• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Ma đèo Mang Giang

Năm tôi bẩy, tám tuổi, khi tôi bắt đầu đọc được, hiểu được và nhớ được những truyện tôi đọc trên báo, một truyện ma làm tôi kinh sợ trong mấy năm và ảnh hưởng đến tinh thần tôi suốt cả một đời. Ðó là một truyện ngắn trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy. Truyện do một y sĩ kể lại: chàng y sĩ trẻ tuổi, chưa vợ, làm việc ở một nhà thương tỉnh lẻ, nấu cơm cho y sĩ là một anh Bếp có cái bướu trên lưng nên có cái tên là Bếp Bướu. Ban đêm, Bếp Bướu say rượu, đi loạng quạng ngoài đường, bị xe ô tô đụng chết, Bếp Bướu cũng không có vợ con. Y sĩ lo việc chôn cất Bếp Bướu trong nghĩa địa đằng sau nhà thương.

Ít ngày sau khi chôn Bếp Bướu, đêm đêm người y sĩ trẻ tuổi ngủ cứ thấy Bếp Bướu hiện về, tất nhiên là chỉ mập mờ ẩn hiện. Khi trở về Bếp Bướu dường như muốn nói gì đó mà không nói được, anh chỉ khóc. Chàng y sĩ thấy hình như hồn ma Bếp Bướu hiện về không có đầu! Chi tiết làm tôi sợ của truyện Bếp Bướu Mất Ðầu là chàng y sĩ tả hồn ma Bếp Bướu đến bên giường chàng, đưa hai bàn tay ra sờ mặt chàng qua tấm màn, hai bàn tay Bếp Bướu ghẻ mủ, chàng y sĩ ngửi thấy cả mùi tanh của mủ ghẻ!

Chàng y sĩ có mấy ông bạn đồng tuổi là công chức trong tỉnh, nghi mấy ông này làm một việc gì đó liên can đến Bếp Bướu, chàng hỏi mấy ông và được biết mấy ông đã lén chặt lấy đầu Bếp Bướu đem ngâm vôi, làm thành cái đầu lâu để các ông dùng trong những buổi cầu cơ. Thì ra xác Bếp Bướu bị mất đầu, hồn ma Bếp Bướu hiện về xin trả lại đầu. Y sĩ đòi mấy ông bạn trả đầu lâu của Bếp Bướu, chàng kể cho mấy ông bạn nghe chuyện hồn ma Bếp Bướu về đòi đầu làm mấy ông bạn sợ teo, chàng đem đầu lâu Bếp Bướu ra chôn trên mộ Bếp Bướu. Từ đó hồn ma Bếp Bướu không về nữa!

Như đã nói chi tiết bàn tay ghẻ mủ của Bếp Bướu sờ vào mặt chàng y sĩ qua lá màn làm tôi sợ ơi là sợ. Những năm bẩy, tám tuổi ấy tôi ngủ cùng một giường với ông bố tôi, tất nhiên tôi nằm trong, ông bố tôi nằm ngoài, giường bên kia là giường mẹ tôi với các em tôi; căn phòng nhỏ đầy người nhưng những tối thứ bẩy ông bố tôi đi đánh tổ tôm, nằm một mình trong giường tôi vẫn sợ rúm đít. Tôi nhắm mắt nhưng vẫn thấy hiện ra lá màn giường tôi phơ phất vì bị hai bàn tay Bếp Bướu chạm vào…

Năm tháng qua, khi tôi hai mươi nhăm, hai mươi bẩy tuổi, khi tôi đã được đọc nhiều truyện ma của tiểu thuyết Âu Mỹ, mỗi lần nhớ lại truyện Bếp Bướu ngày xưa tôi thấy truyện đó không phải là truyện Việt Nam mà là một truyện của Pháp, một ông văn sĩ Việt thời ấy – những năm 1940 – đã phóng tác truyện ngắn đó thành truyện Việt. Nhưng tôi cho chi tiết “hai bàn tay Bếp Bướu ghẻ mủ, có mùi tanh” là không đúng: anh nấu bếp của ông đốc-tờ trẻ tuổi không thể có hai bàn tay ghẻ mủ tanh tưởi đến như thế.

Nhưng mầm sợ ma đã được gieo trong tâm thức tôi từ truyện Bếp Buớu Cụt Ðầu. Dù không đọc truyện Bếp Bướu tôi vẫn sợ ma, nhưng truyện Bếp Bướu làm tôi sợ ma hơn. Có vợ con rồi tôi vẫn sợ ma. Và, như đa số người sợ ma thích nghe chuyện ma, tôi rất thích nghe chuyện ma. Những tối nằm tềnh tang ở trong tù tôi thường gạ mấy anh bạn tù biết chuyện ma nào không? Kể nghe chơi. Sợ ma mà được nghe chuyện ma ly kỳ rùng rợn, do chính người thấy ma kể, nghe kể chuyện ma có thật buổi tối ở trong tù, là một lạc thú của những kẻ sợ ma như tôi.

Làng quê tôi có cái quán ở đầu làng, bên đường cái quan, bên quán có cây đa gốc lớn, nhánh rễ tỏa ra một vùng, trên thân cây đa treo nhiều bình vôi cũ ban đêm trông trắng nhởn như những cái đầu lâu. Gia đình tôi không ở làng nhưng chúng tôi cũng nghe nói ở cây đa làng tôi có hai con ma — nữ ma, ma nữ — dân làng tôi gọi hai con ma đó là hai cô Kiều. Nghe nói một ông trong họ tôi làm nghề phù thủy đã triệu hai em ma ấy về ở cây đa làng tôi, triệu về để hai em phá phách trong làng, làm ngớ ngẩn người nọ, người kia, người làng bị ma phá thối — đêm nhà bị ném đất bịch bộp, nồi cơm trong bếp mở ra thấy đầy đất, con gái đi vẩn vơ không về nhà ..vv..– phải đến nhờ thầy phù thủy giải hộ, tức biện một mâm lễ vật đem đến nhà thầy, nhờ thầy dâng hai cô để hai cô tha cho, hai cô đừng phá thối.

Ðầu năm 1946 đã một lần dân chúng ở những thành phố Bắc Kỳ phải tản cư, tức phải ra khỏi thành phố về sống ỡ làng quê. Ðó là lúc quân đội Tầu, sang Việt Nam giải giới quân đội Nhật, đã làm xong nhiệm vụ, rút về Tầu, quân đội Pháp sắp trở lại Bắc Kỳ. Nhưng lần ấy chiến tranh Việt Pháp trên toàn quốc đã không xẩy ra, Việt Minh để cho quân đội Pháp trở lại Bắc Kỳ. Lần ấy gia đình tôi tạm rời Hà Ðông để về làng quê chúng tôi, làng Linh Qui, một làng nằm giữa Ðường Số 5 và Ðê Sông Ðuống. Vì chiến tranh không xẩy ra nên chúng tôi chỉ sống ở làng chừng hai, ba tháng là trở về Hà Ðông tiếp tục sống cho đến tháng 12 năm ấy – năm 1946 — chiến tranh Việt Pháp nổ ra trên đất Bắc.

Nhà tôi ở làng: nhà ngói năm gian, làm theo kiểu xưa, một hàng cửa gỗ. Nếu bạn chưa bao giờ thấy những cánh cửa gỗ những nhà ở làng quê Bắc Kỳ ngày xưa tôi chịu không thể tả cho bạn hình dung được. Mẹ tôi và các em tôi ngủ trong gian đầu nhà, tôi nằm cạnh ông bố tôi trên cái phản ở gian thứ hai, gian giữa bầy bàn thờ và cái bàn tiếp khách. Ba gian giữa thông nhàu, không có vách ngăn từng gian. Hồi đó gần Tết hay mới ra giêng, đêm còn lạnh, tôi còn nghe tiếng những thân tre bị gió lay cọ vào nhau phát ra những tiếng ken két ngoài bờ tre vườn nhà. Về làng được mấy hôm thì nhà tôi xẩy ra chuyện.

Ðêm ấy, trời lạnh, nhà quê đi ngủ sớm. Cả nhà tôi đã đi nằm nhưng chưa ai ngủ, ngọn đèn dầu tây còn sáng ở trên cái bàn trong gian giữa. Ðèn này thắp suốt đêm. Nằm bên ông bố tôi tôi nghe rõ ràng có tiếng gõ cọc cọc lên cánh cửa gỗ ngay chỗ bố con tôi nằm. Ông bố tôi trở dậy, mở cửa nhìn ra, bên ngoài tối om, ông đóng cửa, trở vào nằm.

Lại có tiếng gõ cửa… cạch… cạch. .cạch..! Rõ ràng là tiếng gõ cửa nhưng bên ngoài không có ai cả. Ông bố tôi nghe tiếng gõ, tôi nghe tiếng gõ. Ba, bốn lần như thế. Rồi sau đó mỗi lần bị gõ cửa, ông bố tôi không ra mở cửa nữa, lúc ấy ông đã biết là ma đến gõ cửa nhưng ông không sợ, ông cũng không tỏ vẻ gì là bối rối, hoảng hốt; ma gõ cửa, ông vẫn nằm, ông cầm cây ba-toong chọc cọc cọc vào cánh cửa đáp lại. Trả lời câu hỏi của tôi, ông bố tôi chỉ nói không có gì, ngủ đi.

Trong lúc ma gõ cửa như thế, trong giường mẹ tôi bắt đầu nói lảm nhảm. Chuyện kỳ lạ là sợ ma có hạng như tôi mà lúc ấy tôi tỉnh queo, tôi không biết là nhà tôi bị ma đến phá, tôi không biết là ma nó gõ cửa nhà tôi. Việc ma đến nhà tôi không có gì khác ngoài mấy tiếng gõ cửa không làm ai sợ hãi, không có khí lạnh ghê rợn như những người gặp ma thường thấy, không có bóng người xõa tóc, thè lưỡi, chỉ có những tiếng gõ cánh cửa gỗ vô thưởng, vô phạt và việc bà mẹ tôi nói nho nhỏ những lời gì đó trong giường. Tôi ngủ thẳng một giấc đến sáng. Trong đêm ấy ma có làm những trò khỉ gì nữa trong nhà tôi hay không tôi không biết. Sáng ra, tôi nghe mẹ tôi nói mấy câu trách ông bố tôi đại khái: ông về đây ông cậy ông làm việc nhà nước, ông không thèm biết đến ai, ông không biết điều, đã để cho vợ con ông được yên ông không biết tôi tử tế với gia đình ông, ông lại còn chửi tôi…

Thì ra ngay khi gia đình tôi vừa về làng, các bà thím tôi đã nói mẹ tôi nên làm một lễ cúng gọi là lễ ra mắt hai cô Kiều ở cây đa đầu làng, xin hai cô cho được sống yên ổn. Nếu ông bố tôi không biết chuyện ấy chắc mẹ tôi cũng nghe lời mấy bà thím tôi mà làm cái lễ xin phép ấy, nhưng ông bố tôi biết, ông gạt phắt đi: Không có cúng lễ gì cả! Ông còn nói ma mãnh cái gì, cứ nói nhảm chứ ma mãnh ở đâu. Mà có ma đi nữa nó là cái gì mà phải xin phép nó?

Mẹ tôi bị ma làm, nằm bẹp trong giường, cửa đóng tối thui. Tội nghiệp mấy em gái tôi. Các em gái tôi còn bé, mới về quê được mấy ngày, chẳng đứa nào biết mẹ bị ma làm, cứ ngồi túm lại bên mẹ. Các bà thím tôi lại nói với ông bố tôi xin bác cho chúng em cúng. Ông bố tôi vẫn gạt đi, ông coi như bà mẹ tôi bị ốm, ông sai tôi đi mời ông lang thuốc.

Ông thầy phù thủy trong làng là ông chú tôi, ông lang thuốc trong làng là ông bác tôi. Ông bác lang thuốc của tôi nhiều ruộng hơn, nhà lớn hơn nhà ông chú phù thủy của tôi. Làng tôi nhỏ. Nhà hai ông ở gần nhau. Trên đường làng rẽ vào ngõ bên tay phải là vào nhà ông bác lang thuốc, rẽ vào ngõ bên tay trái là vào nhà ông chú phù thủy. Tôi được sai đi mời ông bác lang thuốc, tôi phây phây đi và tự nhiên tôi đi đến nhà ông chú phù thủy. Tôi thản nhiên làm việc đó. Tôi không biết rằng tôi làm như thế là bậy: tôi được sai đi mời ông bác, tôi lại phăng phăng đi mời ông chú.

Thấy tôi vaò sân ông chú tôi tỏ ra vui vẻ. Về sau nhớ lại tôi thấy là lúc ấy có vẻ như ông biết tôi sắp đến và ông đang chờ tôi đến. Tôi nói thưa chú, mẹ cháu làm sao ấy, thầy cháu bảo cháu đến mời chú… Ông chú tôi mặc áo, đội khăn đi ngay. Ông chú tôi đến nhà, ông bố tôi đành phải vui vẻ tiếp. Mấy bà thím tôi chờ sẵn lập tức bưng ngay mâm đồ cúng ra đặt trước cửa phòng mẹ tôi. Ông chú tôi đốt hương lẩm nhẩm khấn vái một hồi… Mẹ tôi không còn nói lảm nhảm nữa, bà tỉnh lại…

Sáu mươi năm sau năm 1947, chiều nay, một chiều cuối năm, trời Mỹ Quốc lạnh dưới 0 độ, sống nơi đất khách, nhớ lại và viết lại chuyện xưa, tôi nhớ rõ cảm giác thản nhiên của tôi buổi sáng hôm ấy tôi được ông bố tôi sai đi mời ông bác lang thuốc nhưng tôi tỉnh queo đi mời ông chú phù thủy. Khi làm việc ấy tôi tỉnh, tôi không mê. Nhưng tại sao một hồn ma, hồn mãnh nào đó lại có thể giữa ban ngày làm cho tôi phải làm theo ý nó? Nói ông chú phù thủy nghèo của tôi ở trong xó làng quê có khả năng vô hình bắt người khác phải làm theo ý ông lại càng không có lý, không thể tin được.

Ðầu năm 1946, Quân đội Pháp đổ bộ lên cảng Hải Phòng, gia đình tôi trở về Hà Ðông, để rồi cuối năm 1946 chúng tôi lại trở về làng quê. Lần thứ hai ấy chúng tôi sống ở làng quê đến bốn năm mới hồi cư về Hà Nội. Hai mươi mấy năm sau, những năm buồn ghê gớm 1976, 1977, trong căn nhà tối mẹ con tôi sống quanh quẩn bên nhau, có lần tôi nói với mẹ tôi:

— Ngày xưa tản cư về làng quê mấy năm, con còn trẻ con không biết buồn, bây giờ con buồn con mới biết những năm ấy ở làng quê mình chắc là mẹ buồn lắm.

Tôi hỏi mẹ tôi:

— Mẹ thấy năm ấy buồn với năm nay buồn cái buồn nào buồn hơn?

Mẹ tôi nói:

— Năm xưa cũng buồn nhưng chỉ là buồn thôi, năm nay buồn mà còn tuyệt vọng!

Tôi lại hỏi:

— Mẹ nhớ lần thứ nhất nhà mình về làng mẹ bị con ma ở cây đa nó làm. Tại sao lần thứ hai mình về không thấy gì lạ cả?

Mẹ tôi nói:

— Lần đầu về làng mẹ sợ nó lắm, chắc là vì sợ nó nên bị nó làm, lần thứ hai mình về mẹ không sợ nó nữa, lần thứ hai mẹ thấy mình bị bắt buộc phải về ở làng một thời gian lâu, không muốn cũng phải về, sợ cũng phải ở, nên mẹ không sợ nó nữa. Mình không sợ nó là nó không làm gì được mình.

***

hht_1971.jpg

Hoàng Hải Thủy, giữa thị trấn Pleiku năm 1971. Ảnh Kiều Giang.

Theo thông lệ mỗi năm đến Tết Nguyên Ðán làng báo Việt ở Sài Gòn ra số báo đặc biệt gọi là Số Xuân, Số Tết. Số báo Xuân, báo Tết năm con giáp nào bài vở thường viết về con giáp ấy. Như năm Mùi, là năm Dê, những bài đăng trong tờ báo Xuân phần nhiều có đề tài là Dê hoặc dính líu xa gần đến Dê.

Là một thợ viết, năm năm cứ đến ngày gần Tết, tôi lại bận rộn với việc viết những bài Xuân cho báo Xuân. Kể từ năm 1956 tôi trở thành thợ viết chuyên nghiệp đến nay – trừ 20 năm, từ năm 1975 đến năm 1994 tôi không được viết – năm nào Tết đến tôi cũng tìm những đề tài liên can đến con giáp năm ấy để viết bài Xuân, năm nay tôi phá lệ, năm nay tôi viết về mấy chuyện ma tôi nghe kể trong những ngày gần Tết ở quê hương ta ngày xưa..

Ðầu năm 1971 tôi đi chơi Pleiku, Kontum với một anh bạn. Anh bạn tôi đi phát một tập đặc san Tết do anh xuất bản. Ðặc san này chuyên về quảng cáo. Anh mang báo đi phát cho những thân chủ đăng quảng cáo và thu nốt số tiền thân chủ còn thiếu. Tôi theo anh đi chơi.

Pleiku.. Thị trấn quanh năm mùa đông.. Công Tử Bắc Kỳ dzi cư dzô Nam vẫn thèm cái lạnh của miền Bắc, đã Công Tử Bắc Kỳ thèm lạnh mà còn là Công Tử Bắc Kỳ hít tô phe thì không khí Ðalạt, Pleiku, Kontum, Ban Mê Thuột là thứ nhất Nam Kỳ, thứ nhì Ðông Dương. Với những đệ tử của Cô Ba Phù Dung trời lạnh mà nằm bên bàn thờ cô lung linh đèn đuốc, thơm ngát khói hương, là lạc thú cực kỳ. Ở Pleiku mấy buổi tối anh bạn tôi đưa tôi đến chơi ở bàn đọi của một người quen anh. Anh chủ bàn đọi trạc tuổi chúng tôi, anh khoảng bốn mươi, nguyên là trung sĩ, bị thương nên được giải ngũ. Chị vợ anh trẻ hơn anh vài tuổi, nhanh nhẹn, buôn bán, mở cửa hàng tạp hóa. Anh chị là dân Bắc Kỳ dzi cư.

Nhà anh chị ở trước cổng một căn cứ quân đội ngoài thị trấn Pleiku. Nhờ số binh sĩ ra ăn nhậu, mua bán, khu phố trước cổng căn cứ hoạt động tấp nập, trù phú như một phố quận. Chỗ đặt bàn tĩnh của anh chủ rất đặc biệt, có thể nói là độc đáo. Cả một đời đong thoóc của tôi, tôi từng nằm một vài bàn đọi ly kỳ, như bàn đọi đặt giữa bụi tre, ở khu gọi là Cây Da Sà, Phú Lâm. Hôm ấy có tin khu Cây Da Sà có thể bị đại bố ráp, ông chủ tiệm Tầu đặt bàn tĩnh trong bụi tre sau nhà để tiếp những ông khách đặc biệt từ Sài Gòn mất công vào chơi. Nhưng bàn tĩnh của anh chủ ở Pleiku là bàn tĩnh đặc biệt, ấm cúng nhất, thú vị nhất.

Ðể tránh hỏa tiễn pháo kích của Việt Cộng, anh chủ cho làm một cái hầm nổi ngay trong nhà: cả chục thùng phuy trong đổ đầy cát, trên đặt những tấm ván che, trên ván là những bao cát, dưới đất đặt ván, trên ván trải chiếu đặt bàn đọi. Ðó là một hầm nổi vững chắc, tin được. Khi có pháo kích cả nhà chui vào nấp trong đó. Trong hầm nổi có đèn điện. Buổi tối trời lạnh mà chui vào hầm nổi, nằm cạnh bàn đèn lung linh ánh đọi trong bầu pha lê, hít năm, bẩy khói tô phê, hãm nước trà nóng, phụ đề bằng ni-cô-tin Mỹ Lucky, Philip, ma túy tha thướt đi từ đỉnh đầu đến ngón chân, 111.667.893.457. 732 con tì, con vị trong lục phủ, ngũ tạng ôm nhau lả lướt đi những đường Tango mùi mẫn.. Còn gì khoái lạc cho bằng.

Anh chị chủ là dân Bắc Kỳ, khách hút của anh không đông, chỉ vài người, toàn là người đàng hoàng, và toàn là người Bắc dzi cư. Trong số có một ông Trung Tá. Ông là người Nùng, trạc năm muơi tuổi. Người ông, nước da ông, giọng nói, ngôn ngữ của ông, hoàn toàn là người Việt. Nếu ông không nói ông là người Nùng Hòa Bình không ai biết ông là người Nùng. Ðong đủ thóc rồi ông nằm chơi, ông kể chuyện năm 1946 khi quân Pháp trở lại Hòa Bình, quê hương ông, người Pháp đòi hỏi con cháu các ông quan lang phải ra cộng tác với người Pháp đánh Việt Minh, phải tự bảo vệ quyền lợi của mình, ông là con quan lang, ông phải làm đồn truởng một đồn ở làng ông, người Pháp cấp súng đạn cho ông giữ an ninh trong vùng. Nằm bên bàn đèn, ông kể:

— Tết năm ấy, cũng vào tháng này, vợ tôi về thăm bố mẹ bà ấy ở làng bên kia núi, làng tôi ở bên này núi.

Bên ấy Việt Minh đông lắm, làng vợ tôi người Pháp chưa lập được chính quyền. Vợ tôi về, Việt Minh bắt vợ tôi. Tôi cho người đi dò, khi biết chúng giam vợ tôi ở đầu, đêm đến tôi dẫn lính qua núi sang cứu vợ tôi. Có người đưa đường. Tôi dặn anh ta đưa tôi đến cách cái nhà bọn bộ đội Việt Minh ở hai trăm thước thì dừng lại. Khi anh ta ra hiệu cho tôi dừng, tôi nhìn lên thì tá hỏa vì thấy cái nhà bọn Việt Minh ở nằm ngay trước mặt tôi. Gần quá. Thì ra tôi nói với anh dẫn đường là hai trăm thước Tây, anh ta nghĩ là hai trăm thước ta, thành ra anh ta đưa tôi đến quá gần, chỉ cách độ 50 mét. Lúc ấy trời gần sáng. Có thằng Việt Minh đã dậy, ra đứng trên hiên nhà sàn đái xuống. Từ chỗ tôi nằm tôi nghe rõ tiếng nước đái nó rơi lộp bộp trên những tầu lá gồi bên dưới.

Rồi lan man ông Trung Tá nói đến chuyện ma ở quê hương ông ngày xưa. Ông nói dân tộc ông những năm ông còn nhỏ có tục người chết không đem đi chôn mà cho vào quan tài để ngay ở trong nhà. Lấy thân cây lớn khoét ruột làm áo quan, cho xác chết nằm trong đó, đóng nắp lại, để ngay trong nhà, trên hai cái kệ. Người chết hóa thành ma, những lúc nhà không có người, kể cả ban ngày, hồn ma khiêng cả cái áo quan đó đi kiếm ăn, khi gặp người là ngã tại chỗ. Nghi là thành ma người ta đánh dấu vôi trắng ở đầu áo quan. Hồn ma đi chán rồi đưa áo quan trở về chỗ đặt, nhưng thường là nằm lại không đúng đầu đuôi. Nhìn thấy dấu vôi không đúng đầu đặt là người nhà biết người nằm trong đó đã thành ma. Ông kể có hồn ma thành tinh, bắt giết người sống, phải nhờ thầy pháp trừ đi. Hồi nhỏ ông chứng kiến có lần ông thầy đến bắt ma, đọc chú, bắt ấn, nắp áo quan bật tung, xác người trong áo quan ngồi bật lên, nhe răng, trợn mắt. Phải có cái lưỡi cầy nung đỏ để sẵn trong lò than hồng ngay bên áo quan, nắp áo quan vừa bật mở, một anh trai tráng khỏe mạnh nhấc cái lưỡi cầy được nung đỏ ấy phóng ngay vào trong áo quan, lưỡi cầy cắm lên ngực xác chết, lửa cháy sèo sèo, khói bốc khét lẹt. Ông nói chính mắt ông nhìn thấy cảnh ấy hai lần. Về sau người Pháp thấy việc để áo quan trong nhà mất vệ sinh quá, nên cấm, dân tộc ông mới đem xác người chết đi chôn.

Ông Trung Tá đang kể chuyện ma ở Hòa Bình xứ ông thì chị chủ vào hầm nổi lấy ấm nước trà đi pha ấm trà khác. Mang ấm trà trở vào, chị ngồi chơi, uống nước và vui miệng chị góp chuyện:

— Các ông kể chuyện ma đấy à? Vừa mới tối hôm qua chị em tôi có trận cười nôn ruột vì chuyện ma. Bà bạn tôi làm y tá ở nhà thương, được cấp nhà ở trong khu gia cư của nhà thương, từ nhà đi ra cổng phải đi qua khu nhà xác. Nói là đi qua nhưng cũng cách khá xa. Có bà bạn ở Sài Gòn lên chơi, tối hôm qua chúng tôi đưa bà ấy ra phố ăn quà. Chị em tôi đi bộ. Lúc đi chúng tôi chỉ cho bà ấy biết đấy là nhà xác, lúc về về qua khu nhà xác, đã dặn nhau sẵn, chúng tôi kêu lên.. ma.. ma.. rồi chạy. Bà bạn chúng tôi chạy theo. Về đến nhà bà ấy đi ngay vào nhà tắm. Thì ra bà ấy sợ quá bà ấy đái ra quần…

Tôi nói:

— Mấy bà dọa bà ấy thế là nguy hiểm, sợ quá có thể bà ấy ngã ra, bà ấy đứng tim lắm ạ..

Chị chủ nói:

— Thấy ma thật mới sợ đứng tim, ông ơi. Bị dọa có ma không ai chết đâu. Tôi này, tôi đã hai lần thấy ma..
Ðêm cuối năm một năm cách nay đã ba mươi năm, ở ven thị trấn Pleiku, trong hầm nổi trước cổng một trại quân cách Tòa Thị Chính Pleiku chừng 10 cây số, bên bàn thờ Cô Ba, tôi nghe người thiếu phụ kể chuyện ma.

Ðây là lời chị kể:

— Năm 1960 nhà tôi mới giải ngũ, vào làm cho hãng thầu RMK làm đường ở Huế. Tôi mướn nhà cho mấy ông làm RMK ở trọ, nấu cơm cho mấy ổng. Tôi cần cái nhà khá lớn để có thể chứa được nhiều người. Có người chỉ, tôi mướn được cái vi-la đang bỏ không, có vườn, có lầu, nhà thật tốt, chứa được nhiều người. Nhà lúc đó có đến mười mấy ông bạn đồng sở RMK với nhà tôi ở, ăn cơm tôi nấu. Mấy ông đi làm sáng sớm, mang gà-mên bữa ăn tôi làm sẵn đi ăn bữa trưa, bữa tối ăn ở nhà. Buổi sáng lo phần ăn cho mấy ông đem đi xong, tôi đi chợ mua thức ăn, về nhà lo nấu ăn cho hơn mười người, bận gần như cả ngày, tôi chẳng để ý đến chuyện gì khác. Ðến ở vi-la được nửa tháng thấy yên ổn không có gì. Ðến buổi trưa hôm ấy, trời Huế lạnh, tôi đóng cửa nhà nằm ngủ trưa. Ðang mơ màng tôi lạnh toát người. Rõ ràng tôi thấy có ai đang đứng ở đầu giường tôi nằm. Tôi nghĩ là ma. Tôi muốn mở mắt ra xem có gì không nhưng lại sợ mở mắt nhìn thấy ma nó đứng đấy thì chết. Tôi cứ nằm chịu trận. Thế rồi tôi nghe thấy tiếng thở dài. Rõ ràng là ma nó thở dài ngay trên đầu tôi. Cũng đúng lúc ấy có tiếng xe Lam-bét-ta phành phạch chạy vào sân. May quá một ông khách ở nhà tôi bị đau nên về sớm. Nghe tiếng xe thế là tôi nhắm mắt tôi chạy ra sân…

Mấy ngày sau tôi hỏi chuyện mấy bà nhà chung quanh mới biết vi-la tôi mướn có ma. Vào những năm 50, 51 một cô lấy Tây mướn cái vi-la ấy. Cô lấy một ông Tây cai, đội gì đó. Cô có cậu em trai độ mười tám, hai mươi tuổi, ở cùng với cô. Cậu này còn đi học. Gặp khi ông Tây đi hành quân cả tuần không về, ở nhà cô me Tây đi đánh bạc liền mấy đêm không về nhà, ở nhà cậu em cô bị đau, nằm một mình, chết không ai biết. Khi cô me Tây về cậu em chết đã mấy ngày, xác đã cứng. Từ ấy hồn ma cậu em hiện ra trong nhà, không ai ở được..

Nghe chuyện tôi vừa chán vừa sợ. Mướn được cái vi-la tốt, đang có nhiều khách, bây giờ dọn đi đâu? Nhà ở được ở Huế năm ấy đâu có phải dễ muớn. Tôi mua vàng hương, rượu thịt, trái cây tôi cúng cậu em. Tôi cúng cậu ở nhà dưới, trên lầu, trong bếp, ngoài sân. Tôi thành tâm khấn cậu tôi từ xa theo chồng đến đây làm ăn, xin cậu thương cho, cậu đừng phá tôi, tội nghiệp, tại tôi không biết nên tôi đến ở đây mà không cúng cậu, nay tôi biết ngày rằm, mùng một tôi xin cúng cậu, chỉ xin cậu đừng phá chúng tôi…

Tôi khấn thế mà yên thật. Hồn ma cậu em không phá gì chúng tôi, trái lại còn giúp chúng tôi kiếm được tiền. Mấy ông nhân viên sở làm đường Mỹ xa nhà, không có vợ con ở bên, buổi tối, ngày nghỉ, không có gì chơi cứ họp nhau ở nhà tôi rút sì, binh sập sám. Cứ lúc mới gầy sòng là thiếu chân, nhà tôi bắt buộc phải ngồi chơi, cứ nhà tôi được độ vài ba ngàn, có hôm năm, bẩy ngàn, là có khách tới, nhà tôi bắt buộc phải nhường chân cho khách. Cứ thế cho đến một đêm thứ bẩy, canh bạc thường kéo dài đến hai, ba giờ khuya, có đêm suốt sáng. Tôi thức nấu cháo, pha cà phê, lo nước trà cho mấy ông. Vào lúc nửa đêm, mấy ông đánh bạc và mấy ông chầu rìa nói đến chuyện vi-la có ma, một ông nói:

— Ma quỉ gì! Láo cả. Thằng này là không có sợ ma. Việc gì mình phải sợ nó. Mình là người, nó là ma, mình sống thế giới của mình, nó sống thế giới của nó. Mình không làm hại gì nó, tại sao nó lại làm hại mình? Vô lý. Nó chơi mình, mình cùi mình không biết chơi lại nó sao..?

Câu chuyện qua đi. Một lúc sau mọi người quên chuyện ma chuyện quỷ, tất cả đều chú ý vào quân baì, lá bạc, chẳng ai để ý đến việc ông bạn tuyên bố không sợ ma rời bàn đi tiểu. Vi-la nhưng xây từ trước năm 1940, cầu tiêu ở tít tận đằng sau nhà bếp, có cái lối đi nhỏ đi vào, cửa cầu tiêu có ngọn đèn lờ mờ. Bọn chúng tôi nghe tiếng ông bạn rú lên. Chạy ra cầu tiêu thì thấy ông ấy ngã nằm đó, mắt trợn trắng. Chúng tôi vực ông ấy vào nhà, đổ rượu, bôi dầu, giật tóc mai, xoa bóp, mãi ông ấy mới tỉnh. Ông ấy kể đang đái thì ông ấy thấy có ai đứng sau lưng, quay nhìn lại ông ấy thấy nó là một thanh niên bận đồ đen, tóc sõa, mắt trắng dã, mặt trắng toát, răng nhe ra, nó nhẩy tới ôm lấy ông, ông ấy sợ quá hét lên rồi ngã ra…

Rồi chị chủ nhà kể chuyện ma thứ hai:

— Năm 1957 tôi buôn bán đường Qui Nhơn-Pleiku, tôi mang hàng từ Qui Nhơn lên Pleiku, mang hàng từ Pleiku về Qui Nhơn. Năm ấy nước mình thanh bình, chưa có Việt Cộng, ô tô chạy đường Qui Nhơn-Pleiku lên xuống suốt đêm. Tôi đi đi, về về, ở Qui Nhơn vài ngày, ở Pleiku vài ngày, lấy hàng, giao hàng, trả tiền, thu tiền. Cuối năm ấy tôi bận lo hàng Tết túi bụi. Tối hôm ấy ở Qui nhơn tôi nóng ruột muốn về Pleiku ngay trong đêm để sáng mai thanh toán một số việc. Tôi rủ một bà bạn cũng buôn như tôi cùng về trong đêm. Chúng tôi mướn cái xe Pờ-Dzô của ông chủ xe quen vẫn chạy đường Qui Nhơn-Pleiku. Xe chạy đêm thời ấy là chuyện thường. Trong xe chỉ có hai chúng tôi ngồi băng sau. Vào lúc 10 giờ đêm đến chân đèo Mang Giang xe tắt máy. Ông chủ xe cho xe vào đậu trên bãi cỏ bên đường, mở nắp xe ra lui hui xem máy. Lúc ấy trời sáng trăng suông, lại có sương mờ mờ, đêm lạnh. Chúng tôi thấy từ trong bãi cỏ bên đường một người đàn bà quần áo trắng, đội cái nón lá trắng, chầm chậm đi ra. Người ấy đến đứng bên xe, nói với ông chủ xe:

— Ông chủ làm ơn cho tôi quá giang…

Ông chủ xe hất hàm về phía hai chúng tôi ngồi trong xe:

— Xe hai bà ấy mướn. Bà muốn đi thì hỏi các bà ấy.

Người đàn bà đến bên cửa xe, nói lời xin chúng tôi cho đi nhờ. Tôi nói xe còn chỗ, mời bà lên. Người đó vào ngồi băng trên, cạnh tài xế. Ông chủ xe mở máy, máy nổ, xe lại chạy. Trên xe bây giờ có thêm người đàn bà..

Lạ kỳ là không một ai trong ba chúng tôi trên xe hỏi người đó bà ở đâu mà giờ khuya này ra đường đón xe? Cũng không ai trong ba chúng tôi nhìn rõ mặt người đàn bà ấy. Từ lúc người ấy lên xe, chúng tôi thấy lạnh quá, cứ ngồi rúm lại. Thế rồi xe chạy qua đèo Mang Giang. Khi vừa lên đến đỉnh đèo xe lại chết máy. Mở lại máy mấy lần máy xe chỉ phát ra những tiếng lạch xạch, ông chủ xe bực tức chửi:

— Mẹ nó! Cái ma, cái mãnh gì nó phá mình chứ xe mình chạy ngon lành, sao lại cứ chết máy hoài thế này..

Ông chủ xe mở cửa xe ra ngoài, người đàn bà ra theo. Ngồi trong xe chúng tôi thấy nó, con ma, con yêu tinh, đứng một bên xe, ông chủ xe đứng bên xe bên kia, chúng tôi nghe rõ tiếng nó nói:

— Ðến đây là tới chỗ tôi xuống, tôi cám ơn…

manggiang.jpgNói xong nó thè lưỡi ra, lưỡi nó dài như cái đòn gánh, xanh xanh, đỏ đỏ, như có lửa, lưỡi nó thè qua ca-pô xe, chọc vào mặt ông chủ xe, ông này tối tăm mắt mũi, quýnh quáng chui vào xe, mở máy. Máy xe nổ. Thế là ông ấy chạy xe bất kể sống chết. Ðêm ấy có xe chạy ngược chiều là chúng tôi chết rồi. Về đến Pleiku chúng tôi run lập cập, vào nhà ai hỏi có chuyện gì chúng tôi không nói được, chỉ ú ớ nói lạnh quá, đốt lửa cho sưởi. Chúng tôi ngồi sưởi đến cả tiếng đồng hồ sau mới nói được…

***

Ðêm năm xưa ấy ở Pleiku tôi nghe kể chuyện ma đèo Mang Giang, một chuyện ma thật hấp dẫn, sáng hôm sau tôi ngồi xe chạy qua đèo Mang Giang để xuống Qui Nhơn. Tôi chỉ đi qua đèo Mang Giang có một lần trong đời — đi xuống đèo mà không đi lên đèo — chiều nay, một chiều đầu mùa đông, liêu lạc nơi xứ người, viết chuyện Ma Mang Giang tôi nghe kể trong một buổi tối gần Tết ba mươi năm xưa, tôi thấy thấp thoáng ẩn hiện hình ảnh con đường đèo Mang Giang ba mươi năm trước tôi đi qua. Năm 1972, quân Bắc Việt Cộng đánh vào Pleiku, dân hai tỉnh Pleiku, Kontum phải bỏ nhà, bỏ tỉnh chạy xuống đồng bằng tránh giặc. Năm ấy giặc tan, họ trở lại Pleiku, Kontum để rồi chưa đầy ba năm sau họ phải chạy một lần nữa…

Lần chạy giặc năm 1975 nhiều người trong bọn họ chết thảm bên đường…

Tôi không lần nào gặp lại anh chị chủ bàn đọi Pleiku, nhưng ba mươi tám năm qua rồi, hôm nay, tuổi đời tôi Bẩy Bó Lẻ Ba Que, tôi nhớ từng chi tiết hai chuyện ma chị chủ kể đêm đông xưa ở Pleiku, tôi nhớ từng chi tiết chuyện ma của ông Trung Tá Nùng Hòa Bình, tôi còn nghe văng vẳng giọng nói của từng người. Anh bạn xuất bản tờ đặc san của tôi đã qua đời, tôi không biết anh chị chủ, và ông Trung Tá, năm nay còn sống hay đã ra người thiên cổ.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: