• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị

Đây là bài thứ sáu tôi viết về những người Việt được Trung Tâm William Joiner gọi là “những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc, đáng kính, những cá nhân dũng cảm..” Đó là những bà, những ông: Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nhật Tiến, Hoàng Khởi Phong, Cao Xuân Huy, Nguyễn Mộng Giác, Trương Vũ, những người đã gặp anh cán bộ VC Trần Văn Thuỷ đến Mỹ từ Hà Nội bằng tiền của Trung Tâm William Joiner, và đã trả lời những câu hỏi của Cán Cộng. Những câu hỏi và trả lời ấy được Trung Tâm William Joiner xuất bản thành quyển “Nếu đi hết biển“. Trong số một bà, năm ông được Cán Cộng mớm cho chửi rủa cộng đồng người Việt tị nạn ở Mỹ có hai người tôi không ngạc nhiên khi thấy họ trở thành Nhà Văn Chồn Lùi. Người thứ nhất là ông Nhật Tiến, người thứ hai là ông Nguyễn Mộng Giác.

Hôm nay ngày 28 Tháng Ba.. Tôi bồi hồi nhớ lại: 28 Tháng Ba năm 1975 là ngày tôi mất thành phố Đà Nẵng…

Năm năm cứ đến ngày oan trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương..

nguyenmonggiac.jpgDòng thời gian dài một ánh bay.. Những ngày như lá, tháng như mây.. Thấm thoắt đấy mà đã hai mươi chín năm trôi qua cuộc đời.. Để biết tại sao tôi không ngạc nhiên khi thấy hai ông Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác trở thành Nhà Văn Chồn Lùi, tôi xin kể chuyện ngày xưa, một chuyện xẩy ra ba mươi năm trước ở Sài Gòn, thành phố thủ đô yêu thương mà tôi đã không giữ được, xin quí vị cùng tôi trở về Sài Gòn, thành phố thủ đô thân thương của chúng ta, Tháng Bẩy năm 1976…

Biệt Kích Cầm Bút. Hồi ký Hoàng Hải Thuỷ. Làng Văn xuất bản. Trích:

Vài anh tù phản động lỡ lời gọi cai tù là “đồng chí” liền bị các “đồng chí” cự:

– Anh nói ký gì? Ai “đồng chí” mí anh? Bậy bạ…

Nội quy nhà tù Xã hội chủ nghĩa có điều bắt buộc người tù phải gọi cai tù bằng cái tên chung là “Cán Bộ”, không có ông, anh, nhất là không có “đồng chí, đồng rận” gì ráo trọi. Ngược lại cai tù cộng sản gọi tất cả những người dân bị chúng bỏ tù là anh, chị, dù cho “anh, chị” có bẩy bó, tám bó bằng tuổi ông bà nội, ông bà ngoại chúng.

Nhưng Hà Huy Giáp, một trong số những cán bộ lãnh đạo văn nghệ Đảng những năm 1975-1985 lại ưu ái gọi một số văn nghệ sĩ Sài Gòn lơ láo đi dự cái gọi là “Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị” năm 1976 ở Nhà Hát Thành Phố Hồ Chí Minh là “đồng chí“. Số là Việt Cộng vào được Sài Gòn từ ngày Ba Mươi tháng Tư năm 1975, nhưng mãi một niên sau – Tháng 3 năm 1976 – họ mới nhân dịp cho cái gọi là Chánh phủ Lâm Thời Miền Nam và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đi chỗ khác chơi, phát động chiến dịch hỏi thăm sức khỏe văn nghệ sĩ Sàigòn VNCH. Nhiều văn nghệ sĩ, ký giả VNCH lớn nhỏ được xe bông Sở Công an thành phố Hồ Chí Minh đến tận nhà rước đi liền tù tì trong mấy ngày đêm đầu tháng Ba năm 1976.

Xin kể tên những người bị bắt trong chiến dịch khủng bố ấy theo trí nhớ của tôi: Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Sĩ Tế, Lý Đại Nguyên, Trần Việt Sơn, Nguyễn Hải Chí tức họa sĩ Chóe, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Duyên Anh, Đằng Giao, Trịnh Viết Thành, Dương Nghiễm Mậu, Mặc Thu, Thái Thủy, Hồ Nam, Cao Sơn, Xuyên Sơn, Minh Vồ chủ nhiệm Con Ong, Hoàng Vĩnh Lộc, Hồng Dương, Minh Đăng Khánh, Thân Trọng Kỳ, Lê Xuyên Chú Tư Cầu, Anh Quân, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Hồ Văn Đồng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Hữu Hiệu, Sao Biển, Hoàng Anh Tuấn đạo diễn “Hai chuyến xe bông” v.v… Các anh Văn Chi, Uyên Thao, Tú Kếu Trần Đức Uyển, Vũ Ánh, Đoàn Thạch Biền, Nguyễn Tú, Như Phong là những ký giả văn nghệ sĩ bị bắt ngay từ những tháng cuối năm 1975. Văn nghệ sĩ bị bắt nhiều tôi không nhớ xiết.

Chiến dịch bắt bớ rầm rộ mấy ngày đêm đầu tháng, lai rai kéo dài mãi đến cuối tháng Ba năm 1976. Không phải tất cả văn nghệ sĩ Sài Gòn đều bị bắt hết. Những người chưa bị bắt mặt mũi xanh xám không biết xe bông công an đến rước mình lúc nào. Tháng Năm năm 1976, cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố HCM tổ chức cái gọi là “Khóa Bồi dưỡng Chính Trị” cho văn nghệ sĩ Sài Gòn “kẹt giỏ” hàng dân lơ láo và ngơ ngáo không giống ai, không ai giống. Khóa Bồi Dưỡng Một có những văn nghệ sĩ thượng thặng của giới văn nghệ Sài Gòn đi dự: Thái Thanh, Hà Thanh, Hoài Bắc, Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều, Thẩm Thúy Hằng, Lệ Hằng Bản Tango cuối cùng, Nguyễn Thị Hoàng Vòng Tay Học Trò, Nguyễn Thụy Long Loan Mắt Nhung, Phạm Thiên Thư Động Hoa Vàng, Nhật Tiến Những Người Áo Trắng.. v.v..

Khóa Bồi Dưỡng Một không được tổ chức linh đình, không nhiều người tham dự bằng Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai Tháng Bẩy năm 1976. Khóa Hai có trên năm trăm khóa viên hăng hái và rầu rĩ đăng ký tham gia. Giới nghệ sĩ cải lương đông người nhất. Trong số 500 khóa viên có tới 300 mạng là nghệ sĩ cải lương, những chuyên viên kéo màn, dựng phông, gọi là lo đề-co, chạy hiệu của cải lương Sài Gòn cũng được kể là văn nghệ sĩ, số 200 nghoe còn lại chia đều cho các tổ Thơ Văn, Điện ảnh, Tân nhạc, Cổ nhạc….

Cái gọi là tổ Thơ Văn – tức tổ chấy của các anh ký giả, văn nghệ sĩ, trong số có những anh thợ viết tiểu thuyết “phơi-ơ-tông”, là tổ “được” Cán Cộng chú ý nhất. Cộng sản rất kỵ bộ môn sáng tác gồm những người tự mình chống Cộng bằng tư tưởng, bằng tác phẩm của mình. Cộng sản không coi trọng lắm những người thuộc bộ môn trình diễn, tức là những người khi được giao vai trò chống Cộng thì chửi Cộng ra rít theo lời người khác, khi được giao đóng vai chửi Quốc gia thì lại mặt trơ, trán bóng, miệng lưỡi leo lẻo chửi bới Việt Nam Cộng Hòa ra trò.

Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai được khai mạc ở Nhà Hát Thành Phố. Người khai mạc là Hà Huy Giáp. Người lãnh đạo văn nghệ của miền Bắc Xã hội chủ nghĩa có nhiều người dân không đến chết đói mà chỉ đói đến chết, lại có thể hình béo tốt, hồng hào, mặt mũi, da dẻ láng bóng quá cỡ thợ mộc. Ngày khai mạc, khi ban huấn từ “Đồng chí Lãnh đạo” nói một câu xanh rờn:

– Tôi gọi các bạn là “đồng chí” vì tất cả chúng ta đều cùng một chí nguyện: làm cho nước Việt Nam được giầu đẹp, làm cho nhân dân Việt Nam được ấm no…

“Lãnh đạo” nói tiếp:

– Khóa này được gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị vì những người tổ chức thấy các văn nghệ sĩ Sài Gòn có thành kiến, có ác cảm với hai tiếng “cải tạo”. Thực ra cải tạo chẳng có gì đáng sợ. Chúng ta phải tự cải tạo mỗi ngày để trở thành người tốt…

Khóa học 21 ngày, khóa viên được bồi dưỡng sinh hoạt phí 1 đồng tiền Hồ mỗi ngày, được một lần cấp “nhu yếu phẩm”: nửa ký đường, hai hộp sữa, hai gói thuốc lá, một lạng bột ngọt. Khoá viên được đớp hai bữa trưa ở Nhà Hát: bánh mì thịt mỗi mạng một ổ, nước ngọt, bia gọi là bia hơi được đựng trong thùng phuy. Khóa nào muốn uống phải mang theo ca hoặc mượn ca của khóa khác. 21 ngày học chỉ được đớp hai bữa thôi, không phải trưa nào cũng được đớp. Phải nói rõ để các vị không đi dự khỏi tiếc rẻ: “Mấy thằng đi học sướng quá, ngày nào cũng được Việt Cộng nó cho đớp bánh mì thịt..!”

Những anh ký giả Sè Goòng trước đó một niên đã làm “Ngày Ký Giả Đi Ăn Mày” để bỉ mặt Tổng Thiệu, nay được dịp làm “ăn mày” thật sự. Ký giả là những người đói nhất trong giới văn nghệ sĩ bỏ nước chạy lấy người không kịp. Không phải anh em ký giả, văn nghệ sĩ Sài Gòn ta ngày xưa không kiếm được tiền, anh em kiếm được tiền có người còn hơn giới công tư chức cùng thời nhưng anh em ăn chơi, tiêu hoang, kiếm được năm thì tiêu mười. Việt Cộng vào Sài Gòn, anh em đói đến không có cơm mà ăn, không phải chỉ đói cà phe, đói thuốc lá, đói phở, đói cơm sườn, đói giả cầy tiệm Bà Cả Đọi. Cùng dự khóa bồi dưỡng với kẻ viết bài này có Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang dịch giả Bố Già The Godfather của Mario Puzzo. Hôm được phát “nhu yếu phẩm” như vừa kể người ta thấy vắng bóng Ngọc Thứ Lang ngay lập tức, rồi vắng bóng chàng suốt ngày hôm sau. Khóa viên Ngọc Thứ Lang không đến lớp vì còn bận tự “bồi dưỡng” bằng hai hộp sữa, nửa ký đường, hai gói thuốc, lạng bột ngọt. Chàng phát mại ngay những thứ không nhu yếu gì với đời sống của chàng để lấy tiền “choác.”

Và Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai có Cô Khóa Mộng Tuyền. Tháng Bẩy năm 1976 ở Thành Hồ, Mộng Tuyền còn trẻ, đẹp. Ký giả đói, nhưng các em đào cải lương vẫn đông vàng, đông kim cang. Các em như Mộng Tuyền – bận bà ba phin nõn, quần đen, đi guốc – phây phây đến lớp. Các em không đi xế hộp, nhưng các em cũng không đi xế đạp, các em đi “học” bằng xe xích lô.

Sau Hà Huy Giáp ban huấn từ khai mạc, khóa bồi dưỡng có từng này vị lên lớp, mỗi vị một ngày:

– Huy Cận nói về Thơ.

– Chế Lan Viên nói về Người Nghệ Sĩ đi theo Đảng

– Hoàng Trinh, lý thuyết gia văn nghệ nói về “Sự bế tắc văn học – nghệ thuật của xã hội tư bản

– Vũ Khiêu nói về văn nghệ chung chung…

– Bẩy Lý, Tổng biên tập báo Sàigòn Giải Phóng lên lớp về “Chủ nghĩa Mác-Lê-nin

Huy Cận mập khỏe, nước da bánh mật, trông không có qua một vẻ gì là người làm được những câu “Nắng chia nửa bãi chiều rồi. Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá sầu…” Huy Cận nói đúng là nói vung xích chó, nói văng bọt mép. Ngoài việc anh khoe anh sung sướng, anh thoải mái mần thơ trong chế độ xã hội chủ nghĩa, anh còn khoe anh vẫn mần thơ tình, anh quả quyết chế độ xã hội chủ nghĩa không tiêu diệt thơ tình v.v… Chế Lan Viên yếu hơn Huy Cận về mọi mặt. Buổi nói chuyện của Chế Lan Viên được tổ chức ở rạp Olympic đường Hồng Thập Tự. Rạp không đủ đèn sáng. Chế Lan Viên ngồi bàn nói chuyện, đặt ly bia trên bàn. Mỗi lần y ghé mồm uống bia, micro bắt tiếng động làm người ta nghe thấy những tiếng “chụp choạp” rất xã hội chủ nghĩa.

Vũ Khiêu – nghe nói tên thật là Đặng Vũ Khiêu – là anh nói dở nhất trong cả bọn. Vốn liếng kiến thức của anh chỉ đủ cho anh nói láp nháp được trong một giờ. Buổi lên lớp của anh kéo dài cả ngày. Buổi sáng anh nói được hai tiếng thì tạm nghỉ để đi đé, Ngọc Thứ Lang nói ngay:

– Thằng cha Vũ Khiêu này… hay chữ lỏng..!

Thành ngữ Bắc kỳ gọi những anh chữ nghĩa đựng không đầy cái lá mít nhưng thích ba hoa nói những chuyện văn học, nghệ thuật, hay kể lời sách nọ, sách kia là những anh hay chữ lỏng. Vũ Khiêu thuộc loại “Bắc Kít Hay Chữ Lỏng” điển hình. Anh nói ba lăng nhăng về Kiều, ca tụng Từ Hải như đại anh hùng dân tộc. Người nghe dốt nát nhất cõi đời này cũng biết anh quên, hay anh cố tình quên, ông cố, bà sơ anh có câu dặn con cháu:

Đàn ông chớ kể Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều

Văn học lý luận gia Mác-xít Vũ Khiêu tỏ ra “hay chữ lỏng” rõ ràng nhất ở câu chuyện anh kể về cái gọi là “tình đoàn kết thân thương cố hữu” của dân tộc Việt. Anh đưa chuyện ngày xưa có nhà kia năm đời sống chung một nhà đoàn tụ gia đình hòa hợp với nhau. Vua nghe tiếng tốt bèn đến thăm và ban cho gia đình một trái lê với ẩn ý thử xem gia đình này chia nhau ơn Vua ra sao. Nhà đông tới cả trăm miệng ăn. Làm sao chia cho mỗi người một miếng lê nhỏ bằng đầu que tăm xỉa răng? Trưởng gia bèn nẩy ra sáng kiến kính cẩn cho trái lê vua ban vào nồi ba mươi nước sôi, cho tan ra nước, mỗi mạng uống một ly hạt mít nước. Thế là cả nhà ai cũng được hưởng lộc vua.

Câu chuyện thuộc loại quân tử Tây gọi là “a-nếch-đốt” – chuyện truyền khẩu, chuyện ngoài lề nghe chơi rồi bỏ – trái lê nấu nước chia nhau uống xưa như trái đất. Đó là chuyện xẩy ra dưới một đời vua nào đó bên Tầu nhưng người văn nghệ Mác-xít Vũ Khiêu lại nói là chuyện xẩy ra đời vua Trần nước Việt.

Các đàn anh dzăng nghệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa lên lớp chung cho 500 đàn em dzăng nghệ, dzăng gừng, dzăng bút, dzăng báo, dzăng cơm, dzăng đủ thứ ở Thành Hồ tại Nhà Hát Lớn. Hôm sau, các khóa sinh trở về tổ mình thảo luận về đề tài đàn anh lên lớp hôm qua. Hướng dẫn viên Tổ Một Thi Văn Vũ Hạnh gọi việc này là “đèo seo…”, tức “đào sâu” vào đề tài. Thảo luận thêm, tham gia ý kiến của mình, thường là ca tụng: “…Hay quá, giúp cho người nghe có tư liệu chất lượng tốt để hiểu thêm về dân tộc, về dzăng nghệ.. v.v…”. Những cuộc thảo luận “đèo seo” học hỏi này có biên bản để nộp các lãnh đạo dzăng nghệ.

Khi ấy, người viết bài này đã có ý định phát biểu mấy nhận xét để ghi vào biên bản gửi đến ông Vũ Khiêu Hay Chữ Lỏng. Đại khái:

– Chuyện trái lê nấu nước chia nhau uống là chuyện người Tầu đời Đường, không phải chuyện xẩy ra đời nhà Trần nước ta. Nhận vơ không hay hướm gì và tôi nghĩ ta không cần nhận vơ. Khi ông nói trước cả trăm người Sài Gòn chúng tôi về chuyện đó, tôi thấy:

– Nếu ông không biết chuyện trái lê nấu nước là chuyện Tàu thì ông ngu quá.

– Nếu ông biết chuyện trái lê nấu nước là chuyện Tàu mà ông cho chúng tôi hổng biết, ông có nói đó là chuyện đời nhà Trần chúng tôi cũng mù tịt thì ông… quá ngu.

– Nếu ông biết chúng tôi cho việc ông nói chuyện trái lê nấu nước là chuyện người Việt là nói bậy mà ông vẫn cứ nói thì ông mặt trơ, trán bóng quá đỗi. Chúng tôi không có lời gì để đánh giá con người dzăng nghệ Mác-xít như ông.

Nhưng… nghĩ vậy người viết bài này đã không nói ra. Tâm trạng anh Khóa bất đắc dĩ Tháng Bẩy năm 1976 đang đen hơn mõm chó mực. Các bạn anh đang ngồi rù trong tù, anh không bị bắt như anh em, vợ con anh không khổ nhục như vợ con anh em anh, anh vác bản mặt nhẵn hơn cái đũng quần lĩnh cô đầu đi dự “Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị”, anh ngồi tễu mặt nghe Việt cộng nó dậy dỗ, nó chỉ bảo, anh không câm miệng, không cúi mặt xuống, anh còn ọ ẹ bắt bẻ Việt cộng nỗi gì.

Nghe nói ở Hà Nội có lần nói chuyện xong Vũ Khiêu hỏi Đoàn Phú Tứ:

– Anh thấy tôi nói ra sao?

Đoàn Phú Tứ trả lời:

– Anh nói thì con rắn ở trong lỗ nó phải bò ra nó nghe, nó bò ra nó nghe nhưng không thấy gì cả nó lại bò vào lỗ.

Hoàng Trinh – nghe nói là sui gia với Trường Chinh – lên bục nói về “Sự bế tắc văn học nghệ thuật tư bản” nói chung và nói riêng về tình trạng tắc tị trong lãnh vực tiểu thuyết ở các nước Âu Mỹ.

Hoàng Trinh nói dễ thôi. Các đàn anh lý thuyết văn nghệ Liên Xô ăn lương tháng viết vung xích chó cả ngàn bài nghiên cứu về văn học nghệ thuật tư sản – tư bản, các đàn em chỉ việc dịch và đọc. Tất nhiên là văn học nghệ thuật tư bản đồi trụy, thối nát, tắc nghẽn, cuồng dâm, ca tụng bạo lực, ăn bám, thối nát, đang rẫy chết và chết đến đít rồi. Chuyện tất nhiên khỏi cần nói thêm. Hoàng Trinh kể một tác phẩm kịch điển hình làm bằng chứng là “văn học nghệ thuật tư sản thối nát quá cỡ…”

Vở kịch Hoàng Trinh đưa ra là vở Le Balcon của Jean Genet. Việc dùng kịch Le Balcon để đả kích văn nghệ tư sản cũng chẳng phải là sáng kiến của Hoàng Trinh, đàn anh Nga Cộng viết, Hoàng Trinh chỉ việc nhai lại.

Jean Genet là văn sĩ thuộc loại “thiên tài hắc ám, quỷ ám” của Pháp. Người Pháp có tiếng “maudit” chỉ loại người này. Ra đời năm 1911 ở Paris, bị mẹ bỏ rơi, được nuôi trong Viện Cô Nhi, năm 13 tuổi Jean Genet bị đưa đến Trại Trừng Giới, bỏ trốn, đi bụi đời, bị bắt nhiều lần vì những tội trộm cướp; năm 1948 phạm trọng tội bị án tù chung thân. Nhiều văn sĩ Pháp, trong đó có Jean-Paul Sartre, người vận động tích cực nhất, gửi kiến nghị thư lên Tổng thống Pháp xin ân xá cho Jean Genet, tác giả những tác phẩm Notre Dames Les Fleurs, Journal d’un voleur, Querelle, Miracle de la rose v.v… Jean Genet được ân xá, Jean Paul Sartre phong thánh cho Jean Genet, goi Jean Genet là một thiên tài văn nghệ. Jean Genet qua đời năm 1986.

Đây là lời Hoàng Trinh kể kịch Le Balcon:

– Kịch xẩy ra trong một nhà ăn chơi ở thủ đô một quốc gia Âu châu. Nhà ăn chơi này do một phụ nữ làm chủ. Khách chơi là bọn đàn ông giàu tiền có ẩn ức sinh lý, những anh muốn được làm đại tướng, chánh án, giáo chủ. Chị chủ nhà tổ chức những phiên tòa cho chánh án rởm xử, những trận đánh cho đại tướng rởm chỉ huy, những thánh lễ cho giáo chủ rởm hành lễ. Đêm ấy có cuộc nổi loạn nổ ra trong thủ đô.

Anh Tổng Giám đốc Cảnh sát là tình nhân của chị Chủ Chứa. Anh đến cho mọi người trong nhà biết với lực lượng cảnh sát anh có thể dẹp được đám nổi loạn nhưng phiền một nỗi là Nữ hoàng, Chủ tịch Quốc hội, Tổng Chưởng lý, Đại tướng, Giáo chủ v.v… nghe tiếng súng nổ và biết có loạn, đã bỏ thủ đô phú lỉnh ra nước ngoài hết. Anh Xếp Phú lít than thở: “Phải chi bây giờ có Nữ hoàng, Chủ tịch Quốc hội, Giáo chủ, Đại tướng v.v… xuất hiện trên ban-công Hoàng cung cho nhân dân thấy thì nhân dân bỏ bọn nổi loạn ngay.”

Chị Chủ Chứa nẩy ra sáng kiến:

– Khó gì? Ở đây mình có đủ triều đình văn võ bá quan. Mình có ông Đuy Quốc Tô đây là Đại tướng, ông mần vai đại tướng quen rồi, ông còn oai phong hơn cả đại tướng thứ thiệt. Mình có ông Đờ Cốc Si Cốc đây là Chủ tịt Quốc hội, có ông Lơ Poan vẫn mần Giáo chủ hành lễ trang trọng. Ông Pip Pơ Lô đây đóng vai Chánh án đẹp lão nhất thế giới. Còn em, em đóng vai Nữ hoàng? Được hông? Ai cũng nói trông em giống Nữ hoàng lắm. Người ta còn khen em đẹp hơn, tình hơn Nữ hoàng năm, bẩy thành…

Và thế là – xin bạn đọc nhớ đây là lời kể của kép Hoàng Trinh ở Nhà Hát Thành Hồ tháng Bẩy năm 1976 – kế hoạch diệt đảo chính được chấp thuận. Triều đình Nhà Thổ đủ mặt Nữ hoàng, văn võ bá quan, lãnh đạo tôn giáo, quan chức tư pháp, lập pháp, tướng tá quân đội, cảnh sát đàng hoàng xuất hiện trên ban công lâu đài hoàng cung. Nhân dân, đứng dưới sân xa nhìn lên ban-công, thấy triều đình vẫn vững như chum vại bèn bỏ rơi đám nổi loạn, tan hàng trở về nhà. Cuộc nổi loạn bị dẹp thê thảm.

– Đây chỉ là chuyện kịch thôi – lời Hoàng Trinh – nhưng xin quý bạn nhớ rằng bọn văn sĩ tư sản đồi trụy đã khinh khi tất cả những giá trị của xã hội. Nữ hoàng của họ là chị chủ chứa, những nhà cầm quyền của họ là những tên đàn ông bệnh hoạn tâm-sinh lý. Không những bọn văn sĩ tư sản chỉ miệt thị những giá trị tư sản mà thôi, họ còn miệt thị cả nhân dân nữa. Nhân dân trong kịch Le Balcon được trình bày như một lớp người ngu đần chuyên bị đánh lừa và chỉ bị lợi dụng.

Lý luận gia Mác-xít ăn theo Hoàng Trinh nhận “nhân dân” thuộc phe anh, bọn văn sĩ tư sản đồi trụy phỉ báng những nhân vật lãnh đạo tư sản thì anh cho là đúng, là được, nhưng khi văn sĩ tư sản miệt thị “nhân dân” thì anh phẫn nộ. Anh hằn học:

– Jean Genet chửi cả “nhân dân”…

Tất cả những gì xấu xa trên cõi đời này đều của phe tư sản, tất cả những gì tốt đẹp trên cõi đời này đều của phe cộng sản. Thái độ nhận vơ lố bịch ấy của những người cộng sản – thường được gọi là “vơ vào” – đã làm họ bị kê tủ đứng vào miệng khi Liên Xô, thành trì xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ, phơi bầy những tội ác ghê rợn của cộng sản đối với loài người. Chuyện ấy ta chẳng cần phải nói nhiều hơn.

Chi tiết cần ghi lại về buổi nói chuyện của Hoàng Trinh là khi anh ta nói:

– Thưa quý bạn, Le Balcon kết thúc bằng câu nói của chị chủ nhà thổ. Khi cuộc nổi loạn đã bị dẹp, chị nói với cử tọa: “Kịch đến đây là hết. Trời sắp sáng. Mời quý vị trở về nhà. Xin quý vị nhớ cho rằng chẳng phải chỉ ở đây quý vị mới thấy kịch, mói đóng kịch. Ở bất cứ đâu cũng kịch mà thôi. Ở những nơi khác còn kịch cợm, còn giả dối hơn ở đây nữa“.

Hoàng Trinh vừa nói đến câu trên – “Ở đây kịch, ở đâu cũng kịch, kịch cả mà thôi” – thì khựng lại vì tiếng vỗ tay ồ ạt nổi lên.

Quý anh văn nghệ sĩ bộ môn Cải lương ngồi trên lầu Nhà hát vỗ tay trước. Bọn chúng tôi vỗ theo. Tôi – thú thực vẫn không coi trọng lắm quý anh cải lương – nhưng tôi thán phục quý anh quá cỡ thợ mộc khi tôi dự Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai cùng với quý anh và được thấy quý anh biểu diễn phản ứng tuyệt vời hai lần bằng những cái vỗ tay điệu nghệ thần sầu, quỷ khốc, nhân kinh, cán cộng ngẩn ngơ của quý anh.

Quý anh vỗ tay đây là vỗ tay hoan hô Jean Genet. Hổng phải quý anh vỗ tay hoan hô Kép Cộng Hoàng Trinh. Tất nhiên Jean Genet viết đã hay, quý anh xử dụng Jean Genet cũng tuyệt chiêu, bằng những tràng pháo tay ấy quý anh nói với bọn cán cộng:

– Đúng. Kịch cả mà thôi. Chúng tôi đến đây xem các anh đóng kịch. Chúng tôi cũng đóng kịch với các anh.

Nhưng quý anh nào là người đã nghĩ ra cách nói ấy đầu tiên? Quý anh bộ môn cải lương nào là người thứ nhất đã vỗ tay để cả nhà kịch chúng tôi bắt chước hôm ấy?

Trong Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị tháng Bẩy năm 1976, quý anh cải lương không chỉ phát biểu bằng cách vỗ tay một lần, các anh vỗ tay hai lần. Lần nào tôi cũng thán phục sự linh động, óc thông minh của quý anh.

Hai mươi mốt ngày học xong, ngày bế mạc cũng được tổ chức linh đình ở Nhà Hát Lớn. Mỗi tổ cử một đại diện lên phát biểu cảm tưởng sau khóa học. Ông Nguyễn Hữu Ba đại diện tổ Cổ Nhạc lên máy.

Tội nghiệp ông già Nguyễn Hữu Ba. Ông lên nói láp nháp vài câu là được rồi. Không ai, kể cả cán cộng, muốn ông nhiều lời. Ông nói dai quá. Đã nói dai, ông còn ngắc ngứ, vô duyên.

Khi ông nói:

– Đã bao nhiêu năm chúng ta ôm người đàn bà Phi Luật Tân và gọi bà ta bằng mẹ… Bi giờ đã đến lúc chúng ta trở về với bà mẹ Việt Nam đích thật của chúng ta…

Ý ông Nguyễn Hữu Ba muốn nói bao nhiêu năm nay bọn đàn địch Sè-goòng vẫn ôm cây đàn ghi-ta ét-ba-nhon mà coi đó là đàn của mình, nay nhờ Bác và Đảng cho sáng mắt, sáng lòng, hãy trở về với cây đàn cò…

Một lần nữa phải nói “Tội nghiệp..!” bọn đàn địch Sè-goòng có bao giờ nhận những cây đàn ghi-ta ét-ba-nhon, ha-uây-iên, vi-ô-lông là đàn Việt Nam đâu. Bọn đàn đúm cũng chẳng bao giờ ôm một người đàn bà Phi Luật Tân mà gọi là mẹ. Khi ông Nguyễn Hữu Ba nói đến bà mẹ Việt Nam bị các con yêu bỏ rơi, bỏ quên, bỏ xó, có vẻ xúc động ông ngừng lại.

Ông Ba vừa ngừng lại thì tiếng vỗ tay nổi lên từ trên lầu Nhà Hát. Một lần nữa, lại quý anh cải lương Se-goòng vỗ tay… đuổi. Ông Ba ngẩn người, ông chờ tiếng vỗ tay ngừng để tiếp tục nói. Nhưng những người vỗ tay không chịu ngừng. Ông Nguyễn Hữu Ba còn đứng đó, họ còn vỗ tay. Cuối cùng đương sự phải chịu nhận mình bị đuổi và cúi đầu đi xuống.

Quân tử Tầu có câu: “Quân tử trả thù mười năm chưa muộn”

Người viết bài này cảm khái thêm câu: “Tiểu nhân ca tụng hai mươi năm chưa muộn”

Tháng Bẩy năm 1976, tháng Mười năm 1995… Hai mươi mùa lá rụng đã rơi trên đường đời. Sáng nay bình yên ngồi viết ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, tức Thành Hoa, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi ca tụng quý anh nghệ sĩ cải lương Sài Gòn ta. Tôi thán phục hai lần vỗ tay tuyệt vời của quý anh tháng ấy, năm ấy.

Chúng ta đã thấy những trò, những cảnh ruồi bâu kiến đậu trong cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị chúng ta tham dự ở Sài Gòn. Nhiều anh em ta bắt buộc phải lên micro phát biểu đã tránh né, đã nói nhưng nói rất khéo như Ngọc Chánh, Bạch Tuyết. Ngọc Chánh, đại diện Tổ Tân Nhạc, chỉ nói mấy câu đại ý “Anh em biết nhạc nên tích cực tham gia hoạt động ngay trong phường, trong quận của mình, không nên đòi hỏi như ngày trước,” Bạch Tuyết mặc áo dài, trang điểm rất nhẹ, đại diện Tổ Cải Lương, lên ngâm một bài thơ của Chế Lan Viên. Họ Chế có mặt lúc đó, nghe Bạch Tuyết ngâm thơ của y, sướng tê trái tim. Nhiều anh chị em ta lên nhận mình “mắt mù, tai điếc, nay may mắn được Đảng cho sáng mắt sáng lòng” làm chúng ta tủi hổ. Nhưng thôi, chúng ta nên quên. Tết đến, ngày xuân, năm mới. Ở xứ người chúng ta nên vui vẻ, thương yêu nhau. Tôi không bới móc tội lỗi của người khác để tội lỗi của tôi không bị người khác bới móc.

Vở tuồng nhạt nhẽo màn chưa hạ
Vai kép tuồng kia vẫn diễu hoài

Thơ Thanh Nam, Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi, làm ở Sai Gòn năm 1970. Và đây là thơ Francis Quarles:

Respice Finem

My soul, sit thou a patient looker-on
Judge not the play before the play is done:
Her plot hath many changes; every day
Speaks a new scene, the last act crowns the play.

Ôi hồn ta… ngồi yên mà coi
Vở tuồng đời
Đừng phê phán trước khi tuồng hết
Còn bao nhiêu màn khóc, màn cười
Tuồng chưa hết làm sao ta biết
Mỗi ngày qua là một đổi dời
Chờ đến lúc coi xong màn kết
Mới biết tuồng hay dở mà thôi!

Thi sĩ khuyên ta ngồi yên mà coi. Nhưng làm sao ta ngồi yên mà coi được? Ta không phải là khán giả ngồi xem cái gọi là “vở tuồng đời”. Ta là một nhân vật trong vở tuồng ấy, ta bị quay cuồng, ta khóc, ta cười trên sân khấu Đời ấy.

Nếu nói được như chị chủ Le Balcon: “Kịch cả mà thôi. Giả hết“, chắc ta có thể thản nhiên sống trong vở tuồng đời. Khổ nỗi, đôi khi ta không thể đóng kịch, ta không giả dối được. Vì không đóng kịch được nên đôi khi ta bị roi đời quất hằn trên mặt.

Tôi hổ thẹn khi phải vác mặt mo đến dự cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn. Có hôm đứng xớ rớ trong hành lang Nhà Hát Lớn, thấy Lệ Thu đi đến, tôi không dám để nàng nhìn thấy mặt. Lẽ ra tôi phải hỏi thăm Lệ Thu về Hồng Dương, bạn tôi đang ở trong tù: “Ở đâu có biết không? Sức khỏe ra sao? Gửi đồ tiếp tế thế nào? Có tin gì gửi ra không? Có được gặp mặt không?… v…v…” Nhưng thay vì hỏi Lệ Thu những câu ấy, tôi xấu hổ nên quay mặt đi hướng khác.

Ngày bế mạc khóa học được tổ chức ở Nhà Hát Lớn, tôi là người được anh chị em Tổ Thi Văn bầu làm đại diện Tổ, sẽ lên nói cảm tưởng. Nhưng đến phút cuối cùng những người tổ chức không cho tôi lên nói, tôi bị bất ngờ và tôi cũng sợ nên tôi ngồi im. Nếu tôi không ngán sợ lúc ấy lẽ ra tôi phải đứng lên phản đối: “Tôi là đại diện Tổ. Anh chị em trong tổ cử tôi phát biểu, sao không cho tôi lên nói mà lại để người khác nói..?” Lẽ ra tôi phải làm như thế rồi bỏ ra về.

Tan hàng lúc 5 giờ chiều. Tôi u uất đến độ không muốn đạp xe về căn nhà tối của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, tôi đến nhà ông anh kết ngãi với tôi ở đường Ký Con để nói với ông vài câu, uống chạc của ông mấy ly rượu cho bớt sầu đời. Thấy tôi vào, ông hỏi:

– Làm cái gì mà mặt mũi cậu trông ghê như mặt tù cải tạo vậy?

Tôi rầu rĩ trả lời:

– Hôm nay tôi ngồi với một số người tự bốc cứt vứt lên mặt họ. Tôi không làm việc ấy nhưng vì tôi ngồi cạnh họ nên cứt văng sang mặt tôi.

Cuối Thế Kỷ 20, đầu Thế Kỷ 21, những anh Con Trai Bà Cả Đọi Giao Chỉ có cái hay là không cần kỳ cọc học chữ Hán các anh vẫn có thể hiểu được Thơ Đường. Như hai câu thơ của Đỗ Mục:

Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa..

Các anh biết ngay đó là “Những em gái chơi – trong bài thơ này là những em ca sĩ – không biết cái hận mất nước.. Đêm đêm vẫn hát bài Hậu Đình Hoa..” Cay cú thì thêm vào mấy tiếng: “..Hát cho bọn Bắc Cộng cướp nước nghe..”

Tôi đọc Dạ Bạc Tần Hoài những năm 1950. Năm xưa ấy tôi thấy Thơ Đỗ Mục Dạ Bạc Tần Hoài rằng hay thì thật là hay.. Nhưng không ngậm đắng, nuốt cay tí nào! Không cay đắng bởi vì từ năm đó – năm 1950, năm tôi mới lớn; không nhớ vào năm ấy tôi còn trinh tiết hay tôi đã mất trinh, thời gian qua nửa thế kỷ rồi, làm sao nhớ được – từ năm 1950 đến năm 1975 tuy tôi đã mất một nửa nước, tôi vẫn còn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa của tôi. Chỉ đến những đêm buồn khủng khiếp sau 1975, từ đó dài dài dài mãi cho đến bây giờ và không biết còn dài đến bao giờ, tôi mới biết cái nhục mất nước và tôi mới thấm Thơ Dạ Bạc Tần Hoài của Đỗ Mục.

Những em xướng ca, đời nào cũng vậy, thường chỉ hát phục vụ bọn đàn ông có quyền, có tiền. Nghề nghiệp của các em bắt buộc các em phải làm như thế. Các em phải phục vụ bọn đàn ông có quyền, có tiền để sống. Tôi chẳng trách gì cá em nhưng đău lòng trước việ các em làm thì tôi vẫn đau, kể chuyện đau lòng để lại cho người dời sau tôi vẫn phải kể.

Ta đã thấy Người Thơ tài hoa Nguyễn Du kể chuyện Nàng Cầm ở thành Thăng Long những năm 1800:

Long Thành giai nhân
Tính thị bất kỳ thanh
Độc thiện Nguyễn cầm
Cử thành chi nhân dĩ Cầm danh….

Người đẹp Thành Thăng Long. Họ tên không ai rõ. Riêng giỏi đàn cầm. Nên người toàn thành gọi tên là Cầm..

Đàn Cầm còn có tên là đàn Nguyệt, lại có tên là đàn Nguyễn, do Nguyễn Hàm, một vị trong Trúc Lâm Thất Hiền đời Tấn bên Tầu tạo ra. Thi sĩ Trữ Tình kể chàng nhìn thấy Nàng Nguyệt Cầm lần thứ nhất trong một dạ yến của các tướng lãnh Tây Sơn ở Thăng Long – Thi sĩ ta tuy không ở trong phe Tây Sơn chiến thắng, hơn thế nữa chàng còn ở trong phe Lê Trịnh chiến bại – chàng cũng có góp mặt ăn có, ăn theo những cuộc liên hoan của những người chiến thắng – chàng kể:

Tôi khi trẻ đã được thấy Nàng một lần Trong buổi yến tiệc bên Hồ Giám. Bấy giờ tuổi Nàng ba lần bẩy – Kỷ thì tam thất chính phương niên – tức Nàng hai mươi mốt tuổi đương xuân

Áo hồng ánh chiếu lên khuôn mặt hoa đào. Vẻ mặt Nàng mơ màng, dáng vẻ ngây ngất rất đẹp. Năm cung rộn rịp, biến hóa dưới những ngón tay nàng..

Tướng lãnh Tây Sơn trong tiệc đều nghiêng ngả. Họ đua nhau tặng thưởng tiền cho Nàng

Nhớ lại dạ tiệc ấy qua đã hai mươi năm. Tây Sơn thảm bại, tôi vào Nam. Long Thành không được thấy nữa..

Nay Tuyên Phủ Sứ vì tôi mở tiệc vui. Trong tiệc các nàng ca nữ đều trẻ đẹp. Duy ở phía cuối có một người tóc hoa râm. Mặt gầy gò, thần sắc khô héo, thân mình nhỏ bé. Đôi mày tàn tạ không trang điểm. Nào có ai biết đó là người chơi đàn hay nhất thành.

Nghe khúc nhạc cũ mà giọng điệu mới, tôi thầm rơi lệ. Tai lặng nghe mà lòng buồn thương. Nhớ lại hai mươi năm trước từng thấy Nàng… Thành quách đổi rời, việc người cũng khác. Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan hết. Chỉ còn sót lại người nữ nhạc công này

Chớp mắt trăm năm có là bao
Đau lòng việc cũ lệ thấm áo…
Tôi từ ngày vào Nam tóc trắng hết
Tất nhiên nhan sắc người đẹp phải suy tàn…

Khi tướng lãnh Tây Sơn làm chủ thành Thăng Long, Nguyệt Cầm đang thời xuân sắc, Chàng chưa có danh vọng gì, chắc năm ấy tuổi Chàng cũng ba lần bẩy bằng tuổi Nàng. Chàng được vào dự yến chắc là nhờ đi theo ông anh là đại thần của Nhà Tây Sơn, Chàng ngồi ở cuối tiệc. Hai mươi năm sau – 1813 – Chàng là Đại Sứ Trưởng Sứ Bộ An Nam sang triều cống Thiên Triều Mãn Thanh Ba Tầu; trên đường sang Thiên Quốc Tầu Phù, đi từ kinh đô Huế, Chàng và Sứ Bộ nghỉ lại thành Thăng Long, Tuyên Phủ Sứ đặc biệt mở dạ tiệc để khoản đãi Chàng. Đêm nay, vật đổi, sao dời, Chàng là thượng khách của dạ tiệc, Nàng là nữ nhạc công già, ngồi đàn ở cuối ban nhạc.

Kể lại chuyện xưa để thấy những người hành nghề ca xướng, đàn địch, đời xưa, đời nay, đời sau, đời nào cũng phải phục vụ bọn có quyền, bọn có tiền. Và do đó họ bị chê là:

Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng Hậu Đình hoa!

Biết vậy nhưng ta vẫn đắng cay khi ta sống ở Sài Gòn đau thương những ngày sau cuộc trời long, đất ngả nghiêng đen hơn mõm chó mực, ta nghe, ta thấy- ta bị, ta phải nghe, phải thấy – những em thương nữ ca hát nâng bi bọn Bắc Việt Cộng nón cối, giép râu, răng cải mả, lính cái tóc bím, tức tóc kết đuôi sam, đít to hơn cái thúng, kéo vào làm chủ Sài Gòn Thủ Đô của ta. Ta cay đắng và ta cay cú. Không cay cú làm sao được. Ta cay cú vì ta là người. Thần kinh ta rã rời, trái tim ta nát ngấu như trái sa-bô-chê bị xay trong bình quay sinh tố khi trong ngày bế mạc cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị II cho Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn Kẹt Giỏ ở Nhà Hát Lớn Sài Gòn thất thủ của ta – Tháng Bẩy 1976 – trong buổi chiều đại biểu các Tổ học tập lên diễn đàn phát biểu ý kiến, tâm hồn ta như cái ruột xe đạp sì hơi, rách còn hơn cái mền Sakymen – Sài Gòn Kỹ Nghệ Mền Len, Xưởng Máy ở chân cầu Bình Triệu – khi ta ngồi chết dí ở đấy nghe em thương nữ nói thao thao như mây bay, như suối chẩy:

– Cách mạng mới vào, em cũng sợ lắm. Em từng được nghe nhiều chuyện không hay về cách mạng. Những ngày đầu em cũng hoang mang. May mắn em được chị Kim Cương dẫn dắt. Em đi hát và trong một lần trình diễn em thấy cử tọa nghiêm túc nghe em hát, tán thưởng, cổ võ đúng lúc. Em nghĩ đây mới thật là chỗ đứng của người nghệ sĩ. Em phấn khởi nghĩ:” Đây mới thực là chỗ đứng của mình..”

Không biết đó là những lời tự em nghĩ ra hay em được ai mớm? Hai mươi nhăm năm xưa khi nghe em nói những câu đó tôi đã thắc mắc như thế, hôm nay viết lại chuyện xưa tôi vẫn còn nguyên thắc mắc ấy. Nếu em nghĩ ra thì tôi phải phục em vì tài nghệ nâng bi của em, nếu đó là lời người khác mớm cho em thì tôi cũng phải phục em vì em nhớ, em nói không vấp váp. Em nói em hát cho bọn ViXi nghe và em thấy việc ấy là đúng, là việc em nên làm, em nói bọn ViXi mới xứng đáng là những kẻ được nghe em hát, chỉ có bọn ViXi mới kính trọng con người nghệ sĩ của em, tôn trọng tài năng của em; em nói “chỗ đứng” – đây là chỗ em đứng em hát – “chỗ đứng” của em là chỗ trước mặt bọn ViXi.. Nhưng rồi ngay sau đó em bỏ chỗ đứng của em, em đi một đường vượt biên.. Hai mươi mùa sầu riêng trổ gai sau ở Hoa Kỳ tôi nhìn thấy em trên băng video. Anh cò mồi của em hỏi em tại sao em hát hay thế, em trả lời em “hát bằng trái tim.” Tôi thắc mắc không biết những năm 76, 77 ở Sài Gòn em hát cho bọn ViXi nghe bằng cái gì?

Ngoài việc nâng bi ViXi trong lần phát biểu cảm tưởng – Cán Cộng gọi là “thu hoạch” – ngày bế mạc khóa Bồi Dưỡng Chính Trị chiều xưa ấy em còn phăng phăng kể cho bọn ViXi nghe chuyện Tổng Thẹo mê em, Tổng Thẹo cứ nhẩy với một mình em trong Đêm Liên Hoan Kỷ Niệm Ngày Thành Lập Sư Đoàn 9 Bộ Binh, em kể em nói với Tổng Thẹo: “Ở đây có nhiều cô.. Tổng Thống nhẩy với cô khác đi, bài nào Tổng Thống cũng nhẩy với em người ta thấy kỳ quá.. Ông ấy nói: ” ..Cái đinh đã đóng vào cột rồi, đâu có dễ gì nhổ ra..” Chiều xưa khi nghe em kể chuyên Tổng Thẹo đa tình ôm nữ ca sĩ đi một đường Tango lả lướt, đang buồn thúi ruột tôi cũng phải nhếch mép cười như mếu vì câu nói văn huê của Tổng Thẹo: “Cái đinh đóng cột..”, và lúc đó tôi nghĩ: ” … Người ta đang nhắc đến hắn, không biết giờ này ở bên Mỹ hắn có bị ù tai, hắt sì hơi không..!”

Thời loạn, nhất là trong những quốc gia bị xâm lăng, bị thôn tính, bị tiêu diệt, chẳng cứ gì đám thương nữ mới bất tri vong quốc hận, bọn văn nhân vô hạnh cũng có nhiều tên tự nguyện nâng bi bọn chiến thắng. Trong buổi bế mạc cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị cho Văn Nghệ Sĩ ở Thành Hồ Tháng Bẩy 1976 ta thấy – ngoài em ca sĩ Cái Đinh Đóng Cột – có anh nhà dzăng lên xưng tội, thành khẩn “cám ơn Bác và Đảng đã cho anh được sáng mắt, sáng lòng” – anh này, ngay sau khi cám ơn Bác và Đảng, cũng ù té một đường vượt biên đi mất hút – có anh ca sĩ lên phát biểu, nói gì không nói, kể chuyện ma tịt:

– Chị Phen Hường Tỏi có cái xe Mátđa thì chị Phen Hường Riềng cũng phải có cái Đátsun. Những nữ ca sĩ Sài Gòn muốn nổi tiếng phải đi qua cái giường..

Chiều ấy nghe anh Ca Sĩ Cà Chớn nói, tôi ngơ ngác: “Tại sao lại có thể mở miệng nói như thế trước bọn Việt Cộng? Chúng nó có đòi mình phải nói như thế đâu? Tại sao mình lại tự bôi bẩn lên mặt mình một cách ngu xuẩn quá như thế?” Loại xướng ca này hát cho Lính chỉ làm cho Lính xấu hổ.

***

Cám ơn quí vị đã đọc bài viết của tôi đến giòng này.

Trong cái gọi là buổi học cuối cùng của Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị II, tôi được anh chị em trong Tổ Thơ Văn bầu làm đại diện để phát biểu trong lễ bế mạc. Vũ Hạnh, người điều khiển các buổi họp tổ, yêu cầu bầu một đại diện dự khuyết, ông Nguyễn Mộng Giác được bầu.

Tổ Thơ Văn có Phan Nghị, Nguyễn Đình Toàn, Cao Nguyên Lang, Lê Minh Ngọc, Thi sĩ Hoa Thề, bà Mộng Tuyết, chị Kiều Oanh, em Nguyễn Thị Minh Ngọc ..vv.. và ông Nguyễn Mộng Giác. Trong một buổi họp tổ ông Nguyễn Mộng Giác nói về Kim Dung. Tôi ngồi đó mà chẳng nghe gì cả, hồn trí để ở đâu đâu. Ông NM Giác nói xong, đến phần anh em góp ý, thấy Cao Nguyên Lang nói có vẻ gay gắt, khi tan về, tôi hỏi Cao Nguyên Lang:

– Sao ông có vẻ có ác cảm với hắn thế? Hắn nói gì thì nói, mặc hắn.. Anh em cả..

Cao Nguyên Lang hậm hực:

– Trước kia nó viết trong số những độc giả của Kim Dung có những người từng đi kháng chiến nhưng thất vọng với kháng chiến nên bỏ về thành, nay nó nói những người đó là bọn phản bội kháng chiến. Mình không nói làm sao được.

Khi được bầu làm đại diện Tổ tôi nghĩ đến chuyện tôi phải nói sao trước bọn cộng sản và trước anh em. Tất nhiên là tôi không thể nào nói bướng, tôi cũng không thể mở miệng ca tụng cộng sản hay tự nhận mình bao nhiêu năm sống mắt mù, tai điếc nay nhờ Đảng mới được sáng mắt, sáng lòng. Anh em chúng tôi không bảo nhau nhưng suy bụng tôi ra bụng anh em, tôi chắc anh em tôi cũng như tôi, chúng tôi cùng nghĩ “bị bắt buộc phải nói thì nói làm sao cho đỡ nhục, cùng lắm thì nói gì cũng được nhưng đừng nói mình sáng mắt, sáng lòng. Nói mấy tiếng đó nhục lắm.” Tôi viết những lời tôi nói ra một trang giấy, định sẵn nếu bọn Vũ Hạnh có hỏi tôi định nói gì tôi sẽ đưa bản đó ra cho chúng xem, nhưng khi nói được nửa chừng tôi sẽ nói vài câu không có trong bản viết.

Nhưng không thấy bọn trong cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng hỏi gì đến tôi cả. Trước giờ các đại diện Tổ phát biểu, Ngọc Thứ Lang hỏi tôi:

– Mày có lên nói không?

Tôi trả lời:

– Tao không biết.

Tôi muốn nói “Tao không biết chúng nó có cho tao lên nói không” nhưng tôi nghẹn họng, tôi chỉ nói được có ba tiếng “Tao không biết!”

Thế rồi đại biểu Tổ Một Thơ Văn lên phát biểu đầu tiên, người lên phát biểu là ông Nguyễn Mộng Giác.

Khi ấy nếu tôi không hèn, không nhát, tôi phải, tôi có quyền, đứng lên, cao giọng nói: “Tôi phản đối. Tôi là đại biểu Tổ Một, sao không cho tôi lên phát biểu..?” Nhưng vì hèn nhát, tôi bị xị ngồi đó. Tôi đành tự an ủi với ý nghĩ tôi hèn nhưng bọn Hội Văn Nghệ Giải Phóng còn hèn hơn tôi, chúng không dám, chúng không muốn để tôi nói nhưng chúng không dám nói thẳng với tôi: “Người trong tổ bầu anh nhưng chúng tôi không cho anh nói..” Chúng có thể nói với tôi câu đó và tôi đành chịu nhưng chúng đã không dám nói. Có lẽ chúng cũng còn đôi chút hổ thẹn chăng! Chúng chọn ông đại diện dự khuyết lên nói, chúng nghĩ tôi sẽ ngồi im không có phản ứng gì; chúng nghĩ đúng, tôi đã ngồi im đúng như chúng nghĩ. Chiều hôm ấy tôi mà không hèn, tôi đứng lên thì cả cái công trình 21 ngày học tập chính trị của chúng tiêu ra nước đái, bọn Hội Văn Nghệ Giải Phóng Sài Gòn sẽ bị Tố Hữu nó sát sà bông Tầu mặt thằng nào thằng ấy méo hơn cái bị rách.

Bốn, năm tháng sau ngày 30 Tháng Tư 1975 dân Sè Goòng kể cho nhau nghe chuyện:

Có người trông thấy nhạc sĩ Văn Vĩ trên xe đạp chạy veo veo trên đường Bàn Cờ, bèn níu lại hỏi:

– Kìa..! Phải ông là ông Văn Vĩ không? Ông sáng mắt bao giờ thế?

Nhạc sĩ Văn Vĩ trả lời:

– Đảng vào Sài Gòn, mắt tôi sáng ra!

Ông Đại Diện Dự Khuyết Tổ Thơ Văn Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị II, ông nhà Văn Nguyễn Mộng Giác, buổi chiều trời mưa lạnh ở Sài Gòn Tháng Bẩy năm 1976, nói trước 500 người trong Nhà Hát Lớn:

– Cám ơn Đảng đã cho tôi được sáng mắt, sáng lòng!

Một lời nói, một đọi máu! Ba mươi năm rồi tôi vẫn nhớ từng lời từng người trong buổi chiều xưa ấy ở Nhà Hát Lớn. Và vì đã nghe ông Nguyễn Mộng Giác nói nhờ Đảng ông được sáng mắt, sáng lòng từ năm 1976 nên tôi không ngạc nhiên khi, trong năm 2004, tôi thấy ông công khai nhận ông là “bạn” của cán Cộng.

Advertisements

5 Responses

  1. Kinh Bac HoangHaiThuy,

    Em doc cau chuyen Bac ke ve ong NguyenMongGiac, nguoi da duoc “sang mat sang long” since 1976, em lai ‘ngua mieng’.

    Em vuot bien nam 1982. Sang toi dao Galang, NamDuong. Em biet NV NMGiac la thuyen nhan ti nan cong san, ong ta lam viec o toa soan to bao cua cha Dominici tren dao Galang. Em sang My 4/1983, ong Giac di My truoc em vai thang.

    Em thac mac, ong Giac da duoc cong san “mo~ mat, mo~ long” roi ma since 1976 (cu nhu la mot thuong hieu co cau chung tu nam 1976) ….sao van~ con khai “sao.” la ti nan cong san de di theo de quoc MY?……Dung mot cai…….bay gio ong Giac lai duoc “sang mat” tro lai…..

    Bac oi, em bi chong mat ve chuyen ong nha van NguyenMongGiac….”1 mat nham, 1 mat mo~” nay qua doi….

    Ko biet con bao nhieu ong nha van dung cam, ‘sang long, toi long’ nay nua o the gian nay……Thay doi lam ng ta chong mat.

    Em

  2. co van si viet van theo kieu nghi gi viet nay nhu “chon lui” “c..l..” v v . con co nhung van si ho chon cach viet nguoc lai , van tuc la nguoi ma . “sang mat , sang long “co nghia nho cs toi ma sang mat ra va bao tu cung sang ra , tai sao khong hieu ong NMG noi bong noi gio ma chup mu nguoi ta .

  3. Lâu lâu, đọc lại các bài viết xưa của Công Tử, thấy vẫn khoái quá !
    Tôi cảm ơn ông Công Tử.

  4. Thưa ông Công Tử Hà Đông có thế còn nhớ Tống Thống Thiệu chính xác dự dạ tiệc thành lập Sư Đoàn 9 BB năm nào không ạ? Tôi ở SD9 nhưng chưa hề nghe chuyện đó. Hay là cô ca sĩ kia chỉ phịa ra mà thôi!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: