• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

TRƯỜNG SA HÀNH

hq16.jpg
Tuần Dương Hạm LÝ THƯỜNG KIỆT, HQ 16, cùng ba chiến hạm
của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, đánh Tầu Cộng
trong trận hải chiến Hoàng Sa Tháng Ba năm 1974.

Tuyết đi rồi tuyết lại về,
Hà Đông Công Tử lề mề Rừng Phong.

Tuyết đi rồi tuyết lại về…. không cần có phụ đề Việt ngữ, “lề mề” là chậm chạp, luộm thuộm; đa số người già đều “lề mề”. Công Tử Hà Đông không thể cứ trẻ mãi không già, Bẩy Bó tuổi đời Công Tử không còn tinh anh nữa, Công Tử lề mề. Sáng mùa đông, nhìn màn tuyết phủ trắng Rừng Phong, nhớ những câu thơ xưa của Thi bá Vũ Hoàng Chương, những câu thơ Công Tử thuộc nằm lòng từ năm chàng hai mươi tuổi:

Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không?
Mà đây lòng giá một mùa đông,
Tương tư nối đuốc thâu canh đợi
Thoảng gió trà mi động mấy bông.

.. bèn đi một đường cảm khái, nối điêu họa vần mấy câu Thơ Kỳ Hoa Đất Trích thầm gửi anh hồn Thi bá;

Tuyết xuống Rừng Phong, lạnh lắm ông,
Lòng tôi băng giá mấy mùa đông
Nhớ thương không đuốc thâu canh đợi,
Chẳng có trà mi, chẳng có bông.

Cuối năm, chẳng có gì vui. Mở computer lang thang, mầy mò trên Web, bỗng thấy màn hình hiện lên hàng chữ TRƯỜNG SA HÀNH, Thơ Tuyển của TÔ THÙY YÊN. Nhớ chuyện người Việt trong nước và hải ngoại đang phẫn nộ phản đối việc bọn Tầu Cộng nhập hai hải đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam vào lãnh hải Tầu Quốc, đang chửi bố Bác Hồ và bọn con cháu Bác Hồ cắt đất dâng Tầu, câm mõm chó trước việc làm ngang ngược của bọn Tầu Cộng, bèn nghĩ:

– Ông Thi sĩ hay quá ta! Làm ngay được bài thơ về đảo Trường Sa!

Bèn đọc bài Thơ và mời quí vị cùng đọc:

TRƯỜNG SA HÀNH

Toujours il y eut cette clameur,
toujours il y eut cette fureur…
Saint John Perse

Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề.
Lính thú mươi người lạ sóng nước,
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi.

Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa.
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh lớn
Mà Hiu Quạnh lớn vẫn làm ngơ.

Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỷ.
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên.

Bốn trăm hải lý nhớ không tới.
Ta khóc cười như tự bạo hành,
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục,
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh.

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế.
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời.

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt,
Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi.
Đám cây bật gốc chờ tan xác,
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng,
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh.

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển.
Vầng khói chim đen thảng thốt quần,
Kinh động trời đất như cháy đảo.
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân.

Ta ngồi bên đống lửa man rợ,
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi,
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi.

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ,
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya,
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê.

Ta nói với từng tinh tú một,
Hằng đêm, tất cả chuyện trong lòng.
Bãi lân tinh thức, âm u sáng.
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng.

Đất liền, ta gọi, nghe ta không?
Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng.
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc.
Con chim động giấc gào cô đơn.

Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa.
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên.
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu dòn như tiếng nứt hoa niên.

Ôi lũ cây gầy ven bãi sụp,
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh,
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh.

San hô mọc tủa thêm cành nhánh.
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai.
Thời gian kết đá mốc u tịch,
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người.

Tháng 3-1974

linhtau.jpgMèn ơi..! Thơ chi mà hay rứa, hay lạ, hay lùng. Đọc đến cuối bài mới biết không phải Tô Thi sĩ làm bài thơ này năm nay, năm 2007. Thi sĩ làm bài Thơ này Tháng Ba năm 1974, tức là làm trước đây 37 năm. Tháng Ba năm 1974 Hải Quân Quốc Gia Vịệt Nam Cộng Hòa đánh một trận trên biển Đông với chiến thuyền Tầu Cộng, đánh để đuổi bọn TC ra khỏi hai đảo Trường Sa, Hoàng Sa. Trước trận hải chiến đó vài năm – những năm 1968, 1970, bọn Bắc Cộng chưa sài tiếng Thủ Tướng – anh Chủ Tịt Hội đồng Bộ Trưởng Phạm văn Đồng viết quốc thư công nhận là đúng bản đồ lãnh hải Tầu Quốc do bọn Tầu Cộng đưa ra, trong có hai đảo Trường Sa, Hoàng Sa. Gần 40 năm qua sau trận hải chiến, bọn Tầu Cộng có dư thời gian để xây dựng đủ thứ căn cứ, cơ sở của chúng trên hai hải đảo, chúng gian ngoan tạo ra những bằng chứng chứng minh hai hải đảo là của chúng kể từ ngàn xưa.

Bài Thơ “Trường Sa Hành” Tô Thùy Yên làm năm 1974 làm tôi nhớ bài Thơ “Những Cuộc Tình Budapest” Thanh Tâm Tuyền làm năm 1956, và tôi nghĩ: hai Thi sĩ cùng sống một thời với tôi ở Sài Gòn. Tuyệt quá, Thơ hai ông hay quá. Nửa thế kỳ trước, trong khi mọi người, trong số có tôi, thích thú những lời Thơ Paris có gì lạ không Em? Mai anh về anh có còn Em? Lên xe tiễn Em đi. Chưa bao giờ buồn thế!! Con quì lây Chúa trên trời. Sao cho con lấy được người con yêu. Có phải hồn vạn cổ.. Chất trong hồn chiều nay.. Hôm nay có phải là thu. Mây năm xưa đã viễn du trở về. Em vẫn Kiều Thu tròn tuổi ngọc. Trần ai nào lấm đươc thơ ngây, hai Thi sĩ Tô Tùy Yên, Thanh Tâm Tuyền làm những bài thơ rực Lửa. Năm mươi năm xưa, 1960, hoa niên, Thơ Tô Thùy Yên, Thơ Thanh Tâm Tuyền không làm tôi xúc động mấy, rằng hay thì thật là hay nhưng chắc ít người thích, nhưng năm nay, 2007, cuối đời, với tôi Thơ ấy tuyệt vời..

Mời quí vị đọc lại bài Thơ Thanh Tâm Tuyền làm về Cuộc Nổi Dậy Chống Cộng Sản của nhân dân Hung năm 1956:

Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest
Anh một trái tim em một trái tim
Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác
Hãy cho anh giận bằng ngực em
Như chúng bắn lửa thép vào
Môi son họng súng
Mỗi ngã tư mặt anh là hàng rào

Hãy cho anh la bằng cổ em
Trời mai bay rực rỡ
Chúng nó say giết người như gạch ngói
Như lòng chúng ta thèm khát tương lai
Hãy cho anh run bằng má em
Khi chúng đóng mọi đường biên giới
Lùa những ngón tay vào nhau
Thân thể anh chờ đợi
Hãy cho anh ngủ bằng trán em
Đau dấu đạn
Đêm không bao giờ không bao giờ đêm
Chúng tấn công hoài những buổi sáng
Hãy cho anh chết bằng da em
Trong dây xích chiến xa tội nghiệp
Anh sẽ sống bằng hơi thở em
Hỡi những người kế tiếp

Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest

Tháng 12-1956

Từ năm 2000 và càng ngày càng nặng, tôi thấy trên báo chương, văn đàn Việt Nam hải ngoại đầy rẫy những thơ văn của những người viết Bắc Cộng, chỉ thấy nhai đi, nhắc lại những chuyện về những nhân vật Bắc Cộng, thường là ca tụng: Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự, Dương Thu Hương, Trần mạnh Hảo, và mới đây “Nhà Thơ Lớn Xã Hội Chủ Nghĩa” Dương Tường. “Nhà thơ lớn” này được tôn là “học giả“.

Mời quí vị ghé mắt đọc một đoạn thơ của Nhà Thơ Lớn Học Giả Dương Tường:

Em đi
môi mọng
đùi mọng
vú ấm
tim trống
đầu trống
Em đi – nhớt đêm
Em đi – mưa xiên
Em đi – trời nghiêng
Em – đời bỏ quên…

Và đây là thơ của Nhà Thơ Lớn Trần Dần, người được gọi là “Kiện tướng Nhân Văn Giai Phẩm“:

jờ joạcx
joạc jờ jêrô… vòng tròn
thằng truồng bị vây trong vòng tròn.
tôi không hiểu tôi bò 2 chân trên sẹo joạc jờ nào?
sao cứ thun thút những sẹo mưa jọc jài ỗng ễnh bầu mưa?
chứ tôi đâu phải thằng quíc-ss? mà tôi vẫn bị ngửa thì jờ ướt mưa jòng mùa jọc nịt joạc

Bỏ qua những bài thơ, đúng ra là những bãi thơ khó ngửi của những Thi sĩ Xã Hội Chủ Nghĩa làm thơ sau năm 1954, mời quí vị đọc một đoạn thơ của Huy Cận, Nhà Thơ Tiền Chiến nổi danh, làm ở Hà Nội năm 1962:

Sớm mai gà gáy
Tiếng gà gáy ơi! Gà gáy ơi!
Nghe sao ấm áp tựa nghe đời
Tuổi thơ gà gáy ran đầu bếp
Trâu dậy trong ràn, em cựa nôi
Cha dậy đi cày trau kịp vụ
Hút vang điếu thuốc khói mù bay
Nhút cà, cơm ủ trong bồ trấu
Chút cá kho tương mẹ vội bày
Gà gáy nhà ta, gáy láng giềng
Ta nghe thuộc mỗi tiếng gà quen
– Cha ơi con chửa nghe gà chú!
– Nó cũng như mày hay ngủ quên.
Hàng cau mở ngọn đón ngày vào
Xóm nhỏ nép bên triền núi cao
Gà lại gáy dồn thêm đợt nữa
Nắng lên xoè quạt đỏ như mào.
Gà gáy ơi! Tiếng gà gáy ơi!
Nghe sao rạo rực buổi mai đời!
Thương cha lủi thủi không còn nữa
Chẳng sống bây giờ thôn xóm vui.

Tôi chỉ kể hai bài thơ của hai Thi sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, bài “Trường Sa Hành” của Tô Thùy Yên, bài “Những Cuộc Tình Budapest” của Thanh Tâm Tuyền. Chỉ hai bài đó thôi chắc quí vị cũng thấy Thơ của Thi sĩ nước tôi hơn xa thơ của bọn Bắc Cộng.

Trong lúc nhân dân Hung nổi dậy đập phá gông cùm cộng sản, bọn Hung Cộng bó tay, bó gối, bọn Nga Cộng cho xe tăng vào Budapest bắn giết dân Hung, đây là việc bọn gọi là văn nghệ sĩ “ô nhục” ở Hà Nội làm:

NHÀ VĂN qua hồi ức người thân. Trịnh thị Uyên, vợ Nguyễn huy Tưởng, viết về chồng. Trích:

Lóe sáng lên duy nhất trên cái nền ảm đạm mà tôi nhớ về nhà tôi những ngày này, là cái ngày chủ nhật mùng 4 tháng 11 năm 1956 đáng ghi nhớ ấy, khi đang đêm anh Nguyễn Tuân xộc đến báo tin mừng cho nhà tôi về tình hình Hungary đã trở lại ổn định: rồi các anh ấy hớn hở rủ nhau đi truyền tin vui cho các anh em khác.

“Tin mừng về tình hình Hungary đã được ổn định” của bọn văn nô Hà Nội là tin bọn Nga Xô cho xe tăng vượt biên giới vào thủ đô Budapest bắn giết dân Hung. Không chỉ vui mừng về chuyện ấy, bọn văn nô còn hí hởn kéo nhau đi “truyền tin vui” cho đồng bọn.

Quí vị nghĩ sao về bọn văn nô ấy, tôi.. phi-ní lô đia, tôi hết nước nói về chúng nó.

Tôi đau lòng vì nước tôi bị mất, những giá trị, những thiên tài của nước tôi bị chính người nước tôi lãng quên. Tôi không lãng quên, còn sống, còn viết được, tôi mãi mãi thương tiếc đất nước tôi, tôi mãi mãi vinh danh những thiên tài của đất nước tôi, của thế hệ tôi; bằng những tiếng kêu nghẹn, những tiếng khóc ngào, những dòng lệ tủi của tôi, tôi nhắc cho đồng bào tôi nhớ đất nước và những thiên tài của họ. Bằng những dòng chữ nay tôi gửi lại đời để những người Việt đến cõi đời nay sau tôi, ngàn năm sau, biết rằng trong Thế Kỷ 20 có những người Việt thành lấp một nước gọi là Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, quốc gia ấy sống oanh liệt một thời, quốc gia ấy có nhiều công dân xứng đáng là người, quốc gia ấy có nhiều nhân tài.

Tôi rất bi quan về chuyện bọn Bắc Cộng im re để cho bọn Tầu Cộng xâm chiếm nước tôi. Biểu tình phản đối là việc phải làm nhưng tôi thấy không ăn thua gì cả. Tôi sợ có ngày bọn Tầu Cộng chiếm trọn nước tôi… như chúng đã cướp Tây Tạng!

Rừng Phong Ngày 17 Tháng 12, 2007.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: