• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Vòng Tay Yêu Tinh (Chương 13)

Sáng sớm hôm sau, Tuấn, chú bồi phòng vào đánh thức tôi dậy. Chú đem lên cho tôi tập thư từ của tôi vừa tới, trong số có một thư ngắn được gởi tới hội quán bằng điện thoại. Tôi đọc thấy:”Huy Giang, anh đã tỏ ra xứng đáng với lòng tín cẩn của tôi. Tôi rất hài lòng về việc anh đã làm. Chiều nay, hãy trở lại Viện Bảo Tàng, anh sẽ nhận được tin trong ngày mai. M.V.”

Tuấn cũng đem lên cho tôi, cùng với bữa ăn điểm tâm, tất cả những nhật báo phát hành sáng nay. Vừa ăn, tôi vừa đọc báo. Thoạt đầu, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy các báo chí nói nhiều đến bảo vật bị mất cắp, họ như quên hẵn vụ án mạng làm chết những ba mạng người. Sau đó tôi hiểu. Ba mạng người vô danh không có giá trị gì trong số 2000 tỷ người sống trên trái đất, nhưng chiếc vòng Mãng Xà thì cả thế giới chỉ có một mà thôi.

Trên quan niệm đó, Ma Vương đã không ngần ngại chút nào khi cho hy sinh ba mạng nô lệ để tạo cơ hội cho tôi chiếm lấy bảo vật. Ðiều mỉa mai là các ông chủ báo – tôi biết các ông chủ báo đã ra lệnh cho các phóng viên phải viết nhiều về bảo vật – tuy không phải là môn đệ của Ma Vương, đã tỏ ra đồng ý với Y.

Các báo phát hành sáng nay cho biết ba xác chết vô danh vẫn nằm ở nhà xác thành phố. Vẫn chưa có ai tới nhìn họ hoặc khai báo gì về họ, do đó họ vẫn còn nguyên vô danh. Nhân viên Bảo Tàng Viện được huy động và có sự giúp sức của nhân viên cảnh sát đã tìm kiếm, lục lọi tất cả mọi nơi trong Viện suốt đêm qua nhưng vẫn chưa tìm thấy bảo vật.

Tôi xuống phòng khách của hội quán và suốt mấy tiếng đồng hồ, phải tiếp chuyện những ông bạn tôi, thân cũng như sơ. Tất cả đều ca ngợi sự nhanh trí của tôi và đưa ra nhiều giả thuyết rắc rối về thủ phạm vụ trộm. Cũng như các ông nhà báo, đa số bạn tôi chỉ chú ý tới chiếc vòng Mãng Xà, không mấy ai thèm nhắc đến ba người chết ở trong Viện hôm qua. Vì chiếc vòng, ba kẻ chết đó đã gần hoàn toàn bị người đời quên lãng.

Và tới một giờ trưa, một chú tống thư văn đem tới cho tôi một bức thư nữa. Phong bì thư cho tôi biết đó là thư của một nhà buôn lớn. Mở coi, bên trong có một tờ thư cho Ông Giám Ðốc nhà buôn lớn đó cảm ơn tôi và cho biết món hàng đã nhận được. Tôi hiểu ngay đó chỉ là một cách nói. Tôi có buôn bán hay quen biết gì với nhà buôn này đâu.

Kèm theo tờ thư là một tấm ngân phiếu ghi con số 3.000.000 đồng.

Tôi biết ngay đây là tiền trả công của Ma Vương. Ông Giám Ðốc nhà buôn lớn đó có nhiều chi nhánh ở khắp thế giới kia cũng là một môn đệ của Ma Vương gửi cho tôi ngân phiếu này. Một lần nữa tôi lại thấy Ma Vương giữ lời hứa và nói thật: Y đãi người thật hậu. Và do đó Y lại càng đáng sợ. Kẻ nào chỉ biết lợi dụng người khác không thể lợi dụng được lâu, con người ai cũng biết suy tính lợi hại, thiệt hơn. Con người không chịu để ai bóc lột, lợi dụng mình lâu mà không phản ứng. Người hùng thì phản ứng hùng hồn, người hèn nhát thì phản ứng theo hèn nhát,chỉ cần có cơ hội là người ta làm phản ngay. Nhưng nếu kẻ lợi dụng họ biết đãi ngộ xứng đáng, hậu hỹ nữa, con người không thấy mình thiệt thòi nên không tính đến chuyện phản bội.

Như trường hợp của tôi chẳng hạn.

Tôi đã bị thua Ma Vương. Y có thể sai tôi đi lấy chiếc vòng Mãng Xà bảo vật mà không cần nghĩ đến chuyện chi cho tôi một số tiền nào, dù nhỏ. Nhưng Y đã trả công cho tôi tới 3 triệu đồng, một con số tuy không lớn lắm nhưng cũng ở ngoài sự tưởng tượng của tôi. Từ tôi suy ra, chắc chắn những người khác khi làm theo lệnh của Ma Vương mà thành công,cũng được Y đãi ngộ như tôi. Có thể có kẻ còn được đãi ngộ đặc biệt hơn tôi nữa.

Ðồng tiền đối với tôi lúc này thật không cần thiết. Tôi nói không cần thiết chứ không nói vô giá trị.

Tôi cần tiền làm gì? Tiền đâu có thể giúp tôi chống cự được với Ma Vương, đồng tiền đâu có làm tôi thắng được Y, tiền đâu có giúp tôi cướp được Kiều Xuân, người tôi yêu và cũng yêu tôi, ra khỏi bàn tay sắt của Ma Vương?

Tôi bỗng cảm thấy bồi hồi, nóng ruột muốn “được” trở về lâu đài sào huyệt bí mật của Ma Vương.

Tôi bắt đầu suy nghĩ đến cái công tác lớn mà Ma Vương sẽ giao phó cho tôi sau cuộc thử thách mà Y gọi là nhỏ này.

Tôi sẽ và tôi sắp phải làm gì cho Y? Không biết tôi có được ở lâu trong sào huyệt không? Nếu mai đây Ma Vương cho lệnh tôi đi thật xa, như đi sang Trung Hoa, sang Hoa Kỳ…với một công tác nào đó, làm xong mới được trở lại thì sao. Tôi sẽ phải xa Kiều Xuân, tôi làm cách nào để cứu nàng??

Những ý nghĩ như thế làm tôi rối trí.

Ba giờ chiều, theo lời dặn trong thư, tôi tới Viện Bảo Tàng.

Vì vẫn chưa tìm thấy bảo vật, Viện Bảo Tàng vẫn còn bị phong toả. Tôi lọt qua hàng rào cản của nhân viên công lực một cách dễ dàng. Ở đây, tôi được coi như một người hùng. Mọi người có phận sự ở đây đều tỏ ra kính mến tôi và đều nhìn tôi những cặp mắt ngưỡng mộ, thán phục.

Ông Quản Ðốc Viện ăn ngủ luôn ở Viện để chỉ huy và theo dõi vụ lục xét tìm bảo vật. Nói là ăn ngủ chứ thực ra, tôi thấy ông ăn rất ít và ngủ không được.

Tuy lo âu nhưng ông ta vẫn còn nhiều hy vọng. Viện Bảo Tàng là một cơ sở lớn, nhiều ngỏ ngách và chỗ dấu. Ông vẫn tin rằng cứ kiếm tìm thế này rồi thế nào cũng thấy cái vòng bảo vật. Giữa hai người, tức là ông Quản Ðốc và tôi, tôi mới là người hết hy vọng ở việc tìm được bảo vật.

Ngày hôm đó qua đi, không có tin gì khác của Ma Vương và tôi cũng không gặp bất cứ một môn đệ nào khác của Ma Vương. Ðêm về khuya, tôi càng lo sợ. Ðiều mỉa mai là tôi sợ không còn được trở lại sào huyệt của Ma Vương. Nếu quả thật Ma Vương chỉ nhờ tôi có một việc đi lấy vòng Mãng Xà rồi thôi, trả tôi về với cuộc đời riêng của tôi, tôi sẽ phải làm gì, tôi phải làm sao để gặp lại Kiều Xuân? Nơi có Kiều Xuân bây giờ là Thiên Ðàng của tôi, dù cho Thiên Ðàng ấy có cả Ma Vương ngự trị.

Khác với mấy đêm ở trong lâu đài bí mật của Ma Vương, đêm nay tôi trằn trọc ngủ không được.

Sáng hôm sau, khi tôi mở bức thư của Ma Vương gửi đến, tôi có cảm giác như một tử tội đang nhận được lệnh ân xá, như một tín đồ được Giáo chủ đưa sứ giả đến gọi vào Thiên Ðàng.

Ma Vương viết cho tôi một hàng chữ ngắn:

“Xe sẽ tới đón anh 4 giờ chiều nay. M.V.”

Một cái lệnh ngắn rõ là của người trên gửi xuống kẻ dưới. Kẻ nhận thư chỉ có việc vâng lời chứ không có quyền từ chối hay đề nghị bất cứ điều gì hết.

Nhưng không sao, cho Ma Vương ra lệnh miễn sao tôi được gần người tôi yêu. Dù cho Ma Vương có viết thơ dài cho tôi, tôi cũng chỉ đọc có đoạn đề cập đến việc tôi trở lại gần Kiều Xuân.

Tôi cần trở lại đó gặp Kiều Xuân trước đã. Kế hoạch chống Ma Vương sẽ được hoạch định sau, chưa vội. Với một tâm trạng vui và lạc quan, tôi đi lấy y phục và đồ dùng thường ngày bỏ vào một túi hành lý nhỏ. Linh cảm cho tôi biết là lần này có thể tôi sẽ ở lại lâu đài lâu ngày và tôi nên có đủ những đồ dùng thương ngày ở bên cạnh.

Suốt từ phút nhận được thư của Ma Vương, tôi không còn làm gì khác ngoài việc sống để chờ xe đến đón.

Ðúng 4 giờ, một chiếc xe du lịch sơn đen, tới dừng trước Hội Quán, anh tài xế bận sắc phục nhà tỷ phú hoặc các hãng buôn lớn, bước vào. Như đã quen biết tôi từ trước, anh cúi chào tôi và xách cái xắc du hành của tôi ra xe.

Tôi đã có bằng chứng là Ma Vương không còn thử thách hay ngờ vực, đề phòng tôi nữa. Tôi đã được y chính thức nhận là môn đệ, vì chiếc xe này không có màn cửa. Tôi sẽ biết là xe đưa tôi đi đâu và sào huyệt của Ma Vương ở đâu.

Xe đưa tôi ra khỏi thành phố đi vào xa lộ số 12. Chạy chừng mười lăm phút xe tới Hồ Châu Sơn và theo một tỉnh lộ chạy thẳng về phía Bắc. Xe tới một khu có nhiều rừng thông và chạy voào một con đường trải đá xuyên qua rừng. Vào lúc trời hoàng hôn, xe dừng lại trước một căn nhà gỗ bên đường. Căn nhà có vẻ như nhà của người gác rừng. Một gã đàn ông từ trong nhà bước ra ở đầu xe, gã tài xế nói với gã một câu gì đó. Tôi thấy gã đàn ông đó xách theo một cây súng săn lớn nòng. Xe chạy chừng năm cây số nữa lại đến trước một nhà gỗ khác và một gã đàn ông trong nhà này lại cầm súng bước ra kiểm soát xe và người.

Bóng tối bắt đầu xuống khi xe đến trước một bức tường đá cao. Cổng đá trông chắc chắn như lối vào những toà thành thời Trung cổ. Nhìn lối kiến trúc hai bên cổng, tôi biết rằng trong đó có những ụ súng lớn có đặt liên thanh và súng chống chiến xa. Nhiều tên gác từ trong cỗng ra khám xe trước khi cho xe vào. Chứng kiến sự bố trí hữu hiệu này, tôi lại càng thêm kính phục Ma Vương.

Chừng mười phút sau, xe đưa tôi trước thềm lâu đài. Tôi xác định lại vị trí và biết rằng nơi đây là một địa điểm cách thủ đô chừng 200c cây số về hướng Bắc. Lâu đài này nằm giữa một thung lũng và một rừng cây dầy, xa cách đường cái đủ đển người đi ngoài đường không thể nhìn thấy.

Hải Tùng ra đón tôi.

Tôi có cảm giác như Hải Tùng vui vẻ thấy tôi trở lại. Lão cho tôi biết là một căn phòng mới, lớn hơn, đầy đủ tiện nghi hơn căn phòng cũ, đã được dành sẵn chờ tôi. Lão hướng dẫn tôi đến đó và lên tiếng yêu cầu được ở lại phòng tôi trong lúc tôi nghỉ ngơi, thay y phục và cùng xuống ăn bữa tối với tôi. Tôi đồng ý ngay. Tôi cũng đang cần hỏi chuyện lão. Tôi có cảm tình với Hải Tùng.

Nới trú ngụ mới của tôi chứng tỏ địa vị của tôi đã lên cao nhiều ở đây. Phòng trước của tôi nhỏ hơn và thiếu nhiều tiện nghi hơn nơi này. Tôi có riêng một phòng khách và đặc biệt là những phòng này đều có cửa sổ nhìn ra vườn cây. Những ô cửa sổ này cho tôi biết rằng tôi không còn bị coi là tù nhân nữa.

Ba Tôn, gã bồi phòng, tươi cười chờ tôi ở đây. Thái độ của gã đối với tôi đã rõ rệt là không còn nghi kỵ, đề phòng nữa. Gã đã soạn sẵn quần áo cho tôi. Hải Tùng ngồi đó nói chuyện với tôi qua cửa phòng trong lúc tôi tắm và bận y phục mới.

Hải Tùng cho tôi biết là đêm nay, tôi không gặp Ma Vương. Ma Vương vắng mặt trong bửa ăn tối nay nhưng Y có nhờ Hải Tùng nói lại với tôi là Y rất hài lòng về tôi, tôi đã làm tròn bổn phận và đáp ứng đầy đủ lòng kỳ vọng của Y. Nội trong ngày mai, tôi sẽ được gặp nhiều người lạ rất hữu ích cho ot6i. Sau bữa ăn sẽ có một cuộc đánh bài, tôi có thể dự cuộc hay không tùy ý. Lão không nói gì đến cái vòng Mãng Xà và công tác của tôi. Tôi biết lão không muốn đá động đến chuyện đó là vì một nguyên do khác, không phải vì muốn dấu Ba Tôn. Ba Tôn là người cũng biết rõ như lão về công việc tôi vừa làm cho Ma Vương.

Tôi rất muốn hỏi thăm về Kiều Xuân, tôi sôi nổi muốn biết trong hai ngày tôi văng mặt ở đây, có những gì xảy ra? Kiều Xuân hiện có mặt trong lâu đài không?Bé Hiêu nữa? Kiều Xuân có liên lạc được với Bé Hiêu chưa?

Tôi rất muốn hỏi nhưng vẫn ngừng được. Hải Tùng là nguời có cảm tình với Kiều Xuân, tuy nhiên, cũng theo lời Kiều Xuân cho tôi biết, lão cũng là kẻ trung thành đến cùng với Ma Vương. Nếu phải chọn giữa sự phản bội chống lại Ma Vương hay bỏ rơi Kiều Xuân, nàng chắc là lão sẽ chọn con đường đi theo Ma Vương. Vì vậy, tôi vẫn phải đề phòng Hải Tùng, lão rất thông minh, chỉ cần tôi hớ hênh chút xíu là lão dư biết tôi định làm gì, nghĩ gì, muốn gì.

Tuy rất muốn biết, tôi cũng không dám hỏi Hải Tùng là bửa ăn tối nay có mặt Kiều Xuân hay không.

Hải Tùng tối nay đưa tôi qua hai thang máy, qua hai hành lang mới vào tới phòng ăn. Lâu đài này thật rộn. Tuy đã được đi qua nhiều phòng, nhiều hành lang, dường như cho tới tối nay, tôi vẫn chưa được đi hết, được thấy hết một nửa lâu đài này.

Khi vào tới phòng ăn sáng rực và sang như phòng khánh tiết của một vị vương tử chịu chơi ngày xưa, tôi thất vọng khi không trông thấy có khuôn mặt kiều diễm cùng đôi mắt nhung đen của Kiều Xuân.

Khách ăn bữa nay có 18 người tất cả, kể cả tôi và Hải Tùng.

Ðúng như lời Hải Tùng đã giới thiệu trước, đám bạn mới của tôi tối nay thật lạ và gợi sự tò mò. Họ đều là những người thông minh và trí thức hơn người. Thông minh, trí thức, có vẻ có địa vị trong xã hội, có quyền thế, uy tín và có duyên. Trong số có cả người ngoại quốc: một nữ ca sĩ người Ý đẹp tuyệt vời, một học giả Trung Hoa nổi tiếng đương thời, một nhà bác học người Nhật, môn đệ của Ma Vương thật là đông đảo.

Và bữa ăn thật vui. Chúng tôi nói chuyện nhiều với nhau và nói về đủ mọi vấn đề, nhưng tuyệt nhiên không có một cuộc tranh luận to tiếng hay một lời khích bác, khinh thị nào được thốt ra. Nhất là không ai nói đến việc làm của nhau, tôi nói “việc làm” đây là việc làm cho Ma Vương. Dù Ma Vương vắng mặt, nhưng sự hiện diện của con người giầu sức mạnh tinh thần ấy lúc nào cũng nhu vẫn có bên bàn ăn. Ghế chủ tịch của Ma Vương ở đầu chiếc bàn dài – cái ghế trông như ngai vàng – bỏ trống như nhiều lần tôi thấy có những cùng ăn với tôi, khi nói chuyện, hướng về đó y như Ma Vương đang có mặt và họ cốt nói cho Ma Vương nghe vậy.

Khi không gặp Kiều Xuân ở đây, tôi chỉ muốn cho bữa ăn qua mau để trở về phòng riêng chờ đêm khuya và Bé Hiêu tới. Tôi thắc mắc không hiểu Bé Hiêu có biết rằng tôi thay phòng ngủ hay không? Và Bé Hiêu có thể lần mò tới phòng của tôi hay không? Nếu được gặp Bé Hiêu chắc chắn tôi sẽ được biết tin tức của Kiều Xuân. Nhưng điều cần là Bé Hiêu phải tới được nơi tôi ngủ. Tôi thắc mắc không Kiều Xuân hiện có ở đây hay không?

Những thắc mắc ấy làm cho tôi không thưởng thức được bữa ăn ngon, và cũng không nói chuyện được vui với những người bạn mới. Tình yêu thực là kỳ dị. Tôi vẫn tự phụ là người tự chủ được trong mọi trường hợp, trước đây, nhiều lần gặp hiểm nguy đến có thể mất mạng, tôi vẫn bình tỉnh, vẫn bắt buộc được tâm trí không nghĩ đến những chuyện gì tôi không muốn nghĩ, vẫn thản nhiên không lo âu. Tối nay, tuy chưa có gì là nguy hiểm, tôi vẫn bồn chồn như một kẻ không hề biết tự chủ là gì. Vì yêu, tôi đã trở thành một cậu học sinh mười tám tuổi thắc mắc, lo âu vì không được nhìn thấy mặt người yêu.

Rồi bữa ăn cũng xong. Hải Tùng, tuy không chính thức nhưng gần như là người thay Ma Vương tiếp khách, đưa chúng tôi qua phòng bên. Lại một căn phòng lớn trang hoàng lịch sự khác. Nhờ đông người thừa chân đánh bài, tôi không phải ngồi vào bàn, nhưng chẳng may vì thừa chân, Hải Tùng cũng không phải ngồi vào bàn nào hết, lão đề nghị đưa tôi đi coi một vài chỗ mà lão nói là ” cần coi ” của lâu đài. Tôi không có lý do gì để từ chối.

Tôi theo Hải Tùng đi qua chừng mười phòng lớn. Mắt tôi đã nhìn thấy những bảo vật được trưng bày trong những phòng này. Có thể Ma Vương là người mê thích vật đẹp, quí nhất trần đời. Tôi vốn thích bảo cổ vật, tôi từng sống rất nhiều giờ liên tiếp trong bảo tàng viện danh tiếng nhất thế giới, chưa bao giờ tôi chán nhìn ngắm bảo vật. Hôm nay tôi thấy chán ngấy vì tôi chỉ muốn nhìn một bảo vật mà thôi. Ðó là bảo vật sống: Kiều Xuân.

Hải Tùng vui vẻ và kiên nhẫn nói cho tôi biết lai lịch, xuất xứ của những bảo vật mà tôi chưa được biết rõ. Lão còn nói rằng Ma Vương còn có một căn phòng chứa những bảo vật quí nhất được Y thích nhất. Với Ma Vương, những gì Y cất riêng đó mới thực sự là bảo vật, những gì tôi nhìn thấy đây tuy cũng là bảo vật nhưng thực sự chưa đáng quí lắm.

Ði một vòng, Hải Tùng đưa tôi trở lại căn phòng có những bàn đánh bài. Và đúng lúc không ngờ nhất, tôi lại được gặp Kiều Xuân.

Nàng ngồi ở đây với Phát.

Nàng và Phát đã tới đây trong lúc tôi đi theo Hải Tùng.

Thấy tôi theo Hải Tùng vào phòng, nàng nhìn lên. Nàng chào và cười là cười với Hải Tùng nhưng tôi biết nụ cười đó dành riêng cho tôi. Ðột nhiên tôi như người sống lại.

Phát niềm nở bắt tay tôi. Tôi đã chinh phục được cảm tình của gã nhờ cuộc nói chuyện với gã trong bữa ăn có Ma Vương lần trước đây, buổi tối trước ngày tôi nhận lệnh Ma Vương đi lấy vòng Mãng Xà. Gã không còn hận gì tôi nữa. Tôi và gã ngồi nói chuyện với nhau. Kiều Xuân cũng ngồi cùng bàn nhưng nàng làm như không có tôi ở đó. Nàng ngồi yên, vẻ mặt suy nghĩ, mơ màng. Có lúc tôi thấy làn môi hồng của nàng hé mở và nàng khe khẻ hát một điệu hát quen thuộc. Bài ca Trăng Thu. Lời ca của bài ấy có đoạn:

“… nửa đêm trăng sáng..
Em đến với tình yêu và ánh trăng
Mắt em như trăng sao, hồn anh mở cửa đón chờ… “

Phát cũng nghe rõ tiếng nàng khẽ hát một mình, nhưng gã không hiểu gì cả, gã không thể hiểu.

Không ai có thể hiểu trừ hai người yêu thương nhau nhắn nhau qua lời ca ấy. Người nhạc sĩ khi có cảm xúc đặt lên lời ca ấy chắc nhân một đêm trăng hò hẹn với người yêu, nhạc sĩ không ngờ cảm xúc riêng của mình lại có thể giúp ích cho hai kẻ yêu nhau mà nhạc sĩ không hề biết mặt, biết tên một cách hữu hiệu và thần tình như thế.

Tim tôi rộn ráng một niềm vui chan hoà…

Như vậy là Kiều Xuân đã gặp Bé Hiêu, nhu vậy là đêm nay nàng sẽ theo chân Bé Hiêu tới phòng tôi. Ðêm nay tôi sẽ được gặp riêng nàng..

Hải Tùng, Phát, Kiều Xuân và tôi ngồi cùng bàn. Câu chuyện chỉ được trao đổi giữa ba người đàng ông. Kiều Xuân chỉ thỉnh thoảng mới nói và chỉ nói khi bị ai hỏi. Rõ ràng nàng vẫn ghét mặt tôi. Hải Tùng và Phát cố tình dàn xếp cho nàng và tôi trở thành bạn, hoặc ít nhất nàng đừng ghét tôi đến thế, nhưng vô hiệu.

Kiều Xuân như người vì ghét mặt tôi nên không cần giữ lịch sự, nàng đưa tay lên che miệng ngáp luôn luôn. Rồi nàng chợt nói:

– Xin lổi cho tôi rút lui. Mười hai giờ… Mười hai giờ đêm nay… tôi có việc quan trọng cần làm… Việc ngủ…

Tuy nói đùa nhưng nàng không cười. Tôi biết chắc là nàng hẹn tôi đêm nay 12 giờ nàng tới. Nàng nói thêm như vậy vì sợ lời nhắn qua câu ca vừa rồi có thể tôi không hiểu.

Làm bộ bất mãn vì thái độ bất lịch sự cố ý của Kiều Xuân, tôi đứng dậy:

– Tôi cũng có việc quan trọng phải làm..- tôi nói cho nàng hiểu là tôi đã ghi nhận được lời nàng nhắn..- Nhưng tôi không ngủ, đêm nay tôi sẽ thức trắng đêm..

Hải Tùng tưởng tôi nổi giận vì bị Kiều Xuân tỏ thái độ ghét bỏ quá rõ rệt nên lão vội cắt đứt bầu không khí mà lão cho là nặng nề giữa Kiều Xuân và tôi để đưa tôi về phòng.

Lần này, Hải Tùng chỉ cho tôi cách mở những khung cửa bí mật trên hành lang và ở phòng tôi. Như vậy là từ nay tôi đã có thể tự tôi đi lại được trong sào huyệt này không cần chờ người hướng dẫn và mở cửa dùm cho nữa.

Khi chỉ cho tôi cách, nơi mở cửa phòng bằng điện và lối đi, Hải Tùng lịch sự nói:

– Bây giờ còn sớm. Nếu anh muốn trở xuống phòng ngồi chơi vui với anh em thì anh cứ việc làm như thế này…

Tôi cười nhạt:

– Chắc tôi không trở xuống dưới đó nữa đâu. Nói thực với anh, tôi chịu hết nổi thái độ của cô Kiều Xuân.

Lão có vẻ không được an tâm:

– Chú Phát đã có cảm tình với anh rồi. Không hiểu tại sao Kiều Xuân vẫn cứ thù ghét anh đến thế? Chuyện hiểu lầm cũ phải bỏ qua đi chứ. Rồi đây rất có thể anh sẽ cùng làm chung một việc với Kiều Xuân, nếu hai người cứ không chịu thua nhau như thế, làm sao cộng tác được? Ðể tôi lựa lời nói với nàng…

Tôi lắc đầu:

– Cám ơn anh nhưng anh đừng làm vậy. Anh hãy để tôi lo chiếm cảm tình của nàng. Cảm tình cá nhân là một cái gì phải tự mình làm lấy mừi được. Anh nói vô có khi chỉ làm cho nàngthêm ghét tôi.

Lão gật đầu:

– Anh nói có lý. Tuy nhiên anh có thể tin là tôi lúc nào cũng hết lòng giúp anh, kể cả việc giúp anh lấy cảm tình của Ma Vương cũng như của Kiều Xuân.

Lão có vẻ thành thật. Tôi bỗng cảm thấy xúc động:

– Cám ơn anh.

Tôi xiết chặt tay lão. Tôi vẫn nói dối và đánh lừa lão nhưng lời cám ơn vừa rồi của tôi là chân tình.

Trước khi ra khỏi phòng tôi, Hải Tùng còn cho tôi biết rằng sáng mai, Tôn sẽ tới hầu tôi và rất có thể, sáng mai tôi sẽ có lời mời gặp mặt Ma Vương. Ðêm nay, nếu có cần gì tôi có thể dùng điện thoại ở trong phòng. Ðiện thoại này chỉ dùng để liên lạc trong lâu đài nhưng dù sao, nó cũng cho tôi cái cảm giác là tôi không còn bị canh giữ nữa. Ba Tôn chỉ còn là kẻ hầu tôi chứ không còn là kẻ có nhiệm vụ canh giữ tôi.

Sự kiện này làm tôi thêm mừng rỡ và phấn khởi: không bị nghi ngờ, canh giữ nữa, tôi thêm dễ dàng được gặp Bé Hiêu và Kiều Xuân.

Hải Tùng đi ra.

Sau cùng, chỉ còn mình tôi trong phòng.

Ðến gần cửa sổ, tôi thấy cửa không có chấn song sắt nhưng có một tấm lưới thép mỏng che kín. Trở vào tôi tắt hết đèn lớn, chỉ để một ngọn đèn nhỏ để đọc sách. Tôi ngồi đọc sách, lúc đó là 10 giờ 30.

Ðêm trong lâu đài thật êm. Thời gian qua thật chậm. Ðến 11 giờ, tôi nghe đâu đó trong phòng ngủ tiếng nói khàn khàn đặc biệt của Bé Hiêu vang lên:

– Thiếu tá ơi… Tôi tới đây….

Dù đã biết trước là đêm nay Bé Hiêu sẽ tới, tim tôi cũng đập hụt một nhịp trong ngực tôi. Một gánh nặng như được nhấc ra khỏi hai vai tôi. Tôi nhảy vào phòng ngủ để vồ lấy Bé Hiêu:

– Tôi mong chú quá…

Gã cười khì, đôi mắt chuột lộ ý tinh quái:

– Ðược tin ông trở về, tôi đến ngay. Bây giờ thì mình không còn sợ gì nữa rồi. Ông có quyền yên tâm, chúng mình có thể tự do trò chuyện. Khỏi sợ đứa nào tới làm rộn.. Bây giờ ông là tay chân số dách của Ma Vương rồi… Không ai còn nghi ngờ gì ông nữa…

Bé Hiêu rút một điếu xì-gà, đưa lên môi, đốt lửa hút và nhìn tôi bằng đôi mắt thán phục. Tôi phải chặn bớt sự thán phục không đúng đó của gã:

– Những gì tôi vừa làm không phải là do tài ba của tôi. Tất cả đều do Ma Vương sắp đặt trước…

Gã lắc đầu:

– Ông lầm tôi rồi. Tôi không phục ông vì chuyện ông làm cho Ma Vương, tôi phục ông là về… cô Kiều Xuân. Ở đây cô Kiều Xuân là nữ hoàng. Người có nhiều quyền hành nhất ở đây, sau Ma Vương, là cô Kiều Xuân. Tuy thân ở đây nhưng linh hồn cô Kiều Xuân như bay bổng ở một vùng trời nào khác. Cô ấy không để mắt đến ai, không thèm lưu tâm đến ai. Ông mới tới có một ngày, một đêm, cô ấy đã yêu ông rồi. Nếu ông không tài hoa làm sao có chuyện đó…? Khi cô Kiều Xuân đến gặp tôi, tôi ngạc nhiên đến nỗi lúc đó ông chỉ cần đẩy nhẹ một cái tôi cũng té ngữa… Cô ấy ra lệnh cho tôi: tôi đến phòng chàng không tiện. Chú hãy đưa chàng tới gặp tôi. Bất cứ lúc nào chú có thể… Bất cứ giờ nào… Tôi mong gặp chàng cả trong khi tôi ngủ… Tôi thức ngủ hay giờ giấc không thành vấn đề. Chú mang chàng tới gặp tôi lúc nào chú thấy không có gì nguy hiểm cho chàng. Nhưng… nàng dặn dò tôi.. đừng để cho chàng bị nguy hiểm. Nàng nóng gặp ông lắm…

– Hồi nẩy tôi gặp nàng, nàng có nói cho tôi biết là nàng chờ tôi ở phòng nàng lúc 12 giờ đêm nay.

– Ông yên trí đi. Tôi sẽ đưa ông tới phòng nàng trước nửa đêm nay… Ông đã có kế hoạch nào “đập” thằng cha đó chưa?

Tôi do dự. Thực ra những ý nghĩ của tôi vẫn còn mơ hồ, tôi chưa thể trình bày được gì rõ rệt ngay lúc này. Ma Vương là một địch thủ quá ư nguy hiểm, không thể khinh xuất cũng không thể liều lĩnh, nhất là trong vụ này còn có mạng sống của Kiều Xuân. Tôi thành thật đáp Bé Hiêu:

– Chưa có kế hoạch nào cả… Tôi chưa biết được rõ những gì tôi cần biết về Ma Vương nên chưa hoạch định được kế hoạch đối phó với hắn. Tôi cần có cơ hội đi khắp sào huyệt này. Tuy nhiên, tôi có thể nói trước với chú rằng… nếu cần hy sinh mạng sống của tôi để cứu cô Kiều Xuân khỏi tay Ma Vương, tôi sẽ hy sinh nhưng nếu tôi chết thì Ma Vương cũng phải chết.

Gã kéo xích ghế lại để ngồi gần tôi hơn, giọng nói của gã trở nên thành khẩn, sợ hãi:

– Không liều chết được đâu ông ơi… Nếu liều mà làm chết được hắn nhiều kẻ ở đây đã liều rồi. Phải có cách nào khác chớ mình chết mà hắn vẫn sống… chết uổng..

Tôi trấn an gã:

– Chỉ cùng lắm tôi mới phải liều… Còn bây giờ, tôi nghĩ rằng chúng ta chưa có gì bắt buộc phải hành động gấp rút lắm…Ma Vương đã bắt đầu tin tôi, cô Kiều Xuân chưa đến nổi bị nguy hiểm lắm, chúng ta cứ từ từ mà tiến tới…

Ðôi mắt Bé Hiêu rưng rưng lệ:

– Nếu ông phải dùng đến kế tự sát ấy, ông tin rằng có tôi bên ông…

Gã làm tôi xúc động, tôi vỗ nhẹ vai gã:

– Không nên. Chỉ một mình tôi liều với Ma Vương là đủ rồi. Chú phải sống để đưa cô Kiều Xuân yên lành ra khỏi nơi đây. Tôi chỉ can đảm hy sinh nếu biết chắc là chú sẽ đưa cô Kiều Xuân ra đi…

Gã vẫn ngoan cố:

– Không.. Tôi muốn thoát thân lắm, muốn làm theo lời ông nhưng không được. Ðến giờ hành sự có tôi bên ông. Có điều tôi sợ rằng súng đạn không biết có giết nổi hắn không?

Tôi tỏ vẻ bất mãn:

– Chú lại nói nhăng rồi.. Mới hôm trước, chính chú nói với tôi rằng hắn cũng chỉ là người thường, mũi dao, viên đạn xuyên vào ngực hắn là hắn cũng chết như bất cứ ai. Sao bây giờ chú lại đổi giọng vậy?

Gã thẫn thờ:

– Lần trước, tôi nói vậy là nói dóc… Tôi hạ giá hắn để khỏi sợ hắn quá… Ðôi khi, tôi hoang mang không biết hắn thực sự là người hay là quỷ! Sao thân thể hắn to lớn quá vậy? Nếu hắn cũng là người thường như mình sao thân thể hắn to lớn đến thế.

Nỗi lo sợ trong tôi gia tăng với lời nói của Bé Hiêu. Tôi chỉ có một mình Bé Hiêu là đồng minh, nếu gã tin rằng Ma Vương không phải là người thường thì tôi khó nhờ cậy hay tin tưởng gì được nhiều ở gã. Bàn tay sắt của Ma Vương như đã xiết chặt cần cổ Bé Hiêu. Tôi thử chế nhạo gã:

– Chán thật. Tôi vẫn tưởng chú là tay giang hồ trên không sợ Trời, dưới không sợ Ðất, quỷ thần đều phải chạy mặt… Nếu chú tìn ở chuyện hắn là Ma Vương từ Ðịa Ngục hiệnhình lên đây thật thì hết nước nói rồi. Bé Hiêu mà cũng sợ ngáo ộp ư? Chuyện lạ thế giới.

Gã rầu rĩ:

– Có thể hắn không phải là Ma Vương chính cống… nhưng hắn cũng không xa lạ gì với quỷ dữ…

Tôi bắt đầu bực dọc thực sự. Một lý do chúnh làm tôi không vui là khi cãi lý với Bé Hiêu, tôi cũng cãi lý với chính tôi. Trong thâm tâm, chính tôi cũng sợ rằng Ma Vương không phải là người thường. Tôi cũng sợ, cũng nghĩ như Bé Hiêu, có điều gã nói ra mà tôi thì không mà thôi.

Vì vậy, tôi gắt:

– Nếu chú sợ hắn như vậy thì thôi đi… Về đi… Về mà thắp hương thờ hắn, khấn vái hắn. Tôi không nhờ cậy gì được chú, tôi không tin được chú…Ðể tôi rãnh tay đối phó với hắn. Quỷ hay là người, tôi cũng quyết hạ nó…

Tôi tưởng câu nói của tôi làm Bé Hiêu giận dỗi nhưng không, gã vẫn chỉ rầu rĩ. Nhưng hắn nói:

– Ông không cần khích tôi. Tôi đã nói tôi ở bên cạnh ông, tôi sẽ có mặt bên ông dù cho có chuyện gì xẩy ra chăng nữa. Có điều, tôi vẫn sợ.

Khi nói câu đó, thái độ và vẻ mặt của Bé Hiêu có một cái gì hiên ngang, hào hùng làm cho tôi xấu hổ đến nóng mặt. Sợ nhưng vẫn quyết tâm, sợ nhưng vẫn không lùi, Bé Hiêu mới thật sự là người can đảm cao độ, can đảm đến cùng. Tôi xiết chặt tay gã.

– Xin lỗi chú. Nhưng nếu chú sợ thì tôi nguy… Phải không sợ mới hy vọng thắng được kẻ thù chứ?

Gã ngắt lời tôi:

– Ông không cần xin lỗi cũng như không cần khích tôi. Tôi sợ là vì ở đây có rất nhiều chuyện, nhiều cảnh ông chưa thấy mà tôi đã thấy. Cũng nên đưa ông đi để ông thấy vài cảnh, cũng không hại gì… Mấy giờ rồi ông?

– 11 giờ 20 – tôi đáp – chúng mình có hẹn lúc 12 giờ. Hơn nửa giờ chú đưa tôi đi coi,có đủ không?

– Ðược chừng nào hay chừng đó. Ông bận bộ đồ xám này không được.. Ông nên thay bộ đen…

Tôi thay y phục thật nhanh:

– Ông có súng không?

– Có đây.

Tôi móc khẩu súng lục ra cho gã coi, khẩu súng này đã bị Hải Tùng tước mất trong đêm tôi bị bắt cóc nhưng đã được Hải Tùng trao trả. Tôi ngạc nhiên khi thấy Bé Hiêu nói:

– Bỏ súng lại đi ông..

– Sao vậy?

– Không nên mang súng theo. Sẵn súng, ông có thể đem ra dùng..

Gã lắc đầu:

– Nổ một phát súng nửa đêm ở đây có khác gì kéo còi báo động? Ðêm nay, chúng ta chỉ nên đi coi thôi,đi và tránh đụng độ. Chưa phải lúc để chúng ta dùng súng.

Sự cảm phục Bé Hiêu trong tôi tăng lên. Gã nói đúng. Nhiều kẻ bị chết vì có súng trong tay. Khẩu súng trong tay tôi lúc này chỉ là một vật có hại nhiều hơn có lợi. Tôi bỏ khẩu súng vào lòng cái bình hoa trên bàn và tháo bao da bỏ xuống dưới gối.

– Bây giờ mình đi chứ?

Gã rút ra túi ra một cặp giầy nỉ, đế cao su:

– Ông mang cặp giầy này đi cho êm.

Tôi mang giầy vào chân. Chưa hết, Bé Hiêu lại móc trong túi ra một vật khác đưa cho tôi: một cặp bàn tay sắt trông đẹp như một món đồ trang sức. Tôi lồng những ngón tay vào hai bàn tay sắt đó. Bé Hiêu dặn dò:

– Công dụng của nó không bằng súng nhưng êm thắm hơn. Nếu phải dùng đến nó, chúng ta đánh thật nhanh, chuồn êm, lấy bất ngời làm ưu thế. Ðồng ý?

– Hoàn toàn đồng ý.

– Chúng ta đi.

Gã tắt nốt ngọn đèn nhỏ trong phòng. Gã nắm tay tôi, dắt tôi tới tấm vách trong phòng ngũ, Tới đây, gã còn dặn nhỏ tôi:

– Ðặt tay lên vai tôi. Tuyệt đối đừng nói gì nhé…

Tôi không nghe thấy một tiếng động lạ nào phát ra từ tấm vách, vậy mà một mảng vách đã chuyển dịch sang một bên, để lộ một lối đi. Tôi theo Bé Hiêu bước qua nơi vài gây đồng hồ trước còn là một bức vách dầy. Bé Hiêu dừng lại để đóng vách lại như trước. Rồi gã bước sang bên trái, tôi bước theo gã. Tôi đếm được năm mươi bước thì thấy gã đứng lại. Gã chớp đèn bấm. Tia sáng phát ra chỉ như ánh sáng của một con đom đóm. Ðã quen mắt với bóng tối, tia nắng từ ngọn đèn bấm nhỏ xíu trong tay Bé Hiêu cho tôi nhìn thấy trước măt tôi là một cửa thang máy. Gã bóp nhẹ tay tôi và dắt tôi vào thang máy. Thang hạ xuống. Gã thốt ra một hơi thở nhẹ như bớt lo sợ.

Gã nói nhỏ vào tai tôi:

– Nguy nhất là đọan đường mình vừa đi qua. Từ đây là đỡ rồi…

Thang máy đi xuống rất chậm. Khi thang ngừng, tôi ước lượng nơi đây phải là một nơi ở sâu trong nền toà lâu đài, chắc chắn nó phải ở dưới hành lang có cửa chính vào toà lâu đài.

Bé Hiêu lại nói nhỏ:

– Ðường này là một đường bí mật. Tôi tin là cả lão già Hải Tùng cũng không biết. Ði đường này, mình chỉ sợ gặp có Ma Vương thôi. Mà tôi tin rằng giờ này không đi đường này… Chính vì lý do đó mà tôi mới đưa ông đi đường này..

Chúng tôi ra khỏi thang máy. Tôi theo gã đi qua một lối rộng chừng năm thước, dài chừng hai mươi thước. Hết lối đi, Bé Hiêu lại dừng bước. Rồi tôi thấy trong bóng tối dày đặc trước mặt có một vệt sáng mời hiện ra: một khung cửa từ từ mở ra giữa tấm vách ngay trước mặt chúng tôi. Kẻ hở mở lớn ra thật chậm. Bóng Bé Hiêu hiện ra giữa khung sáng ấy. Gã thận trọng thò đầu qua cửa, nhìn vào bên trong. Khi đã thấy rõ không có ai hay có dấu hiệu gì khả nghi bên trong, gã mới gật đầu ra hiệu cho tôi bước theo.

Chúng tôi đang đứng trong một hành lang hẹp chỉ một người đi vừa. Hành lang này có đèn mờ. Không rõ ánh sáng từ đâu tới, chỉ thấy sáng lờ mờ như ánh trăng xuông. Tôi để ý nhìn và thấy vách hành lang làm bằng một thứ ván gõ mầu nâu và lối đi thoải dốc xuống dần. Ði hết hành lang này, chúng tôi xuống thấp hơn đầu hành lang kia đến mười thước.

– Như đường xuống Âm Ty? – Bé Hiêu nói nhỏ – Ông thấy không? Lát nữa ông sẽ thấy Âm Ty.

Gã đi thẳng tới, tôi đi theo sát gót gã. Rồi chúng tôi lọt vào một góc tối. Tới đây, Bé Hiêu dừng lại. Dí sát miệng vào tai tôi, gã thầm thì:

– Nằm sấp xuống mà nhìn. Ðừng nói gì mà chết. Thở cũng phải thở nhẹ nhẹ…

Tôi nằm xuống theo Bé Hiêu. Nằm xuống, tôi mới thấy một kẻ hở như một vết nứt. Qua kẻ hở đó mắt tôi nhìn xuống căn phnng bên dưới. Cảnh vật mắt tôi nhìn thấy đó làm cho tôi rùng mình và làm tóc tôi dựng đứng lên.

Dưới tôi chừng hai mươi thước, Ma Vương đang ngồi trong một cái ngai lớn bằng đá đen phủ nhung đỏ. Y bận bộ áo đỏ chói, đỏ như máu tươi. Dưới chân ngai, tên nô lệ vệ sĩ da đen tên là A Cốc- tôi đã thấy tên này trong đêm Lê Các bước lên đài may rủi- đứng sững hai tay khoanh trước ngực. Hai bên ngai của Ma Vương có hai mụ đàn bà mang mạng đen che kín đầu và mặt. Hai mụ này bưng một bình bạc và một cái ly cũng bằng bạc.

Dưới chân ngai và cũng là dưới chân Ma Vương có một người đàn bà quì gối. Người đàn bà nầy không còn trẻ lắm nhưng cũng chưa gia. Trước đây mười năm, bà này là một người đàn bà đẹp. Thân thể nàng, thấp thoáng trong bộ áo trắng mỏng, vẫn là một tấm thân đàn bà đẹp và khêu gợi. Ðôi mắt nàng mở lớn nhìn ngây lên bình bạc và cái ly bạc trên cao, miệng nàng hé mở thèm thuồng. Nàng như phải trấn tỉnh nhiều để khỏi chồm lấy vồ bình bạc và ly bạc do hai mụ đàn bà kia bưng trên tay.

Ma Vương làm một cử chỉ. Hai mụ đàn bà lặng lẽ đổ chất nước ở lòng bình bạc ra ly bạc. Người thiếu phụ khi trông thấy chất nước, rướn mình lên như muốn vồ lấy nhưng A Cốc, tên hắc nô, đã đặt nẹ sợi roi làm bằng tóc đàn bà lên vai nàng và làm nàng chùn lại.

Ma Vương đở lấy cái ly bạc. Y giơ cao ly lên:

– Người đàn bà kia, tên người là gì?

Giọng nói của Ma Vương tuy sang sảng nhưng vẫn vô hồn.

Trái lại giọng người đàn bà rung động và đứt quãng:

– Tôi tên là Ái Liên.

Tôi đã nhận ra nàng. Ái Liên là một nữ kịch sĩ nổi tiếng nhất trên sân khấu kịch nghệ cách đây hai mươi năm.

Màn kịch bên dưới tiếp diễn:

– Ái Liên… Ngươi biết ta là ai?

– Ngài là Ma Vương!

– Ta là gì của ngươi?

– Ngài là Chúa của tôi…!

Tôi cảm thấy Bé Hiêu rùng mình. Và tôi cũng rùng mình.

– Ngươi có mấy Chúa?

– Tôi chỉ có một Chúa…

– Chúa của ngươi là ai?

– Chúa của tôi là Ma Vương!

– Ngươi chịu hy sinh những gì cho Ma Vương, Chúa của ngươi?

– Tôi hy sinh hết cho Ma Vương, Chúa của tôi…

– Ái Liên… Ngươi muốn gì..?

Hai tay chắp lại trước ngực. Ái Liên như muốn dùng bàn tay giữ chặt lấy trái tim. Giọng nàng rung độn và nhỏ đến nổi tôi gần như không nghe rõ:

– Tôi muốn gặp lại… một người đàn ông và một đứa trẻ…

– Hai người đó hiện ở đâu?

– Hai người đó… đã chết…

– Ta sẽ dùng quyền lực của Ta làm cho hai người đó sống lại vì ngươi… Uống đi!

Trong giọng nói của Ma Vương khi Y nói với người thiếu phụ lời đó như có âm thanh mỉa mai, chế nhạo. Y đưa cái ly bạc ra trước mặt người thiếu phụ và nàng đở lấy ly bằng cả hai tay, đưa lên miệng uống cạn ngay chất nước trắng trong đó. Rồi nàng đặt ly xuống dưới chân ngai, cúi chào thật thấp và bước đi. Nàng đi ra ngoài vùng mắt nhìn của tôi, hình ảnh cuối cùng của nàng mà tôi thấy là nàng đi, mặt ngửng cao, mắt và vẻ mặt như người xuất thần, môi nó lẩm nhẩm như nói với người vô hình nào cùng đi bên nàng.

Tôi lại thấy lạnh người. Thái độ của Ma Vương, giọng nói của Y trong cuộc đối đáp với người thiếu phụ vừa qua, có một vẻ gì thật là ma quái. Ý nghĩ nhất định Ma Vương cũng chỉ là một người đàn ông bằng xương bằng thịt có sống có chết như tất cả mọi người đàn ông ở cõi đời này của tôi rung động và giảm đi một lúc một nhiều.

Tôi cố nhìn theo người thiếu phụ cho tới lúc mắt tôi không còn có thể thấy nàng nữa. Căn phòng bên dưới thật rộng. Qua vết nứt trên trần này, mắt tôi chỉ có thể nhìn được một phần ba căn phòng ấy. Vách phòng mầu hồng bằng đá, trơ trọi không có vật gì trang hoàng. Nhiều chỗ vách có màn che như sau những tấm màn đó là những khoảng đục sâu vào vách. Trong một góc có một bồn nước, nước bắn vọt lên từ lòng một bát nước bằng đá hồng khổng lồ. Nhiều nệm gối bông cũng mầu hồng đặt rải rác trên sàn, trên nệm gối có nhiều người nằm ngồi. Tôi nhận thấy trong số có cả đàn ông lẫn đàn bà. Tôi ước lượng có chừng hơn muời cặp nam nữ đang ở trong phòng, mắt tôi chỉ nhìn thấy chừng ba bốn cặp.

Rồi… một tiếng cồng vang lên…

Những tấm màn treo ở vách được kéo lên..

Sau mỗi tấm màn đứng một tên nữ nô lệ, những tên này hướng mắt đăm đăm và thèm thuồng nhìn về phía Ma Vương. Tôi run lên. Cảnh hiện ra của chúng có cái vẻ ma quái khủng khiếp, giống như những oan hồn dưới địa ngục hiện về.

Ma Vương vẫy tay.

Một gã đàn ông tiến đến chân ngai và cũng như người thiếu phụ vừa rồi, gã quì gối xuống.

Hai thị nữ đứng hai bên ngai, một đứa cầm bình, một đứa cầm ly, lại rót chất nước trắng đục trong bình vào ly đưa lên Ma Vương.

Cuộc hỏi đáp trầm trầm như những lời kinh nhật tụng lại vang lên:

-……..Ngươi biết Ta là ai?

– Ngài là Ma Vương..

– Ta là gì của ngươi?

– Ngài là Chúa tôi…

– Ngươi có mấy Chúa?

– Tôi chỉ có một Chúa.

– Chúa của ngươi là ai?

– Chúa của tôi là Ma Vương.

– Ngươi muốn gì?

Gã đàn ông qùi dưới chân ngai ngước mặt nhìn lên, lưng gã cũng thẳng lên. Giọng nói và vẻ mặt gã đã mất vẻ vô hồn, gã có một vẻ tàn ác,thù hằn kinh khiếp:

– Tôi muốn giết kẻ tôi thù hận. Tôi muốn tìm ra nó… Muốn tự tay tôi giết nó bằng đủ mọi cách, làm cho nó đau đớn.

– Ngươi đã giết nó một lần, nhưng giết quá nhanh ngươi chưa hả giận? – Giọng của Ma Vương có vẻ chế nhạo, nhưng Y nghiêm giọng ngay khi nói tiếp – Ta sẽ cho phép ngươi tìm lại được kẻ mà ngươi thù hận và cho ngươi có quyền giết nó một lần nữa theo như ý ngươi muốn… Uống đi.

Gã đàn ông uống chất nước trắng đục trong ly bạc, cúi chào cảm ơn, rồi đi.

Cuộc lể ma quái tiếp tục. Sau mỗi tiếng cồng, một tấm màn mở ra và một người bước tới dưới chân ngai của Ma Vương. Tôi nghe thấy một tên xin được làm vua, một tên khác muốn được làm gã đàn ông duy nhất trong một cõi Thiên Ðường chỉ có toàn đàn bà.

Ma Vương hứa làm thoả mãn mọi ước muốn. Y không từ chối một ai.

Tôi hiểu: bọn đàn ông, đàn bà dưới mắt tôi là bọn nô lệ của Ma Vương.

Và chất nước trắng tôi thấy rót ra từ chiếc bình bạc trong tay đứa nữ tỳ của Ma Vương chính là chất ma túy giúp cho người uống nó thoả mãn mọi ước mơ. Lẽ tất nhiên ma túy không thể tạo ra được những cảnh thật, nó chỉ làm cho óc tưởng tượng của bọn người uống đó tưởng là thấy sự thật, cảm thấy như đang sống thật, đang được giết kẻ thù hay đang hưởng thụ khoái lạc thật sự.

Tôi nhìn xuống, người ngây ra, quên hết cả. Tôi quên cả Kiều Xuân và cuộc lần mò mạo hiểm đến phòng nàng đêm nay. Tôi quên nhưng may sao Bé Hiêu không quên. Chợt khe hổng trước mắt tôi khép lại. Bé Hiêu chạm tay lên vai tôi và chúng tôi đứng dậy. Êm lặng, chúng tôi đi ngược trở lên.

Tâm hồn tôi vẫn còn bấn loạn vì cảnh kỳ dị vừa nhìn thấy. Tôi đã biết lý do vì đâu bọn hắc nô của Ma Vương lại sẵn sàng hy sinh mạng sống cho Ma Vương, tuyệt đối trung thành với Ma Vương. Sau mỗi lần nhờ chất ma túy, chúng được sung sướng, khi trở lại với thực tế, chúng chỉ có một ước muốn: lại được Ma Vương ban cho chất ma túy để lại sung sướng. Thiếu chất ma túy kia, đời sống của chúng không còn lạc thú nào.

Ba người đã chết ở Viện Bảo Tàng trong lúc tôi lấy trộm bảo vật hôm qua chắc chắn la ba người đã từng được Ma Vương cho hưởng thụ ma túy. Họ vâng lời Ma Vương một cách mù quáng, họ sẵn sàng chết cho Ma Vương.

Nếu Ma Vương.. không thực là Ma Vương, Chúa tể Ðịa ngục, Y cũng khônglàm cái tên Ma Vương bị mất giá…

Với những ý nghĩ ấy trong đầu, tôi bàng hoàng đi theo Bé Hiêu, đi mà không biết là mình đi đâu, đến đâu cho đến lúc gã dừng bước.. ghé miệng vào tai tôi:

– Ông thấy sao? Tôi nói đúng không? Có đúng đó là đường xuống Ðịa Ngục không?

Tôi như đang cơn mê hoảng choàng tỉnh:

– Có gì lạ đâu? – tôi có ý định hạ giá Ma Vương – Y chỉ là một tên bán ma túy. Tôi đã từng thấy ở Trung Hoa, ở Nhật, những ổ ma túy lớn và nhiều chuyện lạ hơn thế nhiều… Bọn nghiền ma túy ở Ðông Phương cũng sẵn sàng cầm dao cắt cổ người ta đê có vài điếu thuốc không khác bọn hắc nô ở đây.

Tuy cả tôi và Bé Hiêu cùng không tin tưởng mấy ở lời tôi vừa nói, song tôi cũng cảm thấy dễ chịu hơn một chút.

Bé Hiêu cười khẩy:

– Tôi mong ông cứ nghĩ được như vậy mãi..

Chúng tôi theo nhau như hai bóng ma đi trong bóng tối. Tôi lờ mờ nhớ là có theo Bé Hiêu bước vào, bước ra nhiều thang máy, nhưng giờ đây tôi không còn nhận định được phương hướng nữa, tôi không còn nhớ phòng tôi ở phía nào. Nếu mất Bé Hiêu bậy giờ, chắc chắn tôi sẽ đi lạc, không làm sao về được nơi tôi ra đi.

– Ðến nơi rồi.

Bé Hiêu nói. Gã giữ tôi đứng lại một lát, nghe ngóng.

Tôi thò tay vào túi lấy ra chiếc đồng hồ tay, mặt dạ quang của đồng hồ cho tôi nhìn được giờ giấc trong bóng đêm. Bây giờ là 12 giờ 15.

Bé Hiêu kéo tôi bước theo.

Tôi ngửi thấy trong không khí có một mùi thơm nhẹ nhàng…

Mùi thơm từ da thịt Kiều Xuân.

Tôi đã ở trong phòng nàng…

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: