• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Anh Muốn Được Cùng Em Vui Sống…

Anh muốn được cùng Em vui sống
Trên núi cao trong chiều mơ hồ…

Tội nghiệp tôi, mà cũng oan uổng cho tôi! Sáu mươi năm xưa. Vâng, sáu mươi năm xưa, khi tôi mới là chú thiếu nhi – nửa nhi đồng, nửa thiếu niên, 12, 13 tuổi – tôi sống yên lành ở thị xã Hà Đông bên hông Hà Nội, những năm tôi mới mười hai, mười ba tuổi ấy khỏi cần nói quí vị cũng biết tôi còn nguyên trinh, dzậy mà những ông cậu tôi, những ông chú tôi, những ông anh tôi đã rót vào tai tôi những câu ca lãng mạn xanh rờn, không phải xanh rờn một cây mà là xanh rờn năm bẩy cây, như những câu hát xanh rờn này:

Anh muốn được cùng Em vui sống
Trên núi cao trong chiều mơ hồ…

Đi chớ để là hình với bóng
Cùng vết thương ai để trong lòng..

Mèn ơi..! Lâu quá dzồi. Những ngày như lá, tháng như mây.. Thấp thoáng dzậy mà đã 60 mùa thu lá bay. Tôi chỉ còn nhớ có 2 câu đầu trong bài tình ca tôi nghe 60 năm xưa, năm tôi còn trinh tiết. Bản nhạc Tăng-gô ngoại quốc, không biết ai làm tiếng Việt, gọi là bản Tăng-gô Si-noa – Tango Chinoise, lại có tên tiếng Nhật là Sino Yourù. Tiếng Việt là Đêm Trung Hoa. Chắc bây giờ, năm 2005, trên cõi đời này, trong nước Việt Nam đau khổ tạm bị bọn cộng sản chiếm quyền cũng như ở những nước người ta hải ngoại thương ca có người Việt Nam sinh sống, không còn một Khứa Lão Việt Nam nào nhớ lời ca tiếng Việt bản Tango Chinoise thường được hát ở những thành phố Bắc Kỳ 60, 70 năm xưa. Phải là những Khứa Lão cao tuổi hơn tôi, những Khứa Lão năm nay tuổi đời ít nhất là Tám Bó, mới là những người 60 năm trước biết lời ca mùi mẫn tuyệt vời:

Anh muốn được cùng Em vui sống
Trên núi cao trong chiều mơ hồ..

Những Khứa Lão VN năm nay tưổi đời Tám Bó nhiều ông không quên, các ông chỉ không còn nhớ nữa. Ai mà nhớ những lời ca tình ái sáu, bẩy mươi năm xưa. Người nhớ là tôi cũng chỉ nhớ được có hai câu đầu. Quí vị Lão Quân tải nào còn nhớ lời ca tiếng Việt bài Tango Chinoise ngày xưa làm ơn chép lại, gửi về tòa báo cho tôi, để chúng ta lưu truyền bài ca ấy cho hậu thế.

Rừng Phong Tháng Tám 2005, nắng nóng quá chời, tôi ngưng viết trong vài phút để thả hồn về dĩ vãng, về thành phố ngày xưa tôi mới lớn. Năm xưa khi tôi nghe lời ca:

Anh muốn được cùng Em vui sống
Trên núi cao trong chiều mơ hồ..

..tôi là chú học trò Cua Ê-lê-măng-te, Cours Élémentaire, cao lắm là Moay-ăng Oong, Moyen Un, chưa được là Moay-ăng Đơ, Moyen Deux, tất nhiên tôi chưa biết gì về cái gọi là “đời” cả, “con gái, đàn bà” tôi lại càng chưa biết, nói rõ hơn là tôi chưa biết đàn bà, con gái khác nhau ra làm sao, khác nhau như thế nào, khác nhau cái gì. Nhưng lời hát làm tôi mơ màng mai sau tôi lớn, nếu tôi được sống trên núi cao trong chiều mơ hồ với người con gái, hay người đàn bà tôi yêu chắc là tôi sẽ dzui sướng lắm.

Tôi muốn viết “tại vì” năm tôi mới là chú nhóc con óc tưởng tượng của tôi đã được nuôi dưỡng bằng những hình ảnh tình tứ mê ly hắt hủi nhưng không thể có thật như chuyện sống riêng với người yêu trên một đỉnh núi cao nào đó cho nên cuộc đời của tôi không khá được. Định viết như thế nhưng tôi lại ngại ngần: đổ lỗi cho ảnh hưởng bên ngoài là không đúng, có biết bao nhiêu chú nhi đồng bằng tuổi tôi 60 năm xưa sống ở thành phố Hà Đông, sống ở những thị trấn khác của xứ Bắc Kỳ như Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng..vv.. nghe lời ca:

Anh muốn được cùng Em vui sống
Trên núi cao trong chiều mơ hồ..

.. nhưng các chú khi thành nhân đều là những công dân gương mẫu, đàng hoàng, đâu có chú nào đời tư bê bối như tôi. Vậy thì đời tôi không khá được là tại tôi, tại trong tôi có sẵn những mảnh đất mầu mỡ cho những hạt nhân lãng mạn nẩy mầm, nở hoa tùm lum, tuy dzậy tôi cũng vẫn cứ phải kể là đời tôi không khá được một phần là vì khi chưa lớn, khi chưa mười sáu, mười bẩy tuổi, tai tôi đã nghe nhuyễn, tim tôi đã mềmnhẽo vì những lời ca thơ mộng cách gì như:

Anh muốn được cùng Em vui sống
Trên núi cao trong chiều mơ hồ…

Sáu mươi năm xưa khi tôi sống trong thị xã Hà Đông có giòng Nhuệ Giang chẩy qua, tôi không théc méc gì, tôi cũng chẳng thấy ai théc méc gì về cái tên Hà Đông của thị xã Hà Đông bên hông Hà Nội. Thăng Long Hà Nội là kinh đô, Thăng Long nằm trong lòng sông Nhĩ Hà nên có tên là Hà Nội: Trong Sông. Bắc Ninh, Bắc Giang ở phía Bắc của Hà Nội nên có tên là Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây ở phía Tây Hà Nội nên có tên là Sơn Tây, Nam Định, Hà Nam ở phía Nam của Hà Nội nên được gọi là Nam Định, Hà Nam. Hợp lý và dễ hiểu thôi, nhưng còn Hà Đông thì không ở phía Đông của Hà Nội, tại sao lại có tên là Hà Đông? Hải Dương, Hải Phòng ở phía Đông của Hà Nội, hai tỉnh ấy lẽ ra phải có tên là Hải Đông. Tại sao không gọi Hải Dương, Hải Phòng là Hải Đông mà lại gọi cái tỉnh không nằm ở phía Đông Hà Nội là Hà Đông?

Mời quí vị xem ảnh ngôi nhà một tầng lầu trên trang báo này. Đây là nhà tôi ở thị xã Hà Đông. Tôi đã sống những ngày thơ ấu của tôi trong căn nhà này. Một buổi sáng tháng Chạp năm 1946 tôi theo thầy mẹ tôi ra khỏi căn nhà này để không bao giờ trở lại.

Ảnh nhà xưa của gia đình tôi do con tôi chụp năm 2000 khi con tôi từ Sài Gòn thay tôi về thăm quê. Trong ký ức tôi tòa nhà xưa của gia đình tôi lớn và đẹp. Những năm 1940 cả khu này chỉ có nhà tôi là nhà có lầu, không có căn nhà ở bên phải nhà như trong ảnh. Chỗ ấy là khu vườn của nhà tôi. Bây giờ căn nhà có bốn, năm chủ chia nhau ở. Sau cửa sổ nơi để cái giá treo mấy cái mũ và là tiệm cắt tóc năm xưa là chỗ kê bàn học của anh em chúng tôi. Tôi từng đứng nhìn trời trên cái ban-công trên gác, tôi từng nằm trong căn phòng trên căn gác ấy đọc Trường Đời, Giông Tố, mơ làm Trọng Khang được em Khánh Ngọc văn minh, đi học bên Tây về yêu mê hơn điếu đổ, mơ và tưởng tượng cái ông Vũ Trọng Phụng trong tiểu thuyết Giông Tố tả là “âm mao” của Tuyết.

Nhà mới xây xong năm 1935. Ông thân tôi là thông phán, ông làm việc ở Dinh Tổng Đốc Hà Đông từ lúc ra làm việc cho đến ngày về hưu.

Tôi thấy câu thơ của ông Tú Xương:

Sao bằng đi học làm thầy Phán
Tối rượu sâm-banh, sáng sữa bò.

.. là không đúng hẳn, là chỉ đúng một nửa. Nhà những ông Thông Phán trước năm 1943 sáng sữa bò thì có: sữa đặc Nestlé ngày xưa từ bên Pháp mang sang, nhưng giá không đắt lắm, đục một hộp sữa, pha nước sôi ra bát, bố con sì sụp ăn sáng với bánh tây, không tốn bao nhiêu. Một hộp sữa ba, bốn bố con có thể ăn sáng được trong ba, bốn buổi sáng. Những năm trước năm 1945 ở Bắc Kỳ bánh mì gọi là bánh tây.

Những sáng sớm trời còn tối đen ở bến xe điện Hà Đông có tiếng rao:

– Cà phê..ô .. lê.. Bánh tây…
Café au lait.. Bánh tây.

Khách cà phê ô lê Bánh tây bến xe điện là những thầy thông, thầy ký ở Hà Đông đi tầu điện ra làm việc ở Hà Nội, sáng đi, tối về.

Mãi đến năm 1944 thị xã Hà Đông mới có lò bánh tây, do người Tầu làm. Trước đó mỗi sáng có người đi xe đạp mang bánh tây từ Hà Nội vào Hà Đông, ai muốn ăn bánh phải dặn trước người này. Nhưng còn chuyên nhà ông Phán “tối rượu sâm-banh” thì không có. Ông thân tôi răng đen, bận y phục ta áo dài, khăn xếp, hút thưốc lào, không uống rượu. Không bao giờ tôi thấy ông uống rượu, dù là rượu bia. Chắc cả đời ông thân tôi không uống một ly sâm-banh. Chắc những ông Thông Phán khác cũng như ông bố tôi, nói các ông “tối rượu sâm-banh” là không đúng.

Bổng lộc Thông Phán chắc là có nhưng cũng chắc không được bao nhiêu, ông thân tôi xây được cái nhà gác ấy đã là giỏi lắm. Ông không được sống trong tòa nhà ấy bao lâu, nhà làm xong năm 1935, năm 1946 chiến tranh đến, ông đưa vợ con về sống ở làng quê bên dòng sông Đuống, phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Tiêu thổ kháng chiến. Nhà bị phá. Sau 4 năm sống ở làng quê năm 1950 ông thân tôi đưa vợ con về Hà Nội. Cả gia đình 8 người sống trong một căn phòng 4×6 thước trong một nhà 6 gia đình cùng ở, nhà ở phố Đường Thành, Hà Nội, gần Chợ Hàng Da, đi vài bước là đến Rạp Xi-nê Olympia. Những năm 1950 đường Phạm Phú Thứ bên Chợ Hàng Da có Trường Trung Học Văn Lang, Trường Văn Lang những năm 1950, 1951 với những ông thầy của tôi: Thầy Nghiêm Toản, Ngô Duy Cầu, Bùi Hữu Đột, Bùi Hữu Sảng.. vv..vv..

Ông thân tôi không một lần về nhìn lại tòa nhà của ông ở Hà Đông, tôi cũng không về. Có một lần năm 1951, trước ngày tôi theo gia đình tôi vào Sài Gòn, tôi từ Bờ Hồ, Hà Nội lên tầu điện về Hà Đông, tôi đi đến gần Dinh Tổng Đốc, đã được nửa đường về đến nhà tôi thì không biết tại sao tôi quay lại bến xe điện, lên xe trở ra Hà Nội.

Khi tìm ảnh ngôi nhà xưa ở Hà Đông để đăng trong bài này tôi định viết về một chuyện xẩy ra ở tỉnh Hà Đông của tôi 60 năm xưa, nhưng khi phải viết về chuyện đó tôi thấy chán. Chỉ xin kể chuyện ấy ngắn gọn như vầy:

Ngày 19 Tháng Tám năm 1945 Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội, mãi đến bốn, năm ngày sau bọn Việt Minh ở Hà Đông mới phát động được cuộc biểu tình cướp chính quyền ở thị xã Hà Đông. Ở tất cả những thị trấn Bắc Kỳ những vụ cướp quyền, nhường quyền đều diễn ra bình yên, riêng ở thị xã Hà Đông là có súng nổ, có máu đổ, có người chết.

Máu đổ không ít, người Hà Đông chết oan, chết thảm thật nhiều. Năm ấy Hà Đông có một trại Lính Khố Xanh, Garde Indigène, quân số chừng một trung đội. Một trung đội khoảng 50 binh sĩ thôi, nhưng thời ấy một trại lính có 50 binh sĩ đã là lớn và quan trọng ra gì. Trung Đội Lính Khố Xanh Hà Đông do một hạ sĩ quan tên là Quản Dưỡng chỉ huy. Quản Dưỡng được đào tạo trong quân đội Pháp, rất quân nhân, rất hách, người cao, quắc thước, nặng phần trình diễn, mang kính trắng gọng thép, đi bốt da cao đến đầu gối, đi ngựa, bên hông đeo kiếm, bên hông đeo súng lục. Quản Dưỡng coi thường, coi khinh ra mặt bọn thanh niên lấc cấc Hà Đông, và bọn thanh niên Hà Đông cũng lánh mặt khi thấy Quản Dưỡng súng, gươm, cưỡi ngựa đi trong phố.

Nhưng trong số những anh thanh niên Hà Đông lộc ngộc ấy lại có nhiều anh theo Việt Minh, hăng tiết vịt, chạy tiền mua súng lục, định làm đại sự. Bọn Việt Minh tỉnh âm mưu làm một quả cướp chính quyền đẹp mắt, mấy anh tổ chức biểu tình rồi cho đoàn biểu tình vào trại lính, đòi Quản Dưỡng phải giao nộp trại, với tất cả súng đạn, cho “cách mạng”, tức là cho mấy ảnh.

Quản Dưỡng không chịu “giao nộp” căn cứ quân sự và súng đạn một cách lãng nhách và phi pháp như thế. Không “giao nộp” Quản Dưỡng làm đúng. Là người có bổn phận giữ an ninh cho nhân dân, Quản Dưỡng không thể nộp súng cho một bọn thanh niên lấc cấc tự xưng là “cách mạng”. Tên Việt Minh là Bí Thư Tỉnh Hà Đông năm ấy, năm 1945, đã hèn và ác độc – như tất cả những thằng đảng viên cộng sản – khi y cho bọn đàn em tổ chức biểu tình và xua dân đi biểu tình vào trại lính đòi Quản Dưỡng phải giao trại, giao súng. Dân đi biểu tình có biết ất giáp gì đâu. Họ bị xua vào chỗ chết. Trong khi đó thì tên gọi là Bí Thư Tỉnh Ủy “tổ chức, chỉ huy” cuộc biểu tình cướp quyền ấy bằng cách ở kín trong một ngôi nhà trong thị xã.

Khi đoàn biểu tình, hăng nhất là những người dân làng Vạn Phúc, làng nghe nói là làng dệt cái gọi là Lụa Hà Đông, kéo vào sân trại lính, Quản Dưỡng từ trong lô-cốt đi ra, một thanh niên “đại diên cách mạng” đòi Quản Dưỡng nộp súng, giao trại, Quản Dưỡng không chịu. Anh thanh niên VM rút súng bắn Quản Dưỡng. Súng của anh là súng do Xưởng Súng Sanh Tê-chiên của Pháp Quốc – St Etienne – chế tạo từ ngày ông Thống Chế Pê-te mới lấy vợ – Maréchal Pétain.. Nous voilà.. Devant Toi.. Le Sauveur de la France.., tức vào khoảng năm 1910. Súng sịt, đạn lép, tức súng bóp cò mà đạn không nổ. Quản Dưỡng rút súng của y ra nổ một phát, đạn trúng ngực anh thanh niên VM, anh này ngã ra chết ngay, anh là nạn nhân thứ nhất của Việt Minh ở Hà Đông. Quản Dưỡng quay vào trong lô-cốt, đóng cửa sắt lại, ra lệnh cho binh sĩ… bắn!

Quảng Dưỡng có tội ra lịnh bắn vào dân. Nếu Y chỉ cho lính bắn chỉ thiên vài phát thôi, đám dân ngu bị đẩy đi biểu tình đã quăng cờ, liệng biểu ngữ, tan hàng liền một khi, đã thi nhau chạy vắt giò lên cổ! Đạn súng mút-cơ-tông mousqueton nó nổ nghe ghê rợn lắm. Trên cõi đời này không có loại súng nào nổ lớn làm người ta điếng hồn, vỡ tim như súng mút-cơ-tông. Súng mút-cơ-tông nó nổ, đừng nói gì những Trường Chinh, Võ nguyên Giáp, đến Hồ chí Minh cũng chạy té đái ra quần.

Nhưng Quản Dưỡng đã ra lệnh cho binh lính bắn thẳng vào dân chúng. Tội nghiệp cho dân Hà Đông. Không thể biết bao nhiêu người bị bắn chết trong sân và quanh trại lính trong buổi chiều oan nghiệt đó. Tất nhiên là trong đám biểu tình hôm ấy có tôi, tôi và ông cậu tôi, hai cậu cháu suýt xoát tuổi nhau nên thân nhau hơn hai anh em. Lúc ấy cậu cháu tôi đang ở đầu đám biểu tình, khi bọn Việt Minh cho đoàn biểu tình quay lại để đi vào trại lính, cậu cháu tôi đang ở đầu hóa thành ở đưôi đoàn biểu tình. Cậu tôi bảo tôi: “Vào trại lính xem súng..” Thế là cậu cháu tôi chạy đến trại lính Cứ làm như đến muộn người ta xem hết mất. Tôi vừa chạy đến trước cánh cổng sắt của trại thì súng nổ. Tá hỏa tam tinh, không còn biết gì nữa, tôi sà vào nấp dưới chân cái cột cổng trại. Một anh con trai trạc tuổi tôi bị bắn trúng đùi, sà vào nằm trên lưng tôi, lưng áo tôi đẫm máu của anh. Cũng thật tội nghiệp cho cậu cháu tôi: trại lính Khố Xanh còn có thứ súng gì khác ngoài mấy khẩu mút-cơ-toong mà chúng tôi náo nức bảo nhau chạy đến để “xem súng”.

Tất cả những người bị thương đều không được cứu chữa, họ nằm đó chờ chết, nhiều người không đáng chết đã phải chết. Đêm ấy thị xã Hà Đông chìm trong tang tóc. Hôm sau có tin Quản Dưỡng đã trốn đi trong đêm. Nghe nói Y bị bắt ở làng quê của Y trong tỉnh Sơn Tây. Khoảng tháng Tám, tháng Chín năm 1946 tôi đứng bên đường xem cảnh Quản Dưỡng bị đưa từ Nhà Pha ra tòa. Y bị bịt mắt, còng tay, dắt đi bộ. Tôi không được vào tòa xem xử. Nghe nói Quản Dưỡng bị tử hình.

Rồi những ngày như lá, những tháng như mây theo nhau qua… Giòng thời gian dài một ánh bay… Những ngày, những tháng những năm 1981, 1982 nặng nề, u ám khủng khiếp tôi sống dở, tôi chết dở ở Sài Gòn, một hôm tôi tìm thấy trên một trang báo của bọn Bắc Cộng một bài viết về “thành tích hơạt động cách mạng” của tên Tổng Bí Đái Đỗ Mười, trong bài có câu:

— Năm 1945 Đồng chí Tổng Bí Đái là Bí Thư Tỉnh Ủy Hà Đông!

Trên cõi đời này chắc chỉ có một mình tôi là người chú ý đến việc “Năm 1945 tên đảng viên Cộng sản Đỗ Mười là Bí Thư Tỉnh Ủy Hà Đông!” Một ngày u ám năm 1981, hay 1982, khi biết tên Đỗ Mười là Bí Thư Tỉnh Ủy Hà Đông năm 1945, tôi lặng người đi, Tôi nhớ lại giây phút kinh hoàng năm xưa khi quanh tôi vang vang tiếng súng nổ, mùi thuốc súng khét lẹt, khi quanh tôi người ta nằm rên la, khi tôi nhắm mắt chạy về nhà tôi. Tôi nghĩ:

— Thằng này… Thằng khốn nạn này.. Thằng đảng viên cộng sản khốn kiếp này làm chết không biết bao nhiêu người Hà Đông trong Tháng Tám năm 1945…

Tháng Tám năm 1945 tên Bí Thư Tỉnh Ủy Hà Đông Đỗ Mười, một thằng ngu ngốc nhưng lại muốn chơi trội, muốn làm một cú cướp chính quyền ngoạn mục, vang động, dấu mặt chó của nó trong một căn nhà nào đó trong tỉnh Hà Đông, phóng tay phát động cuộc biểu tình, ra lệnh cho bọn đàn em đưa dân vào trại lính đòi Quản Dưỡng giao trại, nộp súng. Khi súng nổ, thằng khốn nạn đái ra quần, một hòn dái thót lên cổ họng, một hòn dái văng đi đâu mất, quíu đít làm cuộc Bí Thư Tỉnh Ủy Chồn Lùi chạy ra khỏi thị xã. Léng phéng ở lại Quản Dưỡng nó vớ được thì nó cắt dế. Nhưng thực ra Tháng Tám năm 1945 có mấy người Việt Nam biết bọn cộng sản có những tên gọi là Bí Thư Tỉnh Ủy, và bọn gọi là Bí Thư Tỉnh Ủy ấy có quyền giết người Việt Nam, người không biết chuyện ma tịt, ma bùn đó nhất là Quản Dưỡng.

Tháng Tám năm 2005 ở quê người, tôi nhớ Tháng Tám năm 1945 khi tôi còn trinh, tôi tìm bức ảnh ngôi nhà cũ của thầy tôi để đăng trong bài tôi viết kể tội tên đảng viên cộng sản Đỗ Mười, nhưng như đã nói tôi định viết dài về chuyện ấy nhưng khi phải viết tôi chán quá, tôi chỉ viết sơ sơ như trên đây.

Mới đây có tin bọn Bắc Cộng cho phép bọn đảng viên được quyền làm ăn cá thể, tức riêng lẻ, làm được bao nhiêu hưởng từng ấy, dư luận Việt Kiều hải ngoại lao nhao “bọn Bắc Cộng không còn là cộng sản nữa..” Có gì lạ đâu. Bọn Bắc Cộng chuyên môn đi theo đuôi bọn Tầu Cộng. Có lần tôi thấy trong một phim video tư nhân anh Nguyễn cao Cầy dài mồm ra nói:

— Việt Nam bây giờ có còn cộng sản nữa đâu. Sao lại cứ nói là chống cộng sản…

Bố con khỉ ghẻ, mẹ con khỉ gió, chị con bú-dzù ! . Ai không biết như thế. Con nít Việt Nam lên ba cũng biết bọn cộng sản Việt Nam đã không còn theo chủ nghĩa cộng sản nữa, bọn cộng sản Việt Nam từ mấy năm nay đã thành bọn Cộng Chồn Lùi. Chúng không còn là đảng viên cộng sản nhưng chúng vẫn giữ những đặc tính của bọn cộng sản. Những đặc tính ấy là: Ngu, ác, tham, bẩn và đểu.

Nên người ta vẫn cứ gọi chúng là bọn cộng sản, nên người ta, nhất là người Việt, vẫn cứ chống Cộng, vẫn cứ đòi đuổi bọn cộng sản ra khỏi chính quyền. Em nhỏ lên ba, cả những thai nhi nằm trong bụng mẹ, cũng biết phải đưổi bọn cộng sản ra khỏi chính quyền đời sống của nhân dân Việt Nam mới khá được. Đuổi bọn cộng sản Việt ra khỏi chính quyền như những người Nga, Tiệp, Lỗ, Hung, Ba lan, Đức…. đã đuổi những tên cộng sản ở nước họ ra khỏi chính quyền.

Những gì đã xẩy ra ở những nước bị bọn cộng sản tiếm quyền sẽ xẩy ra ở Việt Nam! Chuyện ấy chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch. Để làm cho chuyện đó xẩy ra nhanh hơn, nhân dân Việt Nam cứ gọi bọn đảng viên cộng sản Bắc Cộng Chồn Lui là cộng sản, vẫn chống chúng, vẫn lên án chúng, vẫn kết tội chúng, nhân dân Việt Nam vẫn cứ làm những việc ấy cho đến ngày họ lôi cổ từng thằng cộng sản Việt Chồn Lui ra trước chợ, họ nhổ vào mặt từng thằng, họ đánh cho mỗi thằng năm bẩy cái bạt tai, họ đá đít chúng, họ đuổi chúng đi…

Em ơi, anh xin phép quí liệt vị độc giả của anh để nói riêng với Em đôi lời: Anh có còn bao nhiêu ngày sống nữa đâu trên cõi đời này..! Tại sao anh cứ mất thì giờ vàng ngọc của chúng ta vì chuyện bọn Cộng Chồn Lùi khốn kiếp? Tại sao anh không nói với em về những mơ ước ngày xưa của anh? Ngày xưa anh đã từng mơ:

Anh muốn được cùng Em vui sống
Trên núi cao trong chiều mơ hồ..

Tại sao anh không viết về những chuyện TÌNH YÊU, TÌNH YÊU viết HOA cả 7 chữ, HOA luôn dấu HUYỀN, dấu MŨ?? Anh đến PARIS Tháng 10 năm 2004, trở về Mỹ anh tính anh sẽ viết loạt bài PARIS CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM? Không những chỉ Viết Suông mà là Viết Thật Hay, Viết Thật Trữ Tình. Vậy mà đã 10 tháng anh cứ lần khân không viết. Hôm nay anh mượn chuyện một người Việt viết về cuộc sống, cuộc tình của một người Việt ở Paris để kể em nghe. Em ơi…Tay anh em hãy dựa đầu..Anh đọc truyện Paris ngày xưa em nghe nhé…

Mấy chàng trai thế hệ trước. Người viết Dương Thiệu Thanh, tác phẩm xuất bản ở Sài Gòn Tháng 5, 1969. Chương viết về Đặng Phục Thông.

Có chân trong ban biên tập báo Cri de Hanoi. Đỗ Concours Général khi học Lycée A. Sarraut, đỗ kỹ sư Mỏ tại Paris, đã làm kỹ sư trưởng nhà máy xe lửa Bến Thủy, Hà Nội.

Bạn hữu Việt, Pháp đều công nhận Thông là một thiên tài, kể cả các giáo sư tại A. Sarraut, tại Trường Hầm Mỏ ở Paris.

Thông dáng người tầm thước, mắt sáng như sao, ăn nói vui vẻ, sâu sắc chứ không phải hoạt bát kiểu lém lỉnh. Thông quá trong sạch và thẳng thắn.

Xin kể một chuyện về những ngày Thông ở Paris: Anh ở cùng một nhà với một bạn Việt Nam làm nghề sơn mài. Anh thợ sơn trẻ, hiền lành, kiếm nhiều tiền, hào hiệp. Nghề sơn đen, sơn cháp lúc đó thịnh hành lắm, đồng hồ vàng, bật lửa bạc, cả nhẫn kim cương cũng được gửi đến anh để sơn đen một mặt hay một phần, tùy theo con mắt mỹ thuật của anh. Như vậy anh không phải là thợ mà là một nghệ sĩ sơn mài có tên tuổi. Bạn nghệ sĩ sơn mài có vị hôn thê người Pháp làm cô giáo tiểu học trường làng, nay nàng lên Paris làm viên chức Nhà Bưu Điện. Hai người đang trong thời kỳ chuẩn bị làm lễ cưới. Mỗi tuần họ gửi cho nhau một lá thư dài, hẹn gặp nhau vào mỗi chủ nhật. Các cô giáo Pháp có bằng tú tài mà học thêm sau khi rời lycée nhiều cô rất giỏi Pháp văn, đôi khi giỏi hơn người ngoại quốc có cử nhân văn khoa Pháp. Như cô Francoise Sagan ngày nay, ai giỏi Pháp văn hơn cô dù cô chỉ có một chứng chỉ dự bị văn khoa.

Cô giáo nay là viên chức Bưu Điện viết thư dài cả 10 trang. Anh bạn nghệ sĩ sơn mài ở nước nhà không học tiếng Pháp, sang Paris anh nói tiếng Pháp khá giỏi, đặc giọng Tây nhưng anh không đủ Pháp văn để viết thư tình, anh nhờ anh Thông viết thư dùm. Việc viết thư dùm diễn ra hàng tuần trong gần một năm, thư của cô đầm và nhà nghệ sĩ sơn mài người Việt chồng chất dầy như hai cuốn sách.

Sau đó, anh Thông về nước. Đôi người kia kết hôn với nhau. Tôi, kẻ viết chuyện này, được mời đến làm chứng cuộc hôn nhân.
Nhiều tháng sau, một hôm hai vợ chồng mời tôi đến nhà ăn cơm. Trong lúc nói chuyện, chị vợ hỏi riêng tôi: ” Anh cho tôi biết ai là người viết thư dùm chồng tôi? Tôi biết chồng tôi không thể viết được những thư như thế, người viết phải là người có học và có tài không kém gì những văn sĩ tên tuổi hiện đại của văn giới Pháp.”

Chị hỏi tôi mà tôi không thể trả lời được. Tôi biết người viết thư là anh Đặng Phục Thông nhưng làm sao tôi có thể nói không phải tôi viết và nói người viết là anh Thông? Lỡ ông bạn không bằng lòng thì sao? Tôi đành im lặng rồi nghiêm chỉnh nói: “Khi người ta yêu, người ta trở thành nhút nhát, hay là người ta trở thành lãng mạn, người Việt Nam nói ít tiếng Pháp nhưng nhiều người viết văn Pháp rất hay. Đó có thể là trường hợp của anh chồng chị”.

Câu chuyện trao đổi giữa chị vợ anh bạn và tôi chỉ có thế thôi, nhưng không biết tại sao chị yên trí tôi là người viết thư tình dùm cho anh chồng chị, tôi không nhận mà cũng không dám nói ra người viết thư là anh Đặng Phục Thông.

Rồi chị giới thiệu tôi với cô em chị, với tất cả bà con của chị, đa số là người tỉnh lẻ lên Paris chơi vài ngày, rằng tôi là một tiểu thuyết gia có tài tên tuổi sẽ sáng chói trên văn đàn. Lúc đó tôi thấy tôi là nạn nhân của thiên tài Đặng Phục Thông. Tôi lười học, ham chơi mà phải đóng vai học giả bất đắc dĩ. Mệt quá!

Thời du học Paris của tác giả Dương Thiệu Thanh chắc vào những năm 1930, cuộc tình ông kể chắc là xẩy ra ở Paris vào những năm 1930. Chuyện làm tôi xúc động vì…

Một tối năm 1951, hay 1952 trên màn ảnh một rạp xi-nê ở Sài Gòn tôi xem phim Cyrano de Bergerac. Phim đen trắng Hollywood làm theo Kịch CYRANO DE BERGERAC nổi tiếng của Nhà Viết Kịch người Pháp EDMOND ROSTAND. Phim do nam diễn viên José Ferrer trong vai Cyrano, tôi không nhớ tên cô đào Mỹ thủ vai người đẹp Roxane trong Phim.

Chuyện xẩy ra vào những thế kỷ 17, 18 ở một nước Âu châu. Cyrano de Bergerac là một hiệp sĩ quí tộc, đánh kiếm siêu quần, hào hoa, lãng mạn, chàng có cái mũi dài quá khổ nên có mặc cảm bị người chế nhạo vì cái mũi của chàng. Ai nói tiếng “mũi” trước mặt chàng là bị chàng hành cho khổ sở. Chàng yêu Roxane, cô em họ của chàng nhưng chàng chưa dám tỏ tình, Roxane yêu Christian, một chàng quí tộc đẹp trai cùng ở trong đơn vị Ngự Lâm Quân với Cyrano. Cyrano nôn nao chờ đón khi Roxane đến Paris, nàng đến và nàng nói với chàng nàng yêu Christian, Christian sắp đến Paris và sẽ ở trong đoàn Ngự Lâm Quân cùng với chàng, nàng xin chàng bảo vệ Christian. Đau khổ nhưng Cyrano nhận lời. Chàng và Christian trở thành đôi bạn thân. Christian đẹp trai nhưng ăn nói rất dở, nhất là về thơ văn và thư tình thì Christian mù tịt. Đi trấn thủ lưu đồn xa Paris Cyrano viết thư cho Roxane thay cho Christian. Chàng đưa hết tình yêu Roxane của chàng vào trong lời thư. Và Roxane mê mẩn vì những lời thư tình ấy.

Christian tử trận… Roxane vào Tu Viện… Những ngày như lá, tháng như mây… Có thể là mười, mười một năm sau, một chiều theo đúng hẹn, chàng Hiệp sĩ đi đến Tu Viện gặp nàng Nữ Tu. Nàng thành Nữ Tu, chàng vẫn độc thân và rất đúng kỳ hẹn, chàng đến Tu Viện thăm nàng. Chiều ấy chàng bị bọn kẻ thù chặn đánh trên đường đi. Chàng đánh thắng bọn chúng nhưng chàng cũng bị thương, chàng mang mấy vết kiếm trong người đi đến Tu Viện gặp nàng.

Tôi xem phim Cyrano de Bergerac trước khi tôi đọc kịch Cyrano de Bergerac, José Ferrer diễn xuất tuyệt vời trong vai chàng Hiệp sĩ có cái mũi dài quá khổ.

Ôi.. Nhớ lại cảnh trong phim xi-nê năm mươi năm xưa mà lòng cảm khái cách gì..! Cảnh vườn cây Tu Viện buổi chiều, có vẻ trời cuối thu, đôi chiếc lá rơi.. Nàng nữ tu y phục sẫm mầu, đội khăn trắng, ngồi thêu trước giá thêu trong vườn, đây đó vài nữ tu qua lại trong yên lặng.

Hiệp sĩ đến. Chàng cố dấu vẻ mệt và đau, một cái ghế được để sẵn cho chàng ngồi bên nàng. Chiều nay chàng đến hơi muộn. Vì lần nào chàng cũng đến đúng giờ nên chiều nay việc chàng đến muộn là một sự lạ, sự lạ ấy làm cho các bà nữ tu khác cũng để ý thấy. Một bà đi qua chỗ chàng ngồi, dừng lại hỏi:

— Ông hiệp sĩ chiều nay hình như đến muộn? Có chuyện gì trên đường đi không ông?

Chàng gượng mỉm cười:

— Thưa bà tại tôi gặp vài người bạn…

Rồi nàng và chàng nói chuyện với nhau. Nàng vừa nói chuyện vừa thêu, chàng sung sướng tận hưởng những giây phút chàng được ở bên nàng, được nghe tiếng nàng nói. Họ nói với nhau về những cánh lá đang rơi quanh họ rồi như những lần trước, họ nói với nhau về Christian, người đã khuất. Nàng nói về những bức thư tình nàng nhận được năm xưa..Những tình thư với những lời yêu mến cực kỳ..

Chiều đi vào tối..Bóng tối cùng sương trắng dâng lên trong vườn…Nàng Nữ tu đọc những lời Thơ Yêu Thương nàng thuộc lòng..Chàng hiệp sĩ yếu dần ngồi như nằm lả trên chiếc ghế bên nàng. Đôi mắt nhắm lại, chàng thả hồn chàng bay theo những tiếng Thơ Yêu Xưa.

Nàng đọc Thơ.. Rồi xúc động nàng ngừng lại, chàng đọc tiếp những lời Thơ Yêu Đương.. Nàng nghe, nàng ngạc nhiên, nàng nhìn chàng. Tại sao chàng biết những lời Thơ ấy..? Câu hỏi vang lên từ trái tim nàng:

– Cyrano! Anh ư? Từ lâu em vẫn nghĩ anh là người viết cho em những lời thơ tình ấy…

Chiếc lá rơi trên ngực chàng hiệp sĩ. Chàng thở hơi cuối cùng khi nàng Nữ Tu nói:

– Anh ơi..! Em biết anh yêu em!

Kịch Cyrano de Bergerac không đúng như chuyện tôi vừa kể, truyện phim Cyrano de Bergerac – phim mang tên khác, tôi không nhớ tên phim, chỉ nhớ José Ferrer trong vai Cyrano – cũng không kết thúc như chuyện tôi vừa kể. Nhưng nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ ấy. Sự kiện làm tôi xúc động là chuyện người đàn ông đa tình có thể yêu một người đàn bà suốt đời mà không cần người đàn bà ấy yêu lại, không cần người đàn bà ấy biết mình yêu nàng.

Câu chuyện ông Dương Thiệu Thanh kể ngày xưa ở Paris ông Đặng Phục Thông viết thư tình cho người bạn làm tôi nhớ Kịch và Phim Cyrano de Bergerac.

Em yêu,

Anh lại xin phép liệt vị nữ độc giả thơm như múi mít của anh để nói riêng với em..

Ta trở lại chuyện ngày xưa mới lớn, anh mơ:

Anh muốn được cùng Em vui sống
Trên núi cao trong chiều mơ hồ..

Anh bắt đầu viết bài này lúc 9 giờ sáng hôm nay, bây giờ là 3 giờ chiều cùng ngày. Trong bài anh có đoạn anh viết chuyện anh mơ anh được sống với em trên núi cao là chuyện không tưởng, chuyện không thể là sự thật..

Có thể là như thế, nhưng đây là chuyện anh ước, chuyện anh mơ… Tại anh không thể sống với em trên một đỉnh non nào đó, xa cách loài người, như Thần Điêu Đại Hiệp Dương Qua sống với Tiểu Long Nữ trong Tình Hoa Cốc, như Giáo Chủ Minh Giáo Trương Vô Kỵ sống với Tiểu Siêu trong hầm đá Quang Minh Đỉnh, chứ không phải anh không nên sống riêng với em trên đỉnh non cao..

Kiếp này ước mộng không thành, thì kiếp sau Em nhé, người ta yêu nhau mà người ta không sống với nhau được trong những mùa thu lá bay, người ta hẹn nhau kiếp sau ăn gà xé phay, ta hẹn nhau kiếp sau ta sẽ:

Anh sẽ được cùng Em vui sống
Trên núi cao trong chiều mơ hồ..!

Em ơi.. Đến đây tạm chấm dứt Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: