• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Ta ở với người

Quân tịch phong trần, quân bất dĩ
Ngã hồi phố thị, ngã do liên.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Giai nhân, thi sĩ đối sầu miên…

Đầu tháng 12 năm 1979 tôi từ nhà tù trong Khu Tổng Nha Cảnh Sát của ta – nay là của Việt Bắc Cộng – xách cái túi rách đi ra đường Lý Thái Tổ. Bọn công an thành Hồ bắt tôi tháng 11 năm 1977. Trong gần hai năm tôi bị giam ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn của công an thành Hồ thời ấy. Cứ 1.000 công dân thành Hồ bị VC tó thì có đến 999 người bị giam cứu – tức bị giam và chịu thẩm vấn, hỏi cung – ở Số 4 Phan Đăng Lưu. Thời gian bị VC bắt giam lần thứ nhất của tôi chỉ là hai niên, nhưng kéo dài qua ba năm 77, 78, 79. Hai tháng cuối cùng chúng đưa tôi về một nhà tù trong Khu Tổng Nha Cảnh Sát của ta, để gọi là “bồi dưỡng” cho tôi trước khi thả tôi.

Lúc ấy khoảng 11 giờ trưa. Cuối năm 1979 thành Hồ vắng vẻ, u ám, hoang tàn, không sức sống. Còn khoảng hơn 10 đồng trong túi tôi vẫy chiếc xích lô đạp, nhờ đưa tôi về Chợ Cá Trần Quốc Toản. Nhà mẹ tôi ở trong Cư Xá Quân Cụ bên cạnh Chợ Cá, nhà tôi ở Cư Xá Tự Do giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền. Khi được biết mình sắp được thả tôi đã tính trước: 1.000 anh con trai bà Cả Đọi đi tù được trở về có đến 999 anh vù về nhà mình với vợ con trước, đi thăm bố mẹ sau. Từ nhà giam ở đường Lý Thái Tổ về Ngã Ba Ông Tạ tôi phải đi qua khu Chợ Cá Trần Quốc Toản, tôi nên ghé vào Cư Xá Quân Cụ thăm mẹ tôi, rồi tôi về nhà và nằm nhà luôn, buổi chiều tôi khỏi phải lên thăm mẹ tôi. Để đến ngày hôm sau mới đến thăm mẹ thì hơi kỳ mà mới nằm tù Việt Cộng hai mùa lá rụng, về nhà buổi trưa, buổi chiều lại phải đi thì mệt.

Cổng vào cư xá vắng tanh. Lèo tèo một xe bánh mì, một thùng bán thuốc lá, một quán cà phê lộ thiên, hai ba cái bàn thấp, mấy cái ghế đẩu. Cảnh nghèo thật là nghèo. Tôi mua khúc bánh mì thịt 4 đồng, gói thuốc lá 2 đồng do tư nhân vấn theo kiểu bó củi, đến quán cà phê gọi ly cà phê đen 1 đồng, ngồi hút thuốc lá, uống cà phê, ăn miếng bánh mì cho đỡ run tay. Chỗ tôi ngồi cách cổng vào nhà mẹ tôi chừng 50 thước. Cánh cổng sắt đóng kín. Trong vườn không bóng người. Tim tôi bồi hồi. Anh con trai bị Việt Cộng bắt đi tù hai niên nay đã về tới cửa mà bà mẹ già trong nhà chưa biết.

Cổ họng tôi nghẹn lại, tôi nuốt không nổi miếng bánh mì. Cho khúc bánh mì ăn dở vào túi xách, tôi đi vào nhà mẹ tôi. Khoảng 2 giờ trưa tôi về đến nhà tôi. Nghe tiếng tôi gọi: “Em ơi…” vợ tôi lảo đảo đi ra mở cửa. Nàng choáng váng đứng không vững. Nàng gầy và xanh như tầu lá.

Thời gian ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu anh công an Huỳnh Bá Thành, bí danh Ba Trung, thẩm vấn tôi. Hắn để tôi nằm sà-lim đúng 12 tháng 2 ngày – Việt Cộng gọt theo Tầu Cộng là ca-sô – 2 tháng ở Biệt giam Khu C Một. Những chiều mùa nắng ô cửa gió nhỏ bằng quyển sách trên cánh cửa sắt biệt giam bị đóng lại sau giờ điểm danh lúc 5 giờ chiều, tôi đứng áp má vào cánh cửa gió, nhìn qua khe hở ra ngoài. Trời còn nắng vàng, tôi nhìn thấy ngọn những những cây sao xanh vàng n¡ng trên đường Chi Lăng rung động trong gió chiều. Những lúc ấy tôi thấy giờ này nếu tôi được tự do đi trên đường Nguyễn Huệ, đường Lê Lợi, hưởng gió mát từ sông thổi đến, tôi sẽ sung sướng, tôi không còn đòi hỏi gì hơn. Ở trong tù tôi chỉ muốn được về nhà với vợ con, về nhà tôi sẽ chịu đựng được tất cả những khổ sở.

Nhưng cuộc sống không giản dị và dễ dàng như thế, tâm trạng con người thay đổi theo những chiều hướng mà ý chí con người không muốn. Về nhà được vài tháng tôi lại bất mãn. lại âu sầu, lại uất hận. Căn nhà nhỏ chỉ có hai vợ chồng tôi quanh quẩn bên nhau, các con tôi không được học tiếp, phải rời nhà đi kiếm ăn ở xa. Tôi ghép mấy câu thơ Tầu làm thành bài thơ của vợ chồng tôi:

Quân tịch phong trần, quân bất dĩ
Ngã hồi phố thị, ngã do liên.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Giai nhân, thi sĩ đối sầu miên…

Phong trần Em vẫn là em.
Anh về phố chợ đêm đêm lại buồn.
Một đi hoàng hạc đi luôn.
Giai nhân, thi sĩ đối buồn nằm mơ.

Đêm đêm những năm 80 thành phố tắt điện, tôi nằm cạnh cây đèn dầu hôi trong mùng dịch Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, Thơ Đường, tôi làm thơ, tôi viết những bài diễn tả cuộc sống tuyệt vọng của nhân dân ta gửi ra nước ngoài. Tôi theo con tôi đến nhà thờ Tin Lành đường Trần Cao Vân. Tại đây tôi nghe Mục Sư Hồ Hiếu Hạ truyền giảng lời Chúa. Khoảng tháng Bảy, tháng Tám năm 1983 công an thành Hồ đến Nhà Thờ Trần Cao Vân bắt Mục Sư Hạ, chiếm luôn nhà thờ. Nhà Thờ Trần Cao Vân là nhà thờ của những Kỳ-tô hữu ngoại quốc sống ở Sài Gòn. Cùng ngày công an thành Hồ bắt Mục Sư Nguyễn Hữu Cương và Thầy Lê Thiện Dũng, truyền đạo ở Nhà Thờ Tin Lành An Đông.

Mục Sư Hạ bị bắt, vợ chồng, bố con tôi sang Nhà Thờ Tuy Lý Vương – hay Tùng Thiện Vương – bên Xóm Củi, nương nhờ Mục Sư Đinh Thiên Tứ. Mục Sư Tứ thường đi xe đạp đến nhà tôi, an ủi vợ chồng tôi. Có lần tôi nói với ông:

— Khi cảm thấy sắp bị bắt tôi như người có bệnh thì vái tứ phương, tôi cầu xin cả Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát!

Mục Sư Tứ nói:

— Người như ông thì ông xin ai Chúa cũng cho ông.

Ông nói về Mục Sư Hồ Hiếu Hạ:

— Trong chúng tôi có người cũng giảng hay được như ông Hạ, nhưng không có ai giảng có lửa như ông Hạ.

Tôi nói tôi hút thuốc lá quá nhiều, hút càng ngày càng nặng, muốn bỏ nhưng sợ không được – tôi hút thuốc lá từ năm 18 tuổi, chưa một lần toan tính bỏ thuốc, không bao giờ tôi nghĩ đến chuyện bỏ hút ; trước tháng Tư 75 mỗi ngày tôi hút 70 điếu Philip Morris Vàng, hoặc Lucky Ba Hàng Chữ, Pall Mall For Export Only và Singapore Duty Not Paid ; sau tháng Tư 75, nhiều nhất là những năm ở trong tù tôi hút từ 6 giờ sáng đến 11 giờ đêm khoảng 100 điếu thuốc rê — Mục Sư Tứ nói:

— Ông xin Chúa cho ông bỏ là ông sẽ bỏ được.

Tôi bỏ thuốc lá dễ dàng, dứt khoát, bỏ cái một, không thuốc men, không nhớ tiếc, năm 1993. Buổi sáng hôm ấy, lúc 8 giờ tôi hút điếu thuốc cuối cùng, 8 giờ 1 phút tôi bỏ hút. Nhớ lời Mục Sư Tứ, trước khi ngừng hút tôi cầu nguyện xin ơn Thiên Chúa.

Tháng Ba 1984 công an thành Hồ bắt nhóm tăng ni chùa Già Lam: Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Ni Cô Trí Hải, Thượng Tọa Đức Nhuận. Năm giờ sáng ngày 2 tháng 5 năm 1984 tôi xách túi đi trở vào Khu C Một Nhà Tù Phan Đăng Lưu. Năm anh em chúng tôi cùng bị bọn công an thành Hồ cho xe bông đến nhà rước đi trong một đêm. Bị đưa vào biệt giam số 10 Khu C Một, vừa cởi áo quần, mặc sà-lỏn ra đứng ở cửa gió tôi nghe tiếng người ở biệt giam bên cạnh gọi:

— Hát Hát Tê … Nghe không ?

— Ai đó ?

Người bạn tôi xưng tên. Anh là sĩ quan Không Quân, bạn của Dương Hùng Cường. Anh em anh nhiều người ở nước ngoài, anh còn bà mẹ già ở lại nên anh không đi HO sang Hoa Kỳ. Anh và Văn Quang Nguyễn Quang Tuyến, Cựu Trung Tá, Nguyên Quản Đốc cuối cùng Đài Phát Thanh Quân Đội, thuyền trưởng Hai Ghe, là hai sĩ quan không HO sang Hoa Kỳ tôi được quen biết khá thân. Anh nói:

— Khuất Nguyên bị tó rồi. Biệt giam số 1.

Hai chúng tôi đang trao đổi vài câu qua ô cửa gió thì nhìn ra đầu hành lang chúng tôi thấy Dương Hùng Cường bị dẫn vào. Như vậy là bốn anh em chúng tôi cùng bị bắt trong một đêm, cùng nằm biệt giam Khu C Một: Khuất Duy biệt giam 1, bạn tôi biệt giam 9, tôi biệt giam 10, Cường biệt giam 15. Tôi được anh em tù ra quét dọn cho biết Mục Sư Hồ Hiếu Hạ nằm biệt giam 20 cùng khu với tôi, nhưng ở xa tít mãi cuối dẫy.

Tháng 5, 1985, tám anh em chúng tôi – những văn nghệ sĩ bị bọn công an thành Hồ gọi là: “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” – lên xe bông sang Thánh Thất Chí Hòa. Tôi vào Phòng 10 Khu ED. Ở đây tôi gặp Trí Siêu Lê Mạnh Thát. Mục Sư Hồ Hiếu Hạ. Mục Sư Nguyễn Hữu Cương, thầy truyền đạo Lê Thiện Dũng, từ Số 4 Phan Đăng Lưu sang Chí Hòa trước chúng tôi, ở Phòng 9 khu ED. Phòng các mục sư và phòng tôi ở sát nhau. Những sáng chủ nhật cửa phòng tù được mở cho tù ra hành lang lấy nước, đôi khi tôi được chạy sang Phòng 9 nói chuyện vài phút với Mục Sư Hạ, mục sư của tôi.

Những ngày tù tội theo nhau qua, sống trong tù rồi cũng quen đi. Giữa năm 1986 anh em chúng tôi bị gọi ra tòa. Lúc này anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt đã chết, tám anh em chúng tôi chỉ còn có bảy. Bọn công an thành Hồ cay cú khép chúng tôi vào tội gián điệp. Chúng muốn làm to chuyện vụ chúng tôi – những văn nghệ sĩ gửi tác phẩm ra nước ngoài – chúng làm thành vụ án điển hình, xử thật nặng cho những người khác kinh sợ. Chúng muốn xử tử hình anh Doãn Quốc Sĩ, người bị chúng gán cho cái tội đầu xỏ bọn gián điệp. Trong cáo trạng anh Sĩ đứng đầu, thứ hai là tôi. Nếu anh Sĩ bị tử hình, tôi sẽ bị án chung thân.

Ngày xử đến gần. Hai tờ tuần báo Công An, Tuổi Trẻ thành Hồ cùng loan tin và đăng lại những phóng sự kể tội, bôi bác chúng tôi. Chúng đã viết về chúng tôi khá nhiều kể từ ngày chúng tôi bị bắt; nay chúng hâm nóng lại vụ chúng tôi khi chúng đưa anh em chúng tôi ra tòa.

Tôi sợ, tôi bồi hồi. Nước chua ứa ra trong dạ dày tôi làm tôi bồn chồn. Đọc những bài bọn Công An, Tuổi Trẻ viết về chúng tôi, Trí Siêu Lê Mạnh Thát nói:

— Sao chúng nó thù các bác quá!

Anh bạn tù ra làm lao động nói với tôi:

— Kỳ Hoa Sơn luận kiếm này coi bộ nguy hiểm cho ông đấy. Chuẩn bị tinh thần đi thì hơn. Cứ trước đại hội Đảng mà chúng nó đem ra xử là chúng nó xử nặng l¡m đấy !

Mỗi ngày cửa phòng tù được mở chừng nửa giờ cho tù ra hành lang lấy nước. Nước được bơm từ những bồn nước dưới sân lên lầu. Phòng 9 ra lấy nước trước, tôi đứng bên song sắt, chờ Mục Sư Hạ đi ngang, nói với ông:

— Tôi ra tòa… Mục sư xin Chúa ban ân cho tôi… Xin Chúa ở cùng tôi…

Khi đi từ chỗ xách nước trở lại, hai tay hai thùng nước, mục sư nói:

— Ta sẽ ở với ngươi cho đến ngày tận thế…

Nghe câu đó tôi khóc nức lên. Rồi tôi lùi lại, về chỗ, ngồi dựa lưng vào tường, cúi đầu, úp mặt vào cánh tay đặt trên đầu gối, khóc nức nở, khóc nghẹn ngào, khóc như chưa bao giờ tôi khóc đến như thế.

Ngày hôm trước ngày ra tòa, tù ra tòa được ra hành lang cắt tóc. Anh tù hớt tóc nói với tôi:

— Cho chúng nó xử mình bao nhiêu năm cũng không sợ. Mình còn sống là mình còn trở về. Chỉ sợ nó tử hình mình là mình không về được mà thôi.

Trong khoảng bảy ngày trước ngày phải ra tòa tôi xin Chúa ban cho tôi hai ơn:

— Xin Chúa cho con ra tòa nói năng được đàng hoàng, con không làm cho vợ con con phải xấu hổ.

— Xin Chúa ban cho con niềm tin là lời xin của con được Chúa nghe, lời xin của con được Chúa cho. Con không dám xin Chúa hủy bỏ vụ xử án này, con xin Chúa cho ngày xử án được hoãn xử. Chỉ hoãn xử thôi, rồi sau đó chúng xử con bao nhiêu năm tù con xin chịu. Con xin Chúa cho hoãn ngày xử để con được biết là lời xin của con được Chúa nghe.

Tôi xin hoãn xử với tất cả niềm thành kính của tôi, nhưng những sự việc xẩy ra không có qua một dấu hiệu nào để ngày tôi bị xử có thể được hoãn lại.

Bọn Việt Cộng thành Hồ đã dàn dựng vụ xử chúng tôi thật kỹ, chúng khua trống, dóng trống ầm ĩ. Nhưng tôi vẫn xin…

Ngày xử đến. Người tù ra tòa thường được gọi đi lúc 6 giờ sáng nên phải chuẩn bị mặc đồ sẵn, tù ra tòa phải mặc đồ tù mầu xanh, ăn chút gì cho đỡ đói. Anh em cùng phòng nói lời chúc tốt cuối cùng. Tôi hồi hộp ngồi chờ. Tiếng mở cửa sắt lách cách. Cửa phòng 9 mở ra, anh tù lao động ra hành lang. Anh này có phận sự đi mở các phòng gọi những người tù ra tòa ra khỏi phòng. Tôi chắc Khuất Duy – ở phòng 9 – đã ra hành lang. Anh tù lao động đi qua phòng 10 trong đó có tôi nhưng không dừng lại mở cửa, anh đi tuốt vào mở cửa phòng trong. Một lát sau một anh tù ra tòa, anh này còn trẻ, theo anh tù lao động đi ngang phòng tôi.

Rồi thôi, rồi im. Tôi vẫn chưa biết là ngày xử tôi được hoãn như lời tôi xin Thiên Chúa. Tôi vẫn mặc nguyên quần áo ngồi chờ. Cả nửa giờ sau anh tù lao động mới đi ngang phòng tôi, anh nói qua song sắt:

— Hoàng Hải Thủy hoãn rồi…

Buổi chiều, khoảng 6 giờ, anh tù phòng trong đi tòa về. Đi ngang phòng tôi anh vứt qua song sắt cho tôi bịch thuốc rê, anh nói:

— Con ông gửi cho ông…

Chờ sẵn bên song sắt, tôi hỏi:

— Hoãn đến ngày nào xử ?

Anh trả lời:

— Mười ngày nữa !

Mười ngày sau tôi ra tòa. Lần này thì tôi ra tòa thật. Khi tôi đi ngang qua phòng 9 Mục Sư Hạ đứng chờ sau hàng chấn song, nói với tôi:

— Tôi sẽ cầu nguyện cho ông từ lúc ông đi đến lúc ông về.

Ra tòa anh em chúng tôi bị đưa vào căn phòng nhỏ bên phòng xử. Một em nữ phóng viên, một chú phó nhòm nhật báo Sài Gòn Giải Phóng vào phòng. Em phóng viên nói với anh công an áp giải chúng tôi ra tòa:

— Kỳ quá. Tòa hoãn xử mà không cho nhà báo biết, để chúng tôi mất công ra đây…

Tôi rỏng tai nghe. Lại hoãn nữa sao? Chúa cho hoãn xử thật sao? Một lúc sau tôi đến đứng sau cánh cửa đóng khóa, các con chúng tôi đứng sát cửa bên ngoài. Nghe tiếng các con tôi, tôi hỏi:

— Hoãn xử phải không con?

Con tôi trả lời:

— Hoãn, bố ạ.

— Hoãn đến ngày nào?

— Chỉ thấy bảng đề hoãn thôi, bố ơi. Không thấy đề ngày nào xử!

***

Tôi trở lại Phòng 10, tiếp tục sống những ngày tù tội. Qua năm 1988 Mục Sư Hồ Hiếu Hạ, Nguyễn Hữu Cương và thầy truyền giảng Lê Thiện Dũng ra tòa. Ba ông ông nào cũng bị phang cái án 8 năm. Có án rồi 3 ông rời Khu ED sang Khu FG. Đúng một năm rưỡi sau anh em chúng tôi mới lại có dịp ra tòa. Lần này bọn công an thành Hồ bỏ tội gián điệp trong cáo trạng chúng kết tội chúng tôi, thay vào đó là tội tuyên truyền phản cách mạng. Hình luật của Việt Cộng ghi như sau:

— Bị coi là gián điệp những tên cung cấp những tin tức an ninh, quốc phòng cho những cơ sở tình báo ngoại quốc để những cơ quan này làm hại đất nước ta.

Những người không cung cấp tin tức cho những cơ sở tình báo ngoại quốc nhưng vô tình gửi những tin tức có hại cho đất nước ra nước ngoài để kẻ địch có thể lợi dụng cũng bị coi là gián điệp.

Hình phạt: Khung án phạt tội gián điệp từ tối thiểu tù 12 năm đến tối đa là tử hình.

Những tên gián điệp đầu xỏ bị tử hình.

Những tên tay sai nguy hiểm cũng bị tử hình.

Và đây là khung án trừng phạt tội tuyên truyền phản cách mạng:

— Tù tối thiểu 2 năm đến tối đa 12 năm.

Đang tù tối thiểu 12 năm được chuyển sang tù tối đa 12 năm, tôi – nói theo ngôn từ Duyên Anh – sướng rên mé đìu hiu. Không còn sợ hãi nữa – lúc đó tôi đã ở tù được 4 năm – tôi ung dung ra tòa. Gặp em gái tôi ở tòa, tôi nói:

— Đừng sợ. Cùng lắm nó xử anh 8 năm.

Và nó xử tôi 8 năm thật. Ra tòa trở về, chúng tôi xách túi hành lý, chiếu, rời Khu ED sang Khu FG. Tại phòng 20 Khu FG tôi gặp lại, và ăn chung, nằm gần các thầy Hạ, Cương, Dũng. Các thầy kháng án, nhưng lên cái gọi là tòa trên nó cũng cho các thầy y án. Ba thầy ba chữ Y to tổ bố: 8 năm là 8 năm, không giảm cho ông nào được một ngày. Rồi các thầy rời Chí Hòa để lên Trại Cải Tạo Đồng Hòa.

Chừng vài tháng sau, khi anh Sĩ và tôi còn nằm ở Phòng 20 Khu FG chờ lên tòa trên, nhóm Già Lam ra tòa. Hai thầy Trí Siêu, Tuệ Sĩ bị Việt Cộng phang án tử hình. 45 ngày sau nhóm Già Lam được đưa ra xử ở cái gọi là Tòa trên. Án tử hình của hai thầy Trí Siêu, Tuệ Sĩ giảm xuống án 20 năm – phá lệ, thay vì tử hình chỉ có thể giảm xuống tù chung thân – toàn bộ nhóm Già Lam, có cả Thượng Tọa Đức Nhuận – Thượng Tọa lãnh án 10 năm – vào nằm phòng 20 Khu FG. Ni cô Trí Hải ra tòa, bị xử tù 4 năm, tính từ ngày bị bắt cô đã ở tù 4 năm, nên cô trở về chùa ngay. Phòng tù Chí Hòa chỉ có thể nhốt khoảng 30 mạng. Trong thời gian chúng tôi ở đó phòng 20 nhốt đến 80 người. Rồi nhóm Già Lam đi khỏi Chí Hòa, lên Trại Cải Tạo Z 30 A, Xuân Lộc, Đồng Nai.

Khi anh Sĩ và tôi còn nằm chờ lên Tòa Trên ở Phòng 20, chúng tôi được tin ba thầy Hồ Hiếu Hạ, Nguyễn Hữu Cương, Lê Thiện Dũng được đưa từ Trại Cải Tạo Đồng Hòa về Khu ED Chí Hòa làm giấy tờ xuất ngoại sang Hoa Kỳ cùng với gia đình. Đây là chuyện chưa bao giờ xẩy ra: Bộ Luật Hình Sự của Việt Cộng có khoản: “Những tội phạm đang thi hành án không được xuất ngoại.”

Nhưng Việt Cộng chuyên săng phú luật, kể cả luật của chúng, chúng đã để các mục sư đi khỏi nước dù án các ông còn ba năm nữa mới hết. Rồi anh Sĩ và tôi ra tòa, tôi được giảm án từ 8 năm xuống 6 năm. Một sáng đầu xuân 1989 chúng tôi lên xe rời Thánh Thất Chí Hòa, lên Trại Cải Tạo Z 30 A. Tại đây chúng tôi gặp lại Thượng Tọa Đức Nhuận, các thầy Già Lam Trí Siêu, Tuệ Sĩ, Tâm Lạc, v.v…

Rồi những ngày, những tháng trôi qua… Đầu năm 1990 tôi mãn án, tôi trở về mái nhà xưa trong Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ lần thứ hai. Tháng 11 năm 1994 bánh xe lãng tử muộn màng và khập khễnh – nhưng vẫn là bánh xe lãng tử – đưa Alice và tôi sang Hoa Kỳ. Chúng tôi đến sống ở Virginia, Đất Tình Nhân, nơi có mùa thu lá vàng tuyệt đẹp. Tháng 12 cùng năm 1994 bạn tôi Hồng Dương, và một số bạn tôi ở Quận Cam – Ngọc Hoài Phương, Lâm Tường Dũ, Hĩm Đinh Hiển, v.v… – tổ chức cho vợ chồng tôi sang thăm Thủ Đô Tị Nạn.

Tôi gặp lại các Mục Sư Hồ Hiếu Hạ, Nguyễn Hữu Cương, Lê Thiện Dũng ở Quận Cam. Thầy Dũng nay đã là mục sư. Cuộc đời thật ly kỳ. Ngày nào ngồi ăn với nhau, nằm bên nhau trong nhà tù ở quê hương, quanh quẩn ở trần, mặc sà-lỏn, chia nhau từng cục đường, có bao giờ chúng tôi nghĩ đến chuyện có ngày chúng tôi gặp nhau trên đất Mỹ.

Sang Hoa Kỳ đã được gần 5 năm, tôi đã viết khá nhiều về những ngày tù tội của tôi, tôi vẫn để dành chuyện tôi xin Thiên Chúa hoãn ngày xử án cho tôi và tôi được Thiên Chúa ban ân, để viết chia xẻ với những Kỳ-tô hữu, và riêng để gửi Mục Sư Hồ Hiếu Hạ, mục sư của tôi – Tôi tuyên xưng đức tin của tôi với ông trong Nhà Tù Chí Hòa – Ngày tháng qua nhanh, mải miết với những bài viết thường ngày, những việc làm thường ngày, tôi dần quên lãng…

Đêm qua trong giấc ngủ tôi mơ thấy tôi ra tòa án Việt Cộng ở thành Hồ. Hôm nay Ngày Thứ Sáu Lễ Phục Sinh – Ngày Chúa Giê Su chịu nạn trên thập tự giá. Tôi khởi viết bài này lúc 9 giờ sáng, bây giờ là 4 giờ. Tôi gửi bài viết này đến Mục Sư Hồ Hiếu Hạ, ở Cali.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: