• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Bay Đi Theo Gió

SÀI GÒN, NEW ORLEANS, ATLANTA

Từ những năm 1950, 1952 tôi đã có cảm tình với hai thành phố ở Mỹ: New Orleans và Atlanta. Tôi tưởng tượng New Orleans và Atlanta đẹp, thơ mộng, gợi cảm, nếu được đến đó tôi sẽ thích lắm, nhưng chẳng có bao giờ tôi mơ ước có ngày gót chân phiêu lãng của tôi đi theo bánh xe lãng tử cuộc đời đến hai thành phố đó.

Năm 1950 trên màn ảnh rạp xi-nê Majestic ở Hà Nội, năm ấy tôi 18 tuổi xuân, tôi không nhớ tôi còn trinh tiết hay không, tôi xem phim mầu Technicolor The Secret Life of Walter Mitty: Cuộc sống bí mật của Walter Mitty, diễn viên Danny Kaye trong vai nhân vật Walter Mitty.

Danny Kaye..! Người diễn viên Hollywood năm mươi năm xưa đã ra người thiên cổ lâu rồi. Bi giờ, hôm nay những người từng xem phim của Danny Kaye phải là những khưá lão tuổi đời ít nhất Bẩy Bó, những khưá Sáu Bó sồn sồn từng mê xi-nê năm xưa chắc không mấy người đã xem và còn nhớ Danny Kaye.

Thời gian vỗ cánh bay như quạ..! Năm mươi năm qua như một giấc mơ. Phim The Secret Life of Walter Mitty thực hiện theo tiểu thuyết cùng tên của Văn sĩ James Thurber. Truyện vừa, không dài, cũng không ngắn. Nhân vật Walter Mitty là một anh công dân Mỹ trạc 30 tuổi, trong tiểu thuyết anh đã có vợ, trong phim anh chưa vợ, sống với bà mẹ. Anh làm thư ký sở tư. Một tư chức – thường dân Mỹ điển hình. Buổi sáng anh lái xe ô tô đến trạm tầu điện, để xe lại, lên tầu vào thành phố làm việc, chiều về lấy xe ô tô, lái về nhà. Anh thuộc loại phó thường dân chân chỉ hạt bột, hiền lành, không có bất cứ một đặc tính, đặc điểm gì, anh bị mọi người áp đảo, đôi khi bắt nạt – một công dân Mỹ rất thường. Nhưng anh có cái khác người là anh hay tưởng tượng anh là người hùng vào sinh, ra tử, cứu khốn, phò nguy, bảo vệ người yếu thế, chẳng hạn như anh tưởng tượng anh là phi công loại Ace, tức phi công Số Dzách, cánh đại bàng Không Lực USAF tung hoành sấm sét trên trời Châu Âu trong Thế Chiến Thứ Hai, cả chục phi cơ khu trục Đức Quốc Xã vây phi cơ anh, quyết bắn hạ anh cho kỳ được… Nhưng anh vẫn chiến thắng.

Đứng chờ vợ trong mall shopping, nhìn ra parking đậu xe trời mưa, bỗng dưng anh thấy anh là người chỉ huy một đội cảm tử quân nhẩy dù vào một quốc gia Nam Mỹ nơi nhân dân đang quằn quại dưới ách cai trị của một độc tài bạo chuá, anh vào đó giải cứu một số tù nhân chính trị, anh bị bắt, bị đưa ra pháp trường xử bắn. Không cho bịt mắt, người hùng Walter Mitty hiên ngang ưỡn ngực đứng thẳng nhìn mặt Tử Thần. Vợ anh đến, anh không biết. Chị vợ anh kéo anh về thực tại:

— Hừm..! Ông lại lên cơn phải không? Hồi này ông lên cơn hơi nhiều đấy. Phải đưa ông đến bác sĩ ngay mới được!

Walter Mitty chỉ tưởng tuợng thế thôi. Cuộc sống của anh mộng lẫn với thực, anh sống hào hùng với những cảnh do anh tưởng tượng. Cuộc sống ấy của anh không làm hại gì đến ai cả, ngoài việc làm cho chị vợ anh khó chịu.

Trong phim Danny Kaye đóng đôi với đào Virginia Mayo. Hai ngườiĩ gặp nhau trên con tầu trên sông Mississippi ở thành phố New Orleans, Louisiana. Hôm nay đến bến sông New Orleans, ta vẫn thấy con tầu ấy, đúng hơn là thấy con tầu kiểu ấy, đưa du khách đi chơi trên dòng sông lớn. Tất nhiên đây là chuyện Walter Mitty tưởng tượng – chuyện này không có trong tiểu thuyết của James Thurber – người phóng tác tiểu thuyết thành phim đã thêm vào phim một chuyện thơ mộng tuyệt vời. Chuyện xẩy ra vào khoảng năm 1900,1910, trang phục kiểu năm đầu thế kỷ 20. Chàng, Walter Mitty Danny Kaye, là một công tử phong lưu kiêm hào hoa kiêm luôn phong nhã, nàng Virginia Mayo Alicia đẹp như mơ là con gái của một trưởng giả điền chủ miền Nam. Họ tình cờ gặp nhau trên du thuyền trên sông Missisippi. Ông già Viên Ngoại Đại điạ chủ có máu cờ bịch, ông chơi poker, bị một tên lưu manh bạc bịp lột hết sạch của cải. Cũng như tất cả những ông có máu cờ bịch trên cõi đời này, khi thua sạch cửa nhà rồi, khi đã trắng hai tay rồi, ông già mới hối hận. Ông tính chuyện tự tử. Nước mắt lưng tròng, ông nghẹn ngào nói với cô con:

— Ba hại đời con.. Ba ân hận quá.. Tất cả gia sản nhà ta.. Ba thua bạc hết rồi. Cả chứng khoán vườn đất má con để lại cho con, ba cũng làm mất luôn. Không có của hồi môn, làm sao con gái của ba lấy được chồng đàng hoàng. Ba không sống được, Ba phải chết…!

Nàng buồn, nàng khổ, nàng sợ, ban đêm nàng đứng một mình trên boong, nhìn ra sông nước. Nàng không biết là nàng khóc cho đến khi nàng nghe tiếng chàng:

— Sao cô buồn thế?

Chàng, Walter Mitty, bước vào cuộc đời và quan trọng hơn, bước vào trái tim người đẹp. Chàng chơi poker với tên bạc bịp. Chàng lột mặt nạ nó, chàng bắt quả tớm nó đánh bịp, chàng làm cho mọi người thấy nó đánh bịp. Tên lưu manh rút súng lục ra..! Cắc..! Bằng một chiêu đánh cây can thần sầu, quỷ khốc, chàng làm khẩu súng văng khỏi tay gã lưu manh. Bao nhiêu tiền bạc, giấy chứng nhận sở hữu nhà cửa, trang trại, ruộng đất của ông Viên Ngoại được trả lại ông Viên Ngoại.

Đêm, du thuyền trôi êm trên dòng sông lung linh ánh sáng xanh biếc, trên trời có trăng, có mây, vì trăng sáng nên trời không có sao, dưới sông có nước, trên thuyền có giai nhân tuyệt sắc, có quân tử hào hoa, không gian có tiếng nhạc valse du dương từ trong phòng khiêu vũ của du thuyền vọng đến, nàng xúc động, nghẹn lời:

— Em chịu ơn ông không biết chừng nào. Ông cứu sống ba em, ông cứu sống đời em..

Người hùng Walter Mitty vẫn hào huê phong nhã:

— Tôi chỉ làm bổn phận của tôi….

— Sớm mai tầu cặp bến, em chỉ còn được gần ông có đêm nay. Sớm mai… sớm mai… chúng ta… chia tay… Em không còn được gần ông nữa..

— Tôi chúc cô gặp nhiều may mắn trong đời…

— Được gặp… ông.., được gặp… anh… là… may mắn nhất đời em…

Thế thôi! Không cho nàng và chàng ôm chầm lấy nhau, không cho chàng và nàng hôn miệng nhau.. Không cần những trò đó. Tình Yêu – Tình Yêu viết hoa hai chữ T,Y, Tình Yêu chân chính – không cần ôm nhau, không cần nút lưỡi nhau. Đã yêu nhau tất phải có những trò đó. Chỉ cần cho khán giả thấy đôi mắt nàng long lanh, ướt rượt những tình ái, thấy vành môi mọng cuả nàng rung động, là khán giả thấy những nồng say, những trắng hồng, những tròn nây, những ray rứt, những ra rít…

Đấy là cảnh tôi thấy trong phim mầu The Secret Life of Walter Mitty trên màn ảnh rạp xi-nê Majestic ở Hà Nội năm 1950. Cảnh xẩy ra trên chiếc tầu chạy bằng hơi nước đẩy cái guồng quạt nước ở đuôi tầu trên dòng Mississippi bên thành phố New Orleans. Cảnh ấy, người ấy, chuyện tình ấy làm tôi nghĩ dòng Mississippi, thành phố New Orleans phải rất thơ, rất mộng. Nghĩ thế thôi, tôi chẳng mơ có ngày tôi đến New Orleans, tôi không mơ vì tôi biết chẳng bao giờ tôi có thể đến đó.

Thành phố Mỹ quốc thứ hai tôi có cảm tình là Atlanta. Như đã viết, tôi xem phim Gone With The Wind năm 1952, tôi đọc tiểu thuyết Autant en emporte le vent, bản dịch tiếng Pháp của Gone With The Wind năm 1953, những năm tôi vừa ngoài hai mươi tuổi, thời gian cánh cửa cuộc đời đang mở rộng chờ đón tôi, thời gian tôi không còn trinh tiết nhưng hồn tôi còn trong trắng chưa vẩn đục bao nhiêu. Trên những trang truyện tôi nhìn thấy những cánh đồng trồng bông bạt ngàn ở Georgia, tôi thấy tôi đứng trên thềm toà nhà có những thân cột trắng của gia đình O’Hara ở Tara, Atlanta, kiều nhà những bang miền Nam nước Mỹ, tôi nhìn thấy những người Mỹ Đen cúi mình trên những luống bông, tôi nghe tiếng hát thở than và những lời ca cầu nguyện của họ…

Tôi chỉ thích, tôi chỉ thấy thế thôi, chẳng bao giờ tôi mơ, tôi muốn có ngày tôi đến những thành phố Atlanta, New Orleans xa vời vợi, những thành phố của một đất nước ở bên kia trái đất…. Nhưng rồi nổi chìm trong cuộc biển dâu với những biến cố không thể biết trước được của cuộc đời, một buổi tối Tháng Năm năm 1995 tôi bước vào phi cảng New Orleans. Chú em của Thục Viên, cô em văn nghệ của tôi ở Houston, đón tôi, đưa tôi đi qua mấy đường phố của New Orleans trước khi đưa tôi đến Khu French Quarter. Trời mưa, những mặt đường loáng ướt, qua một ngã tư thấy những cột đèn điện bằng đồng xanh xám, kiểu xưa, tôi kêu lên:

— Sao chỗ này giống ngã tư Tổng Đốc Phương ở Chợ lớn quá? Em có thấy không?

Rất có thể hơn hai trăm năm trước, những ông Pháp thực dân đã đặt làm một số cột đèn đường cung cấp cho hai thành phố New Orleans và Sài Gòn. Năm 1952 tôi còn nhìn thấy những cột đèn đường bằng đồng xanh ấy ở ngã tư đườngTổng Đốc Phương, Chợ Lớn. Sài Gòn-Chợ Lớn đã bỏ mất những cột đèn xưa cũ ấy trong khi New Orleans còn giữ.

Và những ngày như lá, tháng như mây…! Một buổi sáng Tháng Bẩy bánh xe lãng tử tôi đến nhìn thấy cái máy chữ của Nữ văn sĩ Margaret Mitchell, máy hiệu Remington, thứ nhỏ có thể xách tay theo người. Trên máy còn gài tờ bản thảo viết giở của người nữ sĩ tài hoa đã khuất.

Trên bàn, bên máy đánh chữ, có mấy tờ bản thảo viết tay của nữ sĩ Margaret Mitchell. Trước khi viết Gone With The Wind bằng máy chữ năm 1936, Nữ sĩ Mitchell viết một số truyện nhi đồng. Bà viết tay trên loại giấy dầy, sốp, giống như giấy in báo typo của làng báo Sài Gòn trước năm 1970. Đã qua gần một trăm năm, những tờ bản thảo truyện nhi đồng của bà đã ngả mầu vàng, những dòng chữ đã mờ nhạt. Tôi thấy chữ bà viết thật lớn, một trang chỉ có khoảng năm, bẩy dòng…

Đứng bên bàn viết của người viết truyện đã khuất, nhìn những dòng chữ viết đã phai mầu trên trang bản thảo của bà, tai loáng thoáng nghe tiếng dẫn giải của cô hướng dẫn, tôi nhớ đến nét chữ của một người.

Một người đã khuất. Người ấy là anh Chu Tử, chủ nhiệm nhật báo Sống một thời oanh liệt ở Sài Gòn. Trong một buổi sáng ngày Thứ Bẩy giữa năm 1965, khi những đơn vị đầu tiên của quân đội Mỹ vừa kéo vào Việt Nam, hai ký giả nổi tiếng của làng báo Sài Gòn là Chu Tử, Nhật báo Sống, Từ Chung, nhật báo Chính Luận, bị ám sát bằng súng. Từ Chung bị bắn trúng lưng, xuyên qua bụng, chết ngay bên xe ô tô khi vừa xuống xe trước cửa nhà riêng ở cư xá Nguyễn Tri Phương. Từ Chung bị bắn buổi trưa, buổi sáng cùng ngày Chu Tử vừa ngồi vào xe hơi trước cửa nhà riêng ở cư xá ngân hàng đầu đường Trương Tấn Bửu, Phú Nhuận, thì bị bắn. Tên giết người bắn anh qua tấm kính sau của xe. Đạn trúng vào ót anh, trổ ra miệng anh, nhưng anh không chết. Được đưa ngay vào bệnh viên Cơ Đốc Phục Lâm ở ngã tư Phú Nhuận, anh được cứu sống. Trong thời gian anh lâm nạn, nhật báo Sống vẫn ra đều mỗi ngày.

Sau thời gian sang Nhật điều trị, anh Chu Tử trở lại tòa soạn làm việc. Tay anh bị run, anh nói và đi lại khó khăn. Năm ấy tôi được anh gọi viết tiểu thuyết cho báo Sống. Tôi viết truyện Người Yêu, Người Giết. Ngày tôi đến toà soạn lấy tiền nhuận bút tháng thứ nhất, anh đang ngồi viết – trên lầu Nhà in Tường Anh, đường Gia Long – tôi đến trước bàn anh. Anh ngừng viết, nhìn tôi.

Tôi nói:

— Anh cho tôi tiền phơi-ơ-tông.

Anh hỏi:

— Anh lấy bao nhiêu?

Câu hỏi của anh làm tôi sững sờ. Bao giờ cũng vậy, chủ báo định tiền lương, tiền nhuận bút cho ký giả, văn sĩ. Cũng có, nhưng rất ít, văn sĩ quyết định chủ báo phải trả cho truyện mình bao nhiêu tiền một tháng. Lại càng không bao giờ có chuyện chủ báo hỏi văn sĩ: “Anh muốn lấy bao nhiêu tiền?” Tức: “Anh muốn tôi đưa anh bao nhiêu tiền?”

Câu hỏi lạ kỳ và sự bất ngờ làm tôi không trả lời được. Anh Chu Tử nói tiếp:

— Cần bao nhiêu anh cứ nói. Báo tôi bây giờ bán được, có tiền, anh đừng ngại.

Tôi lại càng khó nói. Nói nhiều, sợ quá tham, anh từ chối thì… mất mặt, thì… không ra làm sao cả, nói ít thì.. tiếc.

Sau cùng tôi nói một con số.

Anh viết ngay trên lưng tờ giấy bản tin Việt Nam Thông Tấn Xã, thường gọi tắt là Việt Tấn Xã:

Đưa anh Hoàng Hải Thủy mỗi tháng 20.000 đồng.

Vì tay run, anh viết chữ to như những con gà mái, một trang giấy anh viết khoảng năm dòng, mỗi dòng năm chữ.

Anh không cần ký tên. Tôi cầm tờ giấy bản tin Việt Tấn Xã có mấy chữ của anh xuống nhà dưới đưa cho Đông, người giữ két báo Sống, chúng tôi vẫn thân mật gọi Đông là Đông Con vì anh nhỏ con, không phải vì anh có nhiều con. Và thế là tôi được nhật báo Sống trả tiền nhuận bút truyện phơi-ơ-tông mỗi tháng 20.000 đồng từ đó mãi cho tới khi nhật báo Sống bị đóng cửa.

Năm 1968, hay 1969, nhật báo Sống đăng một phóng sự liên can đến Căn Cứ Quân Sự Mỹ trên bán đảo Cam Ranh. Nguyên nhân như thế này:

Căn cứ Quân Sự Mỹ chiếm có thể nói là trọn bán đảo Cam Ranh. “Có thể nói trọn” tức là “không trọn”. Thay vì chiếm trọn, vẫn còn khoảng đất đuôi rùa cuối đảo không nằm trong vòng rào của căn cứ. Một số dân nghèo Việt Nam đến dựng lều trong khu đất ấy. Họ bán sì-ke cho lính Mỹ qua hàng rào dây thép gai. Thay vì để cho cảnh sát Việt Nam đến dẹp những người Việt ấy, Police Military Mỹ trong căn cứ lại tới đuổi họ, phá những căn lều của họ. Một thông tín viên của báo Sống ở Cam Ranh vớ được chuyện, chụp hình, phỏng vấn những nạn nhân – những người Việt ấy khai họ là dân chài lưới lương thiện từ xưa vẫn cư ngụ trên đảo – báo Sống làm lớn chuyện, kết tội “Quân đội Mỹ xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của nhân dân Việt Nam, nhân dân Việt Nam không được sống ngay trên đất nước của mình.” Tất nhiên nhà báo phải làm lớn vụ đó để hấp dẫn người đọc.

Chính phủ Nguyễn văn Thiệu phản ứng nặng tay với chủ nhiệm báo Sống Chu Tử. Từ lâu anh Chu Tử đã bị một số đàn em của ông Thiệu, ông Trần văn Hương, thù ghét. Họ chờ dịp triệt hạ anh. Vụ Cam Ranh xẩy ra, nhật báo Sống bị khép vào tội “gây chia rẽ giữa chính quyền Việt Nam và quân đội Đồng minh.” Báo Sống bị đóng cửa. Ngày nào Nguyễn văn Thiệu còn làm Tổng Thống, báo Sống không được sống, báo Sống phải chết, hơn thế Chu Tử Chu văn Bình không được làm chủ báo!

Năm 1965, 1966, vợ tôi đến nhà bán máy may Sinco, đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, hỏi mua chiếc máy may. Đặt mua thì giá 17.500 đồng, ba tháng sau có máy, muốn lấy ngay thì sang một cửa hàng gần đó, ở đây có máy Sinco bán mỗi chiếc 20.000 đồng. Với số tiền nhuận bút truyện “Người Yêu, Người Giết” của tôi, vợ tôi mua được cái máy may Sinco mới toanh. Nhờ sài kỹ, giữ gìn cẩn thận, đến năm 1994 khi vợ chồng tôi rời Sài Gòn sang Mỹ, cái máy may Sinco ấy vẫn còn tốt.

Một chuyện nữa cần nói: năm 1965, 1966 anh Chu Tử trả nhuận bút tiểu thuyết của tôi một tháng 20.000 đồng. Năm ấy 20.000 đồng mua được một máy may Sinco mới tinh, những năm 1973, 1974 nhật báo Sóng Thần trả tiền nhuận bút tiểu thuyết của tôi 20.000 một tháng, khi ấy giá cái máy may Sinco là 100.000 đồng.

Trong suốt cuộc đời viết phơi-ơ-tông dài 20 năm của tôi, từ 1954 đến 1975, tôi chỉ có một lần được nghe một ông chủ báo hỏi: “Anh cần bao nhiêu tiền?” Câu hỏi của anh Chu Tử làm tôi ấm lòng. Ngoài việc là chủ báo, anh là đàn anh của tôi. Có hai người tôi nhận là đàn anh của tôi: anh Nguyễn Mạnh Côn và anh Chu Tử. Tôi được hưởng lộc của hai anh. Anh Nguyễn Mạnh Côn chưa từng là chủ báo, anh có làm chủ tờ nhật báo Tin Báo năm 1965, nhưng báo ra chưa được ba tháng đã chết, thời ấy tôi về làm với anh, nên tôi chỉ được hưởng lộc văn sĩ của anh.

Những trang bản thảo của tác giả Gone With The Wind làm tôi nhớ những dòng chữ viết năm xưa của anh Chu Tử, cái máy chữ Remington của bà làm tôi nhớ đến cái máy đánh chữ đầu tiên của tôi.

Tháng 3 năm 1964, nhật báo Sàigònmới bị đóng cửa. Trong hai mươi năm từ 1954 đến 1975 nhiều tờ nhật báo Sài Gòn bị chính phủ đóng cửa, sống lại, hay chủ báo ra tờ báo tên khác, nhật báo Sàigònmới một chết là chết luôn.

Thời thịnh mãn của giang sơn Sàigònmới đến đó chấm dứt, thời gian phong độ của đời tôi cũng tàn mất theo giang sơn Sàigònmới. Tôi, và vợ con tôi, rơi vào cảnh túng thiếu từ đó cho đến cuối năm 1965 tôi vào làm việc trong toà soạn nhật báo Tiền Tuyến. Năm 1967 tôi ra khỏi toà soạn báo Tiền Tuyến để sang toà soạn báo Dân Tiến. Đại Tá Vũ Quang, năm ấy là Cục Trưởng Cục Tâm Lý Chiến, nhật báo Tiền Tuyến nằm trong Cục Tâm Lý Chiến, mở một bữa ăn từ giã tôi ở nhà hàng Olympia đường Lê Lợi.

Bữa ăn có đủ mặt anh em toà soạn. Trong một đời làm báo của tôi, tôi làm nhân viên thường trực cho khoảng năm, bẩy tờ báo – thú thật không nhớ rõ bao nhiêu toà báo, viết tiểu thuyết cho báo không kể – tôi chỉ có một lần được tòa báo đãi tiệc tiễn đưa. Cuối tiệc, Đại Tá Vũ Quang tặng tôi quà chia tay của nhật báo Tiền Tuyến: cái máy đánh chữ Brother portatif mới nguyên còn để trong thùng.

Đó là cái máy chữ đầu tiên trong đời tôi. Từ đó tôi bắt đầu viết bằng máy chữ.

1967- 2004. Mèn ơi…! Thấm thoắt vậy mà đã 37 năm đi qua đời tôi rồi sao?? Sao tôi vẫn nhớ từng người trong bữa ăn tối hôm xưa đó trong nhà hàng Olympia: Đại Tá Vũ Quang hiện sống ở Saint Paul, Minnesota, Trung Tá Hà Thượng Nhân hiện ở San José, Cali, Trung Tá Phan Lạc Phúc hiện ở Sydney, Úc, Trung Tá Lê Đình Thạch đã qua đời khoảng năm 1986, 1987 ở Sài Gòn, Hĩm Đinh Hiển, Viên Linh hiện ở Cali, Viêm Hồng không biết nay ở đâu, anh Vũ Uẩn đã qua đời…

Tôi nhớ cái máy chữ đầu đời của tôi, máy hiệu Brother có dấu chữ Việt. Tôi dùng cái máy đó cho đến tháng 7 năm 1977 bọn công an VC Thành Hồ đem xe bông đến nhà tôi rước tôi đi tù lần thứ nhất, trong số những cái gọi là tang vật chúng lấy đi, có cái máy chữ Brother của tôi.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: