• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Mười Năm Tình Mới

Buổi sáng, mở computer, như mọi người dùng computer, việc đầu tiên của tôi là check mail. Sáng nay, thấy thư của Phạm Thông, chủ nhiệm nguyệt san Con Ong ở Houston, Texas:

“Con Ong ra số kỷ niệm 10 năm. Chờ bài của anh.”

Mèn ơi..! Mới đấy mà đã 10 năm? Thời gian..! Ôi..Thời gian..! Đúng là nhanh như bóng ngựa phi qua khe cửa! Thoáng đấy đã qua mười năm. Thán phục nhà quân tử Tầu nào đã thấy hình ảnh thời gian qua nhanh như thế, đã nói ra chuyện ấy thành lời. Những ngày như lá, tháng như mây..! Thơ Thanh Nam. Thì giờ vỗ cánh bay như quạ…! Thơ Tchya Đái Đức Tuấn. Chuyện tờ báo Con Ong Texas ra số kỷ niệm 10 niên góp tiếng với đời làm tôi ngẩn ngơ nửa phút…!

Chuyện cũ mà thôi. Qua một khoảng thời gian, người ta thường nhìn lại quá khứ, nhớ lại những chuyện đã xẩy ra. Tôi cũng chỉ làm cái việc nhớ lại như mọi người. Tôi chỉ khác người ở chỗ tôi nhớ chuyện cũ hơi nhiều, và tôi có thể kể những chuyện cũ, chuyện mới của tôi với những người đọc những bài tôi viết.

Buổi sáng tinh mơ tháng 11 năm 1994, vợ chồng tôi đến phi trường Tân Sơn Nhất. Cuối cùng vợ chồng tôi cũng đi Mỹ như ai. Qua cuộc biển dâu năm chìm, chín nổi, mười mấy cái lênh đênh, mười chín năm sáu tháng sống khổ cực với nhân dân trong lòng thành phố thủ đô yêu thương, hai lần xe bông Sở Công An Thành Hồ đến cửa rước đi tù, tám năm tù tội, năm năm nằm phơi rốn trong Lầu Bát Giác Chí Hoà, chẳng có bao giờ vợ chồng anh Con Trai Bà Cả Đọi mơ có ngày anh chị líu ríu dắt nhau lên phi cơ bay sang Mỹ quốc.

Không mơ, không ước, nhưng rồi một buổi sáng anh chị đi khỏi Sài Gòn. Sài Gòn, nơi chị ra đời, nơi chị đã sống sáu mươi niên, Sài Gòn, nơi anh đã sống bốn mươi mùa cóc chín. Vì anh có tật nên anh chị giật mình. Anh từng bị bọn Bắc Cộng cướp nước coi là phản động, là gián điệp tay sai của Mỹ, anh từng bị nó tó, bị nó nhốt tù tám năm, nên anh chị sợ đến phút cuối cùng nó không cho anh chị đi khỏi nước. Trước đó có nhiều gia đình đã đến phi trường, chỉ còn nửa giờ nữa là lên máy bay, chỉ vì ông chủ gia đình bị nó coi là phản động, bị nó chơi ác, bị nó ký giấy cho đi nhưng đến phút cuối cùng nó ngăn lại. Có lệnh không được đi. Cả nhà ỉu sìu sìu lếch thếch từ Tân Sơn Nhất trở về xóm cũ. Mộng đi Tây, đi Mỹ làm lại cuộc đời tan vỡ não nề. Bọn Công An Việt Cộng ác không thể tưởng tượng được. Vì vậy anh chị sợ. Trước cầu thang lên phòng chờ lên máy bay, gọi là phòng cách ly, tên công an hỏi anh chị:

— Có bao nhiêu đô-la?

— Chúng tôi có hai trăm…

Chị líu ríu mở ví cho nó coi. Thằng công an Việt Công nói:

— Đưa 10 đô.

Chị líu ríu đưa cho nó tờ giấy bạc 10 đô-la, tờ giấy bạc trên có in dòng chữ In God We Trust. Khi ngồi bên nhau trong cái phòng gọi là phòng cách ly, chị hỏi anh:

— Nó bảo mình đưa 10 đô là tiền gì thế anh?

Tinh thần nát hơn cái mền Sakymen, anh trả lời nhão nhoẹt:

— Nó lột của mình 10 đô chứ tiền gì nữa.

Vợ chồng tôi được xếp trong số những người tị nạn sang Mỹ nghèo nhất. Vậy mà đến phút cuối cùng thằng công an Việt Cộng vẫn lột của vợ chồng tôi 10 đô. Thằng công an ấy lấy tiền của chúng tôi công khai, không cần che dấu. Nó bỏ tiền vào túi áo tỉnh bơ. Vợ chồng tôi vì sợ nên không dám hỏi anh bắt chúng tôi nộp 10 đô vào khoản gì? Chỉ khi chiếc phi cơ Cathay Pacific Airways đã đưa anh chị bay lên trời anh mới biết là anh chị đi thoát.

Từ Hong Kong, chúng tôi lên phi cơ United Airways. Khoảng hai trăm người sang Mỹ trong chuyến bay hôm ấy. Những người tị nạn mang bảng tên mầu đỏ trên ngực áo, những người đoàn tụ gia đình mang bảng tên mầu vàng. Trong đoàn tị nạn chúng tôi hôm ấy có gia đình nữ kịch sĩ Hồng Đào. Tôi từng thấy Hồng Đào trên màn ảnh Ti Vi Sài Gòn nhưng hôm ấy đông người tôi không nhìn ra cô.

Đôi cánh sắt United Airways bay suốt đêm qua biển Thái Bình. Chẳng biết là trưa hay chiều, chúng tôi dắt díu nhau đi vào phi cảng San Francisco.

Vừa đặt chân xuống đất Mỹ, khó chịu đầu tiên đến ngay. Một anh trạc ba mươi, ba nhăm tuổi, đứng ở đầu hành lang, nói trống không:

— Bảo lãnh bảng vàng đứng bên này, tị nạn bảng đỏ đứng bên này.

Không biết có ai trong đám người đến Mỹ hôm ấy có tâm trạng như tôi không? Vì không biết gì về thủ tục tiếp dân tị nạn ở phi trường Mỹ của cái gọi là Tổ chức IOM, khi nghe anh tiếp dẫn nói tiếng Việt, ý nghĩ ngu ngốc đầu tiên của tôi là .. Ý chà, bộ bọn Tòa Đại sứ Việt Cộng nó cho người ra đây đón mình sao? Thật tôi ngu hết nước nói. Bọn nhân viên những cái gọi là Tòa Đại sứ, Toà Lãnh sự Việt Cộng ở Mỹ quanh năm ru rú trong xó nhà như những con chuột trù, bố chúng nó bảo chúng nó cũng không dám ló mặt ra đường. Mặt anh tiếp dẫn – tiếp dẫn, không phải tiếp dân, – lạnh như tiền. Tôi chờ đợi anh nói một câu, một câu thôi:

— Xin chào quí vị đến Mỹ, tôi là nhân viên Ai Ô Em giúp quí vị qua thủ tục nhập cảnh. Mời quí vị theo tôi.

Một câu nhỏ thôi, ngắn thôi. Ấm lòng người vừa bỏ nước ra đi, ấm tim kẻ vừa lạc bước đến xứ người biết bao nhiêu! Chút mong ước nhỏ nhoi ấy chúng tôi đã không có được. Sự đón tiếp lạnh nhạt, ba bộ mặt khó đăm đăm, khinh khỉnh của ba anh chị nhân viên IOM người Việt ở phi cảng San Francisco hôm ấy làm cho tôi có linh cảm cuộc sống của vợ chồng tôi ở Mỹ sẽ không được sáng đẹp chi cho lắm. Hai anh, một chị. Những bộ mặt hãm tài, những giọng nói cố ý lạnh nhạt của họ, những lời họ nói trống không, thái độ xa cách của họ cho tôi thấy họ không thích thú gì công việc họ làm, họ không muốn thấy chúng tôi đến Mỹ, nét mặt, giọng nói của họ như muốn nói: “Những của nợ này đến Mỹ làm cái gì..!”

Nhân viên làm giấy tờ nhập cảnh cho chúng tôi là một anh Tầu, anh nói tiếng Việt giọng Tầu lơ lớ:

— Trái cây, đồ ăn bỏ hết vào đây..

Nghe anh nói như ra lệnh, tôi thấy tủi thân. Mình ở nhà đã phải ngậm miệng trước bọn công an Việt Cộng, sang đến đây mình cũng phải ngậm miệng nữa sao? Thằng này nó là cái gì mà nó nói năng vô lễ với mình như thế? Bộ nó không nói được một câu tử tế với những người mới đến sao? Khi anh Tầu hỏi:

— Có cái gì không?

Không dằn được, tôi gằn giọng trả lời:

— Không có gì cả.

Vợ tôi xiết nhẹ bàn tay tôi, bằng cái xiết tay ấy nàng bảo tôi: Đừng nóng.

Nhưng cảm nghĩ khó chịu do những người Việt đến Mỹ trước mình gây ra đã in trong tim tôi. Về sau tôi biết không phải chỉ riêng bọn tôi là bị những anh chi Ai Ô Em có nhiệm vụ đón tiếp đối xử khinh khỉnh, kỳ cục, bất nhân như thế. Tôi đọc được một bài báo của một người đến Mỹ như tôi than phiền về thái độ xấc láo của một em Ai Ô Em, người này kể một ông đi trong đoàn đã phải dậy cho cho em một bài học.

Ngồi chờ phi cơ đi sang Washington D.C trong phi cảng sáng choang ánh đèn, tôi thấy tôi đã thấy cảnh này trong những phim xi-nê, tôi đã tưởng tượng ra cảnh này khi tôi phóng tác những tiểu thuyết Mỹ: cảnh trong phi cảng Mỹ. Nhưng trước kia, nhưng hôm qua tôi ở bên ngoài nhìn vào cảnh này: phi cảng sáng choang, những cửa tiệm bán đồ kỷ niệm, những tiệm ăn sạch sẽ, những người Mỹ đi ngang trước mặt, những người Mỹ ăn bận thường, những người Mỹ com-lê vét-tông, ca-vát, những đường thang cuốn, nhưng bây giờ tôi ở giữa cảnh, tôi ở trong cảnh, tôi không còn ở ngoài nhìn vào cảnh này như hôm qua.

Rời San Francisco, chúng tôi bay sang Washington DC. Tại sao vợ chồng tôi chọn Virginia? Ở Sài Gòn tôi chưa biết Virginia được người Mỹ gọi là Virginia is for Lovers. Chúng tôi đến Virginia vì trước đó Anh Ngọc gửi cho chúng tôi một hình mầu chụp hai vợ chồng ngồi trên thảm cỏ đầy lá vàng. Hình color, lá vàng, cỏ xanh đẹp ơi là đẹp. Vợ chồng tôi cùng cảm khái trước cảnh thảm cỏ xanh, lá vàng ấy. Thế rồi khi đến ngày chúng tôi gần đi, buổi sáng nghe đài VOA tôi thấy VOA phỏng vấn bà Khúc Minh Thơ.

Tôi nghe tên bà Khúc Minh Thơ trong Nhà Tù Chí Hoà. Năm 1988 tôi gặp ông bạn tù Trịnh Thanh Bình. Ông nguyên là Trưởng Ty Cảnh Sát Đà Lạt, ông đã đi tù cải tạo sĩ quan cảnh sát năm năm. Đã bị tù một lần nhưng được về ông không chịu ở yên, giữ thân nên năm 1986 ông bị bắt lại. Ông trạc tuổi tôi. Hỏi ông làm gì mà bị tó, ông nói ông bị nó kết tội gián điệp. Ông nói ông ghi tên những ông tù cải tạo ông biết, cấp bậc, địa chỉ nhà, tên trại tù, gửi sang Mỹ cho một tổ chức cứu trợ. Hỏi ông liên lạc với ai bên Mỹ, ông nói tên một bà. Mới nghe, không rõ, tôi tưởng ông nói tên một bà Mỹ: bà Kourminster. Ông nói lại, tôi nghe tên bà Khúc Minh Thơ lần thứ nhất năm 1988 trong Phòng 10 Khu Ơ Đê – ED – Nhà Tù Chí Hoà.

Lại những ngày như lá, tháng như mây… Anh Doãn Quốc Sĩ và tôi, hai Biệt Kích Cầm Bút, rời Chí Hoà lên Trại Tù Khổ Sai Z 30 A Xuân Lộc, Đồng Nai đầu năm 1989, cuối năm ông Trịnh Thanh Bình đến Z 30 A. Ông bị nó phang án tù 14 năm về tội gián điệp trong khi tôi bị án có 6 năm, anh Doãn Quốc Sĩ 8 năm.

Khi nghe đài VOA phỏng vấn bà Khúc Minh Thơ và biết bà là Hội Truởng Hội Bảo Vệ Gia Đình Cựu Tù Nhân Chính Trị và bà ở vùng Washington D.C, Virginia, nơi có những thảm cỏ xanh mùa thu phủ đầy lá vàng, tôi nói với vợ tôi:

— Mình nhờ bà Khúc Minh Thơ si-pông-so cho mình đến Viếc-dzi-ni-a. Em chịu không?

Khi anh bạn tôi ở Virginia phôn về nói chuyện với tôi về vụ vợ chồng tôi sang Mỹ, tôi nói:

— Mày nhờ bà Khúc Minh Thơ bảo lãnh cho vợ chồng tao đến Viếc-dzi-ni-a.

Anh bạn tôi hỏi:

— Mày có quen bà ấy không?

Tôi nói:

— Tao không quen. Nhưng cần gì phải quen. Bà ấy là Hội Trưởng Bội Bảo Vệ Gia Đình Cựu Tù Nhân Chính Trị, tao là đương kim cựu tù nhân chính trị, tao nhờ bà ấy bảo lãnh là đúng sách vở.

Và bà Khúc Minh Thơ bảo lãnh chúng tôi đến Virginia. Vợ chồng tôi đến phi cảng National – năm ấy phi cảng này chưa đổi tên là Reagan – vào một ngày cuối mùa thu. Bà Khúc Minh Thơ trong bộ áo dài Việt Nam cùng nhiều ông bà đến đón vợ chồng tôi. Xin được kể một số vị tôi nhớ: ông Lê Văn Ba, anh chị Lê Thọ Trung, bạn đồng nghiệp Hồ Văn Đồng, các bạn Đỗ Diễn Nhi, Anh Ngọc, Trần Kính, Trần Lâm… Bạn Phạm Bội Hoàn, năm ấy làm việc ở Hãng Thông Tấn CBS, quay phim cảnh vợ chồng tôi đến, cảnh Chủ Tịch Hội Văn Bút Miền Đông Hoa Kỳ Nguyễn Ngọc Bích phỏng vấn tôi ở phi cảng. Ngay tối hôm ấy đoạn phim chụp cảnh vợ chồng tôi đến Mỹ được chiếu trên màn ảnh đài TiVi Little Saigon ở Cali.

Tháng Tư 1995, người bạn trẻ Trọng Kim, chủ trương Bán Nguyệt San Ngày Nay, mời tôi sang Houston. Năm 1993 có anh bạn từ Houston về Sài Gòn, nghe anh nói anh ở Hiustân, tôi nghĩ anh phát âm sai, phải là Haostân, Hiustân sao được. Nhưng Houston là Hiustân. Các bạn Duy Trác, Phan Nhật Nam, Trọng Kim đón tôi ở phi cảng Houston. Tôi gặp lại Nguyên Vũ, hai cô em văn nghệ Triều Giang, Thục Viên, bạn Vũ Đức Tiến, và Tôn, nay là ông Đạo Tôn, chủ đền thờ Phật Hoa Sanh Tôn. Trong cuộc tôi gặp lại những bạn đọc của tôi tổ chức trong Nhà Hàng Kim Sơn, có người nhắc lại kỷ niệm ông đọc những phóng sự của tôi ở Sài Gòn những năm 1960, nhắc đến câu “.. Lô lô úp ra.. Lô lô úp vô..” Lời nói của ông làm tôi nhớ lại ba mươi năm xưa, những năm 1960, những tiệm uốn tóc phụ nữ ở Sài Gòn của những chú Coón, cô Lìn có kiểu tóc được quảng cáo trên báo là kiểu “Lô lô úp ra, Lô lô úp vô.” Lô lô là tên cô đào điện ảnh Gina Lollobrigida, Ý Quốc. Nếu tôi nhớ không lầm thì cô nổi tiếng từ phim Fanfan La Tulipe cô đóng chung với kép Gérard Philippe của Pháp, khi cô đóng phim Anh Gù Nhà Thờ Đức Bà với kép Anthony Quinn thì cô nổi tiếng khắp thế giới. Cô lăng-xê kiểu tóc cắt ngắn, uốn cho tóc cuốn vào trong ót hoặc cuốn ra ngoài. Tóc cuốn vào trong được các chú Coón, cô Lìn gọi là kiểu “Lô lô úp vô..”, tóc cuốn ra ngoài được gọi là kiểu “Lô lô úp ra..” Tôi không đặt ra cái tên ấy. Tôi chỉ có công đưa những tiếng nói thời đại của nhân dân vào phóng sự, công phổ biến chúng. Nhiều độc giả của tôi nhớ những gì tôi viết nhiều hơn tôi.

Chị Duy Trác nói: “Anh chị nên đến sống ở Houston. Người Houston đối với văn nghệ sĩ có tình lắm, ấm lắm..” Người Houston chị nói đây là người Việt ở Houston. Trước ngày tôi đến Houston, một bà chủ báo Việt ở Houston gọi phone cho tôi, nói báo của bà đăng tiểu thuyết Như Chuyện Thần Tiên của tôi, bà chi ngay cho tôi ngân phiếu 300 Mỹ kim. Tôi đến toà soạn tờ báo của bà, ông bà mời tôi ăn cơm. Tôi gửi bài đăng báo và bà chi tiền nhuận bút đều đều. Cho đến ngày tuần báo Con Ong ra đời.

Tôi viết cho Con Ong. Bà chủ báo phôn cho tôi, yêu cầu tôi: “Ở Houston anh chỉ viết cho báo em thôi. Tiền Con Ong trả anh bao nhiêu một bài, em trả anh gấp đôi..” Tôi nói: “Không được, cô ơi. Tôi không biết giữa cô và Phạm Thông có chuyện gì, nhưng tôi là người viết chuyên nghiệp, tôi không làm thế được. Nếu tôi vì tiền tôi bỏ Phạm Thông, mai đây có người nào trả tiền tôi hơn cô, tôi sẽ bỏ báo của cô. Cô có muốn tôi làm như thế với cô không? Tôi tính như vầy ..Tôi dành cái tên HHT để viết cho báo của cô, viết cho Con Ong tôi dùng tên Công Tử Hà Đông.” Bà nói “Không được! Ai chả biết Công Tử Hà Đông là Hát Hát Tê..!”

Những ngày như lá, tháng như mây lại theo nhau qua… Thời gian cứ vỗ cánh bay như quạ.. Mấy câu thơ ông Tchya – ông Tẩy Xia, ông Tẩy Chìa, ông Tôi chẳng yêu ai, ông Tôi chỉ yêu Aline – để lại cho đời là:

Thì giờ vỗ cánh bay như quạ
Qua hết đường xuân kiếm chỗ ngồi
Rượu hết, gà kêu, cô cuốn chiếu
Ra về còn lại mảnh tình tôi!

Mèn ơi, mới đấy mà đã mười năm. Đã mười năm tôi đến Mỹ, đã mười năm tôi viết cho tuần báo Con Ong Texas. Mỗi năm 12 số báo, tôi đã viết 120 bài Viết ở Rừng Phong đăng trên Con Ong.

Chuyện xưa: CON ONG Sài Gòn do Duyên Anh khai sinh khoảng năm 1968, 1969. Nếu Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà còn chính phủ Ngô Đình Diệm, tuần báo Con Ong không thể ra đời. Minh Vồ Nguyễn Văn Minh là chủ nhiệm Con Ong, Duyên Anh Thương Sinh Vũ Mộng Long là chủ nhân đích thực của Con Ong, là linh hồn, là trái tim, là xương sống của Con Ong. Một mình Thương Sinh bao sân Con Ong. Dê Húc Càn, bút hiệu của Dương Hùng Cường, nổi lên ở Con Ong với mục Cà Kê Dê Ngỗng. Hoạ sĩ Hĩm Đinh Hiển vẽ hình trang bià và tranh minh hoạ trang trong. Chỉ khi Duyên Anh bỏ Con Ong ra làm tuần báo Tuổi Ngọc, tôi mới có trang viết ở Con Ong. Tôi dùng hai tên Công Tử Hà Đông và Gã Thâm ký những bài tôi viết ở Con Ong. Cái tên Công Tử Hà Đông ở lại với tôi đến hôm nay. Con Ong Sài Gòn chết khoảng năm 1972 khi chính phủ Nguyễn văn Thiệu ban hành cái gọi là Luật Báo Chí; Luật này bắt nhật báo phải đóng tiền ký quỹ 20 triệu đồng, tuần báo phải đóng 10 triệu đồng. Tiền này nói là để bồi thường khi tờ báo bị thua kiện phải bồi thường tiền cho người bị tờ báo làm thiệt hại. Chủ nhiệm Con Ong Minh Vồ không có 10 triệu đồng nên Con Ong bị bức tử, chết queo. Sau đó có vài lần Minh Vồ ra Con Ong nhưng báo làm theo lối ấn phẩm, xin Bộ Thông Tìn kiểm duyệt và cấp giấy phép ra mỗi số nên báo nhạt hơn nước ốc. Thời oanh liệt của Con Ong đã qua, Con Ong là báo của Thương Sinh. Con Ong chỉ oanh liệt vì có Thương Sinh viết, người đời chỉ sợ Con Ong của Thương Sinh. Thương Sinh bỏ Con Ong, Con Ong chỉ còn cái xác.

Duyên Anh Thương Sinh Vũ Mộng Long, Minh Vồ Nguyễn Văn Minh, Dê Húc Càn Dương Hùng Cường, Hĩm Đinh Hiển, bốn người chủ chốt của Con Ong Sài Gòn. Ba người trong số đã qua đời. Ba cái chết thê thảm. Dê Húc Càn Dương Hùng Cường là sĩ quan Không Quân, đi cải tạo sĩ quan, về năm 1980. viết bài tố cáo chế độ cộng sản tàn ác với nhân dân gửi ra nước ngoài, một trong số người bị gọi là bọn Biệt Kích Cầm Bút, bị bắt lại năm 1984, chết năm 1987 trong xà-lim ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, trung tâm thẩm vấn nhân dân của bọn công an Thành Hồ. Minh Vồ bị bắt trong chiến dịch khủng bố văn nghệ sĩ Sài Gòn Tháng Ba năm 1976, nằm phơi rốn ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu một năm, qua đời năm 1993 sau ba năm nằm liệt một chỗ. Đám tang Minh có nhiều anh em đi đưa từ Chuà Xá Lợi đến nghĩa trang trên Lái Thiêu: Doãn Quốc Sĩ, Thanh Thương Hoàng, Tô Ngọc, Cao Nguyên Lang, Sao Biển, Mai Anh… Bà quả phụ Nguyễn Văn Minh bảo tôi viết và đọc điếu văn. Chưa bao giờ tôi viết điếu văn, cả đời tôi chỉ viết một điếu văn tiễn Minh Vồ. Chị Minh nói: “.. Nhà tôi sinh năm Thìn..” Tôi nói: ” Tôi không viết điếu văn cho anh ấy theo kiểu điếu văn của người ta đâu. Chúng tôi là văn nghệ sĩ, điếu văn của chúng tôi viết theo kiểu điếu văn văn nghệ sĩ..”

Nguyễn Văn Minh là Thuyền Trưởng Hai Tầu, anh có vợ hai. Những năm bị liệt Minh nằm trong nhà vợ hai ở đường Ngô Tùng Châu, Phú Nhuận. Tôi ở tù về năm 1990 Minh đã nằm liệt giường. Tôi đến thăm Minh. Minh ở trần, bận quần cụt, nằm trên cái giường nhỏ trong căn phòng nhỏ ở nhà vợ nhỏ. Với bà lớn Minh có bốn, năm con, với bà nhỏ anh có thêm bốn con gái, một con trai. Chỉ có chị vợ Minh có thể hầu chồng. Buổi tối chị bán xe phở ở đầu ngõ. Không có nghề, xe phở vắng khách, nước phở trắng như mắt ma. Minh bị liệt hai chân, hai tay vẫn cử động được, tinh thần vẫn sáng suốt, nói không ngọng. Đặc biệt là nằm một chỗ mà gần như chuyện gì xẩy ra ở bất cứ đâu Minh cũng biết. Khi tôi kể chuyện vừa xẩy ra trong giới văn nghệ sĩ ở Mỹ, Minh nói ngay:

— Chuyện ấy nó như thế này này, để tao nói cho mà nghe… Minh vẫn uống cà phê, hút thuốc lá. Chúng tôi đến thăm là dịp để Minh uống cà phê, hút thuốc lá. Khi ra về, Minh thường bảo tôi:

— Dấu cho tao mấy điếu ở quanh giường, dưới nệm, chỗ này này, lúc nào tao muốn hút tao lấy.

Có lần Minh bảo:

— Lần sau đến mang cho tao điếu Pall Mall. Tao thèm Pall Mall, một điếu thôi.

Chị Minh Hai nói:

— Không phải tôi cấm nhà tôi hút thuốc. Các anh đến, nhà tôi hút thuốc nhiều, nói nhiều, các anh về nhà tôi lên cơn, vật vã, khổ lắm…

Hôm Minh qua đời, đến nhìn mặt Minh lần cuối, chị Minh Cả kể:

— Hôm qua là ngày giỗ ông thân nhà tôi, tôi mang sôi chè sang cho nhà tôi. Nhà tôi nói.. bà ạ, có thằng nhỏ nào nó lấp ló sau cái cửa sổ kia, nó cứ thò tay vào kéo chân tôi. Thằng nào thế, bà đuổi nó đi cho tôi. Đến nửa đêm nhà tôi đi.

Minh to lớn hơn tôi, Minh ăn to, nói lớn. Nay nằm im dưới cái khăn giường trắng, tôi thấy Minh nhỏ síu, trên bụng để nải chuối xanh. Không mang răng giả, miệng Minh móm xệu. Hôm đưa đám, khoảng 12 giờ trưa, gặp trận mưa lớn trên xa lộ. Mưa tối trời, tối đất. Bác tài lái chiếc xe nhà đám muớn chở khách trong số có tôi loanh quanh mãi mới đến được nghĩa trang. Mưa vừa tạnh. Những hàng cây lá xanh um tùm ướt nước mưa làm cho khung cảnh quanh căn nhà nhỏ giữa nghĩa trang có cảnh sắc thật lạ. Có đội kèn bu-dzích đi theo. Tiếng kèn te te vang lên, tiếng trống bùng bùng, người đi đưa túm lại trong nhà quàn. Tôi đọc điếu văn.

Không thể ca tụng Nguyễn Văn Minh, ông chủ nhiệm tuần báo Con Ong, là người chồng tốt, tôi ca tụng Minh là người bạn tốt. Mà Minh là người bạn tốt thật. Những lúc Minh có lộc, nói rõ là những khi Con Ong có người đến nộp tiền để báo đừng chửi – nộp tiền để báo đừng chửi họ, đừng tố cáo họ, đừng nói đụng đến họ, không phải nộp tiền để báo chửi người khác – Minh vẫn chia lộc cho anh em chúng tôi. Thời Con Ong chưa chết vì không có 10 triệu đồng, Duyên Anh đã bỏ đi nhưng Con Ong vẫn sống tuy không còn bán được nhiều như thời Duyên Anh Thương Sinh làm chủ bút, Sài Gòn có dịch vụ mua đi, bán lại những xe ô tô Datsun, Madza, Toyota. Minh có một chiếc xe. Thỉnh thoảng tôi lại thấy có người của những salon bán xe ô tô đem chiếc xe khác đến toà soạn cho Minh, lấy đi cái xe Minh đang đi. Đó là khi salon có khách muốn mua cái xe hiệu xe của Minh: “.. Có ông chủ báo có cái xe hiệu ông thích, tốt lắm, để tôi hỏi xem ông ấy có chịu để lại không!” Mỗi lần trao đổi như thế Minh được chủ salon auto đưa vài chục ngàn khơi khơi. Nếu lúc ấy có tôi ở toà soạn, anh nhẹ nhàng chia tôi mười ngàn. Minh thường đưa anh em chúng tôi đi ăn cơm Tây gà quay, rượu chát Sangrina ở nhà hàng Thiên Nam. Khi đã nằm liệt nghe chúng tôi nói đến Hĩm ở Mỹ – Hĩm vuợt biên sang Mỹ năm 1978 – Minh nói:

— Tổ sư ông Hĩm. Tôi trả tiền nhà thổ cho ông ấy không biết bao nhiêu lần!

Tôi kết thúc bài điếu văn bằng câu:

Minh ơi..! Khi người ta đi ra khỏi cõi đời này, người ta đi lên, hay người ta đi xuống. Khi chúng ta ra khỏi cõi đời này, chúng ta đi ngang. Minh sang bên ấy trước, chúng tôi sang sau.

Tôi vỗ lên quan tài Minh ba cái, rồi châm lửa đốt tờ điếu văn.

Năm 1994 anh em chúng tôi ăn giỗ đầu Minh. Trên ban thờ Minh có bầy bộ com-lê hàng mã, anh em tôi nói với nhau:

— Đốt cho nó mấy em hình nhân. Nó đâu cần com-lê.

Duyên Anh tù cải tạo 5 năm, trở về năm 1980, vượt biên đi thoát năm 1983, sang Pháp với vợ con. Sang Pháp Duyên Anh lại viết, và viết rất mạnh. Vợ con Duyên Anh được bảo lãnh sang Pháp năm 1980. Những năm 1987, 1988 Duyên Anh bị đánh ở Cali, liệt nửa người. Oan nghiệt dễ sợ. Sau tai họa, Duyên Anh viết bằng tay trái, qua đời năm 1996 hay 1997 ở Pháp.

Tứ trụ tòa soạn Con Ong Sài Gòn đã ra đi ba người, còn Hĩm Đinh Hiển ở Cali.
Dòng thời gian dài một ánh bay..! Bánh xe lãng tử sang Mỹ tôi lại viết cho Con Ong, tôi lại dùng bút hiệu Công Tử Hà Đông, nhưng Con Ong bây giờ là Con Ong ở Houston, Texas, Mỹ quốc. Tưởng như tôi mới viết cho Con Ong Texas ngày hôm qua. Dzậy mà đã 10 năm. Trong số báo này Con Ong kỷ niệm mười năm ra đời. Thời gian qua thật mau. Mới đấy mà Con Ong Texas đã sống được mười năm…! Mới đấy mà vợ chồng tôi đã sống mười năm ở Mỹ..!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: