• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Thiên Long Tình Sử – Lời phi lộ

19.jpgNhững năm đầu thập niên 40 xanh thắm của Thế Kỷ 20 Trần Ai Khoai Sùng tôi đang ở vào số tuổi thường được gọi văn huê là “tuổi hồng, tuổi ngọc”, nôm na là mười, mười mấy hoặc Một Bó Lẻ Hai Ba Que, trong lòng thị xã Hà Đông có dòng Nhuệ Giang hiền hoà. Mới có mười tuổi đầu tôi đã say mê đọc tiểu thuyết.

Tôi đọc tất cả những truyện tôi vớ được, mượn được. Nhà tôi không có nhiều tiểu thuyết. Bà mẹ tôi xuân thu nhị kỳ mới chi tiền cho tôi đi mua tờ Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, nhà tôi chỉ có vài quyển truyện do Nhà Tân Dân của ông Vũ Đình Long xuất bản trong loại sách có cái tên chung rất mơ hồ là “Phổ Thông Bán Nguyệt San”. Ông bố tôi công chức gương mẫu, không ưa cái gọi là tiểu thuyết nhảm nhí. Mỗi năm cũng xuân thu nhị kỳ ông đến hiệu sách ở Hà Nội mua cho anh em tôi mấy tập Học Sinh, Sách Hồng. “Tủ sách” của bố tôi vỏn vẹn chừng mười quyển truyện Pháp Les Trois Mousquetaires, Les Miserables, Notre Dame de Paris.. Tôi nhớ ông mỗi năm, cũng xuân thu nhị kỳ, đọc sách chừng hai, ba lần. Ông đọc vào những buổi trưa thứ bẩy, trua chủ nhật, những ngày ông được nghỉ không phải đi làm. Nhiều lắm là sau một hai trang ông đã ngủ ngon.

Vì vậy gần như “chăm phần chăm” những quyển truyện tôi đọc lia lịa, ngốn ngấu trong thời gian này là truyện tôi đi mượn. Mượn và đem truyện đổi lẫn cho nhau. Thời ấy toàn thị xã Hà Đông chỉ có một tiệm cho thuê truyện. Sách của những nhà Tự Lực Văn Đoàn, Tân Dân đều “cấm cho thuê”. Tiệm cho thuê truyện của thị xã Hà Đông thời tôi còn ngây thơ ở khu Đầu Cầu, trước bến xe điện, cạnh nhà “Régie d’Opium” treo tấm bảng RO. Tiệm này chỉ có toàn những truyện Tầu do nhà Tín Đức Thư Xã ở Sài Gòn xuất bản. Những chú Mít Con Bắc Kỳ đã được xem những phim xi-nê Toute la ville danse, L’Incendie de Chicago, L’Appel de la Foret, Le Bossu de Notre Dame.., đã được nhìn thấy Nàng Esmeralda Maureen O’Hara cho Anh Gù Quasimodo Charles Laughton uống nước trên dàn gỗ nhục hình, được chứng kiến cuộc tình của Nhạc sĩ Johann Straus trên bờ sông Danube — không chỉ Đa-nuýp suông mà còn là Đa-nuýp Blơ — những chú Mít Con Bắc Kỳ ấy, trong số có tôi, dù có mê đọc truyện đến đâu cũng không thích thú lắm với những truyện Tầu Ngũ Hổ Bình Tây, La Thông Tảo Bắc, Tam Quốc Chí, Tây Du Ký, Phong Thần với giọng văn dịch Nam Kỳ: “Thổ Hành Tôn lểnh mểnh đi đến, Tiết Đinh San cầm khí giái nhẩy lên ngựa..”

Một trong những chú tiểu yêu Hà Đông có nhiều truyện thời đó là một tên trạc tuổi tôi. Tên hắn là Phú, nhà Phú bán bát đĩa nên chúng tôi gọi hắn là Phú Bát. Tên này chỉ đổi truyện chứ nhất định không cho mượn. Không có tình cảm chi ráo trọi, tên nào có truyện mang đến đổi thì được. Nhà Phú Bát ở đầu đường, có cái cửa sổ bên cạnh. Phú Bát đứng trong cửa sổ, xem xét quyển truyện được mang đến. Hắn chỉ chịu đổi truyện hắn chưa đọc — tất nhiên — nhưng hắn xem quyển truyện mang đến dầy mỏng ra sao, thuộc loại gì, hắn sẽ đưa ra một quyển tương đương. Chịu thì trao đổi. Không chịu thì huề, cầm quyển của mình về. Đổi rồi không đem trả để lấy lại quyển của mình cũng huề. Đôi bên không bên nào thiệt hại.

Chỉ nhờ mượn và trao đổi lẩm cẩm thế thôi mà ngay từ những năm mười tuổi tôi đã đọc được gần như tất cả những tiểu thuyết nổi tiếng và cần được đọc đương thời. Tôi đọc Lê văn Trương: Trường Đời với Trọng Khang, Marie Khánh Ngọc, Francois Giáp, Vũ Trọng Phụng: Giông Tố với Vạn Tóc Mai, Nghị Hách, Thị Mịch, Long, Tú Anh, Trọng Lang: Hà Nội Lầm Than, Tô Hoài: Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, O Chuột, Xóm Giếng Ngày Xưa, Thạch Lam: Gió Đầu Mùa, Hồ Dzếnh: Quê Mẹ, Khái Hưng-Nhất Linh: Nửa Chừng Xuân, Gánh Hàng Hoa, Trống Mái, Hồn Bướm Mơ Tiên, Thế Lữ: Lê Phong phóng viên, Vàng và Máu vv…

Và tôi say mê đọc những quyển tiểu thuyết kiếm hiệp thời ấy: Bồng Lai Hiệp Khách, Long Hình Quái Khách, Hồng Long Hiệp Khách, Hoàng Giang Nữ Hiệp vv. Tôi nhớ trong truyện Sơn Đông Hiệp Khách có nhân vật dùng võ khí độc đáo là cái sừng trâu rừng–muời mấy mùa lá rụng sau tôi biết chi tiết võ khí sừng trâu của Cao Hùng Phi Sơn Đông Hiệp Khách được tác giả, tôi không nhớ tên, lấy từ sự tích Samson và Dalila trong Kinh Thánh Gia Tô, phần Cựu Ước.

Những vị tác giả tiểu thuyết kiếm hiệp Việt Nam tiền bối–tiền tiền chiến nay đều đã ra người thiên cổ. Tôi chắc chỉ còn một vị hiện sống ở Hoa Kỳ: Lão tiền bối Văn Tuyền Phạm Cao Củng.

Một trong số những bộ tiểu thuyết kiếm hiệp thời ấy tôi thấy quá hay là bộ Chu Long Kiếm.

Những mùa lá rụng theo nhau qua.. Thế chiến.. Chiến tranh Việt Pháp, chia đôi đất nước. Biển dâu. Sao rơi, vật rớt. Tuổi thơ qua thật mau. Đúng ra thì tuổi nào qua cũng mau nhưng tuổi thơ có vẻ như qua mau nhất. Năm 1960 một chiều vào Nhà Sách Tân Quang xế cửa Rạp Xi-nê Văn Quang, Chợ Đũi, Sài Gòn, thấy quyển Chu Long Kiếm ngày tôi còn bé được tái bản bầy trên giá sách, tôi hí hửng nói với với vợ tôi:

— Chu Long Kiếm.. Truyện này hay lắm.. Mua cho em đọc..

Alice đọc và hỏi tôi:

— Truyện như thế mà anh cho là hay à?

Gần hai mươi năm sau đọc lại Chu Long Kiếm tôi thấy truyện viết quá dở. Chu Long Kiếm làm tôi thất vọng và ngẩn ngơ. Tại sao một truyện tồi đến như thế mà mười mấy năm trước tôi thấy là hay quá xá? Đâu phải tất cả những tiểu thuyết tôi thấy hay năm tôi mười tuổi tôi đều thấy dở ẹt năm tôi ba mươi tuổi. Giông Tố, Nửa Chừng Xuân, Hồn Bướm Mơ Tiên, Trống Mái vẫn còn nguyên giá trị dù tuổi tác người đọc có nhiều hơn.

Những năm 1960 màn ảnh xi-nê Sài Gòn có chiếu vài bộ phim kiếm hiệp Hongkong. Phim đen trắng. Tôi đưa vợ con đi xem phim Hoàng Giang Nữ Hiệp, Lý Lệ Hoa đóng vai chính. Lại một thất vọng não nề. Phim đánh kiếm, đánh võ mà trẻ con cũng không mê được. Đánh nhau theo kiểu tuồng cải lương: lùng tùng xoèng.. bọn ác ôn bị đá văng ra khỏi sân khấu, một anh ngớ ngẩn vào võ đường học đuợc cái gọi là “chưởng quét nhà”: hai bàn tay phóng chưởng phong ra đẩy rác vào một góc. Anh này học võ không phải để hành hiệp giang hồ hay Sơn Đông mãi võ biểu diễn ở các chợ, bến xe để bán cao đan, hoàn tán mà là để làm gia nô.

Vì những nguyên nhân ấy tôi có ác cảm nặng với tiểu thuyết kiếm hiệp-võ hiệp. Những năm ấy, những năm đầu thập niên 1960, vài nhật báo Sàigòn đã dịch đăng vài bộ truyện võ hiệp Kim Dung: Đơn kiếm diệt quần ma, Bích Huyết Kiếm, Võ Lâm Ngũ Bá vv.. Có người bạn bảo tôi:

— Bây giờ nó viết truyện mới. Đọc được lắm. Không giống những truyện mình đọc trước 1945 đâu…

Tôi vẫn không đọc những truyện võ hiệp Tầu, dù đó là truyện mới, là những truyện đang được viết. Tôi không đọc vì thành kiến và vì ác cảm với những cái gọi là Tẫu–như nhiều người Việt tôi thích Thơ Đường, bị hấp dẫn, mê hoặc bởi những truyện cổ điển Trung Hoa Tam Quốc Chí, Đông Châu Liệt Quốc, Tình Sử, Hồng Lâu Mộng, Sử Ký Tư Mã Thiên vv nhưng tối kỵ với những cái gọi là văn nghệ, văn gừng của những anh Tầu Đài Loan, HongKong hiện đại–phần khác tôi không đọc vì tôi không còn thì giờ. Đang thời xuân sắc tôi bận làm, bận ăn chơi, cuộc đời lại có quá nhiều tiểu thuyết Pháp, Anh, Mỹ cho tôi đọc.

Những năm đầu thập niên 1960 trời đất yên bình. Thời tiết Sài Gòn thuần hậu nhất thế giới, quanh năm ấm áp, dễ chịu, dễ thương cả trong những đêm cuối năm trời lạnh nhất. Thời ấy vào khoảng năm, sáu giờ chiều vương tôn, công tử, tiểu thư, mệnh phụ, tay chơi nam nữ Sài Gòn thường đến ngồi ở Ngân Đình Tửu Gia bên sông. Nhà Hàng này có cột cờ do Tây Thực Dân xây lên nên từng được gọi là Cột Cờ Thủ Ngữ. Trước 1954 Tây Đầm Sàigòn là thực khách chính của nhà hàng này nên nhà hàng có tên Tây là Point des Blagueurs — Tụ Điểm của các Tay Đấu Hót — Sau 1956 Tây Đầm xách va-ly về nước, Point des Blagueurs đổi sang tên Việt là Ngân Đình Tửu Gia.

Mai Thảo thường ngồi đây uống rượu, ăn cơm tối. Nhiều văn nghệ sĩ khác cũng hay đến Ngân Đình. Tôi cơm nhà, quà vợ nên chỉ lâu lâu mới đến đấy một tối.

Tối ấy tôi đang ngồi với Mai Thảo ở Ngân Đình, Phan Nghị đến, mang theo tờ nhật báo Đồng Nai mới in có trang trong, tức trang ruột, gọi theo thuật ngữ của làng báo Sàigòn. Nhật báo Sàigòn những năm 60 chỉ có 4 trang, 2 trang trong gồm tiểu thuyết, bài nằm, được in từ chiều hôm trước.

Tôi loaáng thoáng nghe hai ông hỏi đáp nhau:

— Con Chu Chỉ Nhược nó có dùng Ỷ Thiên Kiếm đâm thằng Vô Kỵ không mày?

— Chưa — Phan Nghị trả lời — Nhưng mà coi bộ nó dám đâm lắm ạ.

Tò mò tôi hỏi và được biết hai ông đang bàn tán về truyện võ hiệp Cô Gái Đồ Long của Kim Dung đăng trên báo Đồng Nai. Phan Nghị vừa ghé qua nhà in báo Đồng Nai lấy một tờ trang ruột báo để xem Cô Gái Đồ Long trước thiên hạ một ngày. Ôâng mang tờ báo đó đến cho ông Mai Thảo xem. Tôi không đọc truyện nhưng qua những lời hai ông trao đổi tôi biết láng máng là truyện đang đến hồi gay cấn. Bà Diệt Tuyệt Sư Thái, Chưởng Môn Phái Nga My toàn Thị Phún thất tình đi tu — Nữ Chưởng Môn là người thất tình nặng nhất môn phái. Về võ công Nga My phái cũng sìu sìu ển ển như các môn phái cùng thời thôi, đặc biệt Nga My phái căm thù, cay cú đàn ông, con trai. Thù không những chỉ không đội trời chung mà còn là không ngồi cùng một bàn trong cao lâu, nằm cùng một giường trong khách sạn. Đúng ra thì chỉ có Chưởng Môn Nga My Diệt Tuyệt Sư Thái Thượng Diệt, Hạ Tuyệt mới căm thù đàn ông kịch liệt đến như vậy thôi. Nhiều nữ đệ tử Nga My thơm như múi mít như Kỷ Hiểu Phù, Chu Chỉ Nhược tỏ ra đa tình và thân mật với đàn ông, con trai ra rít.

Diệt Tuyệt Sư Thái thống lãnh đám nữ môn đồ hạ sơn đi lô-ca-chân qua không biết mấy chục ngàn dậm để lên Quang Minh Đỉnh hợp sức với các chính phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Không Động tiêu diệt Ma gíáo. Việc lớn này không thành. Sau đó Diệt Tuyệt Sư Thái đưa các nữ đạo đồng Nga My đi dự một đại hội võ lâm.

Sư Thái Chưởng môn Nga My, cùng tất cả những vị chưởng môn các chính phái võ lâm trung thổ, loạng quạng bị Công Chúa Triệu Minh, và đám cao thủ Mông Nguyên dưới quyền Công Chúa, hạ độc thủ, dùng cái gọi là Nguyễn Cân Tán đánh cho lăn đùng, ngã ngửa, mất hết công lực. Tất cả các vị này đều bị bắt, bị đưa lên tầng cao nhất của tháp Chùa Vạn Pháp. Tháp này cao đến mấy chục tầng. Trong tháp này các vị chưởng môn khả kính của võ lâm Trung Hoa, kể cả Phương Trượng Chùa Thiếu Lâm, Thài Sơn Bắc Đẩu võ lâm thiên hạ, bị cao thủ Mông Cổ lôi cổ ra tấn công bằng những chiêu thức cực kỳ ác liệt. Không đánh lại, không đỡ, không tránh né là chết mà đánh, đỡ, tránh né, tức hóa giải, là kẻ thù học được tuyệt chiêu của môn phái mình. Nhiều vị thà chịu chết chứ không chịu xử dụng tuyệt chiêu.

Em Triệu Minh còn tỏ ra cực kỳ ác độc ở việc ra lệnh đốt tháp cho các cao thủ võ lâm bị kẹt ở tầng tháp trên cùng trở thành chả nướng. Tháp quá cao. Liều mạng nhẩy xuống đất là chết dù người nhẩy có cái gọi là bản lĩnh khinh công mái nhà, đầu tường chỉ cần vỗ đít là nhẩy qua dễ ợt. Ở lại chết cháy, nhẩy xuống chết nát. Chỉ có Giáo Chủ Minh Giáo Trương Vô Kỵ là có thể nhẩy xuống đất mà không hề hấn gì. Vô Kỵ cứu mạng quần hùng bằng cách la lớn bảo các vị, từng vị một, cứ nhẩy xuống, chàng sẽ từ dưới đất nhẩy lên đưa tay đỡ cho các vị từ từ hạ xuống. Vô Kỵ nhẩy lên cao đến nửa chiều cao của tháp.

Bằng cách ấy các vị chưởng môn, phó môn, viên môn xuống đất an toàn. Các vị đạo cô trẻ măng Nga My cũng phải chịu để cho bàn tay của Xú tiểu tử Vô Kỵ — Sìn Foóng dịch là “Tiểu tử hôi thối” — đặt vào chỗ để ngồi của các nàng để nâng các nàng trên đường các nàng rơi xuống. Sự kiện lịch sử này cho ta thấy như vậy là Giáo Chủ Minh Giáo Trương Vô Kỵ đã sờ mông tất cả những đạo cô Nga My Phái.

Nhưng Diệt Tuyệt Sư Thái thì không chịu cho nâng. Bà già giết giặc này cũng nhẩy xuống nhưng khi gập Vô Kỵ nhẩy lên đỡ bà lại thu hết công lực thất tình — thù hận đàn ông đánh một chưởng vào đầu chàng cho chàng chết luôn.

Vô Kỵ chỉ bị choáng váng thôi còn Diệt Tuyệt Sư Thái thượng diệt, hạ tuyệt thì rơi xuống đất nằm một đống. Trong phút ngắc ngoải bà truyền chức chưởng môn và Ỷ Thiên Kiếm cho Chu Chỉ Nhược. Bà bắt Chu Chỉ Nhược phải thề sẽ dùng Ỷ Thiên Kiếm đâm chết tên Vô Kỵ hôi thối. Chu Chỉ Nhược khóc, nhận chức, nhận kiếm và thề sẽ giết Vô Kỵ.

Đó là lý do làm cho buổi tối năm 1960 — đã ba mươi bẩy mùa lá rụng trên những lối mòn mờ dấu chân xưa — ở Nhà Hàng Ngân Đình bên sông Sài Gòn lộng gió Thủ Thiêm, ông Phan Nghị đem trang ruột tờ báo Đồng Nai đến cho Mai Thảo và tôi được nghe hai ông hỏi đáp nhau:

— Con Chu Chỉ Nhược nó có dùng Ỷ Thiên Kiếm đâm thằng Vô Kỵ không mày?

Tôi xía vào chuyện của hai ông:

— Lạ thật. Chúng mày cũng là những thằng viết tiểu thuyết, chúng mày cũng biết cách làm cho người đọc phải theo dõi truyện của chúng mày. Sao chúng mày lại mê đọc truyện của một anh Tầu cũng viết tiểu thuyết như chúng mày là ký gì? Đã đọc mà còn bàn tán nữa??

Mai Thảo chỉ thản nhiên bảo tôi:

— Mày chưa đọc Kim Dung phải không? Đọc đi rồi hãy nói.

Vài tháng sau tôi mới đọc Đồ Long. Truyện càng ngày càng có nhiều người đọc, nhiều người mê. Khi ấy Cô Gái Đồ Long, phần đầu, đã được xuất bản thành sách.

Tôi mua Cô Gái Đồ Long dễ thôi nhưng vì ác cảm với tiểu thuyết võ hiệp Tầu tôi ghé vào tiệm cho mướn sách lấy hai tập đầu về đọc chơi cho biết. Gọi là hai tập nhưng chỉ là Cô Gái Đồ Long Tập 1, nhà cho mướn chia ra làm hai tập, đóng bià lại, cho mướn rẻ tiền cọc.

Tôi đọc và tôi mê luôn. Đồ Long Đao — Ỷ Thiên Kiếm mở màn bằng cuộc tình của Ân Tố Tố — Trương Thúy Sơn. Đây là đoạn gọi là Dẫn Truyện. Theo bố cục của những đại tác phẩm tiểu thuyết người viết Kim Dung cho đôi nhân vật phụ Tố Tố — Thúy Sơn ra sân khấu trước nhân vật chính Trương Vô Kỵ. Kim Dung đúng là dài hơi. Chỉ nội đoạn mở đầu Cuộc Tình Tố Tố — Thúy Sơn cũng đủ dài bằng trọn bộ một truyện võ hiệp hay nhất Bắc Kỳ, nhì Đông Dương của tiểu thuyết gia Giao Chỉ tiền 1945.

Yêu như Ân Tố Tố yêu Trương Thúy Sơn — theo tôi — là tuyệt đỉnh tình yêu. Yêu nhất. Yêu đến không còn ai có thể yêu hơn được nữa. Thù đến như Tạ Tốn thù Thành Khôn là thù nhất, là tuyệt đỉnh của hận thù. Tôi gọi Đồ Long Đao là truyện của Tuyệt Đỉnh Tình Yêu và Thù Hận.

Trước khi nói đến Hận Thù ta hãy nói đến Tình Yêu trong Đồ Long. Nàng là con gái Chưởng môn Ma Giáo, chàng là thiếu hiệp danh môn, chính phái. Trong tiểu thuyết võ hiệp chính và tà luôn luôn xung đột nhau, tiêu diệt nhau. Xung đột chính tà, thiện ác là nguồn gốc sản sinh, là nhựa sống của tiểu thuyết võ hiệp. Cuộc tình Ân Tố Tố — Trương Thúy Sơn có tính cách như cuộc tình Romeo và Juliet. Tôi thấy Tố Tố yêu Thúy Sơn hơn Thúy Sơn yêu Tố Tố. Yêu như Tố Tố mới là tuyệt đỉnh Tình Yêu, sống chết với Tình. Nàng yêu chàng nên nàng đạo diễn cho chàng xuống thuyền cùng nàng đi ra Vương Bàn Sơn dự hội Dương Đao Lập Oai: Bạch Mi Giáo đoạt được đao Đồ Long từ tay Dư Đại Nham Võ Đang, đem ra đảo Vương Bàn Sơn ngoài biển đông làm lễ dương đao lập oai với võ lâm, báo cho võ lâm biết Bạch Mi Giáo làm chủ đao Đồ Long — Đoạn này Kim Dung viết hơi yếu: Đại Hội Dương Đao Lập Oai mà tân khách đại biểu các môn phái đến dự chỉ là mấy chú tiểu hiệp cắc ké kỳ nhông. Tôi chắc Kim Dung cũng biết sự kiện này hơi yếu song ông đành phải để. Bởi vì nếu cho Bạch Mi Giáo Chủ Ân Thiên Chính hay Thanh Dực Bức Vương Bạch Mi Giáo đến chủ trì đại hội thì Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn không thể xuất hiện, đoạt đao, kể tội, giết người, bắt người khơi khơi dễ dàng như thế được.

Tố Tố chỉ đưa Thúy Sơn ra đảo để nàng được gần chàng. Nàng không ngờ — định mệnh an bài — biến cố xẩy ra, Tạ Tốn bắt nàng và Thúy Sơn xuống thuyền đi lên biển bắc.

Và thế là cuộc phiêu lưu tuyệt kỳ đưa nàng và chàng vào Tình Yêu. Sau lần ân ái đầu tiên nằm ôm nhau trong khoang thuyền lênh đênh trên biển lớn, nàng nói:

— Anh yêu.. Em muốn ở nhân gian, trên tiên cảnh, dưới địa ngục… lúc nào đôi ta cũng gần nhau..

Và chàng nói:

— Anh cũng muốn nói với em một câu như thế…

Thuyền gập bão, vỡ, đắm. Trong đêm tối ba người nhẩy lên băng sơn, trôi giạt vào Băng Hoả Đảo. Họ sống trên đảo đến mười năm. Tạ Tốn, bị Tố Tố bắn độc châm mù hai mắt, ngày ngày ngồi suy nghĩ về sự bí mật của đao Đồ Long:

Đồ Long bảo đao
Võ lâm chí tôn
Hiệu lệnh thiên hạ
Mặc cảm bất tòng.
Ỷ Thiên bất xuất
Thùy dữ tranh phong…

Tạ Tốn nổi điên, làm cuộc “tấn công tình dục” Tố Tố. Nói dễ hiểu là Tạ Tốn hiếp dâm Tố Tố. Kỳ quá. Kim Mao Sư Vương Đại hiệp mà lại đi hiếp dâm? Đại hiệp mần ký gì cũng được nhưng Đại hiệp hiếp dâm đàn bà là hổng có được. Người đời không chấp nhận Đại hiệp làm cái việc tồi bại ấy. Bất cứ tên đàn ông nào trên cõi đời này cũng có thể can tội hiếp dâm nhưng Đại hiệp là hổng có thể. Đã là Đại hiệp là không hiếp dâm. Đã hiếp dâm thì không phải là Đại hiệp.

Về chuyện Tạ Đại hiệp hiếp dâm Ân phu nhân một ông đàn anh văn nghệ của tôi năm xưa nói với tôi khi chúng tôi ở bên bàn thờ Phù Dung Tiên nữ:

— Cậu biết tại sao Tạ Tốn lại bắt Tố Tố với Thúy Sơn lên thuyền đi lên Bắc Hải không? Tại vì Đại hiệp yêu em trinh nữ Tố Tố. Đại hiệp yêu em nhưng Đại hiệp là.. Đại hiệp, đại hiệp không thể mở miệng bầy tỏ tình yêu như bọn đàn ông tầm thường. Đại hiệp không thể vồ em được vì danh vọng, vì địa vị, vì tuổi tác của Đại hiệp. Nhưng yêu em, muốn em thì Đại hiệp vẫn cứ yêu, cứ muốn. Vì yêu nên Tạ Tốn bắt Tố Tố đi theo. Bắt Tố Tố một mình lên thuyền thì âm mưu lộ liễu qua, Tạ Tốn bắt luôn Thúy Sơn cùng đi. Trên Băng Hoả Đảo tình yêu bị dồn nén làm Đại hiệp phát điên, Đại hiệp chịu không nổi, Đại hiệp hiếp em…

Tiếng khóc của Vô Kỵ khi lọt lòng mẹ làm Tạ Tốn tỉnh cơn điên. Đại hiệp trở lại là Đại hiệp. Chính Tạ Tốn là người quyết định cho Vô Kỵ trở về đất liền:

–Vợ chồng hiền muội và ngu huynh có thể sống suốt đời trên đảo hoang này–Tạ Tốn nói với Tố Tố, Thúy Sơn — nhưng chúng ta không thể để cho thằng Vô Kỵ sống mãi ở đây. Phải đưa nó về trung thổ, cho nó sống với mọi người, sống như mọi người…

Tuy mù Tạ Tốn vẫn biết được hướng gió. Họ đóng bè, đợi mùa gió thổi về nam là thả bè theo gió về đất liền. Khi vợ chồng Thúy Sơn ôm Vô Kỵ xuống bè, Tạ Tốn cắt dây cho bè trôi còn mình ở lại. Đến đây Kim Dung quên mất con Bạch Diện Hỏa Hầu.

Khi lên Băng Hoả Đảo họ bắt và thuần phục được con vượn mặt trắng được gọi là con Bạch Diện Hoả Hầu. Con vượn này không sợ lửa, có sức khoẻ đánh vỡ sọ gấu rừng. Tạ Tốn dậy nó võ công, cho nó bảo vệ Vô Kỵ. Bạch Diện Hoả Hầu cùng xuống bè với Vô Kỵ. Khi bè Thúy Sơn gập thuyền và được vớt, thuyền về đến đất liền, ghé bến, mọi người lên chợ bến mua đồ, Vô Kỵ lên chợ chơi và bị đám Cái Bang bắt đi, không thấy con Bạch Diện Hỏa Hầu gác-đờ-co đâu cả. Nếu có con Bạch Diện Hoả Hầu bên cạnh Vô Kỵ, sức mấy đám Cái Bang bắt cóc được Vô Kỵ một cách quá dễ dàng như thế. Nghe nói có người nhắc Kim Dung mới nhớ nên cả tuần sau người đọc mới thấy hai dòng ngắn về chuyện con Bạch Diện Hoả Hầu đột nhiên mất tích: bè trôi về nam, con Hoả Hầu chịu … nóng không nổi, nhẩy lên một băng sơn trôi trở về biển bắc..!

Trước khi về đến đất liền, trước khi Vô Kỵ bị bắt cóc, bè Thúy Sơn gập thuyền Võ Đang của Dư Liên Châu, người thứ hai trong Võ Đang thất hiệp. Khi nghe Dư Liên Châu nói:

–Hiền đệ hãy để hiền muội cùng cháu nhỏ về Bạch Mi giáo, còn hiền đệ theo ta về Võ Đang thưa chuyện với Sư phụ.

Thúy Sơn đã định nói: “Thưa vâng..” Chàng nhìn Tố Tố, thấy nàng ngước mắt nhìn lên trời, rồi nhìn chàng và nhìn xuống đất. Chàng nhớ lời hẹn hò trên thuyền tình năm xưa:

— Ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục lúc nào đôi ta cũng gần nhau…

Gia đình, rõ hơn là vợ chồng, chia rẽ, xa nhau rất dễ, rất mau nhưng vợ chồng đoàn tụ lại rất là nhiêu khê, khó khăn, tốn nhiều thì giờ, giấy tờ, tiền bạc. Đó là quy luật. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, quy luật gia đình chia rẽ dễ, đoàn tụ khó không bao giớ thay đổi. Ân Tố Tố đa tình, thông minh, biết ngay ý đồ Dư Liên Châu định chia rẽ vợ chồng nàng. Thúy Sơn lấy nàng không xin phép Sư phụ Trương Tam Phong, Chưởng Môn kiêm Tổ Sư Sáng Lập Võ Đang. Nàng là con gái Chưởng Môn Tà giáo Bạch Mi nổi tiếng ác ôn. Sức mấy Trương Tam Phong chịu cho đệ tử yêu kết hôn với con gái Ma giáo. Chỉ cần ôâng tuyên bố lửng lơ con cá vàng một câu nghe rất có vẻ vô thưởng, vô phạt như: “Để đấy ta xét sau..” là có sớm lắm cũng mười, mười lăm muà lá rụng may ra nàng mới được đoàn tụ với chồng.

May quá anh chàng Trương Thúy Sơn khù khờ còn nhớ lời hẹn ước. Chàng xin cho vợ con cùng chàng về núi Võ Đang. Và thế là đôi người yêu nhau nhất Đồ Long Đao Ký ấy cùng chết bên nhau trên núi Võ Đang.

Thúy Sơn tự sát vì hai nguyên nhân:

— Tố Tố đoạt đao Đồ Long làm cho Dư Đại Nham, Tam Ca của chàng, bại liệt nằm chờ chết.

— Quần hùng ép chàng phải tiết lộ chỗ ở của Kim Mao Sư Vương.

Thúy Sơn tự sát bằng kiếm, Tố Tố tự tử bằng dao. Trước khi chết nàng còn đánh đòn “di họa Giang đông” làm cho mấy ông Sư Chùa Thiếu Lâm vất vả, tả tơi mà không ăn cái giải gì. Khi hấp hối nàng ra hiệu cho Sư ông. Sư ông tưởng bở, nghĩ rằng nàng rỉ tai cho riêng mình biết chỗ ở của Kim Mao Sư Vương bèn vội vàng ghé tai gần miệng nàng. Sư ông chỉ được nghe người đàn bà sắp chết thều thào nói một câu vớ vẩn chẳng có nghĩa gì cả. Rồi nàng tắt thở và thế là Sư ông bị quần hùng cho là được nghe tiết lộ địa chỉ của Kim Mao Sư Vương. Cho là nhà chùa khoảnh, giữ bí mật để độc quyền đi giết Kim Mao Sư Vương, quần hùng kéo nhau đến Thiếu Lâm Tự đòi nhà chùa phải chia xẻ bí mật. Tạ Tốn giết người của họ, họ đòi được biết Tạ Tốn đang ẩn nấp nơi đâu để đến trả thù.

Trước khi chết Ân Tố Tố dặn con trai một câu xanh rờn:

— Con hãy đề phòng những người đàn bà đẹp. Đàn bà càng đẹp chừng nào càng lừa dối đàn ông nhiều chừng ấy. Như mẹ lừa dối cha con đấy…

Tố Tố — Thúy Sơn chết, Trương Vô Kỵ Vai Chính bắt đầu ngự trị độc quyền trên sân khấu Đồ Long. Tất cả sự kiện Đồ Long đều xẩy ra quanh nhân vật chính Vô Kỵ. Đồ Long chỉ có một nhân vật chính là Vô Kỵ, khác vóùi Thiên Long có năm nhân vật chính : Kiều Phong, Đoàn Dự, Mộ Dung Phục, Hư Trúc, Du Thản Chi.

Tôi gọi Đồ Long là truyện của Tuyệt Đỉnh Tình Yêu và Thù Hận, tôi cũng gọi Đồ Long là truyện của Những Người Không Giữ Lời Thề.

Khi thấy bố mẹ chết thê thảm, chú nhóc Vô Kỵ, lúc ấy mới bẩy, tám tuổi, rút con dao cắm ở ngực mẹ — chú run lẩy bẩy, mặt chú xanh lè vì chú trúng độc chưởng quá nặng và chú quá xúc cảm — chú cầm dao, mắt rực lửa nhìn mặt quần hùng. Chú nói trước khi ngã ra chết ngất:

— Những người này bức tử cha mẹ ta. Mai sau ta sẽ bắt họ phải đền tội!

Đến đây nhiều người đọc nghĩ Đồ Long-Ỷ Thiên sẽ lại là một truyện trả thù. Như truyện Đơn kiếm diệt quần ma nghe nói cũng của Kim Dung viết trước đó, chú nhóc Vô Kỵ lớn lên, học được võ công kinh người, sẽ đi giết người la liệt để trả thù.

Vô Kỵ thấy cha mẹ chết thảm trước mặt, chú thề sẽ trả thù cho cha mẹ. nhưng mười mấy năm sau khi trở thành Giáo chủ Minh giáo, có võ công lệch đất, nghiêng trời, chú quên béng thù xưa. Khi Giáo chủ lên núi Võ Đang, dùng Càn Khôn Đại Nã Di chữa thương cho Dư sư bá, Kim Dung đã không viết hai dòng cho Giáo chủ ra nghĩa trang sau núi thăm mộ bố mẹ. Vô Kỵ cũng quên béng lời Mẹ chú dặn lúc lâm chung: “Con phải đề phòng những người đàn bà đẹp..!” Chuyện xẩy ra cho ta thấy không những chú không đề phòng, chú còn chơi xả láng với nhừng người đàn bà đẹp.

Người quên lời thề, hay lời hưá cũng rứa, thứ hai trong Đồ Long là Em Chu Chỉ Nhược. Em hứa với Sư phụ em sẽ giết Xú tiểu tử Vô Kỵ nhưng khi Vô Kỵ chịu đưa ngực ra cho em “xử lý, giải quyết” — nói theo ngôn ngữ Bắc Việt Cộng — “thanh toán” — nói theo ngôn ngữ Việt Nam Cộng Hoà — Em chỉ đẩy nhẹ thanh Ỷ Thiên là cuộc đời ái tình và sự nghiệp của Giáo Chủ Minh Giáo kiêm Âm Giáo đi đời nhà ma, nhưng em đã không đẩy. Nói cho đúng em có đẩy nhưng em cố tình đẩy trật, em chỉ làm cho Giáo Chủ bị thương, không làm Giáo Chủ chết.

Bạn có thể bào chữa cho Chu Chỉ Nhược: “Nàng không giết nó vì nàng yêu nó. Yêu nó thì nàm thao đâm nó lòi phèo ra được? Yêu thì tội gì cũng tha thứ được, huống chi nó có tội chăng là có tội với Sư phụ sắt máu cuả nàng, nó có làm gì nên tội mí nàng đâu. Hai nữa thề là một chuyện, giữ lời thề hay không là chuyện hoàn toàn khác. Trên cõi đời này thiếu giống gì người không giữ lời thề..” Đồng ý. Tôi chỉ nói nàng hưá nàng mần mà rồi nàng hổng mần thôi, tôi hổng nói đến lý do, nguyên nhân làm cho nàng hổng mần.

Người quên lời thề thứ ba trong Đồ Long là Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn. Sư Vương thù hận Thành Khôn đến cốt tủy. Vì thù hận Sư Vương giết oan không biết bao nhiêu người, nhưng khi có điều kiện trả được thù Sư Vương lại lửng lơ con cá tai tượng, chỉ đánh mù mắt Thành Khôn rồi thôi…

Chu Chỉ Nhược, Tiểu Siêu, Triệu Minh.. ba người đẹp Thiên Long cùng yêu Trương Vô Kỵ. Ba người đẹp với ba Tình Yêu khác nhau. Triệu Minh, Quận Chúa Mông Nguyên, trở thành vợ Vô Kỵ. Chu Chỉ Nhược, Tiểu Siêu yêu và đau khổ. Tình Yêu của Tiểu Siêu ly kỳ, độc đáo tuyệt vời…

Tiểu Siêu là Thánh Nữ Bái Hoả Gíáo Ba Tư, nàng là con gái Bà Đại Ỷ Ty — Diety — và nàng sẽ là Đại Ỷ Ty của Bái Hoả Giáo. Theo truyền thống trước khi lên ngôi Đại Ỷ Ty nàng phải lập một công trạng. Nàng giả dạng thường dân sâm nhập Quang Minh Đỉnh, Tổng đàn Minh Giáo để lấy bí kíp võ công của Minh Giáo. Vô Kỵ gập nàng trong hầm đá trên Quang Minh Đỉnh. Đôi người trẻ tuổi sống với nhau cả năm trời trong hầm đá suốt thời gian Vô Kỵ luyện Càn Khôn Đại Nã Di.

Khi Vô Kỵ lọt xuống hầm đá tảng đá lớn tự động đóng kín cửa hầm, người trong hầm phải tự sức đẩy tảng đá để đi ra. Muốn có sức đẩy được tảng đá người trong hầm phải có công lực Càn Khôn Đại Nã Di. Giáo chủ Minh Giáo vào hầm luyện Càn Khôn Đại Nã Di tâm pháp nhưng không thành công, Vô Kỵ tìm thấy xác vị Giáo chủ tiền nhiệm chết ngồi trước bí kíp Càn Khôn Đại Nã Di Tâm Pháp. Vô Kỵ luyện và thành công. Có công lực Càn Khôn Đại Nã Di chàng trở thành Giáo chủ Minh giáo.

Ra khỏi hầm bí mật, Tiểu Siêu vẫn theo hầu Vô Kỵ. Nàng giữ kín thân thế Thánh Nữ Bái Hoả giáo của nàng. Nàng yêu Vô Kỵ nhưng bà Đại Ỷ Ty, mẹ nàng, đến đón nàng về Ba Tư làm Thánh Nữ. Khi chia tay Tiểu Siêu khóc, nói với Vô Kỵ:

— Em chỉ muốn suốt đời được hầu hạ Công tử, giặt ủi sà-lỏn cho Công Tử, đun nước hầu Công tử tắm, kỳ lưng cho Công tử.. Khi nào Công tử có khách em nằm dưới bếp. Lâu lâu Công tử rảnh rỗi, Công tử gọi em…

Yêu như Tiểu Siêu mới thật là yêu. Yêu mà không đòi hỏi Công tử phải yêu lại, Công tử bằng lòng cho hầu hạ, lâu lâu Công tử dùng đến là em hài lòng. Nếu em là con nhà dân dã em yêu khiêm tốn như thế ta chẳng nói làm gì, nhưng Tiểu Siêu là Thánh nữ. Thánh nữ mà yêu như thế mới lạ kỳ. Tiểu Siêu là Thánh nữ Bái Hỏa giáo Ba Tư mà cũng là Thánh nữ các em Mari Sến Sàigòn tiền 1965. Sau 1965 giới Mari Sến biến mất ở Sàigòn. Đa số các em trở thành Me Mỹ.

Nón cối, giép râu vào Sài Gòn…
Anh hùng uổng tử, tiểu nhân vong…

Việt Nam Cộng Hoà tan hàng, sập tiệm, đầu hàng.. Anh hùng chết mà tiểu nhân cũng chết vì Việt Cộng…

Việt Cộng nó bắt hết, nó bỏ tù hết. Và thế là bao nhiêu công lao cùng những cái gọi là ân oán giang hồ của anh em ta đi đoong. Tất cả đều tù tội, đều chết dần, chết mòn trong những thạch lao, xi măng lao, dây thép gai lao…

Công Tử Hà Đông ngẩn ngơ giữa một rừng cờ đỏ, sống đìu hiu giữa bốn khoảnh tường nhà khi nó chưa cho Công tử dzô số 4 Phan Đăng Lưu, buồn phiền nhớ lại những cuộc tình xưa trong Đ Long đao — Ỷ Thiên kiếm, bèn mần thơ vịnh. Thơ rằng:

HOÀI NIỆM ĐỒ LONG BẢO ĐAO

Lôi Phong Tích Lịch Thủ…
Càn Khôn Đại Nã Di…
Cắm Dùng cha đẻ Trương Vô Kỵ,
Sìn Foóng con nuôi Đại Ỷ Ty..!

Thương về đâu, nhớ về đâu..?
Chuyện xưa nhớ lại trong đầu ngẩn ngơ.
Rõ ràng mở mắt còn ngờ
Mười lăm năm ấy bây giờ là đâu?

Quang Minh đỉnh thượng Dương Tiêu mộng.
Băng Đảo sơn trung Tạ Tốn sầu.
Nhuyễn cân tán độc, quần anh tịch.
Diệt Tuyệt bi ai vũ hạ lầu.
Thiếu Lâm môn tỏa thành âm hộ.
Tam Phong tẩu hoả nhập ma đầu.
Tiểu Siêu bảo lãnh Trương Vô Kỵ.
Triệu Minh thí mạng tẩu hồi Tầu.

Chân kinh lại dấu trong dầu.
Đồ Long gẫy cán để rầu Ỷ Thiên.
Thạch Lao Tạ Tốn nằm yên,
Sư Tử hống, Thất Thương quyền, để đâu?
Tóc xanh Chỉ Nhược phai mầu,
Cửu Âm Trảo để gãi sầu hôm mai.
Thiếu Lâm cửa đóng, then cài,
Thuyền từ Phương trượng tính bài vượt biên.
Não nùng Hồ Điệp Y Tiên
Động hoa tàn, bướm ưu phiền không bay.
Đại Ỷ Ty sống qua ngày,
Chợ Trời Thánh Hoả Lệnh bầy bán son.
Tiểu Siêu nghĩa nặng nghìn non,
Ba Tư thùng lớn, thùng con gửi về.

Thiên Thù Tuyệt Hộ thủ… âm hộ.
Cửu Âm Bạch Cốt Trảo.. kỳ âm.
Càn Khôn Đại Nã Di… tinh mộng.
Tích Lịch Lôi Phong Thủ… phạm dâm.
Quần hùng thằng ngọng, thằng câm,
Thằng nói không được, thằng thầm kêu cay.
Mút mùa Giáo chủ đi đầy
Mơ ngày về vẽ lông mày? Còn khuya!

Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ… Tên những bộ tiểu thuyết nhất, nhì, ba của Kim Dung đều giữ nguyên tên Hán Việt. Tại sao Đồ Long đao–Ỷ Thiên kiếm lại có cái tên quê năm bẩy cục, không giống ai là Cô Gái Đồ Long?

Trong toàn bộ Cô Gái Đồ Long ta không thấy nữ nhân vật nào tên là Đồ Long cả.

Sìn Foóng là anh Tiền Phong, người Việt lai Hoa, sinh trưởng ở Bắc Việt. Anh từng tham gia diễn kịch ở Hà Nội trước năm 1954, là người dịch Kim Dung đầu tiên ở Sài Gòn, anh có bút hiệu thứ hai là Từ Khánh Phụng.

Anh Tiền Phong nói về cái tên Cô Gái Đồ Long:

— Chủ báo Đồng Nai Huỳnh Thành Vị nói tên tiểu thuyết mà đao kiếm không thôi nghe không hấp dẫn. Nên có tên phụ nữ, ái tình ân thù chi đó nghe cho mùi mẫn. Tôi lấy đại cái tên Cô Gái Đồ Long!

Sìn Foóng dịch tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung bên bàn đèn á phiện. Kim Dung viết truyện theo kiểu làng báo Sài Gòn gọi theo các đàn anh Phú Lang Sa là phơi-ơ-tông–feuilleton– truyện viết mỗi ngày, viết đủ đăng trong ngày là ngừng, mai viết tiếp. Truyện Kim Dung đăng mỗi ngày trên nhật báo HongKong, phi cơ Hàng Không Việt Nam mang báo HongKong về Sài Gòn. Sìn Foóng cho con lên phi trường Tân Sơn Nhất đón phi cơ về lấy báo, anh nằm hút và dịch Kim Dung bằng miệng cho một ông bạn của anh đánh máy chữ. Ông bạn này sau đó đem bài đi giao cho các báo bằng xe đạp, ông cũng là lính của Cô Ba Phù Dung. Trong căn gác nhỏ ở Tân Định anh Tiền Phong nằm một bàn đọi trên đi-văng, ông bạn anh nằm một pờ-la-ti dưới sàn gác. Hai vị cùng đong. Vì vậy văn của anh Tiền Phong là lối văn nói. Anh đọc chứ không tự viết xuống giấy. Loại văn nói có vài điểm khác với văn viết. Anh có mấy câu riêng như “thổ ra một búng máu tươi, rú lên một tiếng thanh thoát..” Anh để lại trong ngôn ngữ của chúng ta mấy tiếng mới như “rửa tay, gác kiếm, mưa máu, gió tanh..”

Hai cây đong Bắc Việt–Dịch giả Tiền Phong Từ Khánh Phụng và ông bạn thư ký của anh — đã ra người thiên cổ từ lâu.

***

— Ở nhân gian, trên tiên giới, dưới địa ngục.. em muốn lúc nào đôi ta cũng gần nhau…

Một câu biểu lộ Tình Yêu tuyệt hay của Kim Dung. Khi cho Tố Tố, Thúy Sơn hứa hẹn sống chết với nhau, không bao giờ xa nhau, trên hải thuyền trong đêm chàng và nàng mới yêu nhau Kim Dung đã tính trước: mười năm sau sẽ cho Tố Tố–Thúy Sơn nhắc lại với nhau lời cam kết này.

Trong sáu năm tù lần thứ hai của tôi — từ 1984 đến 1989 — tôi sống chung một phòng tù với Tu sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát đến năm năm. Sau một lần tôi kể chuyện Đồ Long, Trí Siêu bảo tôi:

— Tôi không đọc truyện nhưng tôi biết Hân Tố Tố là sai. Tầu không có họ Hân. Chắc là họ Ân… Ân Tố Tố. Không phải Hân Tố Tố.

Lôi Phong Tích Lịch Thủ
Càn Khôn Đại Nã Di…
Cắn Dùng cha đẻ Trương Vô Kỵ.
Sìn Foóng con nuôi Đại Ỷ Ty..

… là thơ Vũ Hoàng Chương. Anh Chương làm bài thơ này đang trên nhật báo Ngày Nay năm 1984. Cắm Dùng phiên âm tên Kim Dung. Năm 1964 nhật báo Ngày Nay do anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt làm chủ nhiệm, anh Vũ Khắc Khoan chủ bút, anh Trần Việt Sơn Thư ký tòa soạn. Bốn anh tôi vừa kể trên đây nay đều đã khuất bóng.

Bọn Cán Cộng Văn nghệ thù ghét truyện võ hiệp Sài Gòn. Không có chi lạ. Mấy ảnh thù ghét tất cả những gì văn nghệ, văn gừng ở Sài Gòn. Mấy ảnh lên án truyện võ hiệp là “xa rời thực tại”. Mấy ảnh kỵ nhất truyện Kim Dung vì mấy ảnh cho là Kim Dung “trộn lẫn chính tà”. Mấy ảnh tự nhận mấy ảnh là “chính”. Kim Dung diễn tả phe chính cũng có những mặt xấu, người xấu. Mấy ảnh cho như thế là Kim Dung “bôi lọ” mấy ảnh..! Nghe nói trong mấy năm đầu sau 1975 có người Sài Gòn bị án tù cả mười năm trời vì tội định in lại tiểu thuyết Kim Dung để bán.

Việt Cộng cấm lưu hành, tịch thu, tiêu hủy tất cả sách truyện Việt Nam Cộng Hoà, nhưng những anh chị Con Trai, Con Dâu Bà Cả Đọi Bắc Kỳ 75 khi vào được Sài Gòn lại líu tíu tìm mua truyện võ hiệp đem về miền Bắc xã hội chủ nghĩa cho thuê. Vật đổi, sao rời.. Đến những năm 1990 người ta thấy có chuyện ruồi bâu, kiến đậu: tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung vẫn bị cấm, những phim video HoóngKỏng, TàiOăn thực hiện theo tiểu thuyết Kim Dung được cơ quan nhập phim ảnh Nhà nước XHCN quảng cáo trên màn ảnh TiVi, chiếu và mua bán công khai, thoải mái.

Năm 1984 Tầu Cộng mời Giáo sư Kim Dung đến nói chuyện với sinh viên Đại học Bắc Kinh. Các tạp chí văn nghệ Tầu Cộng đăng tường thuật, phỏng vấn, ca tụng thiên tài tiểu thuyết Kim Dung, bàn loạn về tư tưởng Phật giáo trong tiểu thuyết Kim Dung vv Các báo Việt Cộng tranh nhau dịch, đăng lại những bài báo Tầu Cộng ca ngợi Kim Dung, tác giả từng bị họ mạt sát vung xích chó…

Tôi viết những dòng này ở Rừng Phong, Arlington, Virginia của Những Người Yêu, một ngày tuyết trắng trời, trắng đất, trắng những cành phong trụi lá. Tôi bồi hồi tưởng nhớ tuổi xuân xưa — những năm 1960 cuộc đời tôi rất đẹp ở Sài Gòn — nhớ những người bạn cùng tôi vui sống những tháng năm vàng son ấy, nhiều bạn nay không còn nữa.

Tôi nhớ Thanh Nam và Túy Hồng. Bọn tôi đã nhớ truyện Kim Dung nhưng chúng tôi thua hết chị Túy Hồng. Như việc nhớ xước hiệu của bốn cao thủ Tứ Ác trong Thiên Long Bát Bộ. Không biết tại sao bọn tôi giống nhau ở điểm tên nào cũng quên xước hiệu của Ác Quái thứ ba trong Tứ Ác: Ác quán mãn doanh Đoàn diên Khánh, Vô Ác bất tác Diệp nhị nương — không nhớ xước hiệu của Nam Hải Ngạc Thần — đến Cùng Hung cực Ác Vân Trung Hạc thì lại nhớ.

Tôi nhớ Đinh Hùng. Ba mươi năm xưa anh nói với tôi:

–Các cậu đọc Kim Dung, các cậu ca tụng Băng Hoả Đảo. Các cậu cóc biết là trước Kim Dung xa tôi đã viết về một hòn đảo y như thế trong Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu..

Những năm 1955, 1956 Đinh Hùng viết hai tiểu thuyết Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu, Người Đao phủ Thành Đại La đăng trên các nhật báo Tự Do, Ngôn Luận. Sau 1986 hai tiểu thuyết trên đều được tái bản ở Thành Hồ. Thi sĩ Đinh Hùng mất năm 1966, chị Hùng cũng đã từ trần. Anh chị có một cháu trai Đinh Ngọc, một cháu gái Đinh Hương, hiện sống ở Thành Hồ.

***

Những cuộc hỏi ý kiến độc giả của những tạp chí HongKong, Đài Loan cho thấy người Hoa hải ngoại không đọc Kim Dung nhiều bằng họ đọc các tác giả tiểu thuyết võ hiệp Cổ Long, Ngọa Long Sinh. Với độc giả Sài Gòn thì Kim Dung là nhất. Ngôn ngữ tiểu thuyết Kim Dung từng một thời được nói đến ở Sài Gòn: đi một đường tiếu ngạo, đi tiếu ngạo giang hồ, tẩu hoả nhập ma, cấy Sinh Tử Phù, rửa tay, gác kiếm, mưa máu, gió tanh, ân oán giang hồ, võ công Ba Tư quái dị…

Và Tết đến.. Bạn ta còn nhớ chứ? Những ngày Tết 1965-1970 chúng ta nghe trẻ em trong những xóm nghèo Sàigòn Ta hồn nhiên hát:

— Có cô gái Đồ Long lắc bầu cua…
Lắc mấy cái ra mấy con gà mái…

***

Mơ ngày về vẽ lông mày…

Minh Giáo được lập ra với mục đích “Kháng Nguyên, phục Tống”, hoặc Phục quốc. Trương Vô Kỵ khi nhận chức Giáo chủ Minh Giáo tất phải thề sẽ lãnh đạo giáo chúng đánh đuổi quân Nguyên, khôi phục giang sơn. Thế nhưng Giáo chủ lại trở thành Phò Mã nhà Nguyên, an phận làm chồng em Công chúa Triệu Minh đa tình thơm như múi mít. Những trang cuối của Ỷ Thiên–Đồ Long cho người đọc thấy — sau cơn mưa máu, gió tanh, trời lại sáng — cảnh vợ chồng vương giả êm đềm trong phòng the nhung luạ, Công chuá hỏi Phò Mã bi giờ Phò Mã muốn gì, Phó Mã trả lời:

— Chẳng muốn gì sất cả.. Chỉ muốn sáng sáng vẽ lông mày cho Ái khanh…

Ngày xưa Tiền bối Khái Hưng viết về cuộc tình Phạm Thái-Trương Quỳnh Như trong tiểu thuyết Tiêu Sơn Tráng sĩ có hạ bút than một câu xanh rờn:

— Chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy đôi mắt của giai nhân…

Năm mươi mùa lá rụng sau ông Khái Hưng Hồn Bướm Mơ Tiên, nhân hoài niệm Đồ Long Bảo Đao hành động của Trương Vô Kỵ quên nhiệm vụ, quên lời thề làm kẻ viết bài này phải thở hắt ra:

— Than ôi.. Chí lớn trong Võ Miệng không làm uớt nổi đôi lông mày của đàn bà đẹp…

Câu nói “chỉ muốn sáng sáng vẽ lông mày cho Ái khanh” nặng trĩu tính chất “cơm nhà, quà vợ” như dzậy mà cũng đi vào văn học sử Tầu, trở thành bất tử. Ít nhất câu đó cũng đã bất tử trong cả ngàn năm.. Bất cứ anh Cơm Nhà, Quà Vợ ở cõi đời nào cũng có thể nói được câu “Sáng sáng vẽ lông mày cho Ái Khanh”, riêng những anh Vô Kỵ Giao Chỉ Hậu Ba Mươi Tháng Tư Đen hơn mõm chó mực ở Thành Hồ là nói hổng được. Mấy ảnh đi tù mút muà, “Ái khanh” của mấy ảnh một là đi một đường vượt biên sang Mẽo lấy chồng khác, hai là lập lại cuộc đời với Cán Cộng. Mấy ảnh mơ ngày về vẽ lông mày cho Ái khanh ư? Còn lâu. Sức mấy!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: