• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Quê Mẹ Oan Khiên

ngobathanh.jpgTháng 10, 2007, Nhà Xuất bản Tiếng Quê Hương phát hành tác phẩm “VIỆT NAM Quê Mẹ Oan Khiên“, nguyên bản tiếng Pháp “Vietnam, qu’as tu fait de tes fils?” của Ký giả Pierre Darcourt, bản dịch tiếng Việt của Dịch giả Dương Hiếu Nghĩa.

Pierre Darcourt ra đời ở Sài Gòn, Việt Nam, năm 1926, ông đi học ở Sài Gòn và Hà Nội. Từ năm 1954 ông là ký giả-phóng viên ở chiến trường Việt Nam của nhiều tờ báo Pháp. Ông đi khỏi Sài Gòn lúc 12 giờ trưa Ngày 29 Tháng Tư, 1975.

Tôi xúc động khi đọc “Quê Mẹ Oan Khiên“. Sách ghi nhiều chuyện về đất nước tôi, đồng bào tôi mà tôi không biết. Tôi trích vài đoạn trong sách mời quí vị đọc.

Ngày Thứ Tư 9 Tháng Tư, 1975 ở Sài Gòn, ký giả Pierre Darcourt gặp Linh mục Trần Hữu Thanh, người Chống Tham Nhũng mạnh nhất thời đó.

Trích “Quê Mẹ Oan Khiên“:

– Thiệu phải ra đi. Nếu ông ta không chịu ra đi thì ông ta sẽ bị quân đội đảo chánh, hay sẽ bị một sĩ quan giết chết để trả thù cho những người đã chết vì ông ta. Thiệu là một tướng lãnh không có khả năng và là môt chánh trị gia tham nhũng. Ông ta không lãnh đạo một Chánh Phủ mà cầm đầu một “băng đảng”. Tất cả mọi người Việt đều ghét và khinh bỉ ông ta.

Ngưòi nói lên những lời buộc tội trên đây không phải là Quan tòa, cũng không phải là Dân biểu hay một ông Đại tá, mà là một Linh mục: Cha Trần hữu Thanh, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, Chủ tịch “Phong Trào Tranh Đấu Chống Tham Nhũng Để Cứu Nước và Vãn Hồi Hòa Bình”.

Năm nay ông 50 tuổi, dáng người gọn ghẽ, tóc bạc hoa râm, mặt vuông, có đôi mắt sáng ngời lanh lợi sau cặp kính tròn gọng sắt, cha Thanh mặc chiếc áo dòng đen, cũ, tiếp tôi trong một văn phòng nhỏ bên cạnh Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng, ông nói tiếp :

– Thiệu là một người bất nhân. Ông ta đã làm hư quân đội, hành chánh và tòa án. Các tướng lãnh phải bỏ tiền ra mua chức vụ chỉ huy của họ, các tỉnh trưởng, cảnh sát trưởng, các quan tòa cũng phải mua chức tước của họ bằng giá rất đắt. Dĩ nhiên sau đó họ phải tìm cách thu hồi lại số tiền mua chức vụ và họ phải ăn hối lộ.

Bà Thiệu là người công giáo tốt, về lễ bái cũng như về việc từ thiện. Nhưng bà ta không thể cưỡng lại được lòng ham muốn “quà cáp”, những vòng cẩm thạch, những hột xoàn mà người ta dâng cho bà để mưu cầu sự che chở của bà. Bà mua đất, mua nhà cửa, gian lận thuế. Ông chồng bà cứ để cho bà muốn làm gì thì làm. Chính vì muốn làm mất đi những thối tha đó của chế độ nầy mà tôi phải đứng ra chống ông Thiệu.

Tôi có sự ủng hộ của hàng trăm người công giáo và nhiều nghị sĩ, dân biểu. Đức Cha Bình của Tòa Giám Mục Sài Gòn ủng hộ việc làm của tôi. Nhiều sĩ quan, bác sĩ, luật sư đã viết thư cho tôi hay đã đến đây gặp tôi để ủng hộ tôi và khyến khích tôi tranh đấu.

Tôi nói:

– Hà Nội và Mặt Trận GPMN nói là Cha hành động theo sự xúi giục của người Mỹ. Những người thân ông Thiệu cũng có cùng một luận điệu đó và nói thêm rằng các linh mục ủng hộ Cha như các cha Nghi, cha Thanh Lãng đều là những người có khuynh hướng tiến bộ.

Cha Thanh nhảy lên:

– Tôi không có dính dáng một tý nào với người Mỹ, họ không bao giờ có một hành động nào để ép ông Thiệu phải ra đi, hay phải loại bỏ 3 tên đại bất lương ở quanh ông ta. Tôi nói cho ông nghe chính xác hơn. Lưu manh nhất Việt Nam là Tướng Đặng văn Quang, cố vấn của Tổng Thống Thiệu về tất cả mọi vấn đề liên quan đến an ninh. Ông Quang đã thiết lập các hệ thống buôn bán ma túy, buôn lậu, và nhờ đó có được một gia tài kếch xù. Ông Thiệu lúc nào cũng từ chối không muốn sa thải ông Quang. Nguyên do rất là giản dị, bởi vì ông Quang biết rõ những bộ xương được cất trong tủ trong nhà ông Thiệu. Còn 2 thành viên của đảng Mafia mà ông Thiệu cũng không bãi miễn được. Trước hết đó là Trung tướng Nguyễn văn Toàn cựu Tư Lệnh Quân Đoàn II, ông Tướng mà ai cũng biết là tay buôn lậu hạng nặng. Ông Toàn làm giàu bằng những giấy phép khai thác cây rừng và những sòng bạc, và còn bị cáo buộc tội hãm hiếp nữa. Việc nầy mặc dù có một chiến dịch báo chí kể tội dữ dội nhưng không đi đến đâu hết. Ông Thiệu chỉ cho ông Toàn rời khỏi chức vụ một vài tháng thôi, rồi lại đưa ông ta về làm Tư Lệnh Vùng III Chiến Thuật. Sau cùng là Tướng Trang sĩ Tấn, Chỉ huy trưởng Cảnh sát Đô Thành. Ông này là một người ham tiền và tàn ác. Ông ta khai thác đĩ điếm và các sòng bạc lậu. Ngoài ra ông ta còn thành lập một đường dây xuất ngoại đưa con cái những người Tầu và những người Việt giàu có sang Thái Lan để trốn quân dịch. Một trong những người đại diện của ông ta ở Ba Lê (Pháp) lo tiếp nhận những người bỏ trốn nầy sang tỵ nạn ở thủ đô nước Pháp và cung cấp đầy đủ giấy tờ hợp pháp kề cả giấy phép cư trú, như vậy là ông ta ăn được 2 lần tiền, khách hàng của ông ta phải trả tiền lúc đi và lúc đến. Người đại diện Trang Sĩ Tấn là chủ một nhà hàng Việt Nam ở khu La Tinh, Paris, người này có một hệ thống “Gái gọi” dành tiếp các vị Tổng, Bộ trưởng Viêt Nam khi đi công vụ đến Paris. Và mặc cho tất cả những điều ô nhục đó, Tướng Trang sĩ Tấn vẫn tiếp tục được sự che chở của Tổng Thống Thiệu và bà Thiệu, đến độ họ đã tính chuyện gả con gái cho Tấn.

Tôi nhìn Cha Thanh. Chẳng những Cha đã tỏ ta thành thật mà còn tin chắc rằng ông được trao cho một “sứ mạng”. Ông Thiệu đã trở thành một biểu tượng của Người Xấu mà ông phải hạ bệ bằng mọi giá để cứu đất nước. Một khi sứ mạng cứu nước đã xong, thì ông Linh mục sẽ nghĩ thế nào về giải pháp tương lai cho quốc gia đây?

Tôi đặt thẳng câu hỏi với Cha:

– Giả dụ là ông Thiệu chịu ra đi hay bị đuổi đi, thì ai sẽ là người thay thế ông ta?

Cha trả lời:

– Bất cứ ai cũng được! Tất cả những gì chúng tôi mong muốn, đó là một người liêm khiết và ngay thẳng, có quyết tâm phục vụ đất nước .

– Tại sao người đó không phải là Cha?

Cha Thanh sững sờ, ông nhìn chòng chọc vào mặt tôi sau khi tôi vừa phát biểu một điều bị ông coi như bất lịch sự ghê gớm, rồi ông phát lên cười nắc nẻ.

– Dĩ nhiên là không phải tôi rồi. Tôi không phải là một chánh trị gia. Tôi dấn thân tranh đấu vì tôi yêu đất nước tôi, và để hợp với thiên chức của tôi, tôi chỉ tố cáo những việc làm không phải và những tật xấu của một chế độ mất giá trị. Nhưng tôi không có ý định cũng như tham vọng nào để giữ vai trò của một nguyên thủ quốc gia.

– Vậy thì ai đây ?

– Chúa sẽ giúp chúng ta tìm người cần phải có.

– Nhưng nếu cộng sản không chịu nhận người đó thì sao?

– Cộng sản có thể chiếm đất nước nầy bằng vũ khí, họ đang làm việc đó. Nhưng họ không thể áp đặt một chế độ không hợp với 20 triệu dân Miền Nam Việt Nam .

– Nhưng nếu họ cứ thử làm thì sao ?

– Họ sẽ không thử đâu. Họ cũng thừa thông minh và thực tiễn để hiểu rằng chỉ có một cách duy nhất để tái lập hòa bình thật sự là phải thành lập một Chánh Phủ Đoàn Kết Quốc Gia, ở đó có đủ mọi xu hướng và phải có sự ủng hộ của toàn dân. Dù sao thì họ cũng đã từng và không bao giờ ngưng hứa như thế mà.

Cha Thanh giữ yên lặng một lúc, sau đó hình như bất chợt ông cảm nhận được một chuyện khó có thể xảy ra, nên ông nói thêm một cách thật cương quyết:

– Ông biết không, ít nhất tôi cũng là một người chống Cộng sản như tôi đã chống ông Thiệu.

Nếu những người của Hà Nội quyết định cộng sản hóa Miền Nam, dựa trên quân đội của họ và các chánh trị viên của họ, thì họ sẽ thất bại. Dân chúng sẽ chống lại và sẽ có một cuộc nội chiến không có hồi kết thúc.

Tôi – CTHĐ – viết với sự không dzè dzặt thường lệ: dường như sau Tháng Tư 1975 Linh mục Trần Hữu Thanh bị bọn Bắc Cộng nhốt tù trong Nhà Tù Chí Hòa. Tôi không biết Linh mục bị tù bao nhiêu năm. Tháng 10 , 2007, có tin Linh mục từ trần ở Sài Gòn.

Ký giả Pierre Darcourt gặp Thượng Nghị sĩ Trần Trung Dung. Đây là lời ông Darcourt kể ông Trần Trung Dung nói về Linh mục Trần Hữu Thanh và những người Sài Gòn tự nhận họ là Lực Lượng Thứ Ba:

– Tất cả những người ấy đều là những thằng điên và vô ý thức. Họ phải đầu hàng cộng sản hay là đi tù mà thôi. Còn đối với Cha Thanh thì ông sẽ có dịp may nếu ông còn có quyền giữ được tràng hạt của ông ta để cầu nguyện trong khám tối.

Ngày Thứ Hai 21 Tháng Tư, 1975, tác giả “VIETNAM, qu’as tu fait de tes fils?” gặp bà Ngô bá Thành. Tác giả kể :

Buổi trưa, tôi đến thăm bà Ngô bá Thành, một người đàn bà nhỏ con sống trong một biệt thự khiêm nhường ở trung tâm thủ đô, bên cạnh dãy nhà của những người Pháp nằm trong khu vực do Tòa Đại sứ Pháp bảo vệ theo những tấm bảng yết thị mới được dán ở ngoài cửa các nhà.

Là một mưu sĩ của “Lực lượng thứ ba”, bà Ngô bá Thành thường tiếp khách ở trong vườn nhà bà. Bà có ba chứng chỉ Tiến sĩ Luật học (Pháp, Hoa Kỳ, Bồ đào Nha), nói được nhiều ngoại ngữ; bà là Chủ tịch “Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống”; bà dự định bà sẽ ngồi giữa Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam và Chánh quyền Sài Gòn trong Hội Đồng Hòa Giải Quốc Gia được dự trù trong Hiệp Định Ba Lê. Là môt địch thủ hăng say của Tổng Thống Thiệu, điều làm cho bà phải 4 lần vào khám, bà Thành hiện bị quản thúc tại gia. Báo chí Mỹ trong những tháng gần đây từng lên tiếng ồn ào về vấn đề “giải phóng phụ nữ” của bà, đã cho biết là bà hiện đang bị canh phòng cẩn mật.. Thế nhưng con trai của bà, một người trẻ tuổi, cao lớn, tóc để dài, là lính đào ngũ mà vẫn sống trong nhà nhiều tháng nay mà không sợ gì cảnh sát hết. Là con gái của một nhân sĩ Miền Bắc, chồng bà là một bác sĩ thú y dễ tính và sống âm thầm, bà Thành là một người tranh đấu tiến bộ, quả quyết, ương ngạnh. Bà nói với tôi :

– Thiệu đã ở thế cùng rồi. Số phận của ông ta được tính từng giờ. Ông ta dựa vào người Mỹ và quân đội. Người Mỹ đã bỏ rơi ông ta, và quân đội thì đã tan rã rồi. Sĩ quan và binh sĩ đã chán ghét ông ta. Có lẽ ông không biết là các binh sĩ ưu tú – Biệt động quân và Thủy quân lục chiến – có nhiệm vụ bảo vệ nơi chôn nhau, cắt rún của ông Thiệu ở Phan Rang, đã dùng chất nổ phá tan mồ mả của gia đình ông ta rồi. Việc phá nát mộ phần cha mẹ ông bà của ông ta là một sự chối bỏ nghiêm khắc đối với Thiệu và tất cả những gì ông hiện đang nắm giữ. Ở Việt Nam , không có sỉ nhục lớn và nghiêm trọng nào như sự xúc phạm đến mồ mả. Đó vừa là một sự chửi rủa, vừa là một sự khinh bỉ và là một lời nguyền rủa nữa. Còn về ông Kissinger, thì mới chiều hôm qua đây, ông ta tuyên bố một câu ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa: “Hoa Kỳ chúng tôi ủng hộ một Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam, nhưng không ủng hộ đặc biệt một cá nhân nào cả.” Quá rõ rồi phải không? Hơn nữa, những ngày sau cùng nầy, đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin và Đại sứ Pháp Jean Marie Mérillon đều tấn công ông Thiệu để bắt ông ta phải rút lui, nhường chỗ cho một toán người khác có khả năng chận đứng được chiến cuộc “.

Ông Ngô bá Thành mời khách dùng trà trong những cốc đẹp màu xanh với cử chỉ chậm chạp giống như các bà, ông không nói một tiếng nào. Vợ ông mặt rạng rỡ, mắt sáng ngời, lại tiếp tục đánh tiếp với những luận điệu của bà:

– Ông Thiệu bao giờ cũng chỉ biết nghĩ đến tương lai qua một cuộc chống trả cực đoan và một chiến thắng quân sự. Sự tan rã của quân đội ngay tại chiến trường đã lên án là ông ta không chống đỡ nổi. Ông ta cứ khư khư tin rằng Hoa Kỳ không bao giờ bỏ rơi ông ta. Ông ta không để ý tới những chuyện thay đổi xảy ra ở bên Hoa Kỳ. Từ hai năm nay, dân chúng Hoa Kỳ đã gạch bỏ hai chữ Việt Nam rồi. Quốc Hội Mỹ đã từ chối không bỏ phiếu cho mọi viện trợ quân sự và họ đã gạt hẳn ra ngoài việc cho phép tái can thiệp bằng võ lực vào chiến tranh Việt Nam. Ông Ford là một Tổng Thống được chỉ định chớ không phải do dân bầu, nên không có đủ phương tiện để có thể giữ lời hứa của ông Nixon. Còn Kissinger hả? Ông ta là một con người quá thực tế nên đâu có dại gì khư khư bênh vực phe đã nắm chắc phần thua? “Quân đội Nhân dân Giải phóng” chỉ còn không đầy một tiếng đồng hồ nữa là tiến vào Sài Gòn. Và Hoa Thạnh Đốn cũng dư biết là vài trăm triệu mỹ kim, vài trăm chiến xa hay đại bác thêm nữa cũng đâu có cứu được nước Việt Nam của ông Thiệu? Nhiều lắm là nó chỉ có thể kéo dài giây phút hấp hối của một kẻ sắp chết mà thôi.. . .

Bà đưa ngón tay trỏ chỉ ngay tôi và nói với một giọng đổ lỗi :

– Các nhà báo nước Pháp của anh – ngoại trừ các phóng viên của tờ Le Monde – đều không biết làm công việc của họ. Phải đập ông Thiệu. Phải tố cáo những tội sát nhân của ông ta, tố cáo chế độ cảnh sát trị của ông ta. Các anh phải giúp chúng tôi mở cửa các nhà tù đang nhốt 200.000 tù nhân chánh trị. Và hơn thế nữa các anh không đặt nặng tầm quan trọng và một chỗ đứng cho “Lực lượng thứ ba” của chúng tôi. Lực lượng nầy có thực, các anh phải thấy rõ là nó có một vai trò chánh trị quan trọng trong đất nước chúng tôi, trong một tương lai rất gần đây thôi. Ngay như những người cộng sản, họ cũng nhìn nhận là họ phải biết đến chúng tôi .!.

Tôi nói:

– Thưa bà, các nhà báo Pháp chưa bao giờ tỏ ra quá mềm dịu đối với Tổng Thống Thiệu. Nhưng chúng tôi không có phận sự phải đề cao một phong trào chánh trị và cho phong trào nầy một tầm vóc hay một sự kết hợp mà nó không có. Về vấn đề tù chánh trị, thì con số 200.000 là con số được Hà Nội, và phe đối lập với ông Thiệu thổi phồng lên. Con số 200.000 nầy đã nhiều lần được báo chí Tây Phương nhắc đi, nhại lại nhưng không bao giờ được Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế cũng như các Hội Nhân Quyền Quốc Tế hay những hội tư nhân thuộc các tổ chức Tôn giáo hay không Tôn giáo xác nhận là đúng, dù là tất cả đều rất quan tâm đặc biệt đến vấn đề tù chính trị ở Việt Nam trong 2 năm gần đây. Theo thống kê thì nhân số trong tất cả các nhà tù của Miền Nam Việt Nam, kể cả các người bị nhốt tạm ở các nhằ giam xã ấp đến những tù nhân đang bị giam giữ ở các nhà lao lớn ở Sài Gòn, ở Côn Sơn, không quá con số 36.000 người . . . ”

Bà Ngô bá Thành nhảy dựng lên, giận dữ, tuôn ra một tràng:

– Thật là đê tiện, lố bịch. Sai! Sai bét!

Gương mặt bà thay đổi, nhăn nhó trông dễ sợ. Bà ho lên một tràng dài, ho rồi nấc lên từng cơn, rung động cả người.

Bằng một giọng đau khổ lẫn trách móc, ông chồng bà nói với tôi :

– Lẽ ra ông không nên nói những lời nghịch ý vợ tôi. Bà vợ tôi thường rất hào hứng khi nói về những vấn đề chánh trị nhưng không thể chịu nổi khi có ai nói những điều trái ngược với ý của bà. Bà ta giận hờn ngay, nhanh lắm, khó chịu lắm và cơn suyễn lại kéo đến và bà sẽ ngộp thở. Mỗi lần như vậy là tôi phải cho bà một liều thuốc kháng sinh. Bà vẫn biết đó là thuốc độc, nhưng đó là phương thuốc duy nhất.

Tôi ra về mà không hỏi được bà Ngô bá Thành một câu hỏi có ích lợi nào cả. Bà ta nằm co ro trong cái ghế bành lớn bằng mây. Trông bà có vẻ quá yếu đuối để có thể thực hiện việc thay thế các tướng lãnh đang đối diện trong trận chiến khốc liệt với quân cộng sản Bắc Việt, những đơn vị bộ đội đã từng sống cam khổ qua những trường huấn luyện rừng núi, nay đang sắp sửa tiến vào Sài Gòn. Và sau đó tôi bỗng nhớ lại cách đây 2 năm, khi bị gọi phải ra gặp vị Chánh Án ở Toà Án Tỉnh Gia Định, người đàn bà yếu đuối và bệnh hoạn nầy đã đứng rình trước cửa Tòa Án, bà dùng một cục đá lớn liệng vỡ kính trước xe của ông Chánh án Tòa Án Gia Định khi xe ông này đến nơi. Sau đó bà chạy tới mở cửa xe, lôi tuột ông Chánh án ra khỏi xe, kéo ông ta vào lề đường, dùng cây dù đánh ông ta một trận nhừ tử. Đánh bằng dù xong bà lại còn đá ông Tòa mấy đá vào cạnh sườn làm ông Tòa đo ván, nằm luôn.

Tôi – CTHĐ – không biết ông Darcourt nghe chuyện bà Ngô bá Thành “xuất chiêu loạn đả” ông Chánh Án Tòa Án Gia Định do ai kể. Đã đập vỡ kính xe hơi còn lôi Ông Tòa ra đánh, đá tơi bời hoa lá ngay trước cửa Tòa Án Gia Định, đường Chi Lăng?? Tôi cho chuyện đó không thể có. Bà Ngô bá Thành, hay bất cứ bà nào, kể cả Bà Chằn Lửa Ba Đầu Sáu Tay, không thể tác yêu, tác quái như thế ở giữa Thủ đô Sài Gòn trong những năm từ 1954 đến 1975. Tác giả Darcourt có thể kể chuyện bà Ngô bá Thiềng đánh “nốc ao” ông Tòa Gia Định nhưng chỉ kể cho dzui, ông phải viết đó là chuyện dzởm. Ông viết như thế người đọc có thể tin đó là chuyện thật. Tôi không được đọc bản tiếng Pháp “VIETNAM: Qu’as tu fait de tes fils?” nên không biết ông Darcourt diễn tả hình thể bà Ngô bá Thiềng như thế nào mà tiếng Việt là “người đàn bà nhỏ con.” Mèn ơi.. Người như bà Ngô bá Thiềng mà là “đàn bà nhỏ con” thì còn ai là đàn bà bự cồ nữa!

Bà Ngô bá Thành xuất hiện trên sân khấu chính trị Sài Gòn từ năm 1960. Thời gian ấy điện ảnh thế giới – nôm na là Xi-la-ma – có phong trào những đạo diễn trẻ làm phim theo cung cách mới, phong trào này được gọi là Nouvelle Vague: Đợt Sống Mới. Mấy anh ký giả Sài Gòn gọi là Đợt Sống Mái. Phong trào “Phụ nữ đòi quyền sống” do bà Ngô bá Thiềng khởi xướng được mấy anh gọi là “Phụ nữ đòi quyền sướng.”

Tôi không có ác cảm gì với bà Ngô bá Thiềng. Tôi chỉ khó chịu với bà vì trong năm năm bọn Công An Thành Hồ bắt tôi nằm phơi rốn trong Lầu Bát Giác Chí Hòa, có đến hai, ba lần bọn Cai Tù bắt tôi, cùng anh em tù trong 40 Phòng Giam Tập Thể của Nhà Tù Chí Hòa, phải dọn phòng gọn ghẽ, bận quần áo đàng hoàng, ngồi xếp hàng chờ Phái Đoàn Đại Bỉu Nhân Dzân đến thăm nhà tù. Trong số gọi là Đại bỉu có bà Ngô bá Thiềng.

Quanh năm nằm phơi rốn cũng mỏi lưng và chán ngắc, nhưng ở tù mà ở trần sà-lỏn nằm phơi rốn, hay ở trần sà-lỏn ngồi đánh cờ, vẫn đỡ khổ hơn là phải bận quần áo, ngồi tê mông đít mấy tiếng đồng hồ trên sàn xi-măng. Năm năm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hòa, không một lần tôi thấy bóng dzáng “liễu bồ, bồ tượng” của bà Ngô bá Thiềng, dù có tin bà dzô thăm Nhà Tù mấy lần. Sau 1975, bà Ngô bá Thiềng, bà Nguyễn Phước Đại, tên thứ hai là Nguyễn Phước Đọi, được Cộng Sản Hà Nội cho làm Dân Biểu Gật Quốc Hội Ù Lì Dzơ Dzáng Dzại Hình.

Bà Ngô bá Thiềng nói rất nhiều về tình trạng tù ngục trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa, như trong bài viết này ta thấy bà Ngô bá Thiềng tố cáo trong những năm 1970 chính phủ VNCH giam giữ đến 200.000 tù nhân chính trị, rất to mồm bà đòi hỏi chính phủ VNCH phải cải thiện chế độ lao tù, nhưng sau Tháng Tư 1975, toàn lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa bị bọn Cộng Ác Ôn làm cho trở thành một Nhà Tù Lớn, trong Nhà Tù Lớn ấy có 40 triệu người tù, Nhà Tranh Đấu Trâu Đánh Ngô bá Thiềng câm miệng hến.

Tác phẩm “Quê Mẹ Oan Khiên” có rất nhiều chuyện hay, bản dịch tiếng Việt của Dịch giả Dương Hiếu Nghĩa rất nhuyễn. Mời quí vị tìm đọc “Quê Mẹ Oan Khiên,” một tác phẩm viết về Chiến Tranh Việt Nam có giá trị.

Advertisements

7 Responses

  1. Cháu muốn tìm mua quyển sách này bác có thể giúp cháu mua ở đâu được không.

    After reading an article on BBC and an insert here about this book I really want to purchase it for my library. Please help me find it or send me an email if you have any connection about its availability. Thanks

    Tu Do

  2. Cháu ở VN, làm sao cháu có quyển sách này được ạ?

  3. Làm sao mua được sách này ở VN. Muốn nghe được tiếng nói chân thật, khách quan về VN.

  4. Các bạn có thể đặt mua sách này qua địa chỉ:

    Tủ sách Tiếng Quê Hương
    P.O. Box 4653
    Falls Church, VA 22044

    Sách giá 25 đô + 3 đô lệ phí bưu điện. Xin xem thêm tin tức ở link này: http://lichsuviet.cjb.net/view_article.asp?id=3005&cat=22

  5. toi co, nghe da`i radio-vncr tuong thuat cuon sch na`y bang audio, la`m sao toi co’ the^` co nguye^n bo^.””” AUDIO”””” nay de^ do.c chung voi cuon sach ma ` toi da~ mua.. cam-on david..

  6. VIỆT NAM QUÊ MẸ OAN KHIÊN

    Kính thưa Quý Vị và Quý Bạn. Nhân mùa Quốc Hận 2013.
    Những bí ẩn về Nguyên nhân dưa đến thảm trạng 30-4-1975?
    Vì sao Quân Lực/Việt Nam Cộng Hòa và Miền Nam Viet Nam bị bức tử ?
    Hậu duệ VNCH và Tuổi trẻ Việt Nam học Lịch sử để làm Lịch sử.

    Xin Trân trọng giới thiệu cùng Quý Vị và Quý Bạn 1 tài liệu Lịch sử Quý giá:

    Tác phẩm: VIET NAM , QU’AS TU FAIT DE TES FILS
    Tác giả: PIERRE DARCOURT

    Ðược chuyển ngữ sang Tiếng Việt bởi:
    Dịch giả: DƯƠNG HIẾU NGHĨA
    VIỆT NAM QUÊ MẸ OAN KHIÊN
    Nhà Xuất Bản : TIẾNG QUÊ HƯƠNG

    http://www.chinhnghiavietnamconghoa.org/wp/HoiKyButKy/VietNamQueMeOanKhienPierreDarcourt-DichGiaDuongHieuNghia/index.html

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: