• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

CHIÊU NIỆM: Nói Có Sách

vuhoangchuong.jpg 

CHIÊU NIỆM VĂN CHƯƠNG. Vũ Hoàng Chương Lịch Sử Thơ. Tác giả Viên Linh. Nhà Xuất Bản Khởi Hành ấn hành năm 2000. Trang 56-57. Trích:

Vũ Hoàng Chương từ lúc khai bút đến khi gác bút, là hiển lộng duy nhất của Thơ Mới, vượt tất cả những tài năng của Thơ Mới, cả Bắc lẫn Nam, khai triển thêm các kích thước khác, trở thành thi bá của thế kỷ XX của Việt Nam. Những gì Hoài Thanh Hoài Chân viết về Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư trong THI NHÂN VIỆT NAM, xuất bản năm 1941, xét ra không cần viết thêm nữa. Những người đó đã lên tới đỉnh từ trước đó. Từ đó về sau, họ không hay hơn, nếu không nói là ngược lại.

Vũ Hoàng Chương không như vậy. Ông cũng đã lên tới đỉnh, như mấy người kia, với THƠ SAY, như Hoài Thanh viết trong cùng một cuốn sách. Từ đỉnh ấy, ngay từ Hà Nội năm 1954, ông xuất bản Rừng Phong là một đỉnh khác. Thế rồi “con chim bằng cất cánh bay về Nam Minh”, Vũ Hoàng Chương lên cao bằng một đỉnh khác: NHỊ THẬP BÁT TÚ. Thơ ông trong hai thập niên ’60, ’70 trở thành ngọc trác kim khôi về phương diện nghệ thuật. Ông bỏ xa những người đồng thời ở phương Bắc, đang cục mịch đi vào chủ nghĩa hiện thực, lại là hiện thực tô hồng, hiện thực phê phán. Vũ Hoàng chương đi vào ngôn ngữ. Đi vào Thiền. Vũ Hoàng Chương ca ngợi khoa học, bay vào không gian vị lai…

Trên đây là một trong những lời viết về Thi sĩ VŨ HOÀNG CHƯƠNG của tác giả Viên Linh trong quyển CHIÊU NIỆM VĂN CHƯƠNG, 200 trang, bìa đen, giấy vàng, trình bày đẹp. Cầm quyển sách tôi nghĩ chắc là không có một lỗi chính tả nào trong quyển biên khảo văn học này.

Trước 1975, những trang sách báo Sài Gòn được anh em thợ sắp chữ, văn huê là ấn công, sắp chữ bằng tay, qua nhiều lần sửa nhưng khi in ra thường vẫn có cả đống lỗi viết sai. Những ký giả xưa thường đổ lỗi chữ viết sai cho anh em sắp chữ và gọi đó là “phốt ti-pô”. Bây giờ đa số tác giả viết bằng computer, nếu bản văn có chữ viết sai, đó là lỗi tác giả, không còn đổ cho ai được.

Liêu lạc bi tiền sự.. Chi li tiếu thử thân.. Đêm Rừng Phong yên tĩnh, an ninh chăm phần chăm, phòng ấm, đèn vàng, đọc sách rồi tôi tỉ mẩn tìm những lỗi chính tả trong quyển sách mà tôi nghĩ là không có một lỗi. Tôi ngạc nhiên khi tìm thấy những lỗi này:

Chiêu Niệm Văn Chương trang 105, bài Túy Hậu Cuồng Ngâm:

Nhớ thưở xưa chưa có ta hề đường đi thênh thang
Kịp tới khi có ta hề chông gai mông mênh
Cuồng vọng cả mà thôi bốn phương hề vướng mắc
Ba mươi năm trên vai hề
Lều nát hề trơ vơ ngõ mưa lầm lội
Trăng lạnh đến mở hồn đêm hề le lói

Vũ Hoàng Chương Túy Hậu Cuồng Ngâm, trong quyển THƠ MỚI 1932-1945, Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn ấn hành ở Hà Nội năm 1999:

Nhớ thưở xưa chưa có ta hề đường đi thênh thênh
Kịp tới khi có ta hề chông gai mông mênh
Cuồng vọng cả mà thôi bốn phương hề vướng mắc
Ba mươi năm trên vai hề trống không bình sinh
Lều nát hề trơ vơ ngõ mưa lầm lội
Trăng lạnh, đèn mờ, hồn đơn hề le lói …

Sáu câu thơ Vũ Hoàng Chương được kể lại trong CHIÊU NIỆM VĂN CHƯƠNG có ba lỗi, ba lỗi không phải nho nhỏ mà là to tổ bố: “đường đi thênh thênh” viết sai là “đường đi thênh thang”, câu “ba mươi năm trên vai hề..” thiếu “trống không bình sinh”. Nặng và khó hiểu nhất là câu “Trăng lạnh, đèn mờ, hồn đơn hề le lói..” Chiêu Niệm Văn Chương — CNVC — để là “Trăng lạnh đến mở hồn đơn hề le lói“. Từ “đèn mờ” sang “đến mở” cách nhau quá xa. Sao lại có thể sai đến như thế trong một quyển sách gọi là “biên khảo văn học?”

Túy Hậu Cuồng Ngâm, đoạn dưới, CNVC viết:

Mây hồng tìm phương tây hề tà huy thoi thóp
Thôi hết mùa tươi
Hết thôi chờ đợi

Túy Hậu Cuồng Ngâm, THƠ MỚI, Nhà XB Hội Nhà Văn:

Mây hồng tím phương tây hề tà huy thoi thóp
Đời sắp tàn chăng hề bấc lu dầu hao
Ngõ hẹp giường tre giấc mơ hề chới với
Thôi hết mùa tươi
Hết thôi chờ đợi …

CNVC Trang 117:

Hôn nhòe cặp má hoa bên cửa
Ghi hẫng đôi tay nguyệt trước giường

Khỏi cần nêu sách vở, đây là lỗi tác giả không đọc lại cẩn thận bản văn trước khi in, em nhỏ lên ba cũng biết câu ấy là:

Ghì hẫng đôi tay nguyệt trước giường

CNVC Trang 148:

Nam mô Đức Phật Di Đà
Sông Hãng kia bởi đâu mà cát bay?

Cũng chỉ là lỗi tác giả không xem lại cẩn thận. Sông Hằng nhằng ra sông Hãng! Đức Phật Di Đà có đọc chắc cũng biết đó là lỗi ở người viết sách, không đến nỗi ngơ ngẩn không biết sông Hãng ở đâu. May mà không lộn ra sông Háng.

CNVC Trang 161:

Mạn phi thuyền cháy lên rừng rực
Ta gõ mà ca : thiên nhật phương

CNVC Trang 171:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không du Hoàng Hạc Lâu..

Thiên nhật phương” khác với “Thiên nhất phương“, “không du” khác với “không dư”. Một lần nữa phải nói em nhỏ lên ba cũng biết phải là “thiên nhất phương” và “không dư“. Sao dzậy? Ông Viên Linh? Ông vẫn nổi tiếng là làm sách kỹ lắm mà?

Lỗi chính tả, dù là lỗi nhỏ, cũng không nên có trên những trang sách báo Việt tầm thường, huống chi CNVC lại là sách biên khảo văn học, loại sách cần được viết kỹ nhất, đúng nhất, không có lỗi nhất. Trên đây là một số những lỗi sơ xuất về chữ tôi thấy trong CNVC, nay sang phần nhận xét và ý kiến của tôi về một số những sự kiện trong CNVC.

Chiêu Niệm Văn Chương. Sách đã dẫn. Trang 49:

..Trước khi bị bắt, trong Lễ Phật Đản 1976, ông đứng ở giảng đường Vạn Hạnh ngâm sang sảng bài Lửa Từ Bi. Sáng ngày 23 Tháng Tư, khoảng 20 tên công an đã xầm xập xông vào Gác Bút ở phường Cây Bàng bắt ông. Nếu đêm hôm trước ông không ngâm bài thơ ấy, những người cộng sản hôm sau đã không phải biểu dương võ lực đến như vậy.

Ta không nên vẽ thêm ra những tội ác để gán cho Việt Cộng, những tội ác họ làm đã không chỉ quá đủ mà còn là quá nhiều, quá thừa, ta lại càng không nên coi rẻ Việt Cộng. Viết rằng Thi bá Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa Vũ Hoàng Chương bị công an VC đến nhà bắt chỉ vì đêm trước Thi bá ngâm bài thơ Lưả Từ Bi ở giảng đường Vạn Hạnh là làm rẻ tội Việt Cộng đồng thời làm rẻ giá Thi bá. Viết như thế người đọc có thể hiểu: Nếu Thi bá VHC không ngâm bài thơ Lửa Từ Bi, Công An VC Thành Hồ đã không bắt ông đi tù, Công An VC bắt nhà thơ vì nhà thơ đã ngâm bài thơ Lửa Từ Bi nơi công chúng.

Không phải như thế. Tháng Ba, Tháng Tư năm 1975 Công An Việt Cộng Thành Hồ mở chiến dịch lớn bắt giam một số văn nghệ sĩ Quốc Gia VNCH. Chiến dịch này xẩy ra cùng thời gian bọn Cộng Sản Chóp Bu ở Hà xuống tay bóp mũi, chọc tiết cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Chính phủ Lâm Thời Miền Nam Việt Nam. Cộng sản Hà Nội lạnh lùng giết Mặt Trận GPMN trước ngày 30 Tháng Tư 1976, không cho những anh cà chớn trong Mặt Trận Tã Rách ấy có dịp kỷ niệm ngày mấy ảnh hí hửng kéo vào Sài Gòn theo chân bộ đội Bắc Việt Cộng. Công An VC không bắt giam văn nghệ sĩ Sài Gòn sớm hơn vì trong những tháng mới ngơ ngáo vào Sài Gòn — VC không ngờ họ vào được Sài Gòn dễ và nhanh đến như thế — họ có quá nhiều việc phải làm. Đúng 12 tháng sau họ mới làm cuộc khủng bố văn nghệ sĩ Sài Gòn.

Hai mươi mấy năm trời đã qua từ ngày ấy, bao nhiêu người đã viết về việc một số văn nghệ sĩ Sài Gòn bị Công An VC đến tận nhà còng tay bắt đi trong tháng Ba, tháng Tư năm 1976. Trong hai, ba đêm liền tháng ấy, năm ấy có tới 30 văn nghệ sĩ Sài Gòn bị Công An VC bắt đi, anh Vũ Hoàng Chương là một trong số văn nghệ sĩ Sài Gòn bị bắt ấy. Việc bắt văn nghệ sĩ Sai Gòn là một chiến dịch đàn áp, khủng bố, do bọn đầu xỏ Công An Thành Hồ lên kế hoạch, đặt phương án thực hiện với sự cho phép của những anh đầu xỏ Đảng ở Hà Nội. Anh Vũ Hoàng Chương không bị bắt chỉ vì “đêm trước đã ngâm bài thơ Lửa Từ Bi” ở một nơi nào đó. Lửa Từ Bi là bài thơ VHC làm về việc tự thiêu của Thượng tọa Thích Quảng Đức năm 1963. Không có gì chống cộng, chống càng trong bài thơ ấy.

Nếu đã biết con người của Thi bá, dù chỉ biết tí ti thôi, ta cũng thấy dù ta có muốn bốc thơm Thi bá đến mấy ta cũng không có thể vẽ ra cái cảnh trầm hùng Thi Bá “sang sảng ngâm thơ”. Thi bá đong thóc, Thi bá hít tô phê, giọng Thi bá khàn khàn, hơi sức Thi bá rất yếu, không bao giờ, kể cả ba mươi năm trước năm 1975, Thi bá sang sảng ngâm thơ cả. Trước ngày 30 Tháng Tư 75 sức khỏe của Thi bá đã yếu lắm, Thi bá đã nói gần như không ra tiếng. Lại phải sống ở giữa lòng Sài Gòn đầy cờ đỏ, nón cối, giép râu cả năm trời, có khỏe như Hạng Vũ cũng nhão như bún thiu, nát như cơm vữa, cũng không thể sang sảng ngâm thơ được, đừng nói gì đến người mình hạc, xương mai gió thổi bay như Thi bá. Nếu nói Thi bá bị Công An VC bắt vì “tội ngâm bài thơ Lửa Từ Bi nơi đông người” thì cùng trong mấy đêm ấy các ông văn nghệ sĩ Nguyễn Mạnh Côn, Trần Việt Sơn, Doãn Quốc Sĩ, Mặc Thu có ngâm ngợi gì đâu mà cũng bị Công An VC đến tận nhà tó đi tù mút mùa Lệ Thủy! Ta yêu quí anh Vũ Hoàng Chương, tưởng ta không nên hạ giá trị anh như thế chứ.

CHIÊU NIỆM VĂN CHƯƠNG. Trang 62. Trích:

Sau 1975, lạc loài ở Hải Ngoại, dân di tản đã phục Vũ Hoàng Chương:

Lũ chúng ta lạc loài dăm bẩy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh
Bể vô tận xá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh

(Vũ Hoàng Chương, Phương Xa)

Tác giả CNVC muốn nói gì trong đoạn này? Phải chăng là muốn nói dân Việt bỏ nước mình ra sống ở nước người cảm thấy mình bị quê hương mình ruồng bỏ, mình bị giống nòi mình khinh bỉ? Không biết có ai, hay có nhiều người Việt cảm thấy thế không? Tôi không thấy như thế. Quê hương tôi không ruồng bỏ tôi bao giờ cả, quê hương tôi bị xâm chiếm, quê hương tôi bị đày đọa, tôi không thể sống được trong quê hương tôi, tôi phải bỏ quê hương tôi tôi đi, tôi đi nhưng quê hương tôi vẫn thương xót tôi, quê hương tôi không vì việc tôi bỏ đi mà ruồng bỏ tôi, giống nòi tôi không bao giờ khinh bỉ tôi cả. Giống nòi tôi yêu thương tôi, tôi đã không phản bội giống nòi tôi. Tôi nghĩ mấy câu thơ ấy là tâm sự của mấy lãng tử ăn chơi những năm 1930, không ăn nhậu gì đến những nguời Việt vong quốc, tha hương sau 1975.

Chiêu Niệm Văn Chương. Trang 62. Trích:

Ở trong nước, như sau này Mai Thảo cho biết, anh em và đồng bào, cũng đọc “sấm ký Vũ Hoàng Chương”:

Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Một đôi người u uất nỗi trơ vơ.

Cũng chỉ là tâm trạng của mấy ông văn nghệ sĩ ăn chơi những năm thanh bình vô sự 1930-1940. Nhưng bỏ qua chuyện mấy ông kêu rêu mấy ông đầu thai lầm thế kỷ — mấy ông loại này dù có muôn kiếp đầu thai cũng không lần nào đầu thai đúng thế kỷ — tôi chỉ nói đến chuyện sống ở Sài Gòn hai mươi mùa lá rụng kể từ ngày 30 Tháng Tư 75 không bao giờ tôi cảm thấy tôi trơ vơ cả, tôi u uất thì có nhưng tôi trơ vơ thì không. Tôi u uất vì tôi thương thân tôi, thương vợ con tôi, thương đồng bào tôi sống khổ cực dưới ách cộng sản, thương những người đã chết vô ích, thương đất nước tôi rách nát, nhưng tôi không cô đơn. Tôi có cả hai mươi triệu đồng bào tôi cũng có tâm trạng như tôi, cũng đau khổ, cũng u uất như tôi. Chúng tôi không phải là đôi người mà là hai mươi triệu người.

CNVC, Trang 197. Trích:

1975. Dời từ đường Phan Đình Phùng về Khánh Hội, ở chung với bà Đinh Hùng.

Như vậy là CNVC ghi: Sau khi Bắc Việt Cộng vào Sài Gòn, ông bà Vũ Hoàng Chưng ra khỏi căn nhà ông bà vẫn ở ở đường Phan Đình Phùng, về sống chung nhà với bà Quả phụ Đinh Hùng ở Khánh Hội. Nhưng mà cả nước biết rằng năm 1972 ông bà Vũ Hoàng Chương đã không còn ở căn nhà đường Phan Đình Phùng nữa; năm 1972 ông bà được bà Mộng Tuyết — nghe nói bà Mộng Tuyết là vợ không chính thức của ông Thi sĩ Đông Hồ — long trọng mời về ở trong vi-la của bà Mộng Tuyết ở khu Lăng Cha Cả. Vi-la này nguyên của ông Đông Hồ, ông mất , bà Mộng Tuyết thừa hưởng. Bà Mộng Tuyết dành nguyên tầng lầu trong vi-la để ông bà VHC ở. Sau ngày 30 Tháng Tư 75, quốc gia VNCH sụp đổ, Thi bá Vũ Hoàng Chương bị coi như một tội nhân của chế độ cộng sản, bà Mộng Tuyết trở mặt, đưổi ông bà Thi bá ra khỏi vi-la không chút nể nang, xót thương. Bà Mộng Tuyết muốn được vinh hạnh tiếp đãi tại gia những người Hà Nội như Huy Cận, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu.., bà sợ những nhân vật ấy sẽ không chịu đến nhà bà nếu họ biết nhà bà có Thi bá VNCH Vũ Hoàng Chương. Trong một sớm, một chiều ông bà Vũ Hoàng Chương phải dắt nhau ra khỏi vi-la. Gần như không văn nghệ sĩ Sài Gòn nào quen biết Thi bá Vũ Hoàng Chương, dù quen sơ, sống ở Sài Gòn những năm sau ngày 30 Tháng Tư 75 lại không biết chuyện ông bà Vũ Hoàng Chương bị bà Mộng Tuyết đuổi ra khỏi nhà. Chuyện bà Mộng Tuyết đuổi nhà ông bà Vũ Hoàng Chương được Hoàng Hương Trang kể lại rõ và kỹ trong một bài viết được đăng trên nhiều tờ báo Việt hải ngoại. Rất nhiều người Việt ở hải ngoại biết chuyện ấy.

CNVC đăng một bài của Vũ Hoàng Chương viết năm 1959, bài “Sao Lại Thế Được“. Thi bá viết bài này khi được tin ông Phan Khôi bị Cộng Sản Hà Nội đàn áp, khủng bố, mạ lỵ trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm.

Trích: SAO LẠI THẾ ĐƯỢC

Nhân dịp nhà văn lão thành Phan Khôi bị Cộng sản đàn áp. Và để góp phần vào cho lý tưởng Tự Do. V.H.C.
Cách đây 20 năm, ngay khi bước vào làng văn để nhận lấy cái nghiệp dĩ của những người cầm bút, tôi đã nghe đại danh ông Tú Phan Khôi, như sấm rậy vang tai. Nhưng phải đến năm Bính Tuất (1946) tôi mới có dịp cùng tiên sinh hạnh ngộ.

Mùa thu năm 1946, chiến tranh Việt Pháp chưa xẩy ra trên toàn quốc — theo như đoạn viết trên đây của VHC — ông Phan Khôi đã ở Hà Nội. VHC đang ở Nam Định lên Hà Nội chơi, Nguyễn Tuân đưa VHC đến gặp Phan Khôi. Phan Khôi theo VHC về Nam Định.

Trích Sao Lại Thế Được:

Một già, một trẻ, thẳng đường vềø bến Vị, non Côi… Trong căn gác xép ở bờ sông, dài như cái ống, tối như “hũ xuân thu”, tôi đã tiếp chuyện Phan tiên sinh hai ngày tròn với hai đêm trắng toàn chuyện văn chương cả, mà quái thay, dứt không ra nữa thôi! (…)

..Suốt hai ngày đêm, trong cái dài dằng dặc và cái tối mò mò của “Gác Ống” phố Bờ sông, Phan Khôi đã cao đàm hùng biện, hứng khởi thao thao, giọng sắc bén như chém đinh, chặt sắt. Ông căm thù bạo lực, ông phản kháng độc tài, ông lên án mọi hình thức giả hiệu. Ông có thừa phong độ cốt cách của một nho sĩ ngang tàng bất khuất, cộng thêm vào cái kiến thức sâu rộng của một tay lịch lãm giang hồ. (…)

Sau đó ít lâu, khói lửa bùng lên từ Hải Phòng, từ Hà Nội… và lan tràn khắp các thị trấn trung châu. Tôi vâng lệnh huyên đường tạm rời về miền duyên hải. Ngày dài đằng đẵng, hết xuân rồi lại thu… Lòng nhớ bè bạn làng văn như thiêu, như đốt. Bỗng một hôm, tôi nhận được từ Thái Nguyên gửi về không phải một lá thắm buông theo giòng nước biếc, nhưng một lá thư trao theo kiểu chim xanh… Nghĩa là do cac trạm thông tin liên lạc của “Mặt Trận” chuyển đi, qua tay hàng trăm chú nhi đồng trên suốt ba ngàn dịch lộ.

Ngoài phong bì, chỉ có hai dòng: Vũ Hoàng Chương, Nam Định. Và bên trong vẻn vẹn một bài luật thi với chữ ký: Phan Khôi.(…)

Ngừng tim lặng óc bặt giòng tình
Tai mắt như không phải của mình
Thấy dưới ánh trăng muôn khúc nhạc
Nghe trong tiếng ếch một mầu xanh
Suối tiên đắm đuối bao cho chán
Khối mộng vờn mơn mãi chẳng thành
Thứ ấy từ lâu không có nữa
Ngủ say thức tỉnh dậy buồn tênh.

Bài thơ trên được lưu truyền khá rộng. Theo tôi, thơ cũng không xuất sắc gì cho lắm, nó được nhiều người để ý vì nó là thơ ông Phan Khôi. Bài thơ được lưu hành có một chữ khác với bài thơ anh VH Chương nói là ông Phan Khôi gửi riêng cho anh:

Bài thơ theo VHC:

Thứ ấy từ lâu không có nữa…

Bài thơ của Phan Khôi nhiều người có:

Thú ấy từ lâu không có nữa..

Thứ” và “thú” chỉ khác nhau tí síu nhưng ý nghĩa khác nhau xa. Có người bình loạn bài thơ trên nói rằng cái “thú ấy” trong thơ Phan Khôi là cái thú “nằm với đàn bà”, nhà thơ than lâu rồi ông không có cái thú dâm đàn bà nữa. Tôi không nghĩ ông Phan Khôi lại than như thế, tôi nghĩ tiếng đó phải là “thú“, không phải là “thứ“, nhưng cái “thú” của nhà thơ Phan Khôi không phải là cái thú hành dâm với đàn bà.

Ông Phan Khôi đong thóc, tức ông hít tô phê, lại tức ông hút thuốc phiện. Nếu bạn từng đọc bài tôi viết về ông Phan Khôi — Không Tìm Thấy Mộ — bạn đã biết ông Phan Khôi đong thóc qua lời kể của bà con gái ông. Thi bá Vũ Hoàng Chương đong thóc. Khi hai đệ tử của Cô Ba gặp nhau việc phải xẩy ra là họ đưa nhau về điện thờ Cô Ba, nôm na là về bên bàn đọi, tức bàn đèn. Ông Phan Khôi về Nam Định với ông VH Chương. Cái Gác Ống dài như cái ống, tối như hũ nút ông VHC tả đó là tiệm hút thuốc phiện và chỉ có thể là tiệm hút thuốc phiện. Trong cái tiệm hút đó ông VH Chương và ông Phan Khôi đã nói chuyện với nhau hai ngày tròn với hai đêm trắng.

Không ở đâu hai anh đàn ông có thể nằm ngồi với nhau được cả ngày, cả đêm, trừ ở tiệm hút thuốc phiện. Bên bàn đọi, khi đã đủ thuốc, nhiều tiên ông nằm phi, lơ mơ đi mây, về gió, nhiều tiên ông nói như súng đại liên nổ, chuyện quanh bàn đèn không dai ngoách như chão rách mà nở ròn như gạo rang. Người ta bảo trong á phiện có cao xương khiếu nên hút vào nhiều ông hót như khiếu.

Trong bài thơ của ông Tú Khôi, cái “thú” ấy không phải là cái thú chơi đàn bà mà là thú đi mây, về gió, thú hít tô phê, thú phi yến thu lâm. Từ ngày lên Việt Bắc ông Tú Khôi không còn cái thú hít tô phê nữa. Rất có thể bài thơ ấy được ông Tú Khôi làm để gửi riêng cho Thi sĩ Vũ Hoàng Chương.

Thời Pháp thuộc, anh đàn ông Việt có quyền hút thuốc phiện, có quyền nhẩy đầm, có quyền có vợ bé, ở Sài Gòn anh đàn ông còn có quyền đánh bạc. Khi được độc lập anh đàn ông Việt mất quyền có vợ bé, nhẩy đầm, hút thuốc phiện. Nói cách khác khi được độc lập, tự do, anh đàn ông Việt bị cấm không được có vợ bé, không được nhẩy đầm, không được đánh bạc, không được hút thuốc phiện.

Sau năm 1956 pháp luật Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa trừng trị rất nặng tội hút thuốc phiện. Hút thuốc phiện bị coi là trọng tội, người hút bị bắt, bị tống giam, ra tòa, có án, nằm Khám Lớn Chí Hòa, công chức hút bị bắt bị cho nghỉ ngang. Năm 1959 uy quyền của chính phủ Ngô Đình Diệm lên đến đỉnh cao nhất, khi Thi sĩ Vũ Hoàng Chương — năm ấy chưa là Thi bá — viết bài “Sao Lại Thế Được“, các đệ tử Phù Dung Tiên Nữ đang chịu cơn kiếp nạn ác dữ nhất kể từ ngày Tiên Nữ được rước vào đất nước Việt Nam gấm hoa, họ đang bị khủng bố sát ván, tả tơi. Sợ miệng tiếng, sợ dư luận, ông VH Chương đã không viết đúng sự thực, ông đã không viết ông Phan Khôi than với ông là lâu rồi ông không còn cái thú hít tô phê, ông VH Chương sửa thơ ông Phan Khôi từ “thú” ra “thứ”. Không ai gọi “tự do  là “thứ” cả, dù là ám chỉ, dù để hiểu ngầm.

Tôi thấy Thi bá Vũ Hoàng Chương không lương thiện nếu quả thật ông sửa thơ ông Phan Khôi. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng Thi bá đã sửa lời thơ ấy từ “thú” ra “thứ”..

Tôi không tin chăm phần chăm ở việc “nói có sách, mách có chứng..” Sách có nhiều sách sai be, sai bét, còn chứng thì rất nhiều khi toàn là chứng láo khoét.

Đến đây tạm chấm dứt chương trình Văn Nghệ Tạp Lục của ban Tùm Lum!

Advertisements

One Response

  1. Năm 1969, thầy Vũ Hoàng Chương dậy lớp 11C trung học Chu văn An. Lúc nào cũng bộ vét màu mỡ gà với cái nón nỉ. Luôn luôn đi dậy học bằng xe xích lô. Thầy năm đó 55 tuổi, nhân tết năm Dậu, thầy đọc cho cả lớp nghe bài thơ:
    Tin Xuân gà gáy rách trời đêm,
    Tuổi nửa trăm, vừa nửa chục thêm.
    Đủ thấy điềm lành hai nửa nước:
    Một nhà trong ấm với ngoài êm.
    Tội thay cho một đại thi nhân với giấc mơ đẹp cho quê hương. Cuối cùng thì thầy cũng được thấy một nhà, nhưng nào có trong ấm ngoài êm. Thầy chết thảm trong tù cộng sản.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: