nhiều ruộng, ở làng quê, ăn nước giếng, thắp đèn dầu, đến đời Văn Quang mới ra ở thành phố, mới ăn nước máy, thắp đèn điện. Theo tiêu chuẩn ấy thì Duyên Anh cũng chỉ mới một đời ở thành phố, ăn nước máy, thắp đèn điện: ông thân Duyên Anh là lang thuốc ở vùng quê Thái Bình. Một trong những chuyện rất ít người biết là Duyên Anh Vũ Mộng Long, “nhà văn nhớn,” đã có vợ ở làng quê và có một chị con gái. Năm 1954 chàng trẻ tuổi Thái Bình lên Hà Nội học hay làm chi đó, đất nước chia đôi chàng xuống tầu Marine Serpent từ bến Sáu Kho Hải Phòng đi theo chiều dài của đất nước, đổ bộ lên bến Nhà Rồng Sài Gòn. Năm ấy, năm chàng có vợ, những năm 1952, 1953, nhà văn nhớn mới có mười bẩy, mười tám tuổi. Ở số tuổi này chỉ có những anh con trai làng quê mới có vợ, do tục tảo hôn còn rơi rớt ở vùng quê Bắc kỳ.</p>
<p>Năm 1967 vợ chồng tôi xa nhau một thời gian, tôi sống một mình trong căn phòng nhỏ ở căn nhà số 21 đường Hồ Biểu Chánh, Sài Gòn. Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều ở căn phòng này trước tôi, Nguyễn ra Đà Nẵng làm việc ở hãng Sealand, tôi đến ở phòng này. Một chiều Trịnh Viết Thành ghé qua, dúi cho tôi mấy ngàn đi ăn hút cho bớt sầu đời, Thành nói:</p>
<p>&#8211; Đừng quá buồn. Đó là qui luật. Những cặp vợ chồng lấy nhau vì tình sống với nhau năm, bẩy năm, có khi mười năm, thế nào cũng bị một lần khủng hoảng đến có thể bỏ nhau. Vợ chồng mày cũng vậy. Nếu vượt qua được vợ chồng mày sẽ sống với nhau suốt đời.</p>
<p>Đúng quá Thành ơi! Những lời Thành nói một chiều ở đường Hồ Biểu Chánh năm 1967 vang vọng bên tai tôi dù thời gian đã qua ba mươi mấy mùa lá rụng. Hai năm 1974, 1975 Thành làm Thư ký tòa soạn nhật báo Quật Cường, tờ nhật báo của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thời Tổng Giám đốc Nguyễn Khắc Bình. Được coi như yếu nhân, ký giả Trịnh Viết Thành nhật báo Quật Cường có nhân viên cảnh sát bảo vệ mặc thường phục, có súng, chạy Honda theo sau xe hơi của Thành để bảo vệ Thành. Nón cối, giép râu, tóc bím, súng Aka ngơ ngáo vào Sài Gòn, cùng nhiều văn nghệ sĩ, ký giả khác Thành bị VC bắt Tháng Ba 1976. Sau chừng một năm quanh quẩn trong những phòng giam Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Nhà Tù Chí Hòa, một số anh em được tha, một số bị đưa đi các trại lao động cải tạo. Trong số văn nghệ sĩ lên Trại Tù Khổ Sai Gia Trung &#8211; Gia Lai ở Pleiku có Trịnh Viết Thành.</p>
<p>Năm 1977 tôi bị bắt, 1980 tôi được thả về Ngã Ba Ông Tạ. Tháng Năm 1984 tôi bị bắt lần thứ hai, các bạn tôi Trịnh Viết Thành, Thái Thủy, Lý Đại Nguyên, Tô Ngọc, Trần Dạ Từ, Chóe Nguyễn Hải Chí, vẫn tù mút chỉ ở trại Gia Trung-Gia Lai. Anh Nguyễn Mạnh Côn đã chết ở Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc.</p>
<p>Năm 1990 lần thứ hai tôi từ ngục tù cộng sản trở về mái nhà xưa dzột nát và vòng tay gầy của người vợ hiền. Đã mười lăm năm kể từ Tháng Tư 1975. Tất cả những văn nghệ sĩ si-dzin cũng như mi-li-te, trừ những người đã chết trong tù và những người mới bị bắt hay lại bị bắt, đều đã trở về Sài Gòn với những đường phố cũ, vỉa hè xưa. Tôi được tin Thành đã về, anh đau yếu nặng, vợ anh đã bỏ anh để đi sống với người tình mới. Nghe nói anh này quen chị vợ Thành trước khi chị lấy Thành &#8212; chị này không phải là em gái Nguyên Sa &#8212; người lấy vợ của Thành cũng bị tù ở Gia Trung, khi lên trại thăm nuôi Thành chị vợ Thành gặp lại người cũ. Anh tù này được thả về Sài Gòn trước Thành.</p>
<p>Khoảng hai giờ trưa một ngày mùa mưa ở Thành Hồ đất trời u ám, vừa ở tù về được ít ngày tôi bỗng thấy nhớ Thành. Nhà Thành trước ở trong Cư Xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận, gần nhà anh Nguyễn Mạnh Côn, nhà Duyên Anh, nhà Văn Quang, nhưng nay Thành sống môt mình trong căn nhà của ông bà thân anh ở đường Nguyễn An Ninh bên chợ Sài Gòn. Tầng dưới của nhà này trước 1975 là nhà in Nam Sơn, nhà in của gia đình Thành, em trai của Thành điều hành nhà in này. Khi tôi đến tầng dưới bị chiếm làm cửa hàng lương thực của phường. Mấy căn phòng trên lầu đều bị chiếm cho cán bộ ở.</p>
<p>Tôi theo cầu thang lên tầng lầu trên cùng. Tầng này trước 1975 là nơi bà mẹ Thành ở. Trên sân thượng có điện thờ Phật, một khoảng trồng hoa, cây mai, cây trúc, bồn nước, hòn non bộ. Mười lăm mùa lá rụng chúng tôi mới gặp lại nhau. Tôi đến tìm Thành, thấy Thành tôi nhận ra Thành ngay. Vì bất ngờ không biết tôi đến có thể Thành không nhìn ra tôi.</p>
<p>&#8211; Nhận ra tao là ai không? Tôi hỏi.</p>
<p>Thành gọi ngay tên tôi:</p>
<p>&#8211; Hát Hát Tê. Mày chứ còn ai nữa.</p>
<p>Thành nói anh bị lao xương, con anh bảo lãnh anh sang Pháp, nhưng anh yếu quá chưa đi khám sức khỏe được. Thân xác Thành tiều tụy thê thảm quá, nhưng tôi cũng không ngờ anh lại ra đi nhanh thế.</p>
<p>Một chiều gần Tết tôi trở lại nhà in Nam Sơn xưa thăm Thành. Lên hết thang lầu tôi ngẩn ngơ trước cửa phòng Thành đóng kín, có cái khóa ngoài toòng teeng. Trở xuống tầng dưới, tôi hỏi thăm, người ta trả lời tôi:</p>
<p>&#8211; Bác Thành mất rồi.</p>
<p>Ở Paris những năm 1949, 1950 Thành lấy vợ là con gái ông Trần Văn Chi, em gái Nguyên Sa Trần Bích Lan, có con, khoảng năm 1957, 1958 ở Sài Gòn Thành bỏ vợ để lấy chị vợ sau. Ly di. Vợ cũ của Thành, tôi nghe nói, sang Pháp, để con lại Sài Gòn dưới quyền giám hộ của ông anh. Một tối Thành kéo tôi đi ăn chơi, con Thành học nội trú trong trường Taberd, ông giám hộ Trần Bích Lan không cho phép Thành được gặp con. Thành kể chuyện rồi nói với tôi:</p>
<p>&#8211; Nguyên Sa nó trọng dư luận các bạn văn nghệ sĩ lắm, mày nói với nó dùm tao, bảo nó cho tao gặp con tao, sao nó lại cấm không cho bố con tao gặp nhau.</p>
<p>Tôi gặp Nguyên Sa, nói chuyện Thành nhờ. Nguyên Sa nói:</p>
<p>&#8211; Tao ghét nó nhà quê. Là văn nghệ sĩ&#8230; chẳng thà nó nghiện thuốc phiện đi, đằng này nó lại chơi trò nhà quê có vợ bé.</p>
<p>Nguyên Sa là dân Hà Đông nhưng anh sống ở Hà Nội nhiều hơn ở Hà Đông. Tôi thấy anh dường như có vẻ không thích khi nghe ai nói đến chuyện anh là công tử Hà Đông. Tôi nhớ tên ở Hà Đông trước 1945 của anh là Phúc, khi gặp lại nhau ở Sài Gòn tôi thấy tên anh là Trần Bích Lan.</p>
<p>Năm 1956, hay 1957 tôi gặp lại Nguyên Sa trên vỉa hè Lê Lợi. Từ Pháp trở về Nguyên Sa ăn mặc thật giản dị, sơ-mi trắng ngắn tay bỏ ngoài quần, quần kaki, đi săng-đan, cổ tay không đồng hồ, túi áo không bút máy, thời gian đầu anh còn đội cái nón cối cũng mang ở Pháp về. Ra cái điều ta đã sống ở Paris, nơi trang phục sang đẹp nhất thế giới, về đây ta cóc cần chú ý đến chuyện phải ăn mặc bảnh bao như mấy anh Sài Gòn nhà quê. Anh kể chuyện văn nghệ văn gừng ở Pháp:</p>
<p>&#8211; Bọn sinh viên thiên tả chúng nó có cái trò họp nhau phê bình thơ của nhau, với chúng nó bài thơ nào cũng phải có ý nghĩa, phải nói lên một cái gì. Bọn tao đến họp là chúng nó bực lắm. Có lần tao nói “bài thơ này nó nói lên được cái là nó không nói lên cái gì cả.”</p>
<p>Anh nói:</p>
<p>&#8211; Tao làm văn nghệ, thấy không khá, nhớ lời dậy của ông cụ tao: phải làm thương mãi mới khá được, muốn khá phải làm thương mại.</p>
<p>Nguyên Sa không dậy học muớn, không làm hiệu trưởng mướn, anh làm chủ trường, anh có nhà in riêng trong trường Văn Học của anh. Thời tôi viết phóng sự <em>Tây Đực, Tây Cái</em> &#8212; sau đổi là <em>Ông Tây, Bà Đầm</em> &#8212; những năm 1955, 1956 trên nhật báo Ngôn Luận, Nguyên Sa kể:</p>
<p>&#8211; Tao vào lớp, thấy cứ mỗi lần tao hỏi đến một thằng học trò là mấy thằng bạn nó lại sì sào.. Cuốc Tô.. Cuốc Tô.. Tao không biết Cuốc Tô là cái gì. Tao hỏi mới biết Cuốc Tô là tên nhân vật trong phóng sự của mày. Lần sau vào lớp, tao hỏi đúng thằng học trò ấy: “Sao.. Ký giả Cuốc Tô.. Mấy hôm nay ký giả có gặp bà Dzô- dzan không?” Cả lớp chúng nó cười ồ lên. Dậy học thầy phải như thế học trò nó mới chịu.</p>
<p>Đầu năm 1995 bánh xe tị nạn đưa tôi sang Cali, tôi gặp lại Nguyên Sa. Anh đã bị giải phẫu ở cổ vì ung thư, anh đi lại, lái xe, ăn uống bình thường, chỉ có hơi yếu. Anh có tờ tuần báo Đại Chúng, anh đưa tôi đến tòa soạn nhật báo Người Việt, tòa soạn Việt Báo. Anh bảo tôi:</p>
<p>&#8211; Mày phải ở Cali. Đồng bào mày nó chia rẽ, nó nhỏ nhen, nó lắm chuyện, nó không ra làm sao cả, đồng ý, nhưng nó là đồng bào mày. Mày viết, mày phải sống gần đồng bào mày mày mới viết được.</p>
<p>Tôi nhờ anh tìm cho tôi một cái tên chung cho những bài tôi viết, như kiểu Nguyên Sa có mục &#8220;<em>Bông hồng cho văn nghệ</em>&#8221; trên nhật báo Sống ngày xưa, Nguyên Sa nói:</p>
<p>- Mày lấy <em>Viết ở Rừng Phong</em> hay quá rồi còn gì, còn phải tìm tên nào nữa!</p>
  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/hoanghaithuy.wordpress.com/2497/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/hoanghaithuy.wordpress.com/2497/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2497/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2497/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2497/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2497/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/hoanghaithuy.wordpress.com/2497/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/hoanghaithuy.wordpress.com/2497/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2497/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2497/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2497&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/14/song-va-chet/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/03c798a8ae0d29bd847057c0e89c390b?s=96&#38;d=wavatar&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">hoanghaithuy</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/books.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Books Cover</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/dauto.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Dau To</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Bức Tường Ô Nhục</title>
		<link>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/10/buc-tuong-o-nhuc/</link>
		<comments>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/10/buc-tuong-o-nhuc/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 10 Nov 2009 19:57:55 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hoanghaithuy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Viết Ở Rừng Phong]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://hoanghaithuy.wordpress.com/?p=2485</guid>
		<description><![CDATA[
Bức Tường Ô Nhục Berlin nhìn bên Tây Đức Tự Do. Bọn Cộng sản xây tường này ngăn không cho người Đức thoát ra khỏi Địa Ngục Đỏ. Tường CS Ô Nhục bị nhân dân Đức phá Tháng 11 năm 1989. Những năm 2000 người Mỹ xây tường ở biên giới Hoa Kỳ &#8211; Mễ [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2485&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p><img src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/berlinwall.jpg" alt="Berlin Wall" /></p>
<p>Bức Tường Ô Nhục Berlin nhìn bên Tây Đức Tự Do. Bọn Cộng sản xây tường này ngăn không cho người Đức thoát ra khỏi Địa Ngục Đỏ. Tường CS Ô Nhục bị nhân dân Đức phá Tháng 11 năm 1989. Những năm 2000 người Mỹ xây tường ở biên giới Hoa Kỳ &#8211; Mễ Tây Cơ ngăn không cho dân Mễ lẻn vào đất Mỹ.</p>
<p>Bèn có Thơ rằng:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Cộng sản xây tường ngăn người dza.<br />
Tư bổn xây tường ngăn người dzô!<br />
Người dza, người dzô đều đói khổ<br />
Phải liều mạng sống để dza, dzô!</em></p>
<p><img src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/map.jpg" alt="World Map" /></p>
<p>Bản đồ thế giới năm 1980: bọn Cộng nhuộm đỏ 1/3 trái đất. May thay cho loài người, cái gọi là Liên Bang Xô-viết đã tan tành.</p>
<p style="text-align:center;">- &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - -</p>
<p>Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, Sáng Tháng 11 năm 2009.</p>
<p>Ngày này 20 năm xưa &#8212; năm 1989 &#8212; tôi đang sống trong Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, Xuân Lộc, Đồng Nai. Tôi ở chung phòng tù với các ông bạn tù Doãn Quốc Sỹ, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Lê Công Minh, Mã Thành Công. Nếu bạn là độc giả của tôi, chắc bạn đã biết về những người tù tôi vừa kể. Tôi đã viết nhiều về họ trong những bài Viết ở Rừng Phong.</p>
<p>Phòng tù của chúng tôi có cái máy TiVi. Năm ấy dân Sài Gòn bỏ TiVi Đen Trắng, sang TiVi Mầu, ban quản đốc Z 30 A cho người nhà tù nhân đưa những dàn máy TiVi cũ lên trại, cho tù đem vào trại xem. TiVi Cộng sản chỉ có một đài của Nhà Nước. Buổi tối trong phòng tù chúng tôi thoáng thấy cảnh Bức Tường Ô Nhục Berlin bị nhân dân Đức đập phá, chúng tôi mừng khi thấy Liên Xô sụp đổ, chúng tôi ngao ngán khi thấy nhân dân Trung Quốc bị trấn áp ở Thiên An Môn.</p>
<p>Những ngày như lá, tháng như mây.. Hai mươi năm đã qua đời tôi kể từ những buổi tối xưa trong phòng tù Z 30 A. Bốn người bạn đồng tù Z 30 A của tôi nay còn sống ở cõi đời này. Anh Doãn Quốc Sĩ ở Houston, Texas, Hoa Kỳ, Tu sĩ Phật Giáo Trí Siêu Lê Mạnh Thát &#8212; người tù chính trị từng bị Cộng sản kết án tử hình &#8212; nay cộng tác với Cộng sản, trở thành một nhân vật được bọn Cộng tâng bốc, o bế, lợi dụng, Người Tù Lê Công Minh &#8212; từng bị CS xử án tử hình &#8212; nay sống ở Đồng Nai, Việt Nam. Lê Công Minh có dư điều kiện nhưng không đi HO sang Hoa Kỳ. Ngay khi còn trong tù Z 30 A, Lê Công Minh đã đưa một số anh em tù ra ngoài mua đất canh tác. Những năm 1988, 1990, Trại Tù Khổ Sai Z 30 A cho tù ra ngoài làm việc kiếm sống, tháng tháng đóng tiền cho Trại. Bằng cách này, đời sống vật chất của người tù khá hơn mà Trại Tù lại có thêm tiền. Giáo sư Sử Điạ Mã Thành Công &#8212; tù 8 năm &#8212; nay vẫn sống ở Sài Gòn.</p>
<p style="text-align:center;">- &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - -</p>
<p>Mời bạn đọc bài viết về thói quen dùng Internet và những tai hại của việc người ta ngồi quá lâu trước trước những máy computer.</p>
<p>Người viết Nguyễn Hữu Liêm:</p>
<p style="padding-left:30px;">Nếu bạn đang đọc đến đây và là một người suốt ngày ngồi trước bàn chữ vi tính, lướt sóng, tham gia cuộc vui của thế giới Internet, thì tôi mong bạn hãy nhìn lại thói quen sinh hoạt của mình. Tôi không muốn lên giọng đâu. Tôi chỉ lấy từ kinh nghiệm thân thể của tôi và các người tôi quen biết để nhắn nhủ với bạn.</p>
<p style="padding-left:30px;">Sức khoẻ là ưu tiên thứ nhất. Đối với cái thế giới ảo, E-mail, Twitter, My Space, You-Tube, ba cái Websites Đàn Chim Việt, Talawas, Damau, Tienve, X-Cafe, VnExpress, Take2tango, Giaodiem, Vietcatholic&#8230; bàn chuyện thế gian, chuyện con người, chuyện chính trị, chuyện Việt Nam, bạn từ từ hãy rời xa chúng dần đi. Lâu lâu dừng chân qua cho vui thôi, chứ đừng có sa đà trên thế giới mạng bạn ơi!</p>
<p style="padding-left:30px;">Không lẽ giờ này, với chừng đó tuổi, “ngũ thập tri thiên mệnh,” mà bạn vẫn cứ tham gia các trận chiến ảo suốt ngày tranh cãi, mắng mỏ nhau về lỗi phải những chuyện của quê nhà từ thế kỷ trước. Người nhà quê có nói rằng, “Không có mợ chợ cũng đông,” hơi đâu mà quan tâm quá về những chuyện xưa, chuyện đã qua, chuyện tào lao thế sự. “Hãy để cho những kẻ đã chết tự chôn lấy chính họ.” Đừng vướng vào làm gì cho nó khổ thân và khổ gia đình, chồng vợ, con cái. Cũng đừng có “bức xúc” về những chuyện mình không làm gì được. Đừng có ham muốn tên tuổi của mình xuất hiện trên các trang nhà đó &#8212; để mà viết văn, làm dáng, chứng tỏ kiến thức, trổ tài tranh luận bắt bẻ nầy nọ mần chi. Trong khi cái cơ thể đang yếu dần, nhức mỏi thì bạn lại không chăm sóc. Chuyện nhà thì nhác, chuyện chú bác thì lại siêng. Hãy bỏ thời gian, hằng ngày hay ít ra là một tuần vài ba ngày, một ngày vài giờ để tập thể thao, yoga, học võ thuật. Cái gì quan trọng nhất thì phải lo trước tiên. Đó là nghệ thuật sống đúng cách của con người.</p>
<p>Ngưng trích bài viết của ông Nguyễn Hữu Liêm.</p>
<p>Tôi, người lưu vong già, người ngợm xộc xệch, vai lệch, lưng gù, tóc không chỉ bạc mà rụng gần hết, răng giả; với số tuổi đời “thất thập” gần như tất cả mọi lạc thú vật chất ở đời tôi không còn hưởng được. Thuốc lá tôi không hút &#8212; tôi bỏ hút thuốc từ năm 1990 &#8212; rượu tôi không uống được nữa, mỡ thịt chỉ làm tôi ngán, chuyện đi chơi xa với tôi nay là việc hành xác &#8212; hành hạ thân xác của mình. Không thích đi tại sao lại cứ phải đi? Quần áo, giày vớ dư thừa, tôi không còn đi shopping. Thời trẻ, những năm 1960 tôi 30 tuổi, tôi thích chơi đồng hồ, bật lửa, bút máy, mouchoir, cravate. Nay tôi dửng dưng với những đồ vật ấy. Trong tuổi già tôi mới thấy câu ông cha tôi nói:</p>
<p>- Già vô sự. Ấy là tiên!</p>
<p>Đúng quá.</p>
<p>Thời trẻ tôi thích thể thao. Từ năm 1960 trôi nổi trong cuộc sống cư dân đô thị, tôi mải ăn chơi, tôi bỏ rơi thể thao. Khi ta có sức khoẻ, ta không cần sức khoẻ. Năm 1998, sau 3 năm cứ suốt ngày ngồi dựa lưng vào tường phòng tù, tôi thấy tôi sắp bại liệt. Tôi cầu nguyện và tôi đứng lên tập thể dục. Trong phòng tù đông người, người tù chỉ có thể tập thể dục trên manh chiếu của mình. Người tù có thể làm 4 động tác thể dục trên manh chiếu của mình: hít đất, đứng lên ngồi xuống, cúi mình tập bụng và chạy tại chỗ.</p>
<p>Tôi đã làm 4 động tác ấy mỗi chiều, khoảng 1 giờ, trên manh chiếu của tôi trong Phòng Giam Số 10 Khu ED Nhà Tù Chí Hoà. Ngày nào cũng thế. Nhờ 4 động tác ấy tôi khoẻ lại, hết đau lưng, hết lạnh hai chân, hết táo bón. Một năm sống ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, tôi được chơi bóng bàn, được chạy ngoài trời quanh sân vận động của trại. Về Sài Gòn tôi mua cặp tạ về chiều chiều tập ở nhà, tôi treo bao cát lên cứ thế đấm. Sài Gòn đường phố đông xe, bụi, khói mù trời, không cho người ta đi bộ lấy khoẻ. Thành phố xứ Mỹ đường xá, công viên sạch, rộng, thoáng, việc đi bộ dưỡng sinh ở Huê Kỳ là một lạc thú.</p>
<p>Người già tập thể dục lấy khoẻ, đúng hơn là dùng thể dục để có cảm giác thoải mái, theo tôi chỉ cần 1 giờ đi bộ mỗi ngày. Sang Mỹ đã 14 năm, mỗi ngày tôi đều lo cho tôi có ít nhất là 1 giờ đồng hồ đi bộ. Đi ngoài trời hay đi trong Exercise Room, trên cái gọi là treadmill.</p>
<p>Tôi ngồi trước máy computer, để viết, để đọc, mỗi ngày khoảng 6 giờ. Tôi thích nhất là Viết và Đọc. Tôi từng viết:</p>
<p>- <em>Với tôi Viết là Hạnh Phúc, Đọc là Lạc Thú!</em></p>
<p>Cũng có những lúc tôi chán đọc, chán viết thấy mồ đi. Nhưng vì tôi không có việc gì làm hấp dẫn hơn việc Viết và Đọc, có chán, có ngấy rồi tôi cũng trở lại với Viết và Đọc. Và mỗi ngày tôi tập thể dục đều trong 60 phút.</p>
<p>Tôi thấy người dùng Computer lâu dần thành nghiện, và người nghiện computer như người nghiện thuốc phiện. Việc làm đầu tiên ban ngày của người nghiện thuốc phiện là mở bàn đèn, việc làm đầu tiên ban ngày của người nghiện computer là việc mở computer. Việc làm cuối cùng trong ngày của người nghiện thuốc phiện là tắt đèn, dẹp bàn đèn, việc làm cuối cùng trong ngày của người nghiện computer là tắt máy computer.</p>
<p>Những trang Web là những khu rừng hoa thơm, cỏ lạ, tất nhiên rừng có cỏ độc. Xong việc vào rừng vui với hoa thơm, cỏ lạ hay bị trầy vi, xứt vẩy vì cỏ độc là ở người ta. Không phải cứ đọc những lời chửi nhau là ta cũng phải tham gia cuộc chửi.</p>
<p>Mời bạn đọc một bản tin loan trên Web về ba nhà đấu tranh cho dân quyền bị CS bắt ở Việt Nam:</p>
<p style="padding-left:30px;"><strong>Nhiều bị cáo ra tòa với tội chống nhà nước</strong></p>
<p style="padding-left:30px;">Với việc viết và treo khẩu hiệu tại cầu vượt Mai Dịch (Hà Nội) có nội dung chống phá Nhà nước, ông Vũ Văn Hùng đã bị tuyên phạt 3 năm tù.</p>
<p style="padding-left:30px;">Theo kết luận của tòa, tháng 7, bị cáo Vũ Văn Hùng (43 tuổi, giáo viên đã bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc) đã viết và treo khẩu hiệu tại cầu vượt Mai Dịch (Hà Nội) có nội dung chống phá Nhà nước, nhằm tạo dư luận để các nhà lãnh đạo thay đổi quan điểm, dân chủ hóa, đa nguyên đa đảng&#8230; Ngày 7/10, Toà Án Nhân Dân Hà Nội đã xử ông Vũ Văn Hùng 3 năm tù giam, quản chế 3 năm tại địa phương sau khi chấp hành xong hình phạt tù về tội tuyên truyền chống nhà nước.</p>
<p style="padding-left:30px;">Trong các ngày 6, 8/10, TAND Hà Nội cũng mở tiếp 2 phiên xử các bị cáo Trần Đức Thạch (57 tuổi, Nghệ An) và Phạm Văn Trội (37 tuổi, Hà Nội) cùng về tội tuyên truyền chống nhà nước, theo điều 88 Bộ Luật Hình sự.</p>
<p style="padding-left:30px;">Theo cáo trạng, ông Trần Đức Thạch đã viết nhiều bài có nội dung xuyên tạc sự thật, vu cáo, nói xấu Đảng và Nhà nước. Bị cáo cất giữ những bài viết này và lưu hành, cho đăng tải trên tờ bán nguyệt san xuất bản không giấy phép, được cho là thành lập nhằm mục đích tuyên truyền chống Đảng và Nhà nước.</p>
<p style="padding-left:30px;">Còn ông Phạm Văn Trội bị VKS cáo buộc đã viết bài vào tháng 11/2006 với nội dung xuyên tạc sự thật, vu cáo Nhà nước đàn áp dân chủ. Ngoài ra, người này còn trả lời phỏng vấn qua điện thoại vu khống bị công an, quần chúng nhân dân đàn áp đánh đập&#8230;</p>
<p style="padding-left:30px;">Tại phiên tòa, bị cáo Thạch và Trội khai đã thực hiện những hành vi nêu trên, nhưng không thừa nhận đó là vi phạm pháp luật. Các luật sư biện hộ cho rằng hành vi của các bị cáo chỉ đơn thuần là bày tỏ quan điểm cá nhân, không cố tình chống đối, nói xấu nhà nước.</p>
<p style="padding-left:30px;">Tuy nhiên, những lập luận này đã không được HĐXX chấp nhận. Tòa tuyên phạt bị cáo Thạch 3 năm tù giam, phạt quản chế 3 năm tại địa phương sau khi chấp hành xong hình phạt tù. Ông Trội chịu án 4 năm tù giam, phạt quản chế 4 năm tại địa phương sau khi mãn hạn tù.</p>
<p>Theo TTXVN.</p>
<p>Qua bản tin trên, chắc bạn đã thấy ngôn từ của bài tường thuật không còn luận điệu mạt sát, kết tội những người tranh đấu cho dân quyền, dân chủ như những năm trước. Nay việc làm chính đáng của những người tranh đấu trong nước bắt đầu được các báo trong nước công nhận:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Theo kết luận của tòa, tháng 7, bị cáo Vũ Văn Hùng (43 tuổi, giáo viên đã bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc) đã viết và treo khẩu hiệu tại cầu vượt Mai Dịch (Hà Nội) có nội dung chống phá Nhà nước, nhằm tạo dư luận để các nhà lãnh đạo thay đổi quan điểm, dân chủ hóa, đa nguyên đa đảng</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Tại phiên tòa, bị cáo Thạch và Trội khai đã thực hiện những hành vi nêu trên, nhưng không thừa nhận đó là vi phạm pháp luật. Các luật sư biện hộ cho rằng hành vi của các bị cáo chỉ đơn thuần là bày tỏ quan điểm cá nhân, không cố tình chống đối, nói xấu nhà nước.</em></p>
<p>Đọc những bản tin như thế trên computer người cựu tù là tôi thấy ấm lòng. Người tù chính trị trong nước nay được coi trọng hơn thời tôi ở tù 20, 30 năm xưa.</p>
<p>Mời bạn đọc một bản tin khác trên Web:</p>
<p style="padding-left:30px;"><strong>Tử tù đục tường nhà biệt giam, toan vượt ngục</strong></p>
<p style="padding-left:30px;">Trong khi chờ ra pháp trường, tử tù Thâu cưa đứt cùm chân, rồi dùng thanh sắt cùm đục tường và trần buồng giam.</p>
<p style="padding-left:30px;">Tổ kiểm tra của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Đồng Nai vừa làm việc với lãnh đạo Công an tỉnh Đồng Nai về việc bảo vệ, quản lý trại giam trên địa bàn.</p>
<p style="padding-left:30px;">Cuộc kiểm tra bắt nguồn từ vụ trốn trại bất thành của một tử tù xảy ra rạng sáng 20/8. Quản lý trại giam Công an tỉnh Đồng Nai phát hiện có dấu hiệu bất thường ở buồng biệt giam tử tù chờ thi hành án Nguyễn Văn Thâu. Cảnh sát bảo vệ mở cửa buồng giam thì Thâu vọt ra ngoài, cùm chân đã bị phá vỡ. Lực lượng bảo vệ kịp thời khống chế tử tù này.</p>
<p style="padding-left:30px;">Kết quả cho thấy trong khi bị giam giữ, Thâu kiếm được một mẩu sắt của cái bấm móng tay. Anh ta dùng mẩu sắt ấy cưa đứt cùm, rồi lấy thanh sắt cùm đục tường và trần nhà giam.</p>
<p style="padding-left:30px;">Tổ kiểm tra của VKSND đánh giá vụ vượt ngục trên dù được ngăn chặn nhưng cho thấy công tác quản lý giam giữ của trại giam Công an tỉnh Đồng Nai còn sơ hở và có vi phạm.</p>
<p>Ngưng bản tin.</p>
<p>Không có Internet trên computer làm sao những người Việt lưu vong như tôi đọc được những tin trên?</p>
<p>Mỗi ngày ngồi trước computer 3 giờ đồng hồ thích thú lắm chứ!</p>
<p>Những Trang Web, Net Chữ Việt nay có Hằng Hà sa số trên Internet &#8212; Hằng Hà sa số: nhiều như cát sông Hằng &#8212; nhiều Trang có giá trị. Không chỉ cung cấp cho ta những bài về chính trị, văn hoá, lịch sử, nhiều Trang cho ta đọc những chuyện vui, như mấy chuyện này</p>
<p>Hai ông Việt Kiều già móm mém, gần kể miệng lỗ, nói chuyện với nhau:</p>
<p>- Ông nghĩ thế nào mà về Sài Gòn rước con nhỏ chưa đầy 25 tuổi qua đây làm vợ ông?</p>
<p>- Nó rất là thiệt thà, nên tui mới thương và cưới nó đem qua đây.</p>
<p>- Làm sao ông biết là nó thiệt thà?</p>
<p>- Thì lúc trước khi lấy nó, tui có hỏi: &#8220;Tại sao em chỉ bằng tuổi cháu nội qua, mà em lại chịu làm dzợ qua? Nó trả lời tại vì nhà nó nghèo quá nên nó lấy tui cho đỡ khổ.&#8221;</p>
<p>- Chỉ vì nó than nghèo mà ông cho nó là thiệt thà?</p>
<p>- Tui cũng thử lòng nó thêm&#8230; Tui hỏi nó: &#8220;Đưa em qua bển rồi lỡ em bỏ qua đi lấy mấy thằng trẻ cỡ em thì sao?&#8221; Nó trả lời:</p>
<p>&#8220;Em đợi được, vì sức ông chỉ sống nhiều lắm 6, 7 năm nữa là cùng!&#8221; Tui gặng hỏi nó thêm: “Lỡ 5 năm sau em vào được quốc tịch Mỹ. Em không chịu đợi qua chết, em bỏ qua thì sao?” Nó suy nghĩ một lát rồi trả lời:</p>
<p>&#8220;Em nói ông đừng&#8230; giận nghe, ông cũng đừng buồn. Sức ông sống tòn teng một mình thì may ra ông còn sống được 6, 7 năm. Chứ ông mà sống chung với em, thì ông bám víu cuộc đời được 1 năm nữa là giỏi lắm rồi! &#8220;&#8230; Dzậy là nó thiệt thà và lương thiện chứ còn gì nữa? Già như tôi mà có vợ trẻ thiệt thà và lương thiện, tôi không đòi hỏi gì hơn.</p>
<p>Mấy cô gái bên Việt Nam có Bí Kíp Ẩm Thực để áp dụng khi các cô lấy chồng Việt Kiều già:</p>
<p>- Cho Chồng Già ăn sáng bánh mì + hột gà ốp la + soda hột gà</p>
<p>- Trưa một dĩa thịt bò Beefsteak khoai tây chiên, trà sâm&#8230;.</p>
<p>- Chiều thịt bò Beefsteak/Ragout + trà sâm &#8230;.</p>
<p>- Tối một viên Viagra 1 giờ trước khi lên giường.</p>
<p>Chỉ 3 tháng thôi: Ông già đi đứt !!!</p>
<p>Làm gì tới 1 năm&#8230;</p>
<p>Đến đây tạm chấm dzứt Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum.</p>
  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/hoanghaithuy.wordpress.com/2485/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/hoanghaithuy.wordpress.com/2485/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2485/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2485/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2485/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2485/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/hoanghaithuy.wordpress.com/2485/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/hoanghaithuy.wordpress.com/2485/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2485/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2485/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2485&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/10/buc-tuong-o-nhuc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>5</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/03c798a8ae0d29bd847057c0e89c390b?s=96&#38;d=wavatar&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">hoanghaithuy</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/berlinwall.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Berlin Wall</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/map.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">World Map</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Nho Ta, Nho Tây</title>
		<link>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/06/nho-ta-nho-tay/</link>
		<comments>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/06/nho-ta-nho-tay/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 06 Nov 2009 23:38:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hoanghaithuy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Viết Ở Rừng Phong]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://hoanghaithuy.wordpress.com/?p=2477</guid>
		<description><![CDATA[Nào có ra gì cái chữ Nho,
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co!
Sao bằng đi học làm thầy Phán,
Tối rượu sâm-banh, sáng sữa bò.
Thơ ông Tú Xương, làm trong những năm cuối Thế kỷ 19. Cho đến năm nay, năm 2009, bài thơ trên đã sống với người Việt hơn một trăm năm.
Trước hết, với [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2477&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p style="padding-left:30px;"><em>Nào có ra gì cái chữ Nho,<br />
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co!<br />
Sao bằng đi học làm thầy Phán,<br />
Tối rượu sâm-banh, sáng sữa bò.</em></p>
<p>Thơ ông Tú Xương, làm trong những năm cuối Thế kỷ 19. Cho đến năm nay, năm 2009, bài thơ trên đã sống với người Việt hơn một trăm năm.</p>
<p><img style="margin:0 0 0 10px;" src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/playboy.jpg" alt="Vietnamese Playboy" align="right" />Trước hết, với tư cách “<em>con nhà Thông Phán</em>”, tôi viết Thi sĩ Tú Xương đã quá lạc quan khi ông làm bài thơ trên. Nhà những ông Thông Phán ngày xưa, như ông bố tôi, Thông Phán chân chính, Thông Phán chuyên nghiệp, Thông Phán thuần thành, ra làm việc Thông Phán, về hưu Thông Phán, ra làm Thông Phán ở Dinh Tổng Đốc tỉnh Hà Đông, về hưu với chức Thông Phán thượng hạng-ngoại hạng ở Dinh Tổng Đốc tỉnh Hà Đông, Thông Phán đến như ông bố tôi thì phải nói là “<em>Thông Phán đến không còn ai có thể Thông Phán hơn được</em>”, nên tôi tự nhận tôi biết rõ về cuộc sống trong nhà những ông Thông Phán ngày xưa, những ông Thông Phán được nói đến trong bài thơ của Thi sĩ Tú Xương.</p>
<p>Ở nhà những ông Thông Phán ngày xưa “<em>sáng sữa bò</em>” thì có, thì đúng. Sữa bò những năm 1910 đến 1940, phải nhập từ nước Đại Pháp sang, Sữa Nestlé nhãn hiệu Tổ Chim có hình chim mẹ tha mồi về nuôi chim con trong tổ, Sữa đặc: Lait condensé &#8212; nhập cảng nhưng giá tương đối rẻ, nhà Thông Phán có thể ăn sữa được. Mở một hộp sữa ra vợ chồng con cái nhà Thông Phán năm người, hai ông bà, ba anh chị con, pha sữa ăn với bánh tây sì sụp hai, ba bữa ăn sáng mới hết. Tất nhiên là pha sữa loãng thôi. Nhưng còn chuyện “<em>tối rượu sâm-banh</em>” thì nhà những ông Thông Phán ngày xưa hổng có đâu. Cám ơn Nhà Thơ đã đề cao cuộc sống bơ sữa &#8212; các ông làm cách mạng gọi là “<em>bơ thừa, sữa cặn</em>” &#8212; trong nhà Thông Phán, nhưng cái gì có thì nhận là có, cái gì không có thì con nhà Thông Phán chân chính và tự trọng phải nói là nhà tôi hổng có.</p>
<p>Nhà những ông Thông Phán ngày xưa không có chuyện tối tối ông chủ uống sâm-banh. Không những không có chuyện tối tối uống sâm-banh mà những ông Phán, như ông bố tôi, còn suốt đời không một lần uống sâm-banh. Rượu sâm-banh &#8212; champagne &#8212; theo sự hiểu biết ngu xuẩn của tôi không phải là thứ ruợu để các ông Tây lôi ra uống mỗi ngày. Khi có đại tiệc, hay có việc gì vui mừng, như lên chức, lên lon, tăng lương, cưới vợ, các ông Tây mới uống sâm-banh. Ngay cả những ông Tây chính cống cũng nhiều ông cả đời không một lần, hay cả đời chỉ vài ba lần, uống ruợu sâm-banh, thứ ruợu đặc sản do công nghiệp bào chế rượu trái nho của đất nước các ông sản xuất. Chuyện các ông Thông Phán An-nam ngày xưa &#8212; những năm trước 1945 &#8212; tối tối uống sâm-banh, theo tôi, là không có.</p>
<p>Ông Tú Xương qua đời năm 1907. Như vậy ta có thể nói bài thơ “<em>Tối Rượu Sâm-banh</em>” được ông làm vào khoảng những năm 1890, thời gian này ông cha tôi bắt đầu việc bỏ học chữ Hán, bỏ dùng chữ Nho, tức chữ nước Đại Tầu, để học thứ chữ <em>a, b, c</em>&#8230; được gọi là chữ Quốc ngữ. Câu “<em>Sao bằng đi học làm thầy Phán</em>..” phải hiểu là “<em>Sao bằng đi học chữ quốc ngữ.. a, bê, xê.. để làm thầy Thông Phán</em>..”</p>
<p>Chuyện hay hay cần nói là vì tác giả bài thơ trên là ông Tú Xương, một ông Nho Ta chân chính, nên người đọc chỉ thấy ngậm ngùi, nhưng nếu tác giả là một ông không phải ông Nho Ta, như nếu tác giả là một ông Thông Phán nào biết làm thơ và tí toáy mần thơ, thì tác giả và bài thơ sẽ bị người đời chửi cho nát nước ngay lập tức. Bài thơ đó sẽ bị cho là lời miệt thị Nhà Nho, Chữ Nho, và là lời khoe khoang được hưởng bơ sữa, ruợu thịt của bọn Thông Phán giai cấp mới. Nhưng một ông Tú tài nổi tiếng văn thơ như ông Tú Xương làm bài thơ ấy thì, như đã nói, người đọc thấy đó là lời than của những ông nhà Nho Ta. Các ông đang ở vào thời kỳ sở học của các ông trở thành vô dụng, thời Chữ Hán không được người Việt dùng nữa, các ông có quyền than thở, các ông có quyền mỉa mai.</p>
<p>Ông Tú Xương là người viết về giới Nho Ta cuối Thế kỷ 19 với những lời tả thực nặng nề nhất, những lời thơ gần như lên án sự yếu hèn của các ông Nho Ta thời ông:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Cái học nhà Nho đã hỏng rồi,<br />
Mười người theo học, chín người thôi.<br />
Cô hàng bán sách lim dim ngủ,<br />
Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi.<br />
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo,<br />
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi.<br />
Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ,<br />
Trình có ông Tiên, Thứ chỉ tôi.</em></p>
<p>Cuối Thế kỷ 19 các ông Nho Ta tự nhận các ông không còn hợp thời, nhân dân và đất nước không cần sự có mặt của các ông nữa &#8212; đúng ra là nhân dân cần các ông nhưng các ông đã không đáp ứng được nhu cầu của nhân dân &#8212; các ông im lặng rút vào vùng quên lãng, nhường chỗ cho những ông Nho Tây, tức những ông Tây học.</p>
<p>Liêu lạc quê người, tuổi đời Bẩy Bó, tôi có điều kiện mầy mò, lục lọi, tra cứu, suy luận, để tìm biết những chuyện xưa trên những trang sách cũ, tôi thấy năm xưa khi văn học Nho Tầu suy tàn ở nước ta, các ông Nho Tây, tức những ông Tây học, như các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng&#8230; không ông nào viết nửa lời chế nhạo &#8212; chế nhạo thôi, đừng nói khinh mạn &#8212; các ông Nho Ta, cũng không ông Nho Tây nào viết một lời chê bai, khinh thị chữ Hán. Không những không khinh thị, tôi còn thấy các ông Nho Tây thời xưa đó &#8212; dường như &#8212; có mặc cảm tội lỗi trước việc các ông bỏ Hán học để theo Tây học. Tâm trạng ấy của các ông cũng dễ hiểu thôi: ông nội, ông ngoại các ông, ông bố đẻ các ông, ông bố đẻ vợ các ông, là những nhà Nho học, sức mấy các ông dám khinh những ông nhà Nho. Các ông ra đời trong những nhà có sập gụ, tủ chè, bộ salon Tầu, tràng kỷ, tủ đồ cổ, hoành phi, câu đối, có những bộ sách chữ Hán mà các ông mù tịt không đọc được một chữ. Gia phả, văn tự của gia đình các ông viết bằng chữ Hán, các ông, khi cần, phải nhờ người đọc dùm, giảng nghĩa cho.</p>
<p>Đấy là tình trạng những năm 1900. Một trăm năm sau tình hình đổi ngược. Nói một trăm năm sau không đúng, ngay những năm 1960, 1970 chữ Hán lại được nhiều người Việt trọng vọng. Người Việt vẫn không mấy ai học chữ Hán, người Việt vẫn miệt mài học tiếng Anh, tiếng Pháp, nhưng họ biết họ học hai cái tiếng đó là để đi làm, để kiếm cơm, hai cái tiếng ngoại ấy không giúp cho đời sống tinh thần của họ khá hơn bao nhiêu. Và trong xã hội ta những thập niên 1960, 1970 có nhiều người biết tiếng Anh, tiếng Pháp &#8212; đa số lem nhem, Ăng-lê thì sách <em>English for Tonight</em>, Phú-lang-sa thì sách <em>Méthode de la Langue Francaise</em> &#8212; số người Việt biết hai thứ tiếng ngoại ấy lền khên khắp nơi nhưng chỉ có rất ít người Việt biết chữ Hán.</p>
<p>Vương Quốc Cường, bạn tôi, chức vụ cuối cùng là Chánh án Quảng Ngãi, đi cải tạo về năm 1981, đi vượt biên, bị mất tích năm 1982; năm 1974 một lần gặp nhau, Cường nói với tôi:</p>
<p>- Nghe nói ông tự học chữ Hán và đã đọc được truyện Tầu? Học chữ Hán có khó không ông? Quảng Ngãi có Dân biểu Nguyễn Ngọc Tân. Mỗi lần phái đoàn chính quyền tỉnh đi thăm dân cho biết sự tình, vào đình làng nào có câu đối, hắn đọc vanh vách, giải nghĩa từng chữ. Mọi người, kể cả các bô lão trong làng, thán phục hắn quá!</p>
<p>Chỉ qua một chuyện ấy thôi tôi thấy bây giờ nhân dân coi những người biết chữ Hán có giá trị hơn những anh biết tiếng Ăng-lê, tiếng Phú-lăng-sa; giữa đám đông, người biết chữ Hán nổi bật lên như phượng hoàng giữa đàn gà.</p>
<p>Dân biểu Nguyễn Ngọc Tân biệt danh Phạm Thái, bút hiệu Bẩy Bớp, từng có thời làm trong tòa soạn báo Tự Quyết của Đảng Đại Việt với Chú Tư Cầu Lê Xuyên; những năm 1953, 1954 tòa soạn báo Tự Quyết đặt trong Nhà In Long Giang, hẻm đường Võ Tánh, Sài Gòn. Anh từng bị tù thời người Pháp mới trở lại làm chủ Sài Gòn, những năm 1947, 1948 xưa ấy anh bị Pháp giam ngay trong Đề Lao Gia Định, nơi sau năm 1975 được bọn Bắc Cộng mở rộng, làm thành Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, anh từng phải sang sống lưu vong ở Nam Vang vì chống chính phủ Ngô Đình Diệm.</p>
<p>Dân biểu Nguyễn Ngọc Tân đi tù cải tạo có một năm là được thả về &#8212; nghe nói vợ anh có họ với chị vợ ba của Tổng Bí Lê Duẩn &#8212; nhưng chỉ vài tháng sau anh bị bắt lại. Lần này anh bị tù trong nhà tù, tù dài ngày và dài người, anh nằm nhà tù như mọi tù nhân lương tâm hay không lương tâm, anh không được đi trại tù cải tạo &#8212; đúng ra là trại tù khổ sai &#8212; với tư cách dân biểu như lần trước. Năm 1977 tôi gặp anh trong Phòng Giam Tập Thể số 7 Khu C Một, Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn Nhân Dân Sài Gòn của bọn Công An Thành phố Hồ Chí Minh. Là Công Tử Nam Kỳ anh hút thuốc lào quá xá là hút. Khi tôi gặp anh, anh đã sống trong Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu được một năm, anh từng nằm chung phòng tù với Duyên Anh, Chú Tư Cầu Lê Xuyên. Anh trạc tuổi tôi, những năm 1977, 1978, chúng tôi 45, 50 tuổi.</p>
<p>Ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh. Cùng một lứa tù đầy cộng sản. Gặp gỡ nhau chỉ biết thương nhau.. Từ Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, người tù Nguyễn Ngọc Tân bị đưa đi trại tù khổ sai.. Tôi nghe nói mãi đến những năm 1988, 1989 anh mới được thả. Trở về mái nhà xưa không bao lâu anh lại hoạt động đòi dân chủ, dân quyền cho đồng bào và ngay lập tức anh bị cộng sản bắt lại. Năm 1995 ở Hoa Kỳ tôi nhìn thấy ảnh anh mặc bộ đồ tù Chí Hòa, đứng trước tòa án Việt Cộng, đăng trên một tờ báo Việt. Trông anh gầy và già quá. Rất tiếc tôi đã không giữ tấm ảnh ấy của anh. Năm 2002 tôi được tin anh đã qua đời.</p>
<p>Xin trở lại với chuyện Nho Ta, Nho Tầu, Nho Tây. Một trăm năm trước những ông Nho Tây An Nam không ông nào tỏ ra khinh thị chữ Hán hay cười chê những ông Nho Ta &#8212; hai tuần báo Ngày Nay, Phong Hóa thời xưa ấy có chế riễu hai nhân vật Lý Toét, Xã Sệ, nhưng Lý Toét, Xã Sệ không phải là nho sĩ, hai anh thuộc loại kỳ mục, kỳ nát &#8212; người chế riễu, chỉ trích những ông Nho Ta lại chính là những ông Nho Ta, như ông Tú Xương, như ông Dương Bá Trạc.</p>
<p><strong><em>Dương Bá Trạc. Tính hay bắt chước của người mình</em></strong>. Bài viết năm 1925, đăng trong tập Tiếng Gọi Đàn, in tại Nghiêm Hàm Ấn Quán, Hà Nội năm 1925:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Người ta ai là khỏi có cái bắt chước người, nhưng bắt chước người mà cũng cần phải có cái trí khôn quyết trạch của mình, bắt chước cái hay mà biết bỏ cái dở: mình ăn bốc, ở truồng, trông thấy người mâm thau, bát mẫu, quần rộng, áo dài mà bắt chước là phải; mình xưa nay không biết rượu chè, hút xách là cái gì cả mà thấy người uống rượu cũng bắt chước uống rượu, thấy người nghiện thuốc phiện cũng bắt chước nghiện thuốc phiện thì chẳng là nguy lắm ru !</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Vả mô phỏng của người mà lại cần phải tự ý mình suy nghĩ ra: như người nước Pháp học văn chương La-mã mà lập ra được hẳn một nền văn học riêng; người Nhật học chữ Hán mà chế ra được thứ chữ bình giả, phiến giả, làm một lối chữ Hòa-văn riêng của mình. Xét rộng ra, các điều phát minh, các môn kỹ nghệ cho đến trăm nghề, trăm nghiệp trong thế giới từ xưa đến giờ, cái gì cũng chỉ sáng khởi ra trước tự một hai người, bao nhiêu người sau đều là bắt chước cả, mà nào có ai giống ai, có nước nào giống nước nào, ngày mới tháng lạ, biến hóa vô cùng, càng về sau lại càng thấy hơn về trước nhiều mà không có chút gì là đạo tập người trước nữa. Bắt chước người mà khôn thì là sự tiện lợi thứ nhất, không gì chóng hay, chóng khá bằng.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Người mình có cái thiên tính hay bắt chước, cái gì cũng nhất vị chỉ biết bắt chước người, nên bắt chước dại thì nhiều mà bắt chước khôn thì ít lắm. Bắt chước người Tầu học chữ Hán mà trong khoảng mấy nghìn năm chỉ học nhờ, viết mượn, không hề nghĩ ra được một thứ chữ quốc văn nào &#8212; trừ ra có một thứ chữ Nôm cũng viết bằng chữ Hán mà ai muốn viết thế nào thì viết, chưa thành lối chữ nhất định &#8212; người Tàu bị dại vì cái học khoa cử, mình cũng bắt chước theo cái học khoa cử mà bị dại, người Tàu bị ngu, bị hèn vì cái tục trọng văn, khinh võ, quý sĩ, tiện nghệ, người mình cũng bắt chước theo cái tục trọng văn, khinh võ, quý sĩ, tiện nghệ mà bị ngu hèn; về tư tưởng thì người Tàu có cái học thuyết chán đời, người mình cũng bắt chước chán đời, người Tàu có cái thuyết vị ngã, người mình cũng bắt chước vị ngã; về phong tục thì người Tàu trọng bói toán, đồng cốt, phù thủy, địa lý; người mình cũng bắt chước bói toán, đồng cốt, phù thủy, địa lý; người Tàu thờ ông thánh Quan, bà Tiên hậu, kỷ niệm ông Khuất Bình, ông Giới Tử Thôi, người mình cũng bắt chước thờ ông thánh Quan, bà Thiên hậu, kỷ niệm ông Khuất Bình, ông Giới Tử Thôi. Trong cái lúc thâu thái được chút đỉnh luân lý, học vấn, văn chương, kỹ nghệ của người Tàu thì bao nhiêu cái dại, cái dở của người Tàu mình cũng cũng nhắm mắt theo cho kỳ hết.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Nhân thế mà bao nhiêu cái tinh thần tự lập, cái năng lực sáng tạo mất dần đi tất cả. Người nước nào có cái đặc sắc văn học của nước ấy, mỹ thuật nước ấy. Nói đến văn học của người mình thì ai làm được câu văn thơ nào hay cũng tự đắc rằng câu văn ấy Tàu, câu thơ ấy Tàu mà khen ngợi nhau, khuyến miễn cho nhau cũng lấy thế làm tuyệt phẩm; nói đến mỹ thuật của mình thì không luận là đồ gì, suốt cả nước từ trên chí dưới, từ trẻ chí già cũng đều cho kiểu Tàu, nét Tàu mới là đẹp; kiểu mạc ra không đúng Tàu, đồ làm ra không hệt Tàu là xấu, là bỉ tiện, là ít người thích, phải bán rẻ tiền&#8230; Như thế thì còn gì là cái tinh thần tự lập, cái năng lực sáng tạo nữa. Cho nên dân tộc mình lập quốc đã bốn ngàn năm mà tuyệt không có tí gì là quốc học của mình cả. Các nhà bác học đời nay nghiên cứu về Đông phương hoặc về mỹ thuật đều cho người mình là nhất thiết cái gì cũng chịu ảnh hưởng của người Tàu cả, thật là đúng lắm. Cái đó chẳng là một cái cớ lớn làm cho người mình bao giờ tiến hóa cũng chậm trễ sau người ta ru?</em></p>
<p>Hết bài viết của ông Dương Bá Trạc.</p>
<p>Ông Dương Bá Trạc đỗ cử nhân, từng bị Pháp bắt, đày ra Côn Đảo. Năm 1944 ông được người Nhật đưa sang đảo Chiêu Nam, Singapore, cùng ông Trần Trọng Kim, người Nhật chuẩn bị đưa một trong hai ông ra làm Thủ Tướng Chính Phủ khi Nhật đảo chính Pháp. Ông mất vì bệnh ở đảo Chiêu Nam. Ông là tác giả bài thơ từng một thời bị coi là Thơ Cổ</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Ai sui con cuốc gọi vào hè<br />
Cái nóng nung người, nóng nóng ghê.<br />
Ngõ trước, vườn sau um những cỏ,<br />
Vàng phai, thắm nhạt ngán cho huê.<br />
Đầu cành kiếm bạn oanh xao xác.<br />
Trong tối đua bay đóm lập loè.<br />
May được nồm nam cơn gió thổi,<br />
Đàn ta ta gẩy khúc Nam nghe.</em></p>
<p style="text-align:center;">- &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; -</p>
<p>Đêm tha hương, riêng một ngọn đèn.. ..</p>
<p>Với tôi, “<em>Viết là hạnh phúc</em>” mà “<em>Đọc là lạc thú</em>”. Rừng Phong, phòng ấm, đèn vàng, yên tĩnh, an ninh năm chăm phần chăm, ngoài trời tuyết rơi nhưng tôi săng phú! Không phải đi làm, ngán gì tuyết phủ, mặc cho tuyết rơi, ta nằm tình tang với những trang sách cũ! Đọc hết bài viết của ông Dương Bá Trạc, đăng trong sách “<em>Văn Học Việt Nam</em>” của Giáo sư Dương Quảng Hàm, tôi ấp sách lên ngực, nhắm mắt, vắt chân lên trán, xin lỗi, tôi vắt tay lên trán, nghĩ ngợi lăng tăng băng.</p>
<p>Bài viết của ông Cử Dương, viết năm 1925, trong có chuyện về tính bắt chước của người An Nam, viết năm tôi chưa ra đời, văn huê là năm cõi đời này chưa có tôi, làm tôi nhớ đến bài tham luận “<em>Văn Minh Tiểu Phẩm</em>” của Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ. Trong bài tham luận của TT. Tuệ Sỹ, viết trong nước gửi ra, đọc tại Đại Hội Phật Giáo Việt Nam ngày 4 Tháng Giêng 2003 tại San Diego, Hoa Kỳ có đoạn:</p>
<p><em><strong>Văn Minh Tiểu Phẩm</strong></em>. TT. Thích Tuệ Sỹ. Trích:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Nói rằng chữ Nôm phức tạp cho nên không tiện lợi để phổ biến cho bằng chữ La-tinh, điều này chỉ đúng cho những người mà não trạng đã quen với tập tính lười biếng. Có điều, hình như đại bộ phận trí thức của ta, từ mặc cảm tự ti, bị trị, của một dân tộc nhược tiểu, muốn nhanh chóng rút ngắn con đường giải phóng và cách mạng, để bắt kịp nền văn minh vật chất hào nhoáng từ phương Tây rọi sang. Từ đó phát sinh càng lộ liễu tập tính lười biếng, chỉ cần bắt chước những gì được coi là chuẩn mực của văn minh, không cần đến tư duy sáng tạo, điều mà tiền nhân của chúng ta đã không ngừng trong suốt chiều dài của lịch sử để tự tồn, bên cạnh một thiên triều luôn nghĩ cách thôn tính và đồng hóa. Do đó, người ta không nhìn thấy tính sáng tạo của dân tộc trong quá trình hình thành chữ Nôm, trong cách cấu tạo tự hình trong đó hàm tàng những cái nhìn về nhân sinh và thế giới. Chữ Nôm bị kết tội là làm chậm bước phát triển của dân tộc cho nên cần phải thay thế bằng chữ viết khác.</em></p>
<p>Ngưng trích.</p>
<p>Một đêm xưa cũng trong căn phòng ấm ở Rừng Phong này, cũng ngọn đèn này, tôi cũng nằm như thế này đọc bài tham luận của Thầy Tuệ Sỹ. Đọc đến đoạn trên đây tôi cũng buông tờ báo, nhắm mắt, vắt chân lên trán, xin lỗi, vắt tay lên trán, tôi suy nghĩ, tôi ngấm và tôi thấy tôi xấu hổ quá. Thầy Tuệ Sỹ chỉ cho tôi thấy những người Việt sống đồng thời với tôi, và tôi, ngu muội, hèn mạt, chỉ biết bắt chước bọn Tây, bọn Mỹ. Hèn quá là hèn, nhục ơi là nhục. Đêm nay bài viết của Dương Bá Trạc Tiên sinh &#8212; bài viết từ năm 1925, năm Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ chưa ra đời để cứu người &#8212; cho tôi thấy.. té ra..</p>
<p>..Té ra.. không phải chỉ thế hệ ông bố tôi, thế hệ người Việt ra đời từ năm 1890, sống đến năm 1960, không phải chỉ thế hệ tôi, thế hệ từ năm 1930 đến năm 2000, là những thế hệ người Việt đốn mạt chỉ biết cong lưng, gục mặt, lé mắt bắt chước người. Té ra thế hệ các ông tằng tổ, kỵ tổ, thủy tổ, đủ thứ tổ, tổ đủ thứ của tôi từ ngàn xưa đã có cái tật bắt chước người nước ngoài. Tổ tiên tôi bắt chước bọn Đại Tầu, đến đời ông bố tôi, đời tôi, bắt chước bọn Đại Tây. Nhưng cái mà Thầy Tuệ Sỹ gọi là “<em>tập tính lười biếng</em>” của dân tộc tôi đó, theo ý ngu của tôi, thì không phải chỉ một dân tộc tôi có, không phải là cái thói xấu, cái tính đáng khinh của riêng dân tộc tôi. Tất cả những dân tộc chậm tiến lúc nhúc trên trái đất này đều bị bắt buộc phải bắt chước bọn người da trắng văn minh hơn. Họ bắt chước xử dụng những dụng cụ để sống cho đỡ khổ do bọn người da trắng sáng chế ra thôi cũng đã phờ râu, mờ mắt, nói đến chuyện cạnh tranh với chúng trong việc sáng chế là ngớ ngẩn. Bắt chước còn chưa xong &#8212; như lái máy bay, người ta phải có một số thông minh nào đó mới có thể học được cách lái máy bay &#8212; ở đó mà hiu hiu nói đến “<em>tư duy sáng tạo</em>.” Trong năm, sáu trăm năm độc lập, các ông Nho Ta đã không sáng tạo ra được một thứ chữ riêng cho dân tộc tôi, một thứ chữ riêng của dân tộc. Đừng nói chuyện chưa đủ thời gian, mấy trăm năm là thời gian dư dài để người ta sáng chế ra một thứ chữ viết. Cái gọi là “<em>tính sáng tạo của dân tộc trong quá trình hình thành chữ Nôm</em>” quá yếu, vì quá yếu nên Chữ Nôm, có từ đời <em>Hồng Đức Nhà Lê</em> &#8212; Những bài Thơ Nôm, thi phẩm <em>Gia Huấn Ca</em> của Nguyễn Trãi, <em>Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập</em>, <em>Văn Hàn Thuyên</em> vv.. &#8212; đã không được làm cho hoàn chỉnh; chữ Nôm ở trong tình trạng không ra làm sao cả khi bọn thực dân Pháp đến nước ta. Những người chê khinh Chữ Nôm chính là những ông Nho Ta, chính các ông Nho Ta đánh giá Chữ Nôm bằng câu “<em>Nôm na là cha mách qué</em>.”</p>
<p>Chưa bao giờ “<em>chữ Nôm bị kết tội là làm chậm bước phát triển của dân tộc, cho nên cần phải thay thế bằng chữ viết khác</em>.” Chữ Nôm không có vị trí nào đáng kể trong đời sống của nhân dân nên nó không thể bị thay thế. Tôi chắc các ông linh mục truyền đạo Gia Tô khi nghĩ ra cách dùng mẫu tự <em>a, bê, xê</em> để ghi tiếng nói của người Việt, để dùng trong việc truyền đạo, không ông nào nghĩ đến việc chế ra một thứ chữ để cho dân cả nước Việt dùng.</p>
<p style="text-align:center;">- &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; -</p>
<p>Nhưng tại sao ta lại bắt chước? Ta bắt chước vì nó hay, nó tốt, vì nó có lợi cho ta, vì nó làm cho đời sống của ta sung sướng hơn. Vậy thì câu hỏi có thể là “<em>Tại sao ta lại không bắt chước</em>?” Nếu ta không bắt chước, dân tộc ta cứ nằm ngồi mãi trong tình trạng bán khai. Nếu ta bắt chước mà không khéo, không giỏi, ta có thể bị những ông Việt Nam như ông Dương Bá Trạc, như Thầy Tuệ Sỹ, mắng là “<em>Bọn khốn nạn. Chỉ có việc bắt chước mà cũng không nên thân</em>..” Việc có một số người bắt chước cả những cái xấu là cái giá phải trả cho sự bắt chước. “<em>Bắt chước</em>” nó là như thế. Đến Thế kỷ 20 tất cả ba giống dân da vàng, da đỏ, da den đều phải bắt chước bọn dân da trắng. Văn minh đến như dân Đại Tầu, giống dân có thứ chữ được các ông Nho Ta ca tụng là uyên áo, uẩn súc, tuyệt phẩm.. cũng bắt chước bọn dân da trắng như điên.</p>
<p>Năm 1984 khi bọn Việt Cộng đưa xe bông đến nhà tó tôi đi tù lần thứ hai, Sài Gòn chỉ có rất ít nhà có máy TiVi, năm 1990 khi tôi từ nhà tù cộng sản trở về mái nhà xưa lần thứ hai, gần như nhà nào ở Sài Gòn cũng có máy TiVi. Không những chỉ TiVi mà còn là TiVi mầu. Tôi ngồi xem TiVi và ngạc nhiên khi thấy cảnh một nhà ga ở nước Đại Tầu đầy những thanh niên nam nữ bận jacket, mũ, quần jeans, đi giày thể thao thường gọi là giày Adidas. Mới thấy tôi tưởng đó là cảnh thanh niên ở một nhà ga ở Nhật, Nam Hàn, nhưng đó là cảnh một nhà ga Tầu ở gần Thẩm Quyến, khu có những xưởng máy chế tạo công nghiệp do tư bản ngại quốc mở dùng lực lượng công nhân Đại Tầu rẻ tiền làm thuê. Đám thanh niên nam nữ Đại Tầu trong cảnh tôi thấy trên TiVi từ khắp nơi trên đất Đại Tầu đổ về Thẩm Quyến để tìm việc làm. Họ bị cảnh sát chặn lại ở nhà ga đó vì khu công nghiệp Thẩm Quyến đã quá thừa công nhân. Thế rồi mới đây, bọn Cộng Sản Tầu họp đại hội, bầu bọn lãnh đạo. Tôi thấy trên nhật báo The Washington Post ảnh 6 anh Tầu Cộng được bầu đứng dàn hàng nhận sự hoan hô chúc mừng của đồng đảng. Cả 6 anh Tầu Cộng, chắc còn nhiều anh nữa, đều mặc com-lê vét-tông, thắt ca-la-hoách. Ông Tầu Lin Yu Tang, tên Việt là ông Lâm Ngữ Đường, là người những năm 1920, 1930 từng viết ca tụng tính cách gọi là nhân văn, đề cao khả năng làm cho người bận thoải mái, dễ chịu của những bộ áo thụng Tầu, người từng kết tội y phục của người phương Tây là gò bó, giam hãm, hành hạ thân thể con người, nếu nhìn thấy bọn đảng viên cộng sản Tầu Bắc Kinh năm 2002 hoan hỉ, cười toe, bận com-lê vét-tông, thắt ca-la-hoách cả lũ.., chắc phải khóc thét lên..</p>
<p>Người Âu Mỹ bận com-lê vét-tông vì họ thấy kiểu y phục đó đẹp, trang trọng, hợp với họ, nên họ bận. Họ không đòi hỏi, nài ép hay dụ dỗ, bất cứ một giống dân nào khác bận com-lê vét-tông như họ. Những giống dân khác thấy bộ com-lê vét-tông đẹp, trang trọng, nên bắt chước mặc theo. Bọn Tây dùng toong-đưa cắt tóc ngắn, dùng dao cạo cạo râu ria nhẵn nhụi, rửa mặt, rửa tay, tắm giặt bằng sà-bông, những giống dân khác thấy những trò đó đẹp, tốt, sạch, bèn làm theo. Việc bắt chước làm cho đồng bào tôi bị mất một số những truyền thống như tắm giặt, vo gạo, rửa rau, rửa đít cùng một cầu ao. Việc đồng bào tôi rửa đít ở cầu ao là việc nếu người Việt nào nghi ngờ là làm gì có, thì người nghi ngờ đó là người Việt &#8212; không phải mất gốc &#8212; mà là người Việt chưa từng lần nào sống ở làng quê hơn ba ngày, đồng bào tôi vo gạo ở cầu ao là việc có thực, vì dân tôi có câu “<em>Ăn mày đánh đổ cầu ao</em>..”, nói lên việc người ăn mày xin được dúm gạo, mang ra cầu ao vo, không may đánh đổ dúm gạo đó xuống ao. Hết ăn. Tôi ngu muội nghĩ rằng những truyền thống như truyền thống vo gạo và rửa đít cùng một cầu ao &#8212; ao tù, nước đọng, mùa cạn còn toen hoẻn ba mươi phân nước &#8212; thì có lẽ ta cũng không nên tiếc khi mất, mặc dù truyền thống vo gạo, rửa đít cùng một cầu ao &#8212; có thể &#8212; là truyền thống của “bốn ngàn năm văn hiến.”</p>
<p>Dương Tiên sinh viết: “..<em>Mình ăn bốc, ở truồng, trông thấy người mâm thau, bát mẫu, quần rộng, áo dài mà bắt chước là phải</em>..” Đêm khuya, im lặng hai chăm phần chăm, tôi “tư duy, tư dzéo” về chuyện “<em>ăn bốc, ở truồng</em>..” và tôi muốn nói với Dương Tiên sinh:</p>
<p>- Thưa Tiên sinh.. Một trăm năm trước bọn ăn bốc, ở truồng, thường là bọn dân da vàng, dân da đen, họ bắt chước bọn dân da trắng ăn bằng cù-dzìa, phóng-xét, bọn đàn ông thì bắt chước bận sơ-mi, vét-tông, bọn đàn bà thì sú-cheng, si-líp, zúyp se-rê, rốp sắc. Nhưng một trăm năm sau đó, tức là bi giờ đây, thời tôi sống, thời tôi làm chứng nhân, những năm 2000, bọn dân da trắng thừa quần, thừa áo, lại bắt chước bọn ăn bốc, ở truồng mà ở truồng. Thưa Tiên sinh, tức là bây giờ bọn dân da trắng lại ở truồng tùm lum, tòa loa. Họ kéo nhau đến những khu riêng của họ, thường ở bãi biển, hay ở trong rừng, trên núi. Vào đó vợ chồng, con cái, dâu rể, anh em, chị em, cả ông cháu, bạn hữu ở truồng tồng ngồng cả ngày, lẫn đêm. Kỳ thật là kỳ. Người man dã bắt chước người văn minh, rồi đến lượt người văn minh bắt chước người man dã. Như vậy thì việc “<em>ở truồng</em>” chưa chắc đã là không hay, nói cách khác, việc “<em>người ta ở truồng</em>” có thể là việc hay, việc tốt cho con người. Nếu không hay, không tốt, tại sao có người làm nó?</p>
<p>Mà bọn ở truồng bi giờ lại toàn là bọn dân những nước văn minh nhất thế giới. Tôi chưa được đến những Khu Ở Truồng ấy lần nào, có vài ông bạn tôi đã đến đấy xem thực hư, thường là ở Pháp, kể chuyện: “Mình vào đấy bị mấy con đầm ở truồng nó chửi mình nhục nhã lắm. Nó quẳng vào mặt mình đủ các thứ đồ.. Đồ mọi rợ.. Đồ đểu cáng.. Đồ dơ dáy.. Đồ đói khát.. Đồ dâm đãng.. Đồ bệnh hoạn.. Đồ con heo.. Mày vác cái mặt chó của mày vào đây xem cái gì? Mày thèm cái này lắm à? Mày không thấy cái này của mẹ mày bao giờ à.?”</p>
<p>Thưa Tiên sinh, tôi thấy bi giờ bọn ở truồng, đáng lẽ phải gọi là bọn mọi rợ, đáng lẽ phải xấu hổ, lại khinh bỉ bọn bận quần áo đàng hoàng. Và bọn bận quần áo đàng hoàng, đáng lẽ phải khinh bỉ bọn ở truồng vú vê thỗn thện, lại bị bọn thỗn thện, lông lá chửi cho vuốt mặt không kịp và lấy làm hổ thẹn. Kỳ thật là kỳ!</p>
<p>Đến đây tạm chấm dứt Chương trình Văn Nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum.</p>
  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/hoanghaithuy.wordpress.com/2477/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/hoanghaithuy.wordpress.com/2477/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2477/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2477/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2477/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2477/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/hoanghaithuy.wordpress.com/2477/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/hoanghaithuy.wordpress.com/2477/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2477/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2477/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2477&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/06/nho-ta-nho-tay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/03c798a8ae0d29bd847057c0e89c390b?s=96&#38;d=wavatar&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">hoanghaithuy</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/playboy.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Vietnamese Playboy</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Văn Chương Hạ Giới &#8230;</title>
		<link>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/03/van-chuong-ha-gioi/</link>
		<comments>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/03/van-chuong-ha-gioi/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 03 Nov 2009 00:00:29 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hoanghaithuy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Viết Ở Rừng Phong]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://hoanghaithuy.wordpress.com/?p=2467</guid>
		<description><![CDATA[
Bản quảng cáo của Nhà Bauman chuyên bán những sách quí, hiếm &#8212; Bauman Rare Books &#8212; đăng:
Ernest Hemingway
A Farewell to Arms
1929. First Edition, inscribed and signed by Hemingway. $22,000.
Hai mươi hai ngàn đô-la Mỹ giá quyển tiểu thuyết A Farewell to Arms của Ernest Hemingway, ấn bản thứ nhất in năm 1929, có chữ [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2467&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p><img src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/hemingway.jpg" alt="Hemingway" /></p>
<p>Bản quảng cáo của Nhà Bauman chuyên bán những sách quí, hiếm &#8212; <em>Bauman Rare Books</em> &#8212; đăng:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Ernest Hemingway<br />
A Farewell to Arms<br />
1929. First Edition, inscribed and signed by Hemingway. $22,000.</em></p>
<p>Hai mươi hai ngàn đô-la Mỹ giá quyển tiểu thuyết <em>A Farewell to Arms</em> của Ernest Hemingway, ấn bản thứ nhất in năm 1929, có chữ viết và chữ ký của Hemingway.</p>
<p>Ernest Hemingway và John Steinbeck là hai tiểu thuyết gia Mỹ được nhiều người đọc Việt Nam ái mộ, có nhiều tác phẩm được dịch ra tiếng Việt. <em>A Farewell to Ar</em>ms, tên Pháp <em>L’Adieu aux Arm</em>es, tên Việt <em>Giã Từ Vũ Khí</em>. Những năm 1960-1970 <em>Giã Từ Vũ Khí</em> được giới ký giả-văn nghệ sĩ Sài Gòn dùng như một thành ngữ chỉ việc người đã chết: “.. <em>Giã từ vũ khí rồi</em>..” là “<em>Chết rồi, đi tầu suốt, về quê rồi</em>&#8230;vv.”</p>
<p>Bản quảng cáo của Nhà Bauman còn có tác phẩm của John Steinbeck: <em>The Grapes of Wrath</em> &#8212; <em>Les Raisins de la Colère</em>, <em>Những Chùm Nho Phẫn Hận</em> &#8212; ấn bản thứ nhất năm 1939, không có chữ ký của tác giả, giá 4,800 đô, <em>Tropic of Capricorn</em> của Henry Miller, ấn bản thứ nhất năm 1939, có chữ viết và hai lần tác giả ký trên sách, giá 5,800 đô, <em>The Godfa</em>ther &#8212; Bố Già &#8212; của Mario Puzo, ấn bản thứ nhất năm 1969, có chữ ký của tác giả, giá 6,000 đô.</p>
<p><em>A Farewell to Arms</em> cao giá nhất trong bản những sách quí hiếm được nhà Baunam quảng cáo Tháng 12, 2000. Năm 1929, khi tác phẩm được ấn hành lần thứ nhất, giá mỗi quyển chỉ là 25 cents. Đô la Mỹ cũng bị nạn lạm phát không khác gì tất cả những thứ tiền tệ được con người bày ra trong thiên hạ; năm 1960 một quyển tiểu thuyết Mỹ bìa mỏng &#8212; <em>paperback</em> &#8212; giá 75 cents; năm xưa ấy giá tiền Việt quyển tiểu thuyết Mỹ 75 cents, bán ở nhà Bookstore trong Hành lang Eden, Sài Gòn là 15 đồng bạc VN: Việt Nam Cộng Hoà &#8212; năm nay &#8212; 2000 &#8212; giá mỗi quyển tương tự là 7 đô 50 cents, khoảng 100.000 đồng tiền Hồ thổ tả.</p>
<p><img style="margin:0 0 0 10px;" src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/jamesjoyce.jpg" alt="James Joyce" align="right" />Cũng trên báo Mỹ Tháng 12 &#8211; 2000, đăng tin Nhà Christie ở NewYork đưa ra bán đấu giá tập bản thảo viết tay của James Joyce. Tập bản thảo, chỉ có 27 trang giấy khổ lớn 16&#215;12 inches, là một chương trong tác phẩm <em>Ulysses</em> xuất bản năm 1922 của James Joyce. Tôi đọc <em>Ulysse</em> lần đầu năm 1960, vốn liếng Anh ngữ ít ỏi của tôi không cho tôi hiểu cốt truyện <em>Ulysse</em> &#8212; đọc kỹ mà không hiểu tác giả viết gì &#8212; văn James Joyce khó đọc quá. Năm 1970 tôi ở trong căn nhà cạnh nhà của Duy Sinh đường Hồ biểu Chánh. Có lần anh Nguyễn Đức Quỳnh đến chơi nhà Duy Sinh, anh nói nghe tiếng máy chữ của tôi anh rất cảm khái &#8212; năm ấy tôi viết bằng máy đánh chữ, tiếng gõ lách tách nghe vui tai của máy vẳng sang nhà Duy Sinh làm anh Quỳnh biết tôi đang viết &#8212; một trong những lời anh khuyên tôi là: “<em>Nên đọc James Joyce</em>..”</p>
<p>Tuy không đọc được James Joyce tôi vẫn giữ kỹ quyển <em>The Portable James Joyce</em> như một quyển sách quý của tôi, năm 1970, nghe lời anh Quỳnh, tôi đọc James Joyce lần thứ hai, lần này tôi cũng vẫn không hiểu, đành chịu. Năm 1974, giữ việc biên tập<em> Tạp Chí Triển Vọng</em> của Sở Thông Tin Hoa Kỳ, gặp một người viết tiểu thuyết trẻ của Mỹ được USIS mời sang thăm Việt Nam, tôi nói với ông tôi không đọc được James Joyce dù tôi rất muốn và dù tôi đã cố gắng đọc đến hai lần, nhà văn Mỹ trẻ nói “<em>không có gì lạ, ngay cả đến người Mỹ cũng không đọc nổi James Joyce</em>;” nói rõ hơn nhiều người Mỹ cũng không hiểu, không biết James Joyce viết gì.</p>
<p>Năm 1916 James Joyce và Erza Pound sống ở Paris. Erza Pound nói cho Luật sư John Quinn, một người ái mộ văn chương, biết về tài năng của Joyce, và về tình trạng túng quẫn tiền bạc của Joyce, Quinn gửi tiền cho Joyce sống và viết. Để đáp lại Joyce gửi tặng Quinn bản thảo viết tay tác phẩm <em>Ulysse</em> của mình khi tác phẩm hoàn thành. Bản thảo này sau đó được cho đánh máy rồi gửi đến các tạp chí và nhà xuất bản, Luật sư Quinn chỉ giữ lại trương <em>Circe, 27</em> trang viết tay của James Joyce làm kỷ niệm. Tập bản thảo 27 trang được cất trong một cái hộp gỗ và bị bỏ quên trong 80 năm. Năm nay một người cháu của Luật sư Quinn tìm thấy tập bản thảo trong kho sách cũ của ông chú, bản thảo được đưa cho Nhà Christie bán đấu giá. Luật sư John Quinn qua đời năm 1924, James Joyce tạ thế năm 1941.</p>
<p>Ngày 27 Tháng 12, 2000, tập bản thảo <em>Circe, 27</em> trang viết tay của James Joyce được Thư Viện Quốc Gia Ái-nhĩ-lan ở Dublin mua với giá 1,546,000 Mỹ kim. James Joyce là dân Ái-nhĩ-lan, ra đời ở thành phố Dublin, nhưng ông sống và viết, và chết ở Paris. Lúc còn sống nhà văn bị người đời coi thường &#8212; thành phố ông sinh trưởng không xô đuổi ông nhưng cũng không yêu mến, kính trọng ông, dân Dublin còn xấu hổ vì James Joyce, những văn phẩm của ông những năm đầu bị coi là đồi trụy, khiêu dâm, bị cấm phổ biến ở nhiều nơi.</p>
<p>Một vụ án văn chương điển hình: năm 1918 truyện <em>Ulysses</em> được đăng tải nhiều kỳ trên tờ Tạp Chí Văn Học <em>The Little Review</em> do hai nữ văn sĩ Margaret Andersen, Jane Heap chủ trương ở NewYork. Năm 1920 <em>Tổ Chức Phòng Ngừa Tội Lỗi NewYork</em> &#8212; <em>The NewYork Society for The Prevention of Vice</em> &#8212; kiện Tạp Chí The Little Revue về tội “<em>phổ biến những bài viết tục tĩu</em>,” &#8212; những bài viết tục tĩu đây là tiểu thuyết <em>Ulysses</em> của James Joyce. Tòa xử Tạp chí <em>The Little Review</em> phải ngừng đăng truyện <em>Ulysses</em>, những người chủ trương biên tập Tạp chí bị coi là có tội, bị phạt tiền.</p>
<p>Năm 1989 tôi ở Trại Lao Động Cải Tạo Z 30 A, viết đúng là Trại Tù Khổ Sai Cộng Sản, con tôi lên trại thăm tôi, đem cho tôi quyển Thơ của Đại Học Oxford, tuyển tập Thơ hơn một ngàn bài. Năm 1960 tôi mượn quyển Thơ Oxford này của Thư Viện Tòa Đại Sứ Anh, mượn rồi lấy luôn, không trả. Đêm, tôi nằm trong mùng phỏng dịch những bài thơ tiếng Anh tôi cảm khái, tôi xúc động, tôi thấy hay ra thơ Việt, trong số có bài thơ của James Joyce:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em><strong>CHAMBER MUSIC</strong></em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Gentle lady do not sing<br />
Sad songs about the end of Love.<br />
Lay aside sadness and sing<br />
How Love that passes is enough.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Sing about the long deep sleep<br />
Of Love that are dead and how<br />
In the grave all Love shall sleep<br />
Love is aweary now.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em><strong>NHẠC TRẦM</strong></em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Nàng ơi.. Đừng hát một mình<br />
Bài ca sầu những cuộc tình dở dang.<br />
Thôi buồn hãy hát theo đàn<br />
Tình Yêu như ngọc, như vàng cho nhau&#8230;</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Trong bóng đêm sâu<br />
Những người yêu ngủ giấc sầu ngàn năm,<br />
Trong lòng mộ tối Tình nằm<br />
Bây giờ chắc mệt như tằm rũ tơ.</em></p>
<p>Tôi cảm khái vì bài Thơ <em>Chamber Music</em> của James Joyce. Trong khoảng 50 bài Thơ Anh Mỹ tôi dịch, tôi phóng tác sang Thơ Việt năm 1989 khi tôi sống ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A tôi thích nhất, tôi thấy hay nhất là bài <em>Chamber Music</em>. Đây là bài Thơ tôi thích thứ hai:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em><strong>When You are old</strong><br />
Thi sĩ William Butler Yeast</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>When You are old and gray and full of sleep,<br />
And nodding by the fire, take down this book,<br />
And slowly read, and dream of the soft look,<br />
Your eyes had once, and of theirs shadow seep.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>How many loved your moments of glad grace,<br />
And loved your beauty with love false or true;<br />
But one man loved the pilgrim’ soul in You,<br />
And loved the sorrows of your changing face.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>And bending down beside the glowing bars,<br />
Murmur, a little sadly, how Love fled!<br />
And pace upon the mountains overhead,<br />
And hid his face amid a crown of stars.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em><strong>Khi Em già</strong></em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Khi Em già uá, Em sầu rũ<br />
Ngồi bên đèn đọc lại thư tình.<br />
Em sẽ mơ về năm tháng cũ,<br />
Ngày môi Em thắm, tóc Em xanh.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Biết bao nhiêu kẻ đã yêu Em,<br />
Những chiều Em đẹp, tối Em duyên.<br />
Chỉ có một người trong tất cả<br />
Yêu hồn Em nặng những ưu phiền!</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Người ấy nghiêng mình trên ánh lửa<br />
Yêu nét buồn trên mặt sầu miên.<br />
Tình đi, nuối tiếc, người than thở<br />
Rồi núi cao người nhẹ bước lên<br />
Đỉnh núi sương mù, người lệ rỏ<br />
Trong chuỗi sao mờ dấu mặt tên.</em></p>
<p style="text-align:center;">- &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - -</p>
<p>Chắc sẽ có một ngày quí bạn có dịp đọc tất cả 50 bài Thơ Dịch, Thơ Phóng Tác của tôi. Nay tôi trở lại với đề tài “<em>Văn Chương Hạ Giới</em>.”</p>
<p>“<em>Văn Chương Hạ Giới</em>” ở Âu Mỹ &#8212; nhất là ở Mỹ Quốc &#8212; đắt hơn Vàng. Nghe nói những năm 1930-1940 người Mỹ tính ra có những bản truyện của Nhà Văn Ernest Hemingway được nhà báo, nhà xuất bản, trả đến 5 đô-la 1 chữ. 5 đô Mỹ năm 1940 trị giá bằng 50 đô Mỹ năm 2000. Như trường hợp Nhà Văn Vladimir Nabokov, tác giả tiểu thuyết <em>Lolita</em>, trở thành triệu phú khi tiểu thuyết Lolita bán đến 50 triệu bản &#8212; 50 triệu, không phải 5 triệu &#8212; trên toàn thế giới. Chỉ cần 5 triệu bản <em>Lolita</em> bán được ở Hoa Kỳ, mỗi quyển tác giả chỉ được chi 1 đô-la, ông cũng có 5 triệu đô, sống ung dung mãn đời mà không cần phải làm việc kiếm tiền.</p>
<p><img style="margin:0 0 0 10px;" src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/tanda.jpg" alt="Tan Da" align="right" /><em>Lolita</em> được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Riêng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, viết rõ, gọn, dễ hiểu là riêng Sài Gòn không dịch <em>Lolita</em> sang tiếng Việt. Một trong những nguyên nhân làm thị trường tiểu thuyết dịch Sài Gòn không có <em>Lolita</em> là vì tiểu thuyết <em>Lolita</em> được đời hoan nghênh lên đỉnh cao nhất vào những năm 1955-1960, cùng thời ấy chính phủ Ngô Đình Diệm Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa thi hành “<em>quốc sách Cách Mạng Quốc Gia, lành mạnh hoá xã hội</em>”, triệt để bài trừ, ngăn cấm những cái gọi là “<em>văn hoá đồi trụy</em>.” Hai tiểu thuyết Tình mang tiếng porno: khiêu dâm là <em>Lady Chatterley’s Lover</em> và <em>Lolita</em> không được phép nhập vào Sài Gòn, nói gì đến chuyện được dịch ra tiếng Việt. Sau năm 1965 khi người Sài Gòn có thể dịch, đăng báo, xuất bản <em>Lolita</em> ở Sài Gòn thì đã qua thời <em>Lolita</em>, chẳng người Sài Gòn nào còn để ý đến <em>Lolita</em>.</p>
<p>Tháng 12-2000 bà Hillary Rodham Clinton, Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ kiêm Thượng nghị sĩ, được Nhà Xuất Bản Simon&amp;Schuster chi trước 8 triệu Mỹ kim cho quyển Tự truyện của bà. Trước bà Clinton, ông bà Cựu Tổng thống Ronald Reagan đã được một nhà xuất bản chi 8 triệu Mỹ kim cho hai quyển Hồi ký của ông bà. Hồi ký, tự truyện của ông bà Reagan, bà Clinton, được mua với giá cao vì các ông bàï là những nhân vật chính trị nổi tiếng đương thời, không phải vì giá trị văn chương.</p>
<p>Tập bản thảo 27 trang viết tay của Nhà Văn James Joyce được mua với giá Một triệu rưỡi Mỹ kim &#8212; $ 1, 500.000 &#8212; cho thấy văn chương ở Hoa Kỳ giá thật đắt.</p>
<p>“<em>Văn chương hạ giới</em>” rẻ ở đâu nhưng không rẻ ở Hoa Kỳ</p>
<p>Đó là chuyện “Văn Chương Hạ Giới Hoa Kỳ”, Văn Chương Hạ Giới Việt Nam Bốn Ngàn Năm Văn Hiến thì như Thi sĩ Tản Đà định giá trong bài Thơ <em>Hầu Trời</em>:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>“Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó,<br />
“Trần gian thước đất cũng không có.<br />
“Nhờ Trời, năm xưa học ít nhiều,<br />
“Vốn liếng còn một bụng văn đó.<br />
“Giấy, người, mực người, thuê người in,<br />
“Mướn cửa hàng người, bán phường phố.<br />
“Văn chương hạ giới rẻ như bèo,<br />
“Kiếm được đồng lãi thực rất khó..!”</em></p>
<p>Trong những làng quê Bắc Kỳ, bèo mọc đầy trong ao, chỉ dùng để nuôi heo: người ta ra ao vớt bèo gần như tự do, và cũng chỉ có thôn quê Bắc Kỳ trước năm 1950 nuôi lợn bằng bèo.</p>
<p>“<em>Văn chương</em>” ở nước Việt Nam “<em>rẻ như bèo</em>,” nên đời sống của Nhà Văn Việt Nam không thể khá được. Đây là lời ông Nhà Văn Nguyễn Vỹ diễn tả đời sống của “<em>Nhà Văn An Nam</em>” năm 1940 trong bài Thơ ông gửi ông bạn văn của ông là ông Trương Tửu:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Thời thế bây giờ vẫn thấy khó.<br />
Nhà văn An Nam khổ như chó.<br />
Mỗi lần cầm bút viết văn chương,<br />
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương,<br />
Và nhìn chúng mình hi hục viết<br />
Suốt mấy năm giời kiết vẫn kiết,<br />
Mà thương cho tôi, thương cho anh<br />
Đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh!</em></p>
<p>Đến đây tạm chấm dzứt Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum.</p>
  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/hoanghaithuy.wordpress.com/2467/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/hoanghaithuy.wordpress.com/2467/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2467/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2467/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2467/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2467/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/hoanghaithuy.wordpress.com/2467/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/hoanghaithuy.wordpress.com/2467/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2467/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2467/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2467&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/03/van-chuong-ha-gioi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/03c798a8ae0d29bd847057c0e89c390b?s=96&#38;d=wavatar&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">hoanghaithuy</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/hemingway.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Hemingway</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/jamesjoyce.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">James Joyce</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/11/tanda.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Tan Da</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Con Nợ, Chủ Nợ</title>
		<link>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/31/con-no-chu-no/</link>
		<comments>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/31/con-no-chu-no/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 31 Oct 2009 05:40:12 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hoanghaithuy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Viết Ở Rừng Phong]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://hoanghaithuy.wordpress.com/?p=2456</guid>
		<description><![CDATA[
 
Trong một bài Viết ở Rừng Phong trước đây, tôi viết có nhiều chuyện về đất nước tôi mà tôi cần viết, phải viết nhưng tôi chưa viết được nên tôi buồn, tôi đành mời quí vị bạn đọc thưởng thức vài chuyện văn nghệ văn gừng vô thưởng, vô phạt.
Trước khi đọc tôi kể [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2456&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p><img style="margin:0 0 0 10px;" src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/bush.jpg" alt="Bush and Nancy" /><br />
 <br />
Trong một bài <em>Viết ở Rừng Phong</em> trước đây, tôi viết có nhiều chuyện về đất nước tôi mà tôi cần viết, phải viết nhưng tôi chưa viết được nên tôi buồn, tôi đành mời quí vị bạn đọc thưởng thức vài chuyện văn nghệ văn gừng vô thưởng, vô phạt.</p>
<p>Trước khi đọc tôi kể chuyện tại sao tôi không viết được, tôi không viết được về những chuyện gì, mời quí vị đọc bài:</p>
<p><strong><em>Thân phận Con Nợ Việt Nam Cộng Sản trước Chủ Nợ Tầu Cộng<br />
</em></strong>Người viết: Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Phúc Liên.</p>
<p style="padding-left:30px;">Cách đây trên 20 năm, trên thế giới có phong trào các nước đã kỹ nghệ hóa “Mua Nợ” của các nước nghèo chưa mở mang ở Phi Châu và Nam Mỹ. Khi những nước nghèo có những món nợ nước ngoài chồng chất, không thể trả được, chính phủ những nước ấy tìm cách bán những món nợ ấy. Phải chăng việc các nước giầu mua nợ (nhận trả nợ dùm) là một hành động bác ái, thương người ?</p>
<p style="padding-left:30px;">Về tiền bạc, rất hiếm người hoặc không có ai dễ dàng làm Mạnh Thường Quân mà không có hậu ý. Cái hậu ý ở đây là bắt con nợ phải nhường những nguồn lợi kinh tế lớn gấp mấy lần giá trị của món nợ mà họ mua, tức trả dùm. [1]</p>
<p style="padding-left:30px;">Tôi xin kể một chuyện cụ thể. Cách đây 20 năm, tôi làm Cố vấn Tài chánh cho Group BONGO tại Congo. Sang Brazaville, tôi chứng kiến một Hợp đồng Mua Nợ giữa Nhật và Congo. Chính phủ Congo không có tiền để trả nợ. Một Công ty lớn của Nhật mua lại món nợ ấy với điều kiện Chính phủ Congo nhường cho Công ty Nhật cả một vùng rừng phía Bắc nước Congo để Nhật khai thác gỗ quý. Đối với Chính phủ Congo thì đây là việc họ làm với Nhật mà dân chúng Congo không biết gì cả. Có thể Chính phủ còn nói với dân rằng đây là việc khai thác tài nguyên rừng mà người Nhật làm có ích lợi cho xứ sở.</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>* Trường hợp Việt Nam “con nợ” của Tầu Cộng</em></p>
<p style="padding-left:30px;">Tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe trong dân gian có những chuyện người nghèo mắc nợ, không trả được, phải gả con gái cho chủ nợ để làm vợ bé, người hầu.</p>
<p style="padding-left:30px;">Cộng Sản Việt Nam trong những năm gần đây bị thiếu hụt Ngân sách trầm trọng. Cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế Thế giới làm cho sự đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thụt xuống 82%, (Tài liệu: Bài viết của phóng viên Asia Sentinel Consulting). Xuất cảng hàng hóa của VN giảm 60%. Ngay cả giữa Trung Quốc và Việt Nam, cán cân thương mại cũng thua lỗ: Năm 2008, Việt Nam xuất cảng sang Trung Quốc số hàng trị giá USD.4 tỉ, trong khi đó VN nhập cảng từ Trung Quốc tới USD.15 tỉ.</p>
<p style="padding-left:30px;">Việt Nam muốn vay nợ từ những nước khác, nhưng trong hoàn cảnh Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế toàn cầu, các nước khác cũng gặp khó khăn về tài chính, làm sao cho vay được. Trong hoàn cảnh như vậy, VN Cộng Sản chỉ còn có cách đem thân làm đầy tớ cho Tầu Cộng, bán cả vợ con cho Tầu Cộng để được Tầu cho vay tiền.</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>* Tầu Cộng là “chủ nợ” của Việt Nam CS</em></p>
<p style="padding-left:30px;">Chủ nợ thường có những lo ngại về trường hợp con nợ qụyt nợ. Nhiều nước Tây phương rất ngại cho Việt Nam CS vay nợ, một phần vì cuộc Khủng hoảng hiện nay, nhưng một phần quan trọng nữa là họ rất sợ Cộng Sản Việt Nam qụyt nợ. Làm việc trong lãnh vực Tài chánh, chúng tôi thường nghe nhiều chuyên gia Ngân hàng nói rằng họ có thể cho các nước nghèo ở Phi châu vay, nhưng nói đến cho Việt Nam Cộng Sản vay, thì họ rất ngại. Lý do làm họ ngại là nếu Việt Nam CS qụyt nợ, thì họ khó kiện cáo và khó dùng luật quốc tế để bắt Việt Nam CS phải trả nợ.</p>
<p style="padding-left:30px;">Trong khi đó thì ngược lại, Tầu Cộng sẵn sàng cho Việt Nam CS vay nợ vì Tàu Cộng có những thuận lợi chắc chắn sau đây:</p>
<p style="padding-left:30px;">Tầu Cộng cho Việt Nam CS vay nợ không phải bằng tiền mặt, mà bằng hàng hóa và nhân công. Tầu Cộng đang cần xuất cảng hàng hóa, nhân công và thiết bị dư thừa.</p>
<p style="padding-left:30px;">Tầu Cộng bắt Việt Nam CS phải cho hưởng những “nhượng địa” để khai thác tài nguyên làm bảo chứng cho những món nợ mà họ cho vay.</p>
<p style="padding-left:30px;">Trong trường hợp Việt Nam CS lật lọng muốn qụyt nợ, Tầu Cộng có quân đội mạnh sẵn sàng bao vây biển Việt Nam và dễ dàng cho quân tràn sang chiếm đất. Tầu Cộng không cần phải kiện cáo hay dùng luật quốc tế với Việt Nam CS, Tầu Cộng sẽ dùng sức mạnh quân sự để giải quyết.</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>* Tương quan Chủ Nợ Tầu &#8211; Con Nợ Việt</em></p>
<p style="padding-left:30px;">Không phải chỉ có tương quan giữa hai nước từng theo chủ nghĩa cộng sản mà là cái tương quan tệ hại giữa Con Nợ Việt Nam mất hết độc lập và Chủ Nợ Tầu Cộng hống hách chủ trương xâm lăng Việt Nam. Tương quan này cắt nghĩa và trả lời:</p>
<p style="padding-left:30px;">- Tại sao Việt Nam dành cho Tầu quyền khai thác tài nguyên trong nước Việt?</p>
<p style="padding-left:30px;">- Tại sao bị Tầu Cộng lấy mất Biển Đông, chiếm các đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà Việt Nam CS không dám kêu than??</p>
<p style="padding-left:30px;">- Tại sao VN dành hết những Dự án Kinh tế lớn cho Tầu?</p>
<p style="padding-left:30px;">- Tại sao Ngư dân Việt Nam bị Tầu bắt giam, cấm đánh cá mà VN không dám phản đối???</p>
<p style="padding-left:30px;">- Tại sao biết khai thác Bôxit Tây nguyên có hại mà vẫn cúi đầu để cho Tầu đào bới????</p>
<p style="padding-left:30px;">- Tại sao phải để cho nhân công Tầu tràn vào Việt Nam trong khi dân nghèo VN thất nghiệp?????</p>
<p style="padding-left:30px;">- Tại sao cấm giới trẻ VN không được bầy tỏ lòng yêu nước?????</p>
<p style="padding-left:30px;">- Tại sao phá và bắt những Blogers nói đụng đến Tầu Cộng?????</p>
<p style="padding-left:30px;">- Tại sao bắt những Trí thức Việt Nam như IDS phải câm miệng ?</p>
<p style="padding-left:30px;">Tất cả chỉ tại vì tính đê hèn, vô liêm sỉ, mất hết sĩ diện của “Con Nợ CSVN” trước “Chủ Nợ Tầu Cộng”, thứ “chủ nợ” ác độc luôn tìm mọi cách xâm lăng Việt Nam.</p>
<p>Ngưng trích.</p>
<p>Bài viết của Giáo sư Nguyễn Phúc Liên, cộng với những chuyện tôi nghe được về tương lai đen sì của đất nước tôi, làm tâm trí tôi rã rời, tôi hết còn tinh thần để viết. Đất nước tôi sẽ mất, sắp mất, mà tôi không làm gì được! Khóc than khi nước mất là trò vô duyên, vô ích. Vậy mà kể cả việc khóc than, tôi cũng không làm được cho ra hồn.</p>
<p>Tôi nghe nói bọn Tầu Cộng làm những con đập ngăn nước trên sông Hồng, sông Mekong &#8212; Lâu rồi, từ những năm 1970, tác giả Ngô Thế Vinh đã báo động về việc Tầu Cộng xây đập ngăn sông Mekong, tác phẩm “<em>Cửu Long cạn dòng</em>..” &#8212; Tầu Cộng dùng những đập ngăn nước ấy để khống chế những nước ở hạ nguồn sông, trong số những nước bị khống chế ấy có nuớc tôi, bị khống chế nặng nhất, nguy hiểm nhất là nước tôi. Nước tôi &#8212; chẳng may cho chúng tôi &#8212; là nước sông liền sông, núi liền núi với nước Tầu. Bọn Tầu Cộng bành trướng dùng những dòng sông lớn làm sức ép bắt nước tôi phải thần phục chúng, phải trở thành một tỉnh của nước chúng, như Tây Tạng.</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Trông người lại xót đến ta.<br />
Tây Tạng thế đó, ta ra thế nào!</em></p>
<p>Tôi lại nghe chuyện bọn Tầu Cộng &#8212; công khai &#8212; nói với người Mỹ:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>- Mấy thằng Việt Nam đừng có dzở trò nho nhoe với chúng tôi. Chúng tôi nắm mạng sống của chúng nó trong tay, chúng tôi xiết lại là chúng nó chết khô, chúng tôi mở ra là chúng nó chết đuối.</em></p>
<p>Chúng nói với người Mỹ lời đe dọa trên để người Mỹ nói lại với những người Việt sống trên đất Mỹ.</p>
<p style="text-align:center;">- &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; -</p>
<p>Viết cho người bạn đến cõi đời này 50 năm, 100 năm sau năm 2009:</p>
<p>Khi bạn đọc những dòng chữ này là năm 2050, hay năm 2100, quí bạn là nguời dòng dõi dân Việt Nam, nếu những dzòng chữ này còn sót lại trên cõi đời này và hiện ra dưới mắt quí bạn: xin biết cho nỗi đau của chúng tôi &#8212; chúng tôi đau lắm &#8212; chúng tôi biết đất nước Việt ta sắp mất, sắp bị nhập vào lãnh thổ Tầu mà chúng tôi không làm gì được.</p>
<p>Tôi cố viết thêm:</p>
<p>Thành phố Sài Gòn, Thủ Đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà của tôi, có cái số phận đáng buồn là hai lần phải mang những cái tên đường tên người lạ hoắc. Từ năm 1920 thành phố thành hình đường phố Sài Gòn mang những cái tên người xa lạ: Charner, Catinat, Taberd, Galliéni, Paul Bert, MacMahon, Général Lizé, Boudonnet, Lagrandière, Richaud, Audouit, Dixmude, Miss Cawell. Có thể nói tất cả dân Sài Gòn thời ấy không biết những người có tên trên những bảng tên đường trong thành phố của họ là ai, từng làm gì trên thành phố này.</p>
<p>Từ năm 1956 Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà thành hình, thành phố Sài Gòn là của dân Sài Gòn, đường phố mang tên những danh nhân của dân tộc. Thế rồi đến năm 1975 &#8212; cho đến nay, năm 2009 &#8212; đường phố Sài Gòn lại mang những tên người mà người Sài Gòn không biết là ai: Mạc Thị Bưởi, Nơ Trang Long, Phan Đăng Lưu, Hoàng Văn Thụ, Huỳnh Văn Bánh..vv..vv..</p>
<p>Tôi từng ca ngợi những người trong ủy ban đặt tên đường Sài Gòn năm 1956, các vị làm việc thật hay, chọn tên danh nhân thật đúng. Nay tôi théc méc chuyện tại sao các vị đã quên hai Danh Tướng Lý Thường Kiệt, Tôn Đản? Trong lịch sử chống Tầu của dân tộc ta chỉ có hai Tướng quân đời Lý đem quân đánh sang đất Tầu, đánh và thắng, còn toàn là những trận đánh lại quân phương Bắc sang chiếm đất, đánh chúng trong nước mình. Thắng cũng vinh quang nhưng làm sao bằng được việc quân ta đánh sang nước Tầu?</p>
<p>Tại sao lại lấy tên Hiền Vương thay cho tên đường Mayer &#8212; Hiền Vương chỉ là một ông Chúa Nguyễn trước Vua Gia Long &#8212; trong khi ấy thì lấy tên Danh Tướng Tôn Đản đặt tên cho một con phố bên Khánh Hội, và mãi đến những năm 1957, 1958 mới có con đường qua chợ Tân Bình để đặt tên Danh Tướng Lý Thường Kiệt?</p>
<p>Mời quí vị đọc Trang Sử Đánh Tầu Kiêu Hùng của Dân Tộc:</p>
<p><strong><em>Đại Việt Sử Ký Toàn Thư</em></strong>. Trích:</p>
<p style="padding-left:30px;">Năm Ất Mão &#8212; 1075 &#8212; Tể Tướng nhà Tống là Vương An Thạch, muốn lập công nên tâu với Vua Tống rằng nước Nam ta bị Chiêm Thành đánh phá liên miên nên suy yếu, nay quân Tống sang đánh có thể chiếm được. Vua Tống nghe theo, sai hai Tướng Thẩm Khởi, Lưu Di chuẩn bị quân mã ở Quế Châu để sang đánh nước Nam.</p>
<p style="padding-left:30px;">Vua Lý Nhân Tôn, bẩy tuổi lên làm vua, trị quốc 56 năm, biết được tin ấy, xử dụng chiến lược “tấn công để phòng vệ,” sai hai Tướng Lý Thường Kiệt, Tôn Đản đem 10 vạn binh vượt biên giới sang đánh Tống. Lý Thường Kiệt đánh hai châu Khâm châu, Liêm châu, Tôn Đản đánh Ung châu. Quan Đô Giám Quảng Tây nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu thành Ung châu, bị Lý Thường Kiệt chặn đánh, chém chết ở cửa ải Côn Lôn. Tướng Tống giữ thành Ung châu là Tô Giám quyết giữ thành, không chịu hàng. Quân ta tấn công thành đến 40 ngày liên tiếp. Tướng Tôn Đản cho quân xếp những bao đất làm đường lên mặt thành, phá được thành. Tô Giám cho gia thuộc 36 người chết trước, chôn xác trong hầm, rồi tự đốt mà chết. Người trong thành không một người nào chịu hàng. Tướng Tôn Đản cho lệnh giết hết. Số người Tống bị giết ở Ung châu đến hơn 5 vạn 8 nghìn người &#8212; 58.000 &#8212; cộng với số người chết ở hai châu Khâm, Liêm thì đến hơn 10 vạn &#8212; 100.000 &#8212; nhiều người bị quân Nam bắt sống đem về nước.</p>
<p>Ngưng trích <em>Đại Việt Sử Ký</em>.</p>
<p>Thi sĩ Tản Đà, khoảng năm 1930, viết tác phẩm “Quốc Sử Huấn Mông,” kể chuyện hai vị Tướng nhà Lý đem quân đánh sang đất Tầu, có lời bình luận, tỏ ý tiếc:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>“Tại sao Vua Quan Nhà Lý ta không nhân chiến thắng ấy, chiếm luôn ba châu quận của Tầu, đặt quan lại trị dân, như người Mãn, người Mông làm khi họ vào chiếm nước Tầu?”</em></p>
<p>Hôm nay, một buổi sáng cuối năm 2009, sau Thi sĩ Tản Đà 80 năm, người viết buồn ở xứ người là tôi cũng có niềm tiếc ấy.</p>
<p>Tôi ì ạch viết bài này trong 10 giờ mà chưa xong.</p>
<p>Tôi lại cố viết thêm:</p>
<p><img style="margin:0 0 0 10px;" src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/michele.jpg" alt="Michele Obama" align="right" />Tháng Mười 2009, màn ảnh TiVi Mỹ chiếu cảnh những chiếc vòng Hula Hoop trở lại với phụ nữ Mỹ. Hình ảnh Đệ Nhất Phu Nhân Mỹ Michele Obama đánh vòng Hula Hoop làm tôi nhớ chuyện xưa:</p>
<p>Năm 1960 vòng Hula Hoop đến Sài Gòn. Nhiều thiếu nữ Sài Gòn luyện eo thon, rõ hơn là làm cho vòng bụng nhỏ, bằng cách đánh vòng Hula Hoop. Năm ấy tôi là nhân viên tòa soạn Nhật Báo Saigonmới. Tấm ảnh chụp cảnh người nữ ca sĩ &#8212; tôi nhớ tên là Bích Trâm &#8212; đánh 3 vòng Hula cùng một lúc, đến toà báo. Tôi làm lời phụ đề dưới hình &#8212; tiếng Pháp là <em>legende</em>, tiếng Mỹ là <em>caption</em> &#8212; để đăng báo. Tôi viết:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>“Nữ ca sĩ Bích Trâm chơi được 3 cái cùng một lúc.”</em></p>
<p>Tôi cố ý sài tiếng “<em>chơi</em>”, trò xỏ lá tôi làm bị <em>boomerang</em> liền một khi. Ngay hôm sau trên một tờ nhật báo khác, nhật báo Sàigtonmới bị đồng nghiệp móc:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>“Báo Sàigònmới loan tin Nữ Ca sĩ Bích Trâm chơi được ba cái cùng một lúc, vậy bà Bút Trà chơi được mấy cái?”</em></p>
<p>Nhật báo Sàigonmới từ năm 1958 đến ngày bị bức tử đầu năm 1964 vì can tội báo bán chạy nên bị nhiều báo bạn ghét. Sau khi Sàigònmới đăng phóng sự “<em>Khỉ lấy Người có Con</em>” &#8212; phóng sự biạ, chuyện xẩy ra ở Cà mâu &#8212; các nhật báo Sài Gòn xúm lại chửi báo Sàigonmới tàn tệ &#8212; chửi cho báo Sàigònmới bị đóng cửa hay sập tiệm vì mất độc giả &#8212; một hôm ông Ký Giả Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, nhật báo Tự Do, nói với Thi sĩ Vũ Hoàng Chương:</p>
<p>- Chúng tôi xúm lại đánh tới tấp mà chẳng ăn thua gì cả, báo của bà Bút Trà cứ trơ trơ ra thôi. Việc chúng tôi làm như trò châu chấu đá voi.</p>
<p>Một lúc sau Thi sĩ Vũ Hoàng Chương làm ngay hai câu vịnh cảnh làng báo Sài Gòn đánh báo Sàigònmới, theo ý “<em>Châu chấu đá voi</em>”:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Hai chân tanh tách làm luôn mãi!<br />
Một đống lù lù cứ thế thôi!!!</em></p>
<p>Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Nhà Văn Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, ông bà Bút Trà&#8230; đã ra người thiên cổ từ lâu. Hôm nay, buổi sáng Tháng Mười năm 2009, ở xứ người, có lẽ cả tòa soạn Nhật báo Sàigònmới năm 1960 chỉ còn tôi sống sót ở xứ người.</p>
<p>Năm 1960, khi Hula Hoop tới Sài Gòn, toà soạn Nhật báo Saigonmới có anh ký giả Thiếu Lăng Quân. Bút hiệu. Những ông bạn đồng nghiệp của anh gọi anh là Ký giả Thiếu Lưng Quần.</p>
<p>Thiếu Lăng Quân thành Thiếu Lưng Quần. Thật tuyệt!</p>
<p>Cùng thời tòa soạn Saigonmới có Ký giả Hoa Đường. Anh thuộc loại ký giả kỳ cựu cùng thời làm báo những năm 1930-1940 với các ông Bút Trà, Hồng Tiêu. Tên Hoa Đường của anh bị đổi là Hoang Đường, dù anh rất đường hoàng, không có tí ti nào là hoang đường.</p>
<p>Toà soạn Saigonmới có phóng viên nhiếp ảnh riêng, anh Nicholas Đại. Tên anh chuyển thành Ních Đaị.</p>
<p>Toà soạn Nhật báo Tiếng Dội những năm 1950-1955 có anh ký giả Việt Tha. Các ông bạn anh gọi anh là Ký giả Chuột Tha,</p>
<p>Những năm 1960, thời cực thịnh của Nhật Báo Saigonmới, Ký giả Huyền Vũ và Ký giả Dũng Minh là ký giả thể thao của báo. Thời ấy anh Huyền Vũ là Đại Úy Bộ Quốc Phòng, mỗi tuần anh ghé tòa soạn một hai lần để viết bài. Tôi thường chọc quê anh khi anh đang ngồi viết:</p>
<p>- Tư Lê giao banh cho Cù Sinh. Cù Sinh đưa lên, đưa lên, lách banh qua Cù Sỉn, Cù Sỉn đá dzô..! Banh.. đi.. ra.. ngoài!</p>
<p>Anh Huyền Vũ đi khỏi nước trước Ngày 30 Tháng Tư 1975. Anh sống ở Virginia Beach, một thành phố ở Virginia. Năm 2000 Ký giả Phạm Trần tổ chức một cuộc anh em gặp mặt anh Huyền Vũ. Tôi đến gặp lại anh. Nhiều người được mời kể lại những kỷ niệm xưa với anh Huyền Vũ. Nghĩ mình là người cùng làm việc trong tòa báo Saigònmới Xưa với anh Huyền Vũ, tôi tưởng tôi sẽ được mời lên micro kể chuyện thân tình với anh Huyền Vũ. Nhưng không ai mời tôi cả. Tôi đến bên anh Huyền Vũ, nói với anh:</p>
<p>- Tôi là Hoàng Hải Thủy. Anh nhớ tôi không?</p>
<p>Anh nói:</p>
<p>- Làm sao quên được!</p>
<p>Ký giả Thể Thao Huyền Vũ qua đời khoảng năm 2005.</p>
<p>Làng báo Sài Gòn còn một ký giả thể thao nổi tiếng là Ký giả Nguyễn Ang Ca. Tôi không nhớ năm nào, 1966 hay 1968, Thế Vận Hội tổ chức ở Mexico. Ký giả Ang Ca, năm ấy là chủ nhiệm nhật báo Tin Mới, đến Mexico dự và tường thuật Thế Vận. Những bài tường thuật Thế Vận của Ký Giả Ang Ca, Việt Nam, đoạt Giải Nhất trong cuộc Thi Tường Thuật của Ký Giả Quốc Tế về Thế Vận Hội.</p>
<p>Ký giả Ang Ca đi khỏi Sài Gòn trước ngày 30 Tháng Tư 1975, anh định cư ở Bỉ và qua đời ở nước Bỉ khoảng năm 1994.</p>
<p> &#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;<br />
[1] “Cái hậu ý ở đây.. không phải là “ hậu ý”, ý tốt mà là “ẩn ý” cái ý nấp trong việc làm.”</p>
  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/hoanghaithuy.wordpress.com/2456/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/hoanghaithuy.wordpress.com/2456/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2456/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2456/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2456/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2456/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/hoanghaithuy.wordpress.com/2456/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/hoanghaithuy.wordpress.com/2456/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2456/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2456/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2456&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/31/con-no-chu-no/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>5</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/03c798a8ae0d29bd847057c0e89c390b?s=96&#38;d=wavatar&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">hoanghaithuy</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/bush.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Bush and Nancy</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/michele.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Michele Obama</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Bữa Tiệc Gia Hình</title>
		<link>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/26/bua-tiec-gia-hinh/</link>
		<comments>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/26/bua-tiec-gia-hinh/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 26 Oct 2009 03:15:39 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hoanghaithuy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Viết Ở Rừng Phong]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://hoanghaithuy.wordpress.com/?p=2445</guid>
		<description><![CDATA[Bữa Tiệc Gia Hình đau Nó kẹp
Cung Cầm Tuyệt Vọng tội Em đàn.
Tháng Mười 2009, tôi buồn quá đỗi. Có nhiều chuyện cần viết về Đất Nước tôi mà tôi chưa viết được. Ôi người bạn ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca, tôi mời bạn đọc cho đỡ buồn bài [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2445&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p style="text-align:center;"><em>Bữa Tiệc Gia Hình đau Nó kẹp<br />
Cung Cầm Tuyệt Vọng tội Em đàn.</em></p>
<p>Tháng Mười 2009, tôi buồn quá đỗi. Có nhiều chuyện cần viết về Đất Nước tôi mà tôi chưa viết được. Ôi người bạn ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca, tôi mời bạn đọc cho đỡ buồn bài văn nghệ-văn gừng này.</p>
<p style="text-align:center;"><em>Rằng: “Hoa nô đủ mọi tài,<br />
“Bản đàn giạo thử một bài chàng nghe &#8230;”</em></p>
<p>Lời Hoạn Thư giới thiệu Hoa Nô với Thúc Kỳ Tâm, anh chồng sợ vợ của Thị, trong Bữa Tiệc Gia Hình Thị tổ chức ở thành Vô Tích năm Gia Tĩnh triều Minh để tra tấn anh chồng và tình địch của Thị. Nhưng cái mà Hoạn Thư gọi là “đủ mọi tài” đây chỉ mới là bốn cái tài Cầm, Kỳ, Thi, Họa lục lục thường tài, bốn cái tài ta thường gọi là “bốn món ăn chơi”. Bốn cái tài đó của Hoa Nô thì, khỏi cần ai giới thiệu, Thúc Kỳ Tâm đã biết từ khuya. Công tử Chạp Phô còn biết cả cái tài thần sầu, quỷ khốc, nhân kinh của Hoa Nô mà chị vợ ghen tầm bậy, tầm bạ của chàng không biết . Đó là cái tài “làm tình” tuyệt diệu của người bị gọi là Hoa Nô.</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Ngán Nó lòng gang mà miệng thép<br />
Thương Em ngọc diệp chịu phong trần<br />
Bữa tiệc gia hình đau Nó kẹp<br />
Cung cầm tuyệt vọng tội Em đàn ..</em></p>
<p><img style="margin:0 0 0 10px;" src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/emdan.png" alt="Kieu dan" align="right" />Than ôi&#8230; Như Jean Genet từng than trong Kịch Le Balcon: “<em>Đời chỉ là kịch mà thôi</em> ..” Tính chất Kịch của cuộc đời thể hiện rõ và đậm nét trong đoạn Thúc Sinh từ Lâm Tri về Vô Tích gập Hoạn Thư và Thúy Kiều. Cả ba nhân vật đều đóng kịch và biết nhau đóng kịch. Họ biết đối tượng của họ biết họ đóng kịch nhưng họ vẫn cứ đóng kịch. Hoạn Thư vờ như không biết Hoa Nô là vợ bé của anh chồng của Thị, Thúc Kỳ Tâm vờ như chưa từng gập, chưa từng yêu mê, chưa từng một lần ôm ấp, hôn hít Hoa Nô, Hoa Nô vờ như nàng chưa bao giờ là vợ bé, vợ bao của cậu chủ sợ vợ ngồi rúm ró bên cạnh Sư Tử Hà Đông thứ thiệt, thứ Sư Tử Hà Đông hung hãn này ở bên Tầu, hổng phải là ở tỉnh Hà Đông hiền hoà có dòng Nhuệ Giang nằm ngay cạnh thủ đô Hà Nội ngày xưa .</p>
<p>Bộ ba cùng chơi Kịch nhưng hoàn cảnh của họ không giống nhau. Hoạn Thư chủ động trong vở kịch, Thúy Kiều và Thúc Sinh bắt buộc phải đóng kịch. Hoạn Thư chủ động vì Thị bầy ra màn kịch, Thị bắt hai người kia phải khóc mà chơi kịch với Thị. Hoạn Thư là tác giả kịch bản, kiêm đạo diễn, kiêm diễn viên, kiêm luôn khán giả. Thúy Kiều, Thúc Sinh đóng kịch, họ giả vờ không quen biết nhau nhưng niềm đau đứt ruột của họ là thật, họ không giả vờ đau khổ. Tôi thấy cái gọi là “niềm vui” trong cuộc trả thù của Hoạn Thư có vấn đề cần phải xét lại.</p>
<p style="text-align:center;"><em>Tiểu thư nhìn mặt , dường đà cam tâm.<br />
Lòng riêng tấp tểnh mừng thầm:<br />
“Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay ..”</em></p>
<p>Ta ghen là vì ta thấy người ta yêu yêu đưá khác hơn yêu ta. Hoạn Thư ghen vì Thị thấy chồng Thị yêu thương, quí báu Thúy Kiều Dzợ Bé hơn yêu thương, quí báu Thị. Thị ghen cũng phải thôi. “<em>Rằng tôi chút phận đàn bà. Ghen tuông thì cũng người ta thưòng tình</em>”. Mèn ơi.. Trên cái cõi đời này chẳng phải chỉ đàn bà mới ghen. Đàn ông cũng nhiều trự ghen thấy mồ đi. Nhưng Hoạn Thư ghen vì chồng yêu thương Thúy Kiều mà Thị lại làm cho chồng Thị yêu thương Thúy Kiều hơn nữa! Thị thấy tận mắt chồng Thị khóc ròng, mếu máo vì thương Dzợ Bé. Trước cảnh đó không biết Thị dzui sướng gì trong lòng? Ta chẳng thấy Hoạn Thư trả thù được ai trong màn kịch này. Thị ghen vì hai đưá chúng nó yêu thương nhau và Thị trả thù chúng bằng cách làm cho chúng yêu thương nhau hơn ?? Làm gì có cách trả thù nào ngớ ngẩn đến như thế ? Nói cách khác: làm như dzậy mà gọi là trả thù là ngớ ngẩn Ghen vì thấy mình kém người. Ghen là thua. Làm gì thì làm người đã phải ghen không bao giờ là người thắng trên mặt trận ái tình. Hoạn Thư sung sướng, hả hê nỗi gì khi Thị thấy chồng Thị đau đớn, xót thương Thúy Kiều, tình địch của Thị???</p>
<p>Người vào chung gối loan phòng .. Tội nghiệp Công Tử Chạp Phô Thuyền Trưởng Hai Tầu. <em>Lâm Tri đường bộ tháng chầy</em> .. Đường xá xa sôi cả tháng đi đường ngồi trên yên ngựa ê ẩm đôi mông. Vưà về đến nhà chưa kịp uống ly rượu nào đã bị chị vợ ác nghiệt khện cho một chầu khóc tơi tả còn hơn khóc bà mẹ chết. Hoạn Thư đánh chồng kiểu này là đánh thẳng tay, đánh hết 18 thành công lực, đánh cho hộc máu , đánh cho từ chết tới chết chứ không đánh cho bị thương. Thế rồi chưa hết. Chỉ mới khóc thôi chưa đủ, Thúc Kỳ Tâm đâu đã hết bị chị vợ ghen tra tấn. Sau bữa tiệc gia hình khóc hơn khóc mẹ hiền về quê ấy can phạm còn bị Bà Chánh Án bắt vô giường làm nghĩa vụ công dân. A..! Đây mới đích thực là cực hình cùng hung cực ác. Đàn ông ít khóc hơn đàn bà nhưng đàn ông khi đau lòng đến cái độ phải khóc, không những chỉ khóc suông mà là khóc nức, khóc nở, khóc nghẹn, khóc ngào là bao nhiêu dây thần kinh và gân cốt nhão ra hết. Khi thần kinh và gân cốt đã nhão anh đàn ông chỉ có thể nằm một đống, thở hắt ra, hổng còn có thể mần ăn chi được, hoặc có bắt buộc phải mần ăn thì cũng nhủng nhà, nhủng nhẳng không nên cơm cháo gì. Cái cảnh bầy tiệc rượu để tra tấn nhau, làm cho nhau phải khóc đến vỡ tim để rồi xử dụng quyền làm vợ, bắt nhau dzô chung gối loan phòng của vợ chồng Thúc&#8211;Hoạn đêm đó là một thảm cảnh xã hội hơn là ân ái. Bị chị vợ ác ôn chơi cho một chầu khóc hận đến như dzậy, Thúc Kỳ Tâm còn lòng dạ nào mà âu yếm, ái ân với Thị? Trường hợp của vợ chồng họ Thúc Hoạn lúc đó được tả trong câu: “<em>Còn tình đâu nữa , là thù đấy thôi</em>”. Thúc Kỳ Tâm ăn chơi, nhu nhược, yếu sìu cả thể xác lẫn tinh thần. Trong đám đàn ông lúc nhúc, xúm xít quanh chỗ để ngồi của Thúy Kiều, Thúc Kỳ Tâm là người duy nhất khóc ròng như Lưu Bị Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa. Lần thứ nhất Thúc khóc khi Thú “săng phú” lệnh của nghiêm đường, tức ông bố Chủ Tiệm không cho quí tử ăn chơi bốc rời lấy gái chơi làm dzợ bé nhưng Sinh viên Chạp Phô ta cứ lấy , khi thấy Dzợ Bé bị Tri phủ đánh đòn, Thúc khóc rống: “<em>Oan khuất vì ta</em> ..” Những giọt nước mắt thứ nhất này của Thúc báo hiệu một màn các nhà thầy bói mù, bói sáng vẫn gọi là “tiền hung, hậu kiết”: &#8212; trước dữ , sau lành &#8212; nhờ Thúc khóc rống Tri phủ Lâm Tri mới hỏi nguyên do, do đó biết tài năng, học vấn của Thuý Kiều, đem lòng thương và tự ý đứng ra tác thành cho đôi lứa.</p>
<p>Lần thứ hai Thúc khóc khi từ Vô Tích hí hửng trở về Lâm Tri, yên trí được tái hồi Dzợ Bé thơm như múi mít, tân thú bất như viễn qui, chắc ăn đến miệng nhưng dzô đến cửa thấy “<em>linh sàng , bài vị thờ Nàng ở trên</em> ..” Hỡi ơi Nàng đã chít dzồi. Gập hoàn cảnh này thì đến em nhỏ lên ba, cụ già Chín Bó cũng phải khóc, chẳng cứ gì Công Tử Chạp Phô tưởng bở. Lần thứ ba đương sự khóc trong Bữa Tiệc Gia Hình do Chị Dzợ Khủng Long đạo diễn ở Vô Tích như ta thấy trên đây. Lần thứ tư Thúc khóc khi lẻn dzô Quan Âm Các vườn ta, có cây trăm thước, có hoa bốn mùa, có cổ thụ, có sen hồ, có Ni cô mới quy y thơm như múi mít, để sụt sùi kể nỗi đoạn tràng sáu câu vọng cổ mùi mẫn Anh mất Em dzồi ví Ni cô Trạc Tuyền.</p>
<p>Trong Truyện Thơ Kiều của Tố Như, Thúc Kỳ Tâm chỉ khóc có ba lần. Nhưng trong truyện Kiều Tầu của Thanh Tâm Tài Nhân, Thúc Sinh còn khóc lần thứ tư. Đó là khi Hoạn Thư bị Chánh Áùn Vương Thúy Kiều trong Phiên Toà Ân Oán hạ lênh cho cung nữ lôi cổ ra, lột trần hết xiêm áo rồi treo tóc lên đánh 100 roi.</p>
<p>Đây là đoạn phim ghi cảnh Hoạn Thư bị trừng phạt trong Phiên Toà Ân Oán. Phiên toà này sở dĩ có là vì năm muà lá rụng trước đó Hoạn Thư bầy ra Bữa Tiệc Gia Hình Vô Tích. Nói cách khác Bữa Tiệc Gia Hình là nhân, Phiên Toà Ân Oán là quả:</p>
<p><strong><em>Truyện Kiều</em></strong> của <em>Thanh Tâm Tài Nhân</em>. Trích:</p>
<p style="padding-left:30px;">Cung nữ dạ ran, túm tóc Hoạn Thư lôi ra, lột hết áo quần, chỉ để cho một cái khố, tóc bị buộc lên xà nhà. Hai cung nữ nắm hai tay Hoạn Thư dăng ra, hai cung nữ khác cầm roi ngựa đứng trưóc mặt và sau lưng Hoạn Thư, một tên đánh từ dưới đánh lên, một tên đánh từ trên đánh xuống. Hoạn Thư như con đỉa bị bỏ trong thùng vôi, như con lươn trong nồi nước nóng, toàn thân chẳng còn mảnh da nào lành lặn &#8230;</p>
<p>Sau trận đòn trả oán, Thúc Kỳ Tâm được gọi vào nhận lãnh dzợ, thấy chị dzợ nát hơn cái mền Sakymen &#8212; Sàigòn Kỹ Nghệ Mền Len, Xưởng Máy ở chân cầu Bình Triệu &#8212; Thúc Kỳ Tâm rơi nước mắt. Cũng phải thôi. Gập cảnh này thì em nhỏ lên ba, cụ già Chín Bó cũng phải khóc. Cứ gì Công Tử Chạp Phô.</p>
<p>Bài học Luân Lý Giáo Khoa Thư ta rút ra được từ sự kiện Hoạn Thư mù quáng vì ghen tuông, cậy thế làm bậy bị trừng phạt đến toàn thân không còn một miếng da năm phân dài, ba phân rộng nào lành lặn cho ta đi đến kết luận: Ở đời ta hổng có nên ghen. Nếu ta chịu hổng nổi mà phải ghen thì ta có làm hại nó ta cũng đừng có hạ độc thủ tàn ác, dã man quá. Ta đánh nó có thể nó hổng chết nhưng khi nó có điều kiện nó đánh lại ta để trả thù, đời ta khốn nạn .</p>
<p>Bèn có thơ vịnh:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em><strong>HOẠN THƯ</strong></em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Ở ăn thì nết cũng hay hay,<br />
Nói lời ràng buộc cũng già tay.<br />
Chồng chung không lẽ tôi nhường mợ?<br />
Vợ bé cho nên chị đánh mày.<br />
Khi Em làm chủ Em chơi phũ,<br />
Lúc nó lên Bà nó xé pha.<br />
Khuyển Ưng, Khuyển Phệ đi tù rũ,<br />
Chính phạm sao Toà lại thả ngay!</em></p>
<p>Phê bình những nhân vật trong Truyện Kiều người ta thường cho Hoạn Thư là tay sắc xảo, thủ đoạn cao, ác độc. Tôi thấy ngoài việc trả thù một cách ngu xuẩn Hoạn Thư còn dại dột ở việc cho Kiều ra giả vờ tu hành ngay ở chùa nhà và dung dưỡng mầm hậu hoạn này đến mấy năm trời. <em>Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu</em>.. Dại dột là bởi vì Thúc Kỳ Tâm sợ vợ và hèn nhát thật nhưng không có gì bảo đảm những anh chồng sợ vợ trên cõi đới này lại không có anh uống thuốc liều làm những trò ly kỳ, ngoạn mục. Tại sao ta lại cứ nhất định Thúc Kỳ Tâm sẽ không bao giờ vùng lên làm cuộc nổi loạn phá bỏ gông cùm của Hoạn Thư để phơi phới ra đi làm lại cuộc đời với Thúy Kiều? Tại sao không? Nếu Thúc Kỳ Tâm làm như thế tức là do chính Hoạn Thư tạo điều kiện.</p>
<p>Bèn có thơ vịnh:</p>
<p style="padding-left:30px;"><strong><em>HOẠN THƯ cho Kiều ra ở Chùa .</em></strong></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Mệnh bạc Em xin gửi Cửa Không !<br />
Thôi thì thôi .. Chị cũng chiều lòng .<br />
Sẵn cây trăm thước Chùa ta đó,<br />
Thêm hòn non bộ cậy Em trông .<br />
Này chuông, này khánh, dăm ba mõ,<br />
Chỉ một dùi to đấm cũng xong.<br />
Ai bảo Hoạn khôn, ta bảo dại,<br />
Trứng trao cho ác, áo nuôi ong.<br />
Gái thấy chồng xưa , thèm rỏ rãi,<br />
Trai thương vợ bé, lộn râu rồng.<br />
Tưởng Em kinh kệ lơi là tục,<br />
Hoá Em sớm tối tưởng tơ chồng.<br />
Lộn lèo Bát nhã Em dông tuốt.</em></p>
<p>Chồng mất, chùa không, chị chổng mông.</p>
<p>Nghe nói từng có vị tiền bối viết về vấn đề pháp luật, pháp lý trong Truyện Kiều. Chưa được đọc qua một bài nào về loại này nên tôi thường théc méc về đôi chuyện liên can đến cái gọi là Pháp Luật trong Truyện Kiều. Như chuyện:</p>
<p>Thứ nhất: <em>Tại chú hoa man dở dói ra. Làm cho bận đến Cụ Viên già</em> .. Thảm kịch đoạn trường đến với Thuý Kiều khi ông Bô Viên ngoại bị Phú-lít ập đến nhà tóm vì có liên can với bọn ăn trộm tơ. Sự kiện này chỉ được tả mơ hồ và vắn tắt trong Kiều bằng hai câu:</p>
<p style="text-align:center;"><em>Hỏi ra sau mới biết rằng<br />
Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ ..</em></p>
<p>Vương Viên Ngoại được cho là bị tó oan:</p>
<p style="text-align:center;"><em>Một nhà hoảng hốt , ngẩn ngơ<br />
Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây &#8230;</em></p>
<p>Trong tiểu thuyết Tầu chuyện Vương Ông bị tó được kể như sau:</p>
<p>&#8230; Kim Trọng đi rồi, Thúy Kiều ngồi ngẩn ngơ như người mất hồn. Gần trưa Ông bà Viên ngoại về nhà. Vừa bước chân vào cửa ông già vất vả nói ngay:</p>
<p>&#8211; Con ơi.. nguy biến đến nơi rồi. Gần đây bên nhà Dượng con chỉ vì vô ý chứa chấp hai thằng bán tơ , không biết chúng là hai thằng cướp. Khi chúng đem tơ đi bán bị người có của nhận được, bắt giải lên quan Dượng con thành ra chủ nhà oa trữ đồ gian. Cha có uống rượu với chúng mấy bữa, sợ chúng khai ra thì nguy lắm.</p>
<p>Như dzậy ta thấy Vương Ông không phải là bị oan uổng chăm phần chăm, không phải tự dưng, hay không hề quen biết gì ông cả, mà bọn gian phi khai ông là đồng loã của chúng. ïCũng hổng phải tự dưng hai thằng cướp được vào ở dài ngày trong nhà của ông Dượng. Chúng được chủ nhà đãi như thượng khách vì chúng chịu chi. Chúng bỏ tiền ra tổ chức đớp hít, nhậu nhẹt tưng bừng và ông Viên Ngoại đến ăn nhậu boóng. Nếu không vì tham chút rượu thịt chùa đương sự không đến dự những bữa nhậu của bọn lưu manh thì thảm kịch đứt ruột làm sao có thể đến làm tan nát nhà họ Vương?</p>
<p>Bài học Luân Lý Giáo Khoa Thư Lớp Đồng Ấu ta học được trong chuyện Vương Viên Ngoại thân bại, danh liệt vì rượu thịt là:</p>
<p>&#8211; Chỉ nên ăn nhậu với các bạn thân quen, chớ nên bừa bịt cứ thấy rượu thịt là nhào dzô đớp văng mạng, hoặc ta phải rất cẩn thận khi ăn nhậu với những người lạ, nhất là khi mình được mời ăn nhậu chùa. Ở hải ngoại nếu đến dự những buổi ăn nhậu chùa để rồi thấy tên mình ghi trong danh sách Mặt Trận Bịp hay chính phủ Bợm nào đó đương sự chỉ bị dư luận đàm tiếu ít lâu. Nhưng nếu ở Thành Hồ mà đến ăn nhậu với những tổ chức bị bọn Công An Cộng sản cho là phản động, phản cách mạng, tuy chỉ đến tham gia ăn nhậu thôi, không tham gia hoạt động, không giữ chức vụ Bộ trưởng, Thiếu tướng chi cả, khi tổ chức bị bọn Công An Thành Hồ phá, đương sự cũng bị tó ở tù mút chỉ cà tha. Những năm 1980 ở Thành Hồ trước khi xuống tầu theo chân Bác đi tìm đường cứu nước những nhóm vượt biên thường tổ chức ăn nhậu tưng bừng để từ biệt quê hương và chuẩn bị ra đi làm lại cuộc đời, thay dzợ, đổi chồng ở phương trời Mẽo Quốc sáng choang đang chờ đợi. Nhiều anh Con Trai Bà Cả Đọi tuy không có “cây” để vượt biên nhưng quen biết với những người vượt biên, được cho đi theo ăn nhậu. Đang ăn nhậu rôm rả dzui như Tết, Công An VC ập vào tó cả bọn, những anh Con Trai Bà Cả Đọi thèm khát rượu thịt tuy không vượt biên, vượt bung chi cả cũng theo nhóm vượt biên dzô Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Lầu Bát Giác Chí Hoà ngồi rù gãi háng ghẻ, ăn cơm hẩm, uống nước Đồng Nai qua dzô-bi-lê nhẹ nhàng và êm ái đến hai ba muà lá rụng ngoài song sắt.</p>
<p>Vương Ông không phải là một ông phó thường dân thuộc loại dân ngu, cu đen , ông từng giữ chức Viên Ngoại Lang trong triều đình quân chủ . Ông ũng từng làm quan như ai, dù ông làm quan chức nhỏ, quan nhỏ cũng là quan. Bọn công sai, tức bọn chuyên làm những việc vặt, ở những phủ huyện, không thể đối xử với vị hưu quan như với phó thường dân. Bọn tri phủ, tri huyện địa phang không thể bắt nạt Vương Viên Ngoại như bắt nạt một ông già nhà quê cả đời chỉ biết cầy sâu, cuốc bẫm, chân lấm, tay bùn, không biết thế nào là hệ thống quan lại và hoàn toàn không có ai là thân hữu trong chính quyền. Về gia tư đương sự được giới thiệu là “thường thưòng bậc trung &#8230;”, tức không giâu lắm nhưng cũng không nghèo lõ đít đến nỗi khi gập cơn gia biến cần tiền chạy tội phải bán con gái đi làm nàng hầu, vợ bé phục vụ người thiên hạ. Viên Ngoại hưu quan bổng lộc không còn tất nhiên phải sống bằng những nông sản thu hoạch ở một số vườn ruộng của nhà. Khi cần tiền những nhà gia tư bậc trung thường trước hết bán nữ trang, thứ đến bán ruộng đất, bán nhà. Những nhà không phải là bậc trung, không vàng bạc nữ trang, không ruộng đất, không có qua một thứ gì có thể bán được tiền, những nhà cùng khổ quá đỗi mới phải bán con gái.</p>
<p>Toà nhà của Vương Viên Ngoại được tả theo mắt nhìn của Kim Trọng là thâm nghiêm kín cổng, cao tường và mấy lần cửa đóng, then cài, đầy thềm hoa rụng. Người đọc tưởng đó là nhà do Viên Ngoại làm chủ. Nhưng chỉ sáu tháng sau Chàng Kim muôn dậm phù tang, nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà, ngỡ ngàng và bàng hoàng thấy toà nhà bỏ hoang không ai ở. Chuyện kể trong đoạn này hơi mù mờ. Như vầy là sao? Nhà đó là nhà mướn chứ không phải nhà của Viên Ngoại? Gập cơn gia biến Viên Ngoại không thể chi tiền nhà nên phải dọn đià một nhà khác ít tiền mướn hơn? Nếu là nhà của Viên Ngoại thì khi túng tiền ông chỉ việc bán đắt, bán rẻ toà nhà, lấy tiền mua căn nhà khác nhỏ hơn. Nếu là nhà mướn thì khi Viên Ngoại trả nhà chủ nhà tân trang cho người khác mướn, sao nhà lại bỏ hoang điêu tàn đến như thế?</p>
<p>Khi Mã Giám sinh mua Kiều có làm hôn thư đàng hoàng. Hôn thư ấy ghi Mã mua Kiều về làm vợ bé. Khi đến Lâm Tri bị Tú Bà bắt tiếp khách, tại sao Kiều không nhờ chính quyền và pháp luật bảo vệ? Nàng chỉ cần đến cửa quan kêu oan và yêu cầu quan sở tại đòi Tú Bà phải xuất trình văn tự mua người. Ta thường nghe nói pháp luật quân chủ đời xưa bê bối nhưng tôi không tin Kiều lại hoàn toàn không được bảo vệ nếu nàng tố cáo Tú Bà và Mã Giám sinh trước cửa công.</p>
<p>Nói rằng lúc đó Kiều mới đến Lâm Tri, nàng chỉ có một mình, không nhờ cậy được ai nên không dám tố cáo mụ Chủ Chưá cũng được đi, nhưng khi Thúc Kỳ Tâm tranh chấp nàng với Tú Bà, tại sao ta không thấy Thúc dùng vụ Kiều bị lường gạt để đánh Mụ Tú?</p>
<p>Đây là đoạn Tú Bà phải chịu cho Thúc Sinh chuộc Kiều trong truyện Kiều của Ông Tầu Thanh Tâm Tài Nhân:</p>
<p>&#8211; Hôm sau Tú Bà và Mã Giám sinh trở lại. Hoa Dương &#8212; người bạn có thế lực của Thúc Sinh đứng ra chủ trì cuộc đàm phán với Tú Bà để chuộc Kiều &#8212; mở tiệc rượu linh đình, mời thêm cả mười tay hảo hán trong địa phương đến dự làm chứng nhân. Thúc Sinh lấy 450 lạng bạc đưa cho Tú Bà. Mụ xin thêm. Thúc Sinh chi thêm 50 lạng. Mụ Tú đành phải lấy tờ hôn thư ra d8ửa trả Thúy Kiều, lại chính tay viết tờ thuận ý cho Thúy Kiều hoàn lương, ra khỏi nhà mình một cách hợp pháp, trao cho Thúc Sinh.</p>
<p>Trong tờ hôn thư này Mã Giám sinh mua Thúy Kiều về làm vợ bé, không phải về làm gái điếm. Mụ đưa tờ hôn thư này ra là trên pháp luật, Mụ tự tròng vòng dây thòng lọng vào cổ Mụ. Nếu Thúc Sinh dùng tờ hôn thư đó để đánh Mụ, Mụ chỉ có nước từ chết đến chết.</p>
<p>Théc méc về pháp luật ấy nhỏ thôi. Đây là một trong những théc méc lớn:</p>
<p>Khi Thúc Ông bắt con trai bỏ vợ bé không được, sốt gan đâm đơn kiện con, nhờ pháp luật can thiệp. Đây là đoạn vấn đáp giưã Tri phủ Lâm Tri và Thúc Ông:</p>
<p>Tri phủ:</p>
<p>&#8211; Con ông có ăn học đàng hoàng, đã lấy người ta làm vợ, người ta về nhà ông cả năm nay không có lầm lỗi gì nay lại đuổi người ta trở về nhà chưá tiếp khách sao trông cho được. Ông cho bản chức biết vì lý do gì ông buộc chúng phải ly hôn?</p>
<p>Thúc Ông:</p>
<p>&#8211; Chuyện này ngài chưa được biết rõ. Bởi vì cha vợ của con tôi là vị Lại Bộ Thiên quan, vợ cả của con tôi đương thời xuân xanh, niên thiếu sợ nó sẽ không dong cho chồng nó có vợ bé. Vì vậy tôi bắt con tôi phải trả con nhỏ đó về nhà hát.</p>
<p>Như dzậy ta thấy lý do Thúc Ông không cho Thúc Ký Tâm dzợ chồng với Thúy Kiều không phải vì Thúy Kiều từng ở nhà chơi bời mà là vì sợ vợ lớn của Thúc Tác-zăng nổi giận, phóng tay phá đám và thẳng tay phá hoại. Và đây là đoạn đối thoại giữa Tri phủ và Thúy Kiều:</p>
<p>Tri phủ :</p>
<p>&#8211; Ả kia .. Ông già Thúc chính đơn tố cáo, yêu cầu bổn chức đuổi chị trở về kỹ viện. Chị có kêu ca gì không?</p>
<p>Thúy Kiều :</p>
<p>&#8211; Bẩm quan.. Theo chúng tôi được biết thì chỉ có kỹ nữ trở về đời sống lương thiện, không lẽ nào người vợ lương thiện lại bị đuổi về nhà hát. Xin quan xét cho.</p>
<p>Tri phủ:</p>
<p>&#8211; Nay nhà họ Thúc không chịu nhìn nhận chị tất nhiên chị phải trở về nhà hát. Nếu chị không chịu , bổn quan sẽ dùng đến hình phạt.</p>
<p>Thúy Kiều :</p>
<p>&#8211; Dù có bị đánh chết tôi cũng không trở về đời sống ca nhi.</p>
<p>Tri phủ sai lính đem gông cùm và dụng cụ tra tấn ra, nói:</p>
<p>&#8211; Một là chị phải chịu đòn và chịu gông cùm một tháng. Một là chị trở về lầu xanh. Hai điều ấy chị phải chọn lấy một.</p>
<p>Thúy Kiều :</p>
<p>&#8211; Tôi chịu hình phạt.</p>
<p>Nói xong Kiều lập tức đưa gông lên cổ mình, Thúc Kỳ Tâm khóc rống :</p>
<p>- Ôi .. Vì ta làm lụy cho nàng &#8230;</p>
<p>Trong Truyện Thơ Kiều của ta, đây là lời Tri phủ:</p>
<p style="text-align:center;"><em>&#8211; &#8230;Phép công chiếu án luận vào<br />
Có hai đường ấy muốn sao mặc mình<br />
Một là cứ phép gia hình<br />
Một là lại cứ lầu xanh phó về ..</em></p>
<p>Cái gọi là “phép công” đây là cái phép tắc gì? Thúy Kiều bị phép công đánh đòn vì tội gì? Vì tội đã là gái chơi mà còn bầy đặt lấy chồng tử tế, đòi làm dzợ hiền, dâu thảo? Không có lý. Khi hoàn lương, tức khi ra khỏi nhà chưá, không còn hành nghề gái chơi nữa, Thúy Kiều có khai trình với nhà chức trách đàng hoàng. Đây là bằng chứng:</p>
<p style="text-align:center;"><em>Rõ ràng của dẫn, tay trao<br />
Hoàn lương một thiếp thân vào cửa công .<br />
Công tư hai lẽ đều xong<br />
Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai ..</em></p>
<p>Chi tiết về vụ thi hành phép công quá ít và hết sức lờ mờ: Đánh tui, gông cổ, cùm chân tôi, nếu tui chịu được, tui hổng chết &#8230;rồi sao? Tui được quyền trở về sống dzợ chồng với chồng tui hay là sao? Hay là uýnh tuâi sống dzở, chết dzở rồi lại tống tui trở về nhà điếm? Chuyện quan trọng nhất ấy không thấy nói chỉ thấy Tri phủ nhắc đ, nhắc lại “<em>Một là, một là</em> ..”. Từ bao nhiêu năm bao nhiêu người bàn tán về Truyện Kiều chẳng thấy ai théc méc đến vấn đề pháp lý của đoạn truyện này. Người đọc có quyền đòi hỏi được biết rõ số phận của Thúy Kiều sẽ ra sao sau khi nàng chịu đòn, chịu gông cùm. Lẽ ra tác giả phải viết rõ hơn để ta không bị théc méc.</p>
<p>Thời quân chủ quyền hành được tập trung trong tay một người, không bầy đặt phân chia ra ba ngành hành pháp, lập pháp, tư pháp rắc rối tơ như thời dân chủ. Năm Gia Tĩnh triều Minh ta thấy Tri phủ Lâm Tri hành xử một lô quyền hành: Biện Lý bắt người, Dự Thẩm điều tra, mần luôn Chánh Án chung quyết . Một mình Tri phủ có quyền suy diễn luật pháp và quyết định tối hậu. Khi biết tài mần thơ của Thúy Kiều, Tri phủ có cảm tình với nàng, tổ chức đám cưới cho nàng với Thúc Sinh. Ông chỉ nói một câu xanh rờn là Thúc Ông sìu như cái bong bóng lợn sì hơi liền một khi:</p>
<p style="text-align:center;"><em>&#8211; &#8230;Đã đưa đến trước cửa công<br />
Ngoài thì là lý xong trong là tình.<br />
Dâu con trong đạo gia đình<br />
Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong &#8230;</em></p>
<p>Nhưng mà Me sừ Thúc Chủ Tiệm có bất bình, bất tĩnh gì đâu, ông không cho anh con phá gia chi tử của ông lấy vợ bé vì ông sợ con vợ lớn của con ông nó hổng có chịu, ông sợ thế lực của nhà họ Hoạn có thể làm hại nhà ông nếu con ông có dzợ bé. Những ông nhà buôn như Thúc Ông cẩn thận, giữ mình là đúng thôi. Trên thực tế Thúc Ôâng có thể viết một thư lời lẽ như vầy gửi cho con dâu Hoạn Thư:</p>
<p style="padding-left:30px;">Rừng Phong , Lâm Tri.</p>
<p style="padding-left:30px;">Thân gửi Con dâu thảo là Hoạn Thư,</p>
<p style="padding-left:30px;">Ta rất buồn và phẫn nộ viết thư này để báo cho chị biết chồng của chị, Thúc Kỳ Tâm, con trai ta, nhân lúc ta không có mặt tại Lâm Tri , đã bầy đặt ăn chơi và cưới Thúy Kiều, một kỹ nữ làm vợ bé. Ta cực lực phản đối cuộc hôn nhân này nhưng con trai hư hỏng cuả ta không chịu nghe ta.</p>
<p style="padding-left:30px;">Ta đem việc nhờ Phủ quan phân xử không ngờ Phủ quan lại về hùa với chúng nó, đứng ra tổ chức đám cưới cho chúng nó, làm cuộc hôn nhân của chúng trở thành chính thức và hợp pháp và làm ta bẽ mặt. Ta đành chịu thua.</p>
<p style="padding-left:30px;">Vậy ta viết thư này để chị biết mọi sự. Tùy chị hành xử quyền vợ lớn của chị .</p>
<p style="padding-left:30px;">Thúc Chủ Tiệm cẩn thư.</p>
<p>Chế độ vô sản chuyên chính, nôm na và huỵch toẹt là chế độ cộng sản sau một thời hoành hành tác yêu, tác quái, hung hăng con bọ xít ác ôn côn đồ thậm tệ nay đã tiêu vong, có một điểm giống chế độ quân chủ. Đó là việc tập trung quyền hành vào tay một người, hổng có phân quyền, phân bón chi ráo trọi. Lenin, Thánh Tổ Đảng Cộng sản , viết trên giấy trắng , mực đen dậy bọn đồ đệ:</p>
<p>&#8211; <em>Việc chia quyền hành ra làm ba ngành hành pháp, tư pháp, lập pháp là trò bầy đặt của bọn tư sản. Trong chế độ cộng sản một cá nhân đảng viên hành xử tất cả mọi thứ quyền &#8230;</em></p>
<p>Cộng sản đã sụp rồi, chế độ quân chủ tiêu vong từ lâu nhưng ta nói đến hai chế độ ấy với thái độ và tâm trạng khác nhau. Là nạn nhân của chế độ cộng sản, từng đích thân chứng kiến những việc làm thối tha, tàn ác, bất nhân của chế độ Cộng sản ta nói đến nó với lòng oán ghét, gớm ghiếc, ta nói đến chế độ Quân chủ xa xưa với lòng hoài niệm, không luyến tiếc cũng không thù ghét. Đến số tuổi đời nào đó và qua một số sự việc biển dâu, tai họa, ta sẽ có những quan niệm đúng hơn về cuộc đời. Khi đó ta có thể bình tĩnh, vô tư nhận xét và ta thấy chế độ quân chủ cũng có những mặt tốt đẹp riêng của nó.</p>
<p>Théc méc về vấn đề pháp lý, pháp luật trong Truyện Kiều còn nhiều. Nhưng số trang báo có hạn. Đến đây tạm chấm dứt Chương trình Văn nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum.</p>
<p>Đây là chuyên văn nghệ-văn gừng kỳ tới: Cuộc Tình Kỳ Tâm &#8211; Thúy Kiều:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Bữa Tiệc Gia Hình đau Nó kẹp,<br />
Cung Cầm Tuyệt Vọng tội Em đàn.<br />
Em trốn đi Em, trời đất khép,<br />
Dâu biển Tình Ta cũng hợp tan.</em></p>
  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/hoanghaithuy.wordpress.com/2445/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/hoanghaithuy.wordpress.com/2445/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2445/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2445/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2445/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2445/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/hoanghaithuy.wordpress.com/2445/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/hoanghaithuy.wordpress.com/2445/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2445/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2445/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2445&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/26/bua-tiec-gia-hinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/03c798a8ae0d29bd847057c0e89c390b?s=96&#38;d=wavatar&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">hoanghaithuy</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/emdan.png" medium="image">
			<media:title type="html">Kieu dan</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Môi Thắm Nửa Đời</title>
		<link>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/21/moi-tham-nua-doi/</link>
		<comments>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/21/moi-tham-nua-doi/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 21 Oct 2009 03:40:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hoanghaithuy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Viết Ở Rừng Phong]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://hoanghaithuy.wordpress.com/?p=2433</guid>
		<description><![CDATA[Mong Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử
Hòa Bình chưa kịp Nghĩ,
Đi tù,
Ba Lính Nhẩy Dù còn Lâm Nạn
Huống gì mỗi thân Kỳ Hoa Tử.
Đó là thơ Phan Nhật Nam làm về Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn. Một trong những tác phẩm đầu tay của anh NM Côn &#8212; viết năm 1956, 1957 &#8212; là Đem [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2433&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p style="text-align:center;"><em>Mong Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử<br />
Hòa Bình chưa kịp Nghĩ,<br />
Đi tù,<br />
Ba Lính Nhẩy Dù còn Lâm Nạn<br />
Huống gì mỗi thân Kỳ Hoa Tử.</em></p>
<p>Đó là thơ Phan Nhật Nam làm về Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn. Một trong những tác phẩm đầu tay của anh NM Côn &#8212; viết năm 1956, 1957 &#8212; là <em>Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử</em>, ghi lại những cảm nghĩ của anh về tình hình chính trị đất nước từ những năm 1945 dến năm 1954; sau Hiệp Định Paris năm 1972 anh viết <em>Hòa Bình Nghĩ Gì? Làm Gì?</em> Tác phẩm này được tái bản tại Hoa Kỳ. Anh Côn là tác giả những truyện <em>Ba Người Lính Nhẩy Dù Lâm Nạn</em>, <em>Kỳ Hoa Tử</em>, <em>Tình Cao Thượng</em>, <em>Mối Tình Mầu Hoa Đào</em>. Tháng Ba 1976 anh bị bắt trong đợt bọn VC khủng bố văn nghệ sĩ Sài Gòn.</p>
<p><img style="margin:0 0 0 10px;" src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/nguyenmanhcon.png" alt="Nguyen Manh Con" align="right" />Năm 1977 khi vào sà-lim Nhà Giam Số 4 Phan đăng Lưu tôi nhìn thấy anh Côn ở Phòng Tập Thể 1 Khu B nhà giam này. Vài ngày sau là ngày chủ nhật, tôi ở sà-lim nhìn qua cửa gió ra sân thấy anh, và những bạn tù phòng anh, được cai tù cho ra ngồi phơi nắng ở trước cửa phòng giam, rồi anh Côn bị đưa lên Trại Lao Đông Cải Tạo Xuyên Mộc. Cuối năm 1979 trở về mái nhà xưa, tôi được tin anh đã chết trên Trại Xuyên Mộc. Nghe anh em tù Xuyên Mộc kể người tù Nguyễn Mạnh Côn tự cho án tù của anh là ba năm, đã ở tù đủ ba năm, anh đòi bọn VC phải cho anh ra tù. Không được, anh tuyệt thực. Học mót thủ đoạn đàn áp tù nhân của bọn đàn anh Nga Cộng, Tầu Cộng, bọn Cai Tù Việt Cộng đối xử với người tù dám tuyệt thực để phản kháng hết sức ác độc, dã man. Để cho những người tù khác kinh sợ chúng lập tức giam riêng và không cho người tù tuyệt thực uống nước đến chết. Người ta có thể nhịn ăn mà không thể nhịn uống, người ta có thể nhịn ăn đến lả đi và chết nhưng không thể chịu được khát. Bọn Cai tù VC Xuyên Mộc đã thản nhiên bắt người tù Nguyễn Mạnh Côn phải chết khát và chúng lấy làm khoái chí, thích thú, kiêu hãnh với việc làm man rợ của chúng. Anh Nguyễn Mạnh Côn là văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã chết vì tuyệt thực trong tù để phản đối chính sách tù đầy dã man của chế độ Cộng Sản Việt Nam.</p>
<p>Bánh xe lãng tử muộn màng &#8212; đúng ra là “<em>bánh xe tị nạn</em>” &#8212; đưa tôi sang Mỹ cuối năm 1994, khi ấy Duyên Anh sống ở bên Pháp. Nhưng mãi đến những năm 2000, sau khi Duyên Anh đã qua đời, tôi mới đọc mấy văn phẩm DA viết và cho in ở nước ngoài: <em>Nhà Tù</em>, <em>Trại Tập Trung</em>, <em>Ngược Dòng Chữ Nghĩa</em>, <em>Quán Trọ Trước Cổng Thiên Đường</em> &#8230; vv..</p>
<p>Trên một trang của những văn phẩm đó Duyên Anh viết: “..<em>Thời ấy, Hoàng Hải Thủy là ông vua không ngai của nhật báo Ngôn Luận</em>&#8230;!” Chưa bao giờ tôi có ý nghĩ tôi là “ông vua không ngai” của bất cứ tờ báo nào, tôi biết thân phận tôi: tôi chỉ là anh làm công, nhờ có chút tài còm, và lòng yêu nghề, tôi làm được việc, việc tôi làm xứng đáng với đồng tiền những ông bà chủ báo chi cho tôi, nên tôi được các ông bà ấy nể trọng đôi chút. Trong nhiều năm Duyên Anh và tôi giao du với nhau, khá thân, chẳng bao giờ DA nói xa gần đến chuyện có thời tôi là “<em>ông vua không ngai</em>” của nhật báo Ngôn Luận. Sau cuộc biển dâu trập trùng oan nghiệt, sau những năm tháng đằng đẵng tội tù, đến những ngày cuối đời sống lưu vong ở xứ người, đọc lời người bạn nhận xét về mình, tôi thấy quả thật có một thời gian mấy năm tôi được trọng dụng ở nhật báo Ngôn Luận. Không phải tự nhiên hay vì cảm tình mà ông Hồ Anh, chủ báo Ngôn Luận, trọng dụng tôi, ông dùng tôi vì tôi viết ăn khách, vì truyện tôi đăng trên báo ông có người đọc. Vì vậy ông để tôi viết tiểu thuyết phóng tác ở trang trong, viết phóng sự tếu ở trang nhất. Tôi đã viết những tiểu thuyết phóng tác hay nhất của tôi trên nhật báo Ngôn Luận: “<em>Chiếc Hôn Tử Biệt</em>, <em>Như Chuyện Thần Tiên</em>, <em>Kiều Giang</em>, <em>Đỉnh Gió Hú</em>, <em>Đi Tìm Người Yêu</em>, Bóng <em>Người Áo Trắng</em>..vv”, và ở trang nhất nhật báo Ngôn Luận tôi viết những phóng sự<em> Tây Đực, Tây Cái</em> &#8212; sau đổi là <em>Ông Tây, Bà Đầm</em> theo yêu cầu của Bộ Thông Tin, nhân viên Bộ Thông Tin thời ông Bộ Trưởng Trần Chánh Thành nói với ông chủ nhiệm Ngôn Luận: “Gọi người Pháp bằng cái tên Đực, Cái.. hạ giá người ta quá, nghe không được, không nên.” &#8212; và những cái gọi là phóng sự <em>Yêu Tì</em>, <em>Bà Lớn</em> vv.. Trong 20 năm làm báo ở Sài Gòn &#8212; từ 1954 đến 1975, tôi không thấy có ai vừa viết tiểu thuyết trang trong, vừa viết phóng sự trang nhất cùng một tờ báo như tôi.</p>
<p>Cũng trên một trang trong những văn phẩm Duyên Anh viết ở nước ngoài, trong phần viết về tôi, anh viết “..<em>Nguyễn Mạnh Côn viết Tựa cho tiểu thuyết của Hoàng Hải Thủy</em>..”</p>
<p>Khi đọc câu ấy tôi nghĩ: “Viết bậy rồi.. Làm gì có chuyện Nguyễn Mạnh Côn viết tựa cho tiểu thuyết của Hoàng Hải Thủy. Chuyện ấy không có..” Tiểu thuyết của tôi đa số &#8212; có thể nói là tất cả &#8212; là truyện phóng tác, tôi chỉ viết để người đọc giải trí, truyện giải trí thì làm gì có Tựa. Nếu Duyên Anh còn sống, có thể tôi phôn cho anh: “Mày viết sai. Nguyễn Mạnh Côn có bao giờ viết Tựa cho tao đâu. Truyện của tao mà Tự Tiếc ký gì..” Dù cho Duyên Anh có nói: “Mày quên à? Nguyễn Mạnh Côn chẳng viết Tựa truyện <em>Môi Thắm Nửa Đời</em> của mày là gì” tôi cũng vẫn không tin, vẫn không nghĩ là tôi quên.</p>
<p>Quả thật tôi quên khuấy đi mất chuyện anh NM Côn viết lời Tựa cho truyện <em>Môi Thắm Nửa Đời</em> của tôi &#8212; năm xưa nhiều bạn văn nghệ của tôi gọi truyện ấy là truyện “<em>Môi Thắm Nửa Đùi</em>”&#8211; Quên hoàn toàn, quên năm trăm phần trăm. Cho đến đêm nọ, tôi thấy trong số sách con tôi vừa gửi người mang từ Sàì Gòn sang cho tôi có quyển <em>Môi Thắm Nửa Đời</em>. Sách đã cũ nát, giấy ngả mầu vàng, trang nhất có hàng chữ:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>“Nguyễn Thụy Long tìm lại được ở hàng sách cũ. Tặng lại anh Hoàng Hải Thủy.” Sg 28 / 4 / 2003</em></p>
<p>Và ở trang ba có bài:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em><strong>THAY LỜI TỰA</strong><br />
của NGUYỄN MẠNH CÔN</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Giữa những người cầm bút Việt Nam hôm nay có lẽ Hoàng Hải Thủy là người có nhiều điều kiện thuận lợi nhất, mà cũng đồng thời thiệt hại nhất &#8212; là người được yêu mến rất nhiều, nhưng lại được hiểu biết thật ít.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Đẹp trai kiểu đàn ông, khỏe mạnh, vững vàng, HH Thủy ít nói, nhưng tiếng nói sang và trong, và có duyên &#8212; tất nhiên anh được phái đẹp để ý ngay khi bắt đầu nổi tiếng. Phái đẹp thích đọc những truyện tình đẹp, dù vui hay buồn, hay những phóng sự xã hội đầy những nhân vật trẻ, ham sống, yêu đời. Những tác phẩm của HH Thủy, do anh sáng tạo, hay phỏng dịch, đều theo nền nếp ấy.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Cả cuốn MÔI THẮM NỬA ĐỜI này cũng thế, mặc dù tôi bắt đầu thấy một cái gì khang khác.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Hoàng Hải Thủy là một trong những người mà tôi quí nhất, mà tôi trọng hơn cả trong các bạn đồng nghiệp của tôi. Hồi mới gặp nhau: ở gần nhau hàng nửa ngày, tôi không nghe Thủy nói xấu về bất cứ người cầm bút nào khác. Những ai quen biết nhiều nhà văn, nhiều ký giả, tất nhiên phải nhận đó quả thật là một hiện tượng kỳ dị, một biến cố trầm trọng &#8212; nói theo kiểu mác-xít.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Hoàng Hải Thủy đối với riêng tôi còn chứa đựng nhiều ngạc nhiên. Cuối năm 1965, ba tháng sau khi tôi cho in và phát hành cuốn “</em>Mối tình mầu hoa đào<em>”, anh đột nhiên hỏi tôi: “</em>Tại sao chúng ta lại đau khổ<em>?” Câu hỏi, lẩm cẩm trong những trường hợp bình thường, là một trong những câu hỏi thuộc loại căn bản, nói về triết học.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Thật là bất ngờ! Khi một cuốn sách về tư tưởng được in ra và phát hành rồi, tác giả của nó thao thức chờ đợi một lời phê bình, một cuộc thảo luận &#8212; một cuộc thảo luận hay một lời phê bình đúng theo ý muốn của người viết, không nhất thiết phải khen hay chê, mà chứng tỏ người đọc</em> đã thật sự đọc hết và thật sự chú ý đến những ý kiến được trình bầy<em>. Lẽ tất nhiên tôi đã thao thức mong chờ, nhưng tất cả các bạn đồng nghiệp của tôi không ai cho tôi cái hạnh phúc đó. Trừ Hoàng Hải Thủy.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>HH Thủy hỏi tôi một câu đúng vào chỗ tôi thiếu sót. Một lý thuyết triết học, nếu đầy đủ, phải trả lời được tất cả mọi câu hỏi. Tôi đã tưởng lý thuyết “Phối ngẫu toàn bích” là đầy đủ. Không ngờ Thủy, bằng một câu hỏi ngắn, chỉ ngay cho tôi thấy một khoảng trống mênh mông mà mãi nửa năm sau tôi mới lấp đầy. Tôi nhờ thế mà biết anh đã đọc kỹ cuốn sách, đã suy nghĩ thêm nhiều về nội dung của nó. Anh lại phải có rất nhiều thiện cảm với tác giả, đồng thời cũng đồng ý nhiều phần với lý thuyết, mới nắm vững vấn đề, xem xét mọi khía cạnh, đủ để tìm thấy cái thiếu sót to lớn của nó. Như vậy, tuy không bao giờ nói ra, Hoàng Hải bắt buộc phải là một người có những suy tư triết học.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Nhu cầu và hưởng thụ lôi cuốn HH Thủy về một hướng đi khác, đến độ có anh Tổng thư ký một tờ báo văn chương nhất định không đăng &#8212; và không đọc &#8212; bài của HHThủy. Trong sự nhận xét bình thường của người chuyên nghiệp, có lẽ HH Thủy có trẻ mà không có mới, có giá trị mà không kỳ lạ, nên không xứng đáng đứng ngang hàng với những nhà văn tên tuổi. Hoặc giả HH Thủy không tự khoe mình, không chửi bới, không đòi hỏi&#8230;</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Tôi tìm hiểu HH Thủy từ khi tôi quen anh. Nhưng tôi chỉ mơ hồ bắt đầu có một ý niệm về anh sau khi đọc hết tập MÔI THẮM NỬA ĐỜI đăng trên nhật báo. Sáng tác này của HH Thủy chắc chắn có mang nhiều tâm sự của anh. Rất nhiều đoạn diễn tả tế nhị và sâu sắc tâm lý của hai nhân vật chính. Nhưng cũng có nhiều đoạn thừa, về phương diện nghệ thuật, nhưng lại được nhà xuất bản yêu cầu giữ lại, về phương diện tiêu thụ: đó là hai thiếu nữ, dù có mặt hay không, cũng không làm cho câu truyện đổi khác.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>MÔI THẮM NỬA ĐỜI thành ra chứa đựng đầy đủ những nét phức tạp của sự lần mò đổi hướng đi của một nghệ sĩ không bằng lòng với hiện tại của mình (mà nhiều người khác ao ước). Sự tìm kiếm chân phương, thành thật, của HH Thủy khiến cho chúng ta cảm động. Nhưng người nghệ sĩ trên con đường nghệ thuật luôn luôn cô đơn trong kiêu hãnh: không ai giúp được HH Thủy việc gì, ngoài chính anh.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Riêng phần tôi, có lẽ tôi đã tưởng tượng thấy công trình của HH Thủy sau này. Con người của anh chấp nhận triết học nhưng từ chối chính trị. Anh được lợi nhiều về vật chất, như hầu hết chúng ta. Nhưng chiến tranh kỹ thuật lấn áp và đè nén tâm hồn anh. Vì thế, tôi nghĩ anh sẽ chỉ lớn lên trong hoà bình, trong công cuộc vĩ đại của những người xây dựng thái bình cho tâm hồn con người.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Tôi có nói quá hay không, chúng ta phải chờ đợi nhiều năm mới biết được. Tôi thấy tự xét mình đã khó, xét bạn còn khó hơn &#8212; nhưng ngay bây giờ tôi đã đinh ninh rằng cuốn MÔI THẮM NỬA ĐỜI là một dấu hiệu báo trước sự nghiệp tinh thần của một HOÀNG HẢI THỦY không phải chỉ viết truyện tình cảm cho người Việt Nam chúng ta đọc mà thôi.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>NGUYỄN MẠNH CÔN<br />
</em><em>29 tháng X, 1969</em></p>
<p>Té ra anh Nguyễn Mạnh Côn có viết Tựa cho truyện của tôi mà tôi quên mất. Cả đời viết truyện của tôi chỉ có một người viết bài Tựa cho một truyện của tôi, người viết bài Tựa duy nhất đó là anh Nguyễn Mạnh Côn và tác phẩm tiểu thuyết duy nhất của tôi có bài Tựa là truyện <em>Môi Thắm Nửa Đùi</em>, xin lỗi, <em>Môi Thắm Nửa Đời</em>.</p>
<p>Xứ người, đêm khuya, phòng ấm, đèn vàng, yên lặng sáu trăm phần trăm, an ninh tối đa, tôi nằm với quyển sách cũ &#8212; những trang truyện được viết, được in năm 1969, ở Sài Gòn, thành phố thủ đô thương yêu của tôi mà tôi đã để mất. Tôi bùi ngùi đọc những dòng anh NM Côn viết về tôi, tôi thương anh khi đọc những dòng anh viết về sự chờ đợi và nỗi thất vọng của anh khi anh không có qua một người nào nói gì với anh về những tác phẩm của anh, không một người nào cho anh thấy họ có đọc tác phẩm của anh, dù chỉ là đọc qua loa, đọc không đến nơi, đến chốn. Tôi thương anh khi anh than thở:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>“&#8230;Khi một cuốn sách về tư tưởng được phát hành rồi, tác giả của nó thao thức chờ đợi một lời phê bình, một cuộc thảo luận &#8212; một cuộc thảo luận hay một lời phê bình đúng theo ý muốn của người viết, không nhất thiết phải khen hay chê, mà chứng tỏ người đọc đã thật sự đọc hết và thật sự chú ý đến những ý kiến được trình bầy. Lẽ tất nhiên, tôi đã thao thức mong chờ, nhưng tất cả các bạn đồng nghiệp của tôi không ai cho tôi cái hạnh phúc đó. Trừ HOÀNG HẢI THỦY.”</em></p>
<p>Những năm 1965, 1966, anh NM Côn viết quyển “<em>Tình Cao Thượng</em>” và “<em>Mối Tình Mầu Hoa Đào</em>”. Lâu quá tôi không nhớ là quyển nào, khi biết anh có sách mới tôi đến nhà anh, trong Cư Xá Chu Mạnh Trinh, đầu đường Chi Lăng, Phú Nhuận, để xin anh một quyển. Buổi sáng, anh đang ngồi viết. Nghe tôi hỏi xin sách, anh ngần ngừ, hỏi tôi:</p>
<p>- Ông lấy sách của tôi mà ông có đọc không?</p>
<p>Tôi trả lời anh:</p>
<p>- Tôi đọc chứ.</p>
<p>Anh lấy sách trong ngăn kéo bàn ra ký tặng tôi một quyển. Khi ấy chắc anh không tin mấy ở lời tôi nói là tôi sẽ đọc sách của anh. Nhưng tôi đọc anh thật. Tôi vào đời sớm, tôi thiếu cái học ở nhà trường, tôi vẫn cặm cụi, kiên trì tự học bằng cách đọc sách. Tôi mến anh Côn nên tôi đọc thật kỹ sách anh viết. Tôi hy vọng học được vài điều hay hay trong sách của anh. Văn anh trong hai quyển “<em>Tình Cao Thượng</em>, <em>Mối Tình Mầu Hoa Đào</em>” khó hiểu thấy mồ đi, hai quyển đó không hẳn là sách Triết mà cũng không phải là tiểu thuyết. Phải là người từng đọc nhiều, thích đọc, có chút hiểu biết về triết học mới có thể nhá nổi những trang sách của anh. Tôi đọc anh, suy nghĩ và ghi nhớ những đoạn tôi thấy có vấn đề, những đoạn tôi có thể có ý kiến, tôi đọc, tự hỏi rồi tôi tự dặn: “Ông ấy viết thế này là nghĩa lý ra làm sao đây? Phải chăng mình có thể hiểu là ông ấy muốn nói như thế này? Mình sẽ nói với ông ấy ông ấy viết như thế mình hiểu như thế. Nhưng mình có ý kiến vấn đề phải như thế này..vv..”</p>
<p>Tôi không thể bốc anh NM Côn viết hay, tôi cũng không thể phản bác những gì anh viết, nhưng tôi có thể cho anh thấy tôi có đọc anh, những gì anh viết làm tôi suy nghĩ, và tôi suy nghĩ như thế này. Chỉ thế thôi đã đủ làm anh sung sướng. Anh sẽ nói cho tôi biết anh viết như thế nghĩa là gì, anh muốn nói gì khi anh viết như thế, tại sao anh lại viết như thế, chỉ có tôi vừa là đàn em vừa là bạn đồng sàng, đồng tịch, đồng bàn đọi, bàn đèn với anh, văn huê là anh với tôi cùng là lính của Cô Ba Phù Dung, nôm na là tôi hít tốp, tức hít tô phe, lại tức hút thuốc phiện như anh Côn, tôi từng nằm bàn đèn với anh Côn. Một hôm anh bảo tôi:</p>
<p>- Có thằng Coón, trước làm thuốc ở tiệm Thủy Kính Trắng, thời tôi chơi ở đó tôi có giúp đỡ nó, nay nó mở tiệm., nó mời tôi đến chơi. Mình sẽ đến đó chơi.</p>
<p>Tôi theo anh Côn đến tiệm A Coón ở Khu Bàn Cờ. Anh Côn chơi rất hách, hút không trả tiền ngay mà ghi sổ, nửa tháng, một tháng anh chi một lần. Khi chi tiền, chủ tiệm nói bao nhiêu, anh trả ngần ấy, không bao giờ anh théc méc sao nhiều thế, làm gì mà nhiều thế? Tôi đến tiệm A Coón hút với anh, anh gọi thuốc cho tôi tha hồ hút, anh hút một thì tôi hút hai, anh nói:</p>
<p>- Tôi có bàn đèn ở nhà. Về nhà tôi còn hút được, ông không có, ông hút cho đủ đi.</p>
<p>Tiệm A Coón, cũng như đa số những tiệm á phiện ở Sài Gòn những năm 1960, 1975, thường là một căn gác không có bàn ghế, giường tủ gì cả, chỉ có ba bốn cái chiếu trải trên sàn. Thường là hai bàn đọi, chỉ những ông khách đang hút mới được nằm bên bàn đèn, những ông khách hút rồi chưa muốn về, còn nằm tình tang hay chờ hút thêm mấy bi nữa, phải ra nằm ở mấy cái chiếu không có bàn đèn. Anh Côn bảo tôi:</p>
<p>- Đi chơi mình phải nằm bên bàn đèn mới thú. Tôi với ông mà ra nằm ở cái chiếu kia thì chán chết.</p>
<p>Nằm bên khay đèn là phải gọi thuốc hút. Vì vậy khi có tôi đến, anh Côn vui vì có người nói chuyện với anh, anh gọi thuốc lu bù dù chúng tôi đã hút quá đô, để anh và tôi có quyền nằm bên bàn đèn. Và tôi cứ hút ra rít. Và hút như thế là tôi tăng đô, đang hút một ngày một trăm đồng, làm nhật báo <em>Tin Báo</em> với anh Côn, Tin Báo do anh làm chủ nhiệm, ngày nào cũng đi hút với anh, tôi hút lên ba trăm đồng một ngày. Ba tháng báo chết, anh Côn nằm nhà, tôi đi hút một mình, không còn ông anh chi tiền nữa, tôi méo mặt.</p>
<p>Anh Côn và tôi thường đi ăn cơm Tây ở nhà hàng Kim Hoa, đường Lê Lợi, canh rạp xi-nê Casino de Saigon. Anh Côn đi công việc trong buổi sáng, đến tiệm lúc 12 giờ trưa, tôi cũng thường đến vào giờ đó. Chúng tôi nằm hút đến bốn, năm giờ chiều mới đi ăn. Chúng tôi chỉ ăn cơm Tây ở tiệm Kim Hoa, và bao giờ chúng tôi cũng chỉ ăn có ba món: consommé chaud, bánh mì ăn với beurre frais, mỗi người chỉ một miếng beurre nhỏ bằng nửa cái hộp quẹt, và beefsteak khoai chiên. Tôi uống một chai 33, anh Côn uống nước trà, ăn xong chúng tôi làm hai ly cà phê, anh Côn cà phê sữa, tôi cà phê đen. Bữa nào cũng y boong như thế. Một lần chúng tôi gặp Mai Thảo ở Kim Hoa. Mai Thảo nói:</p>
<p>- Ăn bíp-tết ở đây chúng mày phải ăn bíp-tết tỏi!</p>
<p>Lần sau chúng tôi gọi bíp-tết tỏi. Nhưng chúng tôi không thích, tỏi nhiều quá làm mất mùi thịt bò. Anh Côn nói:</p>
<p>- Mình thích ăn gì mình cứ ăn món đó thôi. Đừng có nghe lời người khác.</p>
<p>Từ năm 1970 anh Côn vẫn viết đều cho báo, cho Đài Phát thanh Quốc gia, từ năm 1970 đời sống kinh tế của anh khá hơn nhờ anh được Tướng Cao Văn Viên nể trọng và giúp đỡ, anh thầu cung cấp những món nho nhỏ cho Bộ Tổng Tham Mưu và cơ sở Hoa Tình Thương của bà Cao Văn Viên. Nhờ những khoản thầu này anh có tiền, nhà có tô-lô-phôn, anh mua lại căn nhà lầu của Phạm Duy cũng trong cư xá Chu Mạnh Trinh. Chưa trả hết tiền nên Phạm Duy chưa làm giấy sang tên nhà cho anh. Ngày 30 Tháng Tư đen như mõm chó đến, Phạm Duy đi mất, anh Côn bị cộng sản bắt và chết trong tù, tôi không biết tình trạng căn nhà của anh về sau ra sao.</p>
<p>Ngày 26 hay 27 Tháng Tư 1975 tôi đến tìm anh Côn ở tiệm Sơn Cụt hẻm chùa Vạn Hạnh đường Trương Minh Giảng. Tôi nói:</p>
<p>- USIS đưa gia đình tôi sang Mỹ. Tôi đến chào anh.</p>
<p>Anh nói:</p>
<p>- Ông đi bình an.</p>
<p>Và anh nói:</p>
<p>- Tôi không tin Việt Cộng vào được Sài Gòn. Nhưng Sài Gòn sẽ phải qua một cuộc tắm máu chắc là khủng khiếp lắm.</p>
<p>Buổi trưa ấy tôi chưa ra khỏi tiệm Sơn Cụt thì anh chị Vũ Hoàng Chương đến. Anh Chương yếu nhiều, anh bận áo dài ta trắng, anh đi đâu đều có chị Chương đưa đi, ông bà thi bá đi bằng xe xích-lô đạp. Anh chị đến tiệm Sơn Cụt lấy thuốc.Tôi cũng nói với anh chị Chương chuyện USIS đưa gia đình tôi sang Mỹ và tôi chào tạm biệt anh chị. Khi tôi bắt tay anh Chương để đi khỏi đó, anh Chương nói:</p>
<p>- Tôi bắt tay cậu lần này chắc là lần trót.</p>
<p>Như lời anh Chương nói, đó là lần cuối cùng tôi gặp anh Chương, lần cuối cùng tôi bắt tay anh.</p>
<p style="text-align:center;">- &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - -</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>“Nhu cầu và hưởng thụ lôi cuốn HH Thủy về một hướng đi khác, đến độ có anh Tổng thư ký một tờ báo văn chương nhất định không đăng &#8212; và không đọc &#8212; bài của anh.”</em></p>
<p>Anh Tổng thư ký ấy là anh Trần Phong Giao, tờ báo văn chương ấy là tờ <em>Văn</em>. Trong những năm Trần Phong Giao làm tờ <em>Văn</em>, tôi không gửi bài nào đến báo <em>Văn</em>, tôi không bao giờ tự nhận tôi là “<em>nhà văn</em>”, tôi chỉ nhận tôi là người viết truyện, văn huê là tiểu thuyết gia, người viết tiểu thuyết.</p>
<p>Tháng Bẩy năm 1977 tôi bị bắt vào Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn Nhân Dân của bọn Công An VC Thành Hồ chuyên bắt nhân dân. Vào sà-lim chiều thứ bẩy, sáng chủ nhật nhìn qua khung cửa gió sang hai phòng giam tập thể đối diện tôi nhìn thấy anh Côn trong một phòng. Phòng giam tập thể khu B Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu không có chấn song mà có cửa lưới sắt, tôi nhìn thấy anh Côn ngồi sau khung cửa lưới sắt ấy. Anh và tôi trao đổi với nhau được vài câu. Sáng chủ nhật sau, phòng anh Côn được Cai Tù mở cho tù ra lối đi ngồi phơi nắng chừng nửa giờ. Qua cửa gió sà-lim, tôi trông thấy toàn thân anh Côn. Anh râu bạc, tóc bạc, da xanh lướt như mầu lá chuối non, anh bận bộ đồ ngủ mầu nâu đã cũ. Anh ngồi dựa lưng vào tường, cách chỗ tôi đứng sau cánh cửa sắt nhìn anh khoảng mười thước, tôi nghe tiếng anh, không phải ngâm, mà nói:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>- Chí ta ta biết, lòng ta ta hay.<br />
Nam nhi ý khí như hồ thỉ<br />
Hà tất cùng sầu với cỏ cây..!</em></p>
<p>Đấy là lần cuối cùng tôi nhìn thấy anh Côn, lần cuối cùng tôi nghe tiếng anh nói. Vài ngày sau, vào lúc tám, chín giờ tối, cửa gió sà-lim bị đóng, tôi nghe bên ngoài có tiếng gọi tên những người tù, tiếng người lao xao. Bọn cai tù tập trung những người tù đi trại tù khổ sai vào một phòng, sáng mai lên xe đi sớm. Anh Côn đi khỏi Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu trong đợt đó. Hai năm sau, năm 1980, tôi trở về mái nhà xưa, được tin anh Nguyễn Mạnh Côn đã chết trên trại tù khổ sai Xuyên Mộc. Tù được ba năm, anh Côn cho là hạn tù của anh đã hết, anh đòi cai tù phải trả tự do cho anh. Không được, anh tuyệt thực phản đối. Bắt chước cách trấn áp tù nhân của bọn Nga Cộng, Tầu Cộng, bọn cai tù Xuyên Mộc lập tức biệt giam người tù tuyệt thực Nguyễn Mạnh Côn, chúng không cho anh uống nước, chúng giết anh để làm người người tù khác sợ không ai dám tuyệt thực.</p>
<p>Anh Nguyễn Mạnh Côn chết ở trại tù khổ sai Xuyên Mộc năm 1979. Đến nay, mùa thu 2009, thời gian qua đã 30 năm. Hôm nay viết về anh, tưởng nhớ anh, tôi thấy ẩn hiện hình ảnh anh: người tù già, râu bạc, tóc bạc, xanh lướt, bộ quần áo ngủ mầu nâu bạc mầu, ngồi dựa lưng vào tường bên lối đi trong nhà tù cộng sản. Kỷ niệm của tôi với anh Côn thật nhiều, tôi không thể kể hết trong bài này. Mỗi lần nhớ đến chuyện anh và tôi cùng chịu cảnh tù đầy, anh và tôi nhìn thấy nhau trong ngục tù cộng sản, tôi thường nhớ lại một thời hai anh em tôi hút ở tiệm Đinh Quát, cũng trong hẻm Vạn Hạnh đường Trương Minh Giảng. Anh Triều Đẩu hay lui tới tiệm này. Những năm 1950 ở Hà Nội, anh Triều Đẩu viết phóng sự “<em>Trên vỉa hè Hà Nội</em>” khá hay, có duyên, tử vi của anh có “<em>thất sát triều đẩu</em>” nên anh lấy bút hiệu Triều Đẩu. Anh xem tử vi cho anh Côn và tôi, theo tử vi hai chúng tôi càng ngày càng có danh, kiểu “<em>sống lâu lên lão làng</em>”. Nếu Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa còn, tất nhiên chúng tôi, hoặc ít nhất là anh Nguyễn Mạnh Côn, sẽ “<em>sống lâu lên lão làng</em>”, càng ngày càng có tiếng. Nhưng anh Nguyễn Mạnh Côn đã chết thảm khốc trong ngục tù cộng sản.</p>
<p>Dường như &#8212; tôi không nói chắc &#8212; anh NM Côn là đảng viên Đảng Đại Việt Cách Mệnh Đồng Minh Hội, thường được gọi tắt là Việt Cách, anh là đại biểu của Đảng Việt Cách trong Quốc Hội Lâm Thời 1945-1946 ở Hà Nội. Anh nói với tôi:</p>
<p>- Khi ấy cần có một tuyên cáo về vụ đồng bào mình bị chết đói năm Ất Dậu, chúng tôi để con số người chết là 2 triệu người. Ước lượng thôi, hồi ấy mình có làm kiểm tra đâu mà biết được số người chết là bao nhiêu.</p>
<p>Anh Côn nói:</p>
<p>- Nước mình nghèo, chậm tiến, ít người, mình không thể nổi đình đám trên thế giới về mặt kỹ thuật, khoa học, phát minh nọ kia, nhưng tôi nghĩ mình có thể được thế giới biết đến nhờ văn học, nếu mình đưa ra được một lý thuyết triết học nào có giá trị.</p>
<p>Ngày 29 Tháng 10, năm 1969, anh NM Côn viết về tôi:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>“Tôi có nói quá hay không, chúng ta phải chờ đợi nhiều năm mới biết được. Tôi thấy tự xét mình đã khó, xét bạn còn khó hơn &#8212; nhưng ngay bây giờ tôi đã đinh ninh rằng cuốn Môi Thắm Nửa Đời là một dấu hiệu báo trước sự nghiệp tinh thần của một Hoàng Hải Thủy không phải chỉ viết truyện tình cảm cho chúng ta đọc mà thôi.”</em></p>
<p>Từ ấy, năm 1969, đến nay năm 2009, đã qua bốn mươi mùa lá rụng, thời gian đã quá đủ để tôi thấy ông đàn anh Nguyễn Mạnh Côn của tôi đã “<em>nói quá</em>” về tôi. Đêm khuya, xứ người, phòng ấm, đèn vàng, yên lặng, úp quyển sách lên ngực, tôi nhắm mắt mơ màng: những buổi trưa tôi lên tòa soạn báo Chính Luận ngồi viết <em>Môi Thắm Nửa Đời</em>. Tôi viết bằng bút bi trên tờ giấy teletype của toà soạn dài như lá sớ, tôi viết bừa tăng tít, toàn chuyện những nhân vật trẻ yêu nhau, giận hờn nhau, thương nhớ nhau, những chuyện ăn chơi linh tinh lang tang ở Sài Gòn những năm 1960, <em>Môi Thắm Nửa Đời</em> là truyện không có cốt truyện. Tôi thầm nói với anh Côn:</p>
<p>- Ông ơi.. Ông kỳ vọng quá đáng ở tôi. Tôi viết tiểu thuyết cho người Việt Nam đọc giải trí còn chưa xong, sức mấy tôi viết được tiểu thuyết cho người thế giới đọc.</p>
<p>Tôi théc méc về chuyện “<em>tại sao con người lại đau khổ</em>” từ những năm tôi 25 tuổi, đến nay théc méc ấy vẫn còn trong tôi, nhưng với tuổi tác, ý muốn tìm câu trả lời trong tôi nhạt đi. Tôi biết không bao giờ tôi có thể giải tỏa được théc méc ấy. Có người nói: “<em>Vì con người xa rời Thượng Đế, nên con người phải đau khổ</em>..”, có người nói: “<em>Con người đau khổ vì con người vô minh</em>..” Đấy là chuyện tôi sẽ viết trong một bài khác.</p>
  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/hoanghaithuy.wordpress.com/2433/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/hoanghaithuy.wordpress.com/2433/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2433/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2433/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2433/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2433/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/hoanghaithuy.wordpress.com/2433/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/hoanghaithuy.wordpress.com/2433/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2433/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2433/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2433&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/21/moi-tham-nua-doi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>5</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/03c798a8ae0d29bd847057c0e89c390b?s=96&#38;d=wavatar&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">hoanghaithuy</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/nguyenmanhcon.png" medium="image">
			<media:title type="html">Nguyen Manh Con</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Chính Trị Con Tin</title>
		<link>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/18/chinh-tri-con-tin/</link>
		<comments>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/18/chinh-tri-con-tin/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 18 Oct 2009 05:24:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hoanghaithuy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Viết Ở Rừng Phong]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://hoanghaithuy.wordpress.com/?p=2422</guid>
		<description><![CDATA[
* Có cơ sở nào để ta có thể tin rằng hiện nay đã có một tia sáng le lói ở cuối con đường hầm Nhân Quyền từ lâu vẫn đen ngòm?
Những chính quyền ngoan cố, bướng bỉnh &#8212; kể cả những chính quyền vẫn cai trị bằng nhà tù, hàng rào dây thép gai, [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2422&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p><img src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/prisoners.png" alt="Chinese prisoners" /></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>* Có cơ sở nào để ta có thể tin rằng hiện nay đã có một tia sáng le lói ở cuối con đường hầm Nhân Quyền từ lâu vẫn đen ngòm?</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Những chính quyền ngoan cố, bướng bỉnh &#8212; kể cả những chính quyền vẫn cai trị bằng nhà tù, hàng rào dây thép gai, tra tấn nhân dân khi thẩm vấn, nhốt tù nhân dân mà không cần đưa ra toà &#8212; nay đã có vẻ bắt đầu thấm đòn. Không phải là bọn ác ôn có sự suy nghĩ lại hay thấy hối vì những việc họ đã làm. Họ thay đổi thái độ là vì lâu lâu họ cũng thèm được hưởng một cái gì đó nên họ bắt buộc phải giảm bớt những trò vô nhân đạo họ vẫn làm với nhân dân nước họ.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Công cuộc đòi trả tự do cho Nhà Quán Quân Bất Đồng Chính Kiến Wei Jingsheng kéo dài từ khá lâu nay đã kết thúc thành công bởi vì Chủ Tịch Nhà Nước Trung Quốc muốn có cuộc tiếp đón long trọng ở Bạch Cung, Hoa Kỳ, với lễ nghi quân cách 21 phát đại bác chào mừng, thảm đỏ và quốc yến khi đương sự công du Hoa Kỳ. Ông ta biết ông ta phải trả giá. Đại sứ James Sasser, Đại sứ Hoa Kỳ ở Trung Quốc, đưa bảng giá phải chi cho Jiang Zemin trước khi ông này đặt chân lên phi cơ. Jiang có thể có tất cả những thứ kể trên, Sasser nói với ông ta, với điều kiện: “Trả tự do cho Wei Jingsheng.” Và thế là sau đó ít ngày Người Tù Wei Jingsheng được đưa từ nhà tù ra phi trường, lên phi cơ bay thẳng sang Mỹ Quốc.*</em></p>
<p>Trên đây là đoạn tin đăng trên một tờ nhật báo Mỹ về việc chính quyền Trung Cộng vừa thả ông <em>Wei Jingsheng</em> &#8212; <em>Ngụy Kinh Sinh</em> &#8212; ra khỏi tù và cho ông này lưu vong sang Hoa Kỳ. Ngụy Kinh Sinh được người Mỹ coi là Nhân vật Số Một đấu tranh cho Nhân Quyền ở Trung Quốc. Năm nay 47 tuổi, Ngụy Kinh Sinh thời trẻ tham gia Vệ Binh Đỏ của Mao Trạch Đông, bị bắt năm 1979 &#8212; thời Đặng Tiểu Bình &#8212; vì tội đòi hỏi nhà cầm quyền Trung Cộng phải thực thi dân chủ. Từ I979 Ngụy ở tù dài dài đến Tháng Chín 1993 thì được thả &#8212; 14 năm tù. Đây là thời gian Trung Cộng muốn được quốc tế trao quyền đăng cai tổ chức Thế Vận Hội ở Bắc Kinh nên thả một số tù chính trị để lấy lòng và kiếm phiếu thiên hạ. Trung Cộng tưởng ăn chắc nên đã soạn sẵn tiệc liên hoan mừng được tổ chức Thế Vận Hội nhưng bị tẽn tò: Uỷ Hội Thế Vận Quốc Tế trao quyền tổ chức Thế Vận Hội 2000 cho thành phố Sidney, Úc. Đầu năm 1994 Ngụy bị bắt lại, bị đưa ra tòa và lại bị kết án tù 14 năm. Cứ theo án tích đến năm 2008 Ngụy Kinh Sinh mới mãn án.</p>
<p><img style="margin:0 0 0 10px;" src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/sinh.png" alt="Wei Jingsheng " align="right" />Chính quyền Cộng sản có luật quy định: “..<em>Những người tù đang chịu án không được phép xuất ngoại</em>..” &#8212; Việt Cộng cũng có điều luật này &#8212; nhưng bọn Cộng sản ở nước nào cũng vẫn có thói quen không tôn trọng luật, kể cả luật của chính chúng, luật do chúng đặt ra, người tù Ngụy Kinh Sinh đang thụ án vẫn cứ được chúng đưa ra khỏi tù, cho lên phi cơ, tống xuất.</p>
<p>Luận điệu bản tin đăng báo được dịch trên đây cho thấy một số khá lớn người Mỹ đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền coi việc “<em>Trung Cộng thả tù nhân Ngụy Kinh Sinh là một thắng lợi lớn của họ..” Thay vì “làm áp lực đòi hỏi nhà cầm quyền Trung Cộng phải tôn trọng nhân quyền, thực hiện dân chủ, không được bắt giam những người bất đồng chính kiến, phải tôn trọng quyền của những người làm chính trị bất bạo động..”, số người Mỹ này “chỉ làm cái việc chờ đợi bọn cầm quyền Cộng Sản Trung Hoa bắt giam người làm chính trị nào là lên tiếng phản đối và xin lãnh người đó sang Mỹ</em>.” Họ xin, Trung Cộng bằng lòng cho. Và thế là họ phấn khởi cho là họ thắng, Cộng sản phải nhượng bộ, Cộng sản đã biết điều&#8230;vv</p>
<p>Mở màn năm 1974 bằng việc chính phủ Bép Nhép &#8212; Breznev, Liên Sô &#8212; tống xuất Nhà Văn Alexandre Sozhenytsin, tác giả những tiểu thuyết “<em>Một ngày trong đời Ivan Denisovitch</em>, <em>Tầng Đầu Địa Ngục</em>, <em>Quần Đảo Ngục Tù</em>,” sang Đức quốc, một tình trạng kỳ dị dần dần hình thành trên thế giới. Đó là tình trạng càng ngày càng có nhiều nhân vật chính trị chống Cộng sản độc tài không chống Cộng trong nước mình mà theo nhau sang những nước tư bản, dân chủ, không Cộng sản như Anh, Pháp, Hoa Kỳ để.. chống Cộng. Phải nói cho rõ là những nhân vật này đã chống Cộng trong nước họ, họ bị bọn Cộng sản cầm quyền ở nước họ bắt giam với những án tù mười lăm, hai mươi năm, chung thân. Việc bọn Cộng sản giam tù họ bị những người dân chủ ở những quốc gia Âu Mỹ phản đối, đòi thả họ, đòi lãnh họ đi khỏi nước. Riêng ở Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa bị Cộng sản chiếm năm 1975 nhiều người chống đối, dù bất bạo động, đã bị bọn Cộng sản cướp nước xử tử.</p>
<p>Người những nước Âu Mỹ, đa số là người Mỹ, lên tiếng xin lãnh những tù nhân chính trị bị giam tù ở những nước Cộng sản. Và bọn Cộng sản giao những nhân vật này cho người Mỹ mang đi. Dù có mù tịt về chính chị, chính em ta cũng thấy làm như vậy &#8212; việc nhận lãnh và đưa những người chống đối chế độ đi khỏi nước họ &#8212; người Mỹ nhổ đi những cái gai vẫn gây nhức nhối cho bọn Cộng độc tài nắm quyền trong quốc gia ấy. Việc làm ấy, dù có nhân đạo đến chừng nào đi nữa, cũng không thể coi là “<em>thắng lợi của phe ta, bọn cầm quyền Cộng sản đã phải nhượng bộ, đã phải tỏ ra biết điều</em>..”</p>
<p>Năm 1984, khi tôi bị bắt lần thứ hai, Sáu Khôi, một cán bộ chấp pháp Công An Thành Hồ thẩm vấn tôi ở Trại Tù Số 4 Phan đăng Lưu, nói với tôi:</p>
<p>&#8211; Các anh viết lung tung ra nước ngoài nên chúng tôi phải bắt các anh, mà bắt các anh thì bọn tư bản chúng nó làm ầm lên, lên án Nhà Nước ta vi phạm nhân tình, nhân bánh. Bắt giam các anh Nhà Nước và chính phủ ta chỉ từ thua đến thua, bọn tư bản chúng nó chỉ từ thắng đến thắng.</p>
<p>Cái gì đúng năm 1984 không nhất thiết song có thể trở thành không đúng năm 1994. Từ năm 1990 trở lại đây rõ ràng là bọn Cộng sản cầm quyền ở hai nước Việt Nam, Trung Hoa áp dụng chính sách gọi là “<em>chính trị con tin</em>”: bắt con tin, đòi tiền chuộc mạng. Chúng thoải mái bắt giam những người chống đối chúng, thẳng tay bỏ tù những người tranh đấu cho hạnh phúc của nhân dân, người Mỹ kêu ca, xin lãnh, chúng thả với điều kiện người Mỹ phải ưu đãi chúng về kinh tế. Trong cái gọi là cuộc đấu tranh cho nhân quyền theo kiểu Ba Tầu này bọn Cộng nắm đằng chuôi, phe ta &#8212; tức phe Mỹ &#8212; nắm đằng lưỡi, đôi bên co kéo phe ta chỉ từ đứt tay, chẩy máu ít đến đứt tay, chẩy máu nhiều. Không còn có chuyện bọn Cộng sản chỉ từ thua đến thua, bây giờ đến chuyện phe dân chủ chỉ từ chết đến bị thương nặng.</p>
<p>Người Mỹ biết như thế nhưng hiện nay ta thấy họ không làm được việc gì khác ngoài việc xin thả, nộp tiền chuộc và nhận lãnh con tin. Tổ chức tranh đấu cho Nhân Quyền Human Rights Watch, trụ sở ở New York, ra tuyên bố hoan nghênh việc trả tự do cho Ngụy Kinh Sinh nhưng không nhìn nhận việc này như một dấu hiệu cải thiện tình trạng Nhân Quyền ở Trung Quốc. Sidney Jones, Giám Đốc Tổ chức Human Rights Watch, nói về việc Trung Cộng cho Ngụy Kinh Sinh đến Hoa Kỳ:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>&#8211; Đây chỉ là chiến thuật “chính trị con tin” mà nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc thi hành từ năm 1989 &#8212; khi cần có một vài nhượng bộ vì lý do chính trị, họ thả một vài người mà đúng ra họ không cần bắt giữ..</em></p>
<p>“&#8230;đúng ra họ không cần bắt giữ..” Than ôi.. Tại sao lại không là..“..đúng ra họ không có quyền bắt giữ..”!!!</p>
<p>Đây là một đoạn viết về nhân vật Ngụy Kinh Sinh trong một bài báo khác:</p>
<p>&#8211; Theo lời các thân nhân của Ngụy Kinh Sinh đời sống trong tù của ông rất khổ cực. Ông bị hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần. Trong căn biệt giam có hai tấm kính để cai tù bên ngoài nhìn vào và ngọn đèn không bao giờ tắt, ông bị theo dõi suốt ngày đêm. Ông bị bệnh tim, cao huyết áp và theo lời em gái ông, bà này mới được gửi đồ nuôi vào tù cho ông Ngụy &#8212; Quốc gia Việt Nam Cộng Hoà ta gọi việc gửi thức ăn vào tù nuôi tù là “tiếp tế” &#8212; thì rất có thể ông Ngụy sẽ chết trong tù.</p>
<p>Hình ảnh Tù Nhân Chính Trị Ngụy Kinh Sinh đặt chân xuống đất Mỹ trên báo, trên màn ảnh TiVi Mỹ cho ta thấy ông có vẻ phấn khởi, hồ hởi, vui vẻ, hớn hở nữa là khác. Mặt ông tròn xoe, miệng ông cười toe. Trông ông khác hẳn những ông Tù Nhân Chính Trị Việt Nam sau cuộc năm chìm, chín nổi, mười mấy cái lênh đênh, hai ba lần vào tù, ra tội, mặt mũi đăm chiêu khi đặt những bước chân lưu vong đầu tiên trên đất Mỹ.</p>
<p>Như hai ông Tù Chính Trị nặng ký nhất của ta là các ông Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Chí Thiện. Ông Doãn hai lần tù, tổng cộng 15 niên, ông Nguyễn, hai hoặc ba lần tù, tổng cộng 23 niên. Trong Sách Kỷ Lục Guiness ông Nguyễn Chí Thiện chỉ đứng sau ông Nelson Mandela tù 27 niên. Hai ông Tù Việt &#8212; Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Chí Thiện &#8212; khi đến Mỹ đều trầm lặng, mặt mũi buồn hiu, bùi ngùi khi được thân nhân chào đón, không thấy ông nào nhếch môi nở được nụ cười, dù là cười như mếu.</p>
<p>Ôâng Tù Chính Trị Tầu Ngụy Kinh Sinh có thái độ khác hẳn. Thân nhân ông nói ông sống khổ cực trong tù, nhưng đây là lời chính ông kể lại với người Mỹ:</p>
<p>&#8211; Ngày nào cũng vậy bọn Cai Tù của tôi đều chú trọng đến việc cho tôi ăn &#8220;thực phẩm rất tốt&#8221; &#8212; Nguyên văn “very good food” &#8212; Tôi được hưởng quy chế ẩm thực dành cho dân biểu quốc hội. Mỗi ngày tôi được tắm nước nóng&#8230; Họ làm vậy để nếu tôi có chết họ có thể nói tôi chết vì nguyên nhân tự nhiên, không phải lỗi tại họ&#8230;</p>
<p>Trông Tầu lại ngẫm đến Ta&#8230;</p>
<p>Những nữ độc giả thơm như múi mít của tôi không thích đọc những bài chính chị, chính em lằng nhằng dai như chão rách như bài này. Chuyện đó chắc hơn bắp rang, hơn cua gạch. Những vị nam độc giả hăng mùi tỏi tươi đọc đến đây có thể cho là tôi thấy người Tù Tầu sáng giá hơn, được ưu đãi hơn người Tù Ta, tôi ghen tị. Cũng đúng thôi. Tôi bùi ngùi, tôi tủi thân, tôi thấy ta thua kém ngưòi thiên hạ quá nhiều. Bọn Việt Cộng nhốt tù chúng tôi, không thèm để ý gì đến việc chúng tôi sống hay chết, bọn Cai Tù không biết chúng tôi là ai, chúng không biết và không cần biết chúng tôi làm gì để phải ngồi tù mút chỉ cà tha. Ông Tù Tầu ăn uống như dân biểu Cộng sản Tầu, ngày tắm nước nóng tha hồ chán thì thôi.. Anh em chúng tôi, dù có tù không phải là mười năm, hai mươi năm, mà là có tù suốt đời trong Nhà Tù Chí Hoà, cũng không được uống một chén nước nóng. Nước chúng tôi uống quanh năm, năm này qua năm khác, trong Nhà Tù Chí Hòa là nước lấy từ vòi nước máy. Chúng nhốt chúng tôi như nhốt gà công nghiệp trong chuồng. Chúng tôi bị nhốt như gà nhưng khác với gà là gà bị nhốt được cho ăn no, chúng tôi bị nhốt và bị cho ăn đói. Ngay cả mấy ngày Tết chúng tôi cũng không có được chút nước nóng.</p>
<p><img style="margin:0 0 0 10px;" src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/bill.png" alt="Bill and Wei Jingsheng " align="right" />Ông Tù Tầu đến Mỹ, lên TiVi, lên báo, được Mỹ phỏng vấn, tuyên bố linh tinh. Phóng viên Nhật báo The New York Times lấy làm vinh hạnh được phỏng vấn ông Tù Tầu ngay trên chuyến phi cơ ông bay từ Trung Quốc sang Hoa Kỳ. Tờ The Washington Post đăng tin: Nhân viên hai tổ chức Human Rights Watch/Asia và Human Rights in China chạy nháo khắp khu Chợ Tầu ở New York để tìm mua cho Ông Tù Tầu mấy gói thuốc lá Trung Cộng ông quen hút. Tờ báo ghi rõ tên loại thuốc điếu Tầu Cộng này: <em>Red Pagoda Mountain</em>, chắc là hiệu Hồng Sơn Tự. Hai trường đại học Columbia và Berkeley đề nghị chu cấp học bổng, nơi ăn ở, văn phòng, để ông Tù Tầu có điều kiện sống, nghiên cứu, viết và tiếp tục công cuộc đấu tranh cho Nhân Quyền.</p>
<p>Ông Tù Ta 15 niên Doãn Quốc Sĩ đến Houston, Texas không được tờ báo Mỹ địa phương chi cho hai dòng loan tin, miễn nói đến ảnh. Ông Tù Ta 23 niên Nguyễn Chí Thiện đến định cư ở vùng Washington DC, Virginia của Những Người Yêu, cũng vậy.</p>
<p>Ông Tù Tầu Mới Ngụy Kinh Sinh sẽ làm cho vai trò của ông Tù Tầu Cũ Harry Wu mờ đi. Đó là quy luật “Đào kép mới” và “Có mới nới cũ”. Nhưng rồi không mấy lâu, chỉ sau một số “ngày như lá, tháng như mây” &#8212; Thơ Thanh Nam &#8212; Ông Tù Tầu Mới Ngụy Kinh Sinh cũng sẽ cũ đi. Sang Hoa Kỳ sống như mọi người, vai trò của ông không còn quan trọng nữa. Ở đất Mỹ ai chửi Cộng sản ác ôn mà chẳng được. Chửi chúng nó ở Mỹ, ở Pháp, bọn Tầu Cộng Bắc Kinh cứ phè phỡn, cứ ăn no, ngủ kỹ. Không lâu, cả người Tầu và người Mỹ sẽ quên ông Ngụy Kinh Sinh.</p>
<p>Nghe nói anh Đại Sứ Trung Cộng ở Hoa Kỳ tuyên bố ra cái điều mỉa mai về Ngụy Kinh Sinh:</p>
<p>&#8211; Ông ấy sắp thành công dân Mỹ rồi, ông ấy nói gì mà chẳng được.</p>
<p>Anh Đại sứ Tầu Cộng nói bậy. Không phải chỉ khi đến đất Mỹ Ngụy Kinh Sinh mới nói những lời tố cáo tội ác của bọn cầm quyền Cộng sản Tầu. Ngụy Kinh Sinh đã “nói” từ hai mươi năm trước. Và khi “nói” những lời chống đối bọn Cộng Tầu ấy Ngụy Kinh Sinh không có ý nghĩ: “<em>Mình chống, mình đòi Tự Do cho nhân dân, nó giam mình, mình ở tù ít năm rồi mình sang Mỹ</em>..”</p>
<p>Chống Cộng sản độc ác làm nhân dân mình đau khổ trong nước mình, bị Cộng sản nhốt tù, được người Mỹ can thiệp và sang Mỹ để tiếp tục chống Cộng ở Mỹ. Chuyện này hầu như đã thành công thức. Cứ cái công thức này mà mần thì bọn Cộng sản không còn bối rối, khó chịu khi phải đối phó và giải quyết những người chống đối chế độ ác ôn và chủ nghĩa cà chớn của chúng &#8212; Chúng giải quyết những vụ chống đối chính trị dễ ợt. Chúng có thể khoái trá bảo nhau: “Cứ cho chúng nó chống đi. Mình cầu chúng nó chống đông chừng nào tốt chừng ấy. Chúng chống, mình có dịp bắt chúng làm con tin. Bọn Mỹ xin, mình cho chuộc. Mỗi lần như thế bọn Mỹ lại phải chi cho mình cái gì đó.”</p>
<p style="text-align:center;">- &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - -</p>
<p>Tôi viết bài trên đây Tháng Chín năm 1997 khi ông Tù Tầu Ngụy Kinh Sinh đến NewYork và Washington DC. Mười muà lá rụng đã qua kể từ ngày ấy, năm ấy.</p>
<p>Tháng 10 năm 2009, những tin đăng trên báo Mỹ về việc Tổng Thống Obama từ chối không gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma làm tôi bùi ngùi. Báo Mỹ đăng rõ cuộc gặp đã được định nhưng “<em>bị TT Obama bãi bỏ &#8212; cancels &#8212; để làm hài lòng Tầu Cộng</em>.”</p>
<p>Nhân vụ này, tôi nhớ đến những ông Tầu Chống Cộng từng được người Mỹ chào đón năm xưa, như hai ông Tầu Chống Cộng nổi tiếng nhất là ông Harry Wu và ông Wei Jingsheng Ngụy Kinh Sinh.</p>
<p>TT Clinton năm xưa ấy cũng sợ làm mất lòng bọn Tầu Cộng Bắc Kinh nên không có cuộc gặp chính thức Nhà Đấu Tranh Dân Chủ Tầu vừa từ Nhà Tù Tầu Cộng đến Hoa Kỳ. Ông Tầu Ngụy Kinh Sinh được Phó Tổng Thống Al Gore “mời riêng” đến Bạch Cung. Trong lúc ông Tầu ở trong văn phòng Phó Tổng Thống, TT Clinton ghé vào, hỏi thăm ông Tầu vài câu.</p>
<p>Tôi bùi ngùi với ý nghĩ bi giờ hai ông Tầu Chống Cộng ở đâu, hai ông làm gì?? Hôm nay có còn người Mỹ nào, kể cả người Tầu, nhớ, nhắc đến hai ông không ??? Tôi mong hai ông nay có cuộc sống an bình, không đến nỗi bị người đời bỏ quên, dù hai ông có bị chìm trong quên lãng thì mong hai ông được yên vui về tinh thần.</p>
<p>Tôi mong hai ông không bị rơi vào tình trạng “<em>không giống ai, không ai giống</em>” như Ông Tù Chính Trị Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện của chúng tôi.</p>
<p>Cảm khái cách gì!</p>
  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/hoanghaithuy.wordpress.com/2422/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/hoanghaithuy.wordpress.com/2422/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2422/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2422/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2422/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2422/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/hoanghaithuy.wordpress.com/2422/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/hoanghaithuy.wordpress.com/2422/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2422/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2422/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2422&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/18/chinh-tri-con-tin/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>8</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/03c798a8ae0d29bd847057c0e89c390b?s=96&#38;d=wavatar&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">hoanghaithuy</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/prisoners.png" medium="image">
			<media:title type="html">Chinese prisoners</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/sinh.png" medium="image">
			<media:title type="html">Wei Jingsheng </media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/bill.png" medium="image">
			<media:title type="html">Bill and Wei Jingsheng </media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Ngày Xưa Có Anh Trương Chi ..</title>
		<link>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/12/ngay-xua-co-anh-truong-chi/</link>
		<comments>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/12/ngay-xua-co-anh-truong-chi/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 12 Oct 2009 16:58:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hoanghaithuy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Viết Ở Rừng Phong]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://hoanghaithuy.wordpress.com/?p=2404</guid>
		<description><![CDATA[ 
Chiều Thứ Bẩy, khu thương xá Mít đầy Mít và toàn Mít. Lạc lõng dăm ba Khứa Sì lẻ loi. Chỉ có Mít và Tẫu. Chừng hai, ba anh Phú Lít Mẽo. Không phải Phú-lít của County mà là Phú-lít Tư do Chủ Mall mướn riêng. Giữa sân để xe có hai lá cờ song [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2404&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p><img src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/mynuong.jpg" alt="My Nuong" /> </p>
<p>Chiều Thứ Bẩy, khu thương xá Mít đầy Mít và toàn Mít. Lạc lõng dăm ba Khứa Sì lẻ loi. Chỉ có Mít và Tẫu. Chừng hai, ba anh Phú Lít Mẽo. Không phải Phú-lít của County mà là Phú-lít Tư do Chủ Mall mướn riêng. Giữa sân để xe có hai lá cờ song song bay theo gió: Cờ Việt Nam Cộng Hòa, Cờ Hoa Kỳ. Gập anh chủ báo:</p>
<p>- Anh có cái thư độc giả. Tháng trước đã để mất của anh một thư. Lần này cất kỹ để đưa anh ngay.</p>
<p>Anh đưa tôi lá thư. Nguyên văn như sau:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Virginia &#8230;</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Chú H.H.T kính mến,</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Đầu thư cháu kính chúc chú sức khỏe và vạn sự an lành. Cháu xin phép tự giới thiệu: cháu tên K.L., tuổi đời hơn Bốn Bó (Bốn Bó lẻ mấy que) nói theo văn từ của chú. Cháu là một trong số những độc giả thích đọc mục Viết Ở Rừng Phong. Cháu có chuyện này thực 100% xin kể chú nghe. Như thường lệ chồng cháu có &#8220;bổn phận&#8221; đi lấy những tờ báo mới ra. Buổi chiều đi làm về anh ôm một tập báo. Cháu lấy tờ báo có bài của HHT ra xem trước. Nhưng cháu thất vọng vì tờ báo chồng cháu mới lấy về là tờ tuần trước cháu đã đọc rồi. Chồng cháu áy náy về chuyện đã không cẩn thận khi lấy báo còn cháu thì cười nói không sao nhưng trong lòng không được vui.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Thời gian mới đây cháu vừa bị một accident nên cháu phải giới hạn việc tự lái xe, cháu đi làm phải có chồng hay con đưa đón. Sáng Thứ Hai cháu nhờ con cháu chở xe đến sở. Cháu không quên cầm tờ báo cũ đi theo. Con cháu thấy lạ nó hỏi Mẹ đem báo Việt vô sở làm gì? Bộ Mỹ nó đọc được báo Việt hay sao? Cháu chỉ cười mà không giải thích. Ba giờ chiều cháu từ sở ra. Chồng cháu đến đón. Lên xe một quãng cháu mới nói là em có mang theo tờ báo tuần trước, anh cho em đến Shop Sửa Xe của ông L.K để em đổi tờ báo mới tuần này. Chồng cháu ngại phải lái xe nên viện cớ mình vẫn đến lấy báo mỗi tuần vào ngày Thứ Sáu, chậm lắm là Thứ Bẩy, hôm nay đã Thứ Hai, báo đâu còn, đi mất công. Cháu nghe anh nói như vậy thì trong lòng hơi buồn nhưng cũng không nói gì. Xe chạy được một quãng chồng cháu đổi ý, chắc anh thấy cháu buồn nên nói: &#8220;Nếu em muốn đổi báo thì mình ghé đó may ra có thể còn báo mới.&#8221; Anh còn tế nhị nói tới đó ảnh sẽ đổ thêm xăng dù xe còn nhiều xăng còn cháu thì vào đổi báo. Ông chủ Shop vui vẻ nói khách quen lấy báo thì ông đưa chứ ông không để ý báo tuần trước, tuần này. Ông chỉ đống báo bảo cháu cứ thoải mái tìm tờ báo cháu cần. Cháu lục soát một lúc nhưng không thấy còn số báo mới có bài V.Ơ.R.P. Cháu lại buồn vì nghĩ thế là mình nhẩy mất một kỳ. Cháu cứ đứng lục soát mãi cũng kỳ nhưng bỏ đi ngay thì tiếc. Lỡ còn sót tờ nào thì sao. Cháu lục tìm lần cuối cùng và may mắn sao đến lần này cháu thấy tờ báo mới. Chỉ còn một tờ dành cho cháu mà thôi. Cháu mừng quá cám ơn ông chủ rối rít. Chồng cháu thấy cháu vui vì có tờ báo nên hỏi tại sao em thích đọc tờ báo ấy? Cháu trả lời em thích đọc bài ông HHT viết, ổng viết rất có duyên, những người lớn tuổi như mình thích văn nghệ văn gừng dễ thông cảm với những gì ổng viết lắm.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Cháu có nhận xét là những độc giả tuổi từ khoảng cháu trở lên, nếu rộng rãi một chút thì kể từ Ba Bó Lẻ, coi bộ thích đọc Viết Ở Rừng Phong hơn những độc giả tuổi dưới Ba Bó. Chú nghĩ sao?</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Cháu xin dừng bút nơi đây. Một lần nữa kính chúc chú được vui khỏe, may mắn.. Nếu cháu viết có lẩm cẩm hay sơ xuất điều gì xin chú bỏ qua cho.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Một độc giả.</em></p>
<p>- Này Em, thư độc giả của anh này..</p>
<p>Tôi đọc cho Alice nghe bức thư để nàng thấy bằng chứng là anh chồng nàng, sau hai mươi mùa Cô Hồn Đớp Cháo Lá Đa ở Thành Hồ, nay sang Mỹ viết văn nghệ, văn gừng vẫn còn có người thích đọc. Ngày xưa, những năm1970, có lần Alice nói:</p>
<p>- Em thích nhất là những lúc đang có ba bốn cô, ba bốn bà ngồi nói chuyện. Em vào, được giới thiệu: Đây là chị Hát Hát Tê, mắt các bà, các cô ấy sáng lên nhìn em.</p>
<p>Đấy là chuyện ngày xưa, xẩy ra cách đây đã những ba, bốn mươi mùa thu lá rụng. Vài chuyện xẩy ra gần hơn, những năm 1980, khi đứng trong đám người chen lấn trước những ghít-xê Nhà Bưu Điện hay ở Nhà Kho Tân Sơn Nhất chờ lãnh đồ từ nước ngoài gửi về, mỗi lần nghe tiếng nhân viên gọi tên người vào lãnh là Hát Hát Tê, thế nào cũng có mấy bà, mấy cô, hỏi nhau: &#8220;..Hát.. Hát.. Tê.. Ông nào là ông Hát.. Hát.. Tê..?&#8221;</p>
<p>Ở Bưu Điện Bình Thạnh &#8212; gần ngay trước cổng Trại Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, Cửa Ngõ Tù Đầy của những công dân Thành phố Hồ chí Minh quang vinh &#8212; khi đưa hộp quà từ Paris gửi về cho tôi, vị nữ lang nhân viên Bưu Điện, trạc bốn mươi xuân xanh, người Sài Gòn, khẽ hỏi:</p>
<p>- Ông là&#8230;.?</p>
<p>Tôi gật đầu:</p>
<p>- Vâng. Tôi là.</p>
<p>Nàng lại hỏi:</p>
<p>- Sao ông không đi?</p>
<p>Tôi không trả lời được nàng.</p>
<p>Một lần khác tôi đến Kho Hàng Tân Sơn Nhất lãnh đồ cùng với Huy Tường. Anh là họa sĩ, nhà ở Khu Cư Xá Kiến Thiết đường Trương Minh Giảng. Anh đã qua đời khoảng năm 2005. Khi tên tôi được gọi vào ghít-xê, các bà, các cô nhìn quanh tìm tôi, sì xào hỏi nhau: &#8220;Hát.. Hát.. Tê..? Ông nào đây?&#8221; Khi tôi vào đến ghít-sê, chị phụ trách thu tiền giấy tờ, phát giấy vào kho lãnh đồ, người miền Bắc XHCN, hỏi tôi:</p>
<p>- Ông là người nhiều người biết tên mà không biết mặt. Ông làm nghề gì thế?</p>
<p>Nhưng đó cũng là chuyện xưa rồi. Những chuyện xẩy ra đầu thập niên 1980. Từ 1990 trở đi tôi thấy dường như tôi chẳng còn nữ độc giả nào &#8212; chỉ là nữ độc giả từng đọc truyện của tôi thôi, từng loáng thoáng biết tên tôi thôi, khoan nói đến nữ độc giả ái mộ, tức là những người mê đọc những truyện tôi viết &#8212; dường như tất cả những nữ độc giả của tôi đều đã bỏ Thành Hồ đi sống ở những phương trời xa sôi nào khác. Trong đám đông khi tên tôi được gọi lên, tôi không còn thấy ánh mắt nào tìm kiếm, chờ đợi thấy người mang tên ấy nữa.</p>
<p>Mới đây một ông bạn đọc nguyên là Sĩ Quan Dù, phôn cho tôi:</p>
<p>- Tôi đọc anh từ những năm tôi mới nhập ngũ.. Anh có nhớ hình ảnh người thiếu phụ Sègoòng anh tả không? Tôi nhớ nè: Nàng trạc Hai Bó Sáu, Hai Bó Bẩy, dáng người thanh thanh, tóc để chấm vai không phi-zê, bận sơmi trắng dài tay, tay áo sắn lên, quần jeans, đi dép bằng gót, cổ tay không đeo đồng hồ mà đeo cái lắc bạc, tay xách cái sắc tròn làm bằng tre đan.. Sao tôi khoái cái sắc tre đan này quá.. Tả đàn bà Sègoòng những năm 60 như thế là nhất rồi. Năm xưa khi đọc anh tả nàng, tôi nghĩ người đàn bà này dám có uyên nguyên gì với người viết lắm ạ..</p>
<p>Lời nói của ông bạn gợi cho tôi nhớ đến Nàng &#8212; Nàng viết hoa cả bốn chữ, hoa luôn dấu huyền &#8212; người nữ độc giả năm xưa của tôi. Tất cả những nữ độc giả của tôi đều đẹp, không những các nàng chỉ đẹp mà thôi, các nàng còn là những người đàn bà đẹp nhất. Với tất cả lòng khiêm tốn và kiêu hãnh tôi viết là tôi có một số khá đông nữ độc giả thích đọc truyện tôi viết. Hôm nay tôi chỉ nhắc đến một người.</p>
<p>Người đàn bà đang hiển hiện trong tiềm thức của tôi khi tôi viết những dòng này, là người đàn bà đẹp nhất trong số những người đàn bà đẹp đẹp nhất Sàigòn. Nàng đẹp và Nàng đa tình. Nàng đẹp và nàng đa tình là chuyện tất nhiên. Nàng đẹp mà nàng không đa tình mới là chuyện lạ.</p>
<p>Năm tôi gập nàng là năm 1974, năm nàng xa tôi, năm tôi không còn được gập nàng ở Sài Gòn nữa là năm 1975. Từ ấy đến nay đã ba mươi mấy mùa thu lá bay không biết nhau ăn gà xé phay ở phương trời nào, nàng có khi nào tưởng nhớ đến tôi không, còn tôi thì tôi&#8230;</p>
<p>Thời gian qua khá lâu rồi, tưởng đã đến lúc tôi có thể bật mí đôi điều về đời tư người nữ độc giả đẹp và đa tình của tôi. Nàng là con gái Nha Trang quê hương thùy duơng cát trắng. Năm mười bẩy tuổi trời mưa ướt áo nàng bị gia đình ép lấy một người chồng nàng không yêu. Để đỡ buồn chứ không phải vì sinh kế nàng làm chủ một quán ăn điểm tâm và bán bia, nước ngọt ở trung tâm Sài Gòn. Bạn tôi, anh Chàng Phi &#8211; ký giả Chàng Phi từng một thời nổi tiếng với mục <em>Mỗi Ngày Một Truyện</em> trên Nhật báo Ngôn Luận &#8212; thường ngồi uống bia ở quán Nàng.</p>
<p>Một hôm gập nhau Chàng Phi bảo tôi:</p>
<p>- Ê.. Có một bà mê đọc truyện của mày lắm. Biết tao quen mày bà ấy nhờ tao mời mày đến cho bà ấy được gập..</p>
<p>Anh hẹn ngày giờ chờ tôi ở chỗ hẹn. Tôi nói tôi đến nhưng đến ngày hẹn tôi không đến. Một trong những cái tật của tôi là tôi rất sốt sắng và dễ dàng hẹn để rồi sai hẹn. Ít lâu sau gập lại Chàng Phi, anh trách:</p>
<p>- Sao mày hẹn mà mày không đến? Để người ta chờ..</p>
<p>Tôi lửng lơ con cá vàng:</p>
<p>- &#8230; Gập nữ độc giả chỉ mất thì giờ, chẳng ăn cái giải gì..</p>
<p>Lúc ấy ngồi cùng bàn với Chàng Phi ở Pagode có một người bạn của Chàng Phi. Ông này trạc tuổi chúng tôi, ông là luật sư. Nghe tôi nói thế, ông bạn luật sư nói:</p>
<p>- Độc giả người ta đọc văn anh người ta thích, người ta muốn gập anh. Anh không đến gập người ta thì thôi, anh còn đòi ăn cái giải gì?</p>
<p>Ông bạn sửa lưng tôi đúng. Tôi xấu hổ. Nghĩ lại tôi thấy ngày xưa ấy tôi mắc cái bệnh gọi là Bệnh Trương Chi. Ngôn từ thập niên 1980 gọi là &#8220;hội chứng&#8221;. Tôi gọi là bệnh cho ngắn gọn và trong sáng. Nhưng trước khi nói đến cái gọi là &#8220;Bệnh Trương Chi&#8221;, tôi cần viết về điển tích Trương Chi trước đã. Rất có thể những độc giả lứa tuổi Bốn Bó năm nay có nhiều vị không nắm vững gì cho lắm về chuyện &#8220;<em>Ngày xưa có anh Trương Chi</em>&#8230;&#8221;</p>
<p>Những năm19 ba mươi mấy của Thế Kỷ Hai Mươi Trần Ai Khoai Củ, chú bé lúc ấy mới hai ba tuổi, chú bé ba mươi mùa lá rụng sau trở thành Công Tử Hà Đông, mùa đông nằm ấm trong lòng mẹ, được nghe Mẹ kể chuyện Tấm Cám, Thạch Sanh, Phạm Công &#8211; Cúc Hoa. Đến chuyện Trương Chi thì chú được bà mẹ dậy truyền khẩu trọn vẹn bài thơ. Từ ấy cho đến Tám, Chín Mười Mươi mùa ổi chín sau đó khi chú nhỏ trở thành ông già chú vẫn còn nhớ như in bài thơ bà mẹ chú dậy chú ngày xưa:</p>
<p style="text-align:center;"><em>Ngày xưa có anh Trương Chi<br />
Người thì thậm xấu, hát thì thậm hay<br />
Cô Mỵ Nương vốn ở Lầu Tây<br />
Con quan Thừa Tướng ngày rày cấm cung.<br />
Anh Trương Chi vốn ở dưới sông<br />
Chèo đò ngang dọc đêm đông dãi dầu.<br />
Đêm thanh vắng anh mới hát một câu<br />
Gió đưa văng vẳng đến lầu cô Mỵ Nương<br />
Cô Mỵ Nương nghe tiếng hát thì thương<br />
Hầu trông thấy mặt anh chường lại chê.<br />
Anh Trương Chi tức giận ra về<br />
Cắm sào cho chặt mới thề một câu<br />
- Kiếp này đã dở dang nhau<br />
Thì xin kiếp khác duyên sau lại lành..</em></p>
<p>Kể ngắn gọn là ngày xưa anh Lái Đò Trương Chi mặt mũi xí trai nhưng có giọng hát cực hay, siêu mùi mẫn mê ly hất hủi. Là lái đò tất nhiên anh sống ở dưới sông. Cô Mỵ Nương con gái Quan Thừa Tướng, một tên khác là Tể Tướng, tức Thủ Tướng đời chúng ta, ở trên cái lầu phía Tây dinh phủ nên gọi là Lầu Tây. Không những cô Mỵ Nương chỉ sống buồn trong Dinh Thừa Tướng, cô còn bị cấm cung nữa. Cấm cung có nghĩa là cấm xuất cung, tức là cô Mỵ Nương bị cấm không được ra khỏi Lầu Tây, cũng giống như nhiều thế kỷ sau con cháu Ông Lái Đò Trương Chi có câu: &#8220;<em>Một chăm Em ơi.. Một chăm phần chăm.. Chiều nay lại cấm trại rồi</em>..&#8221; Cấm trại đây là cấm xuất trại, cấm binh sĩ ra khỏi doanh trại. Cô Mỵ Nương bị sống cấm cung ở Lầu Tây ngày đêm buồn quá không có việc gì mần cho đỡ buồn &#8212; Cô không có TiVi, Video, không có tô-lô-phôn gọi đi đấu hót, không có cái gọi là Anh Te Nét để mở ra mò chơi, lại hổng có cả tiểu thuyết diễm tình để đọc. Cô nghe tiếng hát của anh Lái Đò Trương Chi từ dưới sông vẳng lên cô mê và cô nằng nặc đòi gập mặt anh.</p>
<p>Kể ra cái cô Mỵ Nương này cũng kỳ. Người ta hát hay thì nghe người ta hát, thưởng thức tiếng hát của người ta là đủ rồi. Đòi gập mặt người ta làm kí gì? Làm cho người ta tưởng bở, tưởng cô mê con người của người ta, đó là cái tội của cô. Đến đây người viết xin tạm cất cô Mỵ Nương vào Lầu Tây để viết về anh Trương Chi.</p>
<p>Viết về cái gọi là &#8220;Hội chứng Trương Chi&#8221; thì đúng hơn. Anh Trương Chi có cái bệnh kỳ cục mà dường như tất cả những ông nhà dzăng, nhà thơ, nhà kép hát nào trên cõi đời này cũng ít nhiều, nặng hay nhẹ, mắc phải. Đó là cái bệnh cứ thấy đàn bà, con gái mê tài mình, thích đọc truyện mình viết, ngẩn ngơ vì thơ mình mê ly, ngất ngư vì giọng ca mình mùi mẫn v.v.. là tự nhiên, ô-tô-ma-tít, cho là người ta mê luôn cả con người ăn tục, nói phét của mình, lập tức tự cho mình cái quyền đòi hỏi người ta phải yêu mình, phải cho mình &#8220;yêu&#8221;. Người ta &#8212; xin nhắc lại và nhấn mạnh: &#8220;người ta&#8221; đây là đàn bà, con gái, &#8220;người ta&#8221; đực rựa thì.. Không Dám đâu &#8212; &#8220;người ta&#8221; không cho mình làm tới thì cho là &#8220;người ta&#8221; lừa mình.</p>
<p>Vị Tổ Sư cái bệnh này là anh Lái Đò Trương Chi. Cô Mỵ Nương mê tiếng hát của anh còn anh thì anh nghĩ cô Mỵ Nương đã mê tiếng hát của anh tất cô phải mê luôn cả con người lái đò của anh, cô có bổn phận phải làm vợ anh. Anh xí trai quá cô không chịu và thế là anh thất tình, anh phẫn chí, anh không thiết sống nữa. Sau khi cắm sào thật chặt, hẹn hò kiếp sau lai sinh anh sẽ đẹp trai, anh với nàng sẽ thành dzợ, thành chồng, anh nhẩy xuống sông đi một đường tầu suốt.</p>
<p>Lái đò nhà nghề tự tử bằng cách nhẩy xuống sông kể cũng hơi lạ. Nhưng ta nên bỏ qua chi tiết này. Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Chỉ cần biết là anh Lái Đò Ca Sỡi Trương Chi chết, cô Mỵ Nương sau đó ra khỏi Lầu Tây, lên xe bông về nhà chồng. Chồng cô là Trạng Nguyên đẹp trai, học giỏi, hào hoa phong thấp cùng mình. Con cô sinh ra khôi ngô, tuấn tú, thông minh. Chồng cô thay thế Ông Nhoong Nhoong làm Thừa Tướng. Con cô về sau cũng đỗ Trạng Nguyên như bố, cũng làm Thừa Tướng như ông Ngoại. Cô sống hạnh phúc trọn đời. Đôi khi cho chạy một đĩa XiĐi tình cờ cô nghe lại giọng hát của chàng Lái Đò Ca Sỡi ngày xưa trái tim Mỵ Nương của cô có bồi hồi chút nào không thì chỉ có mình cô biết.</p>
<p>Nhưng.. ta có nên hoàn toàn kết anh Lái Đò Ca Sỡi vào tội đòi hỏi tầm bậy tầm bạ hay không? Cô Mỵ Nương nghe tiếng anh hát, cô mê tiếng hát của anh rồi cô tưởng tượng ra người có tiếng hát tuyệt vời ấy; người có tiếng hát ấy là người rất.. rất đẹp trai.. Chàng phải rất đẹp trai thì chàng mới có tiếng hát thiên thần ấy. Cô mơ chàng và cô ốm tương tư, nằm liệt, bỏ ăn, bỏ uống, hai tay bắt chuồn chuồn, bắt cả cào cào, châu chấu. Bác sĩ bó tay. Thừa Tướng cuống quýt. Hỏi cô muốn gì, cô thều thào cô muốn gập người có tiếng hát cô thường nghe mỗi đêm. Lại hỏi cô gập anh ta để làm gì? Cô nói cô mê ảnh, cô muốn làm dzợ ảnh&#8230;</p>
<p>Thừa Tướng sai Phú Lít Đặc Biệt đi bắt Lái Đò Trương Chi. Bắt cái đã. Chuyện mời tính sau. Khi thấy Công An ào ào đến nhà bắt con mình, bà mẹ Trương Chi tá hỏa tam tinh. Rất có thể bà được những Ông Cò thời ấy, những Ông Cò chịu chơi giống những ông Cò Ly, Cò Hùng Sùi thời mới đây, thương hại bảo cho biết:</p>
<p>- Bà lão hổng có chi phải sợ. Thừa Tướng cho lệnh bọn tôi đến mời anh Trương về tướng phủ là để Tiểu thư Mỵ Nương xem mặt. Tiểu thư mê tiếng hát của anh Trương, muốn gập mặt anh Trương để kết duyên cầm sắt. Bà có thể trở thành Chị Sui của Thừa Tướng đấy, bà sắp sẵn heo gà ăn mừng đi là vừa.</p>
<p>Rất có thể chuyện đã xẩy ra như dzậy nên anh Lái Đò Trương Chi mới tưởng bở. Phải chi anh nghĩ:</p>
<p>- Ối dzời ôi.. Mấy cô tiểu thư ăn không, ngồi dzồi, lãng mạn vẩn vương, mơ màng con cuốc. Mấy cô thích nghe hát thì nuôi tui rượu thịt, tui hát cho mà nghe. Dzợ chồng ký gì hổng biết nữa. Chuyện cà chớn.. Làm ơn cho tui hai chữ bình an..!</p>
<p>Nếu anh nghĩ dzậy thì anh đã hổng đi đến hành động đau thương là cắm sào cho chặt, thề thốt một mình trên dòng sông vắng rồi bơ-lông-dzông xuống sông.. Nhưng nếu anh mà nghĩ như dzậy thì cõi đời này làm gì có chuyện tình Trương Chi &#8211; Mỵ Nương, làm gì có những anh Con Trai Bà Cả Đọi tự cho mình cái quyền được làm chồng những tiểu thư khuê các lá ngọc cành vàng. Chỉ vì không được toại nguyện nhiều ảnh đi theo Cộng Sản, mấy ảnh phá làng, phá xóm, hại dân, hại nước.</p>
<p>Hai mươi mấy mùa thu lá bay trong dzĩ dzãng, buổi chiều ngồi ở Pagode với Chàng Phi, khi nói mấy câu &#8220;&#8230;<em>Chẳng ăn cái giải gì</em>..&#8221; tôi đang mắc cái bệnh gọi là &#8220;Bệnh Trương Chi&#8221;. Thời ấy tôi mắc &#8220;Bệnh Trương Chi&#8221; mà tôi hổng biết. Tuy dốt nát, kém thông minh nhưng được cái tính phục thiện, biết cái tốt, cái xấu, tôi vẫn luôn luôn cố gắng làm theo cái tốt, chỉ đôi khi khó khăn quá, chẳng đặng đừng tôi mới bất đắc dzĩ làm theo cái xấu mà thôi. Tôi thấy tôi nói: &#8220;<em>Gập nữ độc giả chỉ mất thì giờ.. Chẳng ăn cái giải gì</em>..&#8221; là bậy quá. Tôi hẹn ngày giờ gập lại nữ độc giả của tôi.</p>
<p>Tôi đến gập nàng, người nữ độc giả ái mộ những truyện tôi viết và tôi như Lái Đò Trương Chi khi được nhìn thấy dung nhan Tiểu Thư Mỵ Nương. Vì không có con thuyền nát như Trương Lái Đò nên tôi không thể cắm sào cho chặt, nhưng tiếc của trời thì cũng như mọi anh Con Trai Bà Cả khác trên cõi đời này, tôi tiếc ơi là tiếc. Và cũng giống như Lái Đò Trương Chi tôi cũng thầm nói với nàng: &#8220;.. Mùa thu lá bay hẹn nhau kiếp sau ăn gà xé phay&#8221;.</p>
<p>Nàng đi khỏi Sài Gòn trước Ngày Oan Nghiệt Trời Long Đất Ngả Nghiêng. Hai mươi năm vất vả và vất vưởng sống ở Thành Hồ có nhiều lúc tôi nhớ nàng &#8212; nhớ những nữ độc giả ái mộ thơm như múi mít của tôi nay tản mạn đi sống ở bốn phương trời, mười phương đất, ở những nơi tôi thường viết là chân trời, góc biển, cuối bãi, đầu ghềnh, sơn cùng, thủy tận. Và tôi đã hơn một lần viết những bài Văn Nghệ Văn Gừng kiểu này về những nữ độc giả ái mộ của tôi năm xưa.</p>
<p style="text-align:center;">- &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; - &#8211; -</p>
<p>Xin cám ơn người Nữ độc giả Virginia của Những Người Yêu đã gửi cho tôi bức thư dài ba trang. Người viết được bạn đọc viết thư cho là rất quí. Bốn mươi mùa thu lá bay trước tôi quí trọng những bức thư bạn đọc gửi cho tôi mười phần, năm nay ở vào những đoạn đường chiều nắng quái cuối cùng của cuộc đời tôi quí trọng thư bạn đọc trăm phần. Thư của người nữ độc giả Virginia làm tôi nhớ lại thời hoa niên của tôi. Thời ấy tôi còn trẻ lắm, tôi chỉ mới có ba mươi tuổi..</p>
<p>Khi ngồi vào bàn trước khung cửa sổ nhìn ra Rừng Phong tôi định viết một bài trả lời riêng người bạn đọc vừa gửi thư cho tôi nhưng theo thông lệ, tôi viết lang bang sang chuyện khác. Giấy vắn tình dài, trang báo phải để dành cho quảng cáo. Đến đây xin tạm chấm dứt Chương Trình của Ban Tùm Lum!</p>
<p>Nhưng trước khi tạm chấm dứt Chương Trình của ban Tùm Lum tôi thấy cần viết thêm vài giòng. Chi tiết ông chồng người nữ độc giả của tôi cảm biết vợ ông buồn nên ông chiều nàng, lái xế đi lấy tờ báo là một chi tiết đúng và cảm động. Những cặp vợ chồng yêu thương nhau thường cảm biết nhau nghĩ gì, buồn hay dzui mà không cần phải hỏi hay phải nói. Những người yêu nhau cảm biết ý nhau mà không cần cả nhìn mặt nhau. Như Anh Chị Con Trai Bà Cả Đọi chẳng hạn. Mỗi khi anh làm gì để chị buồn, chị chẳng nói chẳng rằng hoặc anh hỏi chị trả lời ấm ớ, nhát gừng. Thế là anh biết chị giận, chị buồn và anh líu quíu tìm cách làm chị dzui trở lại.</p>
<p>Một buổi tối năm xưa, năm 1981, hay năm 1982, khoảng sáu, bẩy giờ tôi đứng trên vỉa hè Ngã Ba Ông Tạ. Trời sâm sẩm tối, dòng xe cộ Thành Hồ đông, nườm nượp, hỗn độn, xô bồ hơn bao giờ hết. Một chiếc xe ba bánh có gắn máy chạy qua ngã ba. Từ trong con đường Chợ Ông Tạ chiếc ô tô của bọn Cán Cộng &#8212; Thành Hồ những năm 1980 chỉ có Cán Cộng là đi xe ô tô &#8212; xe ô tô Cán Cộng dzọt ra, đụng xe ba bánh.</p>
<p>Xe ba bánh lật. Người phụ nữ ngồi trong xe ba bánh văng xuống đường. Đại hán lái xe ba bánh &#8212; trạc 50 tuổi, bận cái áo treillis xanh &#8212; bỏ mặc chiếc xe đổ nằm nghiêng giữa đường, ông đi đến đỡ bà vợ ông đứng lên. Ông vuốt tóc bà, phủi bụi trên lưng áo bà, ông hỏi bà em có đau lắm không? Hai vợ chồng &#8212; bất chấp xe qua, lại, bất kể chiếc xe ba bánh nằm nghiêng chẩy xăng nhớt ra đường &#8212; hỏi nhau, an ủi, vuốt ve nhau giữa đường&#8230;</p>
<p>Tôi về nhà kể chuyện với Alice, và tôi nức nở:</p>
<p>&#8211; Anh cảm động quá em ơi.. Đại hán ta chạy xe ba bánh gắn máy hay quá. Nếu anh chạy xe ba bánh có em ngồi, bị xế ViXi ăn cướp đụng nhào, em văng xuống đường, anh cũng làm như Đại Hán Ba Bánh. Anh đến nâng em dậy chứ anh hổng thèm để ý gì đến cái xe, anh cũng mặc mẹ mấy thằng Cán Cộng&#8230; Lúc anh đứng nhìn vợ chồng Đại Hán ôm nhau giữa đường anh tưởng anh là Đại Hán và anh đang ôm em&#8230;!</p>
  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/hoanghaithuy.wordpress.com/2404/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/hoanghaithuy.wordpress.com/2404/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2404/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2404/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2404/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2404/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/hoanghaithuy.wordpress.com/2404/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/hoanghaithuy.wordpress.com/2404/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2404/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2404/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2404&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/12/ngay-xua-co-anh-truong-chi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/03c798a8ae0d29bd847057c0e89c390b?s=96&#38;d=wavatar&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">hoanghaithuy</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/mynuong.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">My Nuong</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Nhà Văn Câu Tiễn</title>
		<link>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/10/nha-van-cau-tien/</link>
		<comments>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/10/nha-van-cau-tien/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 10 Oct 2009 00:17:09 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hoanghaithuy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Viết Ở Rừng Phong]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://hoanghaithuy.wordpress.com/?p=2395</guid>
		<description><![CDATA[Đây là bài thứ hai tôi viết về Hồi Ký “Cát Bụi Chân Ai” của “Nhà văn Xã Hội Chủ Nghĩa Bắc Việt Cộng” Tô Hoài, “Nhà Văn Bồi Bút” điển hình của văn nghệ Bắc Cộng.
Trong Hồi Ký Cát Bụi Chân Ai, Tô Hoài đề cao Nguyễn Tuân, viết rất nhiều chuyện linh tinh [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2395&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p>Đây là bài thứ hai tôi viết về Hồi Ký “<em>Cát Bụi Chân Ai</em>” của “Nhà văn Xã Hội Chủ Nghĩa Bắc Việt Cộng” Tô Hoài, “Nhà Văn Bồi Bút” điển hình của văn nghệ Bắc Cộng.</p>
<p><img style="margin:0 0 0 10px;" src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/hungary.png" alt="Hungary" align="right" />Trong Hồi Ký <em>Cát Bụi Chân Ai</em>, Tô Hoài đề cao Nguyễn Tuân, viết rất nhiều chuyện linh tinh về Nguyễn Tuân. <em>Cát Bụi Chân Ai</em> mở đầu bằng chuyện Nguyễn Tuân:</p>
<p><strong><em>Cát Bụi Chân Ai</em></strong>. Trang 5, 6. Trích:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Tôi kém Nguyễn Tuân mười tuổi&#8230;( ,, ,, )</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>&#8230; Thấy Nguyễn Tuân ngồi trong nhà hàng Hoàng Gia, cái quán rượu kiểu Pháp che cánh sáo ra kín vỉa hè. Nhà văn chơi chua khác đời. Khăn lượt vồ, áo gấm trần, tay chống dọc chiếc quạt thước thay ba toong, chân bít tất dận giày mõm nhái Gia Định. Năm ấy, Nguyễn Tuân cũng chỉ khoảng trên ba mươi đôi chút.</em></p>
<p>Và kết thúc bằng chuyện Nguyễn Tuân chết, Trang 336, trang cuối cùng của <em>Cát Bụi Chân Ai</em>. Trích:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Buổi sáng một người của nhà nghỉ đến bảo Đào Vũ và tôi:</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>- Đêm qua nghe đài báo tin nhà văn Nguyễn Tuân mất rồi.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Tôi nghĩ như tôi vẫn ngồi uống một mình, Nguyễn Tuân đã nằm yên từ buổi sáng trước hôm chúng tôi ra đây. Ô hô, Nguyễn Tuân! Nguyễn Tuân ôi!</em></p>
<p>Tuy thán phục và đề cao Nguyễn Tuân, Tô Hoài cũng không thể không viết về thái độ đàn em, có phần cung kính, của Nguyễn Tuân đối với Tố Hữu. Tô Hoài kể trong <em>Cát Bụi Chân Ai</em> Nguyễn Tuân và Xuân Diệu được kết nạp vào Đảng năm 1950 ở chi bộ Đảng báo Cứu Quốc ở Việt Bắc. Hai đảng viên giới thiệu, tức bảo lãnh, cho Nguyễn Tuân, Xuân Diệu vào Đảng là Tố Hữu và Nguyễn Huy Tưởng. Từ ấy cho đến lúc chết Nguyễn Tuân một lòng biết ơn và thần phục Tố Hữu.</p>
<p><strong><em>Cát Bụi Chân Ai</em></strong>. Trg 185. Trích:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Mỗi lần cáu kỉnh, Nguyễn Tuân vùng vằng nói: “Thế này thì tao đem trả thẻ Đảng cho Tố Hữu”. Nhưng chưa bao giờ Nguyễn Tuân làm thế. Chỉ thấy mỗi năm, dịp kỷ niệm ngày vào Đảng, hay tết nhất Nguyễn Tuân đến chơi Tố Hữu. Thế nào cũng cầm lên mấy bông hồng vàng lòng trứng gà. Trước sau tề chỉnh hầu như đã thành nếp. Cũng là “miệng xà” thôi&#8230;</em></p>
<p>“<em>Miệng xà</em>” nhưng tâm không phải là tâm đảng viên cộng sản mà là tâm tay sai của đảng viên cộng sản. Thái độ của Nguyễn Tuân đối với Tố Hữu là thái độ của tên mang ơn mà ông cha ta ngày xưa gọi là “<em>sống tết, chết giỗ</em>”: ông còn sống thì ngày Tết con mang đồ biếu đến chúc Tết, chúc thọ ông, ông chết thì ngày giỗ ông con đến sì sụp lậy ông trước bàn thờ ông. Anh tác giả <em>Vang Bóng Một Thời</em> chỉ nói phét, anh chỉ dám nói bậy sau lưng Tố Hữu, anh chỉ dám nói nhảm với một hai người bạn cũng hèn như anh, bố anh bảo anh anh cũng không dám đem thẻ đảng viên trả lại kẻ đã có ơn đưa anh vào Đảng là Tố Hữu. Không những không dám khinh rẻ cái thẻ đảng viên cần câu ruợu thịt cho cái lỗ mồm anh và cơm áo cho vợ con anh, suốt một đời dài Nguyễn Tuân không dám mở miệng chỉ trích Tố Hữu nửa câu. Đừng nói dám cả gan khinh bỉ Đảng nó bằng cách ngang nhiên tự ý bỏ Đảng, chỉ cần anh tỏ ra không tuyệt đối trung thành với nó thôi là nó đã cho cả nhà anh đói nhăn răng ra.</p>
<p>Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng là bốn anh bồi bút được Tố Hữu cho đi đớp hít nhiều nhất ở Liên Xô và các nước bị Cộng Sản chiếm ở Đông Âu.</p>
<p>Những năm 1976, 1977, bọn văn công Bắc Việt Cộng đem hai chuyện về Nguyễn Tuân vào Sài Gòn. Chuyện thứ nhất: Trong một cuộc gặp văn nghệ sĩ, Phạm văn Đồng hỏi:</p>
<p>- Theo các anh trong xã hội xã hội chủ nghĩa của ta người nào khổ nhất?</p>
<p>Nguyễn Tuân trả lời:</p>
<p>- <em>Trong xã hội ta người lương thiện là người khổ nhất!</em></p>
<p>Tôi nghĩ: không có chuyện như thế, chuyện ấy là chuyện biạ. Không bao giờ Phạm văn Đồng nó lại ngồi nói chuyện thân mật với bọn văn nghệ sĩ bị rọ mõm, nó lại càng không bao giờ ngu xuẩn mở mồm hỏi trong xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp, trong sáng, công bình, đầy tình người của nó “ai là người khổ nhất?” Bởi vì nó vẫn nói trong xã hội của nó không có ai khổ cả, nó vẫn khoe trong xã hội của nó tất cả mọi người đều sung sướng. Và bố bảo anh Nguyễn Tuân cũng không dám nói với nó: “<em>Trong xã hội xã hội chủ nghĩa người lương thiện là người khổ nhất</em>.” Không những chỉ bố anh bảo, ông nội anh, luôn cả ông ngoại anh bảo, anh cũng không dám mở miệng nói một câu như thế với tên cộng sản có quyền bỏ tù anh mút chỉ.</p>
<p>Nếu trong một xã hội mà người lương thiện là người sống khổ sở nhất thì em nhỏ lên ba nó cũng biết đó là cái xã hội thối nát nhất, bất công nhất, khốn nạn nhất, bọn cầm quyền cái xã hội đó là bọn lưu manh đệ nhất trên đời. Anh Nhà Văn Bồi Bút Rọ Mõm mà nói một câu như thế họa chăng anh có là con nó Phạm văn Đồng nó mới để cho anh yên, anh có là bố nó nó cũng cho anh đi cải tạo &#8212; huỵch toẹt và Việt Cộng chân chính kiêm chuyên chính là đi tù, đã tù mà còn là tù khổ sai &#8212; nó cho anh đi tù mút chỉ cà tha, tù mút mùa Lệ Thu, tù mút luôn mùa Lệ Thủy, tù chết cũng không được nó tha về.</p>
<p>Chuyện thứ hai: Nguyễn Tuân nói:</p>
<p>“<em>Tôi sống được là vì cả đời tôi, tôi biết sợ</em>!”</p>
<p>Chuyện thứ hai có thể là chuyện thật.</p>
<p>Một chuyện khác về bản chất con người Nguyễn Tuân. Chuyện này do chị Trịnh thị Uyên, vợ cuả đảng viên CS Nguyễn Huy Tưởng, người cùng Tố Hữu bảo lãnh Nguyễn Tuân vào Đảng, chuyện được ghi trong:</p>
<p><em><strong>Nhà Văn Qua Hồi Ức Người Thân</strong></em>. Nhà Xuất bản Văn Hoá Thông Tin Bắc Việt Cộng, phát hành năm 2001. Tiểu mục: <em>Nhà tôi &#8212; Kỷ niệm của một thời và mãi mãi</em>. Người viết Trịnh thị Uyên. Trang 59. Trích:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Loé sáng lên duy nhất trên cái nền ảm đạm mà tôi nhớ về nhà tôi những ngày này, là cái ngày chủ nhật mùng 4 tháng 11 năm 1956 đáng ghi nhớ ấy, khi đang đêm anh Nguyễn Tuân xộc đến báo tin mừng cho nhà tôi về tình hình Hungari đã trở lại ổn định; rồi các anh ấy hớn hở rủ nhau đi truyền tin vui cho các anh em khác. Được khích lệ bởi cái sự kiện đem lại niềm tin vào một thực tế tốt đẹp hơn, nhà tôi đã hoàn thành bài tùy bút vẫn để lay lứt suốt mấy hôm liền.</em></p>
<p>Ngày 4 tháng 11 năm 1956..! Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày ấy. Đó là ngày bọn đầu xỏ Đảng Cộng Sản Liên Xô &#8212; đúng và huỵch toẹt là Nga Cộng &#8212; cho xe tăng, trọng pháo và lính Nga vào Budapest, thủ đô Hung Gia Lợi, đàn áp cuộc nổi dậy đòi tự do của nhân dân Hung. Bọn Hung Cộng đã bó tay trước cuộc nổi dậy này, bọn đầu xỏ Nga Cộng quíu đít. Đó là ngày mà Thi sĩ Thanh Tâm Tuyền làm bài thơ thương khóc nhân dân Hung, bài thơ tôi đọc bốn 50 năm trước trên tạp chí Sáng Tạo ở Sài Gòn năm tôi hai mươi ba tuổi, bài thơ tôi còn nhớ hai câu:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Cho anh khóc bằng mắt em<br />
Những mối tình Budapest&#8230;!</em></p>
<p>Gần nửa thế kỷ sau ngày tôi đọc bài thơ ấy, đêm đông xứ người, phòng ấm, đèn vàng, yên tĩnh hai chăm phần chăm, nằm đọc mấy bài viết của bọn vợ con những anh nhà văn bồi bút kiêm bị rọ mõm đã chết ở Hà Nội XHCN viết về chồng con họ, đến đoạn vợ anh Nguyễn huy Tưởng viết kể chuyện đang đêm chủ nhật 4 tháng 11 năm 1956, anh cu Nguyễn Tuân chạy xộc vào nhà báo “<em>tin mừng</em>” cho anh cu Nguyễn huy Tưởng biết là “<em>Nga Xô đã cho xe tăng vào Buđapét dẹp loạn, bọn nổi dậy bị bắt hết rồi</em>..!” Rồi hai anh “<em>vui mừng</em>” chạy nháo đi báo cái “<em>tin mừng</em>” ấy cho những anh bồi bút khác, tôi ngạc nhiên, tôi nghĩ mấy thằng này chúng nó là cái thứ người gì? Tại sao chúng nó lại có thể vui mừng vì một sự việc khốn nạn đến như thế? Nhân dân Hung sống không có tự do trong gông cùm cộng sản nên họ đòi tự do, việc họ làm có tính chính trị, bọn cầm quyền phải giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị bằng những phương thức chính trị, chỉ có khi cùng đường, bí lối, nếu không dùng đến súng đạn thì thua, bọn cầm quyền mới phải dùng đến xe tăng, đại bác, đến lính. Bọn Nga Cộng đưa xe tăng Nga, lính Nga vào đất Hung là chúng công khai xâm lăng quốc gia Hung, chúng đập tan quyền tự quyết, quyền đòi được sống tự do, hạnh phúc của nhân dân Hung. Làm cái việc tàn bạo đó bọn Nga Cộng cũng đánh lên tiếng chuông báo tử của chế độ cộng sản và chủ nghĩa cộng sản. <em>Không phải đến năm 1988 chế độ Cộng sản mới sụp đổ, cái chế độ đó đã sụp, đã đổ từ ngày 4 tháng 11 năm 1956 ở Budapest, thủ đô nước Hung Gia Lợi</em>.</p>
<p>Bọn cộng sản làm cho những người không may phải sống trong vòng kìm kẹp của chúng lúc nào cũng sợ hãi, cũng thấy là mình có tội. Chúng làm cho ngay cả bọn tay sai của chúng cũng phải sống trong tình trạng sợ hãi thường xuyên. Chúng cho bọn văn nô tay sai kể tội nhau, bới móc nhau. Tô Hoài kể về thủ đoạn khủng bố ấy cuả bọn đầu xỏ cộng sản:</p>
<p><strong><em>Cát Bụi Chân Ai</em></strong>. Trang 110, 111, 112. Trích:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Tôi mơ hồ, mất cảnh giác mọi mặt. Các cơ quan, Hội và nhiều công tác bị lũng đoạn. Báo Nhân Văn, nhà xuất bản Minh Đức không còn, nhưng tư tưởng Nhân Văn-Giai Phẩm vẫn tồn tại, làm lệch lạc chúng tôi.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Ngổn ngang tâm sự và tâm trạng, chua chát, mỉa mai lại hài hước. Có người quen thân, có người chỉ sơ sơ, bây giờ moi móc những việc, những lời đã nói, bất kể lúc nghiêm trang hay khi bông đuà, được dẫn chứng bằng cớ, phân tích cho mình rõ ranh giới địch ta. Chỉ có Nguyễn Tuân mới nhớ lâu và để bụng những câu góp ý ấy. Có những người rồi không bao giờ dàn mặt nữa. Tôi nhớ suốt buổi ngồi chịu trận nghe nói xa xả, vi vút. Kim Lân kể dạo ở trên chợ Chu trong một cuộc kiểm điểm, Ngô Tất Tố bị một anh xưa nay bác Ngô vẫn coi không ra gì, bây giờ phải nghe anh ấy sát phạt, lên lớp, Ngô Tất Tố quệt nước mũi vào gốc cây, sụt sùi nói với Kim Lân:</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>“Làm người khó lắm, bác ạ..”</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Khổ một nỗi, có người nghe phê bình cứ tiếp thu thun thút, còn minh hoạ thêm lỗi mình nữa. Cũng vẫn không được tin, bảo là hời hợt, trốn đấu tranh. Có người bỗng thật thấy mình sai, nhận ngay cũng lại bị cho là nông cạn, con vẹt. Nguyên Hồng trình bày, lại đặt chồng báo Văn ra trước mặt, giở từng số, vừa khóc vừa nói. Chịu chẳng ai nghe ra thế là kể công hay là nhận tội. Tôi dự những cuộc chỉnh huấn đã nhiều, có người lo quá cả tháng không chợp mắt, như con ma ngồi trước mặt, như ở báo Cứu Quốc, một cậu còn trẻ, vào rừng thắt cổ &#8212; nhưng chưa thấy ở đâu quanh cảnh như thế.</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>( &#8230;.. )</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Nửa đêm trở dậy, giữa rừng đốt hàng trăm bó đuốc lên, lấp loáng băng khẩu hiệu vải đen, chữ trắng&#8230; Bộc lộ khuyết điểm&#8230; Thước đo lòng trung thành.. Trời rét cắt ruột.. Rừng đêm tối như mực. Con người bẩn thỉu, lỗi lầm đầy rẫy&#8230; Chưa! Chưa đủ thành khẩn! Làm lại! Lại làm lại. Mỗi lần làm lại, càng ngày càng áy náy lo. Cái chờ đợi được tổ thông qua cứ xa vời vợi. Chỉ có bộc lộ tội hủ hoá là dễ nhất, không có cũng đấm ngực báo có. Ở báo Cứu Quốc lại một cậu nuốt lữơi dao cạo. Chết rồi còn bị khai trừ vì tội trốn đấu tranh..! </em></p>
<p>Mười chín muà lá rụng sống trong lòng thủ đô Sài Gòn yêu dấu bị đổi tên là thành phố Hồ chí Minh, trong mười chín mùa sầu riêng trổ gai ấy tôi có tám năm ngồi rù và nằm phơi rốn trong tù. Người tù ngồi rù trong nhà tù Quốc Gia được ăn no, được pháp luật bảo vệ, tin chắc mình tù nhiều lắm là vài niên, biết mình sẽ không chết trong tù, người tù ngồi rù trong nhà tù cộng sản nhiều người không còn cả háng để ngồi rù mà gãi, tôi đã nghe nhiều chuyện kể rùng rợn về việc Việt Cộng đày đọa nhân dân, những chuyện không ai có thể tưởng tượng được, vậy mà tôi vẫn bàng hoàng khi đọc đoạn chuyện kể trên trong hồi ký <em>Cát Bụi Chân Ai</em> cuả anh Bồi Bút Tô Hoài. Tôi ngẩn ngơ nghĩ tại sao bọn Hồ chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Tố Hữu lại có thể làm cho những người theo chúng và những người bị chúng ép theo chúng, những người không may phải sống trong nước bị chúng nắm quyền, lại bị khốn khổ, khốn nạn, nhục nhã, thê thảm đến như thế? Hai “cậu trẻ” trong toà báo Cứu Quốc làm gì nên tội mà đến nỗi phải tự tử bằng cách tự treo cổ, nuốt lưỡi dao cạo? Người nào cũng bẩn thỉu, người nào cũng đầy tội lỗi, bọn cộng sản ra lệnh cho người ta bới móc tội lỗi cuả nhau nhưng không người nào dám hỏi bọn đầu xỏ Hồ chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Tố Hữu có tội gì không? Không lẽ tất cả mọi người Việt Nam ai cũng bẩn thỉu, ai cũng có tội, chỉ có mấy tên đó là lương thiện, sạch sẽ? Bọn chúng có quyền gì mà chúng bắt người khác phải kết tội nhau, bới móc nhau, vu cáo nhau? Chúng có quyền gì mà chúng bắt người khác phải chết oan uổng, nhục nhã?</p>
<p>Chuyện những anh văn công bồi bút Bắc Việt Cộng bới móc tội của nhau làm tôi thấy tôi đã sung sướng biết chừng nào khi tôi được sống, được làm phóng viên nhà báo, được viết tiểu thuyết trong Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà của tôi. Những nhà văn thành danh trước 1945, như hai ông Ngô Tất Tố, Phan Khôi, nếu sống ở Quốc Gia VNCH, đều được, và đã được, nhân dân kính trọng, chính quyền không dám đụng đến cái lông chân, như nhân dân và chính quyền VNCH đã tôn trọng các ông Tam Lang, Trọng Lang, Nguyễn Vỹ, Nguyễn Đức Quỳnh,Vũ Bằng, Đỗ Đức Thu, Tchya Đái Đức Tuấn, Vi Huyền Đắc, Lãng Nhân, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng. Ở Quốc gia VNCH làm gì có ông nhà văn đã thành danh nào trước năm 1945 phải khóc mếu, phải quẹt nước mũi vào hai ngón tay rồi bôi lên gốc cây như ông Ngô Tất Tố ở với Việt Cộng. Tác giả <em>Lều Chõng</em>, <em>Tắt Đèn</em> than: “<em>Làm người khó</em>..!” Đấy là vì ông sống với bọn Việt Cộng ác ôn, bọn Việt Cộng chúng nó không chịu để cho ông làm người đàng hoàng, chúng bắt ông phải sống khốn khổ, khốn nạn, phải làm một thứ người tàn mạt không phẩm giá.</p>
<p>Tô Hoài kể sau 1954 anh từng là đội trưởng đội đấu tố lưu động đi nhiều nơi mở những cuộc đấu tố “<em>tìm bọn mật thám do Pháp gài lại và bọn tàn dư Quốc Dân Đảng</em>”, đội của anh được nhiều bằng khen về thành tích xuất sắc, nhưng cũng trong <em>Cát Bụi Chân Ai</em>, vì có mặc cảm phạm tội, anh cũng “khoe” anh từng bị bọn cùng đảng với anh tố vì tội tư tưởng giao động. Người cùng bị kể tội với anh là Nguyên Hồng. Đây là đoạn anh viết về chuyện ấy, “<em>chúng tôi</em>” trong đoạn trích dưới đây là anh, Tô Hoài, và Nguyên Hồng:</p>
<p><strong><em>Cát Bụi Chân Ai</em></strong>. Trg 122, 123. Trích:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Lớp học tập dưới Ấp xong đã lâu mà cái rã rời cộng với bao nhiêu buồn bã vẩn vơ khác vẫn đẩy mỗi người chìm vào một xó. Không phải ngẫu nhiên, mà mới có cuộc họp trao đổi vê “văn gian tờrốtkít Vũ Trọng Phụng”. Chỉ có ở tổ nòng cốt, các cốt cán, những người được tin cậy. Chúng tôi không được dự. Cuộc họp ban chấp hành về công tác chúng tôi. Có hai người hăng nhất hôm ấy, Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư đòi đưa chúng tôi ra khỏi Ban chấp hành, ra khỏi Hội nhà văn. </em></p>
<p>Tô Hoài kể chuyện anh viết bài tự kiểm nhận tội:</p>
<p><strong><em>Cát Bụi Chân Ai</em></strong>, trg 124, 131. Trích:</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Tôi đưa tờ báo Nhân Dân ngày 12 thángBa 1958 in bài của tôi đề là “Nhìn lại một số sai lầm trong bài báo và trong công tác”. Nguyên Hồng cầm xem, chỗ qua loa, chỗ chăm chú&#8230;</em></p>
<p style="padding-left:30px;">(Không trích 6 trang bài nhận tội lảm nhảm của Tô Hoài.)</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Nguyên Hồng buông tờ báo xuống. Rồi Nguyên Hồng xua xua tay, nói như hét vào mặt tôi:</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>- Tiên sư mày, thằng Câu Tiễn! Ông thì không, Nguyên Hồng thì không!</em></p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Nguyên Hồng quì xuống trước tôi, rồi cứ phủ phục thế, khóc thút thít. </em></p>
<p>Tô Hoài viết bài thú tội, Nguyên Hồng cho đó là việc làm đê nhục, là trò nếm phân của Câu Tiễn. Nguyễn Tuân còn viết thú tội “tích cực” hơn Tô Hoài, Nguyễn Tuân cũng nếm phân đảng viên cộng sản như Tô Hoài. Một lũ ăn phân cộng sản để được cộng sản cho sống sung sướng hơn người đồng thời.</p>
<p style="padding-left:30px;"><em>Một bầy thú phục, khẩn cầu<br />
Uốn lưng ngửi đít, rập đầu liếm phân..!</em></p>
<p>Tô Hoài, Nguyễn Tuân xu nịnh, nhận tội, được bọn cộng sản cho sống no đủ hơn mọi người. Tội nghiệp những người Nhân Văn Giai Phẩm như Trần Dần, Phùng Quán, Tử Phác, Đặng đình Hưng.. Những người này đã rập đầu nhận tội nhưng vẫn không được bọn Tố Hữu tha cho sống yên ổn với vợ con. Họ vẫn bị tù tội, bị đày đọa, bị đói khổ mặc dầu họ đã nhận họ có tội với bọn cộng sản. Tố Hữu không như Ngô Phù Sai tha cho Câu Tiễn vì Câu Tiễn nếm phân định bệnh cho mình, Tố Hữu vẫn giết những kẻ nếm phân hắn.</p>
<p><em>Cát Bụi Chân Ai</em> còn một số chuyện như chuyện Việt Minh, năm 1946, xử tử một số chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Yên Bái, chuyện Xuân Diệu “<em>nói nhịu</em>” &#8212; huỵch toẹt là buột mồm nói tiếng “cái L..” &#8211; trong trong lúc ba hoa bốc thơm Thơ Hồ Chủ Tịt, chuyện Xuân Diệu pê-đê hành dâm với Tô Hoài, chuyện Tú Mỡ gọi Nguyễn Tường Tam là “tên đại việt gian”.</p>
<p>Tôi sẽ viết thêm về <em>Cát Bụi Chân Ai</em>.</p>
<p>Viết về chuyện “những ông văn sĩ thành danh trước năm 1945 được chính quyền và nhân dân Quốc Gia VNCH tôn trọng,” tôi không thể không nhớ nghĩ đến trường hợp tự tử của Nhà Văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, nhưng đó là một đề tài khác.</p>
<p>Đi cùng bài Viết ở Rừng Phong này có tấm hình Chế Lan Viên &#8212; Kim Cương &#8212; Nguyễn Tuân. Hình năm 1976 ở Sài Gòn. Nguyễn Tuân khinh bỉ Chế Lan Viên, công khai, thẳng thừng. Đây là một đoạn trong Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh:</p>
<p style="padding-left:30px;"><img style="margin:0 0 0 10px;" src="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/kimcuong.png" alt="Kim Cuong" align="right" />Nguyễn Tuân kể:</p>
<p style="padding-left:30px;">“Một hôm tôi đi vào phòng văn thư của Hội Nhà Văn đúng lúc Chế Lan Viên đi ra. Hình như hôm ấy anh ta đến để lấy vé máy bay đi vào Sài Gòn. Anh giơ tay bắt tay tôi. Tôi không bắt. Chế Lan Viên đi ra rồi, các cô văn thư hỏi tôi:</p>
<p style="padding-left:30px;">“Sao bác không bắt tay bác ấy?”</p>
<p style="padding-left:30px;">Tôi hỏi lại:</p>
<p style="padding-left:30px;">“Thế các vị có biết vì sao có tục bắt tay không? Ngày xưa ở phương Tây, hai người bắt tay nhau để cho nhau thấy tay họ không cầm võ khí. Tôi không bắt tay ông Chế Lan Viên vì ông ấy trong người có hàng bồ dao găm”.</p>
<p style="padding-left:30px;">Nguyễn Tuân lại kể:</p>
<p style="padding-left:30px;">“Chế Lan Viên ở trong Nam bắn tin ra ngoài này cho tôi, nói không hiểu sao, anh Nguyễn Tuân cứ thấy tôi là lảng tránh không muốn gặp. Hôm ấy họp chi bộ, người ta nói đến lời nhắn ấy, tôi nói với cô Lê Minh là bí thư:</p>
<p style="padding-left:30px;">“Cô ghi lại rồi bắn tin trở lại cho ông Chế Lan Viên hộ tôi: “Đúng là tôi tránh mặt ông ấy thật. Lý do là tôi đã già rồi. Người già tính khí bất thường. Tôi sợ gặp ông ấy, lỡ tôi nổi nóng lên, tát cho ông ấy một cái thì làm thế nào. Đồng chí với nhau mà tát nhau thì phải kiểm điểm mất công.”</p>
<p>Ngưng trích Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh.</p>
<p>Khinh bỉ Chế Lan Viên như vậy nhưng khi cô đào Kỳ Nhông Kim Cương của sân khấu Quốc Gia VNCH gọi đến, hai anh Văn Thi Sĩ Rọ Mõm của giới Bồi Bút Hà Nội tuy không ưa nhau, tuy khinh nhau, cũng líu ríu đứng nép hai bên Kỳ Nhông để chụp ảnh.</p>
<p>Hết nước nói.</p>
  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/hoanghaithuy.wordpress.com/2395/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/hoanghaithuy.wordpress.com/2395/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2395/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/hoanghaithuy.wordpress.com/2395/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2395/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/hoanghaithuy.wordpress.com/2395/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/hoanghaithuy.wordpress.com/2395/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/hoanghaithuy.wordpress.com/2395/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2395/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/hoanghaithuy.wordpress.com/2395/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=hoanghaithuy.wordpress.com&blog=1925951&post=2395&subd=hoanghaithuy&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/10/10/nha-van-cau-tien/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/03c798a8ae0d29bd847057c0e89c390b?s=96&#38;d=wavatar&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">hoanghaithuy</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/hungary.png" medium="image">
			<media:title type="html">Hungary</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://hoanghaithuy.files.wordpress.com/2009/10/kimcuong.png" medium="image">
			<media:title type="html">Kim Cuong</media:title>
		</media:content>
	</item>
	</channel>
</rss>