• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Tháng Bẩy Vào Thu

Tháng Bẩy vào thu mưa lạnh bay Buồn ơi…!
Tìm rượu uống cho say.
Tìm quên trong chất men cay đắng,
Càng uống càng thêm những đắng cay…

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi Em? Bây giờ là cuối Tháng Bẩy Tây, là giữa Tháng Sáu Ta, nhưng nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ ấy, ta cứ coi là Tháng Bẩy, không phải cho tiện việc sổ sách mà cho tiện việc viết lách.

Mấy câu thơ trên tôi làm trong Tháng Bẩy năm 1976 ở Sài Gòn. Trọn mười hai tháng sau ngày 30 Tháng Tư 75, như tất cả mọi người Sài Gòn, tôi tối tăm mắt mũi, tôi sống dở, chết dở, tôi mờ mịt cả người, tôi ngẩn ngẩn ngơ ngơ, tôi không suy nghĩ được gì cho ra hồn. Phải đến những tháng giữa năm 1976 tôi mới cảm thấy sức nặng ghê gớm của định mệnh đè lên đời tôi, tôi mới biết tôi chết, vợ con tôi sẽ chết, tôi buồn khủng khiếp và, như hai mươi triệu công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoàø bị diệt vong, tôi làm thơ. Như tôi đã viết, thời mới lớn tuổi mười lăm, mười bẩy tôi có làm thơ.

Không phải là thi sĩ nên khi ngoài hai mươi tuổi tôi không làm thơ nữa. Một trong những lý do làm tôi không làm thơ là cuộc đời đã có quá nhiều thi sĩ có tài, có quá nhiều bài thơ tuyệt diệu, cuộc đời không cần tôi làm thi sĩ, mọi người không cần tôi làm thơ. Mỗi khi tôi buồn, tôi cần thơ, mỗi khi tôi nhớ ai, tôi cần thơ, tôi đã có Thơ Đinh Hùng, Thơ Vũ Hoàng Chương. Như:

Chiều nay tưởng mắt em buồn
Đã trông thấp thoáng ngọn cồn, bóng sương
Lạnh lùng chăng gió tha hương
Em về bên ấy ai thương em cùng!

(Bài Hát Mùa Thu. Đinh Hùng)

Bài thơ mùa thu tuyệt nhất trong những bài thơ tuyệt diệu về Mùa Thu. Khi tôi nhớ nàng, khi tôi cần Thơ diễn tả nỗi nhớ nàng trong tim tôi, trong hồn tôi, tôi đã có sẵn bốn câu Thơ Tuyệt Thơ ấy, tôi còn vất vả làm thơ làm chi nữa! Tôi chỉ cần phóng tác đôi chút cho Thơ hợp với tình tôi:

Chiều nay tưởng mắt em buồn
Đã trông thấp thoáng ngọn cồn, bóng sương
Xa vời trăng nước tha hương

Nếu em ở Hoa Kỳ tôi để nhẹ câu:

Em về bên Mỹ ai thương em cùng!

Nếu em ở Pháp, Úc tôi đi một đường:

Em về bên Pháp… – Em về bên Úc ai thương em cùng!

Tuy vậy trong dòng thời gian từ 1954 đến 1975 đôi khi tôi cũng làm thơ, như những năm 1957, 1958, trời đất thanh bình, Hoa Kỳ đổ đủ thứ viện trợ vào Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, trong số có vải popelin gọi là popelin sandforisé, máy may Sinco của Nhật, tôi ngẫu hứng làm hai câu theo ca dao:

Anh đây như máy Sinco
Còn em như vải săng-pho mới về.

Cảm khái về một cuộc tình, tôi làm mấy câu:

Rồi một chiều thu nắng phớt mờ
Nàng gặp người yêu cũ què giò
Nàng hỏi chàng, mắt rưng rưng lệ:
— Anh sẽ làm sao đạp xích-lô?

Tôi phóng tác Thơ Vũ Hoàng Chương:

– Ta đi tìm em từ hai mươi năm nay,
Rách bao nhiêu bí-tất, mòn bao nhiêu giày tây.

Những năm 1960, 1961, vượng khí của Nhà Sàigòn Mới lên đến độ cao nhất, bà Bút Trà xây rạp xi-nê-ma Kim Châu. Tôi, ngoài việc là đặc phái viên – special reporter – là nhân viên toà soạn nhật báo Sàigòn Mới, đôi khi được trao thêm công việc viết quảng cáo cho những phim gọi la xuất phẩm được chiếu ở rạp Kim Châu. Khi Kim Châu chiếu phim Messalina, một phim mầu loại La Mã kỳ tình Hẩu Lốn Tạp Pí Lù Macaroni Spaghetti Vermicelli của Ý, tôi phang Thơ Đinh Hùng vào quảng cáo:

Em là người, là quỉ, là ma?
Em có mấy linh hồn, bao nhiêu mộng?
Em còn trái tim nào đang xúc động?
Em có gì trong xác thịt như hoa? Messalina…!

Nhưng sau năm 1975, dù không muốn, quá buồn, tuyệt vọng, tôi lại làm thơ. Một trong những bài thơ tôi làm sau hai mươi năm không làm thơ là bài thơ… Tháng Bẩy vào thu mưa lạnh bay… Buồn ơi… Tìm rượu uống cho say…

Kể chuyện xưa loạn cào cào.. Tí nữa quên. Tháng Bẩy năm 1954 tôi làm bốn câu:

Mùa thu mây trắng xây thành
Tình em mầu ấy có xanh da trời,
Hoa lòng em có về tươi,
Môi em có thắm nửa đời vì anh?

Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già The Godfather, nói với tôi:

— Tao về thăm bà chị tao. Bà ấy ru con bằng mấy câu mùa thu mây trắng của mày, tao nói Thơ của thằng bạn em, sao chị biết, bà ấy nói ca dao chứ thơ của ai. Ngọc Thứ Lang Nguyễn Ngọc Tú làm hai câu:

Hoa lòng em có về tươi mãi?
Môi em có thắm suốt đời không?

Ngọc Thứ Lang và tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn trước năm 1954, tôi vào Sài Gòn năm 1951, Tú còn vào Sài Gòn trước tôi, năm 1947, 1948. Chúng tôi là dân Bắc kỳ nhưng không phải là Bắc kỳ di cư. Nói đúng hơn, hai chúng tôi không được là Bắc kỳ di cư…

Nguyễn Ngọc Tú Ngọc Thứ Lang đã qua đời khoảng năm 1978, 1979. Tôi không viết về Tú nữa, tôi viết về thân phận tôi thôi: tôi cũng là dân Bắc kỳ nhưng tôi không được di cư vào Nam trong làn sóng người di cư vĩ đại nhất lịch sử dân tộc năm 1954-1955, tôi không được đi tầu há mồm, tôi không được sau mấy ngày đêm lênh đênh trên biển lếch thếch đổ bộ lên bến Sài Gòn trong tiếng nhạc ampli chào mừng của ban văn nghệ Phủ Đặc Ủy Di Cư, tôi không được sống ngày nào trong Nhà Hát Lớn nằm giữa đường Catinat, sau 1965 là đường Tự Do, trung tâm thủ đô Sài Gòn đẹp lắm…

Hiệp Định Genève cắt đôi đất nước được ký ngày 27 Tháng 7, 1954. Ngay sau đó là cuộc di cư vĩ đại được tiến hành. Người Việt miền Bắc chê bỏ cộng sản hàng hàng lớp lớp đi vào Nam bằng tầu biển, bằng máy bay. Không phải chỉ những người giầu hay có chức việc trong chính quyền quốc gia mới rời bỏ quê cha, đất tổ, những gia đình nghèo, những người dân thường ở nông thôn cũng bỏ cửa nhà vào Nam. Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ra lệnh động viên toàn lực chính quyền đón tiếp, lo đời sống cho đồng bào di cư tị nạn cộng sản. Mọi ưu tiên dành hết cho đồng bào di cư. Tất cả những công sở có thể dùng được trong thủ đô đều được dùng làm nơi tạm trú cho đồng bào di cư, nhiều nhất là những trường học, khu Dân Sinh, Khu Đại Thế Giới..vv…, kể cả những bệnh viện còn phòng trống cũng được dùng làm nơi cho đồng bào di cư tạm trú. Ly kỳ nhất là cả Nhà Hát Tây, còn có tên là Nhà Hát Lớn, giữa đường Catinat, trung tâm của Sài Gòn hoa lệ, Hòn Ngọc Viễn Đông một thời, cũng được chính phủ dùng làm chỗ cho đồng bào di cư tạm trú.

Trong Hồi ký “Nhìn lại những bến bờ” viết năm 1988, Duyên Anh kể lại những ngày sống của anh trong Nhà Hát Lớn Sài Gòn:

NHÌN LẠI NHỮNG BẾN BỜ. Hồi ký Duyên Anh. Nhà xuất bản Xuân Thu, ấn hành năm 1988. Trang 90. Trích:

Buổi trưa cuối tháng 9-1954, bước xuống từ phi cơ quân sự Pháp, tai tôi ù tịt, mắt tôi hoa lên. Đeo cái túi hành lý nhẹ tênh, tôi lê những bước chân giang hồ đầu tiên trên mặt đất miền Nam. Cảm khái, tôi hát một câu theo điệu Hải Quân Việt Nam của Văn Cao:

Ra đi không mang va-li
Mồm hút thuốc lá Mic mốc
Chân lê săng-đan cao su
Quần áo ruồi bu….

Những thằng di cư tứ cố vô thân, tử vô địa táng như tôi phải ngồi xổm ở trước phi cảng Sài Gòn chờ xe cam-nhông của Phủ Đặc Ủy Di Cư bốc về một trại tiếp cư nào đó. Còn kẻ có thân nhân ở Sài Gòn thì leo lên những xe taxi con cóc mà về thành phố. Tôi được bốc tới Bệnh Viện Bình Dân, còn gọi là Bệnh Viện Hai Mươi vì nó nằm trên đường Hai Mươi mang tên ông Tây cà-lồ LeGrand de la Lyrae. Đứng trên xe cam-nhông đề-ca-pô-táp, tôi nhìn Sài Gòn 1954 bằng đôi mắt ảo não. Nó hoàn toàn khác với Hà Nội ngàn năm văn vật của tôi. Rồi tôi ngao ngán quan sát Trại Tiếp Cư Bệnh Viện Bình Dân. Đến khi người ta đưa cho tôi ổ bánh mì và một dúm đường cát trắng, tôi mới thấm cảm thân phận di cư. Thủ Tướng Ngô Đình Diệm sẽ nuôi tôi bằng bánh mì chấm đường…!

Bệnh viện Bình Dân cuối năm 1954 mới được xây xong, chưa có bệnh nhân, tên Tây của đường là Général Lizé. Vì số người đến không được báo trước, số người đến có khi cả chục ngàn người trong một ngày, chiếc tầu biển lớn nhất, chở được nhiều người nhất thời ấy có tên là tầu Marine Serpent. Việc lo cơm canh không thể làm được, nhân viên tiếp cư Phủ Đặc Ủy Di Cư lo được cho mỗi người mới đến một ổ bánh mì và một dúm đường đã là giỏi lắm. Với tôi bánh mì Sài Gòn ngon nhất thế giới, tôi có thể suốt đời tôi sung sướng ăn bánh mì Sài Gòn với đường. Duyên Anh không hài lòng với cuộc sống tạm cư ở Bệnh Viện Bình Dân, anh về sống ở Nhà Hát Lớn:

NHÌN LẠI NHỮNG BẾN BỜ. Sách đã dẫn, trang 95, 98. Trích:

Thế là tôi có Nhà Hát Tây…
(…..)
Khi tôi vào đó Nhà Hát chẳng còn cái ghế nào! Tầng thứ nhất, tầng thứ hai và chuồng cu đông đầy người…chọn tự do. Sân khấu cũng phân ranh giăng màn, kê ghế bố. Mỗi gia đình di cư chiếm một miếng sàn cắm dùi. Rộng hẹp tùy đến trước, đến sau. Người ta mua giấy dầu dựng lên làm vách. Giường chiếu, bếp núc, vợ con và…tài sản thu gọn trong vài thước vuông. Thời gian từ tháng 8-1954 tới tháng 12-1954, đa số dân di cư Nhà Hát Tây Sài Gòn thuộc thành phần công chức, giáo chức. Chúng tôi là trâu chậm, đành mua cái ghế bố kê tạm chỗ trống, đêm mở ra nằm ngủ, ngày xếp lại. Tầng của tôi là chuồng cu, lan can đã gục hết. Nằm sát lan can, rất dễ rơi xuống vỡ sọ nếu trở mình quá đà hay ưa lăn lộn khi ngủ mê.
(…..)
Bấy giờ, hàng xóm của tôi là Y Vân. Khi ấy, Y Vân chưa là người soạn ca khúc, cũng chưa là nhạc công đúng nghĩa. Chàng là ca sĩ với biệt hiêu rất Rađê: Y Vân. Ban Mê Thuột nhiều vĩ nhân Y lắm: Y Kut, Y Pàm, Y Braham…Y Vân, hàng xóm của tôi, di cư với bà mẹ và cô em. Muời năm sau cô em gái của Y Vân kết hôn với Tuờng Tuấn, Tổng thư ký nhật báo Xây Dựng của Linh mục Nguyễn Quang Lãm. Y Vân là ca sĩ …Phủ Tổng Ủy Di Cư. Chàng hát đôi với Từ Lang. Đôi song ca bất hủ Y Vân-Từ Lang “chuyên trị” bài Ngày Trở Về của Phạm Duy và không bao giờ “được” trình bày trọn vẹn bài ca ấy. Những hôm có tầu chở người di cư cặp bến Sài Gòn, hai ca sĩ Y Vân-Từ Lang ôm đàn guitare leo lên xe Thông Tin của Phủ Đặïc Ủy Di Cư chạy ra bến tầu. Đồng bào di cư từng đợt xuống bến, đứng xếp hàng đôi lĩnh 700 đồng một đầu người cộng thêm vài thước vải, vài hộp sưã rồi tất tả dắt nhau khuân hành lý, đi tới chỗ đậu xe cam-nhông để được đưa tới trại tạm cư. Y Vân-Từ Lang “oeo-cơm” đồng bào:

Ngày trở về… Anh bước lê… trên quãng đường đê… Nắng vàng hoe… Vuờn rau trước hè..chờ đón người về …

Tôi theo dõi cuộc tiếp đón đồng bào di cư với sự hiện diện “văn nghệ giúp vui” của Y Vân. Bèn thấy rằng cứ đến câu “Ngày trở về có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ…” là đợt người thứ hai đã tới chỗ xe cam-nhông đậu chờ. Y Vân lại tay đờn, miệng ca Ngày Trở Về từ đầu. Y Vân đấy, tác giả mấy chục ca khúc phổ thông nổi tiếng, một trong những người soạn hòa âm hay nhất Sài Gòn trước 1975, đã bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của mình “chông gai mông mênh” như thế đấy.
(……)
Bên cạnh “nhà” Y Vân có Đỗ Tiến Đức. Thằng này đầu bự, trán cao, đi nhanh và mặt cứ vác lên. Nhưng nó hiền lành, nhã nhặn. Nó đang “cộng tác” với báo Ban Mai, bút hiệu Đằng Giao. Tôi nể Đỗ Tiến Đức lắm. Nó đã là… nhà văn, nhà báo mà tôi thì chưa là nhà gì cả.
(…..)
Đỗ Tiến Đức trở thành bạn thân của tôi từ cuối năm 1954. Như một thằng tôi sắp kể đây, một thằng văn nghệ đúng nghĩa. Tên nó là Đặng Trí Hoàn. Nó giống hệt cái xe đạp di cư của nó. Không chuông, không phanh, không đèn, không chắn bùn, không chắn xích, xe đạp cuả Đặng Trí Hoàn rất xứng đáng đem triển lãm tại hội chợ quốc tế đồ phế thải còn xử dụng tốt. Xe đạp liệng vỉa hè chẳng ma nào thèm nhặt mà Đặng Trí Hoàn cứ tốn sức vác lên, vác xuống lầu Nhà Hát mỗi lần dùng xe dạo cảnh Sài Gòn. Nó dạo cảnh nhiều lần một ngày, kẻ vác xe đạp không biết mệt mỏi. Thằng này yêu kỷ niệm. Xe đạp đi học của nó leo máy bay cùng với nó vào Sài Gòn. Tinh thầân “gìn vàng, giữ ngọc” của thằng này cao vòi vọi. Trông dáng dấp của nó chả thí sĩ tí nào. Thế mà nó lại làm thơ! Bút hiệu của nó trùng với nhãn hiệu nước mắm mà tôi quen dùng, nên tôi gọi đùa nó là thi sĩ nước mắm Hoài Hương. Ai dám nghĩ thi sĩ nước mắm Hoài Hương của tôi sẽ là Thi sĩ Hà Huyền Chi lừng lẫy hôm nay? Nó và Đỗ Tiến Đức “thao túng” văn nghệ báo Ban Mai. Tôi đọc thơ nó, không thấy dáng dấp Huy Cận, Nguyễn Xuân Huy song đã có nét lắm. Tôi nể nó, nó chẳng biết, lại nể nang tôi ra mặt. Hà Huyền Chi cũng bắt đầu sự nghiệp thi ca từ cái rất khó, khó hơn Đỗ Tiến Đức.

Cũng là dân Bắc kỳ mà không được đi trong đoàn người di cư, không được biết thế nào là tầu há mồm, không được sống ngày nào trong Nhà Hát Lớn! Kể cũng tủi thân! Đành tự an ủi bằng câu định mệnh an bài. Số mình không cho mình làm văn nghệ sĩ lớn, mình lục lục thường tài, nên mình không được nằm ghế bố trong Nhà Hát Lớn, mình không được ngang nhiên tắm ở giữa trời nơi trung tâm thủ đô. Năm mươi triệu anh đàn ông Việt Nam, không một anh nào được quyền tắm lộ thiên ở giữa đường Tự Do. Tắm lộ thiên tức tắm giữa trời, tất nhiên có mặc quần sà lỏn. Kể cả những anh Thiệu, anh Kỳ trong những lúc hung hăng con bọ xít nhất cũng không anh nào nghĩ đến chuyện đòi mặc quần sà lỏn tắm giữa trời ở đường Tự Do, Sài Gòn. Các anh không đòi vì các anh biết các anh có đòi cũng không được. Nhưng trong những tháng cuối năm 1954, đầu năm 1955, những ông thanh niên Bắc kỳ di cư về sau nổi tiếng văn nghệ sĩ tài hoa như các ông Duyên Anh, Y Vân, Hà Huyền Chi, Đỗ Tiến Đức..vv..đã có cái đặc quyền ở trần, bận sà lỏn, tắm thoải mái ở vòi nước máy công cộng bên cạnh Nhà Hát Lớn, phiá nhìn sang Ô-ten Caravelle. Cái đặc quyền ấy, ngoài mấy ông ấy ra, tôi không thấy ông văn nghệ sĩ Sài Gòn nào khác được hưởng. Thảo hèn về sau mấy ông ấy trở thành những ngôi sao sáng trên bầu trời văn nghệ.

Từ năm 1958 đến năm 1963 Nhà Hát Lớn Sài Gòn là trụ sở Quốc Hội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, tôi thường đến đó theo dõi những phiên họp Quốc Hội. Trong số ký giả đến Quốc Hội thời ấy có Từ Chung, Phan Nghị, Cát Hữu..vv..Ký giả ngồi ở trên lầu, bên phải toà nhà, bàn chủ toạ đoàn đặt trên sân khấu.

Những ngày như lá, tháng như mây…! Tháng Bẩy năm 1976 tôi trở lại Nhà Hát Lớn. Sau khi phóng tay bắt một số văn nghệ sĩ Sài Gòn cho vô tù trong tháng Ba, tháng Tư năm ấy, bọn Hội Văn Nghệ Thành phố Hồ chí Minh mở hai khoá gọi là khoá bồi dưỡng chính trị cho đám văn nghệ sĩ Sài Gòn bại trận, đám gà kẹt giỏ, gà nuốt dây thung. Vác mặt đi dự Khoá Hai Bồi Dưỡng Chính Trị, tôi trở lại Nhà Hát Lớn với trái tim nặng như đá. Buổi chiều Sài Gòn mưa buồn, không gian u ám, tái sám, tôi lên lầu nhà hát, bùi ngùi nhớ lại những buổi chiều xưa, tôi như nhìn thấy Từ Chung, Cát Hữu ngồi ở cái bàn dài kê sát lan can, nhìn xuống theo dõi cuộc họp.

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương?
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo.
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương…

Năm mươi mùa lá đổ đã qua đời tôi kể từ Tháng Bẩy 1954… Năm nay mái tóc không xanh nữa… Tôi đã đau thương, đã nợ nần.. Khi viết những giòng chữ này ở quê người, tôi nhớ một buổi sáng Tháng Bẩy năm 1954 trong thành phố Vũng Tầu. Sáng chủ nhật, ăn sáng xong tôi nói:

— Anh đi mua tờ báo.

Trên sạp báo tờ Tiếng Chuông chạy tít lớn 8 cột:

CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG CHẤM DỨT

NƯỚC VIỆT NAM CHIA LÀM HAI

Cầm tờ báo trở lại, tôi nói với nàng:

— Hết đánh nhau rồi, em ơi…

Người đàn bà ấy đã sống với tôi từ Tháng Bẩy năm 1954 đến nay, Tháng Bẩy năm 2004, vừa tròn 50 năm. Khi mới gặp nàng, tôi làm bốn câu thơ:

Mùa thu mây trắng xây thành
Tình Em mầu ấy có xanh da trời,
Hoa lòng Em có về tươi,
Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?

Tháng Bẩy năm 1977, nằm trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, nhớ nàng, thương nàng, tôi làm thơ:

Muà thu mây trắng xây thành,
Tình Em mầu ấy có xanh da trời,
Hoa lòng Em có về tươi,
Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?
Yêu nhau ngày tháng qua nhanh
Hai mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.
Từ xanh đến bạc mái đầu,
Tình ta nước biển một mầu như xưa.
Yêu bao giờ, đến bao giờ,
Thời gian nào rộng cho vưà tình ta?
Lòng Em hoa vẫn tươi hoa,
Môi Em thắm đến Em già chưa phai.
Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai,
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe Em.
Mặt trời có lặn về đêm,
Sớm mai Em dậy bên thềm lại soi.
Cuộc đời có khóc, có cười,
Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay.
Thu về trời lại xanh mây,
Đầy trời ta thấy những ngày ta yêu.
Càng yêu yêu lại càng nhiều.
Nhớ Em anh nhắn một điều: Yêu Em!

Năm 1977 chúng tôi mới sống với nhau hơn 20 năm, năm nay 2004, Thơ của chúng tôi là:

Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Năm mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau!

Trong số những văn nghệ sĩ có tên trong bài những vị này đã không còn nữa: bà Bút Trà, Linh mục Nguyễn Quang Lãm, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Tường Tuấn, Nguyễn Ngọc Tú Ngọc Thứ Lang, Duyên Anh, Y Vân, Cát Hữu, Từ Chung, Phan Nghị.

Năm 1954 tôi 22 tuổi, tôi mù tịt về chính chị, chính em, Hiệp Định Genève có khoản hai năm sau ngày ký hai miền Nam Bắc Việt Nam sẽ thương lượng với nhau để thống nhất đất nước, nhưng tôi có linh tính chắc sẽ còn lâu lắm tôi mới lại được trở về Hà Nội.

Trong chính phủ đầu tiên của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm có vài ông bộ trưởng người của Cao Đài, Hoà Hảo. Ông Phạm Xuân Thái, Bộ Trưởng Bộ Thông Tin, ông Nguyễn Mạnh Bảo, Bộ Trưởng Bộ Xã Hội, là đại biểu của Cao Đài. Thế Phong và Huy Sơn là hai thư ký riêng của Bộ Trưởng Phạm Xuân Thái. Bắt chước hai bạn văn nghệ Thế Phong, Huy Sơn, tôi gọi ông Phạm Xuân Thái là anh.

Một buổi sáng đầu năm 1955 tôi đến Bộ Thông Tin đường Phan Đình Phùng. Người đến xin gặp ông Bộ Trưởng phải ngồi chờ ông Bộ Trưởng cho mời vào mới được vào, tôi vào phòng làm việc của Thế Phong, Huy Sơn ở ngay sau văn phòng của ông Bô Trưởng. Huy Sơn hé cửa nhìn vào thấy không có khách, bèn cho tôi vào gặp ông Bộâ Trưởng. Tôi nói tôi muốn về Hà Nội, khi trở vào Sài Gòn tôi sẽ viết một phóng sự về Hà Nội sau ngày Việt Minh tiếp thu, tôi xin ông Bộ Trưởng cho tôi vé máy bay để tôi bay về Hải Phòng.

Dễ thôi. Xong ngay. Không những chỉ có vé máy bay Hàng Không Việt Nam, tôi còn có Sự Vụ Lệnh của Bộ Thông Tin Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà phái đi công tác. Sau khi ký Hiệp Định Genève chỉ ba tháng sau là Việt Minh vào Hà Nội, nhưng quân đội Pháp và chính quyền Quốc Gia VN còn ở Hải Phòng đến 12 tháng sau mới rút đi. Từ Sài Gòn tôi bay về Hải Phòng, từ Hải Phòng tôi đi xe lửa sang Hà Nội. Dân Hải Phòng sang Hà Nội, và ngược lại, đi về chỉ cần có thẻ căn cước, không bên nào được ngăn cấm hay làm khó dân đi lại. Tôi về nhà chị tôi ở Hà Nội sống 15 ngày.

Khi trở về Hải Phòng tôi muốn được đi vào Nam như một người dân di cư. Lại cũng dễ thôi. Dễ đến nỗi trên đời này không có chuyện gì có thể dễ hơn: tôi ra Nhà Hát Lớn Hải Phòng ghi tên xin di cư vào Nam. Dân thường ghi tên có khi phải chờ cả năm, bẩy ngày mới đến lượt, tôi là bồ tèo nên đi ngay. Sáng hôm sau tôi trở lại Nhà Hát Lớn, cam-nhông nhà binh Pháp chở đám dân di cư sang phi trường, tôi lên phi cơ Dakota nhà binh Pháp cùng với đồng bào.

Khoảng ba, bốn giờ chiều tôi xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Đồng bào di cư được mời đến chỗ căng mấy cái lều vải làm văn phòng tiếp cư, làm giấy tờ, chờ xe đưa về trại tạm cư, tôi chờ lấy va-li rồi phăng phăng xách va-li đi ra cửa phi cảng.

“…Ông ơi…! Ông ơi..!” Nghe tiếng người gọi ơi ới, tôi dừng lại. Một thiếu nữ chắc chưa đến hai mươi tuổi – năm mươi năm qua tôi vẫn nhớ cô trẻ hơn hai mươi tuổi, cô mặc áo dài mầu hồng – chạy theo tôi. Cô vưà thở vừa nói:

— Ông ở máy bay di cư xuống, sao ông không đến lấy tiền? Ông có 700 đồng…

Cô đưa cho tôi 7 tờ giấy bạc 100 mới tinh chưa gấp nếp. Mỗi đầu người di cư, ông bà già, con nít, vưà đặt chân lên mặt đất miền Nam Tự Do là được cấp ngay 700 đồng bạc. Năm ấy mới ngoài hai mươi tuổi tôi còn rất thô lỗ, tôi cầm tiền rồi bỏ đi ngay, tôi không nhớ tôi có nói lời cám ơn cô nhân viên Ban Tiếp Cư hay không.

Cô đưa tiền cho tôi mà không bắt tôi ký nhận. Trong năm mươi năm trời, mỗi lần nhớ lại chuyện cũ tôi lại cảm khái thấy rằng năm 1954 đồng bào tôi lương thiện quá. Cô nhân viên có thể lấy 700 đồng bạc cứu trợ ấy mà không ai biết, nhưng cô đã tất tả chạy theo để đưa cho người di cư vừa mới đến. Chỉ cần một mình cô lương thiện, tôi thấy năm 1954 tất cả đồng bào tôi đều lương thiện.

Tôi viết phóng sự “Đường về Hà Nội Đỏ” đưa ông Bộ Trưởng Phạm Xuân Thái xem để ông thấy tôi làm đúng như lời tôi nói :”Về Hà Nội, trở vào viết phóng sự về Hà Nội Đỏ.” Ông bảo Huy Sơn gọi tôi đến Bộ gặp ông. Trong văn phòng ông tôi gặp Hồ Anh, chủ nhiệm nhật báo Ngôn Luận. Hồ Anh mua phóng sự “Đường về Hà Nội Đỏ”, chi ngay tác giả 3.000 đồng. Đấy là lần đầu tôi gặp Hồ Anh, giao tình giữa Hồ Anh và tôi, qua nửa thế kỷ, bền vững đến hôm nay.

Liêu lạc bi tiền sự..! Chi ly tiếu thử thân..! Sống ở nơi xa quê buồn nhớ những chuyện đã qua..! Lẩm cẩm tự cười mình..! Năm mươi năm sau ngày cầm 700 đồng tiền trợ cấp di cư ở phi trường Tân Sơn Nhất, tôi vẫn nhớ khuôn mặt thơ ngây của cô nhân viên Ban Tiếp Cư Phủ Đặc Ủy Di Cư, năm nay nếu cô còn sống trên cõi đời này – Tầm bậy. Tại sao lại “nếu”? – Năm nay cô mới Sáu Bó lẻ chừng hai, ba que. Chắc chắn cô không thể nhớ một buổi chiều đầu năm 1954, năm cô mười bẩy, mười tám tuổi, cô chạy theo một người dân miền Bắc di cư để đưa cho y số tiền cứu trợ đầu tiên của y. Cô không nhớ nhưng y nhớ.

Dù không được đi tầu há mồm, dù không được ăn ngủ trong Nhà Hát Lớn, dù không được tắm lộ thiên thoải mái, hợp pháp bên vòi nước máy công cộng giữa đường Tự Do Thủ Đô Sài Gòn như các ông văn nghệ sĩ lớn Y Vân, Duyên Anh, Đỗ Tiến Đức, Hà Huyền Chi… ít nhất tôi cũng được lãnh 700 đồng tiền trợ cấp di cư như các ông. Chứ bộ!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: