• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Vợ…, Tuyết Và Trương Phi

Trong giới văn nghệ sĩ Sài Gòn trước Ngày Mất Nước 30 Tháng Tư 1975 có hai vị khá nổi tiếng: Thế Phong và Hoàng Xuân Việt. Hai vị này hiện sống ở Sài Gòn.Thế Phong là thi sĩ, tác giả tập Thơ Nếu Anh Có Em Là Vợ, đã được xuất bản trước năm 1975. Năm 1996 Nếu Anh Có Em Là Vợ được tái bản, mời quí vị đọc bài viết về Tập Thơ của “Học giả” Hoàng Xuân Việt:

THẾ PHONG

(….) Nét đặc trưng trong Thơ Thế Phong còn là:

Làm cho người đọc bắt buộc phải liên tưởng đến những: Homère thần thoại và Virgile chiến đấu.
Có cả Socrate trái tim rướm máu nữa.
Cũng thấy chập chờn trong bóng chữ bờ trang.
Cả những hài kịch của Dante và Balzac: Thơ Thiêng thánh, Thơ nhân trần.
Lại thấy thấp thoáng kéo về những Shakespeare, Bạch Cư Dị với Racine.
Cũng có chút ít Nguyễn Du, Xuân Diệu và không thiếu Hàn Mặc Tử ở Lầu Ông Hoàng nào đó.
Một chút Cullers (Mỹ). Một chút Matute (Tây Ban Nha).
Tôi tâm đắc nhiều với Journal d’Extrême Orient (Báo Viễn Đông).
Rằng Thơ ở đây là mãnh liệt Cảm Xúc Đê Mê trong Nghệ Thuật.
Dữ dội Thể Xác và Ngất Ngư Linh Hồn.
Nhưng Thơ ở đây là Triết.
Nghĩa là Triết Thơ của Trái Tim.
Lại cũng thấy đôi chỗ nhuốm mầu Hướng Thượng của Hồn Linh.
Nếu được nuôi dưỡng thêm bằng sách Nhã Ca và Kim Cang.
Thì Tình Yêu sẽ đi vào cõi vĩnh hằng siêu thoát.
Bởi vì trong cầm bút cũng như trong yêu đương và mọi sự đời.
Quỹ thời gian càng hoàng hôn thì quỹ vĩnh hằng càng hừng sáng.
Thì ra lâu lắm tôi mới được đọc những trang Thơ có vấn đề.
Thâm tạ tác giả của Nếu anh có em là vợ
Người mà tôi thân quý trên trường văn trận ở cõi Việt Nam này.

Học giả Hoàng Xuân Việt
6-1-96

(Ngày được tác giả đề tặng Thơ Nếu Anh Có Em Là Vợ tái bản.)

Kính thưa chư quí vị độc giả sống lưu vong, thất quốc, thất thổ, thất tình, thất đủ thứ ở những xứ người ta khắp chín phương trời, mười phương đất cõi hải ngoại thương ca ta bà xa xứ…

Kính thưa liệt vị nữ độc giả Thơm Như Múi Mít tuổi đời năm nay từ Bốn Bó đến Tám Bó…

Quí vị vừa đọc một đoạn trong bài của Học Giả Hoàng Xuân Việt viết về tập Thơ “Nếu Anh Có Em là Vợ” của Nhà Thơ Thế Phong. Thi phẩm “Nếu Anh có Em là Vợ” của Nhà Thơ Thế Phong xuất bản ở Sài Gòn vào khoảng những năm 1960, hay năm 1965, tôi xin lỗi vì tôi không nhớ sự kiện văn học sử lớn ấy xẩy ra đúng vào năm nào trong đời tôi. Tôi xin lỗi nhưng mà hình như năm xưa, khi Thi phẩm Nếu Anh có Em là Vợ ra đời ở Sài Gòn, không phải chỉ có một mình tôi là kẻ ngu si không biết giá trị của Thi phẩm, hình như năm ấy ở Sài Gòn có nhiều người cũng không biết gì về Thi phẩm như tôi.

Thế rồi sau cuộc biển dâu trời long, đất nghiêng, người té ngửa, đến năm 1996 Thi phẩm được tái bản. Nếu Anh có Em là Vợ không tái bản ở Cali, không tái bản ở Paris, mà tái bản ở Sài Gòn. Dzậy mới là hách chứ. Thơ Tình Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa mà được in lại ở những nước Âu Mỹ thì có gì đáng nói. Bọn Cộng Sản rất thù ghét Thơ Tình, với chúng Thơ là phải ca tụng Đảng, phải nâng bi Lãnh Tụ Sít-ta-lin, phải vuốt râu, soa đầu Hồ chủ tịt, nhưng dù ngoan cố đến mấy bọn cộng sản cũng phải nhìn nhận giá trị Thơ Tình Thế Phong, đến năm 1996 chúng phải để tập Thơ Nếu Anh có Em là Vợ của Thế Phong tái bản ở Sài Gòn.

Ngày lịch sử văn học 6 Tháng 1, năm 1996, tại Sài Gòn, Nhà Thơ tặng Thi phẩm cho Học giả, và Học giả viết bài nhận định về Thi phẩm, bài nhận định ấy tôi vừa gõ máy chép lại và quí vị vừa đọc. Tôi có hân hạnh được Nhà Thơ Thế Phong gửi cho Thi phẩm. Đêm qua trời Virginia không chớp biển cũng chẳng mưa nguồn chi ráo trọi, tôi nằm buồn mở tập Thơ Nếu Anh có Em là Vợ ra đọc, tôi tá hỏa tam tinh vì những lời của Học giả Hoàng Xuân Việt viết về tập Thơ. Tôi bàng hoàng vì Thi phẩm ngời ngời giá trị văn học, vàng ròng óng ánh từng trang, kim cang lấp lánh từng giòng, bảo ngọc lòng thòng từng chữ, thơ ý lử khử từng lời… như dzậy mà tôi chẳng biết cái khỉ khô, khỉ mốc, khỉ cùi gì cả. Tôi ngu quá đi thôi. Tôi kính cẩn đọc bài viết của Học giả và càng đọc, càng suy nghĩ tôi càng thấy tôi ngu: Nhờ Học giả chỉ cho tôi mới biết trong Nếu Anh có Em là Vợ có những ông Homère, Virgile, Socrate…! Nhưng mà…Mèn ơi..! Tôi có biết những ông ấy là những ông nào đâu! “Một chút Cullers (Mỹ)” thì tôi biết mang máng, không chắc là đúng, là bà Văn sĩ Carson McCullers, nhưng nhân vật Matute, không biết là ông hay bà, trong “Một chút Matute (Tây Ban Nha”) thì tôi mù tịt hai chăm phần chăm; không những tôi chỉ không biết Matute là ai, là ông hay bà, tôi còn chưa bao giờ nghe nói đến cái tên Matute. Chuyện nhân vật Matute là ông hay bà chắc tôi phải kính hỏi ông Nhà Văn kiêm Nhà Biên Khảo Nguyễn Quốc Trụ, hỏi cho chắc ăn, bất sỉ thượng vấn, lỡ ra Matute là bà mà tôi không biết tôi gọi là ông, để rồi bị ông Nguyễn Quốc Tru lâu lâu ông ý buồn, ông ý móc ra, bị ổng ghét thì ổng chửi là ngu, được ổng thương thì bị ổng riễu, ổng chọc quê! Dại gì!

Vì kính cẩn nên tôi chép nguyên văn bài viết về tập Nếu Anh Có Em Là Vợ của Học giả Hoàng Xuân Việt, chép đúng từng dấu chấm, dấu phết, kể cả dấu phẩy. Tôi không hiểu Học giả muốn nói gì trong câu “Cũng thấy chập chờn trong bóng chữ bờ trang.” Nhưng tôi không hiểu là tại tôi ngu, không phải là tại Học giả viết tối om như hũ nút. Hai nữa, tôi có bổn phận phải biết rằng những vị Học giả ở cõi đời này có cái đặc quyền viết mà người đọc không hiểu gì cả, nhiều Học giả cố ý viết để người đọc chúng sanh bá tánh ngu dốt đọc không hiểu. Lại như câu “Người mà tôi thân quý trên trường văn trận ở cõi Việt Nam này” thì theo sự suy nghĩ ngu muội của tôi, tôi chắc Học giả viết thiếu chữ “bút”: trường văn, trận bút. Nhưng vì lòng tôn kính Học giả, vì giá trị Nhất Tự Thiên Kim của bài viết, tôi không dám cho thêm dzô tiếng “bút”.

Những lời Học giả Hoàng Xuân Việt viết về Thi phẩm Nếu Anh có Em là Vợ của Thi Hào Thế Phong ngoài việc làm tôi bàng hoàng còn làm tôi hối hận quá chời, quá đất. Tôi hối hận là vì tôi cứ hỗn xược mày, tao với Thi Hào Thế Phong. Người tài hoa cao vợi như Thi Hào gọi tôi là mày, xưng là tao thì đúng, thì được, nhưng tôi thì tôi không thể nhâng nháo mày, tao với Thi Hào. Tôi mày, tao với Thi Hào là tôi hỗn, là tôi có tội với Văn Học, Văn Học viết Hoa hai chữ V, H.

Nhân chuyện Học giả Hoàng Xuân Việt viết bốc thơm Thi hào Thế Phong, qua việc bốc thơm Học giả tự khoe những hiểu biết của ông, tôi nhớ đến vài ông Việt Nam mang danh hiệu “Học giả” hiện nay ở Mỹ. Danh hiệu lúc đầu được người khác, người khác đây là bạn hữu của các vị, phong cho các vị, tất cả các vị được phong đều nhận và sau đó tự xưng là Học giả. Chẳng hạn như Học giả Trần Ngọc Ninh, một ông trong ban chủ trương Viện Việt Học ở Cali, Kỳ Hoa, tác giả tác phẩm Tuyết Xưa Viết Cho Văn Hóa mới xuất bản.

Trước năm 1975, tất nhiên là trước năm 1975 tôi sống ở Sài Gòn, nên tôi không cần phải viết “Trước năm 1975 ở Sài Gòn.”, tôi đọc một bài biên khảo của ông Trần Ngọc Ninh, trong bài có đoạn ông viết “lúa Chiêm là giống lúa của người Chiêm.” Đại khái là nước ta ngày xưa không có lúa chiêm, đời Lý ông cha ta đi đánh Chiêm Thành, thấy nước này có giống lúa, đem về trồng và do đó gọi giống lúa đó là Lúa Chiêm. Mới đây khi viết về tiếng “Vâm”, tiếng gọi con “Voi” của người Hà Tĩnh, trong tác phẩm Tuyết Xưa của Học giả Trần Ngọc Ninh, tôi nhắc đến chuyện Lúa Chiêm. Bài viết của tôi đăng trên Nguyệt San CON ONG xuất bản ở Houston, Texas. Và…

Tháng Bẩy 2005, Chủ nhiệm CON ONG Phạm Thông nhận được một thư như sau:

Houston 14/7/05.

Thưa ông Chủ nhiệm,

Vì không biết số phone và địa chỉ của ông Công Tử Hà Đông và ông Trần Ngọc Ninh, tác giả cuốn “Tuyết Xưa” nên tôi không sao hỏi được rõ thêm về chuyện ông Trần Ngọc Ninh gọi “Lúa Chiêm là giống lúa của Chiêm Thành.” Tôi tìm kỹ trong “Tuyết Xưa” nhưng không thấy những điều ông CTHĐ viết ông Trần Ngọc Ninh đã viết như thế.

Đây là một khám phá mới lạ tôi mới nghe lần đầu. Xin ông Chủ nhiệm giúp tôi hỏi ông TN Ninh và ông CTH Đông xem sự thật nó ra thế nào, để cho tôi được học hỏi thêm.

Tôi nghĩ ta nên đề nghị ông TN Ninh viết cho chúng ta một bài với đề tài LÚA CHIÊM THÀNH. Bằng không tôi sẽ viết bài phản bác, mặc dù sự học của tôi rất nghèo nàn nhưng tôi cứ nói thật “lúa Chiêm mà gọi là giống lúa Chiêm Thành” thì đến “Nguyễn Cao Kỳ” nó cũng không nghe lọt tai đâu.

Xin đa tạ và mong sớm có trả lời của cả hai ngài TN Ninh và CTH Đông

Một độc giả trung thành của CON ONG.

CAO HỒNG LÊ

Để quí vị độc giả biết rõ về chuyện Lúa Chiêm, tôi đăng lại ở đây một đoạn trong bài Viết ở Rừng Phong, CON ONG Số 169.

Tôi vẫn nghe nói câu “khỏe như vâm”, tôi cũng thường nói “khỏe như vâm” nhưng tôi không viết “Vâm” là con vật gì. Mới đây đọc “Tuyết Xưa” của tác giả Trần Ngọc Ninh tôi mới biết “vâm” là “voi”. “Vâm” tiếng gọi con voi của người Hà Tĩnh. “Khỏe như vâm” là “khỏe như voi.” Từ bao năm tôi vẫn nghe nói, tôi vẫn nói “lúa chiêm, gạo chiêm” nhưng nếu có ai hỏi “Tại sao lại gọi là lúa chiêm, gạo chiêm?” tôi không trả lời được. Cũng nhờ ông Trần Ngọc Ninh tôi được biết “lúa chiêm” là giống lúa của người Chiêm Thành, là giống lúa, mùa lúa của người Chiêm, trồng theo thời vụ và cách thức của người Chiêm. Trước đời Lý nước ta không có lúa chiếm, vụ chiêm, từ đời nhà Lý ông cha ta vào chiếm đất Chiêm Thành mới biết cách trồng lúa của người Chiêm, nên từ đó ta gọi mùa lúa đó là vụ chiêm, thứ gạo đó là gạo chiêm.

Xin viết ngay: những chuyện linh tinh tôi kể lại ở đây có thể có chuyện không đúng. Tình thật, tôi thấy trên sách thế nào, tôi chép lại như thế, tôi không bịa ra chuyện chuyện này.
Chuyện “lúa chiêm, gạo chiêm” không có trong “Tuyết Xưa” của ông Trần Ngọc Ninh. Tôi đã cẩn thận viết: “những chuyện linh tinh tôi kể có thể có chuyện không đúng, tôi đọc thấy trong sách thế nào, tôi chép lại như thế.”

Vậy xin thưa với ông Cao Hồng Lê,

Cám ơn ông đã đọc bài viết của tôi và cho biết ý kiến của ông. Theo tôi nghĩ, ông không cần phải đợi ông Trần Ngọc Ninh viết về chuyện Lúa Chiêm, xin ông cho quí vị độc giả, và chúng tôi, được biết sự thật về Lúa Chiêm theo như ông biết.

Rất mong được đọc bài của ông.

Kính thư

Công Tử Hà Đông.

Mời quí vị đọc vài đoạn trong “Tuyết Xưa” của Học giả Trần Ngọc Ninh. Trong một bài Viết ở Rừng Phong trước đây tôi đã trích đoạn này. Vì sự liên lạc của bài viết, tôi đăng lại:

Mời quí vị đọc đoạn tả cảnh một ông Việt Nam lần thứ nhất thấy Tuyết:

TUYẾT XƯA. Tác giả Trần Ngọc Ninh. Khởi Hành xuất bản, Hoa Kỳ năm 2002. Trang 31.

Lần đầu tiên thấy tuyết là tại một thửa vườn trong một căn phòng thuê của học trò, ở ngoại ô một tỉnh miền đông-nam nước Pháp. Đang ngồi đọc sách, ngẩng đầu lên nhìn xem ánh nắng nhạt của mặt trời đã lên đến đầu tường chưa để mặc áo ra ngoài đón xe công cộng đi bệnh viện, thì thấy trên nền trời xám, mơ hồ như có những nắm bông gòn trắng nho-nhỏ phất phới lửng lơ trước gió, lâng-lâng như thể trọng-lực đã rời mặt đất. Người trong cửa sững sờ, ngoài khung cửa những túm bông tơ chập chờn đùa rỡn. Bỗng lóe lên một ánh sáng trong óc: Tuyết! Đúng Tuyết, Tuyết đầu, Tuyết mới, Tuyết nguyên trinh. Cả một trời kí-ức văn-chương sáng rực lên: Kinh Thi, Nguyễn Du, Anatole France, Hemingway, Bạch Cư Dị, Byron, Basho, Đoàn Thị Điểm, Rimbaud, Heine, Goethe, Đỗ Phủ. Rồn-rập. Loạn-xạ. Thanh-khiết. Nhất-nguyên. Đẹp và trong vắt.
Tôi đã ở ngoài vườn không biết lúc nào. Mặt ngửng lên trời cho tuyết vuốt má. Tay ngửa ra trước mặt để xin tuyết đậu trong lòng bàn. Miệng há ra để hớp tuyết. Màu tuyết thanh. Vị tuyết trong. Hương tuyết mát. Hình tuyết thơm. Bông tuyết như không thể chất, mát lạnh, nhẹ-nhàng, mảnh mai, trống rỗng, mềm mại, trinh-nguyên, một cảm tưởng mới tinh, một đạo-đức chỉ có một và tự đầy đủ.

Vài năm nay thấy có người gọi tác giả Trần Ngọc Ninh là “học giả”. Cũng đúng thôi. Khi những người viết vài bài báo nhách, những người làm dăm bài thơ nhép, được gọi là “nhà văn, nhà thơ” thì những người viết những tác phẩm văn học lớn như các “nhà biên khảo” Trần Ngọc Ninh, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Ngọc Phách..” lên hàng “học giả” là chuyện tự nhiên. Những anh dân xứ Đông Dương không bao giờ có tuyết may mắn đến được nước Pháp, lần thứ nhất thấy tuyết, xúc động, cảm khái. Đó là chuyện tất nhiên. Nhưng những anh dân Indochinois tầm thường đến nước Pháp khi thấy tuyết chỉ xúc động, chỉ ngẩn ngơ năm, bẩy phút rồi thôi, phải là người Indochinois có tâm hồn thơ mộng, có học, có đọc, có biết nhiều về văn học, khi lần đầu thấy tuyết mới nghĩ đến, nhớ đến một lô những nhân vật mà đại đa số những anh Indochinois không biết là ai cả.

Kể cũng tội nghiệp cho những ông Nguyễn Du, Anatole France, Bạch Cư Dị, Hemingway, Heine, Byron, Rimbaud, bà Đoàn Thị Điểm..11 vị tất cả..bị Trần Học giả trong phút dây đầu thấy Tuyết, nhớ đến..Rồn-rập..Loạn-xạ..Ông nọ đụng vào đít bà kia..Ra dzô..Rắc.. rắc…Thật tội! Trong số những nhân vật văn học được Học giả thấy Tuyết mà nhớ đến chỉ thiếu có Nữõ sĩ Hồ Xuân Hương! Lại thấy tội nghiệp cho bà Đoàn Thị Điểm, bị đẩy vào một đám những ông Tây lạ hoắc, bà sẽ bối rối biết chừng bao khi những ông Tây đó ôm bà, đòi hôn má bà, hôn tay bà.

Nhưng nghiêm chỉnh mà nói lần đầu thấy tuyết trên đất Pháp, người ta có xúc động nhiều lắm cũng chỉ trong vài phút, làm ký gì mà nhớ đến cả chục danh nhân như thế. Kể như thế là khoe khoang cái biết, cái đọc rộng của mình. Việc tự khoe thường làm cho người tự khoe trở thành lố bịch. Quân tử Tây có câu “Le ridicule tue..” Sự lố bịch làm chết người ta. Trần Học giả chắc phải biết câu đó chứ. Tại sao ông lại tự làm cho ông lố bịch khi ông tự khoe như thế, và tại sao Viên Học giả, tức ông Viên Linh, người chủ trương Nhà Xuất Bản Khởi Hành, lại không tỉa bớt những hoa lá cành lố bịch ấy cho Trần Học giả?

Đúng ra tôi không nên dại mà “xét” văn của Trần Học giả, nhưng vì tôi vừa trích văn ông, tôi phải viết đôi chút về văn ông cho phải lẽ. Ra cái điều tôi có đọc Tuyết Xưa của ông. Ông viết “..lần đầu tiên thấy tuyết là tại một thửa vườn trong một căn phòng thuê của học trò..” tôi thấy hình như hơi tối nghĩa: làm sao “một thửa vườn” lại có thể ở “trong một căn phòng”? Phải chăng Học giả viết thiếu ba tiếng “khi tôi ở..?” Phải chăng Học giả phải viết là “..lần đầu tiên thấy tuyết là tại một thửa vườn khi tôi ở trong một căn phòng thuê của học trò..” Học giả viết: “Tay ngửa ra trước mặt để xin tuyết đậu trong lòng bàn.” Lòng bàn gì? Chắc không phải là “lòng bàn tọa”, vì nếu muốn cho tuyết rơi vào “lòng bàn tọa”, Học giả phải chổng mông chứ không “tay ngửa ra trước mặt.” Phải chăng là “lòng bàn tay?” Học giả cố ý viết “lòng bàn” hay “lòng bàn” thiếu tiếng “tay” mà học giả không xoát kỹ bản thảo, học giả không thấy thiếu?

Lỗi nhỏ thôi, nhưng lỗi nhỏ cũng là lỗi. Tác giả tầm thường có thể viết có lỗi nhưng học giả viết sách văn học thì không nên để tác phẩm văn học có lỗi, dù là lỗi nhỏ. “Hương tuyết mát. Hình tuyết thơm” Học giả “chơi chữ kiểu Thiền Cao Cấp Người Đời Nghe Ù Tai Điếc Con Ráy Mà Hiểu Thì Mù Tịt” chăng? “Hương tuyết mát. Hình tuyết thơm?” Dáng tuyết ngọt? Bóng tuyết nhuyễn? Có thể lắm. Trong Tuyết Xưa Viết về Văn Hóa dường như có vài đoạn Học giả viết không cẩn thận chi cho mấy. Như:

TUYẾT XƯA. Trang 35.

Trích: Villon đã đặt câu hỏi với Đức Mẹ đồng-trinh:
Thánh Mẹ Đồng Trinh, họ còn đâu?
Nhưng các tuyết xưa, nay ở nao?
Où sont-ils, où, Vierge souv’raine?
Mais où sont les neiges d’antan?
(F. Villon – Ballade des Dames du Temps Jadis)

Chớ chi Học giả cho bốn tiếng “Thánh Mẫu Đồng Trinh” có phải là bọn bá tánh bình dân ít học ngu dốt chúng tôi dễ nghe hơn không? “Thánh Mẹ Đồng Trinh”, nửa Hán, nửa Nôm nghe kỳ quá! Lại còn “Nhưng các tuyết xưa, nay ở nao..” Tây thật là Tây. Phải là người Tây du, Tây học cùng mình mới có thể viết được câu văn Việt Nam sặc mùi Tây như thế.

Khởi Hành là nhà xuất bản văn học lớn do Học giả Viên Linh chủ trương. Viên Học giả bận gì, Viên Học giả đi đâu mà không sửa dùm tiếng “Thánh Mẹ” cho Trần Học giả?

Tuyết Xưa, trang 251:

Nhất ông ném cát
Nhì ông tát bể
Ba ông kể sao
Bốn ông đào sông…
(….)
Tuyết Xưa, trang 272:
Nhất, Ông đếm cát
Nhì, Ông tát bể
Ba, Ông kể sao
Bốn, Ông đào sông
(……)

“Ném cát” và “Đếm cát” khác nhau xa. Cùng trong một bài gọi là biên khảo văn học lại càng không thể có những cái lỗi như thế. Tác giả không đọc, không sửa bài viết của mình, mong gì có người đọc.

Tuyết Xưa, trang 21:

Chaucer đi chẩy hội trên những đường đất nện…

Tuyết Xưa, trang 28:

Muốn ra khỏi được tình trạng ao tù trí thức ấy mà vẫn cố giữ một giọng chịch thượng đi đôi với một quan niệm hủ lậu…

Tuyết Xưa, trang 114:

…khi Mã Viện chu diệt hết các cừ-soái và dân-chúng theo cuộc khởi nghĩa của Trưng Trắc, Trưng Nhị…

Em nhỏ Việt Nam lên ba cũng biết phải viết là “trẩy hội, trịch thượng, tru diệt”, viết “chẩy hội, chịch thượng, chu diệt” là sai chính tả, lỗi bét nhất trong văn phạm. Còn nhiều chữ nữa như “tru di ” Học giả viết là “chu di,” “chung thủy” viết là “trung thủy.”. Không lẽ Học giả viết sai chính tả? Hay là Học giả viết đúng, toàn dân Việt từ ngày nào đến giờ viết sai những chữ ấy?
Chính tả viết còn sai, ai tin được những lời bàn hươu, tán vượn về những chuyện trên trời, dưới biển của người viết sai chính tả!

Tuyết Xưa, trang 106:

Thày Đồ dậy học ở nhà, Thày ngồi trên giường (phản); giường, phản gỗ, kê trên hai cái mễ.

Thưa Học giả, theo tôi biết thì giường là giường, phản là phản, hai cái ấy khác nhau. Giường có những thanh gỗ gọi là “dát giường”, hay “giát giường”, phản là hai tấm gỗ, có khi ba tấm, ráp lại. Người Nam có bộ ván gõ. Còn một vật bằng gỗ để ngồi, để nằm nữa là cái sập, ngày xưa những nhà phú hào Bắc kỳ thường có một bộ sập gụ, tủ chè, hoành phi, câu đối. Ngày nào tái bản Tuyết Xưa Viết về Văn Hóa, xin Học giả sửa dùm, còn nếu tôi viết sai, cái giường với cái phản là một, xin Học giả viết lên Khởi Hành cho chúng tôi được biết.

Tuyết Xưa có đến 3, 4 trang viết về chuyện “nước Việt Nam có tuyết,”, tác giả quả quyết nước Việt Nam có tuyết, ông dẫn chứng việc có tuyết ở Việt Nam bằng mấy bài thơ. Như thế này:

Tuyết Xưa, trang 29, 30.

Không xa Thăng Long lắm, thiền-sư Dương Không Lộ (?-1119), còn có bài thơ Ngư Nhàn, vịnh một ông chài với một con thuyền ngập tuyết đậu dưới bến:

Vạn lí thanh giang, vạn lí thiên,
Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên.
Ngư ông thụy trước vô nhân hoán,
Quá ngọ tinh lai tuyết mãn thuyền.
Dương Không Lộ (?-1119)
Bát ngát sông xanh, bát ngát trời.
Một thôn mây khói, một dâu gai.
Ông chài ngủ tít không người gọi,
Tỉnh dậy thuyền trưa ngập tuyết rơi.

Ngọc Liên dịch

Cách ta chỉ mới trên dưới hai trăm năm, một buổi sáng thu lạnh, có lẽ ở Thành Nam vùng Thái-Bình, Nam-Định, một mình trên một cái gác con nhìn ra ngoài, Nguyễn Du thấy khắp thôn xóm, đầy một trời tuyết. Vẳng nghe từ xa tiếng tù-và rạng đông vẳng lại, sự buồn thật là man mác, mông mênh:

THU CHÍ

Tứ thì hảo cảnh vô đa nhật,
Phao trịch như thoa hoán bất hồi.
Thiên lí xích thân vi khách cửu,
Nhất đình hoàng diệp tống thu lai.
Liêm thùy tiểu các tây phong động,
Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai.
Trù trướng lưu quang thôi bạch phát,
Nhất sinh u tứ vị tằng khai.
(Thanh Hiên Thi Tập, 14)

THU ĐẾN
Cảnh đẹp quanh năm được mấy ngày,
Thời gian vun vút cánh chim bay.
Dặm ngàn đất khách, thân cô độc,
Thu đến trên sân, lá rụng đầy.
Ngọn gió lay rèm căn gác hẹp,
Tiếng còi rúc tuyết xóm ban mai.
Thoi đưa thấm thoát đầu pha bạc,
U uất lòng riêng mãi khó khuây.

Chi Điền Hoàng Duy Từ dịch.

Ai nói rằng Việt Nam không có tuyết? Ai nói rằng thi nhân Việt Nam không thực?

Và Học giả Viên Linh, người chủ trương Nhà Xuất Bản Khởi Hành và Tạp chí Khởi Hành, ủng hộ Nghị Quyết Việt Nam Có Tuyết của Học giả Trần Ngọc Ninh, viết về chuyện ấy như sau:

KHỞI HÀNH. Số 77, Tháng 3, 2003. Việt Nam tuyết không chỉ rơi trong Thơ. Thi sĩ nói là có thật.

Trong văn chương Việt Nam xưa nay vẫn có những bài thơ về tuyết. Có một số người cho rằng các thi sĩ của ta bắt chước Tầu hay Tây chứ Việt Nam làm gì có tuyết mà cứ làm thơ tuyết rơi, cũng như thời nay sao cứ làm thơ về sa trường với lại áo bào, gươm báu.

Trong tác phẩm Tuyết Xưa của Giáo sư Trần Ngọc Ninh do Khởi Hành mới xuất bản, ngay dòng đầu ông viết: “Tuyết là một danh từ mà một giới văn phiệt xuất hiện sau những ngày hồi hộp lo âu trong những năm đầu 30 của thế kỉ, đã kêu gọi đuổi ra khỏi trường văn gọi là mới của Việt Nam. Tuyết bị thanhh trừng và đẩy ra ngoài cõi thi văn Việt Nam lúc đó vì một lí do rẻ tiền cũng có mầu yêu nước là “thơ Đường chính hiệu nói đến tuyết thì đúng, còn thơ ta nói đến tuyết thì chỉ là theo đuôi sáo sậu, sí sọ từ chương, vì nước Việt Nam chỉ có nắng với mưa, lấy đâu ra tuyết?” (trang 27)

Ở trang sau ông viết tiếp: “lúc đọc những lời hô hào đầy nhiệt tình sô vanh chủ nghĩa này, tôi cũng thấy xôi lên một bầu nhiệt huyết của tuổi mười lăm, mười tám. Đúng lắm, phải quét hết tuyết ra khỏi vườn thơ của nước ta! Không những phải loại cho đến bông tuyết cuối cùng, có lẽ phải đốt hết thơ đường luật và gột sạch các điển tích ra ngoài văn thơ Việt Nam thì mới hả được cái hận dân tộc trong người mình. Thế nhưng chỉ vài năm sau thì tôi mới biết được rằng ở Lạng Sơn và Chapa có mưa tuyết..”(trang 28)

Nghĩa là Việt Nam họa hoằn cũng có tuyết rơi ở miền cao. Họa hoằn, có khi cả chục năm mới có, chứ không phải không bao giờ có.

Mới đây, vào ngày mồng 7 tháng Giêng, tuyết đã rơi ở Lạng Sơn, Lào Kai, Hà Giang và Chapa, dầy từ khoảng 2 cm tới 5 cm. Báo trong nước viết:
(…..)
Tại Sapa, nhiệt độ xuống tới 3 độ C. Tuyết cũng rơi ở Mẫu Sơn, Lạng Sơn. Như thế là có tuyết nhé. Và tuyết trong thơ không phải là không đúng. Cũng vậy, rồi thế nào cũng có sa trường và gươm báu vung lên cho mà xem.

Xin nhị vị Trần Học giả, Viên Học giả cho phép tôi được nói đôi lời: Theo ý ngu của tôi thì “họa hoằn, thôi thì cứ rộng rãiù cho là cả chục năm có một lần có tuyết đi..” hình như ta cũng không thể phom phom nói như thế là nước Việt Nam ta có tuyết. Cho dù mùa đông năm nào các đỉnh núi ở Lạng Sơn, ở Chapa, cũng có tuyết, tôi tưởng ta cũng không thể nói là nước Việt Nam có tuyết, mà ta phải nói là “nước Việt Nam có tuyết ở Lạng Sơn, ở Chapa.” Chuyện đáng nói là tác giả Tuyết Xưa đưa ra 2 bài thơ trong có nói đến Tuyết của Thiền sư Dương Không Lộ, và của Thi sĩ Nguyễn Du, và chỉ căn cứ trên có 2 bài thơ ấy thôi, ông quả quyết rằng nước Việt Nam – trước đây – có tuyết.

Và để ủng hộ Nghị Quyết Việt Nam có Tuyết của Trần Học giả, Viên Học giả viết như sau:

Tại Sapa, nhiệt độ xuống tới 3 độ C. Tuyết cũng rơi ở Mẫu Sơn, Lạng Sơn. Như thế là có tuyết nhé. Và tuyết trong thơ không phải là không đúng. Cũng vậy, rồi thế nào cũng có sa trường và gươm báu vung lên cho mà xem.

“…thế nào rồi cũng có sa trường và gươm báu vung lên cho mà xem..” Chắc Viên Học giả muốn nói đến tình trạng ” khi trong xã hội có Hiền Giả, tức Người Hiền, Người Khôn, nói lên một chuyện Hay, đưa ra một lý thuyết Đúng, bọn ngu si thường nhao nhao ngao ngao lên phản bác.” Như khi Học giả Trần Ngọc Ninh xác quyết “nước Việt Nam có Tuyết”, Viên Học giả biết trước bọn người Việt ngu si sẽ lằng nhằng cãi chầy, lây nhây cãi cối là nước Việt Nam làm gì có tuyết, nói nước Việt Nam có tuyết là nói nhảm. Nhưng hình như sau khi Tuyết Xưa in ra không thấy có sự phản bác nào từ phía bọn ngu si. Không biết bọn ngu si không có phản ứng là vì họ thấy Trần Học giả nói đúng quá, không anh nào, kể cả những anh bạo phổi liều mang nhất, dám lép nhép cãi, nên cả bọn ngậm miệng im như thóc, hay là dù ngu si họ cũng biết lập luận ấy nhảm nhí quá, không đáng để họ lên tiếng. Nhưng…

“…Như thế là có tuyết nhé..” Chỉ cần một lời ngắn gọn thế thôi là “vấn đề nước Việt Nam có tuyết hay không có tuyết” đã được giải quyết xong, thỏa đáng, trọn vẹn, là tất cả mọi người Việt Nam phải nhận rằng nước Việt Nam có tuyết..!!! Như thế có giản dị quá không, thưa nhị vị Học giả? Nhưng mà…nhờ hai vị tí. “Viết về Văn Học” mà các vị phán quyết dễ dàng, nhẹ nhàng, tỉnh queo với đầy đủ thẩm quyền tự phong như thế thì bỏ mẹ đám người Việt đời sau.

Đến đây chắc quí vị thấy chúng ta nói đến chuyện Tuyết Xưa, Tuyết Nay như thế là đã đủ, trang báo còn phải để dành cho quảng cáo, nên để – nói theo ngôn ngữ những nữ ca sĩ Phòng Trà Sài Gòn những năm 1960 Thế Kỷ Hai Mươi: “….để thay đổi không khí..” Dù rằng các nàng có thể làm được nhiều việc nhưng việc “thay đổi không khí” thì các nàng không làm được, nhưng đêm đêm, trước micro, trong những Vũ Trường đèn mờ, những Phòng Trà Sài Gòn Xanh Xưa, các nàng cứ nói các nàng “thay đổi không khí.” . Vậy “để thay đổi không khí,” mời quí vị đọc:

CA DAO, TỤC NGỮ, tinh hoa dân Việt. Tác giả Nguyễn Xuân Quang. Y Học Thường Thức xuất bản năm 2003. Trang 335.

Trong Tam Quốc Chí có một nhân vật Trương Phi nổi tiếng rất trực tính, tính tình nóng nẩy, ruột “thẳng như ruột ngựa”, hay tức giận, đầy nhiệt huyết. “gan dạ”, “can trường”…Những người đau bao tử cũng thẳng tính, khí khái, hay tức giận, nóng tính, “có lòng, có dạ” như Trương Phi. Cuối đời, Trương Phi tức giận với kẻ thù, hét lên một tiếng lớn, hộc máu ra rồi rơi xuống ngựa mà chết. Trương Phi chết đúng như dân dã thường nói “tức hộïc máu mồm ra mà chết”. Trương Phi hộc máu mồm là mửa ra máu vì tức quá đến đứt ruột, lủng bao tử chứ không phải thổ huyết vì bệnh lao. Trương Phi mặt mày hồng hào, đỏ như son, là dũng tướng, khỏe mạnh không hề có triệu chứng nào về ho lao cả. Một thí dụ rất điển hình nữa là truyện tình trái ngang Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài đã làm say đắm giới mộ điệu cải lương. Hai người yêu nhau, khi Lương Sơn Bá đi lấy vợ, nàng Chúc Anh Đài ốm tương tư, “rầu thối ruột”, ói máu ra mà chết. Coi tuồng cải lương không thấy Chúc Anh Đài ho hen gì cả, nàng không có triệu chứng ho lao nên không chết vì thổ huyết do bệnh lao mà chết vì “rầu thúi ruột”, lủng bao tử mà chết.

Ông Nguyễn Xuân Quang là một Học giả-Tác Giả Biên Khảo tài năng, danh tiếng ngang với Học giả Trần Ngọc Ninh, ông là tác giả nhiều bộ sách khảo luận văn hóa rất có giá trị. Nhưng mà tôi xin phép được théc méc khi tôi thấy Học giả phom phom kể chuyện Trương Phi mặt đỏ như son, chết vì tức hộc máu ra mà chết! Học giả viết: “Trong Tam Quốc Chí có một nhân vật Trương Phi nổi tiếng…” Vậy thì cái ông Trương Phi mặt đỏ chết vì hộc máu trong CA DAO TỤC NGỮ là ông Trương Phi Tam Quốc Chí. Nhưng..

..phiền một nỗi là em nhỏ Việt Nam lên ba nào cũng biết Trương Phi mặt đen, Lưu Bị mặt trắng, Quan Vũ mặt đỏ, và trong TAM QUỐC CHÍ của La Quán Trung, trường hợp Trương Phi chết như sau:

TAM QUỐC CHÍ. La Quán Trung. Bản dịch Tử Vi Lang. Hồi 81: Nóng thù anh, Trương Phi bị ám hại. Rửa thù em, Tiên Chúa khởi hùng binh.

Trương Phi ở Lãng Trung, từ hôm nghe tin Quan Công bị Đông Ngô giết, thì cứ gào khóc suốt ngày, máu trào theo nước mắt, đầm khăn, đỏ áo. Các Tướng cố khuyên giải nhưng không được, phải đem rượu ra mời uống cho khuây. Nào ngờ rượu say, Phi càng giận dữ hung hăng, tướng sĩ phạm lỗi là bị đánh đập tàn nhẫn. Có người bị đòn mà chết. Ngày ngày Phi cứ chạy ra ngoài, phùng mang, trợn mắt nhìn sang phương nam, giậm chân, đấm ngực, nghiến răng ken két, rồi lại ôm mặt khóc rống lên rất thảm thiết. Hôm ấy sứ giả đến, đọc chiếu chỉ, Phi cúi nhận chức tước, trông về hướng bắc lậy tạ ơn, rồi mở tiệc khoản đãi. Rượu chưa cạn chén, Phi đã hỏi sứ giả:

— Anh Hai ta bị hại, mối thù sâu tựa biển, sao các quan không sớm xin Hoàng thượng khởi binh, còn đợi đến bao giờ?

Sứ giả nói:

— Có nhiều vị khuyên Thánh thượng diệt Ngụy trước, diệt Ngô sau.

Phi tức giận:

— Thế là thế nào? Ba anh em ta kết nghĩa Vườn Đào, thề cùng sống chết. Nay anh Hai ta nửa đường lâm nạn, ta lẽ nào ngồi hưởng giầu sang? Ta phải về bệ kiến Thiên tử, xin làm Tiền Bộ Tiên Phong, toàn quân mặc đồ tang, kéo sangđánh Ngô, bắt sống quân nghịch tặc, moi gan, chặt đầu chúng để tế anh hồn anh ta.
(….)
Tiên chúa nghe Khổng Minh can gián, lòng vừa nguôi nguôi, bỗng nghe báo: ” Xa Kỵ Tướng Quân tới.” Trương Phi vào giáo trường, lên thẳng đài diễn võ, ôm chân Tiên chúa khóc rống, Tiên chúa khóc theo.

Trương Phi thổn thức:

— Bệ hạ mới lên ngôi báu đã quên lời thề Vườn Đào rồi ư? Mối thù chúng giết anh Hai lẽ nào không báo?

Tiên chúa nghẹn ngào:

— Vì các quan khuyên can nên phải suy tính.

Phi kêu lên:

— Những người khác có biết lời thề của chúng ta nặng đến thế nào đâu. Bệ hạ không thân chinh, thần quyết liều thân xông vào vòng gươm đao để báo thù cho anh Hai. Nếu không báo thù được, thần sẽ chết, quyết không trở về trông thấy Bệ hạ.

Tiên chúa quả quyết:

— Trẫm đi với khanh. Khanh đem quân Lăng Châu ra hợp binh với ta, chúng ta cùng sang Đông Ngô.
(…..)

Trương Phi về đến Lãng Trung, lập tức hạ lệnh nội trong ba ngày phải chế đủ áo tang, cờ trắng cho quân sĩ mặc đi đánh Ngô.

Được một ngày, hai Tướng Phạm Cương, Trương Đạt vào thưa:

— Trong ba ngày không thể chế đủ cờ, áo. Xin Tướng Quân gia hạn.

Phi đùng đùng nổi giận:

— Tao đang nóng lòng muốn đi ngay sáng mai. Sao các ngươi dám trái lệnh?

Thét võ sĩ trói hai Tướng vào gốc cây, tự tay đánh mỗi Tướng 50 côn. Đánh xong, trỏ mặt hạ lệnh:

— Tối mai phải có đủ. Không xong tao chém đầu chúng bay.

Hai Tướng bị đánh đau ê ẩm, lết được về dinh, bàn tính với nhau:

— Ngày mai không thể có đủ số, chúng ta chịu chết ư?

— Ngồi chờ nó giết mình, sao bằng mình giết nó trước!

— Đêm nay chờ nó ngủ say, chúng ta vào giết nó.

— Chỉ sợ không đến gần được nó lúc nó ngủ.

— Đêm nay nếu số nó phải chết vì tay chúng ta, nó sẽ ngủ say. Nếu nó không chết thì chúng ta chết.

Đêm ấy Trương Phi uống rượu say, nằm ngủ. Đêm về sáng hai Tướng Trương, Phạm thủ dao nhọn trong mình, lẻn vào chỗ Trương Phi nằm ngủ. Đến bên giường Phi hai Tướng sợ cứng người khi thấy hai mắt Trương Phi mở thao láo, râu hùm vểnh lên. Nhưng lại nghe tiếng Trương Phi ngáy ồ ồ như sấm mới biết Trương Phi khi ngủ mở mắt. Hai Tướng sốc đến, dùng dao đâm chết Trương Phi trên giường.

Năm ấy Trương Phi 55 tuổi. Người sau có thơ:

Xắn áo năm nào vụt Đốc bưu,
Quét tan yêu tặc giúp nhà Lưu.
Hổ Lao quát giặc, thành rung chuyển,
Trường Bản ngăn binh, nước ngược cầu.
Nghĩa phục Nghiêm Nhan là nghĩa cả,
Tài xua Trương Cáp ấy tài cao.
Thù anh chưa báo, thân oan thác,
Đất Lãng nghìn thu cỏ úa rầu!

Đến đây bài viết đã tạm đủ dài, xin hẹn quí vị bài sau.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: