• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Tâm Viên, Ý Mã

Tâm viên, ý mã…!

Tâm ta như con khỉ, ý ta như con ngựa. Con khỉ luôn nhẩy nhót, con ngựa chạy luôn chân. Ý nói những ý nghĩ của ta nhẩy lung tung như con khỉ, chạy loăng quăng như con ngựa, ta đang nghĩ chuyện này, thoắt ta nghĩ sang chuyện khác, những chuyện xa cách nhau về thời gian và không gian, những chuyện không liên can gì đến nhau, tâm ý ta không lúc nào ngừng chuyển động, tâm ý ta đổi khác trong mỗi sát-na!

Tôi để cho tôi tâm viên, ý mã khi tôi viết bài này, nhớ chuyện gì, nghĩ đến chuyện gì, tôi viết chuyện đó. Như:

* Sịt-tắc mày rao đã điếc tai
Tiền thì không có biết vay ai!
Hay mày bán chịu tao vài bát,
Có tiền tao trả một thành hai.

Chắc có ít người biết bài thơ trên: bài Thơ Sịt-tắc của Thi sĩ Tú Xương. Trên những trang sách viết về quyển Văn Đàn Bảo Giám tôi tìm thấy chuyện năm 1968 ở Sài Gòn, ông Hư Chu hiệu chính, tức biên soạn, sửa lại, bộ Văn Đàn Bảo Giám – do ông Trần Trung Viêm sưu tập, ấn hành lần thứ nhất năm 1926 ở Hà Nội – ông Hư Chu đã bỏ đi bài thơ Sịt-tắc trên đây của Nhà Thơ Tú Xương.

Tại sao lại bỏ bài thơ ấy? Nếu ông Hư Chu còn ở cõi đời này, tôi sẽ kính hỏi ông:

— Ông lấy quyền gì ông bỏ bài thơ ấy của chúng tôi? Ông thấy không hay, chúng tôi thấy hay. Nó là của chung của chúng tôi, của con cháu chúng tôi. Nhờ ông tí!

* Vào rừng chẳng biết lối ra
Thấy cây núc nác ngỡ là vàng tâm
Hỡi đưá ôm cây, tớ bảo thầm
Da vàng nhưng ruột nó thì thâm.
Tìm hươu chẳng thấy, cha thằng quáng!
Vạch lối không ra, mẹ cái lầm!
Thơ Tú Xương.

Không biết nhà thơ có tâm sự gì, ông muốn nói gì, ông chửi ai khi ông làm mấy câu Thơ Núc Nác Vàng Tâm ấy?

* Ông khóc làm chi thế hỡi ông!
Cười lên một tiếng có hơn không?
Người ta sống được nao nhiêu nả,
Mà nỡ ăn vòi với Hoá công?

Thơ Bắc kỳ, tôi đọc từ năm tôi còn trinh tiết, tức năm tôi mười tuổi, nhớ mãi qua sáu mươi mùa lá đổ, nhưng không nhớ thơ của ai, ông nào là tác giả? Tú Xương, Tản Đà, Yên Đổ..?

* Nửa đêm tỉnh giấc lòng đau
Nửa mong tảng sáng, nửa cầu thâm khuya
Tiếng chuông ở giáo đường kia
Hay trong chùa nọ, sầu chia sang người.
Biết sương đang đổ nên lười
Nằm nghe lá rụng tơi bời rung cây.
Em ơi…! Buồn lạnh thế này
Cùng ta chẳng có một ngày nằm đôi!

Không nhớ thơ của ai. Đã tìm trong nhiều tập thơ nhưng cho tới hôm nay vẫn không tìm ra thi sĩ nào là tác giả. Chỉ biết đọc đã từ lâu lắm, bài thơ có thể dài hơn. Giọng thơ có vẻ như Thơ Thâm Tâm, Thơ Trần Huyền Trân.

Nửa đêm tỉnh giấc, ngoài trời sương xuống, nằm một mình nghe lá đổ, trái tim cô lẻ kêu lên thành tiếng:

Em ơi…! Buồn lạnh thế này
Cùng ta chẳng có một ngày nằm đôi!

Cảm khái cách gì!

Quí vị quân tải nào biết Thi sĩ tác giả, làm ơn cho nhau biết mí.

Thiếm sực mấy câu này cho đã luôn:

Có kẻ nghe mưa trạnh mối sầu,
Vắt tay nằm mộng suốt đêm thâu.
Gió từ sông lại, mưa từ biển,
Không biết người yêu nay ở đâu.

Tôi ngủ bâng khuâng một gối buồn,
Giường lênh đênh nổi giữa băng sơn.
Xoay mình giận mảnh chăn hờ hững,
Tuyết phủ, sương dâng một nửa hồn.

Giấc mộng đêm nào cũng gió mưa,
Gối chăn như hải đảo vô bờ.
Sóng dâng bốn vách sầu nghiêng bóng,
Thoáng ngọn đèn trôi ánh mắt xưa.

(Thơ Đinh Hùng, Đường vào Tình sử).

*Viết chuyện Bill Clinton khi đến Sài Gòn, ăn phở ở tiệm phở 2000 trong chợ Bến Thành, cùng bà Hillary và em Chelsea đến ăn canh chua cá lóc, chả giò, thịt kho ở nhà hàng Phố Xưa của em Như Loan, nhắc đến chuyện Nữ diễn viên điện ảnh Như Loan, cô chủ nhà hàng Phố Xưa, ngày xưa, khoảng năm 1970, đóng vai chính trong phim Đời chưa trang điểm làm theo tiểu thuyết Đời chưa trang điểm của Thuyền Truởng Hai Tầu kiêm Nhà văn Văn Quang. Théc méc không nhớ “Đời chưa trang điểm” ở trong Thơ của ai? Khi viết những dòng này bỗng nhớ ra. Thơ Đinh Hùng, Tâm tình cuối năm, Đường vào Tình sử:

Từng cơn mưa lạnh đến dần,
Đời chưa trang điểm, mà xuân đã về!

* TA LÀM GÌ CHO HẾT NỬA ĐỜI SAU?

Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn
Gánh sơn hà toan chất thử lên vai
Chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn
Dọn tinh thần: cưa nhẹ đỡ vài chai

Rừng đất khách bạt ngàn mầu áo trận
Xong hiệp đầu mây núi đã bâng khuâng
Hào khí bốc đủ mười thành chất ngất
Chuyện vá trời coi đã nhẹ như không

Một tráng sĩ vung ly cười ngạo mạn
“Nửa đời xưa ta trấn thủ lưu đồn
Nay đất khách kéo lê đời rất nản
Ta tính sẽ về vượt suối, trèo non…

Sẽ có lúc rừng sâu bừng chuyển động
Những hùm thiêng cựa móng thét rung trời
Và sông núi sẽ vươn mình trỗi dậy
Và cờ bay trên đất nước xinh tươi.”

Một tráng sĩ vô êm chừng sáu cối:
“Thần Tự Do giờ đứng ở nơi nào?
Ta muốn đến leo lên làm đuốc mới
Tự đốt mình cho lửa sáng xem sao…

Thần Tự Do giơ hoài cây đưốc lạnh
Ta tiếc gì năm chục ký xương da
Sẽ làm đưốc soi tìm trong đáy biển
Những oan hồn ai bỏ giữa bao la…”

Bình minh tới một chàng bừng tỉnh giấc
Thấy chiến trường la liệt xác anh em
Năm tráng sĩ bị mười chai quất gục
Đời tha hương coi bộ vẫn êm đềm

Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng uất hận gối lên nhau
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới:
“Ta làm gì cho hết nửa đời sau?…”

Tháng 3, 1977

Thơ Cao Tần. Tháng 3, 1977 trong số những người Việt lưu vong ở Mỹ đã có những người tính chuyện bỏ Mỹ trở về quê hương diệt Cộng, phục quốc, cứu dân. Từ ngày mất nước đến Tháng 3, 1977 mới có hai năm. Tốt thôi. Tuy chỉ là ước muốn nhưng cũng tốt thôi. Nhân dân đau khổ mong các ông trở về cứu họ, các ông không về được nhưng các ông có ý muốn trở về là quí rồi. Nhân dân không mong gì hơn ở xứ người các ông thương nhớ nước. Thỉnh thoảng thương nhớ thôi cũng được. Còn hơn là các ông quên đất nước, nhất là còn hơn các ông xun xoe lái xe đưa đón bọn cán bộ Bắc Cộng mặt đoi, mồm thối khi chúng đến Mỹ, nhân dân xấu hổ khi nghe chuyện ở Mỹ các ông cựu sĩ quan của quân đội họ xách va-ly hầu cán bộ Bắc Cộng ở phi trường Mỹ. Ở Mỹ các ông làm gì cũng được, các ông nhớ thương quê hương càng tốt, các ông không nhớ thương cũng chẳng sao.

Miễn là các ông, nhất là các ông sĩ quan Quân Lựïc Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà – một năm là sĩ quan, trăm năm là sĩ quan – không liếm đít bọn cán bộ Bắc Cộng!

* Trăm năm thơ túi, rượu vò
Nghìn năm thi sĩ, tửu đồ là ai?

Là ông Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chứ còn là ai nữa! Chuyện ông Tản Đà uống rượu thì tôi cũng biết như nhiều người quí trọng thi tài của ông đã biết, tôi théc méc không biết ông có nghiện á phiện không. Trong những văn liệu về thi văn nghiệp và đời tư của Thi sĩ núi Tản, sông Đà tôi được đọc, tôi không thấy viết gì về chuyện Thi sĩ hút thuốc phiện.

Khoảng năm 1970 tôi đọc một bài của ông Vũ Bằng viết về ông Tản Đà, trong có đoạn tả cảnh ông Tản Đà nằm hút thuốc phiện ban đêm, khi làm được câu thơ, khi có ý nghĩ gì hay, ông nhổm lên cầm bút ghi xuống giấy. Rất tiếc năm xưa tôi không chú ý gì nhều đến chi tiết trong bài viết ấy của ông Vũ Bằng.

Thi sĩ Đinh Hùng thời còn đi học, khoảng năm 1936,1937, có lần cùng vài người bạn đi xe đạp từ Hà Nội lên Bất Bạt thăm Nhà thơ Tản Đà. Ông Đinh Hùng và các bạn ông được ông Tản Đà tiếp, giữ lại ăn bữa cơm chiều. Trong bài hồi ký về cuộc gặp ấy, ông Đinh Hùng chỉ viết về việc ông Tản Đà uống rượu, ăn canh cá dấm với bộ lòng cá nhưng không thấy viết gì đến cái bàn đèn – nếu có – của ông Tản Đà. Ông Đinh Hùng không viết gì về cái bàn đèn của ông Tản Đà cũng không có gì khó hiểu hay để tôi phải théc méc: ông Đinh Hùng viết bài hồi ký ấy khoảng năm 1960, khi việc hút thuốc phiện đã bị cấm trong Quốc Gia VNCH, pháp luật trừng trị người hút thuốc phiện rất nặng, không ai muốn viết đến việc hút thuốc phiện của người khác.
Nhưng tôi théc méc về chuyện nếu không phải là đệ tử của Phù Dung Thần Nữ, nếu không phải là lính của Cô Ba Phù Dung, nếu không phải là dân Hít Tô Phe thực thụ, làm sao Thi sĩ Tản Đà có thể làm được bài tứ tuyệt này:

Trời mưa, sắn ống cao quần
Hỏi cô bán thuốc nhà gần hay xa.
Thân anh đã xác như vờ
Đồng cân xin chị cho già chớ non!

“Trời mưa, sắn cao ống quần” cũng được, nhưng.. “Trời mưa, sắn ống cao quần…” hay hơn, Thơ hơn, Tản Đà hơn. Bốn câu lục bát, 28 tiếng, Thi sĩ tài hoa vẽ ra cái cảnh anh Hít Tốp thất thểu đi đong thoóc. Đi mua thuốc lẻ mà còn đi trong trời mưa. Năm xưa, thời ông Vũ Trọng Phụng, ông Vũ Bằng hít tô phe ở Hà Nội, những năm trước năm 1940, chưa có ống nhựa, ve thủy tinh cũng ít có, khi ấy chưa có những ve penicilin nhỏ síu đựng thuốc phiện rất tốt, thuốc phiện lỏng phải đựïng trong những hộp bằng sừng, bằng ngà, những ống bằng đồng. Chỉ những tay hít tốp nhà giầu mới có những thứ ấy, dân nghiện nghèo, mua thuốc lẻ, thường đựng thuốc trong những cái vỏ hến.

Trước năm 1945 chính phủ Đại Pháp bảo hộ cho nhân dân Đông Dương được quyền tự do hút thuốc phiện, nhân dân Pháp chính quốc bị cấm hút thuốc phiện. Không những chỉ cho dân Đông Dương tự do hút thuốc phiện, chính phủ bảo hộ còn lo đến cả việc bán thuốc phiện cho dân, chính phủ bảo hộ nhập thuốc phiện sống, nấu chín, pha phách, đóng vào hộp đồng, mở những nhà đại lý, tên tiếng Pháp là Régie d’Opium, bán cho dân. Trước cửa những nhà này treo tấm bảng có hai chữ RO. Cái tên RO vừa tiền định vưà định mệnh, nó đồng âm với tiếng…ro…ro…ro… của nhựa á phiện khi bị đốt thành khói chui vào nhĩ tẩu.

Vì chính phủ bán thuốc phiện cho dân nên chính phủ cấm dân mua bán thuốc phiện không do chính phủ bán. Thứ thuốc không do chính phủ bán ấy gọi là thuốc phiện lậu. Thuốc do chính phủ bán ở những nhà RO gọi là thuốc ty, thuốc phiện lậu còn được gọi là thuốc ngang.

Và như thế thời ông Tản Đà làm bài thơ “trời mưa sắn ống quần” đi đong thoóc, dân hít tốp phải đến những nhà RO mua thoóc, nhưng bài thơ lại tả cảnh anh hít tốp đi đong thoóc trong xóm, hình như ở một nhà tư. Vây thì ngoài théc méc ông Tản Đà có nghiện á phiện hay không, tôi còn théc méc; trong bài Thơ Đong Thoóc của ông, anh hít tốp đi mua thuốc ty ở nhà RO hay đi mua thuốc ngang ở nhà dân trong xóm?

Có ba nhân vật trong bốn câu thơ: cô, anh, chị. Một đồng cân thuốc phiện tiêm được khoảng 16 đến 18 điếu thuốc. Thuốc nửa nước nửa nhựa đặc sền sệt. Cô bán thuốc dùng một cái ống trúc, những năm 1960, 1970 dùng ống nylon, đong thuốc bán cho khách. Cô đong đầy tức cô cho thêm một giọt thuốc là có thể tiêm thêm được một, hai điếu, hoặc cô đong đầy là có 18 điếu thuốc tròn, lớn, cô đong vơi một tị là chỉ có 18 điếu thuốc không được no tròn.

Tôi tự cho tôi có chút thẩm quyền viết về Á Phiện vì lý do tôi sắp trình bầy. Xin đọc đoạn văn này trước:

* THẬP NIÊN ĐĂNG HỎA. Trong bài “Thạch Lam làm thơ,” hồi ký của ĐINH HÙNG, trong tác phẩm ĐỐT LÒ HƯƠNG CŨ, Lửa Thiêng xuất bản năm 1971 ở Sài Gòn. Trích:

Đỗ Đức Thu viết về Thạch Lam có ghi một điểm thắc mắc:

“Anh có ngỏ với anh em anh còn muốn viết cuốn “Thập Niên Đăng Hỏa”, nhưng tiếc thay, cái chết đến sớm quá không cho anh thực hành ý muốn. Không biết Thạch Lam muốn nói gì trong “Mười Năm Đèn Lửa” ? Chỉ hiểu sơ rằng tác phẩm đó sẽ viết tới một vấn đề quan hệ…Vấn đề lửa đèn “dầu lạc…”

Đúng như vậy. Trong một buổi uống rượu say tới quá nửa đêm, Thạch Lam cùng chúng tôi đích thân xuống bếp lúi húi thổi lửa hâm thức ăn và đun nước pha trà, anh đã thủ thỉ tâm sự rằng: Anh sẽ viết Thập Niên Đăng Hỏa, một thiên hồi ký kể lại thời kỳ suốt mười năm anh dan díu với Ả Phù Dung. Hiện anh đã ly dị cùng Ả rồi, nhưng “Mười năm đèn lửa biết bao nhiêu tình..!” Anh sẽ trình bày câu chuyện lửa đèn khác hẳn lối Nguyễn Tuân viết Ngọn Đèn Dầu Lạc và Tàn Đèn Dầu Lạc, cũng không giống Vũ Bằng viết “Cai”. Anh sẽ phân tách tâm lý rất kỹ, sẽ đặït vấn đề dưới nhiều khiá cạnh, khả dĩ thoát khỏi cái tật phiến diện của những người chưa từng biết một tí gì về những chất ma túy đã lên giọng dậy đời. Anh nghiêm giọng kết luận:
– Đó không phải là một vấn đề mà đàn bà, trẻ con hay kẻ phàm phu có thể hiểu được. Đó là tấn bi kịch mà cũng là huyền thoại của những kẻ ít nhất cũng phải trải qua 10 năm từ cả thiên đường lẫn địa ngục.

Tôi tự cho tôi có đôi chút thẩm quyền viết về Á Phiện vì, như Văn sĩ Thạch Lam, tôi trải qua Thập Niên Đăng Hoả, như Văn sĩ Thạch Lam muốn viết về Thập Niên Đăng Hoả của ông, tôi muốn viết về Thập Niên Đăng Hoả của tôi.

Văn sĩ Thạch Lam từ trần sớm nên cõi đời này không có tác phẩm Thập Niên Đăng Hoả của ông, chắc tôi còn đủ thời gian để viết Thập Niên Đăng Hoả của tôi. Trong tác phẩm đó tôi sẽ không kể nhiều về cuộc tôi dan díu với Cô Ba Phù Dung, tôi sẽ viết về lịch sử Á Phiện và về những tác phẩm viết về Á Phiện của các vị tiền bối. Hiện tôi đã sưu tầm được tạm đủ những văn liệu để viết về Á Phiện, tôi chỉ còn có việc ngồi vào bàn viết.

* Thuyền Trưởng Hai Tầu Văn Quang mới viết một thư tả cuộc sống cơ cực của bà Nguyễn Thúy Ngọc, bà con gái của Thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Dưới đây là vài đoạn trích trong thư:

Văn Quang viết:

Quả thật tôi không biết dùng danh từ nào hơn là hai chữ “thê thảm” để diễn tả hoàn cảnh gia đình bà con gái của cố Thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, hiện đang sống rất lầm than cơ cực, nếu không muốn nói là “sống dở chết dở” giữa con đường Công Lý của thành phố Sài Gòn này.

Và, tôi cũng chưa bao giờ ngờ được rằng giữa thành phố Sài Gòn, trên con đường ngày xưa là đường Công Lý bây giờ được sửa lại thênh thang với những ngôi nhà bề thế, những biệt thự nguy nga của các “anh Ba, anh Bốn” nằm bên những shop thời trang choáng ngợp lại còn một khu nhà hoang tàn xơ xác đến như thế.

Cái biển số nhà 192 Công Lý nằm khiêm nhường trên chiếc trụ gạch nham nhở, góp mặt với con đường cho nó có tên chứ chẳng làm ai chú ý mặc dù nó chiếm một khoảng đất khá rộng trong cái thời buổi giá nhà đất ở Sài Gòn này đúng nghĩa là tấc đất tấc vàng. Và cái tên đường Công Lý đã được đổi thành Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa từ lâu rồi vậy mà cái biển vẫn cứ còn chềnh ềnh cái tên Đường Công Lý đủ chứng tỏ nó trơ gan cùng năm tháng đến thế nào. Chiếc cổng sắt đen nhẻm chẳng biết có từ thời nào cũng chỉ là thứ còn sót lại nằm đó chứ chẳng để làm gì. Nhìn vào phía trong là một hàng cơm bình dân cũng tối tăm, èo uột vắng ngắt vắng ngơ, dường như người ta bày ra chỉ để giữ chỗ sợ người khác chiếm mất. Bước qua hàng cơm là một lối đi trải nhựa đã quá già cũ lỗ chỗ nham nhở, đất đá lổn nhổn chẳng khác những con đường làng ở nhà quê thời xa xưa. Nhìn lên là những tầng lầu cao, tường đen loang lổ, cửa ngõ không cánh toang hoác, cứ tưởng như ta đang sống trong thời kỳ chiến tranh bom đạn tàn phá, nhưng nhìn kỹ đó là vết thời gian in hằn, chẳng ai thèm ngó ngàng đến.

Đi vào vài chục mét nữa là những hành lang tăm tối hoang phế, nhưng trong cái hoang phế ấy lại là nơi cư ngụ của một số gia đình đói rách vô gia cư. Họ sống lặng lẽ, lam lũ, lay lắt che chắn bằng đủ thứ vỏ hộp các tông, liếp tre, vải bố rách… miễn là tạm thời có thể che chắn nắng mưa, mà che chắn cũng chỉ là tạm bợ, được chút nào hay chút ấy. Mưa tạt vẫn ướt, nắng càng khổ hơn vì cái nóng hầm hập như trong lò nướng. Có thể hiểu đây là “cái hang cho con người” chứ không thể gọi là một chỗ để ở.

Trong số đó có gia đình bà con gái của Thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Chúng tôi lần mò vào một lối đi, trên một khoang hẹp chừng 3 thước vuông, kê hai cái giường, một cái bàn với hai ba cái ghế nhựa nhỏ xíu nằm kẹt vào giữa. Chị Hương Thu, cháu ngoại Thi sĩ Tản Đà, đón tôi và Thái Phương, dù đã được hẹn trước mà cũng chẳng biết nên mời chúng tôi ngồi vào chỗ nào cho thuận tiện. Tôi kéo chiếc ghế nhựa ngồi sát vào đầu chiếc giường gỗ nơi một bà lão đang nằm. Chị Hương Thu lay bà mẹ dậy tiếp chuyện với tôi. Đó là bà Nguyễn Thuý Ngọc, năm nay đã 75 tuổi. Tôi hỏi ngay:

— Thưa bà, có phải bà là con gái cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu không?

Bà lão gật đầu:

— Vâng. Ông thân tôi mất năm 1939 tại số nhà 45 Ngã Tư Sở, Hà Nội. Tôi theo ông chồng tôi di cư vào Nam năm 1954.

— Hiện nay bà sống với những ai?

Bà lão chỉ sang chiếc giường tre bên cạnh:

— Con gái tôi đó, nó là Thuý Lan bị bại liệt. Con trai thứ của tôi bị bệnh tâm thần, phải cho nó nằm ở cuối lối đi phía bên kia. Con trai lớn của tôi cũng chớm bị bệnh thần kinh, trước làm công nhân vệ sinh nhưng nay thất nghiệp.

— Gia đình cụ sống như thế nào?

Bà chỉ chị Hương Thu – là người tiếp đón chúng tôi:

— Nhờ nó, con gái tôi, nó lấy chồng ở Miếu Nổi nhưng vẫn phải nuôi cả gia đình nhà này.

Tôi hỏi chị Hương Thu:

— Chị làm thế nào mà nuôi nổi một lúc bốn người già yếu bệnh tật như thế này?

— Cháu đi bán vé số và có khi bán báo, cứ sáng sớm là ra đi, bán được đồng nào chạy vội về mua gạo thổi cơm mang sang cho mẹ cháu và các em cháu. Buổi chiều cũng bán vé số rồi lại về chăm sóc tắm rửa cho mẹ cháu và các em cháu xong mới trở về nhà.

Thái Phương xen vào:

— Chị Thuý Lan bị bại liệt lâu chưa?

— Em Thuý Lan cháu trước năm 1975 làm ở Bộ Chiêu Hồi, sau năm 75, em cháu đi bán bánh nuôi mẹ chúng cháu. Nhưng rồi em cháu bị bại liệt, không tự mình làm bất cứ cái gì được, tất cả mọi việc đều phải có người giúp. Khi cháu không có mặt ở đây thì chú em thất nghiệp giúp đỡ, nhưng đôi khi nó có việc làm thì đành chịu vậy thôi.

Tôi ngậm ngùi hỏi:

— Gia đình chị có đủ ăn không?

Chị Hương Thu cúi đầu, đắn đo trước câu trả lời:

–Thưa nói là đói thì không đúng hẳn, nhưng… cũng có khi đói. Cháu chỉ lo có đủ gạo ăn là tạm yên tâm. Những ngày mưa gió không đi bán vé số được thì cháu đi vay, đi muợn, chúng cháu không dám mơ tới một bữa ăn ngon mà chỉ là một bữa cơm đủ no.

— Còn thuốc men khi đau ốm?

— Điều đó thì ngoài sức của cháu. Ai đau ốm cũng cố gắng im lặng để không làm khổ đến những người khác. Nhiều khi mẹ cháu nằm rên, nhưng đến khi cháu về đến nơi thì bà cố nhịn, bà vẫn cố gắng nói chuyện bình thường cho cháu yên lòng về với gia đình nhà chồng. Những lúc ấy cháu chỉ biết khóc thầm. Các em cháu thì chẳng bao giờ “biết đau ốm” là gì!
……
Tôi ra về, lòng nặng trĩu, ra đến đường, xe cộ tấp nập mà ở trong khu tạm gọi là cái “chung cư” tối tăm này lặng vắng chẳng khác gì một nhà mồ nằm ngay bên con đường lớn vào bậc nhất thành phố!

Ngay buổi sáng hôm sau, một nhà văn nữ ở San Jose về Sài Gòn chơi, chị ghé thăm tôi trong khi tôi đang chuẩn bị viết bài này, tôi kể lại câu chuyện của gia đình con gái cụ Tản Đà, cô bạn tôi (xin giấu tên) nhờ tôi chuyển ngay 100 USD đến cụ Thuý Ngọc. Tôi nhờ Thái Phương mang đi đưa, anh la lên:

— Một trăm đô đối với gia đình họ lúc này quý lắm đấy anh ạ. Rồi nay mai lại phải chuyển đi nơi khác, chẳng biết họ phải xoay xở ra sao! Làm thế nào để chị Hương Thu có một chút vốn để mở được một sạp bán sách báo, bán vé số thì may cho chị ấy quá. Vừa có chỗ kiếm gạo vừa có thể chăm sóc cho mẹ và các em.

Vâng, chỉ cần một số vốn nhỏ thôi là gia đình bà con gái cụ Tản Đà có thể có một cuộc sống đỡ khổ. Tôi xin gửi thông tin này đến các vị bạn đọc khắp nơi trên thế giới, để xin các vị vui lòng giúp đỡ hậu duệ của cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, chắc chắn linh hồn Thi sĩ sẽ được an ủi rất nhiều. Mọi liên lạc xin gửi về địa chỉ chị cháu gái của cụ Tản Đà:

Chị : Nguyễn Hương Thu
Lô A2/42 Chung cư Miếu Nổi
Phường 3, Quận Bình Thạnh, TP. HCM. Việt Nam
Điện thoại: 510-4750 (Điện thoại của nhà chồng chị Hương Thu).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: