• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Khôn nghề Cờ Bạc

LUÂN LÝ GIÁO KHOA THƯ. Lớp Đồng Ấu.

Cờ bạc.

Cờ bạc rất hại cho người ta. Ai đã ham mê cờ bạc thì không còn thiết làm lụng gì nữa và không biết lấy đồng tiền làm quí. Khi được thì ăn tiêu xa xỉ, khi thua thì vay công, mắc nợ. Thường có người chỉ vì cờ bạc mà vong gia, thất thổ đến nỗi phải đi ăn- mày, ăn-xin, ăn-trộm, ăn-cướp, làm nhiều điều xấu xa, phi pháp.

Khổ vì cờ bạc

Anh Tuyên coi việc giữ tiền cho một nhà công- nghệ. Anh là một người máu mê (ham mê) cờ bạc. Vợ con đã nhiều lần khuyên răn mà anh không nghe. Hễ có đồng nào là đánh thua hết, rồi thành ra mang công, mắc nợ mỗi ngày một nhiều lên. Đến hạn không trả được, sẵn tiền của chủ, anh lấy đem tiêu, không nghĩ đến sự nguy hiểm về sau.

Được ít lâu, việc phát giác ra, anh phải bắt. Lúc ngồi trong ngục tối, anh nghĩ đến thân phận mình và đến cái khổ nhục để cho vợ con, thì tự lấy làm hối hận lắm. Nhưng ăn năn thì sự đã rồi, hối hận cũng không làm gì được nữa.

Cách ngôn:

Cờ bạc là bác thằng bần
Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm.

Quí vị vừa đọc một bài viết về cái Hại của Cờ Bạc trong Sách Luân Lý Giáo Khoa Thư. Sách do Nha Học Chính Đông Pháp xuất bản, tác giả là các ông Trần Trọng Kim, Nguyễn văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận. Sách được dậy trong những trường tiểu học Việt Nam cho đến năm 1945. Nhiều Công Tử Bắc Kỳ năm nay tuổi đời Bẩy Bó từng đọc bài này những năm các ông mười tuổi.

Cờ bạc có hại cho người. Ai mê cờ bạc là dại. Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm xưa có câu:

Khôn nghề cờ bạc là khôn dại,
Dại chốn văn chương ấy dại khôn.

Nay lại mời quí vị đọc bản tin này:

Tuấn Lâm

Định cư tại Canada, lúc 21 tuổi, không biết tiếng Anh, không nghề chuyên môn, Tuấn làm nhiều việc từ cắt cỏ, thợ nhà máy nhựa, thợ thiếc. Khoảng thập niên 1990 Tuấn về sinh sống tại Barrie, Ontario. Để kiếm thêm thu nhập – như nhiều người Việt khác khi ở gần sòng bài, hàng đêm Tuấn làm thêm nghề tay trái: chia bài trong sòng bài. Nhưng chính tại sòng bài, những cây bài gọi là Bài Tây đã làm thay đổi cuộc sống của Tuấn. Anh trở thành tay Chơi Bài Poker nhà nghề, anh có lối đánh nhanh và liều, theo lời mô tả của tờ báo The Globe and Mail xuất bản tại Toronto.

– Năm đầu chơi Poker, tôi chẳng biết gì vì có bao giờ tôi chơi bài bạc đâu, thế nên tôi hầu như chỉ thua với thua.

Tuấn Lâm nói. Nhưng khi Poker được phổ biến trên Mạng Internet, Tuấn có cơ hội học tập và thu thập kinh nghiệm, anh chơi Poker giỏi đến nỗi chỉ trong vòng một năm anh có đủ tiền mua nhà ở Mississauga, một căn nhà tốt cho gia đình gồm vợ và hai con. Anh bỏ nghề làm mướn ăn tiền công để đi hẳn vào Nghề đánh Poker, hạng Nhà Nghề.

– Trò Poker là vậy, đôi khi thua sát, đôi khi cũng thắng bạo.

Tuấn Lâm tâm sự với ký giả báo Toronto Star. Có lần anh thua đến $150,000 đô chỉ trong một ván poker online khiến vợ anh, chị Kim, muốn chết đứng. Nhưng vào ngày 18 tháng Bảy vừa qua, chị gần chết đứng lần hai khi chồng chị về Nhì Giải Poker World Series với giải thưởng 4 triệu 84 ngàn đô Mỹ.

Cuộc tranh Giải Poker kéo dài một tuần lễ tại Las Vegas. Kinh Đô Đổ Bác của Hoa Kỳ, với giải nhất 8 triệu 250 ngàn đô về tay Jerry Wang, người Mỹ gốc Lào. Sau cuộc tranh tài, Tuấn Lâm nói:

– Tôi không cảm thấy bực bội. Tôi biết trước Jerry sẽ thắng. Dường như Thượng Đế phò hộ cho Jerry, và tôi nghĩ “Không thế nào đánh bại tay này được,” và khi quân bài cuối cùng lật trên bàn thì tôi rất mừng cho Jerry.

Với 4 triệu 840 ngàn đô la Mỹ trong tay, Tuấn Lâm nói anh sẽ dành số tiền ấy cho tương lai của hai con anh và làm công tác từ thiện.

Hết bản tin.

kyvuong.jpg
Cờ bạc có hại cho những người không biết đánh bạc, cờ bạc không gây hại một ly ông cụ nào cho những người biết đánh bạc. Không những không hại, cờ bạc là cơ hôi làm cho những người biết đánh bạc trở thành triệu phú USD mà không phải tốn sức lao động hay phải mất nhiều năm tháng. Vấn đề là ta chỉ nên đánh bạc nếu ta biết đánh bạc. Người Việt tị nạn công sản rất thường như Tuấn Lâm có nai lưng làm việc đổ mồ hội, sôi máu mắt cả đời chưa chắc đã có khoản tiền 100.000 đô Mỹ. Trong bức ảnh đăng kèm bài viết này, ta thấy Kỳ Vương Tuấn Lâm, sau khi thắng giải, phất cờ Ca-na-đa reo mừng. Kỳ Vương sống ở Toronto, nước Ca, Kỳ Vương là công dân Ca Quốc, chiếm được danh vọng quốc tế, Kỳ Vương biết ơn nước mới!

Thương tủi chừng bao cho nước Việt Nam Cộng Hòa. Lâu lắm mới có một con dân có tài góp mặt với những người tài của thế giới, nhưng người dân có tài này nay là công dân nước Ca, người tài phất cờ nước Ca chứ không phất cờ nước Việt Nam Cộng Hòa.

Vì vậy tôi phải ca tụng Võ sĩ Cung Le. Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt. Võ sĩ Cung Le là Võ sĩ Lê Cung, người Việt, cư ngụ tại thành phố San José, Cali. Lê Võ sĩ cũng US citizen chứ bộ, ông là người Mỹ gốc Việt, nói cách khác ông là người Vịệt mang quốc tịch Mỹ. Tôi không được đến võ trường xem ông đánh lần nào, chỉ thấy ông trên video. Khi thắng, Võ sĩ Cung Le khoác cờ Vàng Việt Nam Cộng Hòa, những thân hữu của ông phất cờ Vàng bên võ đài. Ấm lòng lắm chứ. Hoan hô Võ sĩ Cung Le.

Tuấn Lâm người Việt, Giải Nhì Poker ở Las Vegas, ôm 4 triệu 840 ngàn đô Mỹ, Jerry Wang, người Lào, Giải Nhất, ẵm 8 triệu 250 ngàn đô. Không biết tại sao hai ông công dân cũ của những nước Đông Dương Lào,Việt, có thời là Đông Pháp, hai quốc gia có nhiều người dân nổi tiếng cù-lần, nhiều đời bị ngoại nhân cưỡi cổ, chuyên làm bồi bếp, cu-li cho người nước ngoài, lại giỏi nghề Cờ Bạc đến như dzậy?

Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Giỏi nghề Cờ Bạc không có gì vinh nhưng có đô-la nhiều là tốt dzồi. Bạc triệu đô-la Mỹ đâu phải dễ kiếm. Vinh hay không vinh đâu thành vấn đề.

Với hai Nhà Vô Địch Cờ Bịch Jerry Wang, Tuấn Lâm, hai câu thơ của Trạng Trình trở thành:

Khôn nghề cờ bạc là khôn thật,
Dại chốn văn chương ấy dại ngu!

Sau Tháng Tư 1975, Thi bá Vũ Hoàng Chương làm nhiều thơ. Nếu khôn, hay nếu không dại, sống trong kìm kẹp của bọn Cộng Ác Ôn, Thi bá phải ngừng làm thơ, hay có làm thơ thì cất kỹ không cho ai biết. Vốn viết chữ đẹp, ông viết bằng bút làm bằng tre già, chấm mực Tầu, viết trên giấy bản, những nét chữ vút lên phơi phới đúng kiểu rồng bay, phượng múa. Ông làm thơ và ông viết những bài Thơ Cảm Tác lên những tờ giấy nhỏ, tặng cho những người đến thăm ông. Mời quí vị đọc một bài thơ Thi bá làm cuối năm 1975:

Chàng về trong mộng đêm đêm,
Trẻ như măng, thịt da mềm như tơ.
Xa nhau Nàng vẫn mong chờ
Vẫn mê trong mông giấc mơ liền cành.
Biết đâu chàng đã trở thành
Xương tàn một nấm vô danh bên trời.
Bờ sông, bãi cát bồi hồi
Đã khô rồi, đã trắng rồi, biết đâu!
Chữ Đồng tạc lấy cho sâu,
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương!
Là Nam, Bắc, là Âm Dương?
Lệ hay máu rỏ con đường nào đây?

Chỉ cần một bài thơ như thế thôi đã dư lý do, thừa tiêu chuẩn để bọn Cộng Ác Ôn bỏ tù Thi bá, và chúng đã đến căn gác nhỏ của ông bà Thi bá ở Quận Tư, Khánh Hội, rước Thi bá đi tù. Ông bị tù vì ông có tài làm thơ, vì ông giỏi, ông khôn về Thi Văn, nếu ông không giỏi làm thơ, ông đâu có bị tù.

Than ôi.. Sự đời:

Khôn nghề cờ bạc là khôn thật.
Dại chốn văn chương ấy dại ngu!

Mời quí vị đọc bài thứ hai tôi tìm được trên WEB. Bài này viêt về Phở:

Phở Nhà Tôi.

Thời gian gần đây, người qua lại trên Đường William ở thành phố San Jose, Ca-li, không thể không để ý đến một cái thùng vuông góc đặt trên bánh xe, làm bằng inox sáng loáng bên trên có mái che, với hai thùng tròn bốc hơi nghi ngút liên tục từ sáng sớm đến tối khuya. Mỗi khi bà chủ thùng mở nắp thùng thì mùi hồi, mùi thịt bò bay theo gió. Người đứng tận bên kia đường đôi khi cũng thấy thoang thoảng mùi phở bò. Bên trên thùng phở là một tủ kiếng treo mấy tảng thịt bò, mấy bó hành, chanh, ớt, và củ hành tây. Nhiều người Việt kêu lên:

– Ồ.. xe phở Việt Nam kìa!

Nguời Mễ, người Mỹ không hiểu tại sao bao nhiêu tiệm Noodle Soup, tức Phở, của nguời Việt, lại chỉ có mỗi tiệm này có cái xe phở lạ lùng như vậy bày ngay ở cửa tiệm.

– Hình ảnh quê hương Việt Nam đấy!

Chủ nhân tiệm phở Nhà Tôi, bà Bùi Thị Trường, giới thiệu xe phở của bà. Bà Trường nói;

– Phở Nhà Tôi là phở chính gốc Bắc kỳ, nhưng tôi vẫn cảm thấy tiệm Phở mà chỉ như thế là còn thiếu.. .. thiếu cái gì đó.

Cái “thiếu.. thiếu” đó là cái xe phở, mà khắp nơi ở Việt Nam mỗi tiệm bán phở, mì, hủ tíu, bánh mì thịt nguội hay bột chiên đều có một chiếc xe đặc biệt đặt ngay phía trước tiệm. Từ ý nghĩ đó đưa đến việc bà Trường, bà chủ tiệm Phở Nhà Tôi, đặt làm ở Sài Gòn một xe phở bằng nhôm, tháo rời từng bộ phận, gởi bằng đường tàu biển sang Mỹ, tức sang thành phố San Jose, California, U.S.A.

– Xe phở Nhà Tôi mang hình dáng Việt Nam nhưng có đủ tiêu chuẩn vệ sinh Mỹ, đã được Sở Y Tế County cho phép sử dụng. Bà Chủ Tiệm Phở Nhà Tôi nói.

Những tiệm Phở cổ điển, tiếng Phú-lang-sa là Phơ Cờ-lát-síc, theo truyền thống, thường đặt quầy phở ở ngay chỗ vào tiệm. Khách vào tiệm ngửi ngay được mùi phở. Ông, bà hãy nhớ lại hình ảnh quầy phở của những tiệm Phở 79 Võ Tánh, Phở Hà Nội cũng đường Võ Tánh, trước cửûa tòa soạn nhật báo Sóng Thần, Phở Minh Hẻm Casino, Phở Gà Hiền Vương, Phở Quyền Phú Nhuận, Phở Tầu Bay Lý Thái Tổ Sài Gòn. Mấy hàng Phở lớn, nổi tiếng một thời ở Sài Gòn kể tên trên đây, đều đặt quầy phở ngay cửa vào tiệm.

phonhatoi.jpg

Ở hải ngoại nhiều người viết về Phở, những bài viết toàn lời ca tụng Phở và thường đặt câu hỏi: tại sao gọi là Phở, Phở do người Tầu hay người Việt chế ra? Một thuyết được nhiều người nhắc đến là Phở do người Tầu sáng chế, gọi tên là Ngưu Nhục Phấn – “Phấn” Tầu thành “Phở” Việt.

Tôi, CTHĐ, với sự ngu dzốt của tôi, không tin thuyết Phở xuất từ Ngưu Ngục Phấn. Phở xuất hiện ở nước ta khoảng năm 1925, 1930. Trong những năm ấy Người Tầu, người Ta, rất ít ăn thịt bò, các vị ở nông thôn thường ăn và quen ăn thịt trâu. Các vị ở thành phố thường ăn thịt heo, thịt gà, thịt vịt. Bằng chứng: có ông thi đỗ Cống – không nhớ nguyên tên là Cống gì – về làng muốn mổ trâu ăn khao, tức là giết trâu làm cỗ mời cả làng đến ăn chung vui, nhưng gặp năm trâu bị nạn dịch, chết nhiều, triều đình có lệnh cấm dân giết trâu ăn thịt. Ông Cống làm đơn xim làm thịt trâu ăn khao nộp ở huyện đường.

Bà Huyện Thanh Quan phê vào đơn:

Người ta thì chẳng được đâu,
Ừ thì ông Cống làm trâu thì làm.

Ông Cống không xin phép làm bò nên Bà Huyện Thanh Quan không bị bối rối tìm vần làm thơ. Thời ấy chưa có kiểu Thơ Bút Tre nên Bà Huyện không thể hạ bút:

Người ta thì chẳng được cho,
Ừ thì ông Cống làm bo thì làm.

Hay:

Người ta thì chẳng có cho,
Ừ thì ông Cống làm bò thì lam.

Mới đây, lang thang, mầy mò trên Web, tôi vớ được bài viết về Phở của ông Nguyễn Dư ở Paris. Ông Nguyễn cho biết có tài liệu của người Pháp ghi “Phở là do cái tên tiếng Pháp Pot au feu mà ra.”

Có thể lắm. “Pô ô phơ” là nồi hầm thịt bò, xương bò. “Phơ” Tây sang tiếng Việt thành “Phở .” Có lý. Tin được.

Nhớ Phở, tôi có bài thơ:

Phở

Ta ở đây
Phở Bò ta cũng ở đây.
Chung tình như nước biển Đông đầy
Ta đi trăm núi, ngàn sông, bến,
Phở theo ta đến nước non nầy.
Tái, chín, gầu, nạm, vè, gân, sụn,
Gia vị; chanh, hành, tiêu, ớt cay.
Nhớ nước, một tô hừng chí cả,
Thương dzân, đôi bát rộn hồn bay.
Kiều còn, nước Việt Nam còn mãi.
Phở còn, người Việt vẫn còn hay!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: