• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Vàng Bay Mấy Lá…

Vàng bay mấy lá… năm già nửa..
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng!

Mùa thu lại về trên Rừng Phong.. Thấm thoắt vậy mà vợ chồng tôi đã sống ở xứ người tám mùa lá rụng. Như mới ngày hôm qua.., buổi trưa một ngày Tháng 11 năm 1994 chúng tôi đến Virginia, Đất Tình Nhân, chân bước trên đất thủ đô Mỹ quốc mà hồn vẫn ở trên những đường phố Sàigòn. Trong sáu mươi năm cuộc đời nào có bao giờ chúng tôi nghĩ sẽ có ngày chúng tôi đưa nhau đi sống ở nước người, chúng tôi chết gửi xác trong đất xứ người…

Liêu lạc bi tiền sự.. Liêu lạc.. Đúng là liêu lạc.. Liêu lạc này mới thật là liêu lạc.. Tha hương này mới thật là tha hương.. Tôi viết về những chuyện xưa, chuyện xưa của tôi, chuyện xưa của người, chuyện xưa của Sàigòn, thành phố tôi yêu dấu, thành phố tôi phải rời xa. Có nhiều chuyện nhớ lại, viết lại tôi thấy buồn thương, bùi ngùi, cảm khái, có nhiều chuyện nhớ lại, viết lại, tôi thấy tim tôi ấm, hồn tôi rung động. Những chuyện xưa ấy cho tôi nhớ tôi đã gặp nhiều may mắn trong đời, tôi đã được đời và người chiều đãi; trong cuộc đời tôi đã sống tôi cũng có đau thương, có nợ nần, có những ân hận, có những lỗi lầm, có những hèn nhát, nhưng mức độ những đau buồn, tủi hổ của tôi trong đời không thấm vào đâu với những yêu thương, những ân tình tôi được hưởng. Tôi không làm gì nên tội nặng nên tôi không có những ân hận lớn. Sáng nay mưa rơi trên Rừng Phong, trời Virginia trở lạnh, lá Virginia chuyển mầu, trong phòng ấm, đèn vàng, bên tôi có người đàn bà đã sống bên tôi 48 năm, nàng sống bên tôi trong cả những phòng tù cộng sản tôi đã bị giam cầm trong 8 năm ở quê hương, tôi ngồi trước máy computer, một bài thơ của ông Bút Trà trong quyển “Tự Điển Tác Giả VN” làm tôi nhớ lại, viết lại một số kỷ niệm thời tôi làm nhân viên Nhật báo Sàigòn Mới – thời gian vàng son của đời tôi – tôi thấy lòng tôi đầm ấm những thương yêu, tim tôi ngọt ngào những hương vị của hạnh phúc.

Ông Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, ông chồng bà chủ nhiệm nhật báo Sàigòn Mới, như tôi đã kể, sinh trưởng ở một làng bên sông Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi, nên ông lấy bút hiệu Bút Trà – cây bút sông Trà – ông vào Sàigòn làm báo từ những năm 1920, 1930. Tôi chắc cuộc sống của ông những năm đầu ông mới vào Sàigòn không có gì khá lắm. Tôi nghe nói thời xa xưa ấy ở Sàigòn, có lần ông buồn chuyện gì đó, ông đi bụi đời, ba ngày, ba đêm, ông lang thang trong thành phố, ngày nhịn đói, đêm ngủ ở vỉa hè, cho đến khi người nhà ông phải đi tìm đón ông về. Đấy là thời ông chưa gặp bà Tô Thị Thân. Cuộc sống kinh tế của ông chỉ ổn định, vững vàng từ sau khi ông bà kết hôn với nhau, bà khuyến khích ông làm chủ báo, tiền vốn để ra báo là của bà, và bà trở thành bà Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, bà chủ nhiệm nhật báo nổi tiếng một thời ở Sàigòn.

Ông Bút Trà không nghiện một thứ gì cả, ông không hút thuốc phiện – Hít Tô Phe là cái bệnh chung của rất nhiều ký giả, văn nhân, thi sĩ, chủ báo Sàigon trước 1954; trong giới chủ báo thời ấy có ông Trần Tấn Quốc, báo Tiếng Dội, ông Nam Đình Nguyễn Kỳ Nam, báo Thần Chung, là đệ tử của Cô Ba Phù Dung – nhưng, như đã viết, ông Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận không hút thuốc phiện, không thuốc lào, không thuốc lá, không uống rượu, kể cả rượu thuốc hay la ve. Ông làm thơ từ lâu nhưng mãi đến năm 1960 hứng thơ mới lại sống mạnh trong ông. Ông làm thơ và đăng thơ ông trên báo nhà, tức báo Sàigòn Mới. Ông xuất bản tập Thơ “Tâm Sự Ngàn Thu”, ông kết thân với những thi hào đương thời Đông Hồ, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bàng Bá Lân..vv..

Ông Bút Trà thích nói chuyện với tôi – nói chuyện đây là ông nói, tôi nghe, ông nói về Thơ ông, tôi thỉnh thoảng đưa đẩy vài câu vô thưởng, vô phạt. Tôi đến tòa soạn lúc 5 giờ sáng, nhiều hôm đến 12 giờ tôi ra về thì gặp ông từ trong phòng ngủ của ông đi ra. Những lần vớ được tôi vào buổi trưa như thế ông thường đưa tôi đến Nhà Hàng Hải Biên ở đầu đường gần ngay tòa báo, cạnh Nhà Hàng Văn Cảnh, một tiệm cơm Tây chủ Tầu. Ông không ăn, không uống, ông bảo tôi ăn ở đây đi, về nhà khỏi ăn, ông ngồi nói chuyện. Chỉ khi đi đâu ông mới bận đồ Tây, ở nhà ông suốt ngày bận bộ đồ ngủ, tiếp khách, đến hàng cơm Tây ông cũng bận bộ đồ ngủ ấy, ông không mang tiền theo, ăn uống xong ông ký bông. Tháng tháng nhà hàng cho người mang bông đến tòa báo lãnh tiền.

Khi đã thân với ông Bút Trà, có lần tôi hỏi ông tôi nghe nói ngày xưa có người rỡn ông, để miếng sà-bông trên cái đĩa, bảo ông là phô-mai, ông ăn.., có chuyện đó không ông? Ông đáp ngay:

— Chuyện thật đấy. Thằng ấy nó đểu, nó bảo tôi là phô-mai, tôi đâu có biết. Ăn một miếng, thấy đắng nghét, phải nhả ra..

Chuyện xẩy ra vào khoảng năm 1920, năm ấy cứ 100.000 người Việt Nam thì có đến 99.999 người chưa từng ăn fromage, chưa từng nghe nói đến fromage – Bắc kỳ là phó mát, Nam kỳ là phô-mai.

Năm 1952, khi tôi đang làm trong tòa soạn nhật báo Ánh Sáng, xẩy ra chuyện báo đăng tin có một vụ cướp cạn, tên cướp bị đuổi, chạy vào khu bên kia Cầu Chữ Y. Năm ấy khu bên kia Cầu Chữ Y là khu Bình Xuyên, Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Bình Xuyên, tư dinh của Bẩy Viễn, Tư Lệnh Bình Xuyên, ở đấy. Và Bình Xuyên lúc ấy nắm quyền Công An, Cảnh Sát Nam kỳ. Những người Bình Xuyên cho rằng báo đăng tin như thế là mạ lỵ Bình Xuyên, là khu Bình Xuyên chứa chấp bọn trộm cướp, trộm cướp Sàigòn chạy vào được khu Bình Xuyên là được che chở. Báo Ánh Sáng phải đăng cải chính cùng lời xin lỗi mà vẫn không thoát bị Bình Xuyên đe dọa bắn bỏ ông chủ bút. Một buổi sáng đang làm việc trong tòa sọan tôi thấy một xe Jeep nhà binh của cái gọi là Quân Đội Bình Xuyên đến trước cửa. Hai sĩ quan BX bận quân phục vào tòa soạn. Quân đội của các ông Ba Cụt, Bẩy Viễn, Năm Lửa.. đánh nhau không được khá lắm nhưng có những sĩ quan ăn diện rất bảnh, quân phục kaki Mỹ, giầy da bóng loáng. Anh chủ bút Thanh Sanh ngồi làm việc trong phòng riêng, trong phòng này có bàn giấy của bà chủ nhiệm – bà Quả phụ Lư Khê – bàn anh Thanh Sanh, bàn anh phụ tá chủ bút Hải Âu. Tôi ngồi ở phòng ngoài, không biết có những chuyện gì xẩy ra trong phòng chủ bút. Nhiều năm về sau, năm 1967, tôi làm chung tòa soạn báo Dân Tiến với anh Hải Âu, nhắc lại chuyện xưa, anh Hải Âu nói hôm ấy Thanh Sanh tội nghiệp lắm, gần như phải chắp tay lậy chúng nó mới tha.

Nhật báo Sàigòn Mới cũng đăng cái tin lô-can tên cướp chạy sang khu Cầu Chữ Y như báo Ánh Sáng. Tôi nghe nói loáng thoáng vì cái tội ấy ông Bút Trà bị Bình Xuyên bắt sang bên kia Cầu Chữ Y. Khi là nhân viên tòa soạn báo Sàigòn Mới, tôi hỏi ông Bút Trà về chuyện đó, ông nói:

— Có chuyện đó, nhưng tôi đâu có sợ chúng nó. Tin có thật. Tôi không cho báo cải chính. Chúng nó đâu dám đến tòa báo bắt tôi. Chúng nó rình theo tôi mà tôi không biết. Tối hôm ấy tôi vào Chợ Lớn ăn cao lâu, chúng nó áp tới bắt tôi ở cửa nhà cao lâu. Qua đến chỗ bọn chúng nó bên Cầu Chữ Yù, hai anh em thằng Sang, thằng Tài, một thằng làm ông Ác, một thằng làm ông Thiện. Thằng Sang nó đánh tôi một cái tát, nó dọa bắn bỏ tôi, thằng Tài vào can thiệp, nói mấy câu xoa dịu tôi, rồi nó cho xe đưa tôi về. Tôi chỉ bị nó bắt từ lúc 6 giờ tối đến khoảng 9 giờ là về đến nhà.

Năm 1952, ở ngay giữa Sàigòn, giang sơn của Bình Xuyên, ông Bút Trà không ngán Bẩy Viễn là vì năm ấy ông Nguyễn Văn Tâm đang là Thủ Tướng Chính phủ, ông Bút Trà là em kết ngãi của ông Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm. Trong phòng khách tòa báo Sàigòn Mới có trưng tấm ảnh lớn chụp ông Tâm ngồi ghế, ông bà Bút Trà và con cháu dàn hàng đứng sau lưng ông Tâm, người nào mặt mũi cũng tươi rói. Có vẻ như cảnh ngày Tết ông Tâm đến chơi nhà ông bà Bút Trà, hay ngày ông bà Bút Trà đưa con cháu đến chúc thọ ông Tâm. Đến năm 1956 khi ông Ngô Đình Diệm làm Tổng Thống, bức ảnh đại gia đình trên mới được đưa đi chỗ khác.

“Thằng Sang, thằng Tài” là Lai Hữu Sang, Lai Hữu Tài, hai anh em, hai tay trợ tá thân tín, đắc lực của Bẩy Viễn; năm 1952 Lai Hữu Sang nắm quyền Giám Đốc Nha Cảnh Sát Nam phần, Lai Hữu Tài là cố vấn chính trị của Bẩy Viễn. Nhưng cũng trong năm 1952 ngoài việc là em kết ngãi của Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm, ông Bút Trà còn là hội viên Hội Đồng Quốc Gia, một thứ quốc hội thời Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm. Tôi không nhớ rõ hội đồng này được bầu hay do chính phủ chỉ định, tôi chỉ nhớ năm 1952 có tổ chức cuộc bầu cử Hội Đồng Đô Thành Sàigòn.

Bọn Lai Hữu Sang, Lai Hữu Tài khi bắt ông Bút Trà để dằn mặt đã biết khi được tin ông chồng gặp nạn, lập tức bà Bút Trà quay tô-lô-phôn cầu cứu với Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm, nên họ chỉ đánh ông Bút Trà một bạt tai rồi thu xếp đưa ông về trước khi Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm kịp can thiệp bằng việc gọi phone nói chuyện với Bẩy Viễn.

Ông Ngô Đình Diệm về nước làm Thủ Tướng Chính Phủ giữa năm 1954, qua giữa năm 1955 cả ba giáo phái Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo hợp tác “đuổi” ông Ngô Đình Diệm. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh, con ông Nguyễn Văn Tâm, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia, cùng một số sĩ quan, cũng đòi tống cổ ông Ngô Đình Diệm đi chỗ khác chơi. Đài Phát Thanh Quân Đội ngày đêm sa sả, ra rả “chửi” ông Diệm. Một buổi trưa, với tư cách phóng viên nhật báo Sàigòn Mới, tôi sang Bộ Tư Lệnh Bình Xuyên bên kia Cầu Chữ Y dự cuộc họp báo. Trong cuộc họp báo ấy tôi thấy trên bàn chủ tọa có đủ mặt ba ông Bẩy Viễn, Năm Lửa, Phạm Công Tắc – ba ông thủ lãnh Bình Xuyên, Hòa Hảo, Cao Đài. Chỉ thiếu có ông Lê Quang Vinh, biệt danh Ba Cụt. Ông Bẩy Viễn chủ tọa, “nhân danh” nhân dân Việt Nam ông tuyên bố bất tín nhiệm ông Ngô Đình Diệm trong chức vụ Thủ Tướng, công bố điện văn kính gửi Quốc Trưởng Bảo Đại – “Ngài Ngự” đang ở Paris – xin Quốc Trưởng giải nhiệm – nôm na là đuổi cổ không cho ông Ngô Đình Diệm làm Thủ Tướng nữa – xin Ngài Ngự thay thế ông Ngô Đình Diệm bằng một ông khác. Tôi về tòa soạn viết tin và báo cáo tình hình với bà Bút Trà, tôi kết luận chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch:

— Ông Diệm tiêu rồi, bà ơi. Chưa biết ông nào sẽ là Thủ Tướng.

Nhưng như ta đã biết, ba ông Bẩy Viễn, Năm Lửa, Phạm Công Tắc không đuổi được ông Ngô Đình Diệm, ngược lại ba ông lại bị ông Ngô Đình Diệm đuổi chạy vắt giò lên cổ: Bẩy Viễn được người Pháp cứu ra khỏi Rừng Sát, sang Pháp, chết già ở bên Pháp, ông Phạm Công Tắc chạy sang PnomPenh, chết gìa bên xứ Chùa Tháp, ông Năm Lửa đầu hàng, chết già ở Cần Thơ. Không nghe nói gì đến anh em Lai Hữu Sang, Lai Hữu Tài, chắc hai anh này chạy thoát. Ông Diệm bị bắn chết Tháng 11 năm 1963, ông Bút Trà chết già ở Sàigòn khoảng năm 1980.

Những năm 60 của thế kỷ trước, thế kỷ 20, các tòa báo Sàigòn bắt đầu làm việc lúc 5 giờ sáng, để có báo phát hành khoảng hai, ba giờ trưa cùng ngày tại Sàigòn, báo lên xe về lục tỉnh lên tầu hỏa ra miền Trung trong đêm để phát hành sáng sớm hôm sau, tôi đến tòa soạn Sàigòn Mới lúc 5 giờ sáng, lúc 9 giờ làm tin xong tôi sang tòa soạn báo Ngôn Luận – gần ngay đó, đường Lê Lai – đưa bài tiểu thuyết, tôi thường đi ăn sáng Phở 79 đường Võ Tánh với Từ Chung, thư ký tòa soạn Ngôn Luận. Ăn phở xong Từ Chung và tôi thường ra Brodard, đừơng Tự Do, uống cà phê. Chúng tôi trở về tòa soạn lúc 10 giờ làm tiếp công việc trước khi ra về lúc 12 giờ trưa. Một sáng như thế, vừa vào tòa soạn Ngôn Luận, ký giả Vân Sơn – ông này cũng là cô Thùy Hương phụ trách trang Mai Bê Bi văn nghệ học sinh của báo Ngôn Luận – cười cười hỏi tôi:

— Ê.. Hát Hát Tê.. Ông Chủ của cậu mần thơ gì mà lạ thế? Cảnh củ đây rồi, người củ đậu… là cái gì?

Nguyên Thi sĩ Bút Trà, ông chủ tôi, vừa đăng bài thơ trên báo Sàigòn Mới có cái tên lòng thòng là “Cảnh cũ đây rồi, người cũ đâu?”, đại ý bài thơ xưa hơn trái đất, nó đại khái như ý thơ của ông Thi sĩ Tầu Thôi Hiệu, Thôi Hộ gì đó đời Đường, đời Mật bên xứ Ba Tầu, tác giả bài thơ gọi là “Nhân diện, đào hoa”: chàng trở lại nơi chàng gặp nàng năm ngóai, cây đào còn đó, không những cây đào chỉ còn đó mà cây đào còn nở hoa tùm lum. Nhưng chàng không thấy nàng đâu cả. Chàng mần bài thơ bốn câu, tả chuyện ngày này năm ngoái , chàng đến cửa nhà này, gặp nàng đứng dưới cây đào, khuôn mặt nàng cùng với mầu hoa đào ửng hồng, ngày này năm nay chàng trở lại đây, chỉ thấy hoa đào mà không thấy nàng đâu…, chàng viết bài thơ lên cánh cổng nhà có cây đào, người đẹp, rồi đi về. Nàng đi chợ về, nàng đọc bài thơ, nàng lăn đùng, ngã ngửa, tay nàng bắt chuồn chuồn, nàng sắp chết, nàng sắp chết đến nỗi không còn ai có thể sắp chết hơn nàng được nữa. May quá, chàng trở lại. Ông bố nàng, đang mếu máo, nước mắt dài hơn người, túm ngay lấy chàng: “Cậu làm chết con gái tôi..” Chàng dzô phòng nàng, đứng bên giường nàng, thấy nàng thiêm thiếp, chàng nghẹn ngào: “Nàng ui.. Tui đây..” Đang nằm bất tỉnh nhân sự, sắp hai năm mươi, suôi sáu tấm, tay đã cầm vé đi tầu suốt về quê, nàng tỉnh lại liền một khi… Chuyện kể tiếp rằng chàng và nàng thành vợ chồng, suốt đời yêu thương nhau, tất nhiên là nàng cho ra đời một lô tí nhau nhưng chuyện tí nhau, đẻ đái không phải là thơ nên không được nói đến.

Đó là chuyện bên lề bài thơ Đường, bài thơ ve gái thành công nhất trong lịch sử thi ca ve gái thế giới, ông chủ tôi, Thi sĩ Bút Trà Sàigòn Mới, cũng làm bài thơ cảnh cũ, người đâu giống như dzậy nhưng không có chuyện hoa hòe, hoa sói đi theo như dzậy, Thi sĩ đặt tít bài thơ là “Cảnh cũ đây rồi người cũ đâu?” nhưng theo đúng truyền thống các báo Nam kỳ không phân biệt hỏi, ngã, không có chuyện sửa chữ cho đúng hỏi, ngã, bài thơ được in trên báo với cái tít “Người củ đây, rồi, người củ đâu?“, làm cho tôi, bốn mươi năm xưa, thời tôi không còn trinh tiết nhưng còn nhan sắc, bị cô Thùy Hương Đực hỏi riễu trong tòa soạn báo Ngôn Luận:

— Ông chủ cậu mần thơ gì mà lạ thế? Người củ đây rồi, người củ đậu… là cái gì?

Năm 1960, 1961, tôi mới ba mươi tuổi đang xoan, cuộc đời chưa làm tôi chai đá, tôi cũng không sắc xảo trong lời nói, bị hỏi riễu như thế tôi xấu hổ, tôi đỏ mặt, tôi thấy ông chủ tôi quê quá là quê, tôi bị quê lây vì thơ thẩn “cảnh củ, người củ” quê năm bẩy cục của ông chủ tôi, thơ gì mà toàn củ với củ, tôi không nói gì được. Tôi lại có tật, hay chê, hay khinh người khác cái tội “quê”. Nay nhớ lại tôi thấy khi ấy tôi có thể phản kích Vân Sơn bằng một câu như:

— Ông chủ tôi làm thơ dở, nhưng ông chủ tôi còn làm thơ dở được, ông chủ của cậu có làm thơ được không? Ông chủ của cậu may ra chỉ có thể viết được cái biên lai giặt ủi.

Tôi ấm lòng khi kể lại chuyện xưa, chuyện thời tôi còn trẻ. Nhiều bạn tôi trong hai tòa soạn Ngôn Luận, Sàigòn Mới nay đã thành người thiên cổ, tôi nhớ các anh, tôi viết về các anh với tình thương mến.

***

Trước khi làm Thủ Tướng Chính Phủ, ông Đốc Phủ Sứ Nguyễn Văn Tâm làm Giám Đốc Nha Công An-Cảnh Sát Nam Việt, rồi Thủ Hiến Nam Phần. Vì thân với Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm, bà Bút Trà đệ đơn xin lập “Hội Phụ Nữ Việt Nam” và được chính phủ cấp giấy phép cho lập “Hội Phụ Nữ Việt Nam” một cách dễ dàng.

Đúng ra bà Bút Trà Tô Thị Thân, chủ nhiệm Nhật báo Sàigònmới, không được quyền lập một hội ái hữu của riêng của bà, do bà làm hội trưởng vĩnh viễn, lấy tên là “Hội Phụ Nữ Việt Nam”. Nhưng chính phủ Nguyễn Văn Tâm đã cấp giấy phép một cách trái phép cho bà Bút Trà lâp cái hội có tên như thế. Trên pháp lý, bà Bút Trà Tô Thị Thân có cái tư cách gọi là “tư cách pháp nhân” làm chủ Hội Phụ Nữ Việt Nam, cái hội tên là Hội Phụ Nữ Việt Nam này là của riêng của bà, do bà làm chủ hội vĩnh viễn. Trong suốt những năm tôi là nhân viên báo Sàigòn Mới, tôi không thấy lần nào, dù chỉ một lần, cái gọi là Hội Phụ Nữ Việt Nam của bà Bút Trà Tô thị Thân họp đại hội, bầu lại ban quản trị. Việc Sàigòn đã có Hội Phụ Nữ Việt Nam của bà Bút Trà làm bà Ngô Đình Nhu phải lập Hội Phụ Nữ Liên Đới.

Bà Ngô Đình Nhu có thể lập Hội Phụ Nữ Việt Nam với đầy đủ điều lệ, nội qui hợp pháp, nhưng muốn làm thế bà phải giải tán cái Hội Phụ Nữ Việt Nam của bà Bút Trà. Bà Nhu có thể làm chết Hội Phụ Nữ Việt Nam của bà Bút Trà nhưng bà Nhu đã không làm, bà Bút Trà cũng không chịu tự ý giải tán cái hội do bà làm chủ. Tôi không biết tại sao bà Nhu đã không bắt bà Bút Trà tự ý giải tán Hội PNVN, chỉ cần Bà Nhu cho người nói ý muốn ấy của bà với bà Bút Trà là tôi chắc bà Bút Trà làm theo răm rắp, nhất là sau cuộc đảo chính hụt Tháng 11 năm 1960 báo Sàigònmới can tội đăng bản Tuyên Cáo của một số nhân sĩ, trong số có các ông Nguyễn Tường Tam, Phan Khắc Sửu, Phan Quang Đán, ủng hộ nhóm quân nhân làm đảo chính. Nhưng thay vì bắt Hội PNVN của bà Bút Trà phải chết, bà Nhu thành lập Hội Phụ Nữ Liên Đới. Bọn xấu thời đó, trong đó có tôi, gọi trệch Hội Phụ Nữ Liên Đới ra là Hội Phụ Nữ Liên Đái, xuyên tạc rằng đó là cái hội các bà phụ nữ họp nhau lại để đái. Trong kỳ tranh cử dân biểu Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa nhiệm kỳ 2, Hội Phụ Nữ Liên Đái đưa người ra tranh cử, dấu hiệu tranh cử chung của các vị hội viên Liên Đái là cây đèn dầu hôi với khẩu hiệu “Đèn dầu Liên Đái đầy dầu”. Tôi khôi hài:

— Các bà Liên Đái họp nhau lại để đái, các bà đái luôn vào đèn dầu, làm gì mà đèn của các bà chẳng đầy dầu!

Bà Nhu hay mở những cuộc hội báo. Bà Bút Trà rất chăm đến dự những cuộc hội báo của bà Nhu. Và thường là sau khi bà Nhu nói xong, đến phần cử tọa góp ý kiến, nêu thắc mắc, thể nào bà Bút Trà cũng lên micro phát biểu đôi câu, để cho bà Nhu thấy mặt.

Những cuộc hội báo của bà Nhu thường được tổ chức ở Phòng Khánh Tiết Tòa Đô Chính. Suốt thời gian cuộc hội báo diễn ra người ta thấy Thiếu Tướng Nguyễn Văn Là, Tổng Giám Đốc Công An-Cảnh Sát Quốc Gia, bận com-lê trắng, ca-vát đen, giầy đen, đi đi lại lại ngoài hành lang trước Phòng Khánh Tiết, Xếp Phú Lít Quận Nhất đứng ở dưới đường. Tất cả những cuộc hội báo của chánh phủ, đặc biệt là những cuộc hội báo của bà Ngô Đình Nhu, bà Bút Trà đều cử tôi đi dự.

Đến đây tôi kể đến nguyên nhân làm tôi coi bà Bút Trà là bà chủ của tôi.

Như tôi đã viết, lúc 11 giờ trưa ngày 12 tháng 11 năm 1960, khi nhóm sĩ quan làm đảo chính đã lên phi cơ bay sang Nam Vang, một bản Tuyên Cáo được đưa đến tòa soạn báo Sàigònmới, bản tuyên cáo do một số nhân sĩ ký tên, nội dung ủng hộ nhóm quân nhân làm đảo chính, coi việc lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm là cần thiết để bảo vệ đất nước. Ông Bút Trà cho đăng Tuyên Cáo ấy, ông lý luận có tin thì báo đăng, báo không ủng hộ, không đả đảo ai cả. Dường như năm ấy chỉ có báo Sàigònmới đăng cái Tuyên Cáo ấy. Tuy phạm cái tội đó nhưng báo Sàigònmới không bị Bộ Thông Tin ra lệnh rút giấy phép. Vì cái tội ấy bà Bút Trà bị hành hạ như thế nào, phải chạy chọt để chạy tội ra sao, tôi không được biết, tôi chỉ biết sau đó tờ báo phải lệ thuộc vào chính quyền nhiều hơn, có hai nhân viên chính phủ, một của Bộ Thông Tin, một của Phòng Báo Chí Phủ Thổng Thống, phái đến làm việc trong tòa soạn Sàìgonmới. Hai ông chuyên viên này có nhiệm vụ trông nom tờ báo về mặt chính trị, không để cho báo phạm lỗi nặng như việc đăng tuyên cáo ủng hộ nhóm sĩ quan làm đảo chính. Tất nhiên nhà báo phải chi lương cho hai chuyên viên này.

Một trong hai người là anh Việt Nhân – anh đã qua đời ở Sàigòn – một ký giả kỳ cựu. Anh là người tốt, tôi không có ác cảm gì riêng với anh, tôi chỉ không ưa những người làm báo làm việc cho chính phủ. Từ khi tòa báo có anh Việt Nhân, bà Bút Trà thường bảo anh Việt Nhân cùng đi dự những cuộc hội báo của chính phủ với tôi. Hai người đi, nhưng tôi là người viết bài tường thuật. Tôi khó chịu vì sự có mặt của anh VN trong các cuộc hội báo. Một hôm, khi nhận giấy mời dự hội báo do bà Bút Trà đưa, tôi nói với bà:

— Bà để tôi đi một mình, tôi không thích tòa báo cử hai người đi.

Bà Bút Trà nói ngay:

— Thì anh đi một mình, đâu có sao.

Tôi khoái chí vì tôi đã thắng trong lời yêu cầu. Nhưng tôi không khoái chí được lâu. Ngay ngày hôm sau bà Bút Trà mời tôi vào nói chuyện, bà nói:

— Nhà báo có nhiều người. Nhà báo cử anh đi làm việc nào thì anh cứ đi, anh không nên đòi phải cho anh đi một mình anh mới đi. Anh chỉ nên làm tròn công việc của anh thôi. Nhà báo cử bao nhiêu người đi là quyền của nhà báo.

Tôi không được thông minh lắm nhưng tôi cũng không đến nỗi quá ngu ngốc, tôi biết lùi lúc tôi cần phải lùi. Bà Bút Trà đã đặt vấn đề nguyên tắc với tôi. Đúng như bà nói, tôi là người làm công, tôi không có quyền đòi nhà chủ phải để một mình tôi làm một công việc do nhà chủ giao, không được cho người khác cùng làm. Khi tôi mới yêu cầu, bà không nhận ra ngay chuyện tôi đòi hỏi như thế là không đúng nguyên tắc, bà làm theo ý tôi. Nhưng sau đó bà nghĩ lại, bà thấy bà làm theo ý tôi là không đúng, bà đặt vấn đề lại với tôi.

Chuyện làm tôi cảm động, và cảm phục bà, là tuy bà thắng tôi, tuy tôi đã phải chịu để bà phái anh VN, hay bất cứ ai, cùng đi dự họp báo với tôi, nhưng sau đó bà vẫn làm theo ý tôi: những lần tôi đi họp báo sau đó tôi đều đi một mình, không có anh VN cùng đi. Bà không nỡ làm cho tôi phải thấy nhục vì tôi đã đòi hỏi bậy bạ. Thái độ của bà đối với tôi thật rộng lượng. Thay vì có thể làm cho tôi phải nhục, bà đã không làm.

Đây là một chuyện khác: khoảng năm 1961, 1962, bà Ngô Đình Nhu mở cuộc hội báo – cuộc họp báo đặc biệt này không ở Phòng Khánh Tiết Tòa Đô Chánh mà lại được tổ chức ở Nhà Hàng Continemtal. Bà Bút Trà căn dặn thể nào tôi cũng phải đến dự. Ngày ấy, năm ấy, tôi đã nghiện thuốc phiện rồi. Cữ hút trong ngày của tôi là khoảng 5 giờ chiều, trùng với giờ họp báo, tôi biết tôi sẽ phải ngồi trong cuộc họp báo ít nhất là đến 7 giờ tối, quá cữ hút, tôi phải đi hút trước khi đến dự họp báo. Tôi đến tiệm hút từ lúc 4 giờ nhưng kẹt khách, phải nằm chờ mãi đến gần 5 giờ mới đến lượt tôi hút. Hút chưa xong thì trời đổ mưa lớn. Dù mưa lớn , dù đến muộn, tôi vẫn có thể đi taxi đến nhà Continemtal dự họp báo nhưng theo đúng qui luật Hít Tô Phê: đệ tử Cô Ba hít tô phê xong là lười, chỉ thích nằm phê lơ tơ mơ, không muốn làm gì cả, việc đi họp báo, họp bổ lại càng không thích. Tôi bỏ đi họp, nằm lại phê luôn, định bụng mai bà Bút Trà có hỏi sẽ nói là có đến dự nhưng ngồi ở những hàng ghế dưới nên bà không trông thấy.

Sáng hôm sau, trước khi đến tòa soạn báo Sàigòn Mới, tôi đã ma lanh ghé qua tòa soạn báo Ngôn Luận, hỏi Từ Chung hôm qua mày đi họp báo thấy bà Bút Trà đi một mình hay đi với ai? Từ Chung nói bà ấy đi với một bà nào ấy. Tôi đã ma lanh nhưng tôi vẫn không qua mặt được bà Bút Trà. Khi bà hỏi tôi chiều hôm qua anh có đi dự cuộc hội báo của bà Cố Vấn không, tôi trả lời:

— Tôi có đi, nhưng trời mưa, tôi bị ướt nên tôi ngồi ở hàng ghế dưới.

Bà hỏi tôi:

— Anh có đi? Vậy anh thấy tôi đi với ai?

Theo lời Từ Chung, tôi trả lời:

— Bà đi với bà nào ấy..

Bà hỏi:

— Anh không biết người đi với tôi là ai à?

Tôi ú ớ nói tôi không biết. Bà nói:

— Tôi đi với chị Tùng Long mà anh cũng không biết là ai à? Vậy là chiều hôm qua anh không đi rồi.

Gần như tuần nào tôi cũng gặp bà Tùng Long ở tòa soạn ít nhất là một lần, tôi không thể nói tôi không nhìn ra người đi với bà là bà Tùng Long. Tôi đã đề phòng bà hỏi tôi thấy bà đi với ai, quả nhiên bà hỏi, nhưng Từ Chung, cận thị nặng, lại không biết mặt bà Tùng Long nên tôi bị tổ trát. Tôi phục bà ở sự thông minh, nhanh trí của bà. Sau đó bà chỉnh tôi:

— Nhà báo có nhiều người. Việc nào anh không muốn đi hay anh có việc bận không đi dự được anh cứ cho biết, nhà báo cử người khác đi. Anh đừng nhận đi rồi bỏ không đi như vậy.

Chuyện đó cùng một số chuyện nho nhỏ khác, tôi xin phép không kể, làm cho tôi kính phục bà Bút Trà, tôi coi bà là bà chủ của tôi. Trọn một đời làm báo của tôi, tôi đã làm với khoảng trên dưới mười chủ báo, chỉ có một bà Bút Trà được tôi coi là chủ nhân của tôi. Người chủ báo thứ hai đối với tôi thật tốt là anh Chu Tử, nhưng tôi chỉ viết tiểu thuyết cho nhật báo Sống của anh, tôi không làm nhân viên toà soạn báo Sống ngày nào nên anh không hẳn là ông chủ của tôi. Thêm nữa, anh Chu Tử là đàn anh tôi, anh là người viết tiểu thuyết trong khi bà Bút Trà Tô Thị Thân là chủ nhiệm nhật báo theo đúng nghĩa.

Hai lần làm trong tòa báo của bà, tổng số 9 năm trời, tôi không một lần thấy bà Bút Trà sẵng giọng, to tiếng với nhân viên, bà không rầy la nhân viên có lỗi trước mặt đồng nghiệp của anh ta, bà cũng chẳng bao giờ than phiền một nhân viên nào làm việc bê bối với người trong tòa soạn, cần nói gì bà mời riêng nhân viên đó vào nói chuyện với bà. Tôi nhớ bà người to lớn, đẫy đà, da trắng, mắt sáng, tóc búi, vai như vai hùm, giọng nói dễ nghe, bà như cây cổ thụ tàn lá xum xuê che chở, không chỉ che chở chồng con bà, mà che chở luôn cả những người làm công cho bà. Năm nào đến Rằm Tháng Bẩy, bà cũng cho làm một bữa ăn đãi tất cả nhân viên, nhân công tòa báo: bánh hỏi, thịt quay, cà-ri ăn với bún, bánh mì, ăn thả dàn theo kiểu All You Can Eat, Tết đến nhân viên tòa soạn được hưởng lương 15 ngày lao động –ký giả nhà báo làm việc quanh năm, không nghỉ hàng năm 15 ngày theo Luật Lao Động nên mỗi năm được lãnh 15 ngày lương- và nửa tháng lương thưởng Tết, coi như trọn một tháng lương gọi là lương Tháng Mười Ba. Cho đến ngày báo bị đóng cửa, nhật báo Sàigònmới áp dụng chế độ nhân viên tòa soạn lãnh lương trứơc, làm việc sau, và Tết đến nhân viên có tiền 15 ngày lao động cùng nửa tháng lương tiền thưởng Tết.

Bốn mươi mùa lá rụng đã qua, hôm nay tôi nhớ có lần bà Bút Trà bảo tôi:

— Anh ngồi đừng có rung đùi nghe anh. Tôi thấy ông nào có tật ngồi rung đùi cũng nghèo..

Tôi không có tật rung đùi – Vàn sĩ Thanh Nam ngay cả khi đứng cũng rung đùi – Bà Bút Trà nói đúng, nhưng tôi thấy những ông ngồi rung đùi là những ông không có việc gì làm, ngồi không cả nửa ngày nên mới có thể rung đùi, những người hoạt động, bận nhiều công việc, làm sao có thể ngồi không cả hai, ba tiếng đồng hồ để rung đùi, mấy ông không việc làm nên nghèo, nên ngồi rung đùi, không phải vì cái tật ngồi rung đùi mà các ông nghèo.

Những năm 1960 dàn máy in báo tự động, in theo dây chuyền, gọi là máy rô-ta-ti: rotative văn minh, hiện đại, đã được nhập vào làng báo Sàigòn. Dàn máy in rotative thứ nhất, và duy nhất, đúng là hiện đại nhất và duy nhất, là của nhà in nhật báo Thần Chung. Nhật báo phải in ít nhất ba, bốn mươi ngàn số mới đáng để in bằng máy rotative, báo in năm, bẩy ngàn số không bõ. Nhật báo Sàigònmới có số in lớn có thể in bằng máy rotative, bà Bút Trà có dư tiền mua máy rotative nhưng bà không chịu mua, nhà in Sàigònmới cứ cà rịch cà tang chạy 12 cái máy in, mỗi máy có một thợ chạy máy, những máy in này in cả giờ đồng hồ được một ngàn tờ. Có lần tôi nói với bà Bút Trà về chuyện máy in rotative, tất nhiên là tôi muốn bà thay dàn máy in cũ cả chục cái bằng một dàn máy rotative cho hách, bà nói:

— Để tôi tính anh coi… Mỗi máy in của mình bây giờ có một anh thợ máy trông nom, mỗi anh thợ máy có gia đình ít nhất là năm người, hai vợ chồng, hai, ba đứa con, có người còn bố mẹ già phải nuôi. Mười máy in nuôi 50 người. Nay tôi dẹp đi, dùng máy rô-ta-tiêu chỉ phải dùng hai anh thợ thôi, tám người mất việc, 40 người nheo nhóc. Tôi không muốn thay đổi là vì vậy.

Bà Bút Trà không muốn dùng máy in rotative vì bà không muốn sa thải thợ chạy máy in, chuyện đó có thể đúng, song cũng một phần vì bà không ưa tiếng “tiêu” trong cái tên ” rô-ta-tiêu”. Bà thấy cái tiếng “tiêu” ấy không có lợi. Nhưng rồi đến lúc dù không dùng máy in rô-ta-tiêu nhật báo Sàigònmới cũng vẫn cứ tiêu như thường.

Chu kỳ vận đỏ của bà Bút Trà bắt đầu năm 1957, chấm dứt đầu năm 1964. Trong chu kỳ ấy bà làm công việc gì cũng thành công, tiền vào nhà Sàigònmới như nước sông Mekong chẩy vào Biển Hồ Tonle Sap. Bà xây rạp xi-nê Kim Châu – Kim Châu là tên cô con thứ hai của bà từ lâu bà có nhà bảo sanh ở gần trường Bàn Cờ đường Phan đình Phùng, mỗi năm Tết đến bà in Lịch Tam Tông Miếu, kiếm thêm không biết bao nhiêu là tiền. Ông anh ruột của bà, được gọi là ông Ba, bà là bà Tư, là vị tu sĩ sáng lập Tam Tông Miếu ở đường Cao Thắng, Sàigòn. Bà Bút Trà là người độc quyền in và phát hành Lịch Tam Tông Miếu. Lịch này có thêm ngày ta, có mục Nên, Cữ ghi toàn chuyện vớ vẩn như trong ngày nên hay không nên đi xa, vay tiền, cho vay tiền, bán nhà, mua nhà, dựng nhà, mở hụi, xin việc làm, mướn người làm, cưới hỏi vv.. kể cả những chuyện nên hay không nên lẩm cẩm như cạo đầu, tắm gội, may quần áo, chỉ thiếu có lời khuyên nên hay không nên ngủ với vợ lớn hay vợ bé vv.. Lịch Tam Tông Miếu bán rất chạy. Muốn có lịch Tam Tông Miếu để bán, người ta phải ghi tên và con số lịch trước với bà Bút Trà. Không có gì sướng hơn, và lời hơn, là in một văn phẩm ra mà biết trước số bán, mà bán được hết, không bị dư một quyển.

Năm 1961, hay 1962, báo Sàigònmới phạm một vụ bê bối nặng là vụ” Khỉ Cà Mâu”. Báo đăng một phóng sự, đúng hơn là một tiểu thuyết, một chuyện có nhiều bịa đặt hơn là sự thật, về một cô gái ở một vùng hoang vắng nào đó trong tỉnh Cà Mâu bị khỉ rừng hiếp, rồi cô thương con khỉ đó, cô lén đi lại với nó, cô có con với nó! Nếu một nhật báo nào khác của Sàigòn đăng phóng sự ấy các báo khác kệ xác, chẳng báo nào thèm nói đến, nhưng tờ báo đăng chuyện Khỉ lấy Người, Người lấy Khỉ lại là báo Sàigònmới, tờ báo có nhiều độc giả nhất. Nhiều báo đả kích báo Sàigònmới đăng chuyện bịa đặt, khiêu dâm, đánh lừa độc giả, chuyện phản khoa học, khai thác chuyện phạm “thuần phong, mỹ tục”, làm mất phẩm giá phụ nữ Việt Nam ..vv… Năm ấy lại là năm giới công giáo toàn cầu cử hành đại lễ vinh danh Đức Bà Maria – tôi không nhớ đúng tên đại lễ này – đăng chuyện người lấy khỉ có con, báo Sàigònmới còn bị tròng cho cái tội “chống Thiên Chúa Giáo”.

Thay vì chấm dứt ngay phóng sự “Người lấy Khỉ”, vì tự ái, Năm Thành, Sáu Khiết – hai anh con bà Bút Trà, hai anh có quyền định đoạt một số bài vở đăng báo – cứ cho tiếp tục đăng. Sáu Khiết đi xuống tận Cà Mâu gặp tác giả phóng sự Người Lấy Khỉ để điều tra tại chỗ; không biết Sáu Khiết có xuống Cà Mâu thật hay anh tả sự đi Cà Mâu vì công việc nhà báo để đưa vợ bé đi chơi Đàlạt một tuần ngon lành, chỉ biết báo Sàigòn Mới cứ đăng mãi phóng sự “Khỉ lấy Người”, bất chấp việc bị các báo khác đả kích, cho đến khi phong trào tố cáo lên cao, Bộ Thông Tin xen vào vụ, báo Sàigònmới bị đòi trưng bằng cớ: Chị phụ nữ bị khỉ hiếp rồi đi lại với khỉ, tức lấy khỉ, có con.., đích xác ở làng nào, tên là gì, giấy xác nhận của chính quyền địa phương.. vv…

Từ năm 1958 Việt Cộng đã nổi lên đánh phá quốc gia Việt Nam Cộng Hoà, đến những năm 1961, 1962, những nơi xa như Cà Mâu, Đồng Tháp đã trở thành vùng xôi đậu, tình hình an ninh ở những nơi đó không được bảo đảm, rất khó cho người Sàigòn nào muốn về những nơi đó để điều tra, xác nhận hay phủ nhận một chuyện gì, báo Sàigònmới không thể có văn bản pháp lý chứng minh lý lịch của nữ nhân vật bị khỉ hiếp rồi lấy khỉ, chứng minh chuyện khỉ hiếp người có con là chuyện có thật. Các báo Sàigòn xúm lại đánh báo Sàigònmới với mục đích cao đẹp là đánh cho báo Saigònmới chết, số độc giả mua báo Sàigònmới sẽ phải mua các báo khác. Nhưng bị đánh hội đồng, đánh tới tấp, báo Sàigònmới vẫn không chết. Trong một cuộc gặp, ký giả Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, người phụ trách mục Nói hay Đừng nhật báo Tự Do, nói với Thi bá Vũ Hoàng Chương:

— Cả bọn chúng tôi xúm vào đánh bà Bút Trà mà bà ấy chẳng hề hấn gì cả. Cứ như là châu chấu đá voi ấy thôi..

Thi bá bèn làm ngay tại chỗ hai câu thơ Vịnh cảnh làng báo đánh hội đồng bà Bút Trà, theo đề tài Châu chấu đá voi:

Hai chân tanh tách làm luôn mãi.
Một đống lù lù cứ thế thôi!

Sau khi can tội đăng bản Tuyên Cáo của các vị nhân sĩ ủng hộ phe quân nhân làm đảo chính, bà Bút Trà ra sức chạy tội và lấy lòng Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đúng hơn là lấy lòng ông Trần Kim Tuyến, Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị-Xã Hội, và bà Ngô Đình Nhu, ông Trần Chánh Thành, Bộ Trưởng Bộ Thông Tin.

Năm Thành, anh con thứ tư của ông bà Bút Trà, một trong hai thiếu chủ của tôi, phụ trách việc tuyển lựa và in những phụ bản tặng không trong báo. Tôi đến tòa soạn làm việc từ 5 giờ sáng, 11 giờ trưa Năm Thành mới đến tòa soạn. Vớ được tôi là anh bắt tôi ngồi rì rầm thảo luận với anh về những cách thức tăng cường, cải tiến nhật báo Sàgònmới và tuần báo Phụ Nữ Ngày Mai. Nhiều hôm mãi đến 1 giờ trưa anh mới thả cho tôi về. Một hôm báo Sàigònmới dự định in ảnh chân dung T.T. Ngô Đình Diệm làm phụ bản – việc làm này phải được Bộ Thông Tin và Phủ Tổng Thống cho phép, không phải bất cứ tờ báo nào cũng có thể in hình Tổng Thống anh minh làm phụ bản tặng không theo tờ báo- Năm Thành thắc mắc về dòng chũ đề dưới ảnh, anh không bằng lòng với hàng chữ “Tổng Thống Ngô Đình Diệm” xuông tình, nghe không hấp dẫn.

Tôi đề nghị:

— Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Vị Lãnh Tụ của dân tộc Việt Nam.

Năm Thành thấy thêm mấy tiếng “Vị Lãnh Tụ của dân tộc Việt Nam” vẫn chưa được. Rù rì qua lại, mười lăm phút sau tôi thêm được hai tiếng:

— Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Vị Lãnh Tụ Tối Cao của Dân Tộc Việt Nam.

— Nghe được đấy – Năm Thành nói – Nhưng Moa thấy “Vị Lãnh Tụ Tối Cao của Dân Tộc Việt Nam” cũng vẫn chưa hay lắm. Toa cố nghĩ xem còn có tiếng gì thêm vào cho hay hơn nữa không?

Lại rù rì một hồi, 15 phút sau tôi thêm vào câu bốc thơm được ba tiếng nữa:

— Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Vị Lãnh Tụ Tối Cao và Duy Nhất của Dân Tộc Việt Nam.

Đến câu ấy Năm Thành mới bằng lòng, tôi mới được ra khỏi tòa soạn về nhà ăn cơm trưa.

Tết Năm 1963 – không nhớ năm ta là năm gì – báo Sàigònmới được “đặc ân” in tấm hình gia đình Tổng Thống Ngô Đình Diệm làm phụ bản Số Báo Xuân. Ảnh mầu chụp T.T. Ngô Đình Diệm, Đức Tổng Gíám Mục Ngô Đình Thục, Cố Vấn Ngô Đình Nhu, Cố Vấn Ngô Đình Cẩn, Đại Sứ Ngô Đình Luyện, bà Nhu cùng Ngô Đình Lệ Thuỷ, các con ông bà Nhu, bà Luyện cùng các con, đứng sau bà cụ Cố ngồi ghế. Có vẻ như bức ảnh đại gia đình này chụp ở Huế Tết năm trước, năm 1962.

Hình in offset 7 mầu. Máy in Ba Tầu Chợ Lớn năm xưa ấy không được khá lắm về kỹ thuật nên khi hình in ra – trong nguyên ảnh Bà Nhu bận áo dài mầu vàng, trên đầu có cái bandeau mầu vàng, mầu vàng này là mầu hoàng yến, vàng tươi, vàng nhạt – trong phụ bản in offset cái bandeau mầu vàng trên đầu Bà Nhu không lên mầu vàng mà trở thành mầu trắng, trông như khăn tang. Ngay khi nhìn thấy cái phụ bản ấy tôi nghĩ: “Khăn tang trắng? Điềm này là điềm gì đây?” May mắn cho bà Bút Trà là không có ai khác nhìn thấy cái khăn tang trắng báo điềm gở ấy trên đầu bà Nhu trong tờ hình phụ bản như tôi.

Ông Ngô Đình Diệm, “Vị Lãnh Tụ Tối Cao và Duy Nhất” trong phụ bản báo Xuân Sàigònmới năm 1953, ông Ngô Đình Nhu, Cố Vấn Chính Trị Chính Phủ, bị bắn chết khoảng 8 giờ sáng ngày 2 Tháng 11, năm 1963, 2 giờ chiều cùng ngày tòa soạn báo Sàigònmới bị một nhóm người kéo đến đập phá – đám người đập phá la lối báo Sàigòn Mới can tội “cấu kết với độc tài Ngô Đình Diệm” – xe ô tô của bà Bút Trà, xe ô tô của Sáu Khiết, bị đốt cháy rụi. Nhưng báo Sàigònmới không bị đóng cửa. Không tờ báo nào bị chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ đóng cửa, chỉ có báo Cách Mạng Quốc Gia – tòa soạn báo này cũng bị phá – là hết sống.

Và cuộc sống lại diễn ra.. Et la vie continue.. Ba tháng sau, tôi trở lại tòa nhà Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH ở Tân Sơn Nhất dự cuộc hội báo của nhóm quân nhân vừa làm cái gọi là cuộc chỉnh lý hạ bệ ông Dương Văn Minh, cho nghỉ việc chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ, đưa 8 Tướng đảo chính lên ngồi chơi sơi nước ở Đalạt. Ba năm trứơc, năm 1960, cũng tháng 11, tôi đã vào tòa nhà Bộ Tổng Tham Mưu này dự cuộc hội báo do Trung Tá Vương Văn Đông chủ tọa trước khi ông và Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, cùng một số sĩ quan, sang phi trường quân sự Tân Sơn Nhất, lên phi cơ bay sang Nam Vang. Thiếu Tướng Đỗ Mậu đầu trọc chủ tọa cuộc hội báo hôm nay, nhân danh cái gọi là “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng” ông tuyên bố đóng cửa ba tờ nhật báo vì tội “cấu kết với độc tài Ngô Đình Diệm”. Ba nhật báo bị đóng cửa là tờ Sàigònmới của bà Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, tờ Ngôn Luận của ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, tờ Đồng Nai của ông Huỳnh Thành Vị.

Báo Sàigònmới không còn, báo Ngôn Luận cũng mất luôn, thời kỳ phong độ của tôi đứt ngang; năm 1963 tôi ba mươi tuổi, tôi đang ở trong đỉnh cao nhất của đời tôi. Sàigònmới và Ngôn Luận là hai tờ báo chính của tôi, tôi làm nhân viên báo Sàigònmới, tôi viết tiểu thuyết cho báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong. Cả ba tờ báo của tôi cùng đi tầu suốt trong một ngày. Cùng một lúc tôi bị đời làm bể ba nồi cơm. Vợ chồng tôi vất vả vì không tiền mãi cho đến giữa năm 1965, nhật báo Tiền Tuyến ra đời, tôi về làm cho Tiền Tuyến, chúng tôi mới dễ thở trở lại, nhưng từ đó đời tôi chỉ lèng sèng thôi, không lần nào còn có thể huy hoàng, phơi phới như thời tôi là nhân viên nhật báo Sàigòn Mới, thời gian từ đầu năm 1958 đến cuối năm 1963!

Sau khi báo Sàigònmới bị đóng cửa, ông bà Bút Trà thấm mệt, rút lui, Sáu Khiết còn cựa quậy mấy lần. Anh mướn báo làm, nhưng thời nhà Sàigònmới hốt bạc đã qua rồi, Sáu Khiết bỏ đồng nào ra là tiêu ma đồng ấy. Cuối cùng anh cũng đành bỏ cuộc. Giang sơn Sàigònmới tan rã…

Những ngày vui không trở lại trong đời.. Rồi những ngày bình thường trầm trầm theo nhau qua .. Ông bà Bút Trà, anh Thiếu Lăng Quân, một thời là thư ký tòa soạn báo Sàigònmới – anh được anh em gọi là Thiếu Lưng Quần – anh Thanh Phong, một thời là thư ký toàn soạn Sàigòn Mới – anh Hoa Đường – anh được anh em gọi là Hoang Đường – Hoài Việt Bằng, Trọng Nguyên, Mạc Tử, ba anh trạc tuổi tôi, những người cùng làm trong tòa soạn báo Sàigòn Mới với tôi, đã chết.. Vũ Bình Thư, anh em cùng vợ với Lã Phi Khanh, tác giả Lệnh Xé Xác, còn sống ở Sàigon, Dương Hà Bên Dòng Sông Trẹm không biết còn lè phè ở đường Cao Thắng hay đã ra đi..

Trong số nhân viên tòa báo Sàigònmới ngày xưa dường như hôm nay chỉ có mình tôi sống ở Hoa Kỳ. Cuối năm 1995, tôi can tội viết hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị là vợ ông Thi Sách – sử liệu ghi trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, tác giả Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái ( ông Phạm Đình Toái có tên trên bảng đường Sàigòn, đoạn bên cạnh Chợ Đũi trước rạp xi-nê Nam Quang), ông Hoàng Xuân Hãn viết Tựa và Dẫn, xuất bản tại Sàigòn năm 1949, Nhà Xuân Thu in lại ở Hoa Kỳ – tôi bị kết tội xuyên tạc lịch sử và bị chửi tối tăm mắt mũi. Một ông bạn tôi cắt trên một tờ báo, gửi cho tôi bài thơ chửi tôi của một ông HO, bài thơ có nói đến ông bà Bút Trà, đến chuyện Người Lấy Khỉ Sàigòn Mới 1960 và tên tôi qua hai câu:

Nhớ thưở Bút Trà Người lấy Khỉ
Đẻ Hoàng Hải Thủy, miệng thật to..

Lời thơ làm tôi buồn năm phút. Rồi tôi tự an ủi: có khen thì có chửi, đời là thế. Tôi được đời yêu thương nhiều hơn bị đời thù ghét, tôi được người ca tụng nhiều hơn bị chê bai. Tôi ấm lòng nhớ lại câu nói của vợ tôi. Nàng nói với tôi khoảng năm 1970, khi chúng tôi còn trẻ, khi đời chúng tôi chưa có qua một tai họa nào đáng gọi là tai họa, ở Sàigòn ngày xưa của chúng tôi:

— Em sướng nhất là những khi em vào đâu có ba bốn bà, ba bốn cô đang ngồi nói chuyện, chủ nhà giới thiệu đây là chị Hoàng Hải Thủy, em thấy mắt các bà, các cô ấy nhìn em sáng lên…

Nhật báo Sàigònmới bốn mươi năm xưa bị mang tiếng muốn câu độc giả nên đăng chuyện bịa đặt, chuyện dựng đứng Khỉ lấy Người có con, những người chủ trương Sàigònmới bị chửi là ngu dốt, là không biết hai loài sinh vật khác nhau không thể giao phối mà có con được. Những người chửi ấy cũng không biết rằng hai loài sinh vật khác nhau nhưng thể chất giống nhau có thể giao phối mà sinh con, như – chuyện lâu rồi – ngựa và lừa giao phối đẻ ra con la – và mới đây – người ta thí nghiệm cho sư tử và hổ giao phối đẻ ra con nửa sư tử nửa hổ. Những con la, con sư-hổ sống mạnh nhưng không có khả năng sinh đẻ. Cũng mới đây nữa, người ta thấy ở nhiều nơi trên thế giới có phụ nữ bị khỉ hiếp mà có con.

Chuyện xưa qua rồi, cho qua luôn. Cám ơn bạn đã đọc tôi đến dòng này. Chuyện là chuyện của riêng tôi, không ăn nhậu gì đến bạn, vậy mà chuyện cũng được bạn đọc hết bài, tôi lấy làm hân hạnh. Lúc 9 giờ 45 phút tối hôm qua tên sát nhân nổ súng bắn người thứ 11 ở bãi đậu xe nhà Home Depot trong khu tôi, từ Rừng Phong đến nhà Home Depot này xe đi chỉ mất 5 phút. Tôi chắc những người sống ở Virginia cũng như tôi, chúng tôi đều thấy ngan ngán khi đứng đổ xăng vào xe, khi đi vào, đi ra những nhà hàng lớn có parking rộng. Thành ngữ Ba Tầu có câu “Nhất đao kiến huyết” nghĩa bóng để chỉ những người đáo để nói một lời, viết một câu, làm một việc là nhiều người khác phải chới với, nghĩa đen diễn tả người đao pháp cao cường, chém một đao là có người bị thương chẩy máu. Tên sát nhân Washington D.C bắn một phát đạn là trúng một người, chưa lần nào hắn bắn đến phát đạn thứ hai – cho đến tối hôm qua, Thứ Hai 14 tháng 10, 2002, ngày người Mỹ kỷ niệm ngày ông Kha-luân- Bố tìm ra châu Mỹ, tên sát nhân đã bắn 11 viên đạn, trúng 11 người, 9 người chết ngay tại chỗ, hai người bị thương nặng – tôi muốn đặt cho hắn một cái tên như Nhất Đạn Kiến Huyết, hoặc Nhất Đạn Kiến Tử nhưng chưa thấy ổn. Nếu bài viết của tôi có thể làm những bạn đọc của tôi ở Virginia, Maryland quên đi trong chốc lát nỗi ám ảnh của cái chết bất ngờ, tôi không mong gì hơn.

Vàng bay mấy lá, năm già nửa..
Hờ hững ai sui thiếp phụ chàng..!

Người thiếu phụ trong thơ có thể phụ tình, nhưng tôi không phụ tờ báo Sàigònmới của tôi. Tờ báo Sàigònmới của tôi ngày xưa có nhiều khuyết điểm, nhiều chuyện bê bối, bọn nhân viên chúng tôi quả thật là ngu dốt, nhưng tôi không xấu hổ vì tờ báo, báo Sàigònmới đã yêu thương tôi, đã cho tôi có những ngày sống và làm việc trong an ninh, trong hạnh phúc; hôm nay, trong những ngày cuối đời tôi viết về nó với niềm thương mến. Tôi chỉ tiếc một điều: những tờ báo Việt Nam trong đời tôi có đời sống ngắn ngủi quá, không tờ báo nào sống được quá 30 năm, không có gia đình chủ báo nào làm chủ báo được hai đời cha con nối nghiệp. Năm xưa, những năm 60 của thế kỷ trước, tôi thường nghĩ khi các con tôi lớn lên, sẽ có một hai đứa làm báo, viết truyện như tôi. Con tôi sẽ làm công cho bà chủ báo con gái ông Hồ Anh hay cho ông bà chủ báo cháu ông bà Bút Trà. Chuyện ấy xẩy ra chắc hơn bắp rang nếu Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa của tôi còn đến ngay hôm nay. Rất tiếc..

     Vàng bay mấy lá…

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: