• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Đọc Chùa Đàn Xem Mê Thảo

CHÙA ĐÀN, Truyện Vừa, tiểu thuyết cuối cùng của Nguyễn Tuân, viết vào khoảng tháng 3, tháng 4 năm 1945, trước ngày Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội, được xuất bản trong năm 1946 trước ngày chiến tranh Việt Pháp nổ ra ở Hà Nội. Đây là lời giới thiệu CHÙA ĐÀN của Nhà Xuất Bản Văn Học, Hà Nội, trong Nguyễn Tuân Toàn Tập, ấn hành năm 2000.

Nhà Xuất Bản Văn Học:

Chùa Đàn có 3 phần. Phần ruột gọi là “Tâm sự của nước độc” được viết trước Cách Mạng Tháng Tám tại nhà bà Chu Thị Năm ở Bần Yên Nhân (Hưng Yên). Trong bài kiểm điểm chỉnh huấn (1953) Nguyễn Tuân thú nhận phần ruột này được viết theo mạch văn “yêu ngôn” trước Tháng Tám 1945 (loại truyện viết về ma quỷ theo kiểu Liêu Trai của Bồ Tùng Linh). Ít lâu sau, được giác ngộ cách mạng, Nguyễn Tuân mới chắp thêm phần mở đầu gọi là Dựng, và phần kết gọi là Mưỡu Cuối, biến nhân vật Lãnh Út thành chiến sĩ cách mạng. Tác phẩm do Nhà Quốc Văn xuất bản năm 1946.

Chùa Đàn, “tiểu thuyết Nguyễn Tuân” cuối cùng của Nguyễn Tuân, sau Chùa Đàn Nguyễn Tuân không còn viết được tiểu thuyết, những gì Nguyễn Tuân viết sau năm 1946 đều không ra cái gì cả. Nguyễn Tuân Tùy Bút Vang Bóng Một Thời chết sau Chùa Đàn.

Như lời Nhà Xuất Bản Văn Học Hà Nội giới thiệu Truyện Vừa Chùa Đàn lúc đầu tên là “Tâm sự của nước độc”, cái tên không hấp dẫn, không gợi cảm, không có vẻ tiểu thuyết chút nào. Truyện được nhà xuất bản Quốc Văn ấn hành ở Hà Nội trong năm 1946, trước ngày chiến tranh Việt Pháp nổ ra ở Hà Nội. Chắc số quyển truyện được phát hành năm ấy không được nhiều, số người đọc truyện lại càng ít. Không biết vào năm nào truyện được tái bản ở Hà Nội, và trong trường hợp nào truyện được đổi tên là Chuà Đàn. Tôi không mê thích tiểu thuyết Nguyễn Tuân nên không để ý theo dõi, chỉ nhớ một số tác phẩm của Nguyễn Tuân: Vang Bóng Một Thời, Chiếc Lư Đồng Mắt Cua, Chùa Đàn..vv.. được in lại ở Sài Gòn những năm 1957, 1958. Chùa Đàn được một số người viết truyện ở Sài Gòn những năm ấy coi là tuyệt phẩm, tức là truyện hay nhất của Nguyễn Tuân, nhiều người coi Nguyễn Tuân là tác giả viết Tùy Bút xuất sắc nhất Việt Nam kể từ ngày bộ môn Văn của Việt Nam có Tùy Bút.

Vào những tháng đầu năm 1945 Nguyễn Tuân viết truyện Tâm sự của nước độc. Khi ấy Nguyễn Tuân còn nguyên là Nguyễn Tuân, chưa bị dính cái gọi là lý thuyết văn nghệ Mác-xít. Truyện chưa được xuất bản, cũng chưa được đăng báo thì Tháng Tám đến, Việt Minh cướp chính quyền. Truyện trở thành tác phẩm điển hình của loại “Tiểu Thuyết Tiểu Tư Sản sa đọa, ma mị, phản động”. Để có thể được Việt Minh, rõ hơn là bọn Trường Chinh, Tố Hữu, cho phép xuất bản, trong năm 1946 Nguyễn Tuân viết thêm hai đoạn gọi là “Mở đầu” và “Kết”. Ta sẽ xét hai đoạn vá víu ấy sau.

Năm 1957, 1958 tôi đọc Chùa Đàn ở Sài Gòn, như đã nói tôi không thích văn Nguyễn Tuân nên Chùa Đàn không ảnh hưởng gì nhiều đến tôi. Trong 20 năm, từ 1954 đến 1975, ngoài Chùa Đàn, không một lần tôi đọc lại những truyện trước năm 1945 của Nguyễn Tuân. Tháng Sáu năm 2005, ở Hoa Kỳ, thấy mấy tờ báo Việt đăng quảng cáo Mê Thảo, phim Việt Nam, phỏng theo tác phẩm Chuà Đàn của Nguyễn Tuân, rồi thấy phim được chiếu ở Virginia, tôi lấy truyện Chuà Đàn ra đọc lại. Tôi đọc truyện Chùa Đàn rồi đi xem phim Mê Thảo, phim phỏng theo truyện Chùa Đàn. Đọc truyện, xem phim, hôm nay tôi viết bài này.

Hai nhân vật chính của Chùa Đàn là hai người nam: Lãnh Út, Bá Nhỡ, một nhân vật nữ: Cô Tơ, đào hát. Chuyện xẩy ra trong Ấp Mê Thảo, tên tục là Ấp Tháo, trong vùng thượng du có thể là Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, mấy tỉnh có đường xe lửa chạy qua. Lãnh Út là chủ ấp Mê Thảo, Bá Nhỡ là quản lý ấp. Hai nhân vật này trạc 40 tuổi khi chuyện xẩy ra. Đào Tơ trạc 30 tuổi.

Đây là những giòng đầu của Chùa Đàn. Trích:

Lãnh Út gọi Bá Nhỡ lên, bảo ban về việc ngày mai điều khiển dân ấp Mê Thảo đi đánh cây cổ thụ ở Suối Vầu:

— Em phải trông cẩn thận kẻo chúng nó làm gẫy mất ngọn. Bắt đầu vào dốc suối, đúng cái cây thứ ba về bên tay phải ấy.

— Thưa Cậu, phải qua sông?

— Không thể nào tránh sông được. Muốn đi lối nào con sông Tấm vẫn nằm giữa Suối Vầu và ấp ta. Cậu đã vạch rõ cho chúng nó cách thức đưa cây về ấp rồi. Nội ngày mai, phải đưa được cây về tới đây trước lúc mặt giời lặn. Quá nửa đêm sẽ hạ thổ cây gạo. Cho kịp ngày kia giỗ Mợ Lãnh. Em có mặt ở Suối Vầu, chúng làm việc chu đáo hơn. Chậm trễ, hư hỏng, phần lỗi Em chịu lấy. Sáng mai phải đi vào suối từ lúc chưa tan sương, không phải lên trình Cậu nữa, để cho Cậu ngủ lâu hơn mọi ngày. Thôi cho Em xuống.

Trời sẫm rồi đen. Gió ngàn hôm lùa mạnh vào nương dâu. Cậu Lãnh Út thắp cây sáp ong, ngồi bên án thư, lần giở lại tập thơ Mợ Lãnh gọt rũa lúc sinh thời. Người chủ ấp Mê Thảo, qua những lời thơ di cảo, đang mường tượng đến dáng dấp, ngôn ngữ người vợ chết sắp đến kỳ giỗ hết. Cậu Lãnh Út thở dài tiến lại phía vách đối diện lửng lơ một bức tranh trung đường phong kín chỉ hé ra có hai đầu trục. Cậu trang trọng gỡ múi dây, đỡ dần bức tranh thả vào lòng tay run run. Giấy tranh bồi cọ loạt soạt vào tường phòng vắng rộng. Cậu Lãnh thắp thêm một cây hoàng lạp nữa, đi lại trong phòng và lúc dừng bước trông vào tranh thì thần thái trông thiểu não quá chừng. Lòng tranh lụa hiện lên một tấm họa mỹ nhân. Ấy là một người đàn bà áo trắng đang ngồi chép sách trên một cái đôn mầu cốm, bên một khung cửa sổ có mấy tầu lá chuối già lọt vào. Màu xanh tái của tranh gia thêm xa lạnh vào khí buồng rộng quạnh và đổ thêm buồn lên vẻ nhớ vợ của người ngắm tranh. Bức tranh trung đường ấy là bức truyền thần toàn thân Mợ Lãnh. Nguyên trước ở tường ấy chỉ treo vẻn vẹn có một tấm hình bán thân Mợ Lãnh do hiệu ảnh dưới tỉnh phóng đại theo hai chiều 24×32. Từ ngày Mợ Lãnh chết một cách bất đắc kỳ tử, Cậu Lãnh đâm ra thù hận và oán ghét máy móc. Cậu đã cậy một họa sĩ trứ danh phóng hình người vợ vào tấm này và hủy tấm ảnh của máy chụp kia đi. Mợ Lãnh bị vào cái tai nạn đoàn hỏa xa lật úp xuống vực gần hầm Sen ga Liên Chiểu làm người quan phu Lãnh Út ấy đã trở nên mnột kẻ thù ghê gớm của thời đại cơ khí, tưởng Tagore Ấn Độ cũng đến thế thôi. Thời đại khoa học phát sinh ra được máy móc nào là Cậu ngoảnh mặt đi đến đấy. Thậm chí Cậu dằn dỗi cả với những vật dụng cần thiết hàng ngày do đời cơ khí chế tạo ra. Ô tô, xe đạp, máy bơm nước sông tưới nương dâu, cậu bán rẻ đi và cho không nữa. Cậu bán cả những ống chì dẫn hơi nước để sưởi buồng nuôi tằm vào cữ tháng giá. Đến như máy và đĩa kèn hát, máy đánh chữ, bút máy, lò cồn đun nước, đèn măng-xông, ống hàn thử biểu, lịch có ngày tháng in bằng máy, Cậu đều vứt hết. Khẩu súng một nòng bắn đạn chì hoa khế trừ mãnh thú và khẩu hai nòng bắn chim, Cậu gói làm một quăng xuống khúc sông Tấm.

Tang lễ Mợ Lãnh vừa xong được một tuần chay thì quanh chỗ giới hạn đất ấp Mê Thảo tự nhiên dựng lên mấy chòi canh. Ai ở các nơi vào đất ấp Tháo – tục danh của ấp Mê Thảo – đều bị dân hàng ấp giữ lại khám xét rất kỹ có giắt theo vật dụng gì có tính cách máy móc không. Có nhiều bạn của Lãnh Út bị lẫn lộn đồng hồ mỗi lúc lên chơi ấp rồi lộn về. Ô tô, xe cộ của quan khách thường bị gạt xuống dưới chân đồi xa.

Lãnh Út tự xưng là Cậu, gọi Bá Nhỡ là Em, ngôn từ ấy cho thấy ít nhất Lãnh Út phải 50, Bá Nhỡ chỉ mới 30 tuổi. Trong Chùa Đàn, vợ Lãnh Út chết vì tai nạn xe hỏa, từ chuyện thù xe hỏa làm vợ hắn chết, Lãnh Út “thù” tất cả những gì do khoa học cơ khí tạo ra. “Thù” như thế Lãnh Út chỉ là người gàn dở, lẩm cẩm, ngu ngốc. Lãnh Út đập vỡ nhưng tấm gương soi, hủy hoại bút máy, đèn cồn, đồng hồ, kèn hát, đốt xe đạp… nhưng có một thứ đáng căm thù nhất, đáng để y hủy hoại nhất thì y không dám đụng đến. Đó là những tờ giấy bạc. Những tờ giấy bạc do Nhà Banque de L’Indochine phát hành, có ghi hàng chữ “Le Code Pénal punit aux travaux forcés celui qui falsifie ce billet: Hình Luật phạt khổ sai kẻ nào làm giả giấy bạc này.” Lãnh Út mà đem giấy bạc ra đốt, hay cấm dân trong ấp dùng giấy bạc, cấm dân ấp giữ giấy bạc, Tây nó đến nó gô cổ Lãnh Út nó đem đi nó cho tù mút mùa Lệ Thủy. Ấp Mê Thảo, luôn cả Ấp Tháo, thành Ấp Tháo Tỏng trong một sớm, một chiều. Khi phóng tay tả nhân vật hủy hoại những sản phẩm của văn minh cơ khí, Nguyễn Tuân quên mất những tờ giấy bạc. Hình như trong bao nhiêu năm, bao nhiêu người đọc Chùa Đàn, thán phục văn tài Nguyễn Tuân, không ai thấy cái chuyện lố bịch Lãnh Út đốt, phá đồng hồ, máy hát nhưng không dám đụng đến những tờ giấy bạc. Đó là một cái “yếu” của Nguyễn Tuân. Không dám đụng đến “giấy bạc” là thứ sản phẩm hạng nhất của văn minh cơ khí , của những người da trắng đếm chiếm, ngang nhiên làm chủ nhân ông giải giang sơn hình chữ S, việc phá đồng hồ, kèn hát chỉ là chuyện con nít.

Lãnh Út chán đời, bệnh hoạn, sa đọa, ngày uống rượu, đêm nhớ vợ. Do đó ngay trang truyện đầu tôi đã thấy Nguyễn Tuân tả sai tâm lý nhân vật: Bá Nhỡ là quản gia Ấp Mê Thảo, mọi việc làm trong Ấp, từ ngày vợ Lãnh Út chết, đã hơn hai năm, đều do Bá Nhỡ quán xuyến, việc đi đào cây gạo cổ thụ ở suối xa đem về trồng ở Ấp nhân ngày giỗ vợ Lãnh Út là việc làm của Bá Nhỡ, không phải việc do Lãnh Út chỉ huy làm. Bá Nhỡ là người báo cho Lãnh Út biết ngày mai y và đám gia nhân đi lấy cây gạo về như thế nào, không phải Lãnh Út nói cho Bá Nhỡ biết về việc đó như ta thấy. Chuyện nhỏ thôi, nhưng những chuyện nhỏ đúng sự thực, có thật, làm nên tác phẩm văn chương lớn. Những chuyện nhỏ mà sai làm cả pho truyện đi tướt. Chỉ hai trang truyện tôi đã thấy Nguyễn Tuân phạm hai lỗi tả không đúng: hủy nhiều thứ nhưng không hủy giấy bạc, thẻ căn cước gọi là thẻ thuế thân, cho Lãnh Út nói cho Bá Nhỡ biết việc ngày mai đi lấy cây gạo về ấp ra sao. Cái không đúng thứ ba: “… bên một khung cửa sổ có mấy tầu lá chuối già lọt vào.” “Tầu lá chuối” ở ngoài vườn làm sao “chui qua cửa sổ” vào trong phòng? Phải là “khung cửa sổ bên ngoài thấy mấy tầu lá chuối.”

Vài câu trao đổi của đám dân trong ấp bị sai đi mang cây gạo về ấp cho ta thấy Lãnh Út là thứ “cường hào, ác bá” tồi tệ quá cỡ:

Chùa Đàn. Trích:

— Cơ mầu này rồi cũng đến bán ấp. Cứ uống những trận rượu như thế rồi phát điên, phát cuồng lên thì còn lắm là dâu, là tằm. Nếu ông chủ bán ấp, lại chỉ khổ cho bọn mình bị gán thân cho chủ khác. Công nợ như mình, vợ con, ăn mặc đều tính vào dâu tằm người ta tự bao lâu nay, mỗi chốc vỗ được nợ mà đưa gia đình về dưới xuôi được sao.

— Cây của người ta đang ra quả. Chỉ vì nó ở ráp hàng rào ấp mình, cành quả nó ngả sang đất mình, thế mà đòi bẻ và nhận lấy, nhận để là của mình. Tai ngược hơn cả đàn bà một mắt.

— Mà người sao gàn dở đến như thế. Ai có cái máy bật lửa cũng khám, cũng phạt, cũng cấm. Lắm khi định ăn điếu thuốc lào thì cứ như là thằng ăn cắp.

— Say rồi đâm càn rỡ quá. Bò của người ta lạc vào ấp, ông ta bắt người nhà giữ chân bò căng ra rồi xẻo lấy miếng thịt mông, nướng ăn tái. Nhăn răng ra cười, kêu rằng chỗ mông cắt ấy sẽ thành sẹo cũng không hại gì. Nói như thế mà nghe xuôi tai được đấy!

— Thế đã khổ sở, bêu diếu đâu bằng ông ấy hiếp cả người đi chợ qua vùng đấy. Ban ngày, giữa chỗ Ngã Sáu Quán Chuột ấy. Quây màn ra giữa giời mà làm được việc ấy giữa ban ngày thì có khổ cho rượu với chè không chứ!

Khó có thể tin được gã đàn ông đểu, bẩn, ác, nhỏ nhen, khốn nạn đến như thế lại là người biết thương, biết yêu vợ, chung tình với người vợï đã chết, người có khả năng thưởng ngoạn văn thơ, thích và biết nghe hát ả đào và là tay đánh trống ả đào rất điệu nghệ, rất hào hoa. Nguyễn Tuân đã tả quá lố khi cho một tên chủ ấp “hiếp đàn bà đi qua đường” ngay giữa ban ngày khơi khơi mà không bị tội vạ gì cả. Sức mấy. Còn lâu. “Chủ ấp” là cái thá gì mà ngang nhiên làm những trò ngang ngược quá đến như thế? Tri huyện, tri phủ ở đâu? Chính quyền Nam triều nhũn và hèn với các quan Đại Pháp nhưng không nhũn, không nể, không hèn tí ti ông cụ nào với bọn dân A Nam. Chuyện Chùa Đàn phải xảy ra vào những năm 1925, 1930 – đến những năm đó đường hỏa xa lên các tỉnh mạn ngược mới đặt xong, có đường xe hỏa Vợ Lãnh Út mới chết vì xe hỏa lật – thời ấy giá trị, thân phận một anh chủ Ấp A- Na-mít không ra cái thống chế gì cả. Làm bậy như Chủ Ấp Tháo – đè đàn bà qua đường ra mà chơi giữa chợ – chỉ hai anh lính lệ nó đến ấp nó gô cổ thằng Chủ Ấp chơi bậy nó giải lên huyện. Thất thểu mà đi, vừa đi vừa khóc! Khóc và đái ra máu! Lính Tây nó bắt thì đời còn khốn nạn hơn nữa, ở đấy mà Chủ Ấp Lãnh Út mí lỵ Lãnh Đủ!

Viết như thế là viết sai, viết sai là lỗi của người viết. Trong những năm 1925, 1930 khi xảy ra chuyện Chùa Đàn, 99,99/100 người dân Bắc Kỳ, kể cả những người ở Hà Nội, không dùng bật lửa, tiếng Nam là quẹt máy. Dân Bắc Kỳ thời ấy dùng riêm, đa số người dân quê còn cả đời không dùng đến một que riêm, họ giữ lửa bằng những cái bùi nhùi làm bằng rơm bện lại. Cho một người dân ấp năm 1930 nói chuyện dùng “máy bật lửa” là nhảm.

Đây là chuyện về lý lịch Bá Nhỡ Quản Lý Ấp Tháo:

Chùa Đàn. Trích:

Bá Nhỡ, nguyên có dính líu vào một vụ giết người dưới trung châu. Tuy là tòng phạm mà cũng bị kêu án tử hình. Mợ Lãnh vì chút tình máu mủ xa, đã bảo chồng làm cho y một tập lý lịch giả và cho lên ẩn náu trên ấp Tháo. Bá Nhỡ chịu cái ơn cứu sống ấy, ở với vợ chồng chủ ấp hết sức trung thành, việc tằm tang ở ấp, tịnh không tơ hào lấy một xu. Ở vào chân quản gia, trông coi cả ấp rộng, Bá Nhỡ không một phút nào lộng hành. Sổ sách hàng ấp, một tay y cả.(……….. ..) Bá Nhỡ có tài đàn hát. Bất cứ nhạc khí nào, cái gì y chơi cũng thành ngón cả. Làn hát lắt léo nào, Bá Nhỡ cũng uốn giọng theo được miễn là cho y nghe một vài lần. Đàn hát ấy Nhỡ đem ra làm khuây cho chủ ấp.

Trong cảnh sống và cuộc sống tàn tạ ấy bỗng một đêm Lãnh Út nhớ đến đàn hát:

Chùa Đàn. Trích:

Rượu vào, Cậu Lãnh lại nhớ đến đàn hát đã bẵng đi một năm tròn. “Này Em này, cái Cô Tơ ấy độ này ở tỉnh hay ở nhà quê nhỉ? Hôm nào Em bảo Cô hát lại cho Cậu nghe. Một cây đàn đi theo với cô ta thôi. Giờ Cậu sợ những cái gì là đông đúc ầm ỹ”. Câu nói của Cậu Lãnh thốt ra lúc ngà ngà, rồi tửu đồ cũng bỏ đấy và quên mất. Nhưng Bá Nhỡ thì quên thế nào được. Bá Nhỡ để tâm việc đi tìm Cô Tơ. Cho người đi tìm không ăn thua gì, Bá Nhỡ thân hành đi tìm lấy, lòng bừng lên như buổi mai ngày hè. “Cậu Lãnh rồi có lẽ khỏi. Phải, Cậu mà không nghe đàn hát tức là hỏng rồi đó, tức là bệnh không thuốc nào chữa nổi nữa. Trừ phi không đủ điều kiện thôi, chứ con người ta sống ở đời, có ai lại không nghe đàn hát bao giờ. Đến người chết rồi cũng còn muốn nghe nhạc nữa là”.

Bá Nhỡ đi tìm Đào Tơ. Chồng Đào Tơ là kép đàn, tên là Chánh Thú. Vợ hát, chồng đàn. Nhưng Kép Đàn Chánh Thú đã chết, Đào Tơ thề với chồng nàng không bao giờ hát nữa, trừ khi “có người đàn bằng cây đàn của chồng nàng cho nàng hát”. Cây đàn của Kép Thú được treo trên bàn thờ. Và hồn ma Kép Thú thì lại dở trò hoành hành tác yêu, tác quái: khi mới chết Kép dặn vợ không được cho ai đàn cây đàn của Kép, tức là Kép không bằng lòng cho vợï Kép hát sau khi Kép chết, nhưng chết được ít lâu Kép về báo mộng cho vợ là Kép bị đưa xuống Thủy Cung đàn trong Oc-két Phi-la-mô-ních Sanh-phô-ních Roay-an cho Long Vương nghe, đáy biển lạnh lẽo, khổ sở lắm. Kép năn nỉ vợ cho người nào đó đàn cây đàn của Kép, người đó sẽ chết trong lúc đàn. Hồn người đó sẽ xuống Thủy Cung làm chân thợ đàn thay cho Kép, hồn Kép sẽ được trở về trần thế đầu thai.

Chuyện rắc rối tơ là đêm hôm trước Đào Tơ nằm mộng thấy chồng về nói như thế, hôm sau nàng thấy Bá Nhỡ mò đến ngỏ ý mời nàng lên Ấp Mê Thảo hát. Bá Nhỡ sẽ đàn cho nàng hát. Đào Tơ nói nàng đã có lời thề độc là nàng chỉ hát nếu có người đàn cho nàng hát bằng cây đàn của chồng nàng, và chồng nàng có lời nguyền trước khi chết là ai đàn cây đàn của ông sẽ bị chết. Bá Nhỡ xin được vào bàn thờ Kép Thú xem cây đàn ma quái. Đào Tơ giới thiệu về cây đàn:

Chùa Đàn. Trích:

— Ông để tôi nói tiếp. Nguyên cây đàn đó hình như có phù trú yểm bùa biếc gì ấy. Tang đàn làm bằng nắp ván thôi cỗ quan tài một người con gái đồng trinh. Hồi còn mồ ma nhà tôi, cái đàn ấy cũng đã sinh ra nhiều chứng lắm rồi. Về sau này, cứ vào những đêm tối giời không tiếng gà gáy, chó kêu và thứ nhất là vào những đêm áp ngày giỗ nhà tôi, thường cây đàn vẫn dở giời, thành đổ mồ hôi cứ vã ra như tắm và thùng đàn phát lên những tiếng thở dài và vật mình, vật mẩy với bức vách, cứ lủng củng suốt đêm. Thấy thế mãi rồi nó cũng quen đi, chứ mấy lúc đầu, tôi sợ lắm. Vả chăng, vì có sự nhớ thương mà cũng đỡ cái nỗi kinh hãi đi.

(…….. .. ..)

Bá Nhỡ có lối nói cứ xoắn lấy việc, không thể nào từ chối được. Vả chăng người cũng có cái cốt cách phong nhã. Cô Tơ đành phải đưa một ông khách nhất kiến vào xem bàn thờ chồng và nhất là xem cây đàn cũ dựng ở đấy. Bá Nhỡ đang ngắm nghía cây đàn bụi bám đầy, mạng nhện dăng cả lên mấy sợi tơ dây – khom mình cách xa đàn độ một với tay – bỗng cây đàn cũ nổ một tiếng tách gọn như cái tiếng nứt dọc bóng đèn a phiến. Bá Nhỡ giật mình ngấc lên, lùi ra một chút. Thì ra một sợi dây vừa đứt phựt, nó đang xoắn quấn và rung rung gởi lại vào phòng vắng ít dư ba của thanh âm dùng dắng rỉ rên.

Bá Nhỡ lặng lẽ thắp hương, khấu đầu làm lễ trước bàn thờ lạnh mộc. Bát hương nấu âm, tự nhiên các chân nhang đều cháy bùng lên và tàn lụn dần trên gio bát. Cô Tơ sợ quá và sắc mặt Bá Nhỡ cũng có tái nhợt đi. Trở ra ngoài phòng khách, Bá Nhỡ gật gù:

— Hồn ông Chánh có điều thiêng lắm đấy, Cô ạ. Thế rồi cây đàn còn những làm sao nữa hở Cô?

Đào Tơ kể cây đàn đã làm cho một người đàn nó bị bại liệt nửa người. Người này đàn cây đàn của Chánh Thú cho Đào Tơ hát. Vừa đàn được mấy tiếng thì ngã ra ngất đi, sau đó bị méo miệng và liệt nửa người.

Nghe chuyện Bá Nhỡ vẫn không sợ. Mang tâm sự chán đời, sống trốn tránh mãi thấy cuộc sống không còn ý nghĩa gì cả, Bá Nhỡ chấp nhận có chết vì đàn cũng đàn. Đàn cho Đào Tơ hát để cứu cho Lãnh Út sống lại. Không biết tại sao Bá Nhỡ tin chắc chỉ cần nghe Đào Tơ hát là Lãnh Út sẽ lành bệnh, sẽ sống vui mạnh trở lại.

Và thế là một hôm Lãnh Út, đang ốm nặng, được đặt nằm trong võng đưa đến nhà Đào Tơ. Lãnh Út nằm đó, Bá Nhỡ đánh đàn, Bá Nhỡ đàn bằng cây đàn Kép Thú để lại, cây đàn ai đàn là phải chết, Đào Tơ hát. Truyện Chùa Đàn kể Bá Nhỡ vừa đàn vừa chẩy máu tươi ở đầu mười ngón tay, rồi máu ra ở toàn thân, và rồi ngã ra chết.

Cái chết thê thảm của Bá Nhỡ làm cho Lãnh Út, đang ngắc ngoải, tỉnh lại, sống lại. Xác Bá Nhỡ được Lãnh Út đưa về Ấp Mê Thảo an táng. Rồi một ngôi chùa được dựng lên ở Ấp Mê Thảo. Chùa này thờ một cây đàn nên được gọi là Chùa Đàn. Cây đàn thờ trong Chùa Đàn Mê Thảo không phải là cây đàn ma quái giết người của Kép Thú. Cây đàn của Kép Thú đã vỡ, đã rã ra thành từng miếng nhỏ sau khi Bá Nhỡ chết. Cây đàn thờ trong Chuà Đàn Mê Thảo là “một tảng gỗ có ngọn vút lên, trông xa như một gốc trầm. Lại gần nhận kỹ thì là cả một cây đàn đáy với những nét chính của nhạc khí tạc chìm vào gỗ mộc. Cứ vào hai buổi chuông chiêu mộ, tảng gỗ thờ đó lại đổ ít mồ hôi dầu và xê động khỏi chỗ. Ngày nào Cô Tơ cũng phải kê đặt lại tượng đàn thờ.”

“Tâm sự của nước độc”, truyện vừa của Nguyễn Tuân, dài chừng 50 trang tiểu thuyết, đến đoạn Đào Tơ ở lại giữ việc kinh kệ cho Chùa Đàn Mê Thảo là hết. Để có thể được xuất bản trong năm 1946, Nguyễn Tuân viết thêm hai đoạn đầu và cuối. Đoạn đầu người kể chuyện xưng là tôi, can tội làm chính trị chống Pháp, bị bắt đi tù trong một trại tù khổ sai ở miền thượng du Bắc Việt. Trong trại tù này anh gặp một nhân vật tù chính trị tên là Lịnh. Lịnh cho anh đọc tập Hồi ký “Tâm sự của nước độc.” Người tù khổ sai Lịnh là Lãnh Út trong “Tâm sự của nước độc.” Lãnh Út được “giác ngộ, được sáng mắt, sáng lòng vì cách mạng, tức vì cộng sản”, Lãnh Út bỏ cuộc sống bê bối, sa đọa, bỏ giai cấp địa chủ ác ôn, ăn bám, bóc lột, tự lột xác, trở thành con người cách mạng vô sản, hoạt động “cách mạng” và đi tù. Đoạn kết tác giả viết cho “Sư Thầy Tuệ Không, Chùa Từ H. “, thảo luận với Sư Thầy về chuyện “ăn bám xã hội” của những người tu hành. “Sư Thầy Tuệ Không” trong Chuà Đàn Nguyễn Tuân là cô Đào Tơ danh ca ả đào một thời. Hai đoạn thêm vô nhạt huếch ấy không có gì đáng để ta nói đến.

Tôi xem phim Mê Thảo ở một rạp xi-nê gần Rừng Phong, xuất chiếu 5 giờ chiều một ngày đầu Tháng Bẩy. Khán giả khá đông. Tôi thấy Mê Thảo “được.” Phim Việt Nam trong những năm đầu thập niên 2000 như Mê Thảo là “được”. Tất nhiên Mê Thảo không phải là một phim Việt Nam “hay”, lại càng không phải là một phimViệt Nam tuyệt hảo. Nhưng đạo diễn và ê-kíp làm phim Mê Thảo có thể làm được những phim hay hơn trong thời gian tới.

Tôi thấy phim Việt Nam khó làm hay vì kỹ thuật yếu kém, vì ít vốn nên đạo diễn không có điều kiện thực hiện phim theo ý muốn. Có thể có những diễn viên xi-nê người Việt đóng phim được, nhưng nếu đạo diễn không có kinh nghiệm, người thu hình không có tài năng, không có chuyên viên sắp xếp ánh sáng, chuyên viên về âm thanh, âm nhạc, không thể có phim xem được, khoan nói đến phim hay.

Phim làm theo tiểu thuyết, người viết truyện phim, người đạo diễn có quyền sáng tác, thay đổi sự kiện, phim hay hơn, dở hơn tiểu thuyết là tùy tài năng của đạo diễn hay của người viết kịch bản. Trong Phim Mê Thảo, vai Bá Nhỡ được thay bằng vai kép đàn tên là Tâm. Vào phim, Lãnh Út đi hát cô đầu ở Hà Nội. Không thấy Chánh Thú, tức Kép Thú, chồng Đào Tơ, đâu cả. Trong truyện Chuà Đàn không có đoạn nào tả Chánh Thú, tức Kép Thú, chồng Đào Tơ, lúc Kép còn sống. Kép Tâm ngồi đàn cho Đào Tơ hát. Lãnh Út đánh trống. Đang nghe hát, đang tom chát, chùm chín, chùm xanh.. thì một gã say rượu vào gây sự. Gã say rút súng lục ra, Kép Tâm dằng súng. Trong lúc dằng co, súng nổ, gã say trúng đạn chết. Sợ tù tội, Kép Tâm phải đi trốn, Lãnh Út đưa Kép Tâm về ẩn náu ở ấp Mê Thảo, Kép Tâm trở thành quản lý ấp Mê Thảo.

Lúc ấy Kép Thú còn sống, mà còn sống tức là chưa chết, chuyện làm khán giả théc méc là Kép Thú đi đâu, ở đâu mà không đàn cho vợ hát? Mà để cho Kép Tâm đàn? Mà Kép Tâm lại là tình nhân của Đào Tơ. Chuyện ly kỳ nữa là khi còn sống Kép Thú để cho người khác chơi vợ mình mà không Tác-dzăng nổi giận chi cả, nhưng khi chết rồi Kép Thú lại linh thiêng, lại có thể làm chết tên đàn ông nào dám dùng cây đàn của mình.

Vào phim Mê Thảo khán giả thấy ngay hai cái xe kéo, tên khác là xe tay, do người kéo. Xe kéo, xe tay không còn có ở Việt Nam sau năm 1945. Một điểm tốt cho người làm phim Mê Thảo. Để khán giả nhìn lại, hay nhìn thấy lần đầu, cái xe kéo ngày xưa của ông cha, người làm phim phải có lòng yêu sự thật, phải tốn công, tốn của. Những năm 1952, 1953 Sài Gòn có xe xích-lô – cyclo – ở những tỉnh Bến Tre, Gò Công vẫn còn xe lôi. Xe lôi là xe kéo được buộc vào sau cái xe đạp, thay vì kéo xe chạy chân, người chạy xe lôi nay ngồi trên xe đạp kéo thùng xe đi sau. Trung Kỳ, Bắc Kỳ không có xe lôi. Những năm ấy tôi từng ngồi xe lôi ở lục tỉnh. Năm 1980, 1981 tôi viết truyện Mùa Hạ Hai Mươi, truyên xẩy ra trong những năm 1952, 1953 ở Sóc Trăng, Bến Tre, truyện có đoạn tả hai người yêu nhau ngồi bên nhau trên chiếc xe lôi. Tôi viết trong truyện: mai sau có nhà đạo diễn nào làm một phim với cốt truyện xảy ra ở lục tỉnh những năm 1952, 1953, nếu nhà đạo diễn ấy cho vào phim một hai chiếc xe lôi, đó là một nhà đạo diễn phim giỏi.

Người làm phim Mê Thảo có thể nói: “Ông viết truyện, nếu có ai bảo ông sao lại viết thế này, sao không viết thế kia, ông có chịu không?” Nếu có ai nói với tôi như thế, chắc tôi sẽ không chịu, vì vậy tôi viết nếu tôi làm phim Mê Thảo tôi sẽ làm như vầy đoạn phim Lãnh Út hì hục làm tình với Khúc Cây Có Vú.

Trong phim Mê Thảo, Lãnh Út chưa lấy vợ. Cậu cho người về Hà Nội mua xe ô tô mới toanh, anh người nhà mua xe rồi lái xe đi đón người vợ sắp cưới của Lãnh Út để đưa nàng về ấp. Yêu nàng đến như Lãnh Út mà lười không đi đón nàng, mà để anh người nhà lái xe ô-tô mới toanh đi đón nàng. Cũng kỳ! Trên đường về ấp, xe tu-bin lật, người sắp là Mợ Lãnh Út chết, anh lái xe sống nhăn, anh về ấp mếu máo: “Cậu ơi.. Xe lật, Mợ chết dzồi..!” Đạo diễn hà tiện được vai Vợ Lãnh Út. Tôi sẽ không cho Lãnh Út gào lên, hộc lên: “A..n..h.. .. ..y..ê..u.. .. E..m..! A..n..h.. .. n..h..ớ.. .. E..m..!” Người đau thương thường nói nhỏ, người giận dữ mới hộc lên, quát lên, khán giả thấm niềm đau của nhân vật hơn là thấy nhân vật phim gào lên như trên sân khấu cải lương. Đào kép cải lương diễn trên sân khấu cần nói lớn cho khán giả nghe, diễn viên phim ảnh không cần nói lớn. Lãnh Út giở những bộ y phục cô dâu ra ngắm, càng ngắm càng đau, Lãnh Út cho làm một bù nhìn bằng rơm, mặc áo hoa cô dâu cho bù nhìn, tưởng tượng bù nhìn rơm mặc áo cô dâu là người yêu. Đạo diễn không cho khán giả thấy Lãnh Út sai người làm cái tượng đàn bà lúc nào – Lãnh Út không thể tự tay đẽo được khúc thân cây thành hình người có hai bầu vú đàn bà. Nhưng bỏ qua cái chuyện lẻ tẻ ấy, ta nói đến việc có thiếu gì hình ảnh làm cho khán giả thấy đó là cảnh giao hoan nam nữ. Những hình ảnh không làm cho người nhìn khó chịu, ghê ghê.. như cảnh gã đàn ông bệnh hoạn ở trần mồ hôi mồ kê nằm sấp nhấp nhổm trên khúc cây có hai bầu vú đàn bà. Bông hoa xòe cánh nở, cánh chim bay qua trời, làn sóng biển xô lên bãi cát, mặt trời lên trên đỉnh núi. Từ 80 năm nay nhiều người làm phim trên thế giới đã dùng những hình ảnh ấy để diễn tả cảnh nam nữ giao hoan. Nếu tôi làm phim tôi sẽ không làm cảnh gã đàn ông nằm sấp ôm khúc thân cây hì hà hì hục.. lục cà lục cục..

Phải viết thêm: cảnh Lãnh Út làm tình với khúc thân cây là cảnh thật, những cảnh Lãnh Út nhìn thấy người đẹp ẩn hiện, bờ vai, đôi mông trần của nàng, mái tóc sõa trên gối, đôi môi mở hé chờ, mời, thân nàng rướn lên.. là những cảnh đẹp nhưng là cảnh ảo. Không thể trách đạo diễn khi đạo diễn làm cảnh thật mà không làm cảnh ảo. Nhưng đây là nói nếu tôi làm phim Mê Thảo, nếu tôi phải thực hiện cảnh Lãnh Út trong cơn mê loạn làm tình với người vợ đã chết qua khúc thân cây, tôi sẽ làm một số cảnh ảo, những cảnh thật đẹp, những cảnh tả cuộc giao hoan đàn ông-đàn bà yêu nhau, tôi cho cả cô gái câm, người yêu thầm Lãnh Út, người lén nhìn trộm vào phòng ngủ của Lãnh Út, người thấy Lãnh Út làm tình với khúc gỗ, khán giả Mê Thảo nhìn thấy cảnh Lãnh Út làm tình với khúc gỗ qua mắt cô gái câm, cũng nhìn thấy những cảnh ảo thật đẹp, thật thơ. Sau cuộc giao hoan, Lãnh Út mê đi, nằm như chết, cô gái vào phòng, nhìn ra người đàn bà mà Lãnh Út ôm là khúc gỗ làm thành hình đàn bà.

Trong phim Mê Thảo tôi thực hiện sẽ không có cảnh hai anh Tây Thuộc Đia – Tây Cô-lô-nhần – đi theo một anh viên chức A Nam, đến Ấp Mê Thảo để gặp chủ ấp, bị anh tuần đinh của Ấp, một thứ “Nhân Dân Tự Vệ” của thủ đô Sài Gòn những năm 1972, 1973 xa xưa, chặn lại, không cho vào Ấp. Hai anh Tây hiền khô lủi thủi dắt nhau về. Tây Cô-lô-nhần ở đâu tôi không biết, Tây Cô-lô-nhần ở nước Bắc Kỳ xưa của tôi, những năm 1925, 1930, hách lắm, có quyền lắm. Tây Cô-lô-nhần ở nước Bắc Kỳ xưa thời tôi còn trinh tiết chúng không hiền khô như hai anh Tây trong phim Mê Thảo. Cần gặp Lãnh Út, hay bất cứ ai, chúng cho lính đến xách cổ Lãnh Út đến cho chúng hỏi, chúng không thất thểu đi bộ đến đứng lớ ngớ lóng ngóng ở điếm canh ngoài Ấp Tháo để bị anh dân Ấp chặn lại, không cho vào, đuổi về như thế.

Phép vua thua lệ làng. Ngày xưa câu ấy có đúng với một số làng xã ở Bắc Kỳ, nhưng chỉ đúng trong vài trường hợp đặc biệt thôi. Làng xã có chỉ có vài ba luật lệ riêng không giống phép vua, mà không phải làng xã nào cũng có những cái gọi là “lệ làng”, nhưng những cái gọi là lệ làng đó chỉ được thi hành quanh quẩn trong cái làng đó thôi, nếu cái gọi là lệ làng chống lại phép vua, tức phép nước, tức pháp luật, hay có ảnh hưởng ra ngoài phạm vi làng, lệ làng đi tướt trước phép nước liền một khi.

Tôi sẽ không làm cảnh ba, bốn ông bà thương gia “kẻ chợ”, nôm na là người Hà Nội, com-lê, ca-vát, áo dài, ca-táp, sắc tay.. đến Ấp Tháo tính việc mua tơ, bị tuần đinh của ấp chặn lại ở điếm canh, bắt bỏ lại tất cả đồ vật mang theo, phải cởi cả y phục để mặc bộ quần áo riêng của ấp, để được phép vào ấp. Làm cảnh đó cũng được, đạo diễn như tác giả kịch bản, như người viết tiểu thuyết, là Thượng Đế trong tác phẩm của mình, muốn làm gì trong tác phẩm của mình cũng được, nhưng những gì đạo diễn, tác giả làm trong tác phẩm phải hợp lý. Cho vào phim cảnh khách Hà Nội vào Ấp Tháo phải cởi bỏ quần áo, phải mặc đồ ấp đưa cho mặc, như những anh chị tù trong những nhà tù cộng sản phải mặc những bộ đồ tù để đi ra nhận đồ gia đình tiếp tế, để gặp mặt vợ con, những ông bà khách Hà Nội ngoan ngoãn đi chân đất vào ấp, đạo diễn làm cho phim Mê Thảo trở thành phim riễu.

Tôi sẽ không làm cảnh chỉ vì cái tội lôi khúc gỗ có hai bầu vú đàn bà ra thả trôi sông mà cô gái câm trong phim Mê Thảo bị Chủ Ấp Lãnh Út đóng rọ thả sông cho chết. Cảnh giết người dã man ấy diễn ra trước mắt dân ấp. Tất cả mọi người đứng im, nhìn ngây. Những năm 1920, 1930 ở nước Bắc Kỳ anh chủ ấp có ác ôn đến mấy cũng không thể giết người khơi khơi như Lãnh Út, chủ ấp Tháo trong phim Mê Thảo. Tổng Đốc, Tuần Vũ thời ấy cũng không thể giết người dễ như thế, đừng nói đến anh chủ ấp hạng bét. Còn lâu. Sức mấy. Nhờ bà đạo diễn tí!

Chuyện bọn cộng sản trong nước cấm không cho phim Mê Thảo được chiếu không ăn nhậu gì đến tôi, nhân viết về phim Mê Thảo tôi bàn loạn đôi câu vô thưởng, vô phạt: Chắc bọn làm văn hóa Bắc Cộng thấy phim Mê Thảo không ích lợi gì cho tiến trình đưa nhân dân cả nước “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc xuống hố ăn mày, ăn nhặt xã hội chủ nghĩa,” phim lại có thể làm cho khán giả yếu bóng vía thành ra sợ ma, nghĩ rằng người chết có thể làm hại người sống, không muốn rắc rối tơ, chúng cấm chiếu. Một chuyện nữa trong phim Mê Thảo làm cho bọn cộng sản khó chịu là cảnh dân quê được Tây cho làm phu khiêng đá làm đường tầu hỏa, được Tây nó trả tiền công, được có việc làm, được ăn no, nên phấn khởi, hồ hởi, ca hát vui vẻ, nhẩy múa tưng bừng trên đường tầu. Phim có cảnh như thế là ca tụng Tây Thực dân. Nên cộng sản nó cấm. Chắc thế.

Thâu hình tốt, ánh sáng tốt, âm thanh tốt, cái gì của phim Mê Thảo cũng tốt ráo trọi. Chỉ có truyện phim là chưa được chỉnh. Truyện phim hay nữa là thành phim Việt Nam hay. Gắng lên quí vị làm phim Mê Thảo. Quí vị làm phim như thế là rất được, tôi tin rồi quí vị sẽ làm được những phim Viêt Nam khá hơn, hay hơn.

Năm 1960, một năm xa xưa cách năm nay đã 45 mùa lá rụng, ở Sài Gòn thành phố thủ đô xưa của tôi, đạo diễn Hoàng Anh Tuấn làm phim Hai Chuyến Xe Hoa theo tiểu thuyết Hai Chuyến Xe Hoa của tác giả An Khê. Là bạn của Hoàng Đạo diễn tôi được Đạo diễn cho đóng một vai trong phim. Hai diễn viên đóng hai vai chính của Hai Chuyến Xe Hoa là Thanh Nga, Thành Được, sau hai danh tài ấy là Dạ Yến, Mai Trường, Vân Hùng, sau ba danh tài ấy là tôi. Có lẽ, hình như tôi là người ký giả nhà báo, người viết tiểu thuyết duy nhất của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa có tham gia một bộ phim truyện. Dê Húc Càn Dương Hùng Cường có xuất hiện trong phim Người Tình Không Chân Tay, nhưng thời gian trên phim của Cường chỉ là năm, bẩy tích tắc, Minh Đăng Khánh có đóng phim, nhưng Khánh không phải là ký giả nhà nghề như tôi. Chỉ đóng một vai phụ thôi và chỉ phải có mặt trước máy quay phim có hai, ba đêm thôi, tôi đã thấy việc làm phim khó khăn, vất vả đến như thế nào. Ngồi phây phây xem phim, khen chê, rất dễ. Làm ra những đoạn phim ấy mới là khó.

Nhưng..đêm có khuya, ngày có rạng, bài viết đến đây đã tạm đủ dài, trang báo còn phải để dành cho bài của người khác và cho quảng cáo, xin ngừng ở đây. Một kỳ tới tôi sẽ kể quí vị nghe chuyện tôi đi đóng phim xi-ca-la-ma!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: