• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Saigon Đèn Đỏ, Đèn Xanh

Tôi ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, xa cách đường Moran, thị trấn Westminster, California, nơi có toà soạn, nhà in Nhật Báo Người Việt, cả một chiều ngang, cả một chiều dài cũng rứa, của nước Mỹ. Nói theo ngôn từ Thơ Nguyễn Bính là nhà tôi cách toà báo Người Việt… hai mươi mấy cánh rừng, bốn năm chục ngọn núi, mấy ngàn con suối, mấy trăm con sông…, nhà tôi xa cách toà báo Người Việt quá chừng… nhưng quí anh chủ trương nhật báo Người Việt vẫn không ngừng nhớ tôi, vẫn gửi nhật báo Người Việt đến Rừng Phong cho tôi. Sinh ra tôi là bố mẹ tôi, thương tôi cô đơn, xót xa tôi sống quạnh hiu nơi Kỳ Hoa Đất Trích là quí anh chủ trương nhật báo Người Việt. Tôi cám ơn quí anh nhiều nhiều.

Rừng Phong đêm khuya, phòng ấm mùa đông, phòng mát mùa hè, đèn vàng, im lặng hai chăm phần chăm, an ninh chín chăm phần chăm, yên trí không bao giờ bị cái cảnh nửa đêm về sáng, đang ngủ mệt, nghe tiếng đập cửa, choàng dậy, đầu bù, miệng hôi, quần áo nhầu nát, lóp ngóp bò ra khỏi giường, nhìn ra cửa bàng hoàng thấy lố nhố năm bẩy tên đầu trâu, mặt ngựa công an Việt Cộng Thành Hồ đem xe bông đến đưa mình đi tù lần nữa, tôi nằm xem phim trên TiVi, tôi nằm đọc sách, đọc báo. Đêm qua, nhìn lướt trên trang báo Người Việt tôi thoáng thấy cái tên “Hoàng Hải Thủy.”

Gì thế này? Ai viết gì về mình đây? Tôi vội đọc: Ký Sự: Sài Gòn Trước Và Sau. Người viết Nguyễn Đạt, nhật báo Người Việt số ra ngày 3 Tháng Bẩy, 2004.

Nhìn đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ
Anh chợt nhớ em là vũ nữ.

Hoàng Hải Thủy

Trước hết, hai câu thơ tôi ghi làm đề từ cho bài viết, có thể tôi nhớ không đúng, vì thời gian đã mịt mù tới non nửa thế kỷ. Nếu như vậy, xin tác giả Hoàng Hải Thủy, và các độc giả thông cảm.

Hai câu thơ trên tôi cũng không nhớ xuất hiện ở đâu, trong một bài thơ, hay chỉ có hai dòng này làm đề từ cho một phóng sự của Hoàng Hải Thủy. Tôi chỉ nhớ hai câu thơ ấy, và một phóng sự của ông – Vũ Nữ Sài Gòn. Về tác giả, tôi nghe nói ông Hoàng Hải Thủy là một người phong nhã, dùng các thứ “đồ nghề ăn chơi” hợp thời, hợp “mode”, kiểu Paris mode (tất nhiên bao gồm cả London, NewYork… trong đó), chẳng hạn hút thuốc Philip Morris vàng sọc đen, hút ống vố hiệu Ropp (nguyên bộ 7 chiếc), bật lửa Dunhill vỏ có bọc một lớp vàng tây… Phục sức nhã nhặn: Áo sơ-mi may ở nhà may De Fouquières trên đường Lê Lợi, quần tây vải Ăng-lê may ở nhà may Can đường Tự Do, (bây giờ là đường Đồng Khởi)…

Và nói chung, với thế hệ tôi, lúc Hoàng Hải Thủy như vậy, là ông thuộc lớp những tay chơi cũ, những tay chơi phong nhã của Sài Gòn. Họ đi khiêu vũ ở những phòng trà thích hợp với lứa tuổi, với phong cách của họ, thường là Đêm Mầu Hồng ở đường Nguyễn Huệ, Bồng Lai ở góc đường Công Lý (bây giờ là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – Lê Lợi. Họ gặp nhau ở nhà một người bạn chung để xoa mạt chược mỗi sáng chủ nhật chẳng hạn. Họ hẹn nhau đi ăn phở Võ Tánh (bây giờ là đường Nguyễn Trãi) chẳng hạn.

Đấy là lưá tuổi và cùng phong cách Hoàng Hải Thủy của Sài Gòn xưa, tức Sài Gòn trước 30 Tháng Tư 1975. Bây giờ, tại “Sài Gòn nay”, lớp cũ ấy không còn tồn tại nữa. Họ định cư ở nước ngoài, hoặc còn ở Sài Gòn như ông Văn Quang, cũng không còn thích hợp được với lớp người ăn chơi hiện tại, nếu như ông Văn Quang muốn tìm lại thời gian đã mất.

Hú vía! Mặc cảm tội lỗi hoà hợp hoà giải với mặc cảm tự ty kiêm mặc cảm tự teo làm cho tôi vẫn ngan ngán mỗi lần thấy có người viết về tôi trên báo. Nhưng lần này tôi được khen, tôi sướng rên mé điù hiu, đưa tờ báo cho vợ tôi, tôi khoe: “Này.. em xem bài viết về anh..!”

Tôi vẫn tưởng Nguyễn Đạt, người thường có những bài viết về Sài Gòn hôm nay đăng trên nhật báo Người Việt là Việt Kiều ở Cali, anh về chơi Sài Gòn nên anh viết về Sài Gòn và người Sài Gòn hôm nay, hỏi ra tôi mới biết Nguyễn Đạt không phải là Việt Kiều Cali, anh vẫn sống ở Sài Gòn. Tôi nhớ tôi gặp anh ở nhà anh Nguyễn Mạnh Côn một buổi tối khoảng năm, sáu tháng sau ngày 30 Tháng Tư 75. Đêm ấy ba chúng tôi cùng buồn quá đỗi, buồn đến nỗi chúng tôi không còn biết nói gì với nhau.

Bài viết của Nguyễn Đạt gợi tôi nhớ một bài viết về tôi của Nguyên Sa đăng trên tuần báo Dân Chúng của Nguyên Sa hồi tháng 12 năm 1994 khi bánh xe lãng tử mới đưa tôi đến xứ Mỹ này. Vì tôi mới đến Mỹ, Nguyên Sa chào mừng tôi một bài. Nguyên Sa viết tôi ăn mặc chải chuốt, hút thuốc lá Mỹ, chơi bật lửa. Bài viết làm tôi nghĩ bỏ mẹ rồi, mình chẳng có cái gì hay để các bạn mình viết về mình. Ăn mặc chải chuốt, hút thuốc lá Mỹ, chơi bật lửa thì có cái gì là hay! Được khen là sướng rồi nhưng quả thực tôi thấy tôi không có gì để lấy làm hãnh diện. Thảo hèn gặp lại nhau ở xứ người sau hai mươi năm. Nguyên Sa bảo tôi:

— Thằng S. nó cũng đi tù như mày nhưng ở ngoài này nó còn có bạn nó đánh bóng cho nó, mày đâu có ai!

Than ôi..! Các bạn tôi ở xứ Mỹ có muốn đánh bóng tôi cũng không được, vì cuộc đời ái tình và sự nghgiệp của tôi không có cái gì có thể đánh bóng được! Nhìn đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ Anh chợt nhớ em là vũ nữ!

Nguyễn Đạt nhớ hai câu đó là thơ của tôi, tôi không nhớ nhưng hình như trong loạt bài Vũ Nữ Sài Gòn của tôi có hai câu đó. Vũ Nữ Sài Gòn là tác phẩm đầu tay của tôi, tôi viết Vũ Nữ Sài Gòn năm 1956, đăng trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong. Năm 1956 tôi 23 tuổi. Tôi gọi Vũ Nữ Sài Gòn là phóng sự tiểu thuyết, thực ra những bài ấy không phải là phóng sự, cũng chẳng phải là tiểu thuyết, chúng là những truyện ngắn do tôi tưởng tượng ra. Vậy mà Vũ Nữ Sài Gòn cũng có người đọc, có người cho là hấp dẫn, coi được, nhờ Vũ Nữ Sài Gòn cái tên Hoàng Hải Thủy được trình làng.

Năm 1956 đường phố Sài Gòn mới có đèn xanh, đèn đỏ ở một số ngã tư, không phải ngã tư đường nào ở Sài Gòn cũng có đèn xanh, đèn đỏ, chỉ những ngã tư đường lớn mới có đèn đỏ, đèn xanh. Nhưng đèn xanh, đèn đỏ ở ngã tư đường thì liên can gì đến các em vũ nữ Sài Gòn? Phải chăng đèn đỏ, đèn xanh gợi cho tôi nhớ đến các em ca-ve vì các em hành nghề ở những đăng-xinh ban đêm, khi thành phố lên đèn? Chắc thế!

Vũ Nữ Sài Gòn được xuất bản thành sách năm 1957. Rất tiếc tôi không giữ được quyển nào. Nếu có năm nay, gần năm mươi năm sau ngày tôi viết những truyện ấy, tôi đọc lại, đăng lại vài truyện, phụ đề Việt ngữ những truyện ấy theo sự hiểu biết cuộc đời của tôi năm nay, năm tuổi đời tôi Bẩy Bó. Có những truyện tôi viết ngây ngô, nhưng có thể có những truyện, những đoạn làm tôi ngẩn ngơ tự hỏi tại sao năm xưa ấy mình có thể có những ý này, mình có thể viết được như thế này?

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, Tháng Bẩy 2004, tôi gửi lời qua đại dương về cám ơn anh bạn Nguyễn Đạt ở quê hương. Ở quê nhà bạn nhớ tôi, bạn viết về tôi, xin chúc bạn được bình yên.

***

Tháng Sáu, tháng Bẩy 2004 trên các báo Việt ở Hoa Kỳ có hai chuyện thời sự đáng kể: cái gọi là Nghị quyết Tờ-răng-xít Mốt – 36 modes – ve vãn, xoa đít người Việt của bọn Bắc Cộng, vụ bọn Bắc Cộng trong nước xử những ông chống đối Trần Khuê, Phạm quế Dương, Nguyễn đan Quế.

Tôi coi thường cái gọi là “Nghị quyết 36 modes” của bọn Bắc Cộng. Tôi không thèm để ý gì đến nó vì tôi nghĩ bọn Bắc Cộng không thể làm cái gì được ở Hoa Kỳ. Đã ba mươi năm kể từ ngày chúng chiếm được Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, về chính trị chúng chỉ đi từ bại đến liệt, từ khốn nạn đến bệ rạc, từ chết đến chết chứ không bị thương. Nếu làm được gì chúng đã làm rồi, chúng không đợi đến bây giờ. Đến bây giờ chúng mới toan tính sờ đít người Việt ở Mỹ thì chúng chỉ chuốc thêm nhục nhã mà thôi. Một số người Việt ở Hoa Kỳ lo ngại trước tin bọn đảng viên cộng sản Việt chuyển tiền sang Hoa Kỳ, mua nhà, mua đất ở Hoa Kỳ. Cứ cho chúng nó sang sống ở Mỹ, có gì phải sợ những thằng cộng sản Việt bỏ nước, bỏ đảng, mò sang sống ở xứ Mỹ. Cho chúng nó sang, chúng nó sang thằng nào là chết thằng ấy, thằng nào sang là hôm trước hôm sau quay lại chửi bố đảng, chửi bố “Bác Hồ muôn kính, ngàn yêu!” Chuyện đó chắc chắn xẩy ra, chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch! Tôi đánh cuộc với bất cứ ai: nếu bọn Bắc Cộng không ngủm củ tỏi trong một tương lai gần, nếu bọn Bắc Cộng không bị nhân dân ta nhổ vào mặt, quạt cho mấy cái tát tai, đá đít, đuổi đi, tôi xin chi quí vị 1 triệu USD, nếu chúng bị nhân dân ta nhổ vào mặt, đánh cho mấy cái bợp tai, đá đít, đuổi đi, quí vị chỉ phải chi tôi 1 USD để tôi giữ làm kỷ niệm.

Lại có người sợ bọn Bắc Cộng ra nhật báo, tuần báo ở Mỹ, sợ chúng khống chế dư luận cộng đồng Việt ở Mỹ, sợ chúng ra sách báo tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản. Mèn ơi..! Sợ ký gì? Cái gọi là chủ nghĩa cộng sản đã nát bét, đã thối mủn, đã bị quăng vào hố xí từ mười mấy năm nay, cái chủ nghĩa ngu xuẩn man rợ ấy còn hấp dẫn được ai nữa! Nếu bọn cộng sản còn nắm quyền ở Liên Xô, ở các nước Đông Âu, ở Đức như trước năm 1990, việc bọn Bắc Cộng sang Mỹ tấn công người Việt ở Mỹ có thể làm tôi ngan ngán, nhưng giờ này chúng nó thua rồi, chúng nó mặt trơ, trán bóng cố bám víu vào quyền lực được ngày nào hay ngày ấy. Lâu rồi, từ ngày Tượng Tổ Sư Lenin của chúng bị người dân Nga tròng xích sắt vào cổ, kéo đổ, cho ra nằm ở bãi rác, chúng đã hết sức sống, nói rõ hơn là chúng đã chết. Cứ cho chúng nó ra báo ở Mỹ. Không ló mặt chó ra báo chúng còn đỡ nhục, ọ ẹ ra báo chúng sẽ nhục hơn con chó!

Không có lý do gì để những người Việt sống ở Mỹ có mặc cảm thua kém bọn cán bộ Bắc Cộng. Chúng ta không thua chúng nó, về tư tưởng chúng ta đúng, chúng nó sai. Ở trong nước chúng nó có bọn công an, bọn quân đội, chúng nó hung hăng con bọ xít đàn áp nhân dân, chúng thẳng tay bỏ tù những người tranh đấu cho nhân dân, nhưng ở Mỹ, chúng nhục hơn chó. Nhân dân ta ở trong nước chưa làm những cái việc thống khoái là nhổ vào mặt, tát tai, đá đít bọn đảng viên cộng sản, đuổi chúng ra khỏi chính quyền, như nhân dân Nga, Hung, Lỗ, Ba Lan, Đức… đã làm, nhưng nhân dân Việt Nam ở Mỹ, ở Úc, ở Pháp, ở khắp nơi trên trái đất, đã nhiều lần nhổ vào mặt, tát tai, đá đít bọn cán bộ Bắc Cộng, đuổi chúng đi chỗ khác, cấm không cho chúng được đến nhiều chỗ. Những vụ như người Việt ở Hoa Kỳ cấm bọn Bắc Cộng đến Khu Little Saigon ở Cali, Mỹ, như vụ người Việt ở Úc cấm không cho đài truyền hình Úc truyền hình chương trình của bọn TiVi Hà Nội, như việc cờ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà được treo khắp nơi ở Mỹ, cờ máu của bọn Bắc Cộng bị cho vào thùng rác. Đó là những cái nhổ vào mặt, tát tai, đá đít bọn đảng viên cộng sản của người Việt ở hải ngoại. Một ngày không xa người Việt ta sẽ làm những việc thống khoái đó ở trong nước ta.

Vì coi thường bọn Bắc Cộng tôi không chú ý đến cái Nghị quyết Tờ-răng-xít-mốt của chúng, tôi không viết dòng nào về nó. Tôi muốn chúng ra báo ở Mỹ để tôi có dịp chửi chúng nặng hơn, để đồng bào tôi không thèm đập phá mà đến phóng uế vào toà báo của chúng. Về những cái gọi là tài liệu tuyên truyền của bọn Bắc Cộng tôi nhớ lại…

Một buổi trưa tháng 7, tháng 8 năm 1975, mới vài tháng sau ngày bọn bộ đội Bắc Cộng nón cối, giép râu, lính cái tóc bím, lùn tịt, mông đít to hơn cái thúng, ngơ ngáo dắt nhau vào thành phố – chúng như đàn bò vào thành phố mà chỉ có một mình anh mặt dơi tai chuột phi cầm, phi thú Trịnh công Sơn là người quen – lơ vơ vất vưởng lên trung tâm Sài Gòn – tiếng Mẽo là “đao-tao”, nôm na là khu Gia Long, Trần Cao Vân, Nguyễn Du, tôi gặp nhà thơ kiêm đạo diễn điện ảnh Hoàng Anh Tuấn ngồi ở cà phê vỉa hè. Ông đang đọc một têp tài liệu cuả bọn Bắc Cộng, trong số có bản in một hai lá thư anh già Hồ viết gửi đồng bào Nam Bộ. Đọc xong, Hoàng Đạo diễn Hai Chuyến Xe Bông, Xa Lộ Không Đèn, tuyên bố: “Ê.. Chúng mày cẩn thận. Đừng dùng cái này chùi đít, trĩ đít bỏ mẹ.”

Với người dân Sài Gòn, tài liệu chính trị của bọn Bắc Cộng, những thứ gọi là “văn hoá phẩm xã hội chủ nghĩa” là những thứ không đáng để họ chùi đít. Quá bẩn. Chúng ta nên cẩn thận, dùng những “văn hoá phẩm XHCN” như tập “Nếu đi hết biển” làm giấy chùi đít sẽ mắc bệnh trĩ, khó chịu lắm đấy.

Vụ thứ hai: bọn Bắc Cộng đưa mấy ông chống đối chúng ra toà. Hai ông Trần Khuê, Phạm quế Dương, người Hà Nội, bị chúng xử mỗi ông 19 tháng tù, ông Nguyễn Đan Quế, công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, bị chúng xử 30 tháng tù. Hai ông Trần Khuê, Phạm quế Dương đã tù 19 tháng kể từ ngày bị bắt, ra tòa lãnh án là về nhà ngay, ông Nguyễn Đan Quế còn phải nằm phơi rốn trong tù chừng mười tháng nữa.

Những năm 1980 thời gian bọn Bắc Cộng đàn áp, khủng bố những công dân Quốc Gia VNCH dữ dội nhất, tàn bạo nhất, bắt tù, xử tử nhiều công dân Quốc Gia VNCH nhất, anh em tù nhân trong những nhà tù cộng sản thường nói: “Ba năm tù như giấc ngủ trưa..!” Đó là thời bọn Bắc Cộng, gần như mỗi tháng, tuyên những án tử hình, những án tù chung thân, 20 năm, 18 năm, 15 năm tù khổ sai; giữa những án tù khủng khiếp đó án tù ba năm là quá nhẹ, anh em tù coi như giấc ngủ trưa, chưa ngồi tù nóng đít đã ra khỏi tù. So với những án tù chính trị năm 1980, những án tù năm nay, năm 2004, tù 5 tháng, 20, 30 tháng là những chuyện khôi hài nhạt. Những cái án quá nhẹ ấy cho thấy bọn Bắc Cộng đã chùn tay, chúng không còn hung hăng muốn làm gì thì làm. Chúng không còn có thể đưa những người dân đòi dân quyền đi mất tích như trước đây 20 năm. Chúng ê răng, chúng gẫy càng rồi. Người dân trong nước không còn sợ khiếp chúng nữa. Bị chúng bắt vì tội chống chúng mà chỉ phải ở tù có mười mấy tháng, ai còn ngán sợ chúng nữa! Chắc chắn sẽ có nhiều người trong nước công khai, công nhiên, trực diện chống bọn cộng sản cầm quyền trong thời gian tới.

Đến bây giờ mà còn đặt câu hỏi phải chăng bọn Bắc Cộng có phân biệt đối xử trong hành động đàn áp những người dân Bắc Cộng và những người công dân Quốc Gia VNCH là ngớ ngẩn. Chúng phân biệt quá chứ, chúng phân biệt lâu rồi. Chúng phang những cái án thật nặng lên đầu nhân dân quốc gia VNCH, quốc gia bị chúng xâm lăng, bị chúng chiếm đóng, chúng vẫn đối xử nhẹ tay với những người Bắc kỳ. Chúng phân biệt và ta cũng phải phân biệt: những công dân Quốc Gia VNCH muốn lật đổ bạo quyền cộng sản, muốn chiếm lại đất nước, những công dân Quốc Gia VNCH không chịu sống chung với bọn cộng sản, họ quyết liệt một sống, một chết với chúng, những người Bắc kỳ không đòi đuổi bọn cộng sản ra khỏi chính quyền, họ chỉ muốn bọn cộng sản thay đổi chính sách. Hai cái muốn đó khác hẳn nhau.

Tôi vẫn muốn chỉ viết về Tình Yêu, về những chuyện ngày xưa, như những nữ ca sĩ Sài Gòn đêm xưa trong những vũ trường, những phòng trà Sài Gòn xưa thường nói: “.. Để thay đổi không khí..- Lệ Thu, Thanh Thúy – xin trình bầy…” đến đây cũng để thay đổi không khí, mời quí vị thưởng thức một bài thơ Tình: Một đoạn trích trong MÙA HẠ HAI MƯƠI, Truyện Hoàng Hải Thủy, Làng Văn xuất bản.

LOVE and AGE

I play’d with you ‘mid cowlips blowing,
When I was six and you were four,
When garlands weawing, flower-balls throwing,
Were pleasures soon to please no more
Through groves and meads o’er grass and heather,
With little playmates, to and fro,
We wander’d hand in hand together,
But that was sixty years ago.

You grew a lovely roseate maiden,
And still our early love was strong,
Still with no care our days are laden,
They glided joyously along,
And I did love you very dearly,
How dearly words want power to show,
I thought your heart was touch”d as nearly,
But that was fifty years ago.

Then other lovers came around you,
Your beauty grew from year to year,
And many a splendid circle found you
The centre of its glittering sphere,
I saw you then, first vous forsaking
On rank and wealth your hand bestow
O then Ithought my heart was breaking…!
But that was forty years ago.

And I lived on, to wed another:
No cause she gave me to repine.
And when I heard you were a mother,
I did not wish the children mine.
My own young flock, in fair progression,
Made up a pleasant Christmas row:
My joy in them is past expression,
But that was thirty years ago.

You grew a matron plump and comely,
You dwelt in fashion’s brightest blaze,
My earthly lot was more homely,
But I too had my festal days.
No merrier eyes have ever glisten’d
Around the hearth-stone’s wintry glow,
Than when my youngest child was christen’s,
But that was twenty years ago.

Time pass’d. My eldest girl was married,
And I am now a grand sire gray,
One pet of four years old I’ve carried
Among the wild-flower’d meads to play
In our old fields of childish pleasure
Where now, as then, the cowlips blow.
She fills her basket’s ample measure,
And that is not ten years ago.

But though first love’s impassion’s blindness
Has pass’d first love’s impassion’d blindness
Has pass’d away in colder light,
I still have thought of you with kindness
And shall do, till our last goodnight.
The ever-rolling silent hours
Will bring a time we shall not know,
When our young days of gathering flowers
Will be a hundred years ago.
Thomas Love Peacock
(1785-1866)

Mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông năm 1989, cuộc đời đưa đẩy anh đến sống trong Trại Lao Động Cải Tạo Z 30A dưới chân núi Chứa Chan. Nơi này có những ngọn đồi cỏ mượt trong mùa mưa, có những cánh rừng bạch đàn rì rào trong gió thu. Con anh đem đến đó cho anh tập The Oxford Book or English Verse. Trong tập này có 967 bài thơ. Ở chân núi Chứa Chan, trong tiếng lá bạch đàn rì rào, anh dịch được hơn 50 bài thơ trong tập này ra thơ Việt. Trong số có bài Love and Age trên đây. Bài thơ làm cho anh cảm động dù đời anh không có mối tình nào giống hệt như mối tình của Thomas Love Peacock, người thơ đã sống, đã yêu, đã chết trước anh hơn 100 năm. Bài thơ cũng không hoàn toàn đúng với cuộc tình Sóc Trăng Mùa Hạ 54 của anh, anh chỉ mượn nó để ca tụng Tình Yêu: Tình Yêu không bao giờ chết, Tình Yêu không thể nào chết. Chừng nào trái đất còn Loài Người thì vẫn còn có Tình Yêu.

Em và anh, đôi ta trong một buổi sáng gặp nhau trên con đường Cần Thơ – Phụng Hiệp – Sóc Trăng vàng nắng, ta gặp nhau tình cờ và ta yêu nhau – em ơi không phải ta gặp nhau tình cờ mà cuộc đời, mà số mệnh dàn xếp cho chúng ta gặp nhau – sau chúng ta có cả triệu cặp tình nhân trẻ tuổi, da thịt măng non, mật ngọt sẽ gặp nhau, sẽ yêu nhau trên con đường vàng nắng Cần Thơ – Phụng Hiệp – Sóc Trăng… Mãi mãi như thế.. Vĩnh biệt… Em hãy đọc những lời anh nói riêng với em trong bài thơ:

TÌNH và TUỔI

Anh với Em, trong vườn tầm xuân
Khi Anh lên sáu, Em lên bốn
Ta kết hoa trong lá xanh ngần,
Dưới vòm hoa, Anh tìm, Em trốn,
Với các bạn, ta đi, tay trong tay
Như đôi chim non trên cành lá mượt
Chuyện đôi ta đó, sáu mươi năm trước.

Rồi Em lớn, đôi má hồng tươi mướt,
Chúng ta yêu nhau, trong tuổi dậy thì
Những đường mơ, lối mộng chúng ta đi,
Ngày với tháng qua, chúng ta không biết
Anh chỉ biết Anh yêu Em tha thiết,
Không có lời Anh nói hết Tình Anh
Và trái tim Em, Anh biết, băng trinh
Em cũng như Anh, yêu nhau trên hết.
Đó là chuyện của năm mươi năm trước.

Rồi quanh Em có những người yêu khác,
Mỗi năm hơn Em đẹp gấp trăm lần.
Quanh đời Em rực rỡ những mùa xuân.
Em tâm điểm của vầng hào quang ấy.
Rồi Em bắt đầu, Anh buồn nhận thấy
Tính chuyện sang hèn, tính chuyện giầu nghèo…
Ôi – Trái tim Anh vỡ nát vì yêu
Đó là chuyện của bốn mươi năm trước.

Rồi Anh vẫn sống, Anh lấy người khác,
Nàng không làm Anh phải tủi, phải buồn.
Rồi Anh nghe tin Em đã có con,
Chúng ta cùng năm trở thành bố mẹ.
Cuộc đời trôi đi, êm đềm như thế,
Anh vui vợ con, mái ấm gia đình,
Những ngày đón xuân, những đêm Giáng Sinh…
Đó là chuyện của ba mươi năm trước.

Em trở thành bà, sang đẹp, nõn nà
Trong nhung lụa, phấn son, vàng với ngọc
Anh sống bình thường, đời không gấm vóc,
Những ngày vui thanh thản, những đêm đông,
Với vợ con bên lò sưởi đỏ hồng
Dậy con học, đưa đón con đi học
Đó là chuyện của hai mươi năm trước.

Rồi Anh già đi, tóc râu Anh bạc,
Rồi các con Anh cưới vợ, lấy chồng,
Cháu Anh ra đời, Anh đã thành Ông,
Dắt cháu đi chơi trên những cánh đồng
Trong vườn cỏ mượt, nơi ta ngày xưa
Hái hoa tầm xuân, khi ta còn thơ
Hoa tầm xuân xưa nở mượt bây giờ
Đó không là chuyện mười năm về trước
Dù cho Tình Đầu, qua năm, qua tháng
Có nhạt phai đi với niềm cay đắng
Anh vẫn mến Em, Anh vẫn nhớ Em,
Nhớ Em cả phút cuối cùng im vắng
Khi Thời Gian đưa chúng ta vào quên
Vào cuộc sống chưa bao giờ biết đến
Khi ta hái hoa ngày xưa hoa niên
Đó sẽ là chuyện trăm năm về trước

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: