• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Tiến Sĩ Giấy Và Giáo Gian

Vụ kiện WJC/UMass Boston.

Tài liệu. Nguyễn Hữu Luyện tường trình. Trang 46, 47.

Thư của Giáo sư Nguyễn Văn Trung.

Cách đây một năm, tôi đã công khai rút tên khỏi danh sách những người được Trung Tâm Joiner tuyển chọn qua thư gửi các vị điều hành Trung Tâm Joiner và ông Phạm Ngọc Toàn, Chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam tại Massachusetts. Theo dõi nội vụ diễn tiến trong năm qua, tôi thấy cần nói rõ thêm về lý do rút tên và những hiểu biết của tôi về những hậu qủa chính trị nghiêm trọng mà Trung tâm Joiner đã gây ra cho người Việt Nam nhìn từ trong nước và ngoài nước.

Sự kiện hai người từ Hà Nội sang Boston nghiên cứu vấn đề Cộng đồng người Việt ở Bắc Mỹ, trong bối cảnh chính trị xã hội hiện nay ở Bắc Mỹ, đã được cảm nhận như một khiêu khích người Việt cả trong nước và ngoài nước, đặc biệt khiêu khích ở mức tối đa người Việt ở Bắc Mỹ… Tôi đã sớm nhận ra tính chất và mục đích chính trị trong cung cách điều hành của Trung tâm này đối với tôi và với người khác.. nhưng cách đối xử của Trung tâm buộc tôi phải rút tên sau khi hiểu được Trung tâm Joiner thuộc một đại học không làm nghiên cứu khoa học mà làm chính trị…

Sự kiện đưa hai người từ Hà Nội sang Boston đã khơi lại quá khứ đau thương hãi hùng của người Miền Nam sau năm 1975. Quá khứ đó không thể quên, không được quên và cần phải ghi lại trung thực cho con cháu.

Giáo sư Nguyễn Văn Trung, nghe nói hiện sống ở Canada, nói “quá khứ không thể quên..”, ông dặn dò đồng bào ông “không được quên quá khứ, cần ghi lại trung thực cái quá khứ đó cho con cháu..” “Quá khứ” Gs NV Trung nói đó là quá khứ của những công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà kể từ sau năm 1975, quá khứ đó đầy, nặng những đau thương, kinh hãi, căm uất và thù hận. Cùng trong lúc Giáo sư NV Trung nói như thế về quá khứ của cộng đồng người Việt sống lưu vong ở ngoài nước thì ở Cali, Mỹ quốc, Giáo sư Bùi nhật Tiến – cũng giáo sư như ai chứ bộ – tức “Nhà văn, nhà tư tưởng sâu sắc, đáng kính Nhật Tiến của Trung tâm WJC,” chửi những người Việt Nam mang nặng quá khứ trong tim, trong óc, trong máu bằng những lời khinh bỉ như sau:

Lời Nhà văn Nhật Tiến nói với người bạn của ông, cán bộ Bắc Cộng Trần văn Thủy, trong tập Phỏng vấn Nếu đi hết biển.

Trần văn Thủy: Ở Mỹ, người cầm bút có đủ tự do để viết tất cả những gì mình muốn viết chứ?

Nhật Tiến: Về đại thể thì ai cũng cho là như thế, nhưng thu hẹp vào những cộng đồng nhỏ nhoi thì vấn đề có khác, nhất là cái cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại vốn đã từng có nhiều năm chất ngất hận thù đến độ không chấp nhận một sự suy tư nào khác hơn là sự suy tư đã đông đá trong đầu óc của họ.

Ông Nhật Tiến sống mấy năm ở Sài Gòn đầy cờ máu, chịu không nổi sự thống trị tàn ác của bọn Bắc Cộng ác ôn ông nhắm mắt đưa chân xuống tầu đi chui; ông cũng đi chui như những người Việt đi chui khác thôi, không có gì lạ trong việc đi chui năm xưa của ông Nhật Tiến. Ông tới Xứ Mỹ khoảng năm 1980, 1981. Theo lời ông kể trong những bài ông viết ở Mỹ những năm đầu ấy thì sống dưới ách bọn Bắc Cộng ông khổ lắm, ông bị bọn ViXi cấp phường hay cấp quận chi đó – bọn VC hạng bét ở địa phương – vô nhà ông khuân đi cả mấy ngàn quyển sách quí trong số có những quyển có chữ ký, triện son của những đại danh học giả, văn hào, thi bá, thi sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà thân tặng riêng ông. Trên tuần báo Viet Tide của bà Mai Khanh, ái nữ của ông Nhật Tiến, ấn hành ở Quận Cam, Cali, mới đây có đăng một bài của người viết Nhật Tuấn, em ruột ông Nhật Tiến, nghe nói hiện là Chủ Tịt hay Hội Trưởng Hội Nhà Văn Cộng Sản Bị Rọ Mõm ở Hà Nội. Chức nớn nắm chứ bộ! Có thể một phần vì quyền lợi của ông em Nhật Tuấn ở Hà Nội mà ông Nhật Tiến ở Cali, Hoa Kỳ, phải uốn lưỡi phượng hoàng xuống đất òn ỉ nỉ non hót những lời hòa hảo với bọn cán Cộng chăng? Cán Cộng Nhật Tuấn kể trong bài đăng trên báo Viet Tide về một đêm ở Sài Gòn đầy cờ đỏ hai anh em Nhật Tiến-Nhật Tuấn tâm sự, ông Nhật Tiến ngậm ngùi nước mắt lưng tròng kể ông đi dậy học, ông “bị” bọn lo về cái gọi là “đời sống” trong trường “bắt” ông đến cái gọi là căng-tin của trường xếp hàng mua nửa ký thịt nợn, tức thịt heo bèo nhèo, bẽo nhẽo, hai lạng bột ngọt lổn nhổn, lồm nhồm, hai gói thuốc lá Lao Động khét mùi hôi nách .. về việc… Việc thân làm giáo sư kiêm nhà văn nổi tiếng có giải thưởng quốc gia mà phải lếch thếch, bệu nhệch xách mấy thứ gọi là nhu yếu phẩm thổ tả đó từ trường về nhà làm ông tủi thân – Mẹ bố mấy thằng cộng sản ác ôn, ông có hút thuốc điếu bao giờ đâu mà chúng nó bắt ông mua thuốc điếu – ông tủi thân, ông mếu máo, ông khóc.

Đấy là chuyện Cán Cộng Nhật Tuấn kể về ông anh của y là ông Nhà văn Nhật Tiến đăng trên tuần báo Viet Tide. Nghe kể ông nhà văn nớn nghẹn ngào khóc mà thấy tội nghiệp ông quá chời. Sau cuộc trời long, đất ngả nghiêng, sau khi tình trạng không thể xẩy ra được đã xẩy ra, sau bao nhiêu chiến sĩ Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà anh dũng đem xương máu ngăn không cho xe tăng Bắc Cộng đưa hình lão Già Hồ vào thủ đô Sài Gòn, sau bao nhiêu người Việt không tiếc mạng sống chặn đường Bắc Cộng trong những giây phút cuối cùng trước khi trời đổ, sau khi bao nhiêu người đi vào con đường tù tội oan khiên kéo dài cả mười mấy năm, người công dân Quốc Gia VNCH Bùi nhật Tiến vẫn được sống trong nhà ông ta ở Sài Gòn, đêm đêm đương sự vẫn nệm ấm, giường êm, vẫn là nhà giáo đi dậy học; người công dân Quốc Gia VNCH Bùi Nhật Tiến được bọn cộng sản xâm lăng coi là công nhân trí thức, tháng tháng được mua gạo giá rẻ cho cả nhà – ông là giáo học, tức là cán bộ, công nhân viên nhà nước, ông được hưởng tiêu chuẩn mua gạo Hợp Tác Xã giá rẻ, vợ con ông ăn theo ông, bảo đảm gia đình ông có đủ gạo ăn – gia đình ông không bị rơi vào cảnh toàn gia thất nghiệp có thể bị “chính quyền cách mạng” iu ái iu tiên đuổi cổ đi vùng kinh tế méo, xin lỗi, vùng kinh tế mới; chỉ vì “bị” nó bắt mua hai gói thuốc lá mà ông tủi thân ông khóc. Nếu ông bị bọn đầu trâu, mặt ngựa nửa đêm đến nhà ông, bắt ông đứng ngay đơ cán cuốc nghe chúng đọc lệnh bắt ông đi tù vì tội phản động, còng tay ông, đưa ông vào xe bông cho ông đi tù mút mùa Lệ Thủy… Đừng nói đi đâu xa những nơi rừng thiêng, nước độc Gia Lai, Gia Trung, Xuyên Mộc, Bùi Gia Mập, Đại Bình, Xuân Phước, Z 30 A, Z 30 D.. hay Hoàng Liên Sơn, Nam Hà, Cổng Trời.. về việc… xa mút chỉ cà tha tít mù ngoài xứ Bắc Cộng đen hơn mõm chó mực, chỉ nói chúng nhốt ông vài niên trong tù, ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Trung tâm Thẩm Vấn Nhân Dân của bọn công an VC Thành Hồ kiêm Cửa Vào Địa Ngục Tù Đày của nhân dân Sài Gòn, hay ở Lầu Bát Giác Chí Hòa, cho ông nằm phơi rốn, ngồi rù gãi háng vảnh-cát suya vảnh-cát, tức cả ngày, cả đêm, cho ông bóc lịch Tam Toong Méo mỏi tay, chắc ông khóc hết nước mắt, chắc cả người ông chẩy ra thành nước!

Giáo sư kiêm Nhà văn Nớn Nhật Tiến đã không bị bọn Công An ViXi Thành Hồ bắt giam ngày nào, chúng để ông tiếp tục dậy học, ông chui và ông chui lọt. Năm 1981 vừa đến Mỹ, ông Nhật Tiến viết một bài đăng trên một tờ báo Việt thời ấy là tờ Khai Phóng, trong bài có đoạn:

…Ở trong xã hội cộng sản con người phải dối trá, hèn hạ như thế đấy, nhưng vì an ninh bản thân, vì sự ràng buộc với những người thân khác, đành là phải nhẫn nhục, và chẳng còn nói được cái gì khác hơn khi phải đối thoại với loại người không còn tâm địa con người.”

“.. Người mà không còn tâm địa con người..” thì còn tệ hơn là chó. Con chó nó có nghĩa, con chó không bao giờ cắn bàn tay người cho nó ăn, con chó không bao giờ phản chủ, chó nó không bao giờ bỏ chủ, chủ nghèo nuôi nó đói chó nó cũng không bao giờ bỏ chủ nghèo len lẻn vẫy đuôi sang nhà giàu để được ăn no. Những thằng người ăn ở bất nghĩa, vô ơn, những thằng chửi những người nuôi sống chúng, những thằng chửi những người đã chết cho chúng được sống, những thằng người đó không bằng loài chó. Năm 1981 ở Mỹ ông Nhật Tiến viết “..bọn cộng sản không còn tâm địa con người..”, năm 2003, 2004, cũng ở Mỹ, cũng ông nhà văn Nhật Tiến ấy, xoay lưỡi, đổi giọng, trở mặt, quay ra thân mật với bọn cộng sản là bọn ông từng gọi là những tên không có tâm địa con người; trở mặt rồi ông gọi những người Việt hận thù cộng sản, những người Việt không quên quá khứ là bọn “đầu đông đá.” Ông có vẻ hãnh diện, ve vẩy với cái đầu “chẩy re” của ông.

Trong số những người Việt bị ông Đầu Chẩy Re Nhật Tiến gọi là bọn Đầu Đông Đá có Giáo sư Nguyễn Văn Trung.

Ông NV Trung nói ông không quên quá khứ, ông kêu gọi người Việt ở hải ngoại đừng quên quá khứ – quá khứ đầy uất hận và căm thù bọn cộng sản ác ôn – không những không được quên mà còn phải ghi lại trung thực quá khứ để truyền cho con cháu, thì cùng trong lúc ấy ông Giáo sư Lê xuân Khoa – ông này cũng là giáo sư chứ bộ – lại lên tiếng kêu gọi người Việt hải ngoại hãy quên đi thù hận.

Bài viết của ông Lê xuân Khoa đăng trên bán nguyệt san Ngày Nay ấn hành ở Houston, Texas, số 522 ngày 15 Tháng Ba, 2004, có cái tên lòng thòng: Vấn đề trước mặt: Sau gần 30 năm cuộc chiến huynh đệ tương tàn chấm dứt Để Tiến Tới Quan hệ Bình Thường Giữa Người Việt Hải Ngoại Và Việt Nam. Theo ý ngu của tôi thì, hình như, có sự không lương thiện trong cái tên bài “.. Để tiến tới quan hệ bình thường giữa người Việt hải ngoại với Việt Nam..” Em nhỏ lên ba cũng biết không thể có “sự quan hệ giữa một số người với một quốc gia..”. Người quan hệ với người, quốc gia quan hệ với quốc gia, như Hoa Kỳ Tư Bổn Lề quan hệ với Việt Nam Cộng Sản, người Việt hải ngoại chỉ có thể quan hệ bình thường, hay không quan hệ bình thường, với bọn đảng viên Cộng sản Việt Nam. Tên của bài xướng thuyết của ông Lê xuân Khoa phải là:

Để Tiến Tới Quan hệ Bình Thường Giữa Người Việt Hải Ngoại Và Người Cộng Sản Việt Nam.

Như thế mới đúng. Có thể vì tác giả sợ phản ứng của người Việt chống Cộng… nên không dám đặt tít đúng cho bài, do đó đã thiếu lương thiện khi đặt tít thập thò mập mờ như thế. Viết tác giả “sợ phản ứng của người Việt chống Cộng..” dường như không đúng lắm. Trong bài ông Lx Khoa viết rõ ý kiến của ông là “người Việt hải ngoại phải quên căm thù bọn Việt Cộng để cùng bọn Việt Cộng xây dựng quê hương..” Phải chăng chỉ vì ông sợ nếu đặt cái tít “.. quan hệ bình thường với người Cộng sản Việt Nam” người Việt hải ngoại sẽ không ai đọc bài của ông chăng?

Bài viết dài, đăng những ba số báo, tôi chỉ trích cái đoạn ông Lx Khoa viết về chuyện hận thù, đoạn này được báo Ngày Nay trích đăng riêng, nổi bật bằng chữ đậm: “… Gần ba mươi năm sau cuộc nội chiến, thái độ tự hào của kẻ chiến thắng cũng như niềm thù hận của kẻ chiến bại đều không còn lý do nuôi dưỡng.” Gs Lê Xuân Khoa.

Người không thù hận kêu gọi những người thù hận hãy quên thù hận. Dễ thôi! Nhưng trước khi kêu gọi người khác quên thù hận người kêu gọi cũng nên xét xem tại sao người ta lại thù hận, người ta thù hận có đúng không? Đấy là chưa nói đến chuyện có nên, có thể cộng tác để xây dựng đất nước với bọn cầm quyền bất lương, vô lương tâm, gian manh, chuyên phá hoại đất nước, có thể nào lo việc đem no ấm, hạnh phúc đến cho nhân dân với bọn cầm quyền bất nhân, chó đểu, bọn chuyên áp bức, bóc lột, đầy đọa nhân dân?

Những người Việt như ông Lê xuân Khoa không căm thù bọn cộng sản Việt Nam không có gì lạ hay khó hiểu. Ông Giáo Lx Khoa có bị đau khổ vì bọn cộng sản đâu mà ông hận thù chúng! Suốt cuộc chiến tranh chống Cộng đẫm máu, ông Lx Khoa, và một số người như ông Lx Khoa, không bị rụng mất một sợi lông, không đổ một giọt mồ hôi, nước mắt và máu lại càng không. Ông du học rồi về nước sống an nhàn với nghề dậy học, trước ngày 30 Tháng Tư 75 ông và vợ con ông may mắn vọt được ra khỏi nước. Sang Hoa Kỳ ông lại sống an nhàn, các con ông có điều kiện học để trở thành bác sĩ, kỹ sư… Lời giới thiệu ông trên báo Ngày Nay cho biết ông “… là giáo sư Thỉnh giảng tại trường Cao học về Nghiên Cứu Quốc Tế (SAIS) thuộc Đại Học John Hopkins, Washington, DC.” Không oai như hạch mà là oai hơn hạch!

Ông Giáo Lx Khoa không phải sống ở Sài Gòn ngày nào sau ngày 30 Tháng Tư, ông không bị bọn Bắc Cộng bắt đi tù, ông không bị bọn Bắc Cộng bắt ông phải khai, phải nhận ông “có tội với nhân dân, có tội với tổ quốc,” con trai ông không bị bọn Bắc Cộng đưa sang Kampuchia để chết mất xác ở bên đó, con gái ông không phải làm đĩ gốc cây, đĩ vỉa hè lấy tiền nuôi mẹ nó lao phổi, nuôi bố nó khặc khừ trong tù, nuôi em nó vất vưởng đầu hè, xó chợ, vợ ông không phải mỗi tuần xếp hàng ở bệnh viện chờ được vào bán máu lấy tiền nuôi con… Người như ông Lx Khoa không căm thù bọn cộng sản là chuyện thường. Không những ông Lx Khoa không hận thù bọn cộng sản, có thể ông còn biết ơn bọn cộng sản. Nhờ bọn cộng sản vào cướp nước, vào xâm chiếm Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, người Mỹ mới cho ông và vợ con ông sang sống ở Mỹ. Không có bọn cộng sản ác ôn cướp nước thì còn lâu..!

Nhưng nếu ông không thù hận bọn cộng sản, nếu ông biết ơn bọn cộng sản thì tưởng ông nên cứ lẳng lặng mà hưởng cái sung sướng mất nước cuả ông, ông đừng mở miệng nói những người Việt chống Cộng không còn lý do gì để thù hận bọn cộng sản. Ông nên tôn trọng những đau khổ của người khác. Ít nhất ông nên tỏ ra kính trọng và biết ơn: nhờ những người Việt chống Cộng đã chết trong cuộc kháng chiến chống Cộng giữ nước, nhờ những người Việt căm thù cộng sản, người Mỹ mới cho ông và vợ con ông sang sống ở Mỹ, không có những người Việt chống Cộng đã chết ấy, không có những người Việt hận thù cộng sản, còn lâu ông và vợ con ông mới được sang sống nhờ bơ thiu, sữa ế ở Mỹ.

Ông Quân tử Tầu Trang Châu ngày xưa khi vợ chết, gõ cái chậu mà ca mấy câu:

Thê tử ngã tất mai
Ngã tử thê tất giá.
Ngã nhược tiên tử thời
Nhất tràng đại tiếu thoại.
Điền bị tha nhân canh
Mã bị tha nhân khoá
Thê bị tha nhân luyến
Tử bị tha nhân mạ!

Dịch đại không bảo đảm đúng cũng không bảo đảm sai:

Vợ chết ta chôn nàng đàng hoàng
Ta chết nàng lấy chồng khác.
Nếu ta chết trước
Sẽ là một chuyện cười dài
Ruộng ta bị người cầy
Ngựa ta bị người cưỡi
Vợ ta người yêu thương
Con ta người chửi rủa…

Mấy lời than đó của Trang Châu được gọi là bài Cổ Bồn Ca – Bài Ca Gõ Chậu – Chỉ mấy lời cay đắng đó thôi bài ca đã truyền đời cả mấy ngàn năm. Trang Châu than ta mà chết nàng – vợ ta – lấy chồng khác liền tù tì tút suỵt! Cũng đúng thôi, nhưng dường như nhà Quân tải Tàu quên rằng bà vợ ông chết, ông lấy cô vợ mới trẻ đẹp còn nhanh hơn! Nhưng đó là một đề tài khác, xin hẹn quí vị tôi sẽ phụ đề Việt ngũ bài Cổ Bồn Ca, và những bài tương tự, trong một bài Viết ở Rừng Phong khác. Đang nói chuyện Giáo Ngay, Giáo Gian, tôi trở về với chuyện Giáo Gian, Giáo Ngay.

Những nhà quân tải Ba Tàu xưa chết rồi những cảnh làm mấy ông đau lòng mới xẩy ra, với những người công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa chiến bại, những chuyện đau lòng của họ xẩy ra ngay khi họ còn sống. Họ thấy thân họ bị tù đày, con người của họ bị nhục mạ, nhân phẩm của họ bị giày xéo, danh dự của họ bị mất, họ thấy nhà của họ bị người ở, bà mẹ họ, vợ con họ bị đuổi ra nằm vỉa hè, ô tô của họ bị người đi, vợ họ bị người chơi, con họ bị người kẹp cổ đưa sang Kampuchia cho chết tan xác, cho què cụt chân tay…! Bảo sao họ không thù hận! Người không bị những chuyện đau lòng ấy nhăn nhở, nham nhở mở miệng hỏi họ tại sao thù hận mãi thế, bảo họ quên thù hận đi, là những người bất nhân!

Ông Lx Khoa, và những ông như ông Lx Khoa, không có tư cách gì kêu gọi người Việt hải ngoại quên hận thù cộng sản, ông lại càng không có tư cách gì lên giọng dậy bảo những người Việt chống Cộng nên thế này, nên thế nọ. Còn bọn Bắc Việt Cộng thì từ lâu rồi, các em nhỏ lên ba cũng biết, chúng coi những người Việt “khoa bảng, trí thức” ở Mỹ như ông Lx Khoa không có kí-lô nào cả. Nếu đến giờ này, đã 30 mùa cóc chín sau ngày 30 Tháng Tư 1975, ông Lx Khoa vẫn không biết bọn Bắc Việt Cộng chúng khinh trọng ông ra sao thì đó mới là chuyện lọa.

Nhân đây có một điều nhắn với ông Giáo sư Lx Khoa: ông đừng xúc phạm người ta, người ta không xúc phạm đến ông. Tại ông nói như ra lệnh cho người ta không được thù hận bọn cộng sản nữa, người ta mới trả lời ông, ông không dở giọng hách dịch tầm bậy, ai nói đến ông làm gì!

Đôi khi bị bắt buộc phải com-lê ca-la-hoách đi dự đám cưới, ngồi ế người xem trình diễn quan viên hai họ lốc nhốc toàn bác sĩ, kỹ sư, có lẽ vì cái gọi là mặc cảm tự ty kiêm mặc cảm tự teo, tôi lèm bèm, tôi tẹp nhẹp nghĩ: giỏi giang, hay hớm mẹ gì mà khoe, mà vênh váo? Nhờ xã hội Mỹ nó tổ chức tốt, nó giúp điều kiện cho ăn học, nên mới thành bác sĩ, kỹ sư, thử sang ở nhờ Công-gô hay Dzim-ba-bu-ê…! Khoa bảng, bằng cấp mà chẳng làm được gì ích lợi cho đồng bào, cho đất nước! Thật xấu hổ! Càng khoa bảng, càng trí thức mà vô dụng, mà giá áo, túi bíp-tếch, khoa bảng mà chỉ biết có thân mình, vợ con mình, càng đáng khinh. Bọn thất phu thất học đáng thương, không đáng khinh. Những người mải quên thân mình, một đời chiến đấu giữ quê hương nên không được học, vì không được học nên không thành dân khoa bảng, là những người đáng kính! Chỉ biết ăn cho béo, mặt phèn phẹt như cái mẹt. Phì thân, phì gia thôi, không vinh thân. So với giới khoa bảng Tàu, Nhật, Đại Hàn, Ấn Độ… kém xa..!

Không đáng xách giép cho người ta. Vinh hạnh gì mà vênh váo! Ba ông Nguyễn Văn Trung, Bùi nhật Tiến, Lê xuân Khoa là giáo sư! Úm.. ba.. la.. ba ta cùng giáo! Nhưng ở đời có Giáo Ngay và Giáo Gian! Không phải giáo nào cũng là giáo tốt! Xin để quí vị độc giả xếp loại ba ông Giáo.

Hai mươi mấy năm xưa, năm 1977, một ngày mưa trắng trời, trắng đất ở thành phố Seattle, Thi sĩ Thanh Nam thấy:

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa…
Ra đi từ thưở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ…

Thấy tờ lịch rớt, Thi sĩ biết thời gian ông làm ly khách đã hai năm, nhớ quê hương ông làm những vần thơ tha hương thật xúc động. Gần ba mươi năm sau chàng Công Tử Hà Đông ngồi viết ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn Đi Xi, bỗng nghĩ đến chuyện.. Em ơi.. bây giờ tháng mấy? Nhìn lên tấm lịch thấy bây giờ ở quê hương chàng, ở Sài Gòn, thành phố thủ đô yêu thương mà chàng đã không giữ được, thủ đô vàng son mà chàng đã để mất, bây giờ là Tháng Bẩy Ta.

Tháng Bẩy mưa ngâu.. Chàng ngừng viết, chàng mơ màng, chàng nhớ lại những Tháng Bẩy buồn thê thảm, buồn nát tim, buồn đứt ruột, buồn đến chết chàng đã sống giữa lòng thành phố Sài Gòn thương yêu của chàng, sống khổ cực với đồng bào chàng, chàng nhớ tâm trạng u uất tận cùng của chàng những mùa thu ấy. Và những lời thơ chàng làm hai mươi mấy năm xưa…

Tháng Bẩy vào thu, mưa lạnh bay
Buồn ơi..! Tìm rượu uống cho say.
Tìm quên trong chất men cay đắng
Càng uống càng thêm những đắng cay..

Nhìn kỹ hơn tấm lịch chàng thấy bây giờ đã là cuối Tháng Bẩy Ta. Ngày Rằm Tháng Bẩy Xá Tội Vong Nhân, Lễ Vu Lan đã qua rồi, Mưa Ngâu đã dứt, Cầu Ô đã dẹp, Ngưu Lang đã về bên kia sông chăn trâu, Chức Nữ đã về bên này sông dệt lụa. Bây giờ ở Sài Gòn đồng bào của chàng đang sửa soạn cho Tết Trung Thu; những sạp bánh Trung Thu bầy đầy đường. Ở Mỹ cũng thế. Xách giỏ, đẩy xe theo vợ đi chợ, chàng Công Tử thấy bầy bán thật nhiều bánh Trung Thu. Có bánh làm tại chỗ, bánh từ Cali đưa sang, bánh từ Hong Kong vượt trùng dương bay đến. Những chiếc bánh nướng Trung Thu hôm nay ở xứ người gợi chàng nhớ lại những chiếc bánh mướng Trung Thu ở thị xã Hà Đông bên hông Hà Nội hơn sáu mươi năm xưa…

Hơn sáu mươi năm xưa là những năm 1940, 1941. Ông thân của chàng, Thông phán Dinh Tổng Đốc Hà Đông, mỗi Tết Trung Thu đi xe điện leng keng ra Hà Nội mua về hai hộp bánh Trung Thu Đông Hưng Viên. Hai hộp mà thôi. Một hộp bánh nướng, một hộp bánh dẻo, mỗi hộp 4 cái. Bốn cái bánh nướng, bốn cái bánh dẻo cho một gia đình bẩy người. Mỗi lần ăn cắt một bánh nướng, một bánh dẻo chia nhau. Những năm ấy Công Tử mười tuổi, chàng rất thích ăn bánh nướng, nếu thả cho ăn chàng có thể ăn ngon lành một lúc hai cái bánh nướng. Bánh nướng Trung Thu Đông Hưng Viên ngày xưa lớn gấp đôi những chiếc bánh bây giờ.

Những năm xưa thơ ấu ấy chàng không được ăn bánh Trung Thu thả dàn như chàng muốn. Những ngày như lá, tháng như mây… Năm nay sống lưu vong ở Mỹ chàng có thể mua, chàng có thể ăn một lúc hai cái, bốn cái, sáu cái bánh nướng Trung Thu.. Nhưng… than ôi… năm nay chàng có thể ăn được thì chàng lại không có thể ăn được..! Năm nay ngon lắm thì chàng ăn được nửa cái bánh. Ăn nhiều đầy bụng chịu không nổi. Năm nay… Than ôi… (bis).. Chàng không còn là chú nhi đồng mười tuổi mắt sáng, môi hồng, hồn trắng như tấm lụa bạch hơn nửa thế kỷ ngày xưa.. Thế kỷ Hai Mươi đã chìm trong dòng thời gian.. Năm nay chàng là Khưá Lão Lưu Vong – đã Lưu Vong mà còn Lưu Vong de Luxe, Lưu Vong chân chính, Lưu Vong thuần thành – tuổi đời Bẩy Bó lẻ hai, ba que. Nhưng thôi, không nên than thở, than thở kỳ lắm. Ai cũng già đi, chẳng ai trẻ mãi, người khác già đi thì không sao, thì coi đó là chuyện tự nhiên, mình già đi, mình lão liệt thì sầu não, thì than thở, thì mần thơ thương khóc tuổi trẻ, than vãn tuổi già! Để tôi nói chuyện vui vui này với những vị độc giả tuổi đời Bẩy Bó đang đọc những dòng này.

Phải là những vị tuổi đời năm nay Bẩy Bó trở lên, những vị Bắc kỳ mười tuổi những năm 1940, mới thấy, mới biết những ông Tiến Sĩ Giấy Trung Thu. Năm xưa, khi ta còn nhỏ, Tết Trung Thu đến, ông bố chúng ta mua bánh Trung Thu, bà mẹ chúng ta mua cho ta một, hai ông Tiến Sĩ Giấy để chúng ta bày cỗ Trung Thu. Đến Tết Trung Thu những năm ly loạn, nạn đói 1944, 1945, tôi không thấy những ông Tiến Sĩ Giấy nữa. Những Tết Trung Thu sau năm 1945 Tiến Sĩ Giấy mất luôn. Những người Việt tuổi đời năm nay Sáu Bó không biết hình ảnh ông Tiến Sĩ Giấy, những người Năm Bó lại càng mù tịt. Tiến Sĩ Giấy Tết Trung Thu có mặt trong Thơ Việt:

Ông đỗ khoa nào, ở xứ nào?
Thế mà hoa hốt với trâm bào.
Năm năm cứ Tết Trung Thu đến,
Tôi vẫn quen ông, chẳng muốn chào!

Đó là Thơ Vịnh Tiến Sĩ Giấy của ông Tú Xương.

Tôi nhớ nằm lòng bài thơ trên nên việc viết ra dễ thôi. Còn bài vịnh Tiến Sĩ Giấy thứ hai thì tôi chỉ nhớ có hai câu:

…. Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh chọe
Tưởng là đồ thật, hoá đồ chơi.

Tìm trong Văn Đàn Bảo Giám tôi thấy bài thơ ấy của ông Yên Đổ Nguyễn Khuyến:

Ông Nghè Giấy

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông Nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên khoa giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,
Cái giá khoa danh ấy mới hời.
Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật, hóa đồ chơi.

Rõ chú hoa man khéo vẽ trò,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi?
Giấy má nhà bay đáng mấy xu?
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
Bảng vàng, bia đá vẫn nghìn thu.
Hỏi ai muốn ước cho con cháu,
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu!

Tết Trung Thu năm nay, 2004, ở Mỹ có anh Tiến Sĩ Giấy Lộn ọ ẹ lên tiếng bênh vực việc Trung Tâm William Joiner – WJC – mướn đảng viên cộng sản Bắc Cộng viết mạ lỵ cộng đồng người Việt ở Mỹ. Nếu ông Yên Đổ sống ở đời này chắc lời thơ vịnh Nghè Giấy Bản của ông có câu:

Uốn lưỡi Chồn Lùi
mà châm chọc Biệt Kích
Mượn dzế Uy Dzi Xi
mà đe dọa cộng đồng.

Để mấy anh Tiến sĩ Giấy Chùi Đít ngồi chồm hổm đấy, ta sẽ tính phải quấy với mấy anh sau. Đến đây bài viết đã tạm đủ dài, trang báo còn phải để dành cho bài của người khác và cho quảng cáo, tạm chấm dứt chương trình văn nghệ tạp lục của ban Tùm Lum!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: