• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Thuyền Trưởng Hai Tàu

Tháng Bẩy vào thu mưa lạnh bay,
Buồn ơi.. Tìm rượu uống cho say.
Tìm quên trong chất men cay đắng,
Càng uống càng thêm những đắng cay..

Bây giờ Tháng mấy rồi hỡi Em? Bây giờ là Tháng Sáu ở quê hương tôi, ở xứ Mỹ nơi tôi đang sống nhờ bây giờ là Tháng Bẩy. Ở quê hương tôi, nôm na và thương thân lắm lắm là ở Sài Gòn, thành phố thủ đô xưa của tôi, thành phố tôi đã không giữ được, thành phố tôi đã để mất, thành phố nay không còn nữa, thành phố tôi phải xa mà tôi thương nhớ suốt đời ôi, Tháng Bẩy trời đã vào thu, những sáng tinh sương, những đêm xanh mươn mướt..

Lối xưa xe ngựa, hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài, bóng tịch dương..

.. Trời lạnh lạnh, Tháng Bẩy ở xứ Mỹ trời Mỹ nóng đến 100 độ F. Năm nay, năm 2005 của Thế Kỷ Thứ 21 trần ai củ khoai, mùa hạ Mỹ nóng hơn mọi năm. Đêm yên tĩnh ở Rừng Phong, phòng lạnh, đèn vàng, thao thức nhớ những đêm Tháng Bẩy Xưa nằm trằn trọc trên căn gác lửng trong căn nhà nhỏ ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, những lời thơ đêm xưa bỗng trở về..!

Ôi.. Những buồn thương, ôi.. những nhớ thương.. hững đêm buồn ơi ba mươi mùa thu lá đổ ngày xưa ấy chẳng có người đàn bà nào, chẳng có người con gái nào ở nước ngoài thương nhớ tôi, sống dở chết dở ở Sài Gòn tôi cứ nhớ thương Nàng:

Em ở nơi nào chẳng biết tên
Mù xa như tận Cuối Trời Quên.
Ngày xưa Hoàng Thị, Em còn nhớ?
Từ Thức bao giờ gặp Giáng Tiên?

Có nhớ bài Thơ Anh đã viết
Cho Em ghi dấu một Tình Duyên?
“Nếu Anh còn trẻ như năm cũ,
“Anh đón Em về sống với Anh.
“Để những chiều buồn phơ phất lại,
“Anh đàn, Em hát níu xuân xanh.

“Nhưng thuyền Em buộc bên Sông Hận
“Anh lụy đời trên Bến Khói Sương.
“Năm tháng, năm cung, mờ cách biệt,
“Bao giờ Em hết Nợ Tầm Dương?”*

Em đi áo mỏng buông hờn tủi,
Dòng Lệ Tha Hương có Đoạn Trường?

Ôi Thơ Sầu Muộn, Thơ Ly Biệt,
Mỗi lời Thơ là một Xót Xa!
Tóc Anh đã chẳng còn xanh nữa
Tự thưở Em sầu lạc bước ra.
Nếu có bao giờ Em trở bước
Quay về thăm lại Ái Ân Xa
Thì Em nghiêng bóng ngồi bên Mộ,
Mây bạc, trăng vàng sẽ khóc Ta!

Ở lại thành xưa có một mình.. Những đêm mưa lạnh, những tàn canh.. Tôi cứ nhớ thương Nàng, tôi cứ làm Thơ Thương Nhớ loạn cào cào châu chấu. Trong những lời Thơ Cuối trên đây tôi nói với Nàng:

Ngày nào Em Việt Kiều Yêu Nước Ngoài Em về thăm quê hương, ngày ấy Anh đã tịch dzồi, còn nhớ Anh, Em ra nghĩa địa thăm Anh.

Ra cái điều Nàng đi, cuộc đời thiếu Nàng, tôi không sống được, ngày nào Nàng trở về tôi đã ra nghĩa địa nằm ngủ với giun.

Nhưng mà… trước khi tôi vi vút viết chuyện Nhớ Thương, trước khi tôi viết loạn chuồn chuồn về Tháng Bẩy, về Tình Yêu, về Hiệp Định Geneve Ngày 20 Tháng Bẩy năm 1954…

Hiệp Định Geneve ngày 20 Tháng Bẩy năm 1954? Tất cả người Việt Nam, 90 triệu người Việt Nam, ngay lúc này dân số con Lạc, cháu Hồng là 85 triệu, 5 triệu dân còn nằm trong bụng mẹ, đều đã quên, đã không biết Hiệp Định Geneve là ký gì. Họa chăng chỉ có một người còn nhớ!

… Trước khi tôi viết về thời gian Nàng và tôi đang Trẻ, tôi phải ngưng cảm khái để viết về chuyện “Lịch Sử là Lịch Sử.” Chuyện này liên can đến người anh em cùng vợ với tôi.

Số là trên Internet mới có bài viết như sau:

Bài trên Internet:

Thưa quý độc giả,

Nhân dịp Trần Đức Lương — kẻ đã yêu cầu Nam Dương và Mã Lai phá bỏ hai tượng kỷ niệm thuyền nhân tỵ nạn cộng sản — nay đã đi Tầu để bẩm báo với thiên triều, tôi xin gửi đến quý độc giả bài báo của chị Lê Diễm, một cựu nữ sinh Trưng Vương, lên tiếng về sự kiện ông Hoàng Hải Thủy, không biết vì lý do nào, trong bài “Thuyền Trưởng Bỏ Tầu”, đã bôi nhọ Hai Bà Trưng, là những bậc cân quắc anh thư của dân tộc chúng ta, là những bậc anh hùng liệt nữ đã viết nên trang sử hào hùng chống quân xâm lăng phương Bắc.

Ông Hoàng Hải Thủy nên tới đền thờ Hai Bà quỳ gối sám hối về việc làm vô ý thức và thiếu công dân giáo dục của ông, nếu muốn chứng tỏ ông không thuộc loại nô lệ như Trần Đức Lương .

Kính,

Quỳnh Anh

 

LỊCH SỬ LÀ LỊCH SỬ

( Hay thư ngỏ gửi nhà văn Hoàng Hải Thủy nhân bài viết: “Thuyền Trưởng Bỏ Tầu“)

LÊ DIỄM

Kính thưa ông Hoàng Hải Thủy,

Tôi xin phép được gọi ông bằng ông, không phải chỉ vì tôi ham sống lâu (kính lão đắc thọ) mà vì truyền thống của dân tộc, của mọi người VN có được sự giáo dục của gia đình hay học đường; trước hết phải biết xử “Lễ” với mọi người , vì “Tiên học lễ, hậu học văn”. Phương chi, đối với tôi, ông là bậc cao niên, và nghe đâu ông là người đã được ít nhiều thành danh trong văn giới miền Nam Việt Nam trước đây.

Thưa ông,

Dù đã là một công dân Hoa Kỳ nhưng tôi tự biết rõ hơn ai hết là máu tôi, da tôi, xương thịt tôi, quả tim và trí óc của tôi vẫn luôn luôn là một người Việt Nam, mãi mãi thương cội nhớ nguồn, rất yêu quí và hãnh diện về lịch sử của quê hương nòi giống. Ở đây với tư cách là con dân Việt Nam, tôi xin được thẳng thắn góp ý về bài viết của ông nhan đề là “Thuyền Trưởng Bỏ Tầu” được đăng trên tờ Phụ Nữ Việt tháng 10-1995, xuất bản tại Nam California. Ở một đoạn của bài viết nói trên ông đã đề cập đến giai đoạn lịch sử kiêu hùng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của hai vị anh thư Trưng Trắc và Trưng Nhị, mà sử sách VN vẫn còn ghi đậm nét:

Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành…

Công lao sự nghiệp của Hai Bà từ hai ngàn năm trước đến bây giờ và mãi mãi ngàn sau toàn dân Việt chúng ta sẽ luôn hãnh diện, ngưỡng mộ và tôn thờ:

Tượng đá trời Nam dãi tuyết sương
Ngàn năm công đức nhớ Trưng Vương…

Nhưng tiếc thay, thay vì phải nghiêm túc và tôn kính, ông lại đem giễu cợt, ai đọc qua những câu văn như: “Thuyền trưởng bỏ tầu theo nữ hải tặc” ngụ ý nói người đàn ông bỏ vợ nhà theo vợ nhỏ. Hoặc: “Thuyền trưởng hai tầu” ngụ ý chỉ người đàn ông hai vợ đều rất dễ nhận ra đây là một hành động vô cùng tệ hại vì nó đã xúc phạm nặng nề đối với tổ tiên nòi giống và bóp méo lịch sử dân tộc khi ông viết tiếp:

“Hai ngàn năm trước thuyền trưởng Thi Sách là Chủ tịch hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc điều hành Công ty Hàng hải Trưng Shipping Company, một mình thuyền trưởng Thi Sách chạy hai tầu viễn dương Trưng First và Trưng Second ngon lành êm ru bà rù . Tại sao các nàng là con cháu của Hai Bà , năm năm vưỡn đốt nến thắp nhang, dâng hoa cúng tế, làm thơ văn tưởng niệm Hai Bà mà các nàng lại không bắt chước Hai Bà một ly ông cụ nào ?”

Từ tấm bé cho đến nay tôi đã là vợ, là mẹ, là người đàn bà đã “tóc chuyển màu sương“, tôi đã được dạy dỗ, được đọc nhiều về lịch sử nước nhà. Nhưng tôi chưa hề nghe thấy sử sách nào lại nói Hai Bà có cùng chung một chồng là ông Thi Sách. Ông Hoàng Hải Thủy có thể công bố cho mọi người Việt chúng ta được biết là ông đã được giáo dục điều này bởi ai, hay ông đã được đọc nó ở sách sử nào? Được vậy ông mới xứng đáng để tiếp tục cầm bút. Đành rằng với chế độ phong kiến của cha ông chúng ta ngày trước, đa thê là việc bình thường. Nhưng phải nhận đây là một tệ trạng của xã hội ngày đó, một bất công nghiêm trọng và một xúc phạm nặng nề đối với nữ giới. Có người đàn bà nào mà không cảm thấy tủi hổ đau buồn và phẫn nộ khi phải sống với cái kiếp chồng chung:

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng.

Dù người đó là một bậc thứ phi tài sắc chốn nghiêm cung cũng phải sót sa với điều bất hạnh của mình:

Trong cung quế âm thầm chiếc bóng.
Đêm năm canh trông ngóng lần lần

Vô căn cứ bịa chuyện bà Trưng Nhị là vợ thứ (Trưng Second) của ông Thi Sách là cố tình đem điều bất hạnh tròng vào Bà. Đó là điều phạm thượng vô lương; đồng thời còn mang tội bóp méo lịch sử, đó là điều bất chính vô nghì. Bỡn cợt trên sự tủi hổ buồn phiền của người khác dù người đó là một người đàn bà phận thứ ngôi em, đó là điều bất nhân.

Như trong một trạng thái vô thức ông viết tiếp:

“Nếu thuyền trưởng Thi Sách không chạy hai tầu họ Trưng cùng một lúc và được cả hai nữ thuyền phó hài lòng thì khi Thái thú Tô Định tham tàn cho thuyền trưởng đi tầu suốt, hai Bà đã không căm phẫn. Nếu hai Bà không đánh đuổi bọn quan quân nhà Hán, không dựng cờ độc lập “Lĩnh Nam riêng một triều đình” thì biết đâu bây giờ chúng ta đã chẳng xí sô xí sà mí nhau những câu như “Ngộ ái nị … Ngộ hun nị … Nị í à … Nị ôm đại … Ngộ chạy”?

Thưa ông Hoàng Hải Thủy,

Lịch sử là gì? Phải chăng là “Con người + Sự việc + Thời gian + Nơi chốn”. Lịch sử là lịch sử, không có nếu. Bởi vì con người đã là như thế, sự việc đã là vậy, thời gian là thuở ấy, nơi chốn đã là nơi đó. Tất cả đã là như thế rồi, không thể có chuyện tu chính thêm bớt gì cả. Như thế mới là lịch sử. Lịch sử không phải là dã sử. Và càng không phải là tiểu thuyết dã sử. Đoạn văn này của ông giúp tôi nhớ lại cái thời ông Hồ Chí Minh còn sinh tiền. Để xứng đáng là phận khuyển mã, ông ta đã ra lệnh cho tên văn nô Tố Hữu là Bộ trưởng Văn hóa lúc bấy giờ cùng bọn bồi bút của đảng CSVN ngày ngày hết lời cúc cung ca tụng quan thầy Trung quốc vĩ đại với cái triết lý nô dịch “Môi hở răng lạnh. Chúng tôi nguyện bồi đắp cho tình hữu nghị của chúng ta đời đời bền vững“. Để bồi đắp cho tình hữu nghị này, họ Hồ đã cấm luôn việc hằng năm kỷ niệm các bậc anh hùng dân tộc như Bà Trưng, Bà Triệu, Hưng Đạo Đại Vương, vv… Để vừa lòng quan thầy Trung cộng trong âm mưu xoá bỏ dần lịch sử oai hùng của dân tộc trong công cuộc chiến đấu chống quân xâm lược phương Bắc của tiền nhân, bọn vong bản nói trên đã rao truyền rằng: “… Từ xưa đến nay VN chỉ có một anh hùng, một nhà yêu nước, một người làm cách mạng cứu nước duy nhất đó là Hồ Chủ tịch vô vàn kính yêu. Làm gì có chuyện Hai Bà Trưng là anh hùng, là yêu nước. Nếu có chuyện Bà Trưng nổi lên chống Tô Định là vì muốn trả thù cho chồng là Thi Sách bị ông Tô Định giết đó thôi

Khốn thay cái luận điệu vong bản “Bà Trưng chỉ vì thù chồng” cũng được người ta nghe văng vẳng đâu đó ở miền Nam trước ngày 30-4-75. Qua hơn một ngàn năm chống giặc xâm lược phương Bắc, hơn một trăm năm chống giặc thực dân phương Tây, phụ nữ VN đã có hàng triệu người trở thành kẻ vọng phu hay người cô phụ. Đã có biết bao thiếu nữ ở tuổi xuân thì phải gạt nước mắt tiễn đưa chồng hoặc người yêu là khách chinh nhân lên đường cứu nước để không bao giờ trở lại. Như bao nhiêu đồng bào khác, phụ nữ VN thời đó cũng “Thù nhà, nợ nước hai vai nặng” nhưng có mấy ai làm nên sự nghiệp hiển hách như Bà Trưng, Bà Triệu. Làm sao để được toàn dân qui phục. Phận nữ nhi nhưng lại xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Phất cờ, dục trống, thúc voi, đôn thúc quân binh xông ra chiến trận đánh đuổi giặc thù, thu phục cõi bờ, lập nên nghiệp vương nghiệp đế. Đó há không phải là hành động của bậc anh thư ư?

Dĩ nhiên cái chết của ông Thi Sách đối với Hai Bà cũng là một động lực. Nhưng đối với toàn dân lúc bấy giờ cũng là nguyên nhân tăng phát mối căm thù giặc dữ. Cái động lực đó, cái nguyên nhân ấy nó cũng chỉ là một giọt nước làm tràn ly nước đã vốn đầy. Nó như một ngọn đuốc nhập cùng cơn bão lửa để đốt sạch giặc thù. Điều đáng suy gẫm ở đây là cái tài thao lược, mưu trí của Hai Bà. Hai Bà đã biết khai thác và ứng dụng đúng lúc những yếu tố tất thắng: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Mà yếu tố quan trọng nhất của những điều tất thắng đó là Ý DÂN (nhân hòa). Bởi ý dân là ý trời (Dân ý như Thiên ý) . Do đó, cái luận điệu cho rằng sự dấy binh chống giặc xâm lược Tàu của hai Bà chỉ vì thù nhà mà không vì nợ nước, đó là cái luận điệu của kẻ phàm phu vô học , nếu không là có hậu ý xấu.

Thưa ông Hoàng Hải Thủy,

Nếu tóm lược bài góp ý này của tôi, ông sẽ dễ nhận ra rằng chỉ vì muốn làm tôi mọi cho ngoại bang mà ông Hồ Chí Minh và lũ thuộc hạ đã trở nên bọn người không Lễ, không Lương, không Nhân, không Nghì và không Chính. Những điều này là những điều rất căn bản để làm người, để đồng bào nhận là người. Thưa ông, tôi thành thật mong ông sớm nhận ra sự việc hầu có được sự hồi tâm.

Bất cứ một dân tôc nào, dù cho nhỏ yếu đến mấy người ta cũng có lý do để hãnh diện về lịch sử của giống nòi mình. Riêng dân tộc VN chúng ta quả thật rất xứng đáng để có quvền hãnh diện về công lao dựng nước và bảo vệ đất nước của tổ tiên và lịch sử giống nòi. Nhờ vậy thế hệ con cháu chúng ta cũng được huởng niềm hãnh diện đó và cố gắng làm sao cho khỏi hổ mặt với tiền nhân. Được như thế thì quốc gia dân tộc mới ngày càng cường thịnh. Thế nên bổn phận bảo vệ lịch sử của dân tộc là trách nhiệm chung củøa mọi công dân, không phân biệt phái tính hay địa vị xã hội. Do đó, tôi xin kêu gọi mọi người Việt hiện còn nghĩ đến quê hương, nòi giống hãy cùng tỏ thái độ trước việc làm tồi tệ của ông Hoàng Hải Thủy (qua bài viết nói trên). Đừng để việc tệ hại này trở nên tiền lệ mà kẻ bất chính có thể lợi dụng để bóp méo lịch sử của chúng ta cho những nhu cầu đen tối nào đó.

Nhân đây tôi xin được phép trình bày thiển ý của tôi về trách nhiệm của truyền thông nói chung và báo chí nói riêng. Truyền thông tự nó không phải là tuyên truyền. Bởi vì tuyên truyền thì bất chấp về lương tâm, đạo đức, phương tiện, miễn sao đạt được mục đích là tốt. Còn nhiệm vụ của truyền thông là tôn trọng sự thật, vì sự thật, bằng mọi cách đem sự thật đến cho mọi người. Ngoài ra người làm truyền thông chân chính còn phải đem hết khả năng chuyên môn của mình để góp công vào xã hội mà mình đang chung sống ngày càng bình an, thăng tiến và hướng thiện. Do đó, người làm truyền thông chẳng những đối với chính mình mà ngay cả với những bài vở của độc giả, của người cộng tác cũng phải cẩn thận tuyển chọn vì phương tiện truyền thông rất quan trọng, quý báu. Nó chắc chắn không phải là một thùng rác công cộng để cho mọi người muốn bỏ bất cứ vật gì vào đó cũng được.

San José, CA., 5-12-95

LÊ DlỄM, TV 61-67
(Hội Viên Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương Bắc Cali)

Vừa thấy bài viết do người bạn tìm được trên Internet gửi cho, tôi lạnh lạnh xương sống, tôi nghĩ: “Bỏ mẹ dzồi. Tội ác Mỹ Ngụy.. Mười năm tội cũ..!” Đọc đến hết bài thấy ghi bài được viết ở “San José, CA, 5-12-95.” Tôi nhẹ người. Không biết bài viết của bà Lê Diễm được viết ở San José ngày 5 Tháng 12 hay ngày 12 Tháng 5? Theo Mỹ thì là ngày 12 tháng 5 mà theo Tây thì là ngày 5 tháng 12. Nhưng nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ ấy, việc quan trọng với tôi là bài được viết đã 10 năm trước, năm 1995, không phải bài mới được viết năm nay, năm 2005. Bà Quỳnh Anh, chắc là Bà Quỳnh Anh, nếu Bà là Ông, tôi xin lỗi, là người cho bài viết của bà Lê Diễm năm xưa lên Internet.

Trước hết, xin được thưa với chư quí vị độc giả chuyện 10 năm tội cũ của tôi như vầy:

Năm 1995 bánh xe lãng tử rệu rã đưa vợ chồng tôi đến Rừng Phong Lòng Vòng Hoa Thịnh Đốn, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Kể từ lúc 11 giờ trưa ngày 30 Tháng Tư năm 1975 khi bọn Bắc Cộng ngơ ngáo kéo vào Sài Gòn bắt cầm tù tôi cho đến Tháng Năm 1995 tôi loạng quạng đưa vợ tôi đến được nơi có cái tên văn huê là “Xứ Tự Do”, nôm na là Mỹ Quốc, tôi đã phải sống trong Ngục Tù Cộng Sản đúng 20 Mùa Lá Rụng. Hai mươi niên không được Viết, trong hai mươi mùa lá bay không được cùng ai ăn gà xé phay ấy tôi chỉ mới, vì mót viết quá không chịu được, viết có mấy bài kiểu Tạp Ghi ẩm ương than thân, trách phận, nhớ thương kẻ ở, người đi, Em ơi.. Bây giờ Em ở đâu? Em dzui bên ấy, ở đây Anh rầu..! Bài viết để những bút hiệu giả: Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Yên Ba, Văn Kỳ Thanh.., dùng bút hiệu dzởm với hy vọng mong manh bọn cộng sản chúng nó không biết ai là tác giả, chúng nó không bắt, lén gửi sang Pháp, sang Mỹ, sang Úc đăng báo, tôi đã bị bọn gọi là Công An Bảo Vệ Văn Hóa, Công An Ban Công Tác Chống Phá Hoại Tư Tưởng, Công An Phản Gián Cộng Sản, chúng nó đến tận nhà chúng nó vồ, chúng nó tó, chúng nó cho đeo đổng Longines, chúng nó đưa đi tì 2 lần. Tổng cộng số năm tì tội của tôi là 8 mùa sầu riêng trổ gai; 8 mùa những cô thiếu nữ Sài Gòn xuyến vàng, khăn cưới, áo hồng lên xe bông về nhà chồng, 8 mùa lá rụng tôi nằm phơi rốn trên sàn xi-măng trong những Nhà Tù Số 4 Phan đăng Luu, Lầu Bát Giác Chí Hòa. Từ những nơi ngục tù tăm tối ấy một sớm trời trong đến được nơi gọi là Xứ Tự Do, nôm na là Hoa Kỳ, na nôm là Mỹ Quốc, tôi như con chim cút sổ lồng, như con chuột thoát ra khỏi cái bẫy chuột, tôi được viết tự do, tôi muốn viết gì tôi viết, tôi không còn sợ tôi viết để rồi nửa đêm về sáng bọn đầu trâu, mặt ngựa kéo đến nhà tôi dựng tôi dậy, đưa tôi đi, tôi được viết vung vít. Và tôi đã Viết Vung Vít. Không những tôi chỉ Viết Vung Vít bình thường, tôi đã Viết Vung Vít Quá Đáng.

Khi tôi hai chân còn ướt, chưa chân nào ráo, vừa đến sống nhờ lòng tốt và lòng thương hại của người Mỹ, ở thành phố Arlington, Virginia, bên cạnh Thủ đô Washington D. C., được ba, bốn tháng, Nữ Văn Sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dung cho ra mắt tác phẩm Sài Gòn Nắng Nhớ, Mưa Thương. Trong tác phẩm Tự Truyện Tiểu Thuyết Hóa Sài Gòn Nắng Nhớ Mưa Thương có một số trang viết đến ông chồng mà bà Nhà Văn gọi là “Thuyền Trưởng Bỏ Tầu Theo Nữ Hải Tặc“, tức ông chồng bỏ vợ con đi theo người tình phá hại gia cang. Tôi cảm khái viết một bài Phiếm Loạn về chuyện Thuyền Trưởng Hai Tầu. Tôi gọi Thuyền Trưởng Hai Tầu là những ông chồng có hai bà vợ cùng một lúc, những ông Thuyền Trưởng cùng một lúc làm Thuyền Trưởng Hai Tầu, tức chạy hai tầu biển, hay hai ghe chài. Những ông Thuyền Trưởng bị Bà Chủ Tầu này cho nghỉ việc, ôm quần, xin lỗi, ôm bằng lái sang chạy tầu cho Bà Chủ Tầu khác, bị Bà Chủ Tầu khác cho đi chỗ khác chơi lại xách đồ nghề sang phục vụ Bà Chủ Tầu khác nữa, không phải là Thuyền Trưởng Hai Tầu. Tôi viết về vị Thuyền Trưởng Hai Tầu nổi tiếng: Nhà Thơ Lớn Nguyễn Du.

Qua những bài Thơ của Nhà Thơ Nguyễn Du tôi thấy ông kể ông đói dài, đói dzẹt, tóc ông bạc sớm, ông nhiều bệnh, trong 10 năm tuổi đời thanh xuân của ông, từ năm ông 20 đến năm ông 30 tuổi, ông sống nhờ nhà người ở chân núi, ở bãi biển, ông thường buồn thương ngửa mặt nhìn trời, tôi cứ tưởng ông là người cơ thể yếu đuối, ông sống cô đơn, buồn sầu như lời ông tả trong Thơ Ông. Nào là:

Nhân đáo cùng đồ vô hảo mộng,
Thiên hồi khổ hải xúc phù tung.
Phong trần đội lý lưu bì cốt,
Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng!

Người đến bước đường cùng không có mộng đẹp,
Trời xoay bể khổ lại để thúc giục thêm bước chân phiêu lưu.
Trong đám người phong trần thân ta chỉ còn da bọc xương,
Trên gối khách buồn tênh, mái tóc rối bù!

Nào là:

Thập tải phong trần khứ quốc xa,
Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia.
Trường đồ nhật mộ, tân du thiếu,
Nhất thất xuân hàn cửu bệnh đa…

Trải gió bụi mười năm bỏ nước đi xa
Phơ phơ tóc bạc ở nhờ nhà người.
Đường dài ngày muộn, ít có bạn mới,
Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ lại nhiều…

Lại nào là:

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên…

Người tráng sĩ đầu bạc bi ai đứng nhìn trời
Hùng tâm và sinh kế cả hai đều mờ mịt…

Lại lại nào là:

Xuân hàn, hạ thử tối tương xâm,
Nhất ngọa Hồng Sơn tuế nguyệt thâm.
Minh kính hiểu hàn khai lão sấu,
Sài phi dạ tĩnh khốn thân ngâm.
Thập niên túc bệnh vô nhân vấn,
Cửu chuyển hoàn đơn hà xứ tầm?
An đắc huyền quan minh nguyệt kiến,
Dương quang hạ chiếu phá quần âm.

Xuân lạnh, hè nóng cứ theo nhau đánh ta,
Ta nằm bệnh ở Núi Hồng nhiều năm rồi.
Sớm mai lạnh soi gương thấy già và gầy,
Đêm vắng, cửa sài đón, nghe tiếng rên.
Bệnh đã mười năm, không ai thăm hỏi,
Tiên đan chín lần luyện mới thành, biết tìm đâu ra.
Sao được thấy trăng sáng ở huyền quan,
Chiếu ánh sáng phá tan vầng khí âm u.

Những lời Thơ như thế làm tôi yên trí Thi Sĩ Nguyễn Du là người nhiều bệnh, nhiều buồn, người ông gầy gầy, tóc ông bạc, thận ông suy, một đêm ông đi tiểu bốn, năm lần, ông thường bị đau lưng, thấy đàn bà ông sợ, ông sống nhờ nhà những người quen, khi xét trong túi có 30 tiền ông mừng vì có tiền mua rượu, ông làm thơ:

Xuân lan, thu cúc thành hư sự,
Hạ thử, đông hàn, đoạt thiếu niên.
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,
Bạch vân ngọa bệnh cố giang biên.
Thôn cư bất yếm tần cô tửu,
Thượng hữu nang trung tam thập tiền.

Lan mùa xuân, cúc mùa thu.. nay thành chuyện hão,
Nắng mùa hạ, lạnh mùa đông đã cướp đi tuổi trẻ.
Dắt con chó vàng đi tìm vui trên núi Hồng,
Nằm bệnh trong mây trắng bên sông Quế.
Nơi thôn quê mua rượu mãi không chán,
Trong túi còn có ba mươi đồng tiền.

… nhiều ngày ông nhịn đói. Về mặt Tình Dục, nói theo Mỹ là về Sex, chắc ông yếu lắm. Nhưng mà..

Đọc Tiểu Sử của ông tôi té ngửa. Mèn ơi.. Nhà Thơ Lớn của tôi, Nhà Thơ tôi vinh danh là “Thi sĩ tài hoa nhất kể từ ngày dân tộc Việt Nam biết làm Thơ“, không phải là Thuyền Trưởng Hai Tầu, ông là Thuyền Trưởng Ba Tầu lận. Về mặt Thuyền Trưởng, ông hơn ông Thuyền Trưởng Hai Tầu Văn Quang một cấp. Nhà Thơ Lớn của tôi 3 vợ, 18 con, 12 trai, 6 gái. Đấy là Nhà Thơ Thuyền Trưởng đói đấy, bệnh đấy, đấy là Nhà Thơ Thuyền Trưởng sống vất vưởng đến năm 30 tuổi mới ra làm quan và chỉ làm quan có 20 năm. Nếu Nhà Thơ đỗ Tiến Sĩ ngay năm Nhà Thơ 20 tuổi, Nhà Thơ làm quan ngay từ năm Nhà Thơ 22 tuổi, số vợ con của ông sẽ đông đến chừng nào, ông đâu có kém gì thân phụ ông là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm 9 bà vợ, 21 người con! Không những không kém, có thể cái gọi là “năng xuất sinh sản” của ông còn cao hơn thân phụ ông nữa!

Nếu bài tôi viết năm 1995 về Thuyền Trưởng Hai Tầu chỉ có Thi Sĩ Thuyền Trưởng Nguyễn Du chắc quý bà Cựu Nữ Sinh Trường Trung Học Trưng Vương đã không bà nào thèm để mắt xanh nhìn đến, nhưng trong lúc hứng khởi vì được viết tự do, tôi kể chuyện ông Thi Sách cũng là Thuyền Trưởng Hai Tầu, ông Thi Sách là chồng Bà Trưng Trắc và là chồng cả Bà Trưng Nhị. Bài viết được đăng trên tuần báo Diễn Đàn Tự Do ở Virginia và nguyệt san Phụ Nữ Việt ở Cali. Ông Ngô Tằng Giao, năm ấy, năm 1995, dường như là Hội Trưởng Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An, ông có kiêm nhiệm một chức vụ do Hội Ái Hữu Cựu Nữ Sinh Trưng Vương giao phó, viết một bài trách cứ tôi hai tội:

Xuyên tạc lịch sử, chính sử không có chuyện ông Thi Sách là chồng cả Bà Trưng Nhị.
Đem nhân vật lịch sử ra riễu cợt.

Tôi viết một thư ngắn gửi đăng trên Diễn Đàn Tự Do, Phụ Nữ Việt, trong thư tôi nhận lỗi tôi đã đem nhân vật lịch sử ra làm đề tài riễu cợt – những người mất nước sống nhờ xứ người càng phải tôn trọng những nhân vật lịch sử của mình – tôi xin lỗi về tội ấy, tôi không viết gì về chuyện “xuyên tạc lịch sử.”

Tôi bị “chửi” tơi bời hoa lá trên nhiều báo ở Cali, cuộc chửi rủa kéo dài đến hai, ba tháng. Trong 40 năm viết truyện của tôi, kể từ năm 1956 đến năm 1995, đây là lần thứ nhất tôi bị “chửi” trên báo, bị chửi và bị chửi thật nặng. Có bà đòi “.. đào mả ông, mả cha nó lên. Sao nó dám viết láo như thế..!” Tôi buồn, tất nhiên. Tôi nghĩ tại tôi viết bậy. Kể từ ngày tôi dùng bút hiệu Công Tử Hà Đông, Gã Thâm viết trên tuần báo Con Ong của Minh Vồ ở Sài Gòn những năm 1970, tuy không nhiều tôi cũng từng xúc phạm danh dự vài người trong những bài viết của tôi, tôi từng làm người ta đau, làm người ta tủi hổ, nay tôi bị người chửi cũng đúng thôi, cũng đáng thôi. Tôi nghĩ người ta sống ở đời có những lúc cần phải biết ăng-két-sê – encaisser – tức “chịu đòn.” Người làm báo, người viết báo, người viết văn càng phải có khả năng ăng-két-sê, tức “chịu đòn” hơn ai hết. Chửi người thì vênh váo, hiu hiu tự đắc, tự coi mình có quyền chửi người, bị người chửi thì nhẩy nhổm lên, mặt tím ngắt, ăn nói loạng quạng, cay cú chửi lại. Tôi không thế. Tôi đã chịu đòn, tôi thấy việc tôi bị chửi là một lời cảnh cáo để tôi không được cao hứng phóng bút viết bừa bãi.

Kính thưa Bà Quỳnh Anh,

Kính thưa Bà Lê Diễm,

Tôi cám ơn hai quí bà đã nhắc đến một việc sai trái tôi đã làm 10 năm xưa, nhắc cho tôi nhớ và cho tôi có dịp trình bầy về chuyện tôi căn cứ tài liệu lịch sử nào để viết ông Thi Sách là chồng cả Bà Trưng Nhị. Xin thưa:

Tác phẩm THIÊN NAM NGỮ LỤC của ta là một bộ sử ca Thơ Nôm 8136 câu thơ lục bát, ghi truyện từ đời Hồng Bang đến đời Lê Trịnh. Tục truyền tác phẩm được tác giả viết dâng các vị Chúa Trịnh trong những năm cuối Thế kỷ XVII. Những năm ấy chiến tranh liên miên, chế độ Vua Lê, Chúa Trịnh đi vào thời kỳ suy bại nên thi phẩm bị bỏ quên trong kho sách Phủ Chúa. Nhiều năm qua, sau hai cuộc biển dâu trên kinh đô Thăng Long – Nguyễn Tây Sơn đến, rồi Nguyễn Gia Long đến làm chủ Thăng Long – năm 1865 Vua Tự Đức giao bản THIÊN NAM NGỮ LỤC cho hai ông Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái soạn lại, làm thành bộ Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca. Khi ấy tên tác giả THIÊN NAM NGỮ LỤC đã bị mất, tác phẩm không còn tên tác giả.

Bộ THIÊN NAM NGỮ LỤC tôi trích Thơ hôm nay do Nhà Văn Học ở Hà Nội ấn hành Tháng 5, 2000, có những đoạn như sau:

Thiên Nam Ngữ Lục, sách đã dẫn, trang 82, câu 1443-1454:

Đồn rằng trên quận Mê Linh,
Họ Trương dòng dõi trổ sinh đôi nàng.
Phong tư khác thói tầm thường,
Tóc mây, lưng tuyết, hơi hương, da ngà.
Bướm ong chưa dám gần hoa.
Trắc là chị ả, Nhị là em hai.
Gồm no văn võ mọi tài,
Bề trong thao lược, bề ngoài cung tên.

Thiên Nam Ngữ Lục, trang 84, câu 1495-1504:

Vợ chồng mừng thắm nhân duyên,
Toan đường mở nước, dựng lên nghiệp nhà.
Phiên hầu lần lữa để qua,
Tô Định lòng ngờ Thi Sách phản mưu.
Người ta nói khéo bảo nhau:
Rằng ngươi Sách lấy hai hầu họ Trưng.
Nữ tài có sắc khác hằng,
Của nên vô giá xem bằng thần tiên.
Từ đấy Tô Định nghe tin,
Biết rằng con gái thuyền quyên tót vời.

Thiên Nam Ngữ Lục, trang 85, câu 1535- 1546:

Định rằng: “Ngươi đứa gian tà,
Nghe chước đàn bà, làm sự bất trung.
Tôi ngươi ở chẳng hết lòng,
Hai gái má hồng, dùng lấy kết duyên.
Toan nhau làm sự nghịch thiên,
Biết tin tao đến Chu Diên thăm tình.”

Sách rằng: “Tao ngỡ hiền lành,
Lấy ân vỗ chúng, để danh đãi hiền.
Chẳng ngờ ra dạ muông chim,
Phen lê lỗ lược đi tìm hai Kiều.
Đôi Trưng tao vốn của yêu,
Đầu mi muốn đổi, tao liều bắt tru”

Ngưng trích THIÊN NAM NGỮ LỤC.

Những lời Thơ Thiên Nam Ngữ Lục được viết từ hơn 300 năm trước kể chuyện sau khi lập gia đình, ông Thi Sách lơ là với việc đến gặp Thái Thú Tô Định – Phiên hầu lần lữa để qua – Tô Định ngờ Thi Sách chống lại y. Có người nói cho Tô Định biết Thi Sách vừa lấy hai chị em họ Trưng làm vợ, và hai bà Trưng nhan sắc tuyệt đẹp. Khi bị Tô Định kết tội âm mưu tạo phản, ông Thi Sách nói: “Mày bắt chước bọn cướp đi bắt đàn bà. Hai người họ Trưng là người tao yêu, mày muốn được cắt đầu, tao cắt cho.”

Chú thích ghi: phen lê: bắt chước, lỗ lược: giặc cướp, tru: giết. Phen lê, lỗ lược, tru là tiếng Việt của người Việt 300 năm về trước.

Một lần nữa tôi cám ơn hai bà Quỳnh Anh, Lê Diễm, tôi xin phép viết sang chuyện khác.

***

Tháng Bẩy vào Thu, mưa lạnh bay…

Đấy là Tháng Bẩy ở quê hương tôi, Tháng Bẩy ở xứ Mỹ nóng thấy mồ tổ. Như một làn gió mát, giữa Tháng Bẩy 2005, một cánh thư bay đến Rừng Phong. Thư rằng:

Cali July 7-2005

Bác HHThủy ơi, sao dạo này bác viết tục loạn cào cào lên vậy? Văn phong ngày xưa của bác biến đâu hết rồi! May mà em từng mê bác từ thưở xa xưa, chứ bây giờ làm sao mê nổi? Bác có ấm ức gì mà viết những tiếng kỳ quá vậy? Làm cho lão bà Sáu Bó cũng phải nhăn mặt.

Không cần phải chơi chữ văn bác cũng đủ duyên dáng đáng yêu rồi! OK?

Kính bác.

Ng. Ph.
Pico Rivera. CA.

Kính gửi Bà Em Văn Nghệ Pico Rivera,

Thưa cô,

Tôi ấm ức gì đâu có? Trước năm 1990 tôi có uất ức chứ tôi cũng không ấm ức. Trước năm 1990 tôi uất, nhưng sau 1990 tôi không uất nữa. Bọn đảng viên cộng sản đã bị nhân dân lôi cổ ra bợp tai, đá đít, đuổi đi ở Nga, Ba-lan, Hung, Tiệp, Đức, tượng Thánh Tổ Lê-nin của chúng bị người Nga tròng xích sắt vào cổ, kéo đổ, lôi ra cho nằm ở bãi rác, tên Sô-xét-cu, Chủ Tịt Đảng Cộng Sản Lỗ, bị dân Lỗ dí súng vào đầu cho đi tầu suốt, Mụ Vợ Sô-xét-cu cũng bi dân Lỗ bắt đền tội, chi một viên đạn đồng đỏ vào màng tang, cho lên tầu sang sông cùng với chồng Mụ, lão Hôn-nách-cơ, Chủ Tịt Đảng Đức Cộng, cúp đuôi chồn lủi bỏ chạy ra nước ngoài, không nước nào chứa phải vác mặt chồn lùi về nước ra tòa để nhân dân Đức hỏi tội, chủ nghĩa cộng sản đã bị vứt vào sọt rác, tôi không còn uất, tôi không còn ức, tôi không còn hận nữa. Tôi đúng, bọn cộng sản sai. Với tôi, vấn đề không còn là “Thua, Được” mà là “Đúng, Sai“. Những người Đúng có thể bị Thua bọn Sai trong một thời, nhưng người Đúng bao giờ cũng Thắng, Người Đúng Thắng ngay cả trong khi Thua. Tượng Lê-nin đã ra nằm ở bãi rác, tượng anh già Hồ chí Meo rồi cũng bãi rác ra nằm. Chuyện đó chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch, chắc hơn đinh thép 10 phân đóng cột gỗ lim, chắc như, chắc như chứ không chắc hơn, bắp đùi trinh nữ mười bẩy tuổi. Bọn đảng viên cộng sản Việt Nam chưa bị nhân dân Việt Nam lôi cổ ra giữa chợ, nhổ vào mặt, đánh cho mỗi thằng năm, bẩy cái tát, đá đít, đuổi đi không có nghĩa là chúng sẽ không bao giờ bị nhân dân Việt Nam lôi cổ ra, nhổ vào mặt, tát cho mỗi thằng năm, bẩy cái tát, đá cho mỗi thằng mấy đá, đuổi cổ đi. Nếu tình hình cõi đời này hôm nay còn như những năm 1970, khi bọn cộng sản đang hung hăng thừa thắng xông lên, đang hăm he nhuộm đỏ cả thế giới, đanghầm hầm đe dọa làm đói khổ, làm nhục tất cả loài người, nếu cô hỏi tôi có uất không, tôi sẽ nói tôi uất lắm, tôi có thể chết vì tôi Uất! Nhưng bi giờ bọn cộng sản đã nhục đến như thế rồi, chúng nhục hơn những con chó ghẻ, tôi còn uất hận gì nữa, thưa cô? Bản án tử hình của bọn cộng sản Việt Nam đã được ký, chúng sẽ phải lãnh án, án tử hình chúng chỉ chưa đến ngày thi hành.

Anh bước ra
Không thấy phố..
Không thấy nhà..
Không thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ.
Chỉ thấy hồn bay, dù không thấy gió

Thấy Mẹ Già trong cửa héo hon.
Anh thấy Em môi nhạt màu son
Gốc Cây Đói Đời Buồn đứng Đợi,
Thấy chúng ta giữa lòng Ngục Tối
Còn vu vơ kêu gọi Thiên Đường.
Thấy cuộc đời những nhớ cùng thương.

Thấy con ta đầu đường, xó chợ.
Anh bước ra
Không thấy cười, không thấy thở
Chỉ thấy người người nghẹn ngào, nức nở
Vợ thương chồng, con nhớ mong cha.

Muối nào bào dạ xót sa
Dao nào cắt trái tim ta đêm ngày?
Khóc trong giấc ngủ nào hay
Tỉnh ra sao thấy gối này ẩm sương.
Anh nghe ở cuối canh trường
Tiếng Em khóc ở mười phương vọng về.
Còn Em, trong Mộng, trong Mê,
Có nghe má lạnh tái tê giọt sầu?
Có nghe trên tóc phai mầu
Lệ Anh ướt nửa mái đầu không Em?

Cô ơi… Đó là Thơ Tôi làm những năm 1977, 1978 ở Sàì Gòn quê hương ta. Có những đêm tôi khóc trong giấc ngủ, nửa đêm về sáng thấy gối ẩm, lạnh, tôi biết là tôi vừa khóc. Từ 30 Tháng Tư 1975 tôi mần Thơ lai rai những khi tim tôi đau như bị dao cạo râu Gilette cứa, bị kim đâm, nhưng đến năm 1990 tôi không còn mần Thơ được nữa. Vì từ năm 1990 tôi không còn Uất nữa. Hồn không đau, tim không nhức, dạ không xôn sao mà làm Thơ, Thơ sẽ là Thơ Xôi Thịt, Thơ Chà Cháo Quẩy, Thơ Hột Dzịt Lộn, Thơ Bánh Dầy Kẹp Chả. Tôi ghét, tôi tởm khi tôi thấy những tên Việt Kiều Một Lằn ở Mỹ gục mặt, le lưỡi, vẫy đuôi nâng bi bọn cộng sản, nhâng nháo hỗn láo chửi những người Việt chống Cộng là ngu, là những người đầu đông đá, mở mồm thối dậy người Việt quên thù hận đi để bám đít bọn cộng sản mà “xây dựng quê hương… ” Bố khỉ! Quê hương bị bọn cộng sản quậy móc nát hơn cái mền Sakymen, quê hương như cái thùng không đáy, còn bọn cộng sản cầm quyền, xây dựng ký gì? – nên tôi viết chửi chúng, chứ tôi nào có “ấm ức” gì đâu?

Còn chuyện cô kết tội tôi hồi này “viết tục” thì tôi ngạc nhiên quá đỗi. Mèn ơi..! Tôi có “viết tục” hồi nào đâu? Tôi mà “viết tục” thì còn đất, còn trời nào nữa! Tôi cũng không “chơi chữ” bao giờ! Ông cha chúng ta gọi những tên phản bội, những tên trở cờ, những tên thay lòng, đổi dạ, những tên bỏ đường chính, lùi lại, quẹo sang nẻo tà, là bọn Chồn Lùi, tôi cũng chỉ gọi bọn Chồn Lùi ở Mỹ là Chồn Lùi thôi, tôi có chơi chữ, chơi nghĩa gì đâu có!

Cô kết tội tôi “viết tục, chơi chữ..” thì oan cho tôi quá. Người ta “oan Thị Kính” còn tôi thì tôi “oan Thị Mầu.” Em Thị Mầu bị nghi là còn trinh oan như thế nào thì tôi oan như thế.!

Có thể tôi sẽ không thèm viết gì về bọn Việt Kiều Chồn Lùi nữa. Viết về chúng computer của tôi cứ bị virus hoài. Từ nay, như tôi vẫn muốn: tôi sẽ chỉ viết những chuyện TÌNH YÊU, TÌNH YÊU viết Hoa cả 5 chữ, Hoa luôn dấu Huyền, dấu Mũ, tôi sẽ không thèm lý gì đến bọn Việt Kiều Chồn Lùi. Mặc cho chúng bo bám bọn cộng sản mà chồn lùi, chồn lui, chồn leo, chồn lẩy, chồn lọc, chồn gì thì đời chồn lết của chúng cũng không khá được, sẽ có ngày chúng bị người Việt nhổ vào mặt, tát tai, vợ chúng sẽ bỏ chúng, con chúng sẽ từ chúng, chúng sẽ đời đời bị dân tộc Việt Nam gọi là bọn Việt Kiều Chồn Lùi.

Thưa cô, tôi còn vài chuyện dzui dzui nữa muốn kể với cô để đền ơn cô chi cho lá thư khuyến khích mầm già vững tay viết ở Rừng Phong, nhưng giấy vắn, tình dài, trang báo còn phải để dành cho quảng cáo, xin hẹn cô bài sau.

Advertisements

10 Responses

  1. Anh Thủy kính mến,
    Thấy anh đăng hình phu nhân, thật cảm động lắm. Đúng là một tấm gương trung thành, có hiếu với vợ. Nhưng lại nghĩ giá như anh là Thuyền Trưởng 2 Tầu, Thuyền Trưởng 3 Tầu (xem ra thì anh cũng có khả năng lái 2-3 tầu một lúc) thì có phải là đọc giả sẽ có dịp xem hình con tàu thứ 2, con tàu thứ 3 của anh và so sánh tàu nào trông nhanh gọn, tàu nào trông khoẻ chắc … vui biết mấy nhỉ ha ha ha …
    Đùa cho đời bớt stress, xin quí chị Quỳnh Anh, Lê Diễm đừng kết tội này nọ 🙂 🙂

  2. Thưa Hoàng lão huynh và đọc giả gần xa ta bà thế giới,

    Tôi mới đọc tin về nam tài tử Johnny Trí Nguyễn bỏ vợ Cathy Lynn Vũ để cặp với nữ tài tử Ngô Thanh Vân. Thấy ngứa miệng quá, lại xin phép Hoàng tiên sinh làm 1 màn Lời bàn Mao Tôn Cương:

    Chú em Johnny này hư quá. Chú không theo gương của lão tiền bối Công Tử Hà Đông. Laõ Công Tử từng đẹp giai không thua gì chú em, cũng đã nổi tiếng khắp nước không thua gì chú em, mà CTHĐ này một đời vẫn chỉ lái một tầu, lại đem hình phu nhân lên website cho cả thế giới phải khâm phục tình yêu vợ, thật là khiến cho phu nhân được mát mày mát mặt, không bõ công lao cưc khổ nuôi chồng nhiều năm lao tù. Có đâu như chú em, xem hình thì thấy tàu nhà vẫn còn quá tốt, quá ngon lành, theo ý Hoàng mỗ coi ra còn hơn cả tàu mới NTV mà chú em mới sắm. Thế mà chú em nỡ lòng bỏ tàu nhà, bỏ 2 thuyền viên non trẻ, đi theo nữ hải tặc mắt xếch NTV. Rồi chú em lại neo tàu mới cùng cảng với tàu cũ *, để cho tàu này trông thấy tàu kia thường xuyên, thật là finish water say !

    Nếu Hoàng mỗ mà có quyền phép thì sẽ gởi chú sang Singapore để cụ Lý Quang Diệu đích thân đét đít chú 100 roi về cái tội ” gió đưa bụi chuối sau hè, ham mê đào mới, bỏ bè con thơ”. Nếu chú thuộc loại đa tình đào hoa thì nên làm thuyền trưởng 2 tàu, chứ đừng có bỏ tàu nhà theo tàu hải tặc như vậy.

    Phu nhân Hoàng mỗ cũng làm 1 Lời bàn Mao Tôn Cương Bà Bà như sau:

    “Cái xứ VN này quả thật là đầy mìn bẫy đàn bà, nguy hiểm thật. Cho chồng về VN làm ăn một mình thì cũng mất, mà tò tò đi theo quản lý như Cathy Lynn thì cũng vẫn mất. Hèn chi bà Việt Kiều nào cũng sợ cho chồng về VN. Để xem Kỳ Duyên có mất Trịnh Hội hay không”.

    Hoàng mỗ có trấn an nàng rằng: không sao, em cứ để anh về VN thăm mẹ già, đừng lo. Anh nay đã thuộc hàng khứa lão, mà nào có được giàu có như Michael Douglas, Richard Gere hay Donald Trump, thì làm gì có em VN trẻ đẹp nào chịu anh. Ngoài ra, anh thuộc môn phái “Hoàng Hải”, chủ trương của môn phái là chỉ lái 1 tàu, (có thích thêm tàu nào khác thì chỉ ngắm nghía để bụng mà thôi) và .. đem hình tàu nhà lên website 🙂 🙂

    * CLV và NTV ở cùng một khu chung cư tại Saigon.

  3. Thưa Thuyền Trưởng 1 Tàu và độc giả gần xa ta bà thế giới,

    Tưởng bình luận như vậy đã đủ, ai ngờ vẫn chưa xong. Vợ tôi cằn nhằn cự nự: “Anh viết caí gì kỳ dzậy? Ai cho phép Trí Nguyễn lái 2 tàu mà anh khuyên nó lái 2 tàu? Cathy Lynn trẻ đẹp dễ thương, lại là Việt kiều Mỹ, Johnny bỏ nó thì trước sau nó cũng tìm được thằng chồng khác, tại sao nó phải chịu cho thằng Johnny lái 2 tàu? Chỉ có chế độ phong kiến ngày xưa và đạo Hồi giáo cà chớn ngày nay mới làm đàn bà chịu cho chồng lái mấy tàu. Anh viết như vậy coi chừng Hội Phụ Nữ, Hội Trưng Vương xúm lại chửi anh bây giờ. Sao anh không khuyên bảo Johnny quay về với vợ hoặc khuyên Ngô Thanh Vân buông tha Johnny? Anh đừng có bao giờ mơ tưởng chuyện lái 2 tàu với em. Sức mấy! Còn khuya!”

    Chửi thì tôi không sợ, người ta chửi Hoàng Hải Thủy chứ ai thèm chửi Hoàng Hải Hồ. Nhưng thấy nàng nói có lý, thế là thay vì ngồi nhậu hoặc làm vườn, tôi lại phải ngồi gõ lóc cóc trên keyboard, khổ quá, bút sa gà chết.

    Vậy xin có thư cho Trí Nguyễn. Thư rằng:

    Hi Trí Nguyễn,

    Qua đây có lẽ đáng tuổi chú chú em, nhưng với chủ trương Dối Già, qua chỉ muốn coi thế hệ trẻ như đàn em. Mùa hè đã đến Canada, Qua thích ngôì nhậu hoặc làm vườn hơn là xen vào chuyện gia đình của chú. Nhưng nhìn hình 2 thủy thủ bé nhỏ của chú, nhìn hình Cathy xinh đẹp, qua cầm lòng không đậu. Ngoài ra, qua có dịp xem phim Dòng Máu Anh Hùng, thấy cũng hay, lại thấy chú đẹp giai … giống qua hôì nhỏ 🙂 nên cũng có cảm tình. Vậy xin có đôi lời góp ý.

    Sau khi Cathy cho báo chí phỏng vấn và đăng hình ảnh Cathy và 2 cháu, qua nhận thấy là chú em đã thua cuộc chiến tranh dư luận. Qua tin rằng nay dư luận của hơn 80 triệu đồng bào trong và ngoài nước đã đứng về phía Cathy chứ không phải là phía chú. Xem hình Cathy thì ai cũng tự hỏi người đàn bà trẻ xinh đẹp dễ thương này đã làm gì lầm lỗi để chú phải buồn chán, tìm quên nơi Ngô Thanh Vân? Chẳng phải Cathy đã quá phóng khoáng và tin tưởng nơi chú?

    Chú có nói rằng vợ chồng chú đã lục đục bất hoà 1 năm trước khi chú trở nên dính líu sâu đậm với NTV. Lấy kinh nghiệm của người chồng 25 năm, qua có thể nói với chú rằng, vợ chồng nào chả có lúc lục đục? Không phải mỗi lúc lục đục là bỏ nhau. Vợ chồng anh ruột của qua hăm he ly dị nhau đã mấy chục năm nay, mỗi lần cãi nhau là hăm ly dị, rốt cuộc răng long đầu bạc rồi vẫn chưa bỏ nhau. Ấy là vì không có Người Thứ Ba xen vào.

    Chuyện của chú rất là cổ điển thường tình. Chú đẹp giai thì chú đa tình và đàn ông thì 9.5/10 là hiếu sắc tham lam. Lửa gần rơm thì bén. Qua công nhận NTV rất ngộ gái sắc sảo, ngoại trừ .. đôi mắt xếch giống nữ hải tặc 🙂

    Nhưng nếu chú không biết kìm chế sắc dục thì biêt bao nhiêu cho đủ? Chú không nên theo lối sống của bọn Hollywood giả dối, mở mồm ra là honey với darling, nhưng ly dị nhau xoành xoạch. Chú có dám bảo đảm là nếu chú lấy NTV, 2 người sẽ không bao giờ lục đục không? Hay là vài năm nữa, có một nàng Sở Hồng Thiên nào đó xuất hiện, rồi chú lại đổ thừa là chú với Ngô Thanh Vân .. có vấn đề ?

    Tàu Cathy của chú là loại high class, well-built, còn rầt mới. Chú bỏ thì trước sau gì cũng có thằng khác nhẩy vào lái. Qua không lo cho tàu. Nhưng qua thương 2 thủy thủ nhỏ bé của chú, vì chẳng thằng thuyền trưởng nào yêu 2 thủy thủ đó bằng chú, vì đó là thủy thủ của chú, không phải của nó.
    Chú chắc có xem phim Nhục Dục Và Cảnh Giác (Lust and Caution) ? Đam mê Thang Duy đến như vậy, nhưng khi phát hiện ra TD là gián điệp thì Lương Triều Vỹ đem bắn cái bụp, không ngần ngừ, dù lòng đau như cắt. Đó là người Đại Trí, đam mê sắc dục nhưng khi nhận ra sắc dục làm hại sự nghiệp tiếng tăm là cắt ngay sắc dục.

    Hãy bắt chước LTV và bắt chước .. qua. Thấy tàu lạ hấp dẫn là nuốt nước miếng rổi về ngủ nằm mơ. Nhưng sáng ra lại yêu tàu, yêu thủy thủ, lại lái tàu tới lui, xuôi ngược … 25 năm rồi (qua sắm tàu trễ). Riêng 2 đứa thủy thủ lúc nhỏ thì dễ thương, lớn lên thì thường xuyên cãi vã với qua, bực lắm, nhưng không sa thải được.

    Nhan sắc đàn bà là 1 vũ khí cực kỳ nguy hiểm. Vũ khí này làm bao nhiêu đàn ông thân bại danh liệt, tan gia bại sản và mất mạng. Đánh bại vũ khí nguy hiểm này cũng là 1 loại anh hùng đó Trí Nguyễn ạ.
    Hãy trỡ về với tàu Cathy và 2 thủy thủ đáng thương trước khi quá muộn.

  4. Thưa Ông Hoàng Hải Hồ,

    Đọc ba (3) bài bình luận của ông về đề tài rất ư nhậy cảm với phái đẹp (hoac thích làm đẹp) và nỗi ước mơ của nhiều liền ông ở xứ Tây Phương “Thuyền Trưởng Hai Tầu” và lời khuyên … trẻ của ông với Trí Nguyễn nghe rất ngọt lòng và bùi tai, nhất là đoạn Ông tả tầu cũ của anh ta, Cathy Lynn Vũ, còn rất tốt, còn ngon lành tui phát tò mò muốn xem tầu Cathy thì không biết phải làm sao để thấy? Ông có thể giúp cho biết ý kiến, ý cò được không ạ?
    Kính thư.

  5. Cám ơn Bắc Thần đã post link để xem bài viết về Cathy Lynn Vũ. Xem qua các hình ảnh cô xen kẽ trong bài tôi đồng ý với nhận xét tinh tế của ông Hoàng Hải Hồ là Cathy Lynn vưỡn còn mặn mà, trẻ dzà đẹp, cũng như sắc nước hương trời. Tôi còn nhận thấy không những tầu Cathy tốt sơn mà còn tốt cả gỗ nữa.
    Trân Trọng.

  6. Thưa ông Thế Hùng,

    Vâng, chỉ có tôi và ông là bàn luận về chuyện CLV-JTN-NTV. Những người khác quan tâm những chuyện đại sự hơn, quan trọng hơn.

    Tôi thích bàn về Sắc Đẹp Đàn Bà, Tình Yêu, Tình Tam Giác, Tình Đa Giác … những đề tài mà triết gia, văn thi sĩ đã bàn luận cả mấy nghìn năm nay và sẽ còn bàn luận vài ngàn năm nữa. Còn chửi bới CS và đổ lỗi cho nhau đối với tôi đã thành chuyện gió thoảng ngoài tai (nói theo thiền nhân Sa Ngộ Tịnh) vì nghe chửi bới đổ lỗi đã 33 năm ròng rã, lỗ tai đầy nghẹt mất rồi.

    Vậy thì chúng ta lại nói chuyện tiếp về 2 giai nhân CLV và NTV nhé.

    Ông nói đúng, tôi coi hình CLV trắng đen trên báo giấy đã thấy CLV sắc nước hương trời, mà xem hình màu trên website lại càng bị impressed bởi vẻ đẹp CLV. Và đây là đẹp cả gỗ, cả nước sơn.

    Theo tôi, JTN đã bị hội chứng “có mới nới cũ” và “đứng trên núi Thái Sơn không còn thấy núi TS cao như đứng đàng xa”.

    Ví Đàn bà như Hoa là đúng, không phải là trăm loại mà là nghìn loại, mỗi người một vẻ, muôn hồng nghìn tía. Tiếc thay, mỗi đàn ông chỉ được sở hữu một đoá hoa (ngoại trừ quý ông Hồi giáo hay đại gia) tùy theo trời định. Nhưng dù có muôn nghìn vẻ đẹp, tôi xếp vẻ đẹp đàn bà chỉ thành 2 loại chính: Sắc Đẹp Yên Tâm và Sắc Đẹp Không Yên Tâm. Thế nào là SĐYT và thế nào là SĐKYT? Giải thích thì dài dòng nhưng tôi nói ít, ông hiểu nhiều.

    Giả sử như tôi mới 30 tuổi và CLV yêu cầu tôi ký giấy trao thân gởi phận của tôi cho CLV, tôi ký liền cái rột. Nhưng NTV bảo tôi ký giấy “ở tù chung thân” với NTV thì tôi phải uống rượu cho xỉn, nửa tỉnh nửa mê, rồi mới dám ký 🙂

    Tại sao? Vì 1 người có SĐYT và 1 người có SĐKYT.

    Tôi không rõ cuối cùng thì chuyện 3 người đi tới đâu. Tôi mong JTN nghe lời khuyên của tôi, trở về mái tàu xưa, lấy lại lòng mến phục của quần chúng.

    Nhưng nếu cuối cùng JTN ly dị CLV để lấy NTV, tôi lậy trời phật cho CLV sẽ gặp được 1 hiệp sĩ thuyền trưởng, “a knight in shining amour” như người Anh hay nói, 1 người sẵn lòng yêu 2 thủy thủ của JTN như thủy thủ của chính mình và sẽ lái con tàu high class NTV đi đến tận đoạn cuối của giòng sông đời.

    Tại sao không nhỉ? Kỳ Duyên, Demi Moore đều tìm đươc thuyền trưỏng khác, trẻ tuổi đẹp trai, thì CLV cũng có thể làm được.

  7. Lo^~i typo: A knight in shining armour.

  8. Lời bàn của Đãng Trí Sĩ:

    Văn sĩ Văn Quang đâu có sống trong thời Pháp Thuộc, mà vẫn lái được 2 tầu. Còn anh chàng kia phải bỏ chạy vì không kham nổi 2 tàu Thiên Phước. Đúng là thua tiền bối Văn Quang.
    Ngoài ra, nếu là người tài giỏi, có khả năng, thì lo cho cô em cùng vượt biên, sang Little Saigon xây tổ ấm, gởi tiền về tiếp tế cô chị, chuộc phần nào tội có mới nới cũ, thì ngày nay lúc mưa gió giở giời đâu phải ngồi mà tiếc nuối nhớ thương?

    Xem ra giời già lắm lúc oái ăm. Đã sinh Du sao còn sinh Lượng, đã sinh chị sao còn sinh em, để cho người phải mang tiếng sở khanh hiếu sắc? (theo quý chị em Hội Phụ Nữ khắp nơi, tội biến chị em ruột thành tình địch như vậy là nặng lắm, không thua gì tội bỏ tàu nhà theo tàu nữ hải tặc).

  9. Kính quan Bác Công-Tử Hà-Đông,

    Đã từ lâu, Tui cũng muốn có ý kiến, ý cò… cũng muốn… thêm dầu thêm mỡ, thêm tiêu thêm hành, gia châm mắm muối dzô cái bài “Thuyền Trưởng Hai Tầu” của quan Bác cho cái sự đời dzốn đã rậm đám… thêm phần náo nhiệt lung tung xà ngầu đặng…. dzui lòng con trẻ… mát ruột người già, như tui… nhưng ngặt nỗi… hổng phải tui sợ chúng chửi… chớ thân tui, Trời đánh trật búa, thời còn ngán ai… chỉ lo là… chúng hay được, chúng “lợi ” bâu dzào xé xác quan Bác ra thành trăm mảnh… rách bươm, rách bét như cái mền củ Sakymen, thời… mất công nàng “Alice” của quan Bác phải… bỏ công cặm cụi mua keo dán “lợi” cái tấm thân dzốn đã… hổng còn lấy gì mần lành lặn cho lắm sau bao mùa “trần ai khoai củ”… đánh đu, dzật lộn dzới bầy quỉ đỏ để kiếm đường sanh, đường thoát trong cái Thành Hồ khốn “lịn” đó mà thôi…

    Kính quan Bác, nói thiệt xin quan Bác đừng giận tui à nghen…! chớ… Chời đất quỉ thần… nhìn mấy tấm hình bán thân, toàn thân… mà quan Bác gắn trên tường ở căn nhà “Đèn dzàng an-ninh năm chăm phần trăm” đó… hế hế…! Thấy quan Bác hiền gì đâu….! Bụt gì đâu…! Chẳng trách… mấy “nường” mà bi giờ thời… hổng còn mần nõn nường gì cho lắm… thuộc cái Hội chuồn chuồn… Hội cựu nữ sinh trường nữ “Trưng-Dzương” của “Sè-Goòng” đẹp lắm “Sè-goòng” ơi…! năm nao…! tha hồ… ” Lợi dụng thời buổi nhiễu-nhương…nữ kê tác quái… gà mái đá gà cồ”… hế hế…!

    Kính quan Bác…, đọc mấy bài “Giáo huấn ca” của mấy ẻm theo kiểu: “dạy đượi vén váy “… mà tui cười muốn mệt nghỉ… đời thuở… “Trứng mà cứ đòi khôn hơn rận”. Kể ra, thời… mấy ẻm cũng chửi quan Bác cấp tập thiệt chớ hổng chơi… Có em còn đòi: “… đào mả ông, mả cha của nhà quan Bác lên coi xương cốt…” Điệu này tui nghi chắc hổng chừng… cái trường nữ kê này nó nằm đâu trong chợ Cầu Muối hay… dám… nằm ngay khu Ngã Năm Chuồng Chó lắm đó quan Bác…? hế hế….!

    Lợi còn có em… sợ rằng quan Bác từ thuỡ cha sanh mẹ đẻ, hổng biết quì bằng hai gối nên… biểu quan Bác phải dzô đền Hai Bà mà quì gối… Ê…! cái dzụ này là mấy ẻm tầm bậy hết sức à nghen…! Cái dzụ này là chính mấy ẻm xúi quan Bác mần chiện… “Đại dzô lễ, đại xúc phạm, ngạo mạn thánh thần, giỡn cợt kiểu “Đá Bèo” của Trạng Quỳnh à nghen…! Công xúc tu sỉ à nghen…! Chớ hổng phải sao…? “Liền” ông có tuổi chớ phải đâu thanh niên cường tráng mà chơi dại.. xúi dzô đền Hai Bà quì hai gối… lỡ quì lâu, mỏi hai gối rồi phải chống hai tay… khách bàng quan nhìn coi sao đặng…? mấy cổ có muốn gì thời… chí ít cũng mời quan Bác đến nơi thanh tịnh, mát mẽ, dzắng dzẻ… đại loại như… đồi thông, sân cù Đà-Lạt… woặc… hổng có phương tiện đi xa… thời cũng nên mướn một cái “room” trong mấy “hotel” hay “motel” gì đó… lúc đó thời… mấy ẻm tha hồ mà bắt quan Bác… ” Xin quì hai gối, chống hai tay “… cho mấy ẻm chứng kiến tận mặt, tận mắt… cho “Nhĩ mục quang chiêm “… cho biết đá biết dzàng… cho đời thêm hưng phấn mà… hổng mần phiền lòng bá-tánh thập-phương… Phải hông quan Bác…? hế hế…!

    Kính quan Bác… theo tui, mấy em này thuộc dạng dỡ hơi, xì hơi bởi nồi “súp de” của mấy ẻm căng quá, nóng quá mà hổng có ai chọc cho xì bớt hơi cương, thông ống “robinet” cho nước đọng chảy ra… nên… mấy ẻm sảng lên… mần chạm dây thần kinh số sáu… hơi xì ra tai, ra mắt loạn cào cào… Đã dzậy… thuộc dòng “Hoạn-Thư ” hay đâu đó nên… “suy bụng ta ra bụng người”… Chuyện…! mấy em muốn độc quyền cái đấng liền ông của mình, mấy em muốn duy-nhứt chớ hổng chịu duy-nhị… nghĩa là… hổng chịu kiểu: “Thân anh cứ xẽ mần đôi, nửa cho cô chị nửa nhường cô em “… Đó là quyền tự-do của mấy ẻm… nào ai dám cấm cản… nhưng… “Đèn nhà ai nấy sáng ” nghen mấy em…! Mấy em hổng muốn, mấy em hổng thích “Hai Tầu song song” như “Chim liền cánh, như cây liền cành” là dziệc riêng, dziệc tư của mấy em… hà cớ chi… mấy em lấy cái quyền gì mà mấy em hổng cho Ông Thi-Sách được quyền “nái ” “Hai tầu”… hở…?

    Mấy em còn biểu là… quan Bác Công-Tử đây.. “bôi bác Lịch-sử, bôi lọ nồi dzô mặt Hai Bà…” Nè…! đừng bé cái lầm nghen mấy em…! Chiện kia là chiện xưa đã xãy ra cả ngàn năm trước… phong tục thời đó hổng giống bi giờ… đàn ông thời đó năm thê bảy thiếp là “chiện” thường ngày ở “wuyện”… mà ông Thi-Sách thời có được hưỡng nhiều nhặm gì cho cam… chỉ có hai bà… mà còn là chị em ruột thịt nữa mới chán chớ…! phải tội nghiệp Ổng chớ…! Sướng ích gì mà… sáng ăn xôi bắp, chiều xực bắp xôi… chị em thời cứ như khuôn đúc… có gì đâu lạ lẫm mà ham…? Người ngoài thời may ra….! hế hế…! Còn cái máu ghen, cái máu ích-kỷ của mấy em là ở cái thế-kỷ 21 này… mà mấy em ” lợi ” đi so-sánh… ” lợi ” tròng hai cái sự dziệc cách nhau bao ngàn năm Dzăn-Hiến… khác phong-tục, khác tập-quán… dzô làm một… rồi kết tội người khác theo cái ý muốn “Độc quyền” của mấy em thời bây giờ…? dzớ dzẩn…! chạm điện…! ai chịu cho thấu mấy em…?

    À… còn có em “lợi” tài khôn…bày đặt nêu .. “Chính Sử dziết thế này, Chính Sử dziết thế nọ…” . Xin lỗi cô em nghe… cô em nói lộn… tui cho nói “lợi” đó… Cô có biết Sữ nước Nam ai dziết hông…? Rồi cô có biết… dưới mổi đời Dzua… thằng ông nội Dzua con, Dzua cha nào cũng bắt ép Sử quan dziết hay, dziết đẹp, dziết tốt cho mình…? Rồi cô có chắc những điều cô học dzìa sử Dziệt-Nam từ nhỏ đến bi giờ là chuẩn, là đúng… “chăm phần chăm hông”…? hổng dám đâu à nghen…! “Tam sao thất bổn”… trật lất bánh chè… ở đó mà cứ… Bốn ngàn năm Dzăn-Hiến… tự lòe bịp lấy mình… riết rồi… “Lộng giả thành chân”… cứ tưởng bở…! Xin lổi cô chớ…! Tây, Tàu,…nó còn rành rọt sử Dziệt hơn dân An-nam-mít đó cô… ở đó mà dóc láo… bộ tưởng dể bịp người Âu-Tây lắm chắc…? Tết Ma-rốc đó cô em…! còn “phia” đó cô em…!

    À… đã dzậy… xin cô cho tui hay những “chiện” nào ghi trong Sử Dziệt là đúng…? Hổng đúng “chăm” phần thời chí ít cũng đúng cở…”nữa nạc nữa mỡ”… nghĩa là… chúng có chứng cứ tài-liệu khoa-học, có khảo cứu đến nơi đến chốn…? Nói xin lỗi cô đừng buồn chớ…! Cở mấy ông thầy dạy sử của cô thời… “Tài khôn cũng hổng quá cái lá đa”… huống gì cở như cô… nhằm nhòi gì mà bày đặt nói leo Sử siếc… Liệu bề mà dzìa mà ẵm cái tấm chồng nếu như mấy cô còn may mắn có trong tay… bằng không… bữa đẹp trời nào đó… thằng ông nội của mấy cô đó… nó “lợi” cuốn gói ra đi tìm tàu khác mà lái cho nó sướng tấm thân… liệu cái tấm thân của mấy cô đi… ở đó mà bày đặt… “Gái góa lo dziệc triều-đình “… thằng chồng mấy cô mà nó chuyễn bước sang ngang… ôm quần sang thuyền khác là đời mấy cô coi như “hai năm mươi “… coi như…” Chỉ thấy một chân trời tím ngắt…” . Lúc đó chổng mông mà gào cũng hổng ai quỡn mà giúp đâu… hế hế…!

    Kính quan Bác… Quan Bác thấy tui trã lời trã dzốn dzới mấy ẻm dùm quan Bác dzìa cái dzụ “Hai Tàu” này… quan Bác thấy mần sao…? đặng hông… nói một tiếng cho tui dzui cái coi… hế hế… chào quan Bác… hẹn quan Bác lần tới… thư thả hơn… tui “lợi” mần tiếp hiệp hai dzìa cái dzụ này… “Chiện” còn dài lắm nghe quan Bác…! Hiệp nhì bảo đảm hổng hấp dẫn hơn… hế hế… hổng lấy tiền quan Bác… hế hế…!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: