• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Chế Độ Bông Bua

Cùng họ, cùng tên lại một nghề
Cùng trong tòa soạn thuở nào hê!
Bốn mươi năm trước còn ghi dấu,
Bẩy chục xuân nay đã vội về!
Vắng bạn văn đàn trông thấy thiếu,
Có mình thế giới tưởng như dư.
“Lửa lòng, Hiệp phố” lần tay giở,
Sách đó, người đâu, luống não nề!

Thơ ông Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, Chủ nhiệm Nhật báo Sàigònmới, tờ nhật báo từng một thời nổi tiếng về mục có số bán cao nhất ở Sàigòn, viếng ông Phú Đức Nguyễn Đức Nhuận, bài thơ được làm năm 1970 khi ông Phú Đức qua đời, Ông Phú Đức, tiểu thuyết gia, tác giả những bộ truyện Phơi-ơ-tông từng tưng bừng ăn khách những năm 1930, 1940: Châu về Hiệp phố, Lửa lòng, Căn nhà bí mật. Một mặt hai lòng, Tình trường huyết lệ.. vv..

Làng báo Sàigòn có ba ông Nguyễn Đức Nhuận, cả ba ông đều nổi tiếng, ông NĐ Nhuận thứ nhất là chủ nhiệm tuần báo Phụ Nữ Tân Văn, số báo PNTV thứ nhất ra ngày 2 – 5- 1929, số báo PNTV cuối cùng ra ngày 20 – 12 – 1934, ông NĐ Nhuận thứ hai là ông Phú Đức, nhà tiểu thuyết, ông NĐ Nhuận thứ ba là ông Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận. Đúng ra phải nói làng báo Sàigòn còn một ông Nguyễn Đức Nhuận thứ tư, ông này chưa nổi tiếng thì làng báo Sàigòn đã bị Bắc Việt Cộng cho tan hàng, nên chỉ có một số anh em trong nghề biết. Đó là ông Nguyễn Đức Nhuận từng làm quản lý nhật báo Sóng Thần ở Sàigòn mãi cho đến ngày 29 Tháng Tư 1975 mới chịu bỏ chức vụ. Ba ông Nguyễn Đức Nhuận Một, Hai, Ba đã qua đời từ lâu, ông NĐ Nhuận Bốn còn sống khỏe ở Cali.

Liêu lạc xứ người, tôi gặp bài thơ ông Bút Trà NĐ Nhuận khóc ông Phú Đức NĐ Nhuận trong quyển Từ Điển Tác Gia Việt Nam của Nguyễn Quang Thắng, Nhà Xuất Bản Văn Hóa Bắc Việt Cộng ấn hành năm 1999. Tên người được nhắc đến trong thơ, tên người làm thơ, lời thơ làm tôi bùi ngùi, tôi được gặp, được biết cả hai ông Nguyễn Đức Nhuận trong bài thơ.

Bốn mươi năm xưa, thời tôi còn xuân sắc, tôi hai lần là nhân viên nhật báo Sàigònmới: lần thứ nhất từ năm 1954 đến 1955, lần thứ hai từ 1958 đến 1964, tức đến ngày báo Sàigònmới bị đình bản vĩnh viễn. Những năm xưa ấy tôi đã quá quen thuộc những bài thơ không hẳn là Thơ Con Cóc, cũng không phải là Thơ Xôi Thịt xướng họa nhưng chẳng có gì đáng kể của ông Bút Trà, loại Thơ Lửng Lơ Con Cá Vàng.. Ngày đi, tháng chạy.. Sự đời thay đổi như gió mây.. Làm sao tôi ngờ được có đêm buồn liêu lạc ở xứ người tôi gặp lại một bài thơ của Thi sĩ Bút Trà, ông chủ nhiệm nhật báo Sàigònmới ngày xưa của tôi, ngày xưa… những ngày, những tháng, những năm tôi tuy không còn trinh tiết nhưng đang thời xuân sắc. Tôi thấy lời thơ chân thành, một câu thật hay:

Cùng họ, cùng tên, lại một nghề
Cùng trong tòa soạn thuở nào hê..!

Tôi cho tiếng “hê” đó là một tiếng mà những ông phê bình văn học nhà nghề gọi là “tiếng thần”, như tiếng “vèo” trong Thơ Tản Đà “Vèo trông lá rụng đầy sân. Công danh phù thế có ngần ấy thôi..” Câu thơ ấy gợi lên trong tôi những hình ảnh ngày xưa và sáng nay, khi mùa thu vàng đang tha thướt đến Đất Tình Nhân…

Trận gió thu phong rụng lá vàng
Lá rơi hàng xóm, lá bay sang
Vàng bay mấy lá năm già nửa
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng…

Trận gió thu phong rụng lá hồng
Lá bay tường bắc, lá sang đông.
Hồng bay mấy lá, năm hồ hết
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng không!

… gợi ý cho tôi viết về tờ nhật báo Sàigònmới, về ông bà Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, về những năm tháng tôi làm việc trong tòa soạn nhật báo Sàigonmới ngày xưa..

Ông Bút Trà NĐ Nhuận sinh trưởng bên dòng sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi, nơi quê ông một bên sông Trà Khúc là ngọn núi Thiên An, bên kia sông là núi Thiên Bút, ông lấy bút hiệu Bút Trà: cây bút ở bên sông Trà Khúc. Thật hay. Như bút hiện Tản Đà, Tản Viên-Đà Giang của ông Nguyễn Khắc Hiếu. Ông Bút Trà- và ông em ông là ông Hồng Tiêu, ông chồng bà văn sĩ Tùng Long, ông Hồng Tiêu đặt bút hiệu cho bà vợ là Tùng Long, với ý nghĩa phụ nữ theo chồng, dường như khuê danh của bà là Vân, Vân tùng long, Phong tòng hổ – hai ông vào Sàigòn khoảng năm 1910, 1920 và cùng làm báo. Thời gian đầu ông Bút Trà làm phóng viên cho một tờ nhật báo, loại phóng viên chuyên đi săn tin xe cán chó. Nhưng phóng viên đi săn tin xe cán chó những năm 1925-1935 ở Sàigòn phải biết nói láp nháp tiếng Pháp, phải nghe được võ vẽ tiếng Pháp; xứ sở bình yên, cả năm cả nước hông có một vụ giết người, nhật báo chỉ có tin về những vụ trộm vặt, tai nạn xe cộ, cháy nhà, gái thất tình tự tử, đánh nhau, đánh ghen – thời ấy những người đánh ghen cũng nhẹ tay, quí vị nữ lưu chưa tiến bộ đến mức dùng a-xít tạt vào mặt nhau, dữ dội lắm là lột quần nhau nơi công chúng, người bị lột quần giữa chợ thường là những nàng vợ bé. Mỗi buổi sáng các phóng viên đến những quận cảnh sát, thời ấy gọi là cò bót, hỏi và lấy những tin về các vụ trên. Muốn đến cò bót lấy tin như đã nói, phóng viên phải nói được tiếng Pháp. Thời ấy nhân viên cảnh sát Sàigòn-Chợ Lớn toàn là Tây – Tây Trắng, Tây Đen – và Chà Và, Ma Ní. Phóng viên NĐ Nhuận không nói được tiếng Tây Bồi nên không thể đến cò bót lấy tin, vì ông biết chữ Hán nên nhà báo cho ông vào lấy tin ở những nhà thương trong Chợ Lớn. Ở những nhà thương cũng có những tin tai nạn xe cộ, người chán đời tự tửû, người đánh nhau vỡ đầu, xẻ tai ..vv..

Một ngày Sàigòn trời không nắng không mưa, chỉ hiu hiu gió.., chàng phóng viên gặp nàng phụ nữ bị thương trong nhà thương. Nàng bị thương nhẹ thôi. Nguyên nàng cầm cương xe thổ nộ – xe ngựa chở khách, chở đồ – xe của nhà nàng. Xe lật làm nàng bị thương. Chàng nàng bắt chuyện nhau.. Rồi như trong những tiểu thuyết gọi là diễm tình của Dương Hà, Trọng Nguyên, cuộc tình của họ nở hoa..

Chàng, như bạn đã đoán biết, là phóng viên NĐ Nhuận, về sau là Thi sĩ Bút Trà, nàng tên là Tô Thị Thân, người về sau là bà Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, chủ nhiệm nhật báo Sàigònmới, kiêm Hội Trưởng Hội Phụ Nữ Việt Nam.

Theo trí nhớ không bảo đảm trúng trật của tôi, hình như không bao giờ ông Bút Trà NĐ Nhuận đứng tên trên manchette là chủ nhiệm nhật báo Sàigònmới, nhưng người đời vẫn cứ quen gọi ông là chủ nhiệm nhật báo Sàigònmới. Khi chàng và nàng gặp nhau trong nhà thương, nàng đã có chồng, có con, ông chồng nàng dường như là một ông Tầu chủ tiệm chạp phô ở Chợ Lớn. Bốn mươi năm xưa, những năm 1960, tôi không hỏi cũng không chú ý gì nhiều đến đời tư của ông bà chủ tôi, có bao giờ tôi nghĩ sẽ có ngày tôi viết về đời tư ông bà. Nàng thương chàng phóng viên nên nàng ly dị ông chồng Tầu, thu xếp một ít tiền làm vốn, nàng về làm vợ chàng phóng viên và khuyến khích chàng làm chủ báo.

Lúc đầu tờ báo tên là tờ Sàigòn, tôi chắc báo ra đời những năm 1935. Nghe nói Thi sĩ Hàn Mặc Tử, trước khi bệnh phung phát ra, có thời làm phóng viên báo Sàigòn. Sau 1945 khi tái bản báo mới có tên là Nhật báo Sàigònmới.

Trụ cột, xương sống, sức sống, linh hồn của tờ Sàigonmới là bà Bút Trà. Không có bà Bút Trà, rõ hơn là không có bà Tô Thị Thân, không có tờ báo Sàigònmới. Bà ít học, viết chữ Quốc Ngữ sai lỗi chính tả, văn phòng của bà, bàn làm việc của bà là cái giường ngủ của bà, quanh giường là những kệ gỗ để sổ sách, đầu giường là máy tô-lôphôn, một két sắt nhỏ gắn trên bệ xi-măng, bà điều khiển giang sơn Sàigònmới trên cái giường ấy, bên đối diện là giường ông Bút Trà. Ông bà tiếp nhân viên tòa soạn, và những khách thân, ngay trong phòng ngủ, chỉ những khách lạ mới được ông bà tiếp ở phòng khách.

Bà Bút Trà không phải là người viết nhưng rất yêu nghề làm báo, yêu đến độ mê. Có lần tôi nghe bà nói:

— Làm báo mê lắm, anh ạ. Dù mình có phải bán đến cái áo cuối cùng để ra được số báo cuối cùng rồi báo chết mình cũng bán.

Một sáng giữa năm 1954, Nguyễn Ngọc Tú, tức Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già The Godfather, đã chết ở Trại Tù Khổ Sai Phú Khánh năm 1981, bảo tôi:

— Tao gặp bà Bút Trà báo Sàigònmới ở Bộ Thông Tin, bà ấy nói Sàigònmới cần phóng viên. Mày đến xem.

Tôi đến tòa soạn báo Sàigònmới, Số 34 đường Phạm Ngũ Lão, Sàigòn, và được bà Bút Trà nhận vào làm việc ngay, lương tháng 3.000 đồng. Năm 1952, khi tôi đến tòa soạn báo Ánh Sáng, đường Bonard, gần bên Hàng Ăn Kim Hoa, anh chủ bút Thanh Sanh trước khi nhận tôi vào làm phóng viên – rì-pọt-tưa: reporter – còn đưa tôi dịch một bài phóng sự chiến trường Bắc Việt bằng tiếng Pháp, bà Bút Trà chỉ hỏi tôi vài câu. Mấy năm sau, có lần tôi hỏi bà tại sao khi tôi đến xin việc bà nhận tôi vào làm ngay, bà nói:

— Lúc ấy có mấy anh đến, tôi có biết khả năng anh nào đâu, tôi chọn anh vì thấy anh ăn bận đàng hoàng.

Thì ra tôi được nhận vào làm nhân viên báo Sàigònmới, một sự kiện quan trọng trong đời tôi, chỉ vì tôi ăn bận đàng hoàng: sơ-mi trắng dài tay có khuy manchette, áo bỏ trong thùng, tức bỏ trong quần, đi giầy da có bí-tất, đầu tóc gọn ghẽ, tôi không đi xin việc mà áo bỏ ngoài quần, đi giép lẹp kẹp, mặt mũi, tóc tai bê bối. Cũng không phải chỉ khi đi hỏi việc làm tôi mới ăn bận như thế mà lúc nào tôi cũng ăn bận như thế.

Năm 1954 tôi có vợ, qua năm 1955, vợ chồng tôi sống không được khá lắm với số lương tháng 3.000 của tôi, tôi đòi lên lương 4.000 đồng. Không được, tôi bỏ Sàigònmới. Anh bạn tôi làm Sở Mỹ chỉ đường cho tôi đi làm nhân viên Sở Mỹ. Bạn tôi đã nói trước với anh Lê Minh Thịnh, người giữ việc tuyển mộ nhân viên tại Tòa Đại Sứ Mỹ, anh Thịnh đưa tôi dịch một bản thông tư của Tòa Đại Sứ, hỏi tôi một hai câu:” What is your name? How old are you?” rồi làm giấy cho tôi đến USOM, Sở Viện Trợ Kinh Tế Hoa Kỳ, số 55 đường Ngô Thời Nhiệm. USOM là tiền thân của USAID đường Lê văn Duyệt sau này. Tôi được nhận vào làm ở USOM Travel Section, lương tháng 6.000 đồng, chuyên giữ việc đưa đón những nhân viên Sở Viện Trợ Hoa Kỳ ở phi trường Tân Sơn Nhất, lo hành khách cho chuyến phi cơ riêng của USOM mỗi tuần đi một chuyến Sàigòn-Đalạt-Nha Trang- Đànẵng-Huế, một chuyến Sàigòn-Pnom Penh- Vientiane, mua vé máy bay, lấy visa đi các nước khác cho nhân viên Mỹ của Sở. Việc làm của tôi cho tôi có nhiều giờ overtime.

Hai năm 1956-1957 tôi vừa làm nhân viên USOM, vừa viết tiểu thuyết cho nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, tôi kiếm được nhiều tiền. Tôi thích viết truyện từ nhỏ, tôi chỉ thích làm báo, viết tiểu thuyết. Làm nhân viên Sở Mỹ có tiền, việc làm vững chắc nhưng tôi không thích. Cuối năm 1957 tôi bỏ USOM để trở về với nghề làm báo. Tôi bỏ ngang, bỏ việc không có lý do gì xác đáng cả, tôi có thể cứ làm nhân viên USOM mà vẫn viết được tiểu thuyết, nhưng tôi cứ bỏ USOM, tôi muốn thử xem tôi có thể sống được với việc viết truyện tiểu thuyết hay không. Vợ tôi tức đến ứa nước mắt khi nghe tôi nói anh bỏ USOM rồi, anh không làm bồi cho Mỹ nữa.

Bỏ USOM, tôi viết tiểu thuyết cho nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, tiền hàng tháng vẫn có, tôi vững như bàn thạch. Nhưng tai họa – tai họa vớ vỉn, chuyện con nít – có chuyện hiểu lầm, rồi xích mích, rồi giận hờn, giữa tôi và Hồ Anh, chủ nhiệm cả hai tờ Ngôn Luận và Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi tính nết đàn bà – Tử Veo Âm Nam, không sìu sìu ển ển sao được, hay hờn rỗi, gặp chuyện không bằng lòng không nói ra, không giải quyết, cứ để lằng nhằng rồi giận dỗi, bỏ ngang. Tôi phải ngưng viết cho cả hai tờ. Vẫn còn chút may mắn là tuần báo Kịch Ảnh ra đời, tôi làm nhân viên tòa soạn Kịch Ảnh. Lương tháng 5.000 đồng.

Lương 5.000 đồng một tháng năm 1957 vợ chồng tôi sống vẫn thiếu hụt. Năm đó chúng tôi đã có hai con, Hoài Nguyên sinh năm 1956, Kiều Giang năm 1957. Đến Tết Nguyên Đán năm 1958 ông nhạc tôi có xe hơi, đi chơi Đàlạt, Nha Trang, cho vợ chồng tôi cùng đi. Vợ chồng tôi đi chơi Tết Đàlạt, Nha Trang mà trong túi không có được lấy hai trăm bạc. Tôi đi chơi Tết mà lòng rất lo, tôi biết tờ Kịch Ảnh ra số báo Tết là đóng cửa, là phéc-mê bu tích vì lỗ, hết vốn, đi chơi về tôi sẽ không có việc làm, không kiếm được một đồng teng, chúng tôi lấy gì mà sống!

Xe trên đường về Sàigòn, qua vùng Gia Kiệm, Hố Nai, nhìn thấy những nhà thờ của đồng bào công giáo di cư bên đường, tôi cầu xin Đức Mẹ Maria cho tôi có việc làm, mỗi nhà thờ tôi xin dâng Đức Mẹ ba kinh Kính Mừng. Tôi đọc kinh thầm, vợ tôi ngồi bên không biết là tôi đang đọc kinh. Qua mỗi nhà thờ tôi bấm một đốt ngón tay ghi dấu, đọc xong ba kinh tôi bỏ đi một đốt, khu di cư nhiều nhà thờ đến nỗi có lúc bàn tay tôi có đến hai mươi mấy đốt tôi thiếu nợ, mỗi đốt là ba kinh Kính Mừng.

Ngày Mùng Tám Tết, Nguyễn Ang Ca – anh đã qua đời ở Bỉ Quốc – trên xe Mobylette, ghé cửa nhà tôi, hỏi vào bà Bút Trà nhắn toa đến tòa sọan, biết chưa? Ang Ca đến báo, tôi mới biết bà Bút Trà nhắn tin tôi trên báo Sàigònmới. Trong năm 1957 tôi nghe nói báo Sàigònmới đột nhiên bán chạy, số báo bán tăng vọt nhờ sáng kiến báo biếu phụ bản loại tranh gọi là tranh chim cò, bản đồ vv.., nhưng tôi không nghĩ gì đến việc trở lại làm nhân viên báo Sàigònmới. Bà Bút Trà nhắn tin tôi trên báo Sàigònmới mà tôi không biết. Ngay buổi sáng ấy tôi trở lại tòa soạn số 34 đường Phạm Ngũ Lão, bà Bút Trà nói:

— Trước đây biết anh có tài nhưng báo nghèo quá, không đủ tiền trả anh nên phải để anh đi. Nay báo khá rồi, chúng tôi mời anh về. Anh ra nói chuyện với em nó là Sáu Khiết, nay chúng tôi để em nó giúp chúng tôi làm một số việc.

Sáu Khiết là anh con thứ năm của ông bà Bút Trà. Năm 1954 khi tôi làm ở đây lần trước, hai anh con ông bà Bút Trà là Năm Thành, Sáu Khiết còn đi học. Bốn năm qua, nay hai anh là hai ông chủ nhỏ của tôi. Tôi ra tòa soạn nói chuyện với Sáu Khiết, ngã giá lương bổng ngay. Tôi làm bông lĩnh trước nửa tháng lương, Sáu Khiết ký chấp thuận, đưa bông ra thủ quỹ lãnh tiền ngay, đời tôi lại lên hương – và lên hương dài dài – kể từ buổi sáng hôm đó.

Đến đây tôi phải viết về chế độ “Bông Bua” trong tòa soạn nhật báo Sàigònmới. “Bông Bua” là “Bon Pour”, tiếng Pháp. Nghề làm báo do người Pháp đưa vào nước ta, làng báo Sàigòn dùng nhiều những thuật ngữ, những danh từ chuyên môn tiếng Pháp. Và theo tục lệ nhật báo Pháp, các nhật báo Sàigòn, ít nhất là nhật báo Sàigònmới, có lệ trả tiền trước cho nhân viên; sở công, sở tư nào nhân viên cũng làm trước, lãnh lương sau, riêng nhân viên nhà báo Sàigònmới, theo lệ nhà báo Pháp, lãnh lương trước, làm việc sau: Mồng Một lãnh lương từ ngày 1 đến ngày 15, ngày 15 lãnh lương từ ngày 16 đến ngày 30. Mỗi tháng hai lần lãnh lương trước. Tôi không biết những nhật báo Sàigon cùng thời khác, như tờ Tiếng Chuông, tờ nhật báo có số bán ngang ngửa với tờ Sàigònmới, trả lương nhân viên ra sao, tôi biết nhật báo Sàigònmới trả lương trước cho nhân viên như thế. Nhân viên Sàigònmới làm một phiếu nhận tiền in sẵn, đưa bà Bút Trà hay Sáu Khiết ký chuẩn chi, đưa phiếu cho anh Thủ Quĩ và được chi tiền liền tù tì tút sụyt. Những phiếu nhận tiền ấy gọi là “bông – bon” – có “bông” có chữ ký chẩn chi của chủ là có tiền. Nhà Sàigònmới có những bốn người có quyền ký bông chi tiền: bà Bút Trà, tất nhiên, ông Bút Trà – ông này ký bông cho tiền người này, người kia hai, ba trăm – Năm Thành và Sáu Khiết. Ngoài cái tật hờn mát như con gái mất trinh, tôi còn có cái tính lươn khươn, lem nhem về tiền bạc. Thời gian đầu tôi làm đúng theo qui củ tháng nào lãnh lương trước tháng ấy, nhưng rồi tôi leo thang, thay vì đến ngày 15 tháng đó tôi mới làm bông lãnh lương từ ngày 16 đến ngày 30 tháng đó, mới ngày 10 tôi đã làm bông lãnh lương từ ngày 16 đến ngày 30, thế rồi đến ngày 20 tháng đó tôi đã làm bông lãnh lương từ ngày 1 đến ngày 15 tháng sau. Tôi cứ đưa bông là bà Bút Trà ký chuẩn chi. Và cứ như thế tôi leo thang trong việc lãnh lương trước. Có những lần anh Thủ quĩ nói bây giờ là tháng 5 mà Hoàng Hải Thủy – anh quản lý chuyên gọi tên tôi, không anh, không chú gì cả – đã lấy hết lương tháng 7 rồi, nay lại làm bông lãnh lương tháng 7? Anh cằn nhằn tôi vì anh đã phát cho tôi nửa tháng lương tháng 7 kỳ ba đó rồi. Tôi tỉnh queo nói anh đưa bông đây tôi sửa lại là tháng 8. Không phải chỉ mình tôi mà nhiều nhân viên tòa soạn Sàigònmới cũng lãnh lương trước theo kiểu đó như tôi. Cho đến lúc bà Bút Trà nói các anh lãnh lương trước lộn xộn quá, cái gì mà lãnh lương cả ba, bốn tháng trước, Thủ quỹ không làm sổ được. Từ nay trở đi các anh tháng nào lấy lương tháng ấy, số tiền các anh đã lấy trước ghi vào tiền nợ, anh Thủ quỹ sẽ trừ dần hàng tháng vào lương các anh..

Chúng tôi hoan hỉ làm theo, trừ lương một, hai lần là chúng tôi lằng nhằng với anh Thủ quỹ : trừ cái gì, bà chủ có viết trong bông là phải trừ tiền nợ tôi đâu. Tiền của chủ, anh thủ quỹ chẳng muốn làm khó anh em. Và thế là huề. Chỉ vài tháng sau chúng tôi lại ký bông lãnh lương leo thang. Bà Bút Trà lúc ký không xem kỹ bông, tôi cứ đưa bông là bà ký. Cứ như thế, từ tháng Hai năm 1958 đến tháng Hai, hay tháng Ba năm 1964 báo Sàigònmới bị đóng của, trong bẩy năm trời, có đến ba lần bọn nhân viên Sàigònmới chúng tôi ký bông lãnh lương leo thang như thế. Tôi là một trong những anh lãnh lương leo thang hung hãn nhất.

Những năm 1970 khi thấy Trường Đại Học Đàlạt có Khoa Báo Chí, tôi nghĩ đến chuyện có ngày mình đến đó nói chuyện với sinh viên về những ngày làm báo của mình. Những ông gọi là giảng sư về khoa báo chí ở đó toàn là những ông không qua một ngày làm công trong một tờ báo nào, những ông chưa từng được lãnh một đồng teng nào của nhà báo, nhiều ông chưa từng viết một bài báo nào, những gì các ông giảng dậy toàn là những lý thuyết các ông nhón, móc, khều ở những sách Pháp, sách Mỹ. Tôi nghĩ vì làng báo Sàigòn dùng nhiều danh từ tiếng Pháp, mình sẽ nói với sinh viên về những danh từ ấy. Như tiếng măng-xết: manchette là tiếng để gọi một tờ báo: “Có măng-xết, mướn măng-xết..”, như bài xã luận gọi là bài phông: fond, đủ chữ là article de fond, bài thời luận là film du jour, tin 8 cột là tin vơ-đét: vedette, tin ngắn một cột là phi-lê: filet, tin giật gân là tin săng-sa-son-nen: sensationel, chuyện bê bối làm công luận chú ý là Sì-căng-đan: Scandale, phóng viên là rì-popọc-tưa: reporter, phóng sự là rì-poọc-ta: reportage, tin vắn vui vui, vô thưởng vô phạt, tin đồn, nhiều khi là tin bịa, gọi là pô-te, pô-tanh: potin, bản kẽm ảnh để in trên báo là clít-sê: cliché, hình vẽ là vi-nhét: vignette, những hình nhỏ để lấp những chỗ trống gọi là bút-sờ tru: bouche trou, đọan tiếp theo là răng-voa: renvoi, lên khuôn báo là mi-dzờ ăng pa: mise en page, như lay out tiếng Mỹ, bản vỗ để sửa lỗi là mo-rát: morasse, người sửa chữ là thầy cò: cò-rếch-tưa: correcteur, ký bản mẫu cho in là bông a tia-rê: bon à tirer , tờ báo dở gọi là tờ lá cải, theo tiếng feuille de chou của làng báo Pháp, lỗi do thợ sắp chữ sai là phốt ti-pô: faute typo, ký giả ngồi ở toà soạn xào nấu lại tin tức gọi là làm quy-dzin: cuisine, tiểu thuyết đăng nơi trang trong là phơi-ơ-tông: feuilleton..vv.. Tôi có thể nói để các sinh viên, những ký giả nhà báo tương lai, ít nhất họ cũng là những người thích nghề làm báo, biết cách sửa bản mo-rát, biết phải dùng những dấu hiệu nào để bảo ông Xếp Ti-pô xuống hàng, sắp chữ hoa, chữ đậm, chữ nghiêng, gạch dưới..vv.. Những hiểu biết trên đây người làm báo sẽ học được khi vào nghề, nhưng nếu có trường dậy, biết trước vẫn hơn.

Thời gian qua, hôm nay nhớ lại tôi thấy tôi đã quên đi nhiều tiếng chuyên môn của làng báo Việt Saigòn. Không bao giờ tôi có dịp đến Đại Học Đàlạt nói chuyện với các sinh viên Khoa Báo Chí về những ngày làm báo, viết báo của tôi. Tôi không quên những ngày tháng, những năm tôi làm việc trong tòa soạn nhật báo Sàigònmới, những năm từ 1958 đến 1964, những năm phong độ nhất của đời tôi…

Khoảng 9 giờ sáng ngày 2 Tháng 11 năm 1963 Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị nhóm tướng lãnh bắn chết, lúc 2 giờ trưa cùng ngày một nhóm người kéo đến đập phá tòa soạn nhật báo Sàigònmới, viện cớ báo Sàigònmới can tội “cấu kết với nhà Ngô”. Tòa soạn Sàigònmới gồm 3 căn nhà, một căn làm tòa soạn, hai căn là nơi cư ngụ của ông bà Bút Trà. Lúc đám người ập vào, hò hét lao nhao, bà Bút Trà đang ở trong phòng ngủ, chị hầu của bà đưa cho bà cái nón lá, bà đội nón theo chị xuống bếp, đi ra khỏi tòa soạn. Đám người được lệnh, được phép đến đập phá cũng không có ý muốn hành hung người trong nhà – họ không phải là đám lưu manh nhà nghề – họ hè nhau đốt cái xe ô tô của bà Bút Trà, đốt xe ô tô Huê Kỳ của Sáu Khiết, cái két sắt bên giường của bà Bút Trà bị lấy mất những món bên trong, nhưng két còn cái đáy gắn vào trụ xi-măng, trong đó để mấy món nữ trang kim cang, nhóm người đập phá không biết nên không mất, đám người phá phách không mở được két sắt của tòa báo, họ khiêng két ra ban-công, đẩy cho rơi xuống vỉa hè, két chỉ bị méo. Đám đập phá đi rồi, anh Thủ quỹ mở két lấy được số tiền 500.000 để trong đó, két bẹp, méo, mở được nhưng không đóng lại được nữa.

Những năm sau 1975, tôi đọc trong một bài viết của Lenin, thấy có đoạn viết đại khái: “khi ‘cách mạng’ thành công, nhân dân có vì căm hận mà đập phá nhà cửa của bọn chế độ cũ thì đừng có ngăn cấm.” Bằng câu đó Lenin ngầm dậy bọn cộng sản khi cướp chính quyền xong hãy tổ chức những cuộc đập phá trả thù, kể cả giết người, và gọi đó là “hành động của nhân dân phẫn nộ, vì nhân dân căm hận bọn cầm quyền chế độ vừa bị lật đổ”. Trong số những anh quân sư quạt mo của đám tướng lãnh có anh nào đó đọc, nhớ lời dậy của Trùm Cộng Sản, nên cho một số đàn em đến phá nhà báo Sàigònmới. Nhưng những người đi đập phá chắc vì thấy xấu hổ vì việc làm của họ nên cũng chỉ đập phá qua loa. Năm ấy có hai toà báo bị đập phá: tòa báo Cách Mạng Quốc Gia và tòa báo Sàigònmới.

Tòa báo Sàigònmới bị đập phá nhưng báo Sàigònmới không bị chính phủ mới cấm. Chính quyền Dương văn Minh, Thủ Tướng là ông Nguyễn Ngọc Thơ, Cựu Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, không đóng cửa một tờ nhật báo nào cả. Chỉ có nhật báo Cách Mạng Quốc Gia là hết sống. Nhân tòa soạn bị đập phá, bà Bút Trà quyết định sửa lại toàn bộ, làm thành một tòa soạn nhật báo hiện đại, có máy lạnh. Trong lúc tòa soạn được sửa chữa, ban biên tập Sàigònmới vào làm việc tạm trong biệt thự của ông bà Bút Trà ở đường Nguyễn Huệ, Phú Nhuận. Sau 1963 đường này đổi tên là đường Thích Quảng Đức.

Tôi không được hưởng tiện nghi của toà soạn Sàigònmới tân trang. Một chiều tháng Hai năm 1964, ba tháng sau ngày hai ông Diệm, Nhu bị bắn chết, khi tòa soạn Sàigònmới đường Phạm Ngũ Lão chưa sửa xong, tôi vào tòa nhà Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội VNCH dự cuộc họp báo của nhóm Nguyễn Khánh-Đỗ Mậu, nhóm quân nhân vừa làm cuộc đảo chính cướp chính quyền mà họ gọi là “chỉnh lý”. Chủ tọa cuộc họp báo là Thiếu Tướng Đỗ Mậu. Ông này nhân danh cái gọi là Hội Đồng Quân Nhân Làm Chỉnh Lý ra lệnh đóng cửa ba tờ nhật báo Sàigòn vì tội “cấu kết với độc tài Ngô Đình Diệm!”. Ba tờ báo bị đóng cửa là nhật báo Sàigònmới của bà Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, nhật báo Ngôn Luận của ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, nhật báo Đồng Nai của ông Huỳnh Thành Vị.

Sàigònmới bị đóng cửa! Thời phong độ của đời tôi lên đến đỉnh cao của nó năm 1963, bắt đầu xuống dốc với việc nhật báo Sàigònmới bị cấm. Nhật báo Sàigònmới chết oan, nó bị người ta bức tử vì nó bán chạy, nó có số bán kỷ lục, nó ép chết nhiều báo khác, nó làm nhiều báo khác sống khặc khừ; bắt nó chết người ta hy vọng số độc giả của nó sẽ chia cho nhiều báo khác, nhiều tờ báo èo uột sống dở, chết dở sẽ nhờ nó chết mà được sống.

Không bao giờ nhật báo Sàigònmới cấu kết với chính phủ Ngô Đình Diệm. Báo Sàigònmới là báo thương mại. Có lần ông Bút Trà nói với tôi:

— Mình làm báo cũng như mình làm thương mại. Người làm thương mại ở địa phương nào phải thân với chính quyền ở địa phương ấy. Cái gì chính quyền làm hay, có lợi cho dân, thì mình nêu lên báo, nhưng mình không ca tụng họ, không nịnh bợ họ.

Sáu năm làm việc trong tòa soạn Nhật báo Sàigònmới – từ 1958 đến 1964 – là thời gian đẹp nhất, sung sướng nhất trong đời tôi. Không phải chỉ trong đời làm báo của tôi mà là cả trong cuộc đời riêng của tôi. Hôm nay, cô đơn ở xứ người, nhớ lại ngày xưa, hoài niệm thời gian tôi làm nhân viện nhật báo Sàigònmới, tim tôi đầm ấm, lòng tôi rung động, hồn tôi thiết tha, tôi thấy tôi được ơn và tôi biết ơn. Đã mấy người đi tìm việc hai lần đến hai tòa soạn nhật báo, được ông chủ bút, bà chủ nhiệm nhận vào làm ngay, lĩnh lương ngay, đã mấy người làm công bỏ chủ ra đi được chủ nhân đăng báo nhắn tin mời về làm, đã mấy ký giả được nghe chủ báo nói: “Biết anh có tài nhưng báo nghèo không có tiền trả anh nên phải để anh đi.. Nay báo bán khá, có tiền, chúng tôi mời anh về..” Tôi đã được hưởng nhiều may mắn trong nghề. Trong một bài tới, tôi sẽ viết nhiều hơn về ông bà Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, về chuyện tại sao tôi coi bà Bút Trà là “bà chủ của tôi”, tại sao trong hai mươi năm trời làm báo, viết tiểu thuyết của tôi, tôi chỉ có một người tôi coi là chủ.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: