• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Nguyễn Du, Thuyền Trưởng Ba Tầu

Nơi cửa sổ trồng cỏ vân – cửa sổ thư phòng — từng nhiễm mùi hương sách vở,
Từ bỏ phong lưu – để theo sách vở – chưa hẳn đã là cuồng dại.
Mệnh bạc nhưng có duyên được chết giữa những trang sách.
Hồn tàn nên không có nước mắt khóc văn chương.
Con mọt sách dễ tỉnh giấc mộng phồn hoa,
Lửa đom đóm khó đốt cháy tấm lòng gấm vóc.
Được nghe đạo lý rồi chết cũng cam.
Đắm đưối vì sách còn hơn đa mang vì hoa.

Lời Việt bài Thơ Chữ Hán Điệp Tử Thư Trung – Bướm chết trong sách – của Nguyễn Du. Đây là một trong những bài Thơ Chữ Hán tôi thích của người thơ tài hoa tôi yêu kính. Con trùng chết giữa những trang sách có tên là đố ngư, nó không hẳn là con bướm, cũng không phải là con mọt. Nó là loại gián nhỏ không có cánh, có ba lông đuôi, thường sống trong những tủ sách, tủ quần áo. Ta thường gọi nó là con ba đuôi.

Tưởng tượng một chiều thu không gian ngả mầu xám, trong gian nhà tranh vắng vẻ, người thơ sống ẩn dật nơi quê người – đúng ra là quê vợ — không biết làm gì, không có việc gì để làm, buồn tình mở những trang sách cũ, thấy con bướm nằm chết giữa hai trang sách, cảm khái nghĩ đến thân mình rồi sẽ..

Bách niên cùng tử văn chương lý,
Lục xích phù thân thiên địa trung..
Trăm năm – một đời – chết khốn cùng trong vòng văn chương,
Sáu thước – tấm thân – lênh đênh giữa vùng trời đất…

… Trái tim đau nhói, Thi sĩ thấy mình cũng như con bướm giữa nhưng trang sách. Nhưng chấp nhân số phận, Thi sĩ nói ý nghĩ thành thơ: Bỏ giầu sang để theo văn chương chưa chắc đã là dại. Khổng Tử nói: “Triệu văn đạo, tịch tử khả dĩ..: Sáng được nghe đạo, chiều tối có chết cũng hả lòng.” Bươm bướm say đắm sách vở còn hơn là quấn quít các bông hoa, Thi sĩ say mê sách vở còn hơn là mê mệt vì đàn bà.

Điệp tử thư trung

Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương
Tạ khước phong lưu vị thị cuồng.
Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch,
Tàn hồn vô lệ khốc văn chương.
Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng.
Huỳnh hỏa nan khôi cẩm tú trường.
Văn đạo giã ưng cam nhất tử,
Dâm thư do thắng vị hoa mang.

Bài thơ cho người đọc một danh từ Hán Việt mới toanh: Dâm thư ! Đừng có bảo chữ dâm là chữ bậy! Chữ dâm ở đây không bậy chút nào. Không những không bậy, dâm ở đây còn đẹp nữa. Ta thường hiểu Dâm theo nghĩa xấu – Dâm là Dâm – Nàng dâm lắm. Trông mặt là thấy dâm rồi! Thực ra dâm dục, dâm bôn, dâm đãng, dâm phu, dâm phụ mới là dâm; dâm vũ chỉ là mưa dầm. Dâm thư cũng là sách dâm nhưng Dâm thư: sách dâm, là danh từ kép. Dâm thư ở đây Dâm là động từ, là dâm sách, tức yêu sách quá chừng. Theo nghĩa Dâm thư đàng hoàng này Người Viết ở Rừng Phong thoải mái tự nhận mình là một Dâm Thư Nhân: Người Yêu Sách Quá.

Thư phòng sách đã nhuốm mùi hương,
Bỏ phong lưu chưa hẳn đã cuồng.
Bạc mệnh có duyên ôm sách vở,
Hồn tàn không lệ khóc văn chương.
Mọt sách phồn hoa thường tỉnh mộng,
Lửa huỳnh lòng gấm vẫn mê đường.
Sáng nghe đạo lý chiều vui chết,
Mê sách còn hơn hoa vấn vương.

Năm Kỷ Dậu 1789 Vua Quang Trung đại phá Quân Thanh, lên ngôi vua; năm Nhâm Tuất 1802 Vua Gia Long bắt sống và giết Vua Quang Toản, diệt Nhà Tây Sơn. Trong khoảng thời gian 13 năm dưới triều Tây Sơn giới nhân sĩ Bắc Hà chia làm ba loại: Những người ra làm việc với Nhà Tây Sơn, những người vũ trang chống lại Nhà Tây Sơn, những người ở ẩn. Thi sĩ Nguyễn Du ở trong số những người ở ẩn. Sự chia rẽ xẩy ra trong những gia đình quí tộc thời ấy. Phan Huy Ích ra làm việc với Nhà Tây Sơn, được Vua Quang Trung trọng dụng; người em ruột của Phan Huy Ích nổi loạn chống Tây Sơn, bị bắt, bị xử tử. Gia đình Nguyễn Du cũng tương tự: Nguyễn Quỳnh, một ông anh cùng cha, khác mẹ với Nguyễn Du, mưu việc khôi phục Nhà Lê, bị Tây Sơn bắt, bị Tây Sơn giết. Cùng thời gian đó Nguyễn Nễ, ông anh cùng cha, cùng mẹ với Nguyễn Du, ra làm quan với nhà Tây Sơn.

Gia phả Nhà Nguyễn Tiên Điền ghi: Mùa đông năm Bính Thìn – 1796 — Nguyễn Du làm cuộc vượt biên đi vào Gia Định với ý định gia nhập lực lượng của Chúa Nguyễn Ánh, Thi sĩ bị bắt ở biên giới, bị giam ở Nghệ An. Nhờ ông anh Nguyễn Nễ, là bạn của Tổng Trấn Nghệ An Nguyễn Thận, xin cho, Thi sĩ được thả sau chừng bốn tháng ngồi rù gãi háng. Thi sĩ ghi lại cuộc tù đầy trong bài thơ:

My trung mạn hứng

Chung Tử viện cầm tháo Nam âm,
Trang Tích bệnh trung do Việt ngâm.
Tứ hải phong trần gia quốc lệ,
Thập tuần lao ngục tử sinh tâm.
Bình Chương di hận hà thời liễu?
Cô Trúc cao phong bất khả tầm.
Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ,
Hồng Sơn sơn hạ Quế Giang thâm.

Mạn hứng ở trong tù

Chung Tử ôm đàn gẩy khúc nhạc nước Nam,
Trang Tịch trong khi ốm đau vẫn hát bằng tiếng Việt.
Bốn biển gió bụi, rơi lệ khóc nhà, khóc nước,
Mười tuần trong lao ngục, trong tim có chuyện sống chết.
Mối hận để lại ở Bình Chương đến bao giờ mới hết?
Phong cách cao thương của người Cô Trúc không còn có thể tìm được.
Ta có tấc lòng không biết nói cùng ai,
Dưới núi Hồng sông Quế sâu thẳm.

Chung Tử, tức Chung Nghi, người nước Sở, bị người Tấn bắt. Người Tấn đưa đàn bảo Chung Nghi gẩy, Chung Nghi chỉ gẩy toàn những bản nhạc nước Sở – nước Sở ở miền nam Trung Hoa. Người Tấn khen Chung Nghi là người không quên đất nước của mình.

Trang Tịch, người nước Việt đời Chiến Quốc, sang làm quan ở nước Sở, bị bệnh, Vua Sở hỏi quần thần:

— Tịch là kẻ tầm thường ở nước Việt, được làm quan nước Sở, hưởng giầu sang, không biết có còn nhớ nước Việt hay không?

Một viên quan đáp:

— Con người ta có nhớ nước cũ hay không thường tỏ ra trong lúc đau ốm. Nếu lúc này Trang Tịch kêu rên bằng tiếng Việt thì ông ta còn nhớ nước Việt.

Sở Vương cho người nghe lén, thấy Trang Tịch rên:” Chời ơi..!”, chứ không rên: “Mai Gát..!”

***

Thi sĩ tài hoa cũng ở tù..! Chắc là Thi sĩ vụng dzu-lu..! Thi sĩ tài hoa cũng ủ tờ. Vụng chui nhưng lại khéo mần thơ..! Trước khi các Quan Đại Pháp đem văn minh Phú Lãng Sa La Lăng Phăng-xe đến truyền bá cho dân ta ông cha ta theo văn minh Ba Tầu, không tính một tuần bẩy ngày mà tính một tuần mười ngày. Thi sĩ đi chui bị tó, bị tù mười tuần, tức 100 ngày, lại tức ba tháng mười ngày. Với Thi sĩ Cậu Ấm con Quan Tể Tướng Quận Công, dù là Cậu Ấm Sứt Vòi, thì việc ở tù một trăm ngày là chuyện ghê rợn kinh hồn, bạt vía; trong một trăm ngày ngồi rù trong tù đó Cậu Ấm đau thương nghĩ đến chuyên sống chết. Cũng đúng thôi. Đúng trong trường hợp Cậu Ấm. Với bọn anh em Con Trai Bà Cả Đọi kẹt giỏ bị bọn Bắc Cộng cho đi tù cả lũ thì ba năm tù mấy ảnh coi như giấc ngủ trưa!

***

Tôi không nghĩ là Vua Gia Long không trọng dụng Nguyễn Du, trái lại là khác. Như Vua Quang Trung biết dùng ngay nhân sĩ , nhân tài Bắc Hà, trọng dụng các ông Phan Huy Ích, Ngô Thời Nhiệm, Vua Gia Long biết dùng ngay những nhân tài Bắc Hà như Nguyễn Du. Thi sĩ của ta tài hoa thì tài hoa ra rít nhưng Thi sĩ đi thi chỉ đậu có Tú tài. Ngày xưa bằng Tú Tài không là cái gì cả, nói rõ là ngày xưa phải có bằng cử nhân mới được ra làm quận trưởng, tú tài thì về làng ăn bám vợ, hay mở Cua Nhân Chi Sơ Tính Bổn Lành dậy mấy anh nhóc con học trò thò lò mũi xanh, cầm miếng bánh đúc chạy quanh nhà thầy; mấy ông Tú Mền, Tú Kép, tức mấy ông thi đỗ Tú tài nhiều khóa, lại tức mấy ông đi thì hai, ba khoá, khóa nào cũng chỉ đỗ Tú tài, chỉ có thể kiếm ăn còm bằng cách mần thầy đồ, thầy đạc, dậy học, dậy hành, sống đạm bạc, vô sự, quanh quẩn xó làng với mấy quyển sách nát, dăm thằng trẻ ranh, trong căn nhà tranh, một thầy, một cô, một chó cái…

Gia phả Họ Nguyễn Tiên Điền chép: Mùa hạ năm Nhâm Tuất – 1802 – Vua Gia Long đem đại quân ra Bắc. Đến Nghệ An, Nguyễn Du đón xe Vua ở bên đường, xin đi theo. Vua Gia Long cho theo ra Thăng Long. Ba tháng sau, mùa thu Tháng 8 năm ấy, Nguyễn Du được bổ làm Tri huyện Phù Dung, rồi Tri phủ Thường Tín. Hai năm sau, năm Giáp Tý – 1804 – Sứ Nhà Thanh đem sắc của Vua Thanh sang phong vương cho Vua Gia Long, Nguyễn Du được cử lên Ải Nam Quan tiếp sứ; sau đó vào kinh đô Huế, thăng chức tham tri, làm việc ở Nội Các. Năm Kỷ Tỵ – 1813 – được thăng hàm Cần Chánh đại học sĩ, vâng chỉ làm Chánh Sứ Bộ sang tuế cống Trung Quốc; năm 1820 lại được giao trọng trách làm Chánh Sứ Bộ sang Trung Quốc nhưng chưa kịp đi thì tạ thế.

Với những sự kiện ấy tôi không thấy Thi sĩ tài hoa của chúng ta bị triều đình nhà Nguyễn bạc đãi một ly ông cụ nào cả.

***

Thi sĩ Tú tài ở ẩn trong thời Nhà Nguyễn Tây Sơn mười ba năm, ra làm quan với Nhà Nguyễn Gia Long mười tám năm; không biết hai câu thơ này Thi sĩ làm vào thời nào? Thời Tây Sơn Thi sĩ ở ẩn hay thời Gia Long Thi sĩ làm quan?

Cố hương cang hạn cửu phương nông,
Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng..

Làng quê đại hạn hại nhà nông,
Mười miệng trẻ thơ đều xanh như rau…

Các con của Thi sĩ – trong thơ là mười cô cậu – thập khẩu — có mười cô cậu thôi và những mười cô cậu cơ – vì đói ăn nên mặt xanh như lá rau! Tội nghiệp dữ hông! Nhưng nếu ta chịu khó đọc thêm một chút ta thấy Gia phả chép: “Tiên sinh có ba vợ. Bà cả sinh một trai, bà kế sinh một trai, bà thiếp sinh 10 trai, 6 gái..!” Mèn ơi..! Đọc mà tam tinh tá hỏa.. Vậy là 18 cô cậu tất cả – Thập bát khẩu, đâu phải Thập khẩu?

***

Kính thưa Thi sĩ,

Tôi thán phục thi tài của ông, với tôi ông là Thi sĩ tài hoa nhất đời. Về đường thê thiếp, tử tức của ông tôi có vài théc méc: Sao ông nhiều bà quá? Sao ông sản xuất mạnh quá đến như thế? Sức sản xuất của ông thật là vĩ đại. Sản xuất mạnh như thế ông còn tâm trí, sức lực, thì giờ đâu mà làm thơ? Tôi đã tôn vinh ông là Nhà Thơ Tài Hoa nhất nước Việt kể từ ngày nước Việt ta có Thơ, nay tôi phải tôn vinh ông thêm danh hiệu “Nhà Thơ Nhiều Vợ, Đông Con Nhất” kể từ ngày Việt Nam có Thơ và có Thi sĩ.

Tôi vẫn tưởng chỉ có Cụ Cố Quận Công nhà ta là Thuyền Trưởng Đa Tầu. Quận Công cả sông, đông chợ, lắm vợ, nhiều con nhưng Quận Công là Quận Công, Quận Công là Tể Tướng; Quận Công vinh hiển, phú quí, Quận Công có đủ Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh. Quận Công có cả Quyền Vị, Quận Công có chín bà vợ, 21 người con, là chuyện có thể chấp nhận được. Nhưng còn ông, ông là Thi sĩ, ông trưởng thành trong thời loạn, ông không đỗ đạt gì cả; từ năm ông hai mươi đến năm ông ba mươi tuổi, ông chỉ làm thơ chứ không làm qua một việc gì khác; mà Thơ thời ông thì không đem lại cho ông một xu lợi tức nào.

Về đường thê thiếp, tử tức của ông tôi phải nói chí tình như vầy: Ông ơi.. Tôi lậy ông! Tôi lậy ông cả nón lẫn mũ, tôi lậy ông cả bị lẫn gậy. Qua Thơ ông tôi tưởng tượng ông là thư sinh nho nhã, ông không yếu đuối kiểu tiên thiên bất túc, không cổ ngẳng lộ hầu, không chân cà kheo, không ho hen khặc khừ lử khử, nhưng tôi nghĩ ông cũng không phải là loại đàn ông phương cương mạnh về tính dục, ông không rậm râu, sâu mắt. Thơ ông nhiều bài kể chuyện ông đau yếu, ông buồn phiền, ông ăn nhờ, ở đậu, trong túi còn ba mươi tiền để mua rượu là ông vui, ông mần thơ. Năm 1802 ông 30 tuổi, ông mới ra làm quan; không có lý đến năm đó, năm ông ba mươi tuổi ông mới có ba bà vợ? Không có lý đến năm ra làm quan ông mới là Thuyền Trưởng Ba Tầu? Không lẽ trong 18 năm làm quan ông cho ra đời liền tù tì 18 tí nhau? Ông phải là Thuyền Trưởng Đa Tầu từ trước năm ông ra làm quan, từ những năm ông còn thất cơ lơ vận. Nếu sau khi ra làm quan ông mới nạp thêm bà nhỏ, bà thiếp và ông mới sản xuất hàng loạt – danh từ của Tầu Cộng là sản xuất đại trà – thì một lần nữa tôi lậy ông cả nón lẫn mũ! Còn bà thiếp của ông nữa. Bà sinh 10 trai, 6 gái! Mèn ơi..! Bà này siêu quá là siêu. Tôi cũng xin lậy bà cả bị lẫn gậy, luôn cả áo tơi.

Vẫn biết rằng thời đại ông là thời vàng son, đàn ông có quyền năm thê, bẩy thiếp, nhưng muốn có năm thê, bẩy thiếp người đàn ông phải có tiền, phải có sức khỏe. Mà ông thì một nghề nuôi thân không có, một tấc đất cắm dùi cũng không, đến cả cái dùi để đem đi cắm nhờ ông cũng không có, ông đói dài, dói dẹt, ông rách hơn cái mền Sakymen, ông hết sống nhờ ở quê vợ lại sống nhờ ở quê người – Thơ ông kể ông sống nghèo như thế, nghèo đến nhiều hôm trong bếp lạnh không có lửa, bếp không có lửa tức là không có việc nấu ăn, không nấu ăn là nô ăn, ông lại đau ốm thường trực, tóc ông bạc sớm, ông buồn sầu kinh niên, vì nguyên do nào ông đùm đề đến những ba bà vợ? Ba bà, 18 cô cậu! Mèn ơi..! Sao ông “cầy” khỏe quá dzậy? Ông lấy tiền đâu ra để nuôi một tiểu đội rưỡi thê nhi ấy của ông? Thời ông người đàn ông không có con trai thì dù nghèo cũng có quyền có vợ bé để có con trai nối dõi tông đường, còn ông, ông có những 12 công tử, bà cả của ông sinh một cậu, bà hai của ông sinh một cậu, về mục con trai nối dõi, hai cậu là ông dư rồi, ông không sợ can tội bất hiếu, ông nạp thêm bà ba làm chi nữa? Người giầu thì nạp thêm vợ trẻ để thỏa lòng dâm, nhưng ông, ông nghèo lõ đít, ông cũng nạp thêm bà ba để thỏa lòng dâm ư? Ông không đỗ đạt, ông chưa ra làm quan, ông nghèo rớt, ông chỉ là hàn sĩ mà ông có ba bà vợ, 18 con trai, con gái! Nếu ông hiển đạt ngay từ năm ông mới ngoài hai mươi tuổi, nếu ông đỗ tiến sĩ, ông ra làm quan to như Cụ Quận Công, chuyện ông có năm, sáu bà vợ, năm, sáu chục người con là chuyện có thể xẩy ra được lắm!

Bái lậy ông bà mà trong lòng tôi cũng có chút bùi ngùi. Nói để ông thương, thời ông là thời vàng son, thời chúng tôi đúng là thời mạt kiếp kiêm mạt rệp. Là Thuyền Trưởng, đừng nói Ba Tầu, chúng tôi chỉ dại dột, ngu xuẩn, tưởng bở, tham lam chạy Hai Tầu thôi đời chúng tôi đã vất vả, đã khốn nạn, đã rách hơn cái mền Sakymen, chúng tôi đã bị kết tội, bị lên án trong văn học sử. Thuyền Trưởng Ba Tầu như ông, kéo theo 18 cái sà-lan, chắc chúng tôi vừa lái tầu vừa khóc, chúng tôi chỉ có nước từ chết đến chết, ở đấy mà than con chúng tôi đói ăn da xanh như rau.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: