• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Nhắc chi ngày xưa đó

Trước cửa tiệm thực phẩm, tôi nói với Alice:

— Em ơi.. Hai bà độc giả của anh đây.

Hai bà, có vẻ là hai chị em, kém vợ chồng tôi chừng mười tuổi, năm 1956 khi tôi viết Vũ Nữ Sài Gòn, hai bà 16, 17 tuổi, một bà cười, nói:

— Trước 1975 ở Sài Gòn, chúng tôi đọc anh nhưng phải nói thật là không kỹ lắm. Bây giờ ở đây chúng tôi đọc Viết ở Rừng Phong trong những lúc chúng tôi thanh thản, trời đêm, phòng vắng, đèn vàng, an ninh năm chăm phần chăm….

Một bà nói:

— Đọc Viết ở Rừng Phong, chúng tôi cứ tưởng tượng chị Alice mà lả lướt đi một đường Tango với Công Tử Hà Đông, chắc là tình lắm.

Alice cười:

— Xưa quá rồi các bà ơi. Năm mươi năm rồi.

Tôi nói:

— Nhắc chi ngày xưa đó, đến se buồn lòng ta.

Trên đường về, Rừng Phong nắng vàng, ngày tháng này ở quê hương tôi đang vào Tết Trung Thu, Tháng Chín Dương Lịch ở Virginia is for Lovers, Rừng Phong thay lá, mây năm xưa đã viễn du trở về, lại một mùa thu xa nước..

Ngày em mới bước chân ra
Tuy rằng cách mặt, lòng ta chưa sầu.
Nắng trôi, vàng chẩy về đâu?
Hôm nay mới thật bắt đầu là thu.
.

Mùa thu Virginia lá vàng thật đẹp, một phần vì Lá Vàng Thu Virginia mà vợ chồng tôi đến sống những ngày cuối đời của chúng tôi ở Virginia. Câu “Nhắc chi ngày xưa đó, đến se buồn lòng ta..” tình cờ nhắc lại đó làm tôi bùi ngùi mãi.

Tôi hỏi Alice:

— Em có nhớ anh nhẩy với em lần đầu ngày nào, tháng nào, ở đâu không?

Nàng trả lời:

— Năm mươi năm, anh hỏi em lần này là lần thứ ba.

Tôi nói:

— Ngày nào chúng ta gặp lại nhau, anh sẽ hỏi em câu ấy, khác chút síu: “Em có nhớ em nhẩy với anh bản Tango đầu tiên ở kiếp nào không?”

Chúng tôi im lặng.

Vẳng trong Rừng Phong vàng lá, có tiếng ai hát:

— Nhắc chi ngày xưa đó, đến se buồn lòng ta.

Ngược dòng thời gian, 60 mùa lá đổ ngày xưa, hai năm 1945, 1946, tôi không biết trong cả thị xã Hà Đông bên hông Hà Nội có tất cả mấy cái radio, mắt tôi nhìn thấy 3 cái. Ông thân tôi có cái máy hát. Ba máy radio tôi thấy ở những nhà khác. Một radio ở nhà người bạn học cùng lớp với tôi. Ông bố anh là nhà buôn lớn, buôn xuất nhập cảng, không phải buôn tạp hoá-chạp phô kim chỉ, giải rút, bóng đèn Hoa Kỳ, tức thông phong, giấy bóng, đường phèn, ngòi bút, lưỡi câu như ông Bố Ký Cóp của Thúc Kỳ Tâm. Ông nhà buôn nằm hít tô phe trong phòng riêng, radio của ông là Radio Một Đèn, cái radio lớn, ở phòng khách gần như dành riêng cho anh con ông. Anh con ông cũng chỉ mở radio nghe những buổi phát thanh có nhạc. Những buổi Đài Phát Thanh Hà Nội chơi nhạc, bạn tôi hẹn tôi đến nhà anh nghe radio. Ở nhà anh những năm xưa ấy, mới 13, 14 tuổi, lần đầu tôi ngất ngây vì tiếng nhạc, lời ca:

Gió hắt trầm tiếng ca
Tiếng phách ròn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó, đến se buồn lòng ta.

Ngày đó, với tôi: Văn Cao là nhất. Văn Cao với những bài Suối Mơ, Đàn Chim Việt, Buồn Tàn Thu, và Thiên Thai, nhất là Thiên Thai. Sáu mươi năm không hát lại, từ đầu đời đến cuối đời, tôi – chú nhỏ Hà Đông mắt sáng, môi hồng, ông già Rừng Phong tóc trắng, khuôn mặt in hằn những vết roi đời – vẫn ngất ngư con tầu đi:

— Nhắc chi ngày xưa đó, đến se buồn lòng ta..

Đầu đời ngất ngây, cuối đời ngất ngư và bùi ngùi, luyến tiếc.

Khoảng ba, bốn tháng sau ngày 30 Tháng Tư 1975, một tối tôi gặp Hoài Bắc. Chúng tôi trên hai xe đạp, ráp vào vỉa hè tối, nói chuyện. Hoài Bắc nói:

— Văn Cao chưa vào được. Bà vợ Văn Cao vào. Văn Cao nhắn vào nói với Thái Thanh: “Hát như cô mới là hát. Ngoài này chúng nó không biết hát.” Trần Dần nhắn vào nói với Vũ Hoàng Chương: “Anh yên tâm. Thơ anh và thơ anh Hùng không bao giờ mất được.”

Hoài Bắc lại nói:

— Bà Văn Cao nói với bọn đả kích Văn Cao: “Mấy người muốn nói gì về chồng tôi thì nói, mỗi khi nhạc của chồng tôi nổi lên, mấy người phải đứng dậy.”

Nhắc chi ngày xưa đó, đến se buồn lòng ta.. làm tôi nhớ Văn Cao, nhớ tuổi thơ của tôi khi tôi những lần đầu nghe Thiên Thai:

Thiên Thai.. Chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn quá một lần.
Thiên Thai.. Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần.

Giá hắt trầm tiếng ca. Tiếng phách ròn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó, đến se buồn lòng ta..

Tôi phẫn nộ vì bọn Việt Cộng dập vùi Thiên tài Văn Cao. Mời quí vị – Phòng ấm – trời sang Thu bắt đầu lạnh lạnh – Đêm yên tĩnh. Đèn vàng. An ninh năm chăm phần chăm – quí vị đọc bài Xuân Diệu bới tội Văn Cao, bài viết Tháng 7 năm 1958, ở Hà Nội, trong vụ bọn Tố Hữu và Văn Nô “đánh” những văn nghệ sĩ Nhân Văn Giai Phẩm:

Xuân Diệu: Những tư tưởng nghệ thuật của Văn Cao

Mặt trận tư tưởng, tinh thần, mặt trận văn hoá văn nghệ quả thật là xung yếu, tinh tế! Những tư tưởng Nhân văn-Giai phẩm luồn lách như chạch; không phải lúc nào nó cũng lộ liễu như trộn trấu, cát vào gạo, cơm ta ăn, khiến ta biết ngay; mà có khi nó giấu tay rỏ thuốc độc vào những chai thuốc dán nhãn hiệu là “bổ”. Văn Cao vào hạng có bàn tay bọc nhung như thế. Sự giả dối đã thành bản chất của Văn Cao, nên những cái lạc hậu, thoái hoá của Văn Cao cứ nghiễm nhiên mặc áo chân lý và tiến bộ. Thơ văn Văn Cao là một thứ văn thơ “giật gân”, giật gân đến một độ rất nguy hiểm; thà cứ như cái thùng sắt tây Lê Đạt, thà cứ ngổ ngáo cao bồi như Trần Dần: dễ thấy; đằng này cứ như triết gia ban phát đạo lý nghìn đời; người nào đã biết thế nào là chân lý chân chính, đọc một số thơ và những bài văn, bài tựa của Văn Cao, có thể tức tối đến đau óc, bởi cái giả dối ở đây nó chằng chịt thật là khó gỡ, nó đã thành máu thịt của Văn Cao, nó nói cứ như thánh, và nó còn biết nhoẻn miệng cười duyên nữa!

Trong bài hát “Trương Chi “, Văn Cao gán cho người đánh cá cái khinh bạc tột độ của mình, không coi nhân quần ra cái gì hết, chỉ có một mình mình trên trái đất; hơi lạnh của chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối toát ra như một âm khí nặng nề:

Ngồi đây ta gõ mạn thuyền
Ta ca trái đất còn riêng ta!

Những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, những ý nghĩ phiêu lưu, tìm thi vị xa vời, mới lạ trong cách mạng, là một chặng đường tất yếu của tư tưởng nhiều người; mơ ước “Hải quân Việt Nam”, “Không quân Việt Nam” lúc đó cũng là một trạng thái của lòng yêu nước. Nhưng ta phải giật mình khi nhớ lại những lời hát:

Ta là đàn chim bay trên mây xanh
Mắt nhìn trong khói những kinh thành tan
Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng

Chúng ta giật mình vì cái lối bay để mà bay, tự say lấy mình đó là tiền thân của cái lối “Hãy đi mãi” của Trần Dần; chúng ta giật mình hơn nữa là cái máu anh hùng chủ nghĩa làm cho Văn Cao sảng khoái nhìn thấy “những kinh thành tan” dưới bom đạn mà không chút xót thương, và “chiến công ngang trời” kia lại là của “Không quân Việt Nam”, mà không nói là chiến tranh tự vệ!

Mấy bài thơ năm 1946, 1948 của Văn Cao, có dụng ý tốt, nhưng cũng bộc lộ cái tính chất nghệ thuật của Văn Cao, thích khúc mắc, khó hiểu, thích loè lên lấp lánh, pha với sự lập dị, chộ người, toát ra một màu vị tan rã, như bài “Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc”, hay như bài “Ngoại ô mùa Đông 46”

Ta đi trong nhà đổ
Nghe thời gian đã nhạt khúc ân tình
Tuy phòng the chiếc áo trẻ sơ sinh
Còn xiêm hài dành hương phấn cũ
…..
Chữ Phạn, La-tinh nhường máu tô diệt Pháp
Gió lạnh khi qua viện tàng thư
Cháy cong queo, bìa giữ chút di từ
Kierkegaard, Heiddeger và Nietzsche…

Giả dối như một con mèo, kín nhẹn như một bàn tay âm mưu trong truyện trinh thám, bài thơ “Anh có nghe thấy không?” lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó muốn nói gì. Văn Cao gọi ai là “chúng nó”? đối lập với ai là “chúng ta”?

Bao giờ nghe được bản tình ca
Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật
Bao giờ
Bao giờ chúng nó đi tất cả

Có ai cấm bản tình ca? Có ai cấm tranh tĩnh vật? Một người văn nghệ chân chính tất phải thông cảm rằng khi dân tộc, khi nhân dân có những vấn đề lửa cháy dầu sôi, há có nên làm như Yến Lan, mà Văn Cao ca tụng, Yến Lan mê sảng trước tranh tĩnh vật? Há có nên ngụp lịm trong toàn những chuyện tình?

Trên đất nước ta, “chúng nó ” là Mỹ-Diệm ở miền Nam, là tay chân Mỹ-Diệm ở miền Bắc, là bọn phá hoại Nhân văn-Giai phẩm; chúng nó là thế đấy; nhưng Văn Cao lại lấy những khuyết điểm có thật hay tưởng tượng của ta mà gọi là “chúng nó “; Văn Cao đã từng phát biểu “Trái tim của tôi thuộc về Nhân Văn” thì ta không lấy làm lạ Văn Cao xem ta là địch. Đi với ma thì mặc áo giấy, mình có là ma mới mặc áo giấy; Văn Cao lấp lửng bảo rằng chúng nó “bẻ cổ bẻ chân đeo tội ác cho người”, chúng nó “như nấm mọc trên những thân gỗ mục”, nhưng chẳng dám nói thẳng ra là ai? Văn Cao bảo thiên hạ “mắt không bao giờ nhìn thẳng”, đó là Văn Cao tự tả mình mắt la mày lét làm “tay trong của bọn cầm đầu Nhân văn-Giai phẩm hoạt động trong nội bộ Đảng”. Sao mà thơ Văn Cao hiểm độc vậy!

Một mặt

Những con người không phải của chúng ta
Vẫn ngày ngày ngày ngang nhiên sống

một mặt thì

Những người của chúng ta
Đang mờ mờ xuất hiện
Le lói hy vọng
Trên những cánh đồng lầy

Văn Cao truyền ra một câu sấm “Một nửa thế giới – một nửa tâm hồn – một nửa thế kỷ – chưa khai thác xong”, rồi Văn Cao tiếp tục giọng tiên tri:

Anh có nghe thấy không?
Chỗ nào cũng có tiếng
Chưa nói lên

Những con người của chúng ta, từ Cách mạng tháng Tám đến nay, xuất hiện, trưởng thành dần dần và mãnh liệt, để đi tới “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, dù chúng ta có còn khuyết điểm, nhược điểm gì, cả Trái đất cũng biết chúng ta vĩ đại! Văn Cao có mắt, có tai, không thể nào phủ nhận việc ấy. Vậy thì những “chúng ta” mà Văn Cao bảo là “đang mờ mờ xuất hiện” đó chính chỉ là “chúng ta” của Văn Cao , của Nhân văn-Giai phẩm mà thôi. Công chúng bị đưa vào một thế giới âm binh mà ông phù thuỷ Văn Cao đang sai dậy, bảo nói lên, đứng lên, gọi là “hàng loạt hàng loạt những con người thật của chúng ta” và giao cho lũ chúng những nhiệm vụ tương lai to lớn! Bà con của những âm binh đó, trong một lúc, đã làm tội ác ở Hung-ga-ri. Văn Cao chơi một trò chơi thật là nguy hiểm!

Với cái giọng cao đạo, ra vẻ bác học, thông thái, Văn Cao lại tiếp tục nói nào là “yêu những người biết thất bại và dám mở đường”, nào là “cái mới trước hết là cái mới trong tư tưởng, cảm xúc và trong cảm giác của nhà thơ”, nào là ” tấm bia trên mồ một người đã khuất có lẽ còn ở lâu trên mặt đất hơn một cuộc đời “… Đó là những thứ tư tưởng anh hùng chủ nghĩa, cứ mở đường liều, để lấy tiếng là “tiên phong”, không kể gì tổn thất trên lưng của quần chúng, thứ tư tưởng duy tâm, đặt cái chủ quan lên trước cái khách quan, thứ tư tưởng vô đạo, coi mạng người không bằng lâu đài, lăng tẩm. Những thứ tư tưởng đó mới hở hơi ra, chúng ta đã nhức lên tận óc, không chịu được, phải bịt nó lại ngay!

Văn Cao có cái tài viết rất trịnh trọng những câu không có nghĩa lý gì hết: “Chỉ riêng cái phần giác quan của nhà thơ cũng nói được cái hướng biểu hiện hoặc thiên về tư tưởng, hoặc thiên về cảm xúc, hoặc thiên về cảm giác”. Văn Cao hiểu giác quan là cái gì? Có phải là nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ không? Năm thứ này, thứ nào và lúc nào thì thiên về tư tưởng, cảm xúc hay cảm giác? – Thời kỳ ra những câu đố để làm cho công chúng tưởng nhà văn là thâm thuý, qua đã lâu rồi! Văn Cao viết tiếp: “Cái khuynh hướng đó nhiều khi còn là của cả một thời đại, một môn phái hay một triết học”. “Nhiều khi” là khi nào? Khi trước cách mạng hay sau khi cách mạng? Hai cái “khi ” đó không thể san bằng được. Trước cách mạng, trước chủ nghĩa Mác-Lênin thì có trăm thứ “ba bị, chín quai, mười hai con mắt” ở trong văn nghệ, nhất là trong thời kỳ tan rã của chủ nghĩa tư bản; còn sau cách mạng, Văn Cao phải chọn chứ, phải biết hiện thực xã hội chủ nghĩa là phương pháp sáng tác tốt nhất, đừng có lạc lối vào các môn phái sa đoạ, phân tranh, và chỉ có một triết học Mác-Lênin duy nhất đúng, chứ còn lắm triết học nào nữa?

Bài “Một vài ý nghĩ về thơ” của Văn Cao là một sự hiện hồn về của những quan niệm nghệ thuật đã bị cách mạng đào thải; dù có nấp mình sau cái nghĩa lớn của những chữ “cộng sản”, “xã hội sau này”, “khát vọng”, v.v…, vẫn không giấu được cái duy tâm chủ quan, cái cá nhân chủ nghĩa bế tắc, cái tìm tòi lập dị, cái khinh thường quần chúng, một mớ cặn bã tư tưởng cũ rích, mà Văn Cao cứ bảo là mới toanh!

Cái lá cờ nghệ thuật ố bẩn đó, Văn Cao ngày càng giương cao lên, từ chỗ tung ra “một vài ý nghĩ ” đến chỗ ngang nhiên đặt những ý nghĩ ấy lên đầu những quyển sách. Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn trước đây cho ra đời một loạt bài Tựa gieo rắc những cái sai lạc; đứng đầu là bài Tựa Văn Cao đề cho thi phẩm “Những ngọn đèn” của Yến Lan.

Thơ Yến Lan là một thứ thơ tủn mủn, đi vào chỗ kỹ thuật khô héo, quặt quẹo, bế tắc. Khoảng giữa tập “Những ngọn đèn” chỉ có được dăm ba nét của con người kháng chiến, mới mang có một chút xíu hơi mới của thời đại hãy còn quá rất mong manh. Đáng lẽ Văn Cao phải nhấn vào cái chút hơi mới đó, khuyến khích cho nó lớn mạnh, thì Văn Cao lại đề cao cái luồng lạc hậu và thoái hoá. Phía trước tập thơ là những bài thơ cũ bị không ai biết, chẳng ai hay trước cách mạng, trừ bài Bến My Lăng, đến nỗi dưới thời Pháp thuộc cũng không in ra được; sau một sự cố gắng ngắn ngủi tự cải tạo mình thì Yến Lan đã vội tiếc hối ngay – “Cũng trong quãng đời đi đó đi đây- Tôi theo bước đôi người hì hục lăn vào cuoäc sống … Nhưng lòng tôi dần lạnh tiếng chuông ngân” trong bài “Tĩnh vật”, và quay trở về truy lĩnh những cái cô đơn lạc hậu trước cách mạng. Nhưng khi người ta hồi sinh cho những cái lạc hậu cũ, thì lúc sống lại, nó không chịu đứng yên ở mức cũ đâu! Chịu ảnh hưởng của nhóm phá hoại Nhân văn-Giai phẩm, Yến Lan, ngoài việc đi vào kỹ thuật chủ nghĩa, còn đẩy mình đến mức dùng những “biểu hiện hai mặt”:

Hà Nội vẫn đi lên từng bậc nấc thang
Trên những cột dài bóng đen chữ máy;
……………………………
Hay tiếng mạ kền rà trên sắt rỉ
Hay tiếng nảy của những “lò so ý nghĩ”
Chống lên những mái đầu chìm

Những ngọn đèn tắt phụt ở bài “Ga xép” đóng tập thơ sập xuống tối sầm – “Khi đời anh con tàu cũ đang trôi” – “Như một nhà ga không người lên xuống” .

Một tập thơ, một luồng thơ như vậy, mà Văn Cao viết Tựa đưa lên rất cao, nêu một cái gương cho người ta học tập. Trong những dịp như thế này, Văn Cao càng cần đến cái giọng phù thuỷ; bởi vì khi người ta không có chân lý trong nội dung thì người ta phải lấy vẻ thâm nghiêm, cố nhăn trán, lim dim con mắt, làm thế nào nói cho kêu, cho lấp lánh, cho rườm rà, lẩn quẩn, để mà không nói cái gì hết, đặng mà không ai bắt được cái lừa bịp của mình!

Cái trắng trợn cao nhất của Văn Cao là đề cao bài thơ “Tĩnh vật”. Yến Lan niệm kinh trước những tranh tĩnh vật nào đó, rỡn chơi màu sắc mà cố ý nói mê, nói sảng, ca tụng tranh tĩnh vật với một “lập trường” hẳn hoi, mừng rằng chúng “đã chiếm hồn tôi như chiếm một đô thành – không cần đến thanh gươm viên đạn” , là để mà mắng nhiếc:

Bởi họ thiếu
con tim, khối óc
Luôn động đậy nhưng chỉ là tĩnh vật

Văn Cao hoan hô những câu ấy trong bài Tựa, thật là một đồng một cốt đắc ý cười ha hả với nhau! Đến đây thì họ đã đi xa quá! Họ mạt sát những người cộng sản, những người cán bộ theo luận điệu “Người khổng lồ không tim” của Nhân văn-Giai phẩm; họ có sáng tạo ngôn ngữ thật đấy, tìm được hình ảnh rất cay chua, nổi bật để nói một điều phản động. Hình ảnh càng xách mé, tư tưởng phản động càng phơi bày tính chất thù địch. Văn thơ làm bằng ngôn ngữ nên một số người nắm được một ít ngôn ngữ là họ tưởng nắm được tất cả; họ bày ra một vài cách khéo nói, cách lên dòng, xuống dòng, xỏ xiên được thiên hạ, họ cho là họ đã làm được kỳ công, họ công kênh tán tụng lẫn nhau. Đó là một bọn hình thức chủ nghĩa đi vào đường chết của tư tưởng và của nghệ thuật. Chúng ta thì chúng ta bảo: “Khởi đầu tất cả là lao động”. Nhà văn trước tiên phải ôm lấy tư tưởng đúng, phải ôm lấy quần chúng vạn năng, phải ôm lấy Đảng vĩ đại, chứ nếu chỉ ôm lấy một mớ chữ, theo lối Văn Cao tán thưởng, thì chỉ là ôm lấy tro tàn thuốc lá hay cặn rượu mà thôi. Huống chi mớ chữ đó lại còn phản động, thì nhất định tiêu ma sự nghiệp.

Và Văn Cao cũng đã không ngừng làm những bài thơ rất độc hại; “Những nét mặt ” của Văn Cao (báo Văn số 93 ngày 20.12.1957) phải chăng là “những người của chúng ta – đang mờ mờ xuất hiện” mà Văn Cao mong đợi? Bao nhiêu con người cách mạng, kháng chiến mà vào trong thơ Văn Cao chỉ có những cái mặt tan rã, chập chờn như mặt nạ, Văn Cao hai lần hỏi:

Những người đi buổi ấy
Bây giờ còn lại bao nhiêu?

Nghĩa là thế nào? Họ mỗi người một việc, đi có chỗ, về có nơi, trong bộ đội, vào nhà máy, ở công trường, tại nông thôn đổi mới; đến như các liệt sĩ, dù có chết, vẫn thơm mình Tổ quốc; thế mà Văn Cao kể:

Những nét mặt gặp trong đêm tối
Những ánh đuốc in nửa má nghiêng nghiêng
Những cặp mắt nhìn lặng lẽ
Những bàn tay che nửa mặt im lìm…

rồi lại hỏi một lần thứ ba, để kết luận:

Những người đi buổi ấy
Còn lại bao nhiêu, suy nghĩ những gì ?

Họ là những con người có Đảng lãnh đạo chứ có phải là máy đâu! Sở dĩ Văn Cao hỏi như người ngái ngủ vậy, là vì y “chơi” mặt người như chơi những chất liệu màu sắc, hình dáng, chứ không thấy người cụ thể ở trong xã hội.

Cuộc đấu tranh tư tưởng chống chủ nghĩa xét lại ở trong văn nghệ hiện nay cũng mới chỉ là một bước đầu. Chúng ta cần phân biệt cho rõ giả chân, không cho những thư tư tưởng nghệ thuật kiểu Văn Cao trá hình, tác quái!

Hà Nội 7/1958.

Quí vị đọc những lời Xuân Diệu viết và quí vị thấy kinh tởm. Tôi chỉ cần viết vài dòng ý của tôi:

Tôi phẫn nộ vì bọn Cộng Hà Nội vùi dập Thiên Tài Văn Cao.

Tôi thương hại Văn Cao.

Tôi ghê tởm Bồi Bút Xuân Diệu.

Nhạc Văn Cao nổi lên, Hồ chí Minh cũng phải đứng dậy.

Ta gõ mạn thuyền ta ca: trái đất còn riêng ta.. Mà nó gán cho cái tội “Cá nhân chủ nghĩa, chê bỏ loài người..” thì tôi phi-ní lô đia, tôi hết nước nói.

Con người Xuân Diệu từ sau 1945 đến ngày y chết, đầy những hèn hạ, ti tiện. Tôi kể lại chuyện Thi Sĩ Bánh Bao:

Những năm 1960 Xuân Diệu đi khắp nơi nâng bi Thơ Hồ chí Minh. Nhiều buổi Thơ Nâng Bi như thế Ban Tổ chức mở tiệc trà “chiêu đãi ” Ngâm Nô Thi Sĩ và khách dự. Tiệc sang có bia, tiệc thường nước trà, ăn bánh bao không cần bát đũa. Mỗi khách được hưởng một bánh bao. Số bánh bao làm đúng số khách. Xuân Diệu ăn tham nổi tiếng, đã ăn cái bánh bao của mình, mắt la, mày lét thấy cái bánh bao của người khác – người khách này chưa kịp ăn – Xuân Diệu vồ lấy ăn luôn.

Những người Hà Nội khốn khổ bèn có Thơ:

Nào có ra gì cái bánh bao.
Nhà thơ mà cũng háu ăn sao?
Người ta một cái, ông hai cái.
Thơ chửa ra cho, bánh đã vào!

Tên Thi Sĩ Bánh Bao Nâng Bi ấy kết tội, hành tội Thiên Tài Văn Cao!

Thương thay Thiên Tài. Tội thay Thiên Tài. Hận thay Thiên Tài.

Cảm khái cách gì!

Tôi và Alice gặp hai bà Nữ Độc Giả Viết ở Rừng Phong lúc 10 giờ sáng, tôi viết bài hoài niệm Văn Cao lúc 3 giờ chiều.

Bây giờ là 9 giời tối. Mới tháng trước 9 giờ tối Rừng Phong còn sáng, nay 9 giờ tối, Rừng Phong tối om.

Quân lịch Kỳ Hoa, quân bất cải
Ngã qua Mỹ Quốc, ngã do liên.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Giai nhân, cùng sĩ đối sầu miên.

Kỳ Hoa Em vẫn là Em,
Anh sang Mỹ Quốc, đêm đêm anh buồn.
Một đi hoàng hạc đi luôn,
Giai nhân, cùng sĩ, đối buồn nằm mơ.

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trong gió
Nhớ Từ Thức, Giáng Tiên lạc bước Kỳ Hoa.
Gió hắt trầm tiếng ca … Tiếng phách ròn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó. Đến se buồn lòng ta.
.. .. ..
Nhắc chi ngày xưa đó..!

Rừng Phong, 21 Tháng Chín, 2007.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: