• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Đường Về St. Petersburg Bắt Đầu Từ Sài Gòn!

LOLITA, tiểu thuyết của Vladimir Nabokov, xuất bản năm 1955, đến 2005, 50 năm, Lolita đã bán được hơn 50 triệu bản. Không phải 5 triệu mà là 50 triệu bản. Năm 1955 tiểu thuyết LOLITA xuất bản lần thứ nhất ở Paris. Dư luận giới văn nghệ, báo chí Âu Mỹ sôi nổi vì LOLITA.

Tiểu thuyết LOLITA “bị” nhiều người cho là Dâm Thư, “được” nhiều người cho là Tuyệt Phẩm Văn Chương. Lolita bán chạy, được dịch ra nhiều thứ tiếng, được làm phim. VLADIMIR NABOKOV, tác giả LOLITA, nổi tiếng trên khắp thế giới. Trong 50 năm kể từ năm 1955, Lolita đã bán được hơn 50 triệu bản. 50,000,000. Lolita được làm thành phim 2 lần, lần thứ nhất năm 1960, với James Mason, Shelley Winter trong hai vai chính, cô đào Tuesday Weld trong vai Lolita, phim đen trắng, phim Lolita thứ hai được làm năm 1990, với hai diễn viên Jimmy Irons, Melanie Griffith.

Theo đúng thông lệ về thời gian, những nước chậm tiến, huê mỹ là những nước lạc hậu, trước các phong trào văn học, âm nhạc hay thời trang quốc tế, nói đúng hơn là những phong trào thời thượng phát xuất từ Âu Mỹ, thường đi sau vài ba năm những nước văn minh, một tên khác là những nước tiên tiến. Xin viết rõ hơn: khi tiểu thuyết Lolita gây dư luận ồn ào ở Pháp, Mỹ, Anh, người Việt Nam ở Sài Gòn chẳng mấy ai biết gì về Lolita, khi vụ sì-căng-đan tiểu thuyết Lolita ở Âu Mỹ đã lắng đi, đã thành chuyện cũ, người Sài Gòn mới biết trên cõi đời này có tác phẩm tiểu thuyết tên là Lolita. Như khi mode robe sac – áo đầm không eo, ngay đuồn đuỗn như cái thùng, cái thúng, cái bao tải, tức bao bố tời – khi mode minijupe, miniskirt – váy ngắn lên gần đến bẹn – được phụ nữ Âu Mỹ mặc chán ra rồi, khi đã không còn là mode, mới thấy robe sac, minijupe xuất hiện ở những đường Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi Sài Gòn. Ít nhất tình trạng đi sau ấy cũng đúng trong trường hợp cá nhân tôi: Lolita được xuất bản năm 1955, được người thế giới đọc, bàn tán, lên án, khinh bỉ, ca tụng, vinh danh nát ra rồi, đến những năm 1957, 1958 tôi mới được biết cõi đời nay có tiểu thuyết Lolita. Tôi muốn đọc Lolita nhưng ở Sài Gòn những năm 1957, 1958 tôi làm sao có Lolita để đọc! Những năm ấy Chính Phủ Quốc Gia đang làm một cuộc gọi là “cách mạng quốc gia”. Đại khái là chính phủ thi hành một chính sách làm cho xã hội lành mạnh, trong sạch, lương thiện, để có thể chống lại chủ nghĩa cộng sản và đập tan cuộc tấn công chắc chắn sẽ xẩy ra của bọn cộng sản miền Bắc. Chính phủ VNCH do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo, chủ trương, kêu gọi, và muốn, tất cả những văn hoá phẩm của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa phải có tính “xây dựng, lành mạnh, có hướng đi lên.” Do đó, những tiểu thuyết Âu Mỹ bị mang tiếng là Dâm Thư như Lady Chatterly’s Lover, Lolita.. không sao có thể vào được Sài Gòn. Tôi viết “..vào Sài Gòn” đây là công khai vào những tiệm sách của Sài Gòn; chính phủ không cho phép nhập vào Việt Nam những dâm thư ấy. Thời ấy, những năm 1956 đến 1963, chỉ những người Việt đi sang Pháp, sang Mỹ mới có thể mua và đem về nước những bí kíp Dâm Thư nổi tiếng như Lolita, Lady Chatterley’s Lover, Tropic of Capricorn.

Năm 1958, ông cậu tôi là sĩ quan, được sang Hoa Kỳ mấy tháng. Biết tôi thích chơi bật lửa, tức hộp quẹt máy, ông cậu tôi nói sẽ mua cho tôi một, hai cái Ronson, Zippo.

Tôi nói: – Ông ơi.. Ronson, Zippo, Dunhill con có thể mua được ở Sài Gòn. Sang Mỹ, ông đừng mua bật lửa, ông mua cho con hai quyển truyện này.

Tôi cẩn thận biên tên hai quyển tiểu thuyết lên giấy đưa cho ông. Khi ông từ Mỹ trở về, tôi có quyển Lady Chatterley’s Lover và quyển Lolita. Hai quyển tiểu thuyết bìa cứng, thật đẹp tôi từng ao ước được đọc, được có.

Lady Chatterley’s Lover..! Tác giả D.H. Lawrence. Từ những năm tôi mới 10 tuổi, những năm trước năm 1945, ở thị xã Hà Đông, tôi đã loáng thoáng nghe nói đến Lady Chatterley’s Lover. Tôi viết “nghe nói” không đúng, tôi loáng thoáng đọc được trên những trang phê bình văn nghệ thời ấy vài lời bàn tán về tác phẩm Lady Chatterley’s Lover. Những năm xưa ấy truyện có tên Việt là Người Tình của Thái Lai Phu Nhân. Nhưng tôi chỉ biết lờ mờ đó là một truyện tình, trong có nhiều cảnh giao hoan giữa đàn ông, đàn bà, cảnh giao hoan được tả từng chi tiết. Ngay cả những ông viết tiểu thuyết Việt Nam, những nhà bình luận văn nghệ Việt Nam những năm 1935-1945 bàn tán xa gần đến truyện Người Tình của Thái Lai Phu Nhân chắc cũng không có mấy ông từng đọc trọn tác phẩm ấy.

Tôi chỉ viết qua về Lady Chatterley’s Lover, đề tài bài Viết ở Rừng Phong hôm nay không phải là Lady Chatterley’s Lover mà là Lolita và Vladimir Nabokov, tác giả Lolita.

Vladimir Nabokov, sinh trưởng ở thành phố Thánh Peter, nước Nga. Nước Nga bị nạn cộng sản cướp chính quyền, ông theo gia đình ông chạy nạn Nga Cộng Sản, thời đó là bọn Bôn-sê-vích, sang Âu Châu năm 1920. Năm ấy Vladimir Nabokov 16 tuổi.

Những năm đầu Vladimir Nabokov sống ở nước Đức, rồi sang Paris, ông trở thành một văn nghệ sĩ Bạch Nga lưu vong ở Pháp. Những năm 1940 ông viết những bài chống Cộng, những truyện ngắn, những tùy bút diễn tả nỗi sầu tủi của những người Nga tha hương, đóng góp vào dòng văn chương Nga lưu vong chống Cộng ở Pháp. Rồi ông viết truyện dài bằng tiếng Nga. Nhưng ông sớm biết muốn được nổi tiếng, muốn tác phẩm của mình có người đọc, người viết phải viết bằng tiếng Anh, và tác phẩm phải đươc xuất bản ở Mỹ.

Từ năm 1950 Vladimir Nabokov chuyển sang viết bằng tiếng Anh, ông viết Lolita bằng văn Anh. Người đọc Anh Mỹ bị văn ông chinh phục, văn Anh của Lolita hay, đẹp, tuyệt vời, có những đoạn lời thơ mộng như Thơ. Người ta ca tụng văn Vladimir Nabokov nhưng người ta lên án tiểu thuyết Lolita vì cốt truyện Lolita vô luân, bệnh hoạn, sa đọa. Truyện LOLITA sơ lược như sau:

Nhân vật chính của Lolita xưng là tôi, Humbert, một giáo sư Nga dậy văn chương cổ điển Nga ở Paris. Ông trạc 35, 40 tuổi, là người Nga tỵ nạn cộng sản, bỏ nước Nga sang nước Pháp từ những năm 20 tuổi. Giáo sư Humbert có vợ, vợ ông là người Nga, con gái một giáo sư Nga, cũng là dân Nga di cư tránh nạn Cộng sản. Humbert không yêu thương vợ mà cũng không thấy có gì hấp dẫn trong đời sống vợ chồng. Ông thích những cô gái mười bốn, mười lăm tuổi, những cô gái chưa đến tuổi dậy thì.

Ngôn ngữ Việt Nam có tiếng “chanh cốm” để gọi những cô gái mới mười bốn, mười lăm tuổi. Khi sống ở Paris, Giáo sư Humbert chỉ thấy thích, thấy muốn những cô gái mà ông gọi là nymphet, ông không, ông chưa có dịp được thỏa mãn nỗi thích thú dâm dục ấy. Thế rồi ông Giáo kể chuyện xẩy ra trong buổi tối cuối cùng ông sống với bà vợ ông, tối hôm ấy ông bà đi ăn hiệu:

— Tôi thấy Anna có vẻ bối rối sao đó. Hình như cô ta có chuyện gì muốn nói mà khó nói. Ăn xong, chúng tôi ra cửa nhà hàng. Một chiếc taxi trờ đến như xe đậu sẵn ở đấy để đón chúng tôi. Xe chạy. Anna nói cô xin lỗi tôi, cô không thể sống với tôi lâu hơn được nữa, cô biết tôi không yêu thương cô, cô xin tôi để cho cô đi làm lại cuộc đời, cô gặp người yêu thương cô chân thành và tối nay cô xin phép tôi về nhà lấy y phục đi sống với người ấy. Tôi ngạc nhiên nhìn Anna. Tôi ngạc nhiên vì đàn bà như cô mà cũng có đàn ông yêu thương thì lạ thật. Vì tò mò chứ không phải vì ghen, tôi hỏi Anna người đó là ai? Tôi hỏi xem người đó có phải là người tôi biết không. Cô làm một cử chỉ mơ hồ. Tôi hỏi lại. Ai? Anna nhìn tôi bằng ánh mắt như thương hại sao tôi chậm hiểu quá. Thì ra ngón tay cô chỉ vào cái cần cổ trâu của anh tài xế taxi. Anh tài xế cho xe ngừng lại, anh mời Anna và tôi vào một quán cà phê, anh tự giới thiệu: anh là cựu Đại tá Quân Đội Bạch Nga, thời ấy nhiều Đại tá Bạch Nga tị nạn chạy taxi ở Paris, anh yêu thương Anna và tối nay anh xin phép tôi cho anh đưa Anna về nhà tôi lấy y phục, anh sẽ đưa Anna yêu thương của anh đi khỏi đời tôi và nhà tôi ngay tối nay.

Chán quá, tôi mặc hai người muốn làm gì thì làm. Họ đưa nhau đi khỏi nhà tôi lúc nào tôi chẳng biết. Chỉ khi tôi vào phòng tắm, thấy trong bồn cầu vàng khè nước tiểu còn lều bều nổi mẩu tàn thuốc lá – Anh Tài xế Cựu Đại tá đi tiểu mà không giật nước! Giận điên lên, tôi chạy xuống đường, định cho anh ta bài học, nhưng đường phố vắng tanh, chiếc taxi không còn đó nữa. Về sau nghĩ lại tôi không cho là anh ta thô tục, vô lễ, anh không giật nước bồn cầu tiêu là vì anh tôn trọng tôi. Nếu giật nước tiếng nước và dòng nước chẩy trong bồn cầu sẽ làm cho cả căn phòng nhỏ trên tầng lầu ọp ẹp rung động. Anh không giật nước vì anh không muốn để tôi biết là anh vừa đái.

Trên đây là đoạn Giáo sư Humbert, nhân vật chính của tiểu thuyết Lolita, kể về chuyện bà vợ ông đi ra khỏi đời ông. Vài năm sau, Giáo sư được một trường đại học ở Mỹ mời sang Mỹ dậy học. Nhân viên nhà trường đưa Giáo sư đến vài nhà tư trong thành phố để ông tìm chỗ ở trọ, ăn ở luôn trong nhà. Một kiểu “share phòng” quen thuộc với người Việt ở Mỹ những năm 1980, 1990, 2000.. Đến một nhà kia, bà chủ là sương phụ, bà trạc tuổi ông Giáo, nhà tốt, phòng riêng, ở được, nhưng Humbert thấy bà chủ không hấp dẫn chút nào, ông sợ ông không vợ, bà chủ nhà không chồng, hai người sống chung một nhà sẽ có chuyện phiền nhiễu xẩy ra mà ông thì ông thấy bà chủ không khêu gợi dục tình của ông tí síu nào, ông theo bà đi coi nhà nhưng đã định sẽ cám ơn, hẹn trở lại rồi đi luôn. Khi đi qua vườn, Humbert choáng người, đứng tim khi thấy cô gái nằm sấp trên cỏ, đọc truyện comic. Cô gái mười bốn, mười lăm tuổi, người chưa nẩy nở. Cô đúng mẫu nymphet mà ông ao ước được gần từ lâu. Tên cô là Lolita, con gái duy nhất của bà chủ nhà, bà Charlotte Haze. Humbert kết luận chương truyện này bằng câu viết về bà chủ nhà, bà mẹ của Lolita:

— Tội nghiệp nàng. Nàng chỉ là một thiếu phụ Mỹ đẹp.

Humbert ở trọ trong nhà vì Lolita, để được gần Lolita, rồi một hôm từ trường về nhà ông thấy bà chủ nhà để cho ông bức thư: – ” Chắc anh chẳng để ý gì đến em nhưng em không dấu đươc, em phải thú thật với anh: em yêu anh. Nếu anh không yêu em, xin anh đi khỏi nhà em trước khi em về nhà tối nay. Còn nếu em về mà thấy anh ở nhà tức là anh cũng yêu em, em sẽ sung sướng lắm.”

Humbert thấy nếu lấy bà mẹ Lolita, ông sẽ là bố dượng của Lolita, ông sẽ có thể âu yếm cô như cô là con gái của ông. Thế là Humbert thành bố dượng của Lolita. Cuộc tình dâm chỉ mới là những đụng chạm thể xác, Humbert không dám làm gì Lolita cả, nhưng ông ghi những cảm xúc của ông vào quyển Nhật Ký. Humbert chủ quan cho rằng bà vợ sẽ không tò mò cậy khóa tủ xem Nhật Ký của ông, mà có xem bà cũng không hiểu ông viết gì vì chữ ông viết thật khó đọc, nhỏ li ti, rối như mạng nhện. Humbert đã lầm. Bà vợ ông, vì yêu chồng nên cậy khóa đọc Nhật Ký của chồng. Và hôm ấy cũng từ trường về nhà, Humbert thấy tủ bị cậy khóa, quyển Nhật Ký bị mở xem, lại có bức thư bà vợ để đó. Bà viết bà không ngờ ông lại tàn ác, quỉ quái, bệnh hoạn đến như thế, ông đã lừa dối bà, ông phải đi khỏi nhà bà ngay. Bà sẽ không cho ông đến gần con gái bà…

Lúc ấy mùa hè, Lolita đang ở Trại Hè do nhà trường tổ chức. Đọc thư vợ, Humbert chưa biết tính sao thì có tiếng chuông điện thoại reo, người gọi đến báo: bà vợ ông bị xe ô tô đụng ngoài đường. Bà đi qua đường, chắc là để bỏ bức thư bà cầm ở tay vào thùng thư bên kia đường. Xe ô-tô trờ tới đụng bà chết tại chỗ. Humbert chạy đến nơi bà vợ ông tử nạn, được người ta đưa cho bức thư. Đó là thư người tử nạn gửi cho cô con đang ở Trại Hè, thư bà viết dặn cô con không được gần Giáo sư Humbert, bà viết bố dượng của cô là ác quỉ!

Humbert diếm ngay bức thư. Chôn cất bà vợ xong ông lái xe đến Trại Hè đón Lolita. Ông không cho Lolita biết bà mẹ cô đã chết, ông lái xe đưa cô đi hết thành phố này sang thành phố khác. Làm như hai bố con, tối xuống vào motel nghỉ đêm, Humbert chỉ mướn một phòng bố và con gái ở chung. Ông cho Lolita uống nước pha thuốc ngủ. Đêm, trên giường ô-ten, Lolita ngủ say, Humbert một mình làm chuyện dâm dục trên thân thể cô.

Cuộc tình tội lỗi, quái quỉ, bệnh hoạn ấy không dài lâu. Một tối Lolita biến mất. Humbert biết có kẻ nào đó đã quyến rũ Lolita, kẻ đó đã đưa cô đi. Ông đau khổ đến gần phát điên vì mất cô. Năm, sáu năm sau ông mới tìm ra được tông tích cô. Ông đến nhà cô trong một tỉnh nhỏ. Lolita bây giờ không còn là nàng nymphet Lolita gợi cảm, quyến rũ làm ông mê mệt năm xưa. Nàng đang có chửa, người nàng mập phị, hai chân nàng như bị phù thũng, lão già dê quyến rũ nàng đi với lão năm xưa đã bỏ rơi nàng không chút xót thương, chồng nàng là một công nhân hơn nàng năm, sáu tuổi, nàng sống nghèo trong căn nhà tối. Trái tim Humbert đau như muốn vỡ, ông xin Lolita đi sống với ông nhưng cả ông và nàng cùng thấy họ không sao có thể còn sống được với nhau. Cuộc tình của họ tan rồi. Không còn Lolita nữa. Humbert đưa cho Lolita số tiền ông bán căn nhà của bà mẹ nàng, cùng tất cả số tiền của ông cho nàng. Rồi ông từ biệt nàng. Ông đến nơi ở của lão già dê mấy năm trước đã quyến rũ Lolita. Lão này sống một mình. Humbert bắn lão nhiều phát đạn. Lão chết. Humbert vào tù. Trong khi chờ đền tội giết người, Humbert trong tù kể lại chuyện đời ông và Lolita.

Đó là đại khái cốt truyện Lolita. Tiểu thuyết Lolita ra đời năm 1955, đến năm 2005, Lolita đã có mặt ở đời 50 năm. Năm 2005, Tạp chí Playboy có bài viết về Vladimir Nabokov và Lolita, kỷ niệm Lolita ra đời được 50 năm:

JASON EPSTEIN.
Người biên tập LOLITA và xuất bản
LOLITA của VLADIMIR NABOKOV
Bài đăng trên PLAYBOY Số Tháng 12, 2005.
Lời kể của J. EPSTEIN.

Trích. Phỏng dịch.

Tôi gặp Nabokov lần cuối cùng Tháng Tám 1973 ở Paris, trong một ngày Chủ Nhật. Hôm ấy tôi từ miền Nam nước Pháp đến Paris, chờ chuyến phi cơ hôm sau bay về New York. Năm ấy tôi nghiện hút xì-gà, nhà ông bà Meurice, phố Rivoli, nơi tôi ngụ không có xì-gà, tôi đi qua một góc phố đến Khách sạn Ritz, nơi tôi biết có bán thuốc điếu. Trong buổi sáng mùa hè phòng rượu vắng khách, chỉ có ba người, hai thiếu phụ, một khách đàn ông, ngồi ở cuối phòng. Tôi nhận ra người thiếu phụ tóc trắng như tuyết là Vera Nabokov, bà đang ngồi với Vladimir, ông chồng nổi tiếng của bà. Người thiếu phụ kia, về sau tôi biết, là người dịch tác phẩm của Nabokov sang văn Pháp.

Tôi không gặp, cũng không nói chuyện qua điện thoại, với ông bà Nabokov đã hai, hay ba năm. Những năm ấy tôi chống đối dữ dội chiến tranh Việt Nam. Vladimir thì lại ủng hộ cuộc chiến tranh ấy hết mình, ông hy vọng, như nhiều người di cư khác, cuộc chiến tranh sẽ đưa đến một kết quả domino lật ngược có thể dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản ở khắp mọi nơi để ông có thể, sau cùng, trở về thành phố Thánh Peter yêu dấu của ông và lấy lại những tài sản của gia đình ông.

Mời quí vị đọc lời viết bằng Anh văn đoạn trên đây của Jason Epstein:

I last saw Nabokov in August 1973 in Paris on a Sunday. I had just come up from the south to take a plane the next day for New York. In those days I was addicted to cigars. The Meurice, where I was staying on the rue de Rivoli, had none. So I walked around the corner to the Ritz, where I knew there would be a humidor. The bar was empty on that summer morning except for two women and a man at a table at the far end of the room. I thought I recognised one of the women, with her snowy white hair. She was Vera Nabokov, sitting with her famous husband Vladimir.

I had not seen or spoken to the Nabokovs for two, may be three years. I had been strongly opposed to the Vietnam war. Vladimir was all for it, hoping like so many emigrés for a kind of reverse effect that would lead to the collapse of Communism everywhere so that he could at last return to his beloved St. Petersburg and reclaim his family property.

Tôi phỏng dịch tiếp lời kể của Jason Epstein:

Dòng họ Nabokov có cội rễ lâu đời trong lịch sử Nga. Thân phụ của Vladimir xưa là một lãnh tụ khối Cấp Tiến trong Viện Duma, ông bị ám sát hồi thập niên 1920 ở Berlin. Cho đến năm 1973 tôi đã quen biết Vladimir 20 năm, tôi từng là người xuất bản tác phẩm và quản thủ tài sản của Vladimir. Chúng tôi là bạn nhau cho đến chiến tranh Việt Nam. Khi ấy, không lời qua, tiếng lại gì cả, tình bạn của chúng tôi chấm dứt. Tôi thông cảm. Với Vladimir, đường trở về Nevsky bắt đầu từ Sài Gòn.

Tối hôm ấy, Vladimir, Vera, cô bạn tôi Nữ ký giả Christine Ockrent và tôi cùng ăn bữa tối ở Ritz. Tôi mời mọi người uống ly rượu mừng vợ chồng Nabokov là hai người đồng hương Mỹ của tôi sống lưu vong ở Pháp. Với tiền bản quyền Lolita nay vợ chồng Nabokov sống trong một khách sạn ở Montreux như kiểu những nhà quí tộc Nga sống lưu vong ở Paris. Sau đó, chắc là muốn chọc tức tôi, Vladimir mời mọi người nâng ly uống mừng Richard Nixon. ” Ồ, em xin anh mà, Volodya,” Vera năn nỉ, bà sợ có sự xung đột xẩy ra. Nhưng không có gì xẩy ra cả, tôi uống mừng vị Tổng Thống của chúng tôi. Sau đó chúng tôi ôm hôn nhau và nói lời từ biệt nhau. Tôi không bao giờ gặp lại vợ chồng Nabokov. Bốn năm sau Vladimir qua đời ở Thụy Sĩ.

Ngưng lời kể của Jason Epstein.

Đây là đoạn Anh văn lời kể trên đây của Jason Epstein:

The Nabokovs was deeply rooted in Russian history. Vladimir’s father had been a leading liberal member of the Duma and was assassinated in the 1920 by czarist thugs in Berlin. I had known Vladimir for some 20 years and had been his publisher for a while and a trustee for his estate. We were friends until Vietnam, and then wordlessly our friendship ended. I understood. For Vladimir the road to the Nevsky Prospect began in Saigon.

That evening Vladimir, Vera, my friend the journalist Christine Ockrent and I had dinner at the Ritz. I proposed a toast to the Nabokovs as fellow American in exile. With the money from Lolita they were now living in a hotel in Montreux, in grand Russian emigré style. Hoping to confound me, Vladimir then proposed a toast to Richard Nixon. “Oh, please, Volodia..” Vera pleaded, anticipating a scene. But there was no scene. I toasted our president. Later we embraced and said good-bye. I never saw the Nabokovs again. Vladimir died four years later in Switzerland.

Lời kể về Vladimir Nabokov của Jason Epstein làm tôi bùi ngùi, rồi làm tim tôi ấm nóng. Như vậy là – trước đây tôi đâu có biết, làm sao tôi biết – trong những năm từ 1965 đến 1975 có những người Nga nạn nhân cộng sản phải bỏ nước Nga đi sống lưu vong, sống nhờ, ở những nước dân chủ Âu Mỹ – trong số những người Nga ấy có Vladimir Nabokov, tác giả Lolita – hy vọng rằng chiến tranh Việt Nam sẽ đánh sụm, đánh sụp bọn cộng sản trên toàn thế giới. Văn sĩ Vladimir Nabokov ôm mộng chiến tranh Việt Nam sẽ làm cho bọn cộng sản Nga mất quyền thống trị ở nước Nga, làm cho ông được trở về quê hương bản quán là thành phố Thánh Peter của ông, thành phố bị bọn Nga Cộng đổi tên là Thành phố Lenin.

Tôi tội nghiệp Vladimir Nabokov, tôi thán phục Vladimir Nabokov. Bọn Bắc Cộng vào Sài Gòn năm 1975, năm 1977 Vladimir từ trần ở Thụy Sĩ. Giấc mơ ” Đường về Nevsky bắt đầu từ Đường Tự Do ở Sài Gòn” của ông không thành sự thật trong lúc ông còn sống, ông không về được thành phố thời thơ ấu của ông trong khi ông sống. Chắc năm 1975 ông bị nhiều người cười ông đã hoang mộng, đã chờ mong ngu ngốc. Nhưng nay, năm 2005, 2006, lời hồi tưởng của Jason Epstein cho tôi thấy Vladimir Nabokov không hoang mộng, không ngu ngốc một ly ông cụ nào cả. Ông rất sáng, rất đúng trong lời nói trước của ông về cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông không mơ vu vơ, không ước ngu ngơ: những năm 1970 ông thấy trước cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ làm cho bọn cộng sản sụp đổ, mất quyền trên toàn thế giới.

Đúng như lời Vladimir Nabokov nói: “..Đường về Nevsky bắt đầu từ Sài Gòn..!” Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, và Quân đội Hoa Kỳ, đã không thắng bọn cộng sản trong trận chiến tranh Việt Nam, nhưng trận chiến tranh Việt Nam đã làm cho bọn Cộng Nga, Cộng Tầu hao mòn sinh lực, đã góp công lớn trong việc làm sụp đổ Khối Cộng Sản trên toàn thế giới.

Từ lâu, những đêm trằn trọc trong căn nhà nhỏ ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, những đêm căng thân gầy trơ xương, phơi rốn mốc trên sàn xi-măng những phòng giam Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Nhà Tù Chí Hòa, những đêm lặng nằm nghe gió từ núi Chứa Chan thổi về, lắng hồn trong tiếng lá bạch đàn rì rào quanh trại tù, mơ màng trên ván gỗ phòng giam Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, những đêm nằm yên ấm trong căn phòng an ninh ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, .. nhiều đêm tôi cay đắng đến nhầu tim, lầy óc khi tôi bị dầy vò, bị hành hạ vì ý nghĩ cả triệu anh em tôi chết nát thây, tan xương mà bọn Bắc Cộng vẫn vào được Sài Gòn, cả trăm ngàn người Mỹ chết, mất xác, gẫy tay, cụt chân, mù mắt trên đất nước Việt Nam của tôi, để bảo vệ chúng tôi, vậy mà vẫn không chặn được làn sóng đỏ! Tôi u uất đến ung thư gan ruột với ý nghĩ cả triệu anh em tôi, cả trăm ngàn người Mỹ.. đã chết vô ích.

Nhưng rồi mấy năm mới đây tôi lại nghĩ cả triệu anh em tôi, cả trăm ngàn người Mỹ.. đã không chết vô ích trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Vì anh em tôi đã chiến đấu, đã chết, vì những người Mỹ đã hy sinh xương máu, cuối cùng cuộc chiến lớn diễn ra trên đất nước tôi đã đánh vỡ tan chế độ cộng sản trên toàn thế giới, cuộc chiến tranh Việt Nam đã góp phần vào cuộc tiêu diệt hoàn toàn bọn cộng sản, đập nát chế độ cộng sản, xé toạc chủ nghĩa cộng sản.

Thua một trân đánh không phải là thua cả cuộc chiến tranh, không phải bao giờ những người thua cũng là những người không có chính nghĩa, không có lẽ phải. Tôi sẽ cố gắng trình bầy với quí vị ý nghĩ của tôi về chuyện thua được, đúng sai trong Chiến Tranh Việt Nam trong một bài sau, hôm nay bài viết đã tạm đủ dài, tôi kết:

— Tôi nghĩ cả triệu anh em tôi đã chết, trong cuộc chiến ngăn chặn bọn cộng sản ở đất nước tôi, không phải là chết vô ích. Vì anh em tôi hy sinh, chế độ cộng sản, chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, tan vỡ trên toàn thế giới. Anh em tôi thua một trận đánh, anh em tôi thắng cuộc chiến tranh diệt Cộng. Anh em tôi đã chết cho loài người được sống không có tai họa cộng sản. Nhưng tôi cô đơn trong ý nghĩ ấy của tôi, tôi không có tài biện luận để có thể nói lên một cách thuyết phục lập luận ấy của tôi.

Những ngày như lá, tháng như mây..Năm mươi mùa lá rụng đã qua đời tôi kể từ những đêm xưa tôi chưa đầy 30 tuổi, đêm bình yên tôi nằm trong căn phòng yên ổn trong lòng thành phố Sài Gòn, tôi mê mẩn quên đời trên những trang truyện Lolita. Thế rồi cuộc sống cuốn tôi đi, qua những nhà tù, trở về Sài Gòn, trở vào nhà tù, trở về mái nhà xưa và cuối năm 1994 bánh xe lãng tử đưa vợ chồng tôi sang Mỹ.

Đêm cuối năm 2005 buồn lắm ở xứ người, đọc Tạp Chí Playboy, tình cờ tôi gặp lại tác giả Lolita Vladimir Nabokov, tôi bùi ngùi, tôi cảm khái đọc chuyện kể những năm 1970 ông văn sĩ Nga nạn nhân cộng sản lưu vong tin rằng cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ làm cho Khối Cộng Sản phải sụp đổ, năm 1970 ông tin chắc con đường đưa ông trở về Quận Nevsky Thành Phố Thánh Peter xưa của ông sẽ bắt đầu từ đường Tự Do, Sài Gòn, Việt Nam! Không phải ông “tin chắc” mà là ông “biết” sẽ như thế!

Năm xưa Thi sĩ Lục Du, nước Tầu, đau khổ vì một nửa miền Bắc đất nước ông bị ngoại xâm, bị quân nước ngoài chiếm đóng, trong một bài thơ ông dặn con cháu ông “sau khi ông chết, khi nào người Hán khôi phục được giang sơn, lấy lại phần lãnh thổ miền Bắc, ngày giỗ ông con cháu ông nhớ báo cho ông biết.”

Đó là chuyện Thi sĩ Lục Du bên Tầu, Văn sĩ Nga Vladimir Nabokov không cần ai phải báo cho ông biết ngày bọn Nga Cộng phải buông bỏ chính quyền ở Nga, ông đã biết từ năm 1970 chuyện đến những năm 1989, 1990 tượng đồng, tượng đá, tượng xi-măng hai tên Tổ Sư Cộng Sản Lenin, Stalin ở nước Nga của ông bị dân Nga tròng xích sắt vào cổ, kéo xuống, cho ra nằm ở bãi rác, cưa đầu vứt ở vệ đường, ống cống.

Năm 1970 ở Paris, New York, London… Văn sĩ Vladimir Nabokov nói: – Đường tôi trở về thành phố quê hương của tôi ở Nga bắt đầu từ đường Tự Do ở Sài Gòn, Việt Nam..!

Thưa ông Văn sĩ, ông hay quá, ông nói đúng quá chừng chừng. Ông biết trước, ông nói trước cả 20 năm rằng ông, và những người Nga nạn nhân cộng sản phải bỏ nước Nga, phải sống ở nước ngoài 70 năm, sẽ đường hoàng trở về nước Nga khi bọn cộng sản Nga bị nhân dân Nga lôi cổ ra nhổ vào mặt, bợp tai, đá đít, đuổi đi. Tuyệt và đúng, và đáng kính, đáng sợ hơn nữa là ông biết, ông nói cuộc chiến tranh chống Cộng ở Việt Nam sẽ làm cho bọn Cộng Sản Nga đi một đường bị gậy ăn mày. Từ những năm 1970 ông nói con đường đưa ông về nước Nga không cộng sản của ông bắt đầu từ Sài Gòn, Việt Nam…

Cảm khái cách gì..!

.. Từ Sài Gòn thành phố thủ đô yêu dấu của tôi! Thưa ông Văn sĩ, nếu ông biết như thế chắc ông cũng biết các ông trở về được nước Nga không cộng sản của các ông một phần là nhờ xương máu của cả triệu anh em tôi, nhờ những giọt nước mắt của những bà quả phụ nước tôi, những giọt nước mắt làm đầy biển Đông, biển Tây.

Không một dân tộc nào chống Cộng bi hùng, đau thương như dân tộc Việt Nam chúng tôi. Trước chúng tôi không có mà sau chúng tôi sẽ không bao giờ có.

Tượng Lenin, tượng Stalin ở nước Nga đã bị dân Nga kéo đổ, cưa đầu, lôi đi cho nằm ở bãi rác, bọn đảng viên cộng sản Nga đã bị dân Nga nắm cổ, lôi ra, nhổ vào mặt, đánh cho mỗi thằng năm, bẩy cái bạt tai, đá đít đuổi đi. Chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch, chắc hơn gỗ lim bọn đảng viên cộng sản Việt sẽ bị dân Việt nắm tóc lôi ra, nhổ vào mặt, đánh cho mỗi thằng năm, bẩy cái bạt tai, đá đít, đuổi đi, tượng Hồ chí Méo sẽ bị dân Việt cho ra nằm ở bãi rác. Chắc hơn bắp rang, chắc hơn cả cua gạch, gỗ lim, những chuyện ấy nhất định sẽ xẩy ra.

Anh em chúng tôi đã chiến đấu chống Cộng, anh em chúng tôi đã hy sinh, anh em chúng tôi đã thắng!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: