• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Nói Fét, Nói Ngu.

Bọn đảng viên Cộng sản là bọn nói fét fét nhất kể từ ngày Trái Ðất có loài Người. Cùng với Nói Fét, chúng Nói Ngu. Bọn đảng viên Ðảng Cộng Việt là bọn nói fét nhất, nói ngu nhất trong bọn Cộng Thế giới.

Ðây là bài viết của Phùng Quán, Thi sĩ Bắc Cộng, người từng viết những lời Thơ Ðao To, Búa Lớn những năm 1956, 1957 ở Hà Nội:

Yêu ai cứ bảo là yêu,
Ghét ai cứ bảo là ghét.
Dù ai tha thiết nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêư.
Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời.
Ðường mật, công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã.
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

Bị dzính trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, Phùng Quán không bị đi tù; thay vì được sống ở Hà Nội, làm văn công, có lương tháng, vợ con được ăn theo về gạo, nhu yếu phẩm, vì phạm “tội ngạo mạn đòi tự do“, Phùng Quán bị đẩy đi làm cái việc gọi là “thực tế lao động“, và chỉ bị đi trong vài năm rồi được trở về sống ở Hà Nội. Từ đó, người làm Thơ với những lời đao to, búa lớn Phùng Quán trở thành khiếp nhược, suốt đời còn lại, cho đến lúc chết, chỉ làm thơ tình vẩn vương, sống dzấm dzúi và tự mãn với cuộc sống dzấm dzúi. Tôi sẽ có bài viết về tình trạng Khiếp Nhược sau khi bị đàn áp của những văn nghệ sĩ Nhân Văn Giai Phẩm nổi tiếng một thời: Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Ðạt, Phùng Quán. Bài này viết về trò Nói Fét, Nói Ngu của bọn đảng viên Bắc Cộng.

Phùng Quán gọi Tố Hữu là “cậu”. Tết, khoảng năm 1990, sau khi bọn Cộng Việt bị bắt buộc phải đi vào cuộc đổi mới về kinh tế, Tố Hữu bị hạ bệ, không còn là Phó Thủ Tướng chuẩn bị lên làm Thủ Tướng thay Phạm văn Ðồng, Phùng Quán và vợ đến thăm “Cậu” Tố Hữu. Trong phòng khách nhà Tố Hữu lúc đó có hai, ba người khách, trong số có chị đảng viên Thị Nẻ. Thị Nẻ nói fét phi-ní lô đia.

Phùng Quán kể:

Nhân nhắc đến chuyện thơ, chị Nẻ hỏi nhà thơ với giọng thẳng thắn bộc trực:

— Sao lâu nay anh ít làm thơ thế? Anh đừng để tâm gì nhiều đến những chuyện đã qua. Tôi nói thật, mất đi mười ông Phó Thủ tướng tôi cũng chắng tiếc bằng mất một nhà thơ như anh. Tuổi thanh niên tôi lao vào hoạt động cách mạng một phần cũng do đọc thơ anh. Ngày đó, bao nhiêu bài thơ trong tập “Từ Ấy” tôi thuộc làu làu. Hồi bí mật, bọn mật thám bắt tôi, chúng nó tra tấn treo ngược tôi lên, bắt tôi khai báo. Tôi trả lời chúng bằng cách đọc thơ anh, đọc bài này tiếp bài khác, đọc suốt đêm. Sáng hôm sau chúng nó sợ phải cởi trói cho tôi. Không phải chúng nó sợ tôi đâu, mà sợ thơ anh đấy….

Cũng là người làm thơ, nghe người phụ nữ kiên cường này nói về sức mạnh lớn lao của Thơ, tôi thầm ao ước cả đời mình chỉ nhận được một phần mười của lời khen tặng đó

– Mọi năm, Tết nào anh cũng có thơ Xuân – chị Nẻ lại hỏi tiếp – Sao vài năm nay anh không có thơ Xuân?

Nhà thơ trả lời:

— Tết này tôi cũng có làm một bài, ngắn thôi, thơ tứ tuyệt….

Vợ tôi nói:

— Xin cậu đọc cho chúng cháu nghe với.

Nhà thơ cười cười, đọc bài thơ với giọng Huế đặc sệt:

– Ðầu đề bài thơ là “Anh bộ đội mua đồng hồ“. Xin lưu ý là “anh bộ đội” nghe:

Có anh bộ đội mua đồng hồ
Thiệt giả không rành anh cứ lo
Ðành hỏi cô hàng, cô tủm tỉm;

.. từ “tủm tỉm” của tôi là đắt lắm đấy..
Giả mà như thiệt khó chi mô!

Nhà thơ đọc lại lần thứ hai, nhấn mạnh từng từ một.

Khách nghe ai cũng cười tủm tỉm, nhưng không ai bình luận gì hết. Tôi thì đoán họ đều như bị hẫng. Vì giọng thơ khác lạ biết bao so với giọng thơ quen thuộc của nhà thơ trước đây. “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng” , câu thơ sảng khoái của nhà thơ trong “Bài Ca Xuân 61” được nhiều người liệt vào những câu thơ sấm ngữ. Riêng tôi, bài thơ 4 câu vừa nghe này làm tôi nghĩ ngợi phân vân: có lẽ nào một nhà chính trị, một nhà thơ từng trải, thông minh như cậu mà mãi cho đến lúc bước vào tuổi bảy mươi mới bắt đầu ngấm cái đòn “giả-thật?” Hay cậu đã ngấm từ lâu nhưng phải đến hôm nay, khi không còn hệ lụy gì nữa, mới có dịp bộc bạch với mọi người?

— Các cháu ăn mứt đi – nhà thơ quay sang nói với vợ chồng tôi.

Tôi nói:

— Thưa cậu cháu không quen ăn ngọt. Cậu có rượu chi ngon cho cháu uống, cháu xin uống ngay.

— Rượu à? Bên lò sưởi có chai rượu người ta biếu, cháu xem có uống được không?

— A, Rượu Nga? Ararat.

Tôi vặn nút rót một ly đầy, uống cạn, rồi nói:

— Rượu ngon tuyệt cậu ạ. Thế mà vừa rồi nghe đâu Goócbachôp lại ra lệnh cấm rượu, Goócbachốp cùng tuổi với cháu, tuổi Tân Mùi.

— Cấm rượu! – nhà thơ dằn giọng – Do đó mới làm thiệt mất của đất nước một trăm mấy chục tỷ rúp.

Gương mặt nhà thơ đang vui vụt sa sầm, cặp mắt đang vui chợt lóe lên ánh tức giận trước một tổn thất quá lớn về của cải của một đất nước mà nhà thơ yêu mến từ thuở thiếu thời và đã từng viết nên những vần thơ xao xuyến lòng người. Nhà thơ nói tiếp:

— Sự đúng đắn và lố bịch nhiều khi chỉ cách nhau một sợi tóc.

Thị Nẻ là em ruột Thị Nở, người tình của Chí Phèo – nhân vật Chí Phèo mà bọn Cộng Việt ca tụng “tởm” đến nỗi Thị Nở cũng phải chê bỏ gã – Thị Nẻ nói fét thuộc loại người Bắc gọi là “nói fét thành thần.” Em nhỏ lên ba cũng nghe không dzô cái chuyện bị Mật Thám Tây nó treo ngược lên nó đánh, mà vẫn leo lẻo đọc thơ Tố Hữu, không chỉ đọc thơ Tố Hữu suông mà là đọc suốt đêm, đọc đến nỗi bọn Mật Thám Tây phải.. .. sợ!!!

Những năm trước 1945 ngôn ngữ Bắc Kỳ có tiếng “đòn săng-tan” : đòn tra tấn tội nhân của bọn Sureté Pháp. Có thể “đòn săng-tan” do cái tên Maison Centrale: Nhà Tù Trung Ương, tức Nhà Hỏa Lò ở Hà Nội, mà ra. “Ðòn săng-tan” là thứ đòn ác ôn nhất. Bị Mật Thám Tây nó đánh “đòn săng-tan”, đừng nói đến những đảng viên cắc ké, kỳ nhông như Thị Nẻ, đến Hồ chí Meo cũng đái ra quần, ở đấy mà nheo nhéo đọc Thơ Tố Hữu, Tố Heo. Bố khỉ. Biết là cộng sản nói fét dzồi, nhưng có nói fét cũng fét vừa thôi, nói fét quá ai mà chịu được.

Thị Nẻ nói fét kiêm nói ngu. Nhà Thơ Ðao To Puùng Quan cũng không khá hơn. Thay vì nghe Thị nói fét, Phùng Quán phải nghĩ : “Nâng bi Tố Hữu quá trớn. Fét lác. Coi thường người nghe. Mẹ kiếp. Nói fét không biết ngượng mồm.” Anh ta lại cho chuyện Thị Nẻ Bị Tây Treo Ngược Ðầu Xuống Ðất Ðít Lên Trần Nhà Ngâm Thơ Tố Hữu Suốt Ðêm Trường lama bọn Sureté Tây phải ngán sợ chuyện thật. Không những chỉ tin, anh còn viết lại cho người khác đọc cái chuyện fét lác ngu ngốc ấy. Không khá được.

Bài thơ “Bộ đội mua đồng hồ” của Tố Hữu là bài thơ loạc choạc, chỉ trong 4 câu ý thơ không những không ăn nhậu gì với nhau mà còn chửi bố nhau. Bài thơ này được phổ biến khá nhiều trong báo chí Việt Nam hải ngoại, tôi chưa thấy ai chỉ ra cái chuyện vớ vẩn trong thơ: anh bộ đội đi mua đồng hồ, chợ bán nhiều đồng hồ giả nên anh sợ mua phải đồ giả, anh nhờ cô hàng bán đồng hồ mua dzùm anh cái đồng hồ thật. Thay vì cô hàng nói với anh: “Yên trí. Tôi sẽ mua đồng hồ không phải là đồng hồ giả hiệu cho anh.” Cô ta lại nói: “Giả mà như thật có khó gì đâu.” Vớ vẩn. Anh hỏi một đàng, ả trả lời một nẻo. Theo tôi, bài thơ ấy phải như thế này:

Anh bộ đội đi bán đồng hồ.
Ðồng hồ anh giả, anh rất lo.
Anh nhờ cô hàng, cô tủm tỉm:
– Giả mà như thật, khó chi mô!

Ðến chuyện Tố Hữu “chửi Goóc-ba-chóp cấm dân Nga uống rượu làm cho bọn Cộng Nga mỗi năm bị mất một trăm tỷ rúp tiền thuế rượu” thì đúng là tôi.. hết nước nói. Thực phẩm không đủ cho dân ăn, dân Nga từ em nhỏ lên ba đến cụ già chín bó, đói dzài, đói dzẹt, đói lòi tĩ, đói sa trôn trê, trong khi bọn cầm quyền cứ đem lúa mì, khoai, ngô, củ cải chế rượu cho bợm nhậu. Chi cần có chút khôn ngoan nhỏ bằng đầu cây tăm xỉa răng người ta cũng biết việc uống rượu là có hại. Những năm 1983, 1984, sống trong vòng vây hãm của bọn Cộng Việt ở Sài Gòn – Thi sĩ Hoàng Anh Tuấn ngày ấy gọi “vòng vây” đó là “lồng tre mọt“; Nga Xô là “bức màn sắt“, Tầu Cộng là “bức màn tre,” Việt Cộng là “lồng tre mọt;” tôi cũng được biết chuyện ông Lex Va-lê-dza Nước Ba-lan kêu gọi dân Ba-lan: “Chúng ta nhất định không uống vodka của bọn Nga nữa. Chúng mang vodka sang bán cho chúng ta, chúng lấy gạo, khoai của chúng ta về nước chúng. Vì chúng ta uống ruợu, các em nhỏ của chúng ta bị đói ăn.”

Trích bài Phùng Quán:

— Cấm rượu! – nhà thơ dằn giọng – Do đó mới làm thiệt mất của đất nước một trăm mấy chục tỷ rúp.

Gương mặt nhà thơ đang vui vụt sa sầm, cặp mắt đang vui chợt lóe lên ánh tức giận trước một tổn thất quá lớn về của cải của một đất nước mà nhà thơ yêu mến từ thuở thiếu thời và đã từng viết nên những vần thơ xao xuyến lòng người.

Có thể nào “Nó” có thể ngu đến cái độ chỉ thấy sự thiệt hại vì mỗi năm không có một trăm mấy chục tỷ rúp tiền thuế rượu, không thấy muốn có số tiền thuế ấy phải mất bao nhiêu gạo, khoai, bao nhiêu người chịu đói. Ngu đến như thế là cùng. Ngu cực kỳ. Ngu đến không còn ai có thể ngu hơn! Phải nói là “Ngu như Cộng sản.”

Dzậy mà những năm 1980 tên Tố Hữu Ngu đó làm Phó Thủ Tướng, sửa soạn lên chức Thủ Tướng thay Phạm văn Ðồng. Nó mà làm Thủ Tướng thì nhân dzân Việt Nam khốn khổ còn bỏ mẹ nữa. Cũng may mà tên Lê Dzuẩn chết trước khi bọn Nga Cộng phải buông bỏ độc quyền cai trị, Lê Dzuẩn mà còn sống những năm 2000, thì đời sống của người dân Việt Nam, đã đen sì, đen sịt như cái lá đa ca dao, sẽ còn rách hơn sơ mướp.

Tuy vậy, hôm nay tuổi đời Bẩy Bó Lẻ Mấy Qua, tôi phải nói tôi từng một thời mê mẩn vì Thơ Tố Hữu. Trước năm 1946 chưa có tập Thơ Tố Hữu nào được xuất bản, anh tôi rất thích Thơ, thấy ai có Thơ, anh tôi mượn về chep lại, đóng thành tập. Anh tôi có hoa tay, chữ viết rất đẹp. Nhờ anh tôi, năm 1946, tôi 15 tuổi, tôi được đọc nhiều Thơ của nhiều Thi sĩ, trong số có Tố Hữu.

1946 Hà Ðông Bên Hông Hà Nội, 2007 Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích.. Người HO lưu vong già ngồi víết trước dàn computer bên cửa sổ nhìn ra rừng lá vàng thu, ngưng viết trong vài phút, thả hồn trở về dĩ vãng, nhớ lại những dòng Thơ ngày xưa..

Mã Chiếm Sơn buông cương và ngẫm nghĩ,
Ngựa rung bờm vang hí giữa tàn quân,
Ải quân xa bốc khói, đỉnh non gần
Ðã khuất phục dưới lá cờ quân Nhật.
Trán kiêu hãnh lần đầu trông xuống đất,
Mã nghẹn ngào: “Thôi hết, Mãn Châu ơi..!”
Rồi buông cương, nín lặng chẳng nên lời.

Rồi từ đó gươm vàng và võ phục,
Rồi cừu hận và lòng sôi rửa nhục
Mã chôn sâu trong một cuộc đời riêng,
Ðem nhành thơ rủ nhúng suối ưu phiền,
Áo chiến sĩ khoác mầu tro ẩn sĩ.
Rượu cứ rót cho say sưa lạc hỷ,
Ðàn cứ vang cho át tiếng đầu rơi.
Trong gươm thiêng loang loáng ánh xanh trời,
Mãn Châu Quốc gượng kêu, lời trăn trối:
– Chiếm Sơn đâu, cứu nước, Chiếm Sơn ơi.

Tôi không nhớ trọn bài thơ. Tố Hữu làm bài Thơ Ly Rượu Thọ trên đây khoảng những năm 1942, 1943. Mã Chiếm Sơn là người thật, một người hùng của Mãn Châu kháng Nhật. Mãn Châu bị Quân Nhật xâm lăng. Mã Chiếm Sơn không lo bảo vệ tổ quốc mà lui về ở ẩn. Ngày mừng thọ Bẩy Mươi bà mẹ, Mã dâng bà ly rượu thọ, bà mẹ hắt đổ ly rượu, mắng:

— Mã Chiếm Sơn.. Rượu này là rượu nhục!

Bị bà mẹ mắng, Mã Chiếm Sơn tổ chức cuộc chiến đấu kháng Nhật, bài thơ kết bằng hai câu:

Mùa xuân ấy, năm ngàn quân của Mã
Ðánh tan xương quân Nhật một sư đoàn!

Tất nhiên là không có chuyện 5.000 dân quân-du kích Mãn đánh tan xương được 1 sư đoàn quân chính quy Nhật 10.000 người. Nhưng Thơ Tuyên Truyền nên cũng cho là được đi. Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ ấy. Bài Ly Rượu Thọ không có trong những tuyển tập Thơ Tố Hữu vì lý do khi sáng tác bài thơ ấy Tố Hữu mù tịt về “tính giai cấp” và cái gọi là “quy luật đấu tranh giai cấp”: Mã Chiếm Sơn là đại biểu của giai cấp địa chủ-lãnh chúa-quân phiệt. Ðánh đuổi quân Nhật xong sẽ có hai chuyện xẩy ra ở Mãn châu: Một: Mã vẫn là địa chủ-lãnh chúa-quân phiệt, Mã sẽ treo cổ bọn công sản làm loạn nước, Hai: bọn Cộng sản lợi dụng nông dân sẽ treo cổ Mã Chiếm Sơn.

Thi sĩ đảng viên Cộng sản mà làm thơ ca tụng Lãnh Chứa-Ðịa chủ là tầm bậy.

Bài thơ thứ hai của Tố Hữu không có trong Tuyển Tập Thơ Tố Hữu:

Châu Ro

Châu Ro ơi.. Xa rừng quê, núi cũ,
Tù nơi đây, buồn lắm, phải không anh?
Người Mọi già đang mải ngắm xa xanh,
Với đôi mắt dại đờ trong tuyệt vọng,
Bỗng quay lại, nghe chừng như xúc động,
Cả một trời thương nhớ dưới chiều đi.
Anh nhìn tôi, đau đớn rồi thầm thì:
– Ðau cái bụng, Ui chui cha.. Tức lắm…..
( Quên mấy câu )
Có con bò thì Ông bắt mất tiêu,
Ðể con đói với vợ nghèo trong núi.

Tố Hữu kém nhận xét khi làm bài thơ Châu Ro. Người Thượng sống trên núi, không cày cấy, không nuôi trâu bò, trồng lúa bằng cách đốt một khu rừng, lấy tro làm chất bón đất, đục lỗ trên đất, bỏ hạt thóc xuống lỗ, chờ lúa mọc lên, người Thượng không sống lâu ở một chỗ. Tố Hữu phịa chuyện người Tù Thượng than “Có con bò thì Ông bắt mất tiêu..” “Ông” đây là Ông Cọp.

Nhiều đêm Nằm Phơi Rốn trong Lầu Bát Giác Chí Hòa, tôi nhớ câu Thơ tả thời gian trong tù của Tố Hữu:

Ðây con tầu im lặng vượt thời gian..

Không biết đó là ý Thơ của Tố Hữu hay Tố Hữu lấy ý Thơ ấy từ Thơ của thi sĩ nào khác. Có ở tù mới thấm lời Thơ ấy, mới thấy lời tả thời gian trong tù như thế là đúng: Năm năm trời tôi sống trong một phòng tù, như tôi sống trong một con tầu trên biển thời gian, con tầu ấy không đi qua không gian mà đi qua thời gian.

Với tôi, Thơ Tố Hữu có nhiều điểm hay hơn Thơ Trần Dần, Thơ Lê Ðạt.

Advertisements

One Response

  1. nguoi Thuong thuong nuoi trau cho khong nuoi bo. Muc dich la de cung than linh chu khong dung vao cay bua, bat trau di cay la co toi voi than linh. O mien nui phia bac toi thay ho nuoi trau rat nhieu de keo cay to bi don nga va con dung thit trau de lam luong thuc trong mua dong khac nghiet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: