• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Sài Gòn Có Gì Lạ Không Em?

Nhớ thương thì phải nhớ thương Paris, sông thì phải là sông Seine, sông Danube, sông Dương Tử, chia ly thì phải ở bến Tầm Dương – Canh khuya đưa khách, lời gieo ngọc. Mơ gái Tầm Dương thoảng áo xiêm.. — ở ga Lyons đèn vàng, chia ly ở bến đò Thủ Thiêm, ở ga Nancy coi bộ không thơ mộng, không có chất Thơ, không phải là Thơ! – Nancy này không phải là Nancy ở bên Tây mà là Nancy ở Sài Gòn. Em nhớ không em? Năm chúng ta hai mươi tuổi, Sài Gòn-Chơ Lớn có đường xe điện, có ga Nancy ở ngã tư Trần Hưng Ðạo-Cộng Hòa; đường Trần Hưng Ðạo thời chúng ta hai mươi tuổi mang tên Tây Galliéni, đường Cộng Hòa năm xưa ấy là đường Nancy – Ga Nancy tối mò.. Ðưa Em vào Chợ lớn.. Ðể Em lên xe đò… Về quê mẹ Mỹ Tho… Nghe không cử động chút nào. Thời gian ấy, cách nay đã ba mươi, bốn mươi năm, ca sĩ Sài Gòn hát “Sống trong lòng người đẹp Tô Châu.. Hay là chết bên dòng sông Danube..”, Vũ Hoàng Chương nằm mơ thấy đàn bà, nhưng đàn bà trong mơ, trong Thơ ấy phải là đàn bà Tầu: “Em nghìn thu cũ gái Giang Nam..”

Tô Châu lớp lớp phù kiều. Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam.. Thơ Hồ Dzếnh. Tôi vừa không ưa vừa thương hại Hồ Dzếnh. Ông này là Tầu lai. Có lẽ vì là Tầu lai sinh sống ở nước ngoài không được hưởng những hạnh phúc do Mao Chủ Tịt đem lại cho nhân dân Tầu nên ông có cảm tình với cộng sản Tầu, từ cảm tình với Tầu Cộng ông đi đến chỗ khoái Việt Cộng. Những năm 1952, 1953 Hồ Dzếnh ở Sài Gòn, làm nhân viên tòa soạn nhật báo Thần Chung; cuối năm 1954, sau Hiệp Ðịnh Geneve, ông bỏ Sài Gòn về Hà nội. Ðầu năm 1955, khi phe quốc gia – đúng hơn là phe Pháp – hãy còn ở Hải phòng – người Hải phòng lên Hà nội đi về không cần giấy phép, ngược lại người Hà nội xuống Hải phòng cũng vậy; từ Sàigòn tôi bay ra Hải phòng rồi về Hà nội xem cảnh Hà nội sau khi Việt Minh tiếp thu. Buổi sáng tôi đến hiệu sách Bình Minh ở phố Huế tìm ông Hồ Dzếnh để đưa cho ông mấy bức thư vài người quen ông ở Sài Gòn nhờ tôi chuyển. Tôi gập ông ở cửa hiệu sách, ông nói tôi đến chậm năm phút là không gặp ông, giờ này ông lên đường đi tham quan đường xe lửa Hà Nội-Ải Nam Quan.

Hơn hai mươi năm sau một đêm mưa ở Sài Gòn tôi nghe nói đến ông Hồ Dzếnh. Cháu tôi là giáo viên ở Hà nội, vào Sài Gòn dậy học, đến thăm tôi, nó kể:

— Cháu có tên bạn trong Hội Nhà Văn. Một tối cháu với nó đang ngồi nói chuyện trong nhà nó, có ông già tóc bạc đến. Nó ra tiếp. Ông già đưa cho nó tập giấy, nó lấy tiền đưa ông già. Trở vào nó hỏi cháu: “Biết ai đấy không? Hồ Dzếnh. Lính viết thuê của tao đấy..”

Hồ Dzếnh, Lính Viết Thuê! Có nhiều anh nhà báo miền Bắc mỗi tháng phải, và chỉ phải, viết theo chỉ tiêu một số bài, nộp bài cho thủ trưởng, bài có được đăng hay không không cần biết, những anh này ăn lương tháng; nhiều anh có tiền nhờ làm những việc khác nên không viết mà mua bài của người khác làm bài của mình. Hồ Dzếnh là một trong những người viết bài mướn kiếm tiền. Nghe chuyện tôi bùi ngùi thương hại ông. Từ năm 1954 đến ngày chết ở cái gọi là miền Bắc xã hội chủ nghĩa mạt rệp Hồ Dzếnh không sáng tác được gì cả, một câu thơ tình cũng không thấy có, ông không bị bọn Bắc Cộng cho đi tù là may. Ðúng hơn, bọn cộng sản Hà Nội coi khinh Hồ Dzếnh, chúng không thèm lý gì đến ông và ông cũng câm miệng không làm gì, không nói gì đều có thể bị bắt.

Không phải khi bánh xe lãng tử đến xứ người tôi mới bùi ngùi về chuyện Sài Gòn không được các ông thi sĩ, nhạc sĩ nhớ thương, quí mến trong tác phẩm của mấy ông. Nói rõ hơn, tôi buồn vì có ít nhạc sĩ, thi sĩ ta làm nhạc, làm thơ ca tụng, thương mến Sàigòn. Tôi đã có cảm giác bùi ngùi ấy từ những năm 1980 khi tôi đang sống trong lòng thành phố Sài Gòn quằn quại dưới bóng cờ công sản xâm lược. Trong một băng video những văn nghệ sĩ miền Bắc làm về chủ đề Hà nội của họ có đến 40 bản nhạc ca tụng Hà nội. Tội nghiệp. Sài Gòn của tôi có nhiều lắm là năm, bẩy bài, nổi nhất là bài “Sàigòn Ðẹp lắm, Sàigòn ơi..” của Y Vân.

Không ai nhớ thì mình nhớ vậy. Ít người thương, mình thương càng quí chứ sao.

Sài Gòn có gì lạ không Em?
Mai Anh về Anh có còn Em?
Anh về giữa sắc cờ pha máu,
Là máu quân thù hay máu Em?

Sài Gòn có gì lạ không Em?
Tháng Tư buồn thành phố mưa đêm.
Anh về giọt lệ vương trên má,
Là lệ trời hay lệ của Em?

Sài Gòn có gì lạ không Em?
Nước triều dâng tràn bến sông đêm.
Anh về nghe tiếng ca hờn tủi,
Là tiếng ma buồn hay tiếng Em?

Sài Gòn có gì lạ không Em?
Mùa hạ vàng thành phố trăng đêm.
Nhìn Anh về trước hiên nhà cũ,
Là mắt sao trời hay mắt Em?

Sài Gòn có gì lạ không Em?
Nghĩa trang buồn nấm mộ không tên.
Tình Em trọn kiếp thơm hương cốm,
Ấp ủ hồn Anh như lá sen.

Sài Gòn có gì lạ không Em?
Nếu mai về Anh chẳng còn Em?
Ngàn năm hai đứa mình xa cách,
Anh vẫn ngàn năm thương nhớ Em!

Tháng Mười 2000 trước tin Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton đến Hà nội tôi viết một bài về nỗi đau thương, tủi nhục của Vua Lê Chiêu Thống và những người Việt theo ông vua mất ngôi ấy chạy sang Tầu. Ở Yên Kinh có lần Vua Lê Chiêu Thống bị bọn lính Thanh bắt giam nên tôi viết “Vua Lê Chiêu Thống là ông Vua Việt duy nhất bị ngoại nhân bắt giam..” Bài viết gửi đi rồi đêm đến mở sách lịch sử ra đọc lại tôi thấy tôi viết sai. Có thể nói dân tộc ta có nhiều ông vua bị ngoại nhân bắt tù, bắt đi đầy nhất trong lịch sử nhân loại, ít nhất cũng là nhiều nhất trong các quốc gia vùng Ðông Nam Á Châu.

Lịch sử ta ghi hai ông vua thứ nhất, thứ nhì của ta bị quân Minh Tầu bắt sống, đưa sang Tầu, chết ở đất Tầu là cha con Vua Hồ Quí Ly, Hồ Hán Thương. Trên những trang sử vong quốc thê thảm đời nhà Trần, nhà Hồ tôi gặp lại các ông Ðặng Dung, Nguyễn Cảnh Chân. Hai ông này có tên trên đường phố Sài Gòn.

Chuyện tên hai ông Ðặng Dung, Nguyễn Cảnh Chân được đặt tên đường làm tôi nhớ đến chuyện năm 1956 – sau khi ông Ngô đình Diệm lên làm Tổng Thống – thành phố Sài Gòn đổi tên đường. Phải có một ủy ban chọn, đặt tên đường được lập ở Tòa Ðô Chính năm xưa ấy để làm công việc đó. Những vị trong ban này đã làm việc thật hay, những tên đường được chọn, được đặt thật đúng, gần như không thể chê trách gì được.

Trước 1956 tất cả những đường phố Sài Gòn đều mang tên Tây; tất cả – trừ một số rất ít ông như Yersin, Pasteur, Genibrel hay Miss Cawell.. — những ông Tây có tên được đặt tên đường ở Sài Gòn đều là những ông có tham dự vào việc quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn và Nam Kỳ lục tỉnh những năm 1860; đa số là tướng và sĩ quan cao cấp: 3 Hải Quân Thiếu Tướng De Lagrandière, Charner, Bonnard – đến đời tôi là những đường Gia Long, Lê Lợi, Nguyễn Huệ — một Tướng Bộ Binh: Général Lizé: đường Phan Thanh Giản, hai Cô-lô-nền: Colonel Boudonnet – Lê Lai – Colonel Grimaud – Phạm Ngũ Lão – hai ông linh mục Taberd, Pellerin, hai ông tu sĩ: Frère Louis – Võ Tánh – Frère Denis – Ngô Ðức Kế, một ông cố đạo Legrand de la Liraye, sau 1956 đường Lơ Găng Le Nhe là đường Trương Minh Giảng.. vv

Tôi thán phục sự làm việc của những ông trong ban chọn tên đường cho thành phố Sài Gòn năm 1956. Không biết những ông nào là thành viên của ban ấy? Những vị anh hùng của ta: Hai Bà Trưng, Ðinh Tiên Hoàng, Lê Ðại Hành, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Ðạo, Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ… được đặt tên cho những đường phố đẹp nhất, lớn nhất ở trung tâm thủ đô, tất cả những ông Vua nhà Nguyễn đều có tên đường, trừ ông Bảo Ðại.

Tôi chỉ không hiểu vì sao Sài Gòn lại có tên đường Hiền Vương – Mayer trước 1956, Võ thị Sáu sau 1975 – Hiền Vương là ông Nguyễn phúc Tần, một trong bẩy, tám ông chúa nhà Nguyễn ở Gia Ðịnh trước đời Vua Gia Long; tại sao riêng tên ông Nguyễn phúc Tần lại được đặt ở một con đường tương đối lớn như thế?

Sài Gòn có nhiều đường phố mang tên các vị danh tướng đời Trần: Trần Hưng Ðạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão. Nhà Trần có hai ông vua chết vì nước, một trong hai ông vua đó không được con cháu nhớ để đặt tên đường. Ðó là Vua Trần Duệ Tông.

Khi Hồ Quý Ly sắp cướp ngôi, nhà Trần có vua Trần Duệ Tông, cùng thời Chiêm Thành có vua Chế Bồng Nga. Thời ấy nước ta yếu, nước Chiêm mạnh, Chế Bồng Nga nhiều lần đưa quân Chiêm sang đánh phá nước ta, có lần quân Chiêm vào tận thành Thăng Long, quan quân ta chạy như chuột. Chế Bồng Thẹo năm 1975 là hậu duệ 12 đời của Chế Bồng Nga; có người nói Chế Bồng Thẹo là Chế Bồng Nga lộn kiếp, tái đầu thai để trả thù dân Việt Nam. Năm Ðinh Tị – 1377 – Vua Trần Duệ Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Chế Bồng Nga cho người trá hàng, sang báo tin Y đã bỏ thành Ðồ Bàn chạy trốn. Vua Trần Duệ Tông tin thật, tiến vào thành Ðồ Bàn. Chế Bồng Nga cho phục binh đổ ra đánh, Vua Duệ Tông chết tại trận. Trận ấy quân ta mười phần chết đến bẩy, tám. Trong suốt lịch sử ta tôi thấy chỉ có một Vua Trần Duệ Tông là chết cùng với quân sĩ trên chiến trường khi Vua thân chinh mang quân đi mở cõi.

Nhưng tên Vua Trần Duệ Tông đã không được đặt tên đường trong thủ đô Sài Gòn, tên ông Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần lại được chọn. Ðây là sự bất công tôi thấy khi tôi nhớ lại những tên đường phố Sài Gòn. Ông vua Nhà Trần thứ hai chết vì nước là Vua Trần Quí Khoách. Năm 1413 Vua bị Tướng Trương Phụ nhà Minh bắt sống cùng với các ông Ðặng Dung, Nguyễn Súy. Sử ta ghi cả ba ông đều tự sát. Ở khu Trần Quang Khải, Tân Ðịnh, ta có những đường Trần Quí Khoách, Ðặng Tất, Ðặng Dung nằm liền nhau.

Ðường Paul Blanchy đổi thành đường Hai Bà Trưng, chạy dài từ cầu Tân Ðịnh đến sông Sài Gòn; ông Thi Sách, nhờ có liên hệ gia đình với Hai Bà, được có tên trên con đường nhỏ ở khu Bệnh Viện Ðồn Ðất, tức Nhà Thương Grall, đường Charner thành đường Nguyễn Huệ, đường Bonnard thành đường Lê Lợi, tên ông Lê Lai có công liều mình cứu chúa thay thế tên Colonel Boudonnet, đường Norodom Sihanouk thành đường Thống Nhất, đường D’Espagne – bà con ta thường đọc là đường Ðét Banh – trở thành đường Lê Thánh Tôn, đường La Răng Nhe – Lagrandière, Thiếu tướng Hải Quân Pháp, — thành đường Gia Long, đường Lơ-răng Le Nhe – Legrand de la Lyrae-thành đường Trương Minh Giảng, đường Général Lízé thành đường Phan Thanh Giản.

Ðường Phan Thanh Giản là một đường lớn, chạy dài từ Ngã Bẩy đến cầu Thị Nghè. Trong số các vị quan nhà Nguyễn tên ông Phan Thanh Giản được dùng để đặt tên cho con đường lớn nhất. Ðêm buồn ở Rừng Phong, tôi đọc tiểu sử của ông.

Viết theo “Khoa Cử Việt Nam,” tác giả Ðỗ Bằng Ðoàn-Ðỗ Trọng Huề, Quyển 2, trang 96-106.

Tháng Giêng năm 1861, Tướng Pháp Charnier đem 3.500 lính Pháp và Y-pha-nho, chiếm Gia Ðịnh, rồi tiến quân đánh đồn Kỳ Hòa. Ngày 26-2-1861 đồn Kỳ Hòa thất thủ; Thống Ðốc Nam Kỳ Quân Vụ Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, Tán Lý Nguyễn Duy và Tán Tương Tôn Thất Trí tử trận. Lấy xong đồn Kỳ Hòa, địch thừa thắng kéo lên đánh hai tỉnh Biên Hòa, Ðịnh Tường. Chỉ trong mấy ngày ba tỉnh miền Ðông mất về tay người Pháp.

Tin bại trận báo về kinh, Vua Tự Ðức họp đại thần bàn định (…) Vua cử Thượng Thư Phan Thanh Giản làm Toàn quyền đại thần, Tham tri Lâm Duy Hiệp làm Phó, vào Gia Ðịnh nghị hòa. Vua căn dặn hai ông:

— Nam Kỳ không những là đất khai sơ của liệt thánh, lại còn là quê hương của Ðức Bà Từ Dụ. Các khanh chớ khinh xuất cắt đất cho người Pháp.

Cuộc nghị hòa đưa tới hòa ước năm Nhâm Tuất – 1862 – do Phan Thành Giản, Lâm Duy Hiệp ký với Bonard: Ta nhường cho Pháp ba tỉnh Gia Ðịnh, Biên Hòa, Ðịnh Tường, bồi thường binh phí cho Pháp 4 triệu quan, trả làm 10 năm.

Sĩ dân Nam Kỳ nhiều người nổi lên chống Pháp, đứng đầu là nhóm các ông Trương Công Ðịnh, Trương Công An, Võ Duy Dương, Thủ Khoa Huân vv, nhóm ông Trương dựng cờ Bình Tây Nguyên Soái, cờ thêu tám chữ: Triều đình khi dân, Phan, Lâm mãi quốc.

Năm 1863 Vua Tự Ðức cử Phan Thanh Giản làm Chánh Sứ, Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Ðàn làm Phó sứ, sang Pháp đệ quốc thư xin chuộc ba tỉnh Nam Kỳ. Ngày 4-7-1863 sứ bộ xuống tầu biển của Pháp ở Gia Ðịnh, ngày 10-9 tới Pháp, ngày 5-11 được gặp Pháp Hoàng. Chuyến đi sứ thất bại hoàn toàn. Năm 1864 chính phủ Pháp cho Ðại Tá Aubaret làm Toàn quyền sang Việt Nam. Triều đình thấy ông Phan Thanh Giản từng gặp Aubaret ở Pháp nên cử ông làm Toàn Quyền cùng hai ông Trần Tiến Thành, Phan Huy Vịnh vào Nam Kỳ thương thuyết với Aubaret để chuộc lại ba tỉnh. Ðang thương thuyết thì Tổng Ðốc Vĩnh Long Trương Văn Uyển cấp báo quân Pháp tiến đánh thành Vĩnh Long. Vua Tự Ðức phong ông Phan Thanh Giản làm Kinh Lươc Sứ, đại dinh đóng ở Vĩnh Long. Sáng sớm ngày 20-6-1867 Thiếu Tướng De Lagrandière đem một tầu chiến và 1.000 binh sĩ đến Vĩnh Long, cho Linh mục Legrand de la Lyrae vào thành hạ tối hậu thư bắt phải đầu hàng. Ông Phan đề nghị gặp Tướng Pháp điều đình. De Lagrandière mời ông và Án sát Vũ Duy Thanh lên tầu nói chuyện. Cuộc nói chuyện chẳng đi đến đâu nhưng khi hai ông Ðại sứ ta trở về thành, De Lagrandière cho lính võ trang ào ào đi theo, xông vào thành, chiếm luôn thành Vĩnh Long. Hai, ba ngày sau quân Pháp chiếm An Giang, Hà Tiên.

Quân Pháp chiếm Vĩnh Long, giam lỏng ông Phan trong một căn nhà nhỏ. Ông viết sớ tâu rõ việc mất thành, tự nhận mình bất lực, để sớ với mũ áo triều phục, cùng 23 đạo sắc phong, cho người đưa về kinh đô, rồi tuyệt thực. Ông tuyệt thực 17 ngày vẫn không chết, cuối cùng ông uống thuốc độc tự tử.

Vua Tự Ðức giận ông không làm tròn nhiệm vụ, lại cố ý chết để tránh tội, giáng chiếu kết ông tội trảm giam hậu, truy đoạt hết quan chức của ông, đục tên ông trong bia Tiến sĩ. Năm 1886 Vua Ðồng Khánh ban chiếu hủy tội và phục chức cho ông.

Hai con trai ông là Phan Thanh Tôn, Phan Thanh Liêm chỉ huy nghĩa quân chống Pháp ở Bến Tre, Vĩnh Long, Sađéc, Trà Vinh; cả hai ông cùng tử trận.

***

Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn,
Ðêm nảo, đêm nào tớ cũng buồn..

Thơ Tú Xương. Sàigòn có đường Tú Xương. Ông Tú sống ở trong nước mà đêm đêm ông còn buồn đến thế, không biết nếu ông sống lưu vong xa quê hương ông nửa vòng trái đất đêm đêm ông còn buồn đến đâu. Những đêm buồn ở Rừng Phong, người vong quốc đã buồn lại càng thêm buồn khi đọc những trang sử vong quốc của dân tộc mình. Nhiều đời ông cha tôi chịu cảnh mất nước, dân tộc tôi bị ba ngoại nhân thay phiên nhau đô hộ: Tầu, Tây, Nhật, trong khi dân tộc Cao Ly chỉ bị hai đời ngoại nhân đô hộ là Tầu và Nhật.

Trích “Khoa Cử Việt Nam,” Tập 2, trang 100:

Sứ bộ Việt Nam mặc triều phục, chắp tay ngang trán, cúi đầu xá ba xá, Pháp Hoàng và Hoàng Hậu cúi đầu đáp lễ. Chánh sứ Phan Thanh Giản dâng quốc thư, Pháp Hoàng đứng dậy tiếp nhận. Cuộc đàm phán bắt đầu: Bên sứ bộ ta thống thiết đòi hỏi công lý, bên người Pháp im lặng ngồi nghe. Cuối cùng Pháp Hoàng nói:

— La France est bienveillante pour toutes les nations et protéger des faibles, mais ceux qui l’entravent dans sa marche ont à craidre sa sévérité!

Ðại tá Aubaret thông dịch ra tiếng Việt:

— Nước Pháp từ ái với tất cả các dân tộc và sẵn sàng bảo vệ những kẻ yếu, nhưng những ai cản đường tiến thủ của nước Pháp sẽ được biết sự nghiêm khắc của nó!

Anh Vua Phú Lang Sa tuyên bố hung hăng con bọ xít nghe dễ ghét, anh đe dọa trừng phạt những ai dám ngăn cản việc đi chiếm thuộc địa của dân anh; một trăm năm sau lũ con cháu thực dân của anh bị phút a la poóc trên khắp thế giới!

Kể cũng lạ. Lần nào Ðại sứ Phan Thanh Giản đi gặp người Pháp để điều đình ông cũng làm mất đất. Lần thứ nhất Vua Tự Ðức sai ông vào Gia Ðịnh để đòi lại ba tỉnh Gia Ðịnh, Biên Hòa, Mỹ Tho, thay vì đòi đất ông lại ký hiệp ước xác nhận người Pháp được quyền làm chủ ba tỉnh. Vua Tự Ðức vẫn không ngán, Vua cử ông làm Ðại Sứ sang Pháp, chuyến đi ngoại giao đạt thành quả là con số Không to tổ bố. Cũng vẫn không ngán Vua lại cử ông làm Toàn Quyền vào giữ tỉnh Vĩnh Long. Tôi tưởng tượng thảm cảnh các quan ta mặt mũi xanh sám, ngẩn ngơ từ trên tầu chiến bằng sắt có súng thần công của Pháp đi xuống, lếch thếch, thất thểu đi bộ về thành, bọn lính Tây hung hãn mang súng đi hai bên như áp giải tù nhân, cảnh quan quân ta ngơ ngáo khi quân địch ngang xương ùa vào chiếm thành, bắt giam các quan ta. De Lagrandière chiếm thành Vĩnh Long không tốn một viên đạn, dễ hơn hắn ăn bí-tết.

Ông Phan Thanh Giản là Ðại sứ đi sang Âu châu thứ nhất của ta. Ðọc sử tôi thắc mắc muốn hỏi ông Ðại sứ: Tại sao trước khi đi Vua đã dặn ông không được cắt đất cho Pháp, ông cứ ký vào hiệp ước cắt đất? Ông không ký với nó thì đã sao? Tại sao ông phải ký? Tôi muốn nói với ông:

— Thưa ông.. Cái chết tuyệt thực tạ tội của ông làm chúng tôi thương ông, chúng tôi để tên ông trên con đường lớn của thủ đô chúng tôi, chúng tôi để tên Vua Tự Ðức trên con đường nhỏ chỉ bằng một phần mười con đường mang tên ông.

Chúng tôi vinh danh hai ông con ông chết vì nước, khu Dakao trong Sàigòn, thành phố thủ đô của chúng tôi – Xin lỗi, thủ đô của chúng ta — có hai đường Phan Tôn, Phan Liêm. Hai đường ấy ở cạnh đường mang tên ông. Không có nhiều nhà cha và con cùng có tên trên đường phố Sàigòn: tôi nhớ chỉ có các ông Nguyễn phi Khanh-Nguyễn Trãi, Ðặng Tất-Ðặng Dung, riêng họ Phan của ông có ba người: Phan Thanh Giản- Phan Tôn-Phan Liêm. Chúng tôi hèn yếu nên đã không giữ được thủ đô của chúng ta. Bọn xâm lược hiện bỏ tên ông, chúng thay tên ông bằng cái tên Ðiện Biên Phủ. Chúng tôi mơ một ngày chúng tôi sẽ đặt lại bảng đường mang tên ông trên con đường lớn ấy.

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
Ðến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương…

Mòn mỏi kiếp lưu đày, vất vưởng quê người, những đêm buồn chợt nghe từ đáy hồn thương tích, vẳng tiếng kèn truy điệu nuớc xưa, trái tim muốn vỡ vì trăm hận, ngàn đau nào sánh nổi, tấm lòng lưu lạc nhớ quê hương. Ơi người bạn đọc ở cuối chân trời, tôi thương nhớ Sài Gòn, tôi thả hồn tôi trở về những đường phố Sài Gòn xanh xưa – Sài Gòn.. nơi bạn và tôi đã trưởng thành, đã gặp Tình Yêu, đã sống, đã bỏ, đã phụ, Sài Gòn đã yêu thương chúng ta – nay chúng ta sống xa Sài Gòn, bạn có bao giờ thương nhớ Sài Gòn không?

Tôi kể chuyện Sàigòn bạn nghe nhé..!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: