• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Chuyện Bể Dâu

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương…

Năm năm cứ đến Ngày 30 Tháng Tư tôi lại thấy sầu buồn, những đau thương xưa cũ trở lại với tôi, làm hồn tôi u ám, tim tôi nặng trĩu. Đã 29 Ngày 30 Tháng Tư đến trong đời tôi kể từ Ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Tôi thường nghe nói đau thương nào cũng phai nhạt đi theo thời gian, nhưng những đau thương Ngày 30 Tháng Tư 1975 thì cho đến năm nay, 29 năm đã qua, vẫn cứ làm tôi đau thương mãi.

Từ ngày bánh xe lãng tử sang Mỹ – đã 9 năm – năm nào cũng vậy, cứ đến những ngày gần Tết Nguyên Đán tôi có hạnh phúc viết những bài Xuân, và cứ đến Tháng Tư tôi sầu buồn khi viết những bài về Ngày 30 Tháng Tư 1975. Tháng Tư năm nay, tôi thấy tôi buồn thương hơn những Tháng Tư năm trước.

Trong những bài viết của tôi về Ngày 30 Tháng Tư 1975 tôi đều có lời ước mong năm sau, khi Tháng Tư đến, tôi sẽ không phải viết về Ngày 30 Tháng Tư năm 1975 nữa.. Tôi mong Tháng Tư sang năm, tôi sẽ được viết những chuyện tươi sáng hơn, ấm lòng hơn..

Nhưng như lời thơ trong bài Thơ Xuân Đất Khách của Thi sĩ Thanh Nam, làm ở thành phố Seattle năm 1980:

Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư

Có thể tôi sẽ mang trong tim nỗi đau thương Ngày 30 Tháng Tư năm 1975 suốt đời tôi.

Tháng Tư năm nay, như mọi năm trước, tôi viết về Ngày 30 Tháng Tư 1975, tôi đọc những bài người khác viết về Ngày 30 Tháng Tu 1975. Tôi trích ở đây một đoạn trong Hồi ký “Sài Gòn Ngày Dài Nhất” của nhà văn Duyên Anh. “Sài Gòn Ngày dài nhất” được Duyên Anh viết năm 1987, Nhà Xuân Thu, Hoa Kỳ, xuất bản năm 1988. Năm ấy, những cảm nghĩ còn sống mạnh trong Duyên Anh, những hình ảnh Ngày 30 Tháng Tư 1975 còn linh động với những tiếng khóc, tiếng kêu trong tim nhà văn, như những vết thương còn rướm máu.

SÀI GÒN Ngày Dài Nhất. Duyên Anh. Xuân Thu xuất bản năm 1988. Trích:

.. Lúc ấy đã 7 giờ, đường phố không còn hoang vắng như cách đây một tiếng đồng hồ. Xe cộ xuôi ngược, bớt cảnh nườm nượp hàng ngày. Đèn lưu thông chớp nháy tự động ở các ngã tư. Lẹânh giới nghiêm của Dương văn Minh vô hiệu quả. Luật pháp quốc gia đã bị coi thường. Người ta có thể tự do thanh toán nhau vì thù hận riêng tư hôm nay. Người ta có thể cướp bóc, hãm hiếp hôm nay. Cảnh sát vắng bóng. Quân cảnh vắng bóng. Nhưng cao quý thay là ngày Sàigòn thả nổi, ngày Sàigòn có chính phủ mà như vô chính phủ, tất cả bình yên nhờ “chân lý mất gì không mất tình người Việt Nam”. Tôi muốn vinh tôn dân tộc tôi bằng vàng son chói lọi. Tôi muốn vinh tôn Sàigòn bằng gấm vóc kiêu sa. Thành phố thân yêu của tôi có trái tim của mấy triệu trái tim. Thành phố ấy không hề khích lệ, đốc xúi trả thù, tuyết hận trong cơ hội tha hồ trả thù, tuyết hận và tha hồ nhân danh đủ thứ chính nghĩa. Sàigòn, thành phố nhân bản, thành phố biểu tượng của tình nghĩa Việt Nam, của tình người Việt Nam…(…)

Chiến dịch Hôi Đồ đồng khởi ngoạn mục. Các trụ sở của cơ quan thiện nguyện Mỹ, của Hội Cha Mẹ Nuôi Quốc Tế, của các nhà cho Mỹ mướn, nhà của những gia đình đã di tản không còn ai trông giữ bị tấn công ào ạt. Người người, lớp lớp, dân Xóm Lách phóng lên đường Công Lý. Thọat đầu, nhân dân “giải phóng” sữa đặc, sữa bột, đồ hộp. Rồi mùng mền, ri-đô. Rồi tủ, giường, bàn ghế. Rồi máy lạnh, tủ lạnh, bếp ga. Rồi cửa sổ, cửa kính. Trẻ già, trai gái, bô lão, nhi đồng tham dự chiến dịch một cách quyết liệt. Rất may không xẩy ra giết nhau vì thù hận cá nhân. Tôi chứng kiến “nhân dân anh hùng” làm thịt gọn một chiếc buýt chuyên chở lính Mỹ. Chiến Dịch Hôi Đồ và sự lưu thông bất chấp đèn đường chiều 29-4 là dấu hiệu rõ nét nhất của sự sụp đổ miền Nam. Kể từ 16 giờ ngày 29-4-75 Sàigòn sống trong tình trạng vô chính phủ. Có một điều để tôi suy nghĩ, để tôi còn yêu mến dân Sàigòn và thành phố Sàigòn là dân nghèo Sàigòn chỉ hôi đồ của Mỹ và những vi-la cho Mỹ mướn bỏ trống. Ý thức đấu tranh giai cấp chưa thấm vào lương tri dân nghèo Sàigòn và không bao giờ thấm nổi. Tất cả những gia đình quyền quý, giầu sang đều bình yên. Ngay cả những gia đình tướng tá, bộ trưởng, cảnh sát hống hách cũng bình yên. Tinh thần dân tộc cao quý thể hiện rõ rệt ở Sàigòn chiều 29-4. Con người, nhất là con người nghèo khổ triền miên bị áp bức, bóc lột được quyền phẫn nộ lúc này, lúc mà luật pháp quốc gia rơi nằm dưới chân họ. Người ta tự do trả thù, đốt nhà, cướp của, hãm hiếp, sát nhân; tự do đối với những đối tượng thù nghịch. Nhưng không một ai thèm hưởng cái tự do đó. Người ta vẫn ăm ắp lương tri và nhân tính.

Và đây là bài viết của một người Mỹ tên là Alan Dawson, được dịch ra tiếng Việt, đăng trên nhật báo Người Việt, hai số báo ra ngày 8 Tháng 4, 2004 và 9 Tháng 4, 2004. Không thấy để tên tiếng Anh của nguyên bài, tên Việt trên báo của bài là “Trận đánh chớp nhoáng.. Chính Phủ Sài Gòn Đầu Hàng (55 Ngày Đêm Miền Nam Sụp Đổ). Trích vài đoạn trong bài:

Trận đánh chớp nhoáng. Alan Dawson. Trích:

Những người lính Nhẩy Dù và Biệt Động Quân chua xót và cay đắng vì bị thua trận, từ phía Bắc và phía Tây rút về. Họ đã tham gia trận đánh chót để bảo vệ Sài Gòn. Khi vào đến trung tâm thành phố, họ thấy tức giận mặc dù chẳng kinh ngạc chút nào. Họ sẵn sàng cướp bóc và trong nhiều lúc, họ sẵn sàng giết người ngoại quốc.

(…..)

Mike Mielle không tranh cãi với hai người lính khi hai người này quăng súng qua bức tường Bộ Ngoại Giao. Ông ta và vợ, cùng với đứa con gái nuôi của ông đứng yên lặng khi mấy người lính trút bỏ hết quần áo lính và súng đạn. Tuy nhiên, những người lính này đi vào kho hàng phía sau Bộ Ngoại Giao, chỗ này có tích trữ một số gạo dành cho trường hợp khẩn cấp. Một anh thủy thủ Việt Nam xuất hiện bắn chết mấy người lính này bằng súng M16. Xong anh ta xin lỗi Mike vì việc đường đột đó, giải thích rằng anh ta không thể chấp nhận được việc cướp bóc. Xong, anh ta bỏ đi.

Đã buồn, tôi buồn hơn khi tôi đọc bài viết trên đây của Alan Dawson. Ngày hỗn loạn nhất của Sài Gòn trong Tháng Tư năm 1975 không phải là ngày 30 mà là ngày 29. Trong Ngày 29 Tháng Tư 1975 thê thảm ấy, Duyên Anh và tôi, hai chúng tôi không thấy, không nghe nói, trong thành phố thủ đô của chúng tôi có xẩy ra một vụ cướp của, giết người nào. Có thể có vài vụ cướp giật, nhưng đó chỉ là những vụ nhỏ nhặt ngày thường cũng có. Dân làm bậy đã không, lại càng không có chuyện lính cướp của. Lời kể của người Mỹ Alan Dawson không có lý ở điểm không có kho thực phẩm nào trong Bộ Ngoại Giao VNCH. Mà dù cho trong đó có kho thực phẩm đi nữa, những chiến sĩ VNCH trong ngày bại trận 30 Tháng Tư chỉ buông súng, bỏ quân phục, tìm đường về nhà mình, không người lính nào trong giờ phút ấy lại vào kho gạo bê ra bao gạo hay vài chai nước mắm, người lính VNCH không thiếu những thứ đó.

Chuyện làm tôi ấm lòng trong bao nhiêu chuyện làm tôi đau thương là sau cuộc trời long, đất ngả nghiêng, không phải chỉ trong thủ đô Sài Gòn yêu thương của tôi, thủ đô quí báu mà tôi đã không giữ được, mà trên toàn lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà không xẩy ra một vụ nhân dân nhân cơ hội làm những cuộc trả thù những nhân viên chính quyền. Không trả thù, không cả kể tội, chửi rủa, hạ nhục, phá nhà, đánh đập. Sống chung với nhau từ năm 1954, qua hai mươi năm, làm gì mà không có những xung đột, những hiềm khích giữa nhân viên chính quyền, giữa những quân nhân và nhân dân; tất nhiên là phải có những cục đá do những kẻ trong chính quyền ném vào đầu những người dân trong nước, nhưng tuyệt đối không có một vụ trả thù nào. Trong tai hoạ những người dân Quốc Gia VNCH thấy thương xót nhau, thấy tất cả sẽ cùng chịu khổ cực.

Time goes, you say? Oh no
Alas, Time stays, we go!
Thời gian qua, nàng ơi, không phải.
Chúng ta qua, thời gian ở lại!

Thơ của Thi sĩ Henri Austin Dobson.

Những người Việt ba mươi tuổi năm 1975, năm 2004 đã ngoài sáu mươi. Năm năm, Tháng Tư cứ trở lại, trong khi ấy những người Việt già lão cứ theo nhau ra đi. Sẽ đến một ngày trên cõi đời này không còn người Việt nào từng sống Ngày 30 Tháng Tư năm 1975 ở quê nhà.

Ta như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bờ
Vẫn nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa

…….

Một năm người có mười hai tháng
Ta suốt năm dài Một Tháng Tư..

Trong ngậm ngùi tôi xin đổi mấy tiếng trong Thơ Thanh Nam:

Khép mắt không quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bờ
Vẫn nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu nước xưa.

…..

Một năm người có mười hai tháng
Ta suốt đời ta Một Tháng Tư!

Và năm năm cứ đến Ngày 30 Tháng Tư, trong những bài viết của tôi, tôi thường kể bài thơ “Năm năm cứ đến..” Tháng Tư năm nay cũng vậy, đây là bài thơ:

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Thôi thế Em về yên Xóm Cỏ
Cây đời đã cỗi gốc yêu đương.
Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió
Cho đống xương tàn được nở hương!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: