• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Nễ Nớn Nòng Nợn

Làng báo Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà có lệ mỗi năm Tết đến ra Số Báo Xuân. Báo Xuân hay Báo Tết in đẹp, bià offset nhiều mầu, ảnh trên bià báo Xuân thường là ảnh xuân nữ, tức cô gái trẻ, đẹp, hay phong cảnh sơn thủy hữu tình, hoa lan, hoa hồng. Đặc biệt báo Xuân có những bài viết về con vật được gọi là Con Giáp năm đó, như Báo Xuân Năm Tuất có những bài về Chó, Báo Xuân Năm Hợi có những bài về Lợn Bắc Kỳ, Heo Nam Kỳ.

Tôi nhớ như chuyện mới xẩy ra ngày hôm qua: những năm 1959, 1960, thời gian cực thịnh của Nhật Báo Sàigònmới, thời gian cực thịnh của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, thời gian uy quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên cao nhất; đó cũng là thời phong độ nhất của chàng Ký Giả Công Tử Hà Đông. Một buổi sáng gần Tết Nguyên Đán trong Tòa soạn Nhật Báo Sàigònmới, số nhà 22 Đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn; số tô-lô-phôn 22244, Sàigònmới là tờ nhật báo có số bán cao nhất, được nhiều người mua, đọc nhất thời đó. Hôm ấy, lúc 10, 11 giờ sáng là thời gian toà soạn hoạt động mạnh nhất, rộn rịp nhất, ký giả Hoài Thanh, anh bạn đồng tòa báo của tôi, nói:

— Thẩm Thúy Hằng chơi chó này, có ảnh đàng hoàng, ai nói gì đâu!

Hoài Thanh đưa lên tờ báo Xuân, bìa báo in ảnh Thẩm Thúy Hằng ôm con chó bông trắng. “Ôm chó” tức là chơi với chó, mà chơi với chó tức là chơi chó. Không có ác ý gì trong câu nói “Thẩm Thúy Hằng chơi chó..” của ký giả Hoài Thanh. Thấm thoắt vậy mà đã gần 50 năm trôi qua cuộc đời. Tết năm Tuất có tờ báo Xuân đăng ảnh Thẩm Thúy Hằng ôm chó tôi 30 tuổi, Thẩm Thúy Hằng khoảng 27, 28 tuổi. Năm nay không biết Nữ Diễn Viên Điện Ảnh bao nhiêu xuân, Công tử Hà Đông tôi Bẩy Bó Lẻ Mấy Que dzồi..!

Trong 12 con Giáp Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi: Chuột, Trâu, Hổ, Mèo, Rồng, Rắn, Ngựa, Dê, Khỉ, Gà, Chó, Heo tôi thấy chỉ có Chó và Mèo được gái Xuân ôm chụp ảnh đăng báo, không đàn bà, con gái nào ôm Khỉ, ôm Trâu, ôm Rắn. Chó, Mèo được Người Đẹp ôm nhưng Lợn, Heo thì không. Heo bị người chê là bẩn, mà Heo bẩn thật, ta có câu “Bẩn như Heo.” Nhưng năm nay, chỉ vài ngày nữa là sang năm 2007, khi tôi viết những dòng chữ này ở Kỳ Hoa Đất Trích, Tết Năm Hợi là Năm Heo sắp đến, tôi thấy xi-nê Mỹ chiếu phim Charlotte’s Web, phim có chú Heo cùng đóng trò với người.

Chó đóng phim, Hollywood cho Chó đóng phim lâu rồi, chú Chó Lassie của Hollywood được khán giả xi-nê khắp thế giới biết mặt, biết tên, Mèo cũng từng xuất hiện trong nhiều phim Mỹ nhưng không Chú Mèo hay Nàng Miu nào nổi tiếng. Chú Heo trong phim Charlotte’s Web, tôi đọc thấy trên báo, là một Chú Heo Máy, tức Heo Giả, không phải Heo Thật.

Với những thợ viết chuyên nghiệp, Viết Truyện dễ thôi, chỉ có Viết Hay, Viết Dzở. Viết Hay khó, Viết Dzở dễ ợt. Như hôm nay tôi, một ngày cuối năm, viết bài báo Tết Heo này ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi viết toàn những chuyện linh tinh về Heo. Mời quí vị đọc:

Từ nhiều năm rồi tôi vẫn théc méc không biết vì nguyên nhân nào tiếng nói của dân tộc tôi có những tiếng khác hẳn nhau ở ba miền, như tiếng Lợn, Heo, nhưng ly kỳ nhất là tiếng Thuyền Ghe. Người Bắc Kỳ rất ít nói đến tiếng Ghe, mỗi lần họ nói đến tiếng Ghe là có chuyện rắc rối, nhưng ngôn ngữ Nam Kỳ thì tiếng Ghe lại được dùng nhiều, Ghe ở Nam Kỳ là Thuyền, người Nam không gọi Thuyền mà gọi Thuyền là Ghe. Ghe chài, ghe câu, ghe gắn máy đuôi tôm. Tại sao người Nam không gọi con Lợn là Lợn mà gọi con Lợn là con Heo? Tại sao đổi Thuyền thành Ghe? Ai đổi? Đổi từ bao giờ, năm nào? Nếu kỵ húy, Thuyền có thể đổi thành Thoàn, Lợn có thể đổi thành Lạn, dễ dàng, dễ nghe, hai tiếng gần nhau, như bao nhiêu tiếng kỵ húy khác trong ngôn ngữ Việt: Nôm Nam, Chu Châu, Tùng Tòng, Cương Cang, Phúc Phước, hoa huê, sinh sanh, ra dzô, màn mùng, đường đàng..vv.. nhưng từ Thuyền đến Ghe, từ Lợn đến Heo, khoảng cách khác nhau xa quá. Ghe không ăn nhậu gì đến Thuyền, Heo không liên can gì đến Lợn.. Ở làng quê miền Bắc nghe nói đến Ghe là các bà, các cô rúm mông lại hay nhẩy nhổm lên, không nhẩy nhổm thì cũng đề phòng cao độ.

Thật lạ. Cùng một dân tộc, một tiếng nói, một đoàn dân chung một tiếng nói đi từ Bắc xuống Nam, liền đất, không qua biển, vào lúc nào, đến địa phương nào, không bị ép buộc, không cần phải dùng tên khác, Thuyền thành Ghe, Lợn thành Heo. Người Thanh Hóa, Hà Tĩnh gọi Thuyền là Thuyền hay Thuyền là Ghe, gọi Lợn là Lợn hay gọi Lợn là Heo? Tôi không biết. Xấu hổ quá đi mất.

Tôi biết người Quảng Nam dùng tiếng Heo nhờ đọc một bài khảo luận của ông Phan Khôi, bài “Theo Tục Ngữ, Phong Dao, xét về sự sinh hoạt của Phụ Nữ Nước Ta.” Bài đăng trên Phụ Nữ Tân Văn năm 1929 ở Sài Gòn. Trong bài có đoạn:

Người đàn bà phải nhẫn nhục mà chịu những điều cay đắng vừa kể là vì còn trông cậy vào người chồng. Đến chồng cũng phụ, ấy là hết chuyện:

Còn duyên anh cưới ba heo.
Hết duyên anh đánh ba hèo, đuổi đi.

Tục ta quen rồi, hễ đàn bà có cửa nhà thì phải nuôi heo, hầu cho khỏi bỏ phí nước cơm hằng bữa và những rau chuối trong vườn. Đàn bà mà không nuôi heo, ấy là đàn bà hư, làm biết.

Đàn bà thì phải nuôi heo,
Thời vận đang nghèo, nuôi chẳng được trâu.
Ai về chợ Vạn thì về
Chợ Vạn có nghề đặt rượu, nuôi heo.

Kể chuyện Thuyền Ghe để kể đến chuyện Lợn Heo. Hai tiếng Lợn Heo cũng cách xa nhau mấy trăm ky-lô-mét. Phải chi Lợn đổi ra Lạn, chấp nhận được. Con Lợn ở Bắc, con Lạn trong Nam. Đâu có sao. Nhưng từ Lợn sang Heo thì có vấn đề. Người Bắc gọi Lợn là Lợn, người Nam gọi Lợn là Heo, tuy gọi Lợn, người Bắc vẫn dùng tiếng Heo, như “Mượn đầu heo nấu cháo, nói toạc móng heo..” Nói “toạc móng lợn” cũng được, nhưng đồng bào tôi ở Bắc Kỳ vẫn cứ “nói toạc móng heo”, đồng bào tôi ở Nam Kỳ có thể nói “Bánh dza heo” nhưng cứ gọi là “Bánh dza lợn.” Và, hình như, người Bắc nói “tiết canh heo,” không nói “tiết canh lợn”, người Bắc “chân giò”, người Nam “giò heo.”

Tôi nhắc lại théc méc: “Tại sao Lợn thành Heo, Thuyền thành Ghe?” Một ngàn tiếng giống nhau: nồi, niêu, bát, chén, giày, giép, mũ, nón, áo, quần, nhà cửa, vườn, đồng, gạo, rau. Tại sao lại có hai tiếng đổi khác hẳn là Thuyền Ghe, Lợn Heo?

Tôi ngừng viết trong hai phút, thả hồn bay ngược dòng thời gian về một buổi chiều năm 1987, hay 1988, trong Phòng Giam Tù Số 10 Khu Ơ Đê, ED, Nhà Tù Chí Hòa, người tù Trí Siêu Lê Mạnh Thát théc méc về chuyện Thuyền Ghe, tôi nói với ông:

— Ra miền Bắc, nếu thầy về làng quê, mà thầy nói với các bà trong làng một câu như: “Nhà bà có mấy cái ghe đẹp quá, tốt quá.”, thì hoặc là các bà ấy cười ồ lên, hai là các bà ấy chưởi thầy. Ở ngoài Bắc, cái Ghe không phải là cái thuyền đâu.

Ca dao Bắc Kỳ:

* Đang khi lửa tắt, cơm sôi,
Lợn đói, con khóc, chồng đòi tòm tem.
Bây giờ cơm nước đã êm.
Lợn no, con ngủ, tòm tem thì tòm.

* Mẹ tôi tham thúng sôi rền
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
Tôi đã bảo mẹ rằng đừng,
Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngày vào.
Bây giờ chồng thấp, vợ cao,
Như đôi đũa lệch xếp sao cho bằng.

* Ba bà đi bán lợn sề
Đi bán chẳng được, chạy về lon ton.
Bà bà đi bán lợn con
Đi bán chẳng được, lon ton chạy về.

Lợn sề là lợn cái, lợn tơ đẻ vài lứa, vú vê thỗn thện, trở thành lợn sề, đàn bà Bắc đôi người cũng bị gọi là gái sề, trong Nam lợn sề là heo nái.

Trước năm 1954 Việt Nam chưa có những trại nuôi heo qui mô, việc nuôi heo cung cấp thịt trong nước do những cá nhân làm, từng nhà dân nuôi heo, mỗi nhà một đôi, bốn con ; những nhà nuôi heo thường ở những làng quê, người Việt thời trước năm 1950 nuôi heo không có kỹ thuật gì cả, thực phẩm của heo chỉ là bèo, nước vo gạo nấu với cám nhưng vẫn đủ thịt heo cung cấp cho nhu cầu của xã hội. Thường thì người ta nuôi heo bán mổ thịt, cũng có nhà nuôi heo nái, cho nhẩy đực, đẻ con. Vì vậy, có những người nuôi heo đực cho đi nhẩy cái lấy tiền từng lần nhẩy. Loại heo này có tên là Heo Nọc. Lại có những chuyên viên mang dzao đi thiến heo từng nhà.

Bốn câu dưới đây không phải là Ca Dao, nhưng gần như tất cả những người ra đời ở Bắc Kỳ, những năm 1940 trên dưới 10 tuổi, đều biết :

Con gà cục tác: “… Lá chanh..”
Con lợn ủn ỉn: “Mua hành cho tôi..”
Con chó khóc đứng, khóc ngồi:
“Mẹ ơi, đi chợ mua tôi đồng riềng..”

Nhiều người biết nghĩa và nghĩa của từng câu đã rõ rồi nhưng cứ giải nghĩa cho chắc ăn, mất gì: Thịt gà luộc phải có lá chanh non, cắt mỏng như sợi thuốc lào, ăn mới ngon, lá chanh non, nghe nói, có thể trừ phong độc ở trong thịt gà, thịt heo, thịt lợn phải có hành, thịt chó phải có riềng mẻ. Bắt buộc, thiếu những gia vị đó thịt gà, thịt lợn, thịt chó ăn không ngon.

Ông cha tôi có lời dặn con cháu coi chừng hai cái tai hại cho sức khỏe:

Thứ nhất phạm phòng
Thứ nhì nòng nợn…

“Nòng nợn” là tiếng Việt của mấy anh Cán Cộng Nhà Quê Bắc Kỳ :

— Nàm không chịu nàm, nao động không nao động tốt, nười biếng, nễ nớn đòi ăn thịt nợn, được ăn thịt nợn nại đòi ăn nòng nợn.

Nòng nợn, lòng lợn, lòng heo, có thể làm cho người ăn nó bị đầy hơi, không tiêu, bì bịch. Dễ hiểu. Nhưng còn “phạm phòng ?” Cái gì là “phạm phòng ?” Tự Điển Hán Việt Đào Duy Anh không có tiếng “phạm phòng.” Nhớ lại thời ngày xưa tôi còn bé, những năm 1940, ở thị xã Hà Đông, khi gặp câu: “Thứ nhất phạm phòng, thứ nhì lòng lợn,” tò mò hỏi, tôi được giải nghĩa sơ sài “phạm phòng” là việc anh đàn ông vừa ăn no xong, đầy một bụng rượu thịt, vác bụng vào giường nằm ngay với đàn bà. Như thế là “phạm phòng”. Anh đàn ông “phạm phòng” bị đầy hơi, thức ăn không tiêu, bì bịch, ốm không ra ốm, lử đử lừ đừ. Như dzậy là đàn bà nguy hại cho đàn ông hơn cả nòng nợn. “Thứ nhất phạm phòng.. !” Nòng nợn nguy hại là nòng nợn thiu, đàn bà càng thơm, càng mướt, càng mới càng không thiu, càng gây khốn nạn cho đàn ông.

Bài học Luân Lý Giáo Khoa Thư Lớp Cao Đẳng lấy ra từ lời cảnh báo: “Thứ nhất phạm phòng, thứ nhì nòng nợn” là vừa ăn no xong, rượu thịt đầy bụng, đừng có dzại mà ôm bụng vào giường nằm ngay với đàn bà.

Heo, Lợn trong Thơ

TẢN ĐÀ. Cảm đề tiểu thuyết

TỜ CHÚC THƯ

Thật có hay là mắc tiếng oan ?
Kém năm trăm nữa đủ ba ngàn.
Hơi đồng đã sạh mồm ông lớn,
Mặt sắt còn bia miệng thế gian.
Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn,
Cho nên quân nó dễ làm quan.
Đào mà đào được nên đào mãi,
Mềm cứng bây giờ đất Vĩnh An.

Năm 1927, Tuần phủ Vĩnh Yên là Đào Trọng Vận, nhân một vụ kiện tranh gia tài, ăn của đút gần 3000 đồng bạc Đông Dương. Ngô Tiếp, nhân viên tòa soạn An Nam Tạp Chí, tờ báo ông Tản Đà làm chủ nhiệm, phóng tác vụ kiện trên thành truyện tiểu thuyết, đặt tên là TỜ CHÚC THƯ. Tản Đà đọc truyện đăng trên An Nam Tạp Chí, làm bài thơ trên.

Tuần phủ Đào Trọng Vận không phải là thân phụ, thúc phụ, bá phụ, rõ hơn là tuy cũng họ Đào nhưng không có liên lạc dây mơ, rễ muống gì với Kỹ Sư Đào Trọng Tường, nhân vật hào hoa phong thấp trong tiểu thuyết KIỀU GIANG.

YÊN ĐỔ. Hỏi thăm bạn.

Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu
Lụt lội năm nay bác ở đâu ?
Mấy ổ lợn con nay lớn bé,
Vài gian nếp cái ngập nông sâu ?
Phận thua suy tính càng thêm thiệt,
Tuổi cả chơi bời họa sống lâu.
Em cũng chẳng no mà chẳng đói,
Thung thăng chiếc lá, ruợu lưng bầu.

VŨ HOÀNG CHƯƠNG. Lòng Lợn

Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,
Gà lợn om sòm rối bức tranh,
Rằng vách có tai, thơ có họa.
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng,
Lòng lợn âm dương một tấc thành.
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn,
Nghe Rồng ngâm váng khúc tân thanh.

Thời tôi trẻ, tôi vui, tôi yêu, những thập niên 1950, 1960, 1970 ở Sài Gòn, tiếng “chơi bời” được dùng với nghĩa xấu. “Em chơi bời..” là em không hẳn là gái điếm nhưng sống bằng thân xác của mình.

Ngu như lợn…
Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo, cỗ lòng mới ngon.

Người có bộ mặt lợn như ĐM thì không thể nào thông minh được.

Quân Tử Tầu nói đến Heo:

Dưỡng tử bất huấn như dưỡng lư.
Dưỡng nữ bất huấn như dưỡng trư.
Nuôi con trai mà không dậy như nuôi lừa.
Nuôi con gái mà không dậy như nuôi heo.

Năm Heo, chắc chắn nhiều Thợ Viết kể chuyện Heo Trư Bát Giới Tây Du. Tôi kể chuyện khác, chuyện:

LONG LON RUNG

Chuyện xẩy ra trong Nước Xã Hội Chủ Ngãi Khố Rách. Bọn gọi là Bộ Xuất Cảng nhận được điện tín từ Mát-cu-va. (cắt vài chữ). Điện tín viết chữ Việt nhưng không có dấu nên đọc thấy:

“Bo Thuong Mai Lien Xo đat mua 10 tan long lon.”

Bon Giám Đốc mừng quýnh, Liên Xô hỏi mua “10 tan long lon”. Phen này khá rồi. Cháu ngoan bác Hồ nhờ vụ bán long lon này mà có cái đút vào mồm ngon lành. Nhưng lấy đâu ra “long lon” để bán? Khó gì. Cán Cộng cho ra ngày phương án: Vận động phụ nữ Thành phố Hồ chí Minh cạo long lon để bán sang Liên Xô.

5 triệu chị Phún cháu ngoan bác Hồ vô duyên, vô phúc sống ở Thành Hồ phải làm theo yêu cầu cao đẹp của Đảng và Nhà Nước. Chị em cạo. Chuyện khó tin nhưng có thật là nhiều Thị Phún từ năm mười ba tuổi đã um tùm, rập rạp, nay cạo đi, một lần nhẵn thín, thế là nhẵn thín luôn, như hờn dỗi vì bị hy sinh cho (bỏ một chữ) nên không chịu mọc ra nữa, chị em thành đoi. Nhưng nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ ấy, toàn Thành (bỏ một chữ), Thành Ủy dzui mừng. Một hộp vàng đựng Long Lon Phụ Nữ Thành Phố Hồ chí (bỏ một chữ) được rước đến đặt trên bàn thờ ( bỏ 2 chữ) để cúng Boóc. Sau đó là việc cân ký, bao bì, mẫu mã, in dấu Cờ Đỏ, đóng thùng, gửi sang Mát-cu-va. Cả bọn hiu hiu, phây phây chờ tiền thanh toán từ Mát-cu-va. Nhưng tiền không thấy, một tê-lê-gờ-ram khác gửi về :

“Khong mua long lon nguoi, mua long lon rung de lam ban chai.”

Cả bọn choáng người. “Long lon” mà là “long lon rụng” thì làm sao mà có? Bac Hồ có sống lại cũng không làm sao thu góp được 10 tấn long lon rụng để bán cho các đồng chí Liên Xô. Bèn cho một tên sang tận Mát-cu-va hỏi cho ra lẽ. Tên đó sang, rút kinh nghiệm, y không gửi điện tín mà viết thư gửi về vì chữ viết trong thư có dấu hỏi ngã.

Bọn ở nhà té ngửa khi đọc thư;

“Liên Xô không mua long lon người mà mua lông lợn rừng.”

Những ngày gần Tết năm 1980, 1981, ở Sài Gòn thủ đô yêu thương, Công Tử Hà Đông quá buồn, làm mấy bài Vịnh 12 Con giáp.

Gà què ăn quẩn cối xay
Đùi teo, cật lép lại hay động tình.
Đêm không chịu ngủ một mình,
Ngày thì gạ mái cứ inh cả nhà.
Cà-ri ta đến tiệm Chà,
Mua hai, ba gói cho gà đi đoong.

MÈO

Mèo già đuôi lại dài đuôi
Đã không bắt chuột, lại lười, ngủ trưa.
Lưỡi già chỉ giỏi liếm bùa
Bao giờ hóa cáo cho ra Ba Đình.

NGỰA

Đường dài hay sức ngựa phi
Một thời tuyệt-phích, dzô-kỳ nay đâu?
Trường Đua Phú Thọ rầu rầu.
Người qua chỉ thấy âu sầu, sót xa.
Ngựa già cho đến ba-toa,
Ngựa non sỏi đá, roi da đã đời.

Trong bài Ngựa có mấy tiếng xưa, những tiếng ấy được giới chơi cá ngựa dùng quen những năm 1950, 1960 :

— Tuyệt-phích từ tiếng turfiste, người đánh cá ngựa đua.

— Dzô-kỳ, dzô-kề : jockey : nài ngựa.

— Ba-toa : nhà a-ba-toa : abattoir, nơi làm thịt bò, heo, ngựa.

HEO

Nhiều loài ở bẩn hơn tôi,
Sao tôi mang tiếng để đời: Như Heo?
Mỹ chuồn chẳng kịp chuồn theo,
Não nùng cám mốc gặp bèo phôi pha.
Chán chường vì nỗi người ta
Lợn lành đem chữa hóa ra lợn què!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: