• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Chén đắng cuối năm

Ông khóc làm chi thế, hỡi ông?
Cười lên một tiếng có hơn không?
Đời người sống được bao nhiêu nả,
Mà nỡ ăn vòi với Hóa Công?

Không biết Thơ của ông nào. Tôi đọc bốn câu trên những năm 1940, thời gian tôi còn trinh, trong tỉnh lỵ Hà Đông bên hông Hà Nội, thành phố thời tôi thơ ấu. Sáu mươi năm cuộc đời, nổi chìm trong ba, bốn cuộc biển dâu, cuộc nào cũng ghê rợn dễ sợ, cuối đời bánh xe lãng tử liêu lạc quê người, những năm 2000, tôi vẫn nhớ 4 câu Thơ tôi biết từ ngày xưa tôi còn bé. Tôi có tìm xem ai là người làm bài thơ ấy, nhưng tôi tìm không ra. Lời Thơ có âm điệu Thơ Tú Xương, nhưng trong những bài Thơ Thi sĩ Tú Xương để lại không thấy có bài Thơ ấy.

Trong Thơ có tiếng “ăn vòi”, một tiếng Bắc Kỳ đặc quánh bánh đúc. “Vòi”, ngày xưa, thường dùng với những anh nhô con “vòi” quà mẹ, “vòi” sờ tí me, “vòi” được mẹ chiều. Đôi khi là “vòi vĩnh”. Có dzồi, cho dzồi, còn “vòi vĩnh” gì nữa. “Vòi” là anh em với tiếng “làm nũng.” Trong bài thơ ” ăn vòi với Hóa Công” là đòi Ông Trời “phải cho tôi sống trọn một đời sung sướng tôi mới chịu, tôi phải được sinh ra trong gia đình giầu sang, bố mẹ tôi tử tế, phúc hậu, ai cũng kính trọng, tôi thông minh, đẹp trai, học giỏi, đỗ cao, làm quan to, vua thương, bạn mến, vợ tôi đẹp, hiền, ngoan, yêu tôi năm trăm phần trăm, các con tôi đẹp trai như tôi, thông minh như tôi, đỗ cao, quan to như tôi, tôi sống bình yên một đời, tám bó tôi đau một giây, chết một giờ, sạch, gọn.. Chết đi danh để lại, người người thương xót. ” Đó là chuyện “ăn vòi Hóa Công.”

Tam bách dư niên hậu. Hà nhân độc “ăn vòi?” Ba trăm năm sau, người Việt Nam nào đọc bài “Ăn Vòi” tôi viết hôm nay, người bạn sẽ gặp, và có thể thấy lạ, tiếng “ăn vòi” của người Việt Bắc Kỳ những năm 1930, 1940. Bạn ơi, người bạn đến cuộc đời này sau tôi 300 năm, bạn có thấy cảm khái tí ti ông cụ nào không khi bạn thấy tôi, người sống, chết trước bạn 300 năm, nghĩ đến bạn, viết cho bạn, người bạn của tôi năm 2300 ở cõi đời này.

Buồn sầu, mặt mũi khó đăm đăm như người táo bón kinh niên. Ăn cái giải gì? Buồn mấy thì cũng thế thôi, bại trận vẫn là bại trận, mất nước vẫn hoàn mất nước, bị nhục mạ ba mươi năm vẫn cứ bị nhục mạ, những thằng khốn nạn nghênh ngang ở quê hương vẫn cứ nghênh ngang, những thằng vô loại bợ đít bọn Cộng ở hải ngoại vẫn cứ bợ đít, lưu đầy đến hết kiếp, gửi tro tàn, xương vụn nơi xứ người. Sao không dzui đời như mọi người sống cùng thời với mình? Đôi khi tôi nghĩ thế nhưng nghĩ thế mà tôi không làm theo như thế, tôi vẫn cứ buồn. Những ngày cuối năm nay, sống nốt quãng thời gian cuối cùng của đời tôi ở xứ người tôi lại càng buồn.

Chưa già không bệnh tật,
Cuộc sống thấy thừa ta.
Nỗi sầu như tóc bạc
Không cắt cũng dzài ra!.

Không phải là “hải ngoại thừa ta”, không phải là “chống Cộng thấy thừa ta” mà tôi thấy tôi thừa trong cuộc sống. Chắc cũng chẳng có gì lạ, nhiều người đã buồn sầu như thế trước tôi, sau tôi sẽ có cả tỷ tỷ người đến tuổi xế tối sẽ buồn sầu như tôi sầu buồn hôm nay. Nhưng.. như đã viết, như đã tự nhủ, than thở lắm cũng “chẳng ăn cái giải gì”, than rên còn làm cho những người đọc mình buồn lây, tôi ngừng buồn sầu để viết bài này cuối năm Gà sang năm Heo.

Những năm 1992, 1993 xưa, rất có thể cũng là những năm Gà, năm Heo , sống ở Sài Gòn, tôi ghét nhất 5 người. Trông thấy mặt mấy anh này trên báo, trên màn ảnh TiVi, là tôi điên ruột:

– Đỗ Đít.
– Fidel Castro.
– Yessar Arafat.
– Gadapfi.
– Saddam Hussein

Năm nay, 2005, Arafat đã ra người thiên cổ, chú Fai-đeo Râu Sồm đang ngắc ngoải, một nửa người chú đã nằm trong quan tài, anh Hề Gadapfi chịu co vòi nằm yên, không ngọ nguậy phá phách gì. Và Saddam Hussein một thời nghênh ngang, ngược ngạo vừa bị treo cổ ở Bagdad, thủ đô thần kỳ của A-la-đanh Cây Đèn Thần Ngàn Lẻ Một Đêm Xưa.

Không đùa rỡn nữa về người khi người đã chết. Tôi có mấy câu gửi vong hồn Nhà Độc Tài Xứ Bách-đa:

Sát-đam..! Thôi đã thôi dzồi!
Bách-đa man mác ngậm ngùi lòng ta.
Uy quyền, phú quí, vinh hoa..
Đam ơi..! Chớp mắt chỉ là chiêm bao.
Dây oan khiên tự buộc vào.
Này nhân, này quả, kiếp nào, kiếp nay!

Có nhân, có quả hay không trong sợi dây vô hình buộc số mệnh Saddam Hussein, Bagdad với Cha Con Bush, Texas? Bush Bố đập tan mộng bá chủ Trung Đông của Saddam khi Saddam cho quân đánh chiếm Kuwait. Những tưởng ân oán chỉ có thế, 20 năm sau Bush Con đánh vào thủ đô Bagdad, bắt sống Saddam. Như Chu Du Ba Tầu Tam Quốc Ngày Xưa than sau ba lần bị Khổng Minh làm cho thổ huyết: “Đã sinh Dzu sao còn sinh Lượng?”, Saddam có thể hỏi Trời:

— Đã sinh Đam sao còn sinh Bút?

Những ngày cuối Năm Chó, sang Năm Heo, tôi uống cạn cái gọi là “Chén Đắng Cuối Năm” của tôi.

Cùng trong một tuần Saddam Hussein bị treo cổ, ông Cựu Tổng Thống Gerald Ford của Hoa Kỳ từ trần. Tôi, và nhiều người Việt, tôi muốn nói đến những người Việt không chạy thoát sang Mỹ năm 1975, biết về ông Tổng Thống Mỹ Gerald Ford ít nhất. Ông Nixon đi khỏi Nhà Trắng, ông Ford dzô thay. Thời ấy Phó Tổng Thống Mỹ là ông Spiro Agnew. Ông Phó Tổng Agnew can cái tội bần tiện nhưng pháp luật Mỹ cho là tội nặng là tội trốn thuế nên phải từ chức. Theo Hiến Pháp, Quốc Hội Mỹ tuyển một thành viên Quốc Hội làm Phó Tổng Thống. Dân biểu Gerald Ford được tuyển. Người Việt tối tăm mắt mũi vì bị đẩy vào cuộc trời long, đất ngả nghiêng không còn tâm trí đâu tìm biết về ông Tổng Thống Vá Víu Thứ 38 của Hoa Kỳ. Tôi chỉ nhớ mấy lời TT. Ford nói sau Ngày 30 Tháng Tư 1975:

— Chúng ta đã bỏ lại một số người đáng lẽ chúng ta phải mang đi.

— Chúng ta đã mang đi một số người chúng ta không cần mang đi.

— Một trang sử đã được lật qua.

Lời ông Ford làm lòng tôi cay đắng. Không chạy thoát được, đúng ra là “bị bỏ lại”, tôi cay đắng thấy tôi ở trong số những người bị bỏ lại. Nếu tôi chạy thoát, chắc tôi vẫn cay đắng vì tôi nghĩ tôi ở trong số người Mỹ “không cần mang đi”. Được biết TT. Ford đã làm nhiều việc để cứu trợ 150,000 người Việt chạy được sang Mỹ Tháng Tư 1975, tôi vẫn đắng cay, có thể tôi còn đắng cay hơn vì tôi không ở trong số 150,000 người Việt được hưởng phúc lợi đó.

Tháng 12, 2006, Nhật Báo The Washington Post trích đăng một số đoạn trong bài hai ký giả Bob Woodward, Christine Parthem của nhà báo phỏng vấn Cựu TT Gerald Ford về Chiến Tranh Việt Nam. Cuộc phỏng vấn được làm năm 2004, 2005, với điều kiện nhà báo chỉ được phổ biến sau khi ông Ford đã qua đời. Những lời ông Ford nói về Chiến Tranh Việt Nam, về những người Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, trong cuộc phỏng vấn làm tôi cay đắng.

Đôi khi đọc lời dịch tiếng Việt của những bản văn tiếng Mỹ, tôi théc méc không biết bản tiếng Mỹ viết ra sao, bản dịch tiếng Việt có đúng như bản tiếng Mỹ không, nên để tránh cho quí vị độc giả nỗi khó chịu ấy, tôi viết lại đây những đoạn văn tiếng Mỹ tôi thấy cần để quí vị kiểm xoát, so sánh với lời tiếng Việt tôi dịch.

‘We could have avoided the whole darned Vietnam War’

‘Chúng ta đã có thể tránh khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam khốn nạn’

Đó là lời Cựu TT, Ford nói với ký giả Bob Woodward. Đây là mấy đoạn ông Ford nói trong cuộc phỏng vấn:

Gerald B. Ford: You know, there was a fundamental mistake made back after World War II. When the French had committed to support the Vietnamese. In fact, I went down to Saigon ( in 1953 ). I wanted to find out why we’re going to spend a lot of money in South Vietnam on behaft of the South Vietnamese. I was in Saigon, stayed at the ambassador’s residence, and I went over to the French military headquarters, and boy, all these French generals and colonels were dressed up here out in Saigon and telling me how they were gonna win the war against the ( North ) Vietnamese.

Well, it sound good on paper, and they ought to know more than I did. Well, in about six months the French got the hell kicked out of Dien Bien Phu. The point is, we were on the wrong side of the locals. We made the same mistake the French did, except we got deeper and deeper in the war. We could have avoided the whole darn Vietnam War if somebody in the Department of Defense or State had said, ” Look here. Do we want to inherit the French mess?”

Bob Woodward: But if you look at the memos internally in the Johnson administration, ‘65, ’66, ‘67, they are saying to themselves: The South Vietnamese are corrupt, terrible. We bet on the wrong horse here.

Gerald Ford: Well, if that’s the way they felt, why in the hell din’t they go to the public? They never related that to us.

Bob Woodward: What the big lesson from all of this? What’s the big lesson from the broadest history?

Gerald Ford: Well, I’ve often thought about that, Bob, based on my 30 years in government in very difficult times. We have to assume that we are the most powerful nation in the world militarily, and that we have some obligations on behalf of democracies worldwide. But I don’t think we can force democracy on people or a nation that aren’t prepared for it. But that dosen’t mean we should go to war to change their mind. We believe in democracy and we think it’s the right policy. We had a standoff with the Soviet Union, but we never went to war with thr Soviet Union for other good and sufficient reasons, economic and forth. That ill-fate system failed.

Bob Woodward: You said it was the saddest day of your presidency when all the helicopters were.. ..

Gerald Ford: I did, when they left the embassy in Saigon. Oh, to see those helicopters go out, come back, go out and come back. We saved the lives of not only our U.S. military personnel, our U.S. civilian personnel, but on my personal orders, saved the lives of South Vietnamese who had supported us, contrary to ( Defense Secretary ) Jim Schlesinger, who wanted to let everybody go to hell.

Bob Woodward: I think at one point Kissinger said, ” If we had another week we could have saved 12, 000 more.”

Gerald Ford: Oh, at least, I think. Well, if you see pictures of that mob in the area of the embassy, you know there were a lot of people that never made it, and if they didn’t make it they probably lost their lives under the North Vietnamese.

Phỏng dịch:

Gerald B. Ford: Có cái sai căn bản chúng ta đã phạm sau Thế Chiến II, khi người Pháp thực hiện cuộc giúp người Việt. Tôi đến Sài Gòn năm 1953. Tôi muốn tìm biết vì sao chúng ta lại chi những số tiền lớn vào Nam Việt Nam vì lợi ích của những người Nam Việt Nam. Tôi ngụ trong tư dinh của ông Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, tôi đến những sở chỉ huy của Quân Đội Pháp, ở đây những ông Tướng Pháp, những ông Đại Tá Pháp, cho tôi biết họ sẽ thắng người Việt như thế nào.

Tình hình có vẻ tốt đẹp trên giấy tờ, tôi chắc các ông ấy phải biết rõ tình hình hơn tôi. Khoảng sáu tháng sau, người Pháp bị đá ra khỏi Điện Biên Phủ. Vấn đề là: chúng ta ở sai chỗ. Chúng ta đã phạm cũng những cái sai mà người Pháp đã phạm, có điều khác là chúng ta sai phạm sâu hơn, nặng hơn vào cuộc chiến. Chúng ta đã có thể tránh được toàn bộ cuộc Chiến Việt Nam đốn mạt nếu lúc ấy có ai trong Bộ Quốc Phòng, hay Bộ Ngoại Giao, nói một câu như: ” Coi nè..! Chúng ta muốn thừa tiếp cái bê bối của bọn Pháp ư?”

Bob Woodward: Nếu ông đọc những thông tư nội bộ của chính phủ Johnson trong những năm 65, 66, 67, ông đã thấy họ ( những thành viên chính phủ Johnson ) bảo nhau: Bọn Nam Việt Nam thối nát, dễ sợ. Chúng ta bắt cá sai con ngựa ở đây.

Gerald Ford: Nếu họ thấy như thế tại sao họ không cho công chúng biết? Họ không bao giờ cho chúng tôi biết những chuyện ấy.

Bob Woodward: Bài học nào chúng ta có được từ Chiến Tranh Việt Nam?

Gerald Ford: Tôi cũng thường nghĩ về chuyện ấy, căn cứ trên 30 năm hành pháp của tôi trong những thời khó khăn nhất. Chúng ta tự cho chúng ta là quốc gia mạnh nhất về quân lực, và vì thế chúng ta có một số những bổn phận phải làm cho nền dân chủ trên khắp thế giới. Nhưng tôi thấy chúng ta không thể ép buộc dân chủ cho những dân tộc, những quốc gia chưa sẵn sàng cho dân chủ. Chúng ta không có bổn phận phải lâm chiến để làm cho họ thay đổi ý tưởng. Chúng ta tin tưởng dân chủ và thấy đó là chính sách đúng. Chúng ta đã có cuộc đối đầu với Liên Xô nhưng chúng ta đã không lâm chiến với Liên Xô ngoài những tranh chấp phải lẽ về kinh tế và những điều kiện sinh hoạt khác. Cái hệ thống xã hội thảm não ấy nó tự chết.

Bob Woodward: Ông nói ngày buồn nhất trong nhiệm kỳ Tổng Thống của ông là ngày những phi cơ trực thăng..

Gerald Ford: Tôi có nói thế, khi những trực thăng bay đi từ Tòa Đại Sứ ở Sài Gòn. Ồ.. Khi nhìn những phi cơ ấy bay đi, bay trở lại, bay đi, trở lại. Chúng ta đã cứu mạng không chỉ những nhân viên quân sự của ta, mà còn cứu được những nhân viên dân sự. Theo lệnh của tôi, ta đã cứu được một số người Nam Việt Nam, những người đã cộng tác với chúng ta, tôi đã làm ngược ý muốn của Bộ Trưởng Quốc Phòng Jim Schlesinger, ông này muốn “để mặc cho chúng nó chết hết.”

Bob Woodward: Kissinger có nói: ” Nếu chúng ta có được một tuần nữa, chúng ta sẽ cứu được thêm 12, 000 người.

Gerald Ford: Ít nhất là thế. Nhìn ảnh chụp những đám người trong sân Tòa Đại Sứ, ta thấy có nhiều người không chạy thoát, nếu họ đi không thoát chắc họ phải chết dưới tay bọn Bắc Việt.

Năm 1953 ông Gerald Ford, với tư cách Dân Biểu Quốc Hội Mỹ, đến Sài Gòn để, theo lời ông nói, tìm hiểu tại chỗ về chiến tranh Việt Nam. Ông ngụ trong tư dinh của Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn. Tư dinh này năm đó ở đường Mayer, sau năm 1956 là đường Hiền Vương, nơi Hiền Vương chạm đường Đoàn Thị Điểm hay đường Bà Huyện Thanh Quan, đi vô một quãng là đến đường Kỳ Đồng và Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Những năm ấy bọn Việt Cộng ở Sài Gòn thật yếu. Tư dinh Đại Sứ Mỹ ở ngay mặt tiền đường, hệ thống bảo vệ sơ sài, nhưng trong nhiều năm bọn Việt Cộng không một lần tính chuyện chạy qua ném một trái tạc đạn vào đó. Đến năm 1965 tư dinh Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn chuyển vào trong khu Mạc Đĩnh Chi sau lưng Tòa Đại Sứ.

Đọc trên báo Mỹ tôi được biết năm 1976 ông Gerald Ford tranh cử Tổng Thống với ông Jimmy Carter, trong một cuộc tranh luận tay đôi giữa hai ứng cử viên trước công chúng, ông Ford nói “Ba-lan – Poland – là quốc gia độc lập, không chịu ảnh hưởng gì của Nga Xô..” Lời nói ấy cho dân chúng Mỹ thấy sự mù tịt về chính trị thế giới của người ra ứng cử chức vụ Tổng Thống. Được biết ông Ford từng nói như thế, tôi không còn ngạc nhiên khi thấy ông kể năm 1953, là dân biểu Mỹ, ông đến Sài Gòn để “tìm biết tại sao người Mỹ lại phải giúp nhân dân Nam Việt Nam chống Cộng.”

Em nhỏ lên ba cũng biết hơn ông Ford, rằng sau Thế Chiến Thứ Hai, những người cầm quyền Mỹ ngớ ngẩn, ngơ ngác, tê tái, ngán ngẩm nhìn nhau khi thấy Mỹ hy sinh bao nhiêu xương máu đánh dẹp Đức, Nhật, để đánh xong, bọn Nga Cộng bành trướng ra khắp thế giới; Nga Cộng chiếm trọn vùng Đông Âu, các quốc gia độc lập Tiệp, Hung, Lỗ, Ba Lan, Nam Tư, Bun.. trong hai sớm, ba chiều, bốn tối, năm đêm bị nhuộm đỏ lòm ráo trọi. Cứ cái đà con Quái Vật Đỏ tung vòi đỏ đi cuốn các nơi nhanh và dễ ợt như vầy thì không bao lâu trên trái đất chỉ còn có Kỳ Hoa, Anh Quốc là không cộng sản, không thần phục Mút-cu. Tổng Thống Truman, Thủ Tướng Churchill vội thực hiện chính sách ngăn chặn Nga Xô trên thế giới. Không cho Nga Đỏ phình ra thêm nữa. Đó là mục tiêu chính sách của Mỹ và Anh những năm 1947, 1948.

Năm 1944, trước ngày chiến thắng, Tổng Thống Roosevelt đã quyết định chính sách quốc tế của Hoa Kỳ sau Chiến Tranh: tất cả những quốc gia cựu thuộc địa trên thế giới sẽ được độc lập, Chế độ thuộc địa phải cáo chung. Lên kế nhiệm, TT Truman không muốn giúp Thực Dân Pháp trở lại Đông Dương nhưng ông không muốn không được. Trong hai cái xấu: một: Thực dân Pháp trở lại Đông Dương, hai: Tầu Cộng lừng lững đi qua Việt Nam rồi rùng rùng kéo sang Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Nam Dương, TT. Truman chọn cái Xấu Nhẹ hơn trong hai cái Xấu. Như thế, người Mỹ đến đánh Cộng sản ở Việt Nam một phần vì dân Nam Việt Nam, nhưng phần lớn vì họ phải đánh Cộng ở đó, ở xa xứ sở của họ để ngăn không cho Cộng sản đánh vào thủ đô Washington của họ.

Dân biểu Ford phải tìm để biết ở ngay trong nước Mỹ tại sao người Mỹ phải hy sinh xương máu đánh Cộng ở ngoài lãnh thổ Mỹ. Vất vả đem thân đến tìm nguyên nhân ở Sài Gòn thì phải nói là ông ngớ ngẩn quá. Vì những trận chiến giữa Chiến Binh Mỹ và bọn Cộng sản ở Triều Tiên, Việt Nam, bọn Nga Cộng, Tầu Cộng phải ganh đua với Mỹ, phải gồng mình nhịn đói theo đuổi chiến tranh, leo thang chế tạo võ khí, chúng kiệt sức và cuối cùng chúng ngắc ngoải, chúng tự chết. 60,000 chiến binh Mỹ hy sinh trên chiến trường Việt Nam nào phải là vô ích? Họ không chết, làm sao chủ nghĩa Cộng Sản bị vứt vào thùng rác của lịch sử, làm sao bọn Nga Cộng bị gậy đi ăn mày, làm sao bọn cộng sản bị toàn thể loài người, tiến bộ, hay chửa tiến mấy, chửi rủa, khinh bỉ, ghê tởm? 60,000 chiến binh Mỹ không chết ở chiến trường Việt Nam, làm sao Mỹ thắng Trận Chiến Tranh Lạnh? Như bây giờ Mỹ không thể không sang Trung Đông đánh bọn Al-Queida. Mỹ không đổ máu Mỹ ở Irak, Aghanistan, máu Mỹ sẽ đổ ở NewYork, Washington DC, Los Angeles. Như máu Mỹ đã đổ ba năm trước ở NewYork, và sẽ đổ dài dài trên đất Mỹ. Chuyện đó chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch.

Chiến Tranh Irak là dịp để cho một số người Mỹ nhắc lại Chiến Tranh Việt Nam. Thằng thua trận phải lãnh tất cả những nhục nhã, những lời kết tội, những tội ngu xuẩn, lì lợm, hèn nhát, đốn mạt. Những anh Thầy Bàn Lộn Mỹ Chồn Lui chuyên ăn hại, đái nát, cả đời không làm được qua một việc nhỏ nào có ích cho dân Mỹ, lên giọng phê phán những Tổng Thống Johnson, Nixon, Bush. Ba mươii năm sau Ngày Bại Trận, Ngày Mất Nước, ngày này, tháng này, năm nay,vì Mỹ sa lầy ở Irak, nhân dân Nam Việt Nam, Quân Đội Quốc Gia Nam Việt Nam lại bị bọn Thầy Bàn Lộn Mỹ lôi ra chửi. Họ đã đổ lỗi họ thua trận cho những người dân Nam Việt Nam, cho Quân Đội Nam Việt Nam, nay vì họ thua trận ở Irak, họ lôi những người Nam Việt Nam bạn xưa của họ ra họ chửi nữa.

Tôi tự nguyện uống Chén Đắng Cuối Năm – là Người phải biết Nhục khi mình bị Nhục, có biết Nhục mới là Người – nhưng Sức Người có hạn, tôi không thể uống được ba, bốn Chén Đắng trong một lúc. Hôm nay tôi ngừng uống ở đây. Nhưng cuối năm tôi vẫn còn nhiều Chén Đắng. Nếu bạn muốn cùng tôi uống những Đắng Cay, xin hẹn nhau ngày tới.

Độc tại Kỳ Hoa vi nạn khách
Mỗi phùng Nguyên Đán bội thương sầu.

Sống ở Kỳ Hoa làm khách nạn,
Năm năm Tết đến lại thương sầu.
Thương về đâu, nhớ về đâu?
Hà Đông Công Tử bạc đầu Rừng Phong!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: