• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Về Cọp Và Chó

copvacho.jpg

Những năm 1960 thanh bình xa xưa, ở Sài Gòn, Thủ Đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa – Quốc Gia bị bọn Bắc Công xâm chiếm năm 1975 –  quyển tiểu thuyết của ông Văn sĩ Mỹ Jon Sì-tanh-béc tên là Of Mice and Men được các ông văn nghệ sĩ Sài Gòn dịch ra tiếng Việt, phê bình, phê lọ, bàn loạn, với cái tên nghe lạ tai là Về Chuột và Người. Tôi không nhớ đúng tên truyện Về Chuột và Người hay Của Chuột và Người. Chỉ nhớ rằng có vài ông văn nghệ sĩ Sài Gòn năm ấy viết rõ cái tên tác phẩm Of Mice and Men phải dịch là Về Chuột và Người, dịch giản dzị Chuột và Người là dịch bậy.

Thời gian vỗ cánh bay như quạ.. Thơ ông Tẩy Sia: Tchya. 1960-2008. 48 mùa lá rụng đi qua cuộc đời. Hôm nay, một ngày Tháng Ba năm 2008, liêu lạc xứ người, sống nhờ ở nơi gọi là Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi nhớ cái tên truyện xưa Về Chuột và Người, tôi viết Về Cọp và Chó.

Số là lọ mọ trên Internet, tôi thấy một bài Thơ nói đến Cọp. Bài Thơ như vầy:

* Tặng Nhà Văn NAM DAO, tác giả cặp chữ “CỌP NGÀY” để gọi yêu Thi sĩ tuổi Dần TRẦN DẦN.

Nghìn năm bất phục
Thu thế ngồi
Một trời
Một bóng
DẦN
Nghìn năm thét gầm
Quánh lại như câm
Một dòng
Một chữ
TRẦN
Những con chữ mãnh hổ
Dựng chồm
Tá hỏa tớ thầy
Bóp cổ văn chương!

Đà Lạt Ngày 8 Tháng 3, 2008.
BÙI MINH QUỐC

Ông Bùi Minh Quốc ở Đà Lạt, Việt Nam, ông Nam Dao, hình như ở Úc, hay Canada. Ông Nam Dao gọi ông Trần Dần là Cọp Ngày. Theo sự hiểu biết ngu dzốt của tôi thì, có thể, không phải chỉ vì ông Thi sĩ Trần Dần tuổi Dần, tức tuổi Cọp, mà ông Nam Dao gọi ông Trần Dần là Cọp Ngày. Xin lỗi: ở đời có nhiều ông tuổi Dần nhưng con người không có gì giống Cọp mà lại có nhiều gì giống Chuột. Chắc ông Nam Dao thấy ông Trần Dần – Kiện Tướng Nhân Văn Giai Phẩm – sống hùng như Cọp, tức Hổ, là thú vật được coi là Chúa Sơn Lâm, và bọn Cộng Sản Bắc Việt sợ ông Trần Dần như những con thú hèn – cầy, cáo, chồn – sợ Cọp, nên ông Nam Dao gọi ông Trần Dần là Cọp; không phải Cọp thường mà là Cọp Ngày. Và ông Bùi Minh Quốc, cảm khái khi thấy ông Nam Dao gọi ông Trần Dần là Cọp Ngày, làm mấy câu Thơ trên đây tặng ông Nam Dao.

Mời quí vị đọc bài Viết ở Rừng Phong hôm nay, một ngày Tháng Ba năm 2008, để quí vị định luận ông Thi sĩ tuổi Dần Trần Dần có phải là Cọp, có xứng được hai ông Nam Dao, Bùi Minh Quốc nâng bi là Cọp hay không.

Đây là một trong những bài Thơ Nhà Thơ Lớn Nhân Văn Giai Phẩm viết về Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia mà ông ta mù tịt về mọi mặt. Bài Thơ:

CHỈ MẶT NGÀI NGÔ

Ngài Ngô” đây là Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, người “chỉ mặt Ngài Ngô” là Trần Dần, một văn nghệ sĩ Bắc Cộng Xã Hội Chủ Nghĩa, nhân vật nổi nhất trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm những năm 1957, 1958 ở Hà Nội. Trần Dần là người viết nhiều chuyện nhảm nhí nhất trong bọn NVGP về miền Nam, về chính quyền Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Bài thơ dài trong có đoạn”Chỉ Mặt Ngài Ngô” là một trong những bài Trần Dần viết về Quốc Gia VNCH trong những ngày đương sự còn được Tố Hữu cho viết, cho đăng báo.

Chuyện xưa rồi, đã 50 năm qua kể từ ngày Thi sĩ Bắc Cộng Trần Dần làm bài thơ “Chỉ Mặt Ngài Ngô“. Bài Thơ Rác này cũ dzồi nhưng nó mới với tôi, 50 năm tôi mới được đọc bài thơ cà chớn của Trần Dần, 50 năm tôi mới biết “con người thật, con người hèn mạt” của ba nhân vật Nhân Văn Giai Phẩm tôi từng thán phục. Ba nhân vật ấy là Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt.

Trước khi đọc bài Thơ Chỉ Mặt Ngài Ngô, mời quí vị đọc vài chuyện về những “chiến sĩ dũng cảm Nhân Văn Giai Phẩm“. Những chuyện này do chính những ông Chiến Sĩ Nhân Văn Giai Phẩm viết:

Phùng Cung, tác giả truyện ngắn “Con ngựa già của Chúa Trịnh“, bị Tố Hữu kết tội phản động, bị đưa ra “đấu tố.” Bọn văn nô Hà Nội như những con chó được chủ cho sủa, thi nhau ăng ẳng kể tội Phùng Cung. Nhưng những người kết tội Phùng Cung trước nhất – “trước nhất“- lại là những ông bạn văn thân thiết của đương sự.

Đây là lời kể của Phùng Hà Phủ, người con trai của Nhà Văn Phùng Cung:

Phùng Hà Phủ viết đoạn chuyện này, đăng trong bài Tựa tác phẩm “Thơ và Truyện“của Phùng Cung, xuất bản sau ngày Phùng Cung qua đời.

Phùng Hà Phủ. Trích:

Theo bố tôi kể “khi xảy ra chuyện”, buổi sáng đó bố tôi được triệu tập tới cơ quan để họp. Đến nơi bố tôi thấy mọi người đều có ý lảng tránh ông, không bắt chuyện với ông. Ngay cả những ông bạn rất thân thường lui tới nhà cũng quay mặt không chào, không nhìn ông. Ngay buổi sáng đó bố tôi bị đem ra kiểm điểm trước cuộc họp, mà thực chất gần như một buổi đấu tố thời “cải cách” của Liên Hiệp các Hội Văn Học Nghệ Thuật, có cả đại diện bên Văn Nghệ Quân Đội.

Chủ trì cuộc đấu tố bố tôi là các ông Võ Hồng Cương, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Hoài Thanh… Cảm tưởng đau xót và ngỡ ngàng nhất của bố tôi là những ông bạn văn chơi thân với bố tôi đều tham gia vào cuộc “đấu tố”. Ông Trần Dần là người đứng lên mở đầu cuộc “tố”, rồi hai ông Lê Đạt và Hoàng Cầm theo nhau “làm chứng dối.” Tội chính mà bố tôi bị “tố” là “mang lòng hận thù cách mạng sau cái chết của bố mình, lôi kéo người khác về hùa để lăng mạ lãnh đạo”, và còn viết nhiều truyện chưa in khác – Tất cả nội dung các truyện bố tôi viết đều bị kết tội là tập trung đả kích lãnh tụ và Đảng Cộng sản như: Dạ ký, Chiếc mũ lông, Quản Thổi, Kép Nghế… Việc bố tôi bị bắt sau đó là do tham gia làm báo Nhân Văn nhưng theo mẹ tôi thì còn nhiều lý do khác nữa. (…)

Từ ngày ra tù, về nhà, bố tôi sống như người bị câm, hầu như không quan hệ với ai ngay trong các bạn văn quen biết cũ. Những người trực tiếp “tố” bố tôi ngày xưa đều cảm thấy hối hận về việc làm của họ, nhiều người xin lỗi bố tôi.

Ngày bố tôi và bác Phùng Quán tổ chức lễ mừng “Sống Dai” cho ông Nguyễn Hữu Đang, ông Đang là cán bộ văn nghệ, ông bị tù 18 năm – Lúc này ông đã 81 tuổi, bạn bè văn nghệ đến dự lễ mừng rất đông. Ông Lê Đạt cũng đến, ông đứng cạnh bố tôi và nói với bố tôi:

– Cung ơi, dù có thế nào tao vẫn là bạn mày, tao có lỗi với mày. Có gì, mày cứ gọi tao ra mà mắng.

Từ đó về sau, mối quan hệ của bố tôi với các ông bạn cũ có phần cởi mở hơn. Sau nầy, ông Hoàng Cầm cũng trở lại nhà tôi và ngỏ ý muốn nối lại tình thân với bố tôi như xưa. Còn ông Nguyễn Hữu Đang, gia đình bố tôi là chỗ để cho ông lui tới thường xuyên, ông không có gia đình, ông coi bố mẹ tôi như anh em ruột.

Bọn Cộng Hà Nội, gọi đích danh thủ phạm là Tố Hữu, ác độc thuộc loại Ác Quán Mãn Doanh, tức Thiên Hạ Đệ Nhất Ác. Chúng hành tội một người, nhưng chúng không đứng ra kể tội người ấy ngay, chúng để cho những người bạn thân của nạn nhân kể tội nạn nhân trước. Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt đã làm cái việc hèn mạt ấy với hy vọng họ làm thế để Tố Hữu nó tha tội cho họ, nó để yên cho họ, và vợ con họ sống. Nhưng làm cái việc hèn mạt ấy ba ông chỉ bị người đời thấy là hèn và ngu. Tố Hữu nó vẫn khinh, vẫn đánh, vẫn đì, vẫn hành hạ ba ông đến nơi, đến chốn.

Tất cả các ông, kiện tướng cũng như mạt tướng, Nhân Văn Giai Phẩm: Văn Cao, Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán, Tử Phác, Đặng Đình Hưng đều phải viết bản Tự Kiểm, tức Tự Kết Tội, Tự Thú Tội. Nguyễn Tuân, tuy không ở trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, cũng phải viết bài nhận tội. Có hai người không tự thú tội: Phan Khôi, Hữu Loan.

Bản Thú Tội của Trần Dần, do chính Trần Dần viết. Trích:

Sự hung hăng của tôi buộc lòng trên phải có những biện pháp tương xứng. ( .. .. ) Thời gian này, tôi làm một số thơ về tình yêu, về việc xin ra Đảng… giọng ai oán Đảng và lu loa kêu oan! Bài “Nhất định thắng” sinh ra trong cái nôi những tư tưởng chống đối như thế. Dưới chiêu bài “phát hiện những mâu thuẫn xã hội”, “chống công thức, tìm cái mới”, bài “Nhất định thắng” bôi đen miền Bắc. Thất nghiệp, hàng hóa ôi ế, người đi Nam, hai năm không thể thống nhất được v.v… Cái điệp khúc “mưa sa trên màu cờ đỏ” nó nhấn mạnh: “Đảng là nguyên nhân của cái xã hội thê thảm này.” Còn bài “Anh Cò Lấm”, tôi vu cáo cho Đảng là “phao phí con người” trong số đó có tôi. “Một bài thơ chưa có đề”. Tôi đánh “Những nhà thơ ti tỉ đờn bầu” (ám chỉ trường thơ Tố Hữu). Cho là xoàng cả. Chỉ có tôi là nhà thơ “Vận tải trên mọi mặt trận của quần chúng hàng tấn cả gan”. Tôi tự xưng hùng xưng bá trong thơ ca như vậy.

Tôi tưởng tôi là một người có óc suy nghĩ độc lập; nhưng sự thực tôi chỉ là một con bài, một con rối mà bọn xét lại, bọn tờ-rốt-skít, bọn đế quốc xử dụng tuỳ thích.

Tôi tưởng tôi là một thứ martyr vì dân vì Đảng; nhưng sự thực tôi dối dân, dối Đảng, tôi là một kẻ tội đồ, mà dân ta, Đảng ta còn chưa trừng trị.

Tôi tưởng tôi là một nạn nhân của quan liêu; nhưng sự thực tôi là một kẻ tội nhân, ngỗ nghịch và mưu cơ đã gây ra nhiều tội lỗi đối Đảng, đối nhân dân, đối bạn bè, đối văn học.

Tôi tưởng tôi theo chân lý, bênh vực cho những lý luận mới mẻ nhất, tiên phong nhất của lịch sử; nhưng sự thực tôi đã chạy theo những thuyết phản động, muốn hay không, tôi đã là một thứ tay sai đắc lực của bọn xét lại tờ-rốt-skít – bọn đế quốc!

Tôi tưởng con đường tôi đi là con đường hy sinh cao cả,”chemin de calvaire” sự thực đó chỉ là con đường tội lỗi nhơ bẩn mà hình phạt tôi phải chịu vẫn còn chưa xứng tội!

Đọc chuyện những người Nhân Văn Giai Phẩm, tôi lấy làm lạ về việc đã hèn mạt phản bạn, đã đểu giả làm hại người mong yên thân mình, hai “văn nghệ sĩ Nhân Văn Giai Phẩm” Hoàng Cầm, Lê Đạt vẫn có can đảm đem mặt mo, mặt thớt, mặt mẹt đến gặp Nhà Văn Phùng Cung khi ông này đi tù 12 năm, hồn xác rã rời, tàn tạ, trở về mái nhà xưa. Vu cáo cho bạn để bạn phải đi tù 12 năm, vợ con bạn nheo nhóc, sống dở, chết dở, mà còn có thể mặt trơ, trán bóng đến gặp nạn nhân, rủ rỉ: “Tao với mày vẫn là bạn.” Bạn gì? Làm gì có thứ bạn chó đến như thế?

Trong vụ đàn áp văn nghệ gọi là vụ Nhân Văn Giai Phẩm chỉ có bốn người bị bọn Tố Hữu bỏ tù. Đó là Nữ Sĩ Thụy An, ông Phùng Cung, ông Nguyễn Hữu Đang, ông Minh Đức Chủ Nhà Xuất Bản. Cả bọn Văn Cao, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Tử Phác, Đặng đình Hưng đều không ai bị tù ngày nào. Trần Dần bị giam vài tháng trong một nhà giam của quân đội. Chỉ có vài người, như Trần Dần, Đặng đình Hưng, Tử Phác, bị bọn Tố Hữu không cho sống ở Hà Nội, bắt đi lao động cải tạo, tức đi làm công việc cày cuốc ở những nơi gọi là nông trường, nhưng họ vẫn là hội viên Hội Nhà Văn, họ vẫn có Sổ Lương Thực, vợ con họ vẫn được sống ở Hà Nội. Riêng Hữu Loan, Nhà Thơ Mầu Tím Hoa Sim, không quì gối, không rập đầu, không thú tội để được sống ở Hà Nội, bỏ Hà Nội về sống ở làng quê Thanh Hóa của ông.

Trong những năm 1970, 1980, sống u ám ở Hà Nội, Trần Dần ghi vào sổ những cảm nghĩ vặt của ông. Sau khi ông chết, Nhà Xuất Bản tdmémoire ở Paris cho in một số những lời ghi này, đặt tên sách là GHI. TRẦN DẦN. Mời quí vị đọc một số những lời GHI của Trần Dần:

Đây là một đoạn trong GHI ghi về Phùng Cung.

GHI. Trg 253. Trích:

Phùng Cung

Nhục lắm. Mẹ nó. Mình xin về nhà có được không nhỉ? Mẹ nó. Có những thằng nó không bằng một thằng đồ gàn phong kiến nữa. PhKhôi chẳng hạn. Hắn cho vợ hắn gặp tôi, nhắn rằng: “Tôi đã nói gì với anh, anh cứ tố hết ra đi. Vì tôi thì già rồi mà anh thì còn trẻ!” Mẹ nó, nhục quá. Anh bảo nên thế nào? Có nên xin ra biên chế không?

Tôi nhìn PhCung, ái ngại cho anh quá. Đâu như trong khi học tập anh ta “hỗn” quá, bị đuổi ra khỏi lớp làm sao ấy… Tôi khuyên anh, rằng nên đầu hàng đi; rằng chỉ có một con đường, “họ” là chân lý, mình đầu hàng, là phải; rằng không nên xin ra biên chế, lúc này việc ấy có thể là một sự tiến công của tư tưởng thù địch; rằng không nên coi là nhục, oan ức gì nữa, mà cứ nghĩ lại xem cái bồ chữ mình đã chửi vào lãnh đạo nó to như thế nào, còn oan và nhục gì nữa.

PhCung xem ý không thông gì lắm. Tôi thấy khổ! Một con người có gan “tử vì đạo” là PhCung, than ôi, cái đạo anh định chết vì nó là cái đạo phản cách mạng, sao mà anh chưa tỉnh ngộ hử anh?

GHI. Trg 267. Trích:

Cụ thể, tức là tôi nghĩ rằng: “Bây giờ chỉ còn con đường duy nhất là đầu hàng Đảng. Không có con đường nào khác. Mà đã hàng thì hàng thực sự, về sau mới thực sự trời êm, bể lặng được.”

(…)

Tôi bị cái nhục chúng- (bọn chính quyền Sài Gòn. CTHàĐông viết thêm) – nhắc đến trong số văn nghệ sĩ “dũng cảm” kia; tất cả số văn nghệ sĩ đó đều đã thấy rõ tội lỗi của mình trong cuộc đấu tranh tư tưởng vừa qua. Tất nhiên mọi cuộc đấu tranh tư tưởng đều có cái gay go cần thiết của nó, nhưng đây là cái gay go của sự cứu vớt, cái gay go của tình yêu của Đảng, phải kiên quyết cứu số văn nghệ sĩ đáng giận kia ra khỏi cái cũi của chủ nghĩa xét lại. Đâu là chuyện bắt bớ, cầm tù? Có chuyện ấy, nhưng lại ở Sàigòn, hàng chục văn nghệ sĩ bị đưa ra tòa, chỉ vì tội tự do ngôn luận chính đáng, họ đã nói tới vấn đề thống nhất, có vậy thôi! Ở Hà Nội này, người ta lại khuyến khích việc đòi thống nhất, tha hồ thả sức mà nói! Ở đâu, có tự do yêu nước, tự do bàn đến số mệnh của Tổ Quốc, Sài Gòn hay Hà Nội? Ở đâu, những văn nghệ sĩ chỉ vì thi hành quyền công dân của mình mà lại bị tù hàng loạt?

Sự thực, ở Hà Nội, ta có bắt 3 tên NhĐang, MĐức, ThAn. Nhưng sao lại gọi họ là văn nghệ sĩ? NhĐang là một nhạc sĩ chăng? Hay một thi sĩ, một họa sĩ? Tuyệt nhiên không phải, cả đến gọi là phê bình hay nghiên cứu văn học cũng không phải. NhĐang chỉ là một thủ lĩnh của chủ nghĩa xét lại, nhè những sơ hở trong văn nghệ nhẩy vào mà phá. MĐức là một tên phá hoại làm nghề xuất bản, hắn vừa có cái căm thù chế độ miền Bắc, vừa có cái đầu óc buôn tên người, coi văn nghệ sĩ là những món hàng, nhìn văn chương thành ra nnững tệp giấy bạc lời lãi, đánh giá sự hay dở của tác phẩm duy nhất trên tiêu chuẩn bán chạy hay không, quan điểm “best seller” trong văn nghệ! Còn Thụy An, đó quả là một mụ có viết lách tí tỉnh. Song mụ bị bắt không phải vì tội “cầm bút”, mà là vì tội làm gián điệp.

Vậy thì, ai là văn nghệ sĩ bị bắt ở Hà Nội?

Đâu là chuyện khủng bố? Nếu nói khủng bố thì ở miền Bắc này người ta không quen nói chuyện với văn nghệ sĩ bằng quả đấm hay lưỡi gươm luật pháp! Có cần nhắc lại không? Năm ngoái Tổng Thống đã nhờ đến du côn đem đá đến nói chuyện với báo Tiến Thủ như thế nào? Năm nay, mấy chục nhà báo ra trước vành móng ngựa của tòa “bất công lý” Sàigòn?

Ngược lại, ở Hà Nội, nên dùng chữ cứu vớt thì đúng hơn. Bàn tay khoan dung của Đảng đã kéo những kẻ lạc đường ra khỏi cái tư tưởng đôc địa của chủ nghĩa xét lại! Sao lại gọi là khủng bố?

Un grand mensonge cousu de fil blanc!

GHI. Trg 301. Trích:

Quán đưa tôi xem một bản tin miền Nam. Đâu như do một anh bạn nào bên Văn Hóa cho mượn.

Bản tin nói xấu tình hình văn học miền Bắc. Luận điệu mốc rồi, vẫn chỉ vu là: miền Bắc thiếu tự do! Tôi bị cité, cùng với HCầm, Phan Khôi, Thụy An (!) Ngồi với cái cỗ ấy mới hôi chứ!

Đặc biệt có một bài riêng về PhQ. Miền Nam nó đưa cái bài chống quan liêu của PhQ, bóp méo xệch đi, thành những miền Bắc đói với quan liêu hại dân! Nó làm như quần chúng no ở miền Nam. Làm như quan liêu ở miền Nam không có. Ôi chao. Ở đó quan liêu là cả một chế độ, không ai còn nói đến nữa! Vì, c’est 1 mal incurable! Ở chế độ ấy, quan liêu là một sự tự nhiên, không cần phải bàn!

GHI. Trg 264-265. Trích:

Một cuộc hội đàm bỉ ổi

TPhác kể về V Cao và HCầm. Lắm chuyện lạ.

HCầm từ lớp về, đâm buồn, và hối là đã tố anh em.

Trong lớp, anh ta “tố” tợn, chắc tính từ nay về là “dựa hẳn” lãnh đạo. Còn bạn bè cũ phen này là đi toi cả rồi. Song trở về thì thấy khác! Sờ vào lãnh đạo cũng chưa thấy cái mấu nào mà víu cả! Mặt khác, VCao vẫn thấy “đình huỳnh”! Khả dĩ vẫn có thể là một cái tay vịn. Khổ thân cái kiếp anh chàng, suốt đời cứ quanh quẩn tìm cái cọc cho cái thân thể dây leo của mình. HCầm bèn tìm cách “trở về” với tiên chỉ. Cũng phải nói thêm rằng ít lâu nay, thái độ của PCung (thằng Đang nó bảo: đéo mẹ thằng HCầm, nó khai bố láo cả) hay của HLoan 2 lần chửi xỏ (thằng HCầm hèn nhát!), những cái đó làm cho HCầm “nghĩ ngợi”, nhụt cả kết quả lớp học. Anh chàng một hôm viết thư cho VCao, đại ý nói muốn thanh minh về chuyện lớp học, song nhà VCao thì nguy hiểm, bèn mời VCao đến nhà mình.

Một cuộc “hội đàm” bỉ ổi bắt đầu. H Cầm khúm núm, nhận là mình dát, bị đánh quá, mụ đi như “một con đồng”, họ hỏi đâu thì cứ phun ra tuồn tuột, không còn nghĩ ngợi gì cả nữa. Thế cho nên, khi về HCầm “không dám đi gặp anh em” nữa, sợ bị trách, ngượng mặt! Tóm lại, tức là sau khi đã thành khẩn thú tội trước Đảng trong lớp học, thì bây giờ HCầm lại thành khẩn thú tội trước tiên chỉ VCao”.

VCao lên mặt hách. Anh hạch tội HCầm, chẳng hạn – « pum « – (hút thuốc phiện. CTHàĐông ) – thì có phải là chống đối đâu, sao lại khai? Anh lại bảo là HCầm tố điêu, để che giấu cái việc có “Đảng phái chính trị”, đánh lạc lãnh đạo đi về hướng anh! HCầm thì nói hiện tượng, TDần thì nâng lên “nguyên tắc”, đều là cái “âm mưu che đậy cái tổ chức chính trị ấy”. Anh lại nói việc ấy anh đã báo cáo lãnh đạo. Cuối cùng, VCao bảo thẳng vào mặt HCầm rằng tính mày hay mách lẻo thì nhớ cho kỹ nội dung buổi gặp hôm nay đấy, có mách thì mách cho đầy đủ.

TPhác kết luận: Cả hai thằng đều như hai con đĩ rạc, đĩ rời cả. Bẩn hết chỗ nói!

GHI. Trang 257. Trích:

H Cầm tự phê cũng gớm, đúng là Bác Phó Vữa, rất nhiều chữ nghĩa trang kim lóng lánh, dán nhãn hiệu dân tộc, nào: thuốc độc tẩm đường, nào: bôi đen, bọc giấy bóng kính.

Tôi cũng không kém. Bao nhiêu hình dung từ phản cách mạng, phản động, phản Đảng, phản bội, chống chế độ, xét lại, tờ-rốt-kít. Không còn thiếu chữ gì. Giặc-bút, viên đạn xét lại, mũi tên độc địa của chủ nghĩa cá nhân đồi trụy, chủ nghĩa vô chính phủ và đầu óc làm phản vv.. Tôi sáng tác nhiều chữ nữa để mà miêu tả chân tướng mình, cho nó hết lòng một thể.

Chắc các đồng chí lãnh đạo đọc một loạt kiểm thảo của bọn tôi lần này thì phải bựt cười lắm đấy! “Trước kia thì nói nhẹ chúng cũng không nghe. Bây giờ thì chúng lại tự sỉ vả gấp triệu lần sự phê bình của lãnh đạo!”

Đây là bài Thơ CHỈ MẶT NGÀI NGÔ

Trần Dần

Tôi đứng mênh mông chỉ mặt “Ngài” Ngô

* Đoạn thơ này trích trong bài thơ dài “Cách Mạng Tháng Tám” của Trần Dần, in trong tập thơ Cửa Biển của 4 người : Hoàng Cầm, Văn Cao, Trần Dần, Lê Đạt, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ Mới, Hà Nội, phát hành.

Tôi công dân nước cộng hoà mười một tuổi.
Tôi đứng mênh mông chỉ mặt Ngài Ngô,
Ngài nói: được lòng dân, thắng lợi.
Tự do, tự diếc, gì gì…
Nhưng thưa Ngài – Sao Ngài phải rúc vào bóng tối suối A-chê,
Ngài moi ruột từng người phụ nữ, từng em bé dại, tay không mà tội ác Ngài vẫn phơi ra ánh sáng?
Sao ảnh Ngài in giấy Mỹ trắng thơm, người dân lại phơi ngài ra cửa liếp cho mọt phên gậm nát, nắng mưa thui?
Tại sao những em bé chăn trâu lại đánh rớt Ngài trên đống cứt?
Ngài hãy hỏi mỗi con đường, góc phố đã xấu hổ ra sao vì sống dưới quyền Ngài?
Những tờ báo ngợi ca Ngài sao nhỉ
Ngài phải giở trò du côn đánh đập người ta?
Những gánh hát chắc hát Ngài hay lắm
Ngài phát run lên khoá miệng cả lời ca!
Ngài thắng lợi: bao nhiêu đồng cỏ dại! cánh tay nông dân ôm ghì đất mẹ ra sao?
Tố Cộng – Ngài bắt được những hai người ở Gia Định cơ à?
Nhưng – sao Tổng thống mặt xanh như chàm đổ khi chân chị Diệu bước về thành?
Sao ở vùng Cái Nước, Bạc Liêu
Ngài uất ức, thổ ra từng chậu máu
Lùng vây: – không bắt được người nào?
Ngài hãy hỏi những thùng phiếu giả, chúng chửi Ngài mấy cót mấy nia?
Ngài đã thắng bốn vị Thần Khoái Lạc.
Nhưng – gia quyến Ngài mở mấy tiệm, mấy sòng thêm?
Sao những R.O. phun loạn khói Sài Gòn?
Sao những tấn mủ, hàng tấn tim la vẫn khệnh khạng ra vào dinh Tổng Thống?
Và các vị Mỹ say bí tỉ ôm đàn bà cởi truồng nhẩy trước mặt Ngài xem?
Ngài lắm súng – lại sẵn lòng tàn bạo.
Không bao giờ Ngài từ chối máu dân ta.
Chợ Lớn, sao Ngài không dám bắn 300 công nhân khai hội chửi Ngài
Và khắp miền Nam dưới mũi lê Ngài sao nẩy nở lắm ca dao hay thế?
Khen ngài là – bán nước
Tặng Ngài tên – con chó gặm xương?

Tôi không còn lời gì để nói về con người Trần Dần và bài thơ quá bẩn này.

Những năm 2007, 2008, trong giới Văn Nô Hà Nội, bọn bị Nhà Văn Nữ Dương Thu Hương gọi là những con chó, bọn bị Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện gọi là bọn Bồi Bút, bọn Văn Sĩ Cô Đầu, nhen nhúm việc nạo rỉ, lau mốc, chùi dzầu, đánh bóng cho Trần Dần. Đây là một đoạn trong những bài mới được viết ca tụng Thiên Tài Thơ Trần Dần:

Trích:

Người ta nói rằng Trần Dần đã thổi hồn vào từng sự vật, thổi sự sống vào từng con chữ. Nhưng cái làm cho người đọc luôn bất ngờ là cái cách tư duy ngôn ngữ táo bạo, độc đáo và mới lạ của ông đã tạo nên những ấn tượng mạnh, thậm chí thoạt đầu gây sốc. Gây sốc bởi vì nó mới quá, nó lạ quá, nó không giống “thơ cũ”. Gây sốc bởi ông chủ trương “làm chữ”, làm những chữ mới và làm mới những chữ cũ. Đấy chính là Trần Dần một cá thể thơ.

Ngôn ngữ của Trần Dần luôn biến động và ta thấy cả sự lao tâm của ông cho từng con chữ. Lê Đạt nói “nhà thơ là phu chữ“, tôi nghĩ cụm từ này dùng để gọi Trần Dần thì vô cùng đắc địa. Ngay trong cả loại thơ kiểu văn xuôi của ông vẫn ngồn ngộn hình ảnh và cảm xúc thiên hà.

Tôi có nghèo đâu, trăng sao lủng liểng. Mây phơi dằng dặc khắp chân trời. Hương hỏa của tôi, kho nào chứa xuể? Ê hề vũ trụ sao bay. Tôi di lại cho ai giờ? Tầng tầng mây, lục địa lục địa của cải“. (Sổ bụi 1979)

Thơ Trần Dần, như tiểu thuyết sau “Nhân văn – Giai phẩm” của ông, ngồn ngộn chữ, ngồn ngộn da thịt, sự sống. Ông không phải một nhà thơ dễ đọc. Ông cũng không phải nhà thơ quần chúng hóa, mặc dù ông thơ hóa nhiều ngôn ngữ quần chúng. Những vấn đề cuộc sống và nghệ thuật luôn được ông soi rọi, chăm chút, xuất thần theo kiểu riêng của mình.

Mời quí vị đọc bài Thơ JỜ JOACX của Nhà Thơ Thiên Tài và Dũng Cảm Trần Dần:

jờ joạcx. Trích:

joạc jờ jêrô… vòng tròn
thằng truồng bị vây trong vòng tròn.
tôi không hiểu tôi bò 2 chân trên sẹojoạc jờ nào?
sao cứ thun thút những sẹo mưa jọc jài ỗng ễnh bầu mưa?
chứ tôi đâu phải thằng quíc-ss? mà tôi vẫn bị ngửa thì jờ ướt mưa jòng mùa jọc nịt joạc vườn jịch ngực joạt đùi jầm mùi jũi lòng.
tôi biết jành jạch sử kí cả những luồng phùn mọc lọc người đi.
hôm nọ lơ thơ bình minh tôi bóc lịc mịch ngày tôi đi song song cơn mưa to juỳnh juỵch jạng đông
tôi gặp một con nữ vận động viên ướt jượt toàn thân chạy joạch vòng mưa jòng jòng
1 – 9 – 6 – 3 min mét nữ.
jờ jạchx nở jòn jọtx
chính ja tôi thíc cái yếm nín cái nịt thịt của các kilômét đùi joạcx.
Tôi gương trong jập mùng đùi sẹo nữ.
tôi là một cái sẹo mòng mọc khoái jữa các sẹo bàn ghế tủ nam nữ đồ đạcx. Ngưng trích.

Bài Thơ”Jờ Jọacx” bất hủ của Nhà Thơ Lớn Xã Hội Chủ Nghĩa còn dài, quí vị chỉ mới đọc 1/3 bài. Tôi không trích nhiều hơn. Tôi chắc quí vị biết tại sao.

Tác phẩm GHI, 500 trang, không một dòng ghi về chuyện ba Kiện Tướng Nhân Văn Giai Phẩm kể tội ông Nhà Văn Phùng Cung. Cọp Ngày Trần Dần thấy nhục quá nên lờ đi, nên không ghi, hay ông Cọp có ghi mà Nhà Xuất Bản tdmémoire thấy tởm quá nên bỏ đi?

Ngày 28/ 2, 2008, ông Nam Dao, người gọi Thi sĩ Jờ Joạcx là Cọp Ngày, viết:

Nam Dao. Trích:

Hôm qua, tôi nhận được tin sau:

“TRẦN DẦN – THƠ” đã bị niêm phong và thu hồi ngày hôm nay 26 tháng 2 năm 2008, tại Công ty Truyền thông & Văn hóa Nhã nam, Hà Nội. Một đoàn thanh tra liên ngành gồm Cục xuất bản, Thanh tra văn hóa, nhân viên nội vụ A25 đã có mặt tại hiện trường để thi hành quyết định.”

Cái tin không vui làm tôi nhớ Trần Dần, nhớ lần cuối cùng tôi gặp ông, người không hiểu sao tôi gọi là ông “Cọp ngày“. Đó là năm 1989. Chúng tôi rủ nhau vào Sài Gòn, đi xe lửa Liên Việt, ghé mỗi nơi một tí. Ông rất vui, gật gù. Vài ngày sau thì có tin báo “trục trặc”. Thế là tôi đành đi trước, hụt chuyến vào Huế thăm anh em Sông Hương, và chỉ gặp lại ông trong miền Nam, rủ rê ông gặp Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn. Vui với nhau được ít buổi. Rồi tôi phải đi, và đến chia tay một buổi trưa nắng rát mặt. Thấy cây gậy trúc ông cầm, tôi linh tính một cái gì đó mong manh, xin cây gậy giữ làm kỷ niệm. Ông ngần ngừ, rồi thốt: “Bửu Chỉ cho mình“. Rồi ông loay hoay, chữ như kiến bò, viết trên một cái vỏ bao thuốc lá: “Tôi đã hát những lạc quan không hát / bây giờ tôi hát lạc quan đen“, miệng vẫn kiệm lời: “Giữ cái này vậy.” Từ ngày ấy, tôi không còn được gặp ông vì bị cấm cửa từ năm 1990 đến 1997 mới lại được “cho về“.

Vô phép, tôi kèm một dấu hỏi vào câu thứ nhì của hai câu mini. Nếu ông giận, thì tôi sẽ nhắc, anh Dần ạ, ấy là bởi em còn hai câu khác của anh nó ám ảnh. Đó là:

Tất cả đến với tôi – phải đến từ đàng trước.
Đàng sau có gì? toàn LÁ-CHẾT những ngày qua.

Rồi ai cũng chết, nhưng từ đằng truớc, xá gì đám lá mục đằng sau. 28/02/2008.

Ngày 28 Tháng 2, 2008, được tin tập Thơ của Nhà Thơ Lớn Trần Dần bị bọn Cộng Hà Nội không cho phát hành, ông Nam Dao trạnh nhớ những ngày năm 1989, ông xin Ngài Thi Sĩ Cọp Ngày cho ông cây gậy trúc, Ngài không cho, Ngài chỉ ban cho ông 2 câu thơ, một câu Thơ Vàng, một câu Thơ Ngọc:

Tôi đã hát những lạc quan không hát
Bây giờ tôi hát lạc quan đen.

Thi sĩ Lớn chỉ ban Thơ, Ngài không ban cho ông Nam Dao cây gậy trúc của Ngài. Tiếc thay! Tiếc lắm lắm thay! Nếu Thi sĩ Lớn cho ông Nam Dao cây gậy thì ngày nay, và 20 thế kỷ sau, những người Việt Nam ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca, có thể cơm nắm, muối mè, đi bộ, làm những cuộc hành hương ngàn dặm, đến nhà cũ của ông Nam Dao, quì gối, cúi đầu trước bàn thờ Ngài Thi Sĩ Cọp Ngày, bàn thờ Ngài lung linh nhang đèn, bàn thờ có chân dung của Đại Thi sĩ, phải gọi là Bảo Tượng mới đúng, và hai di bảo vật là tập Thơ JỜ JỌACX và Cây Gậy Trúc của Ngài.

Nhà Thơ Dũng Cảm giao hẹn với Loài Người Hèn Mọn:

Tất cả đến với tôi – phải đến từ đàng trước
Đàng sau có gì? Toàn LÁ-CHẾT những ngày qua.

Cảm khái cách gì!

Đúng dzậy. Loài người đến với Thi sĩ phải đến từ đằng trước, bởi vì đằng sau Thi sĩ, ngoài Lá Chết, có vướng cái đuôi Chồn.

Nghìn năm bất phục
Nghìn năm thét gầm
Những con chữ mãnh hổ..

Mèn ơi! Ối ông Nam Dao, ông Bùi Minh Quốc ơi..! Qúi ông bốc thơm, nâng bi hay quá là hay. Hay không chịu được. Bốc, nâng đến như dzậy là cực kỳ. Chỉ có điều qua những gì Nhà Thơ Cọp Ngày làm, nói, viết, người đời chỉ thấy ông ta hèn, đểu, thấy ông ta phủ phục, ông ta làm thơ như một anh điên, anh ngọng. Ông ta có cái gì đáng để quí ông bốc, nâng ông ta đến như thế?

Tôi định đến cuối bài này sẽ cung kính xin ông Nhà Văn Nam Dao làm phúc cho biết Nhà Thơ Trần Dần đã làm những câu thơ mãnh hổ thét gầm nào để ông gọi ông ta là Cọp Ngày. Nhưng đến cuối bài lại thấy chính ông Nam Dao tự thú “không biết vì sao ông gọi ông Trần Dần là Cọp Ngày.” Ông Nam Dao gọi ông Trần Dần là Cọp Ngày mà ông Nam Dao không biết tại sao!

Sế sì có chán không cơ chứ!

Cái chán này không phải chán suông, chán đoi mà là chán quá cỡ thợ mộc, chán mớ đời.

Đến đây tạm chấm dzứt Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum.

Advertisements

One Response

  1. Mười hai con Giáp có đầy đũ trong bài Kim Ô Giáng Bút của Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ sau đây:

    BÀI GIÁNG BÚT KIM Ô CỦA BỒ TÁT TUỆ TRUNG NĂM 1944

    Ghi chú về tâm lý giới chức Pháp Việt ở miền Bắc trong bối cảnh lịch sử 1944: Một số quan chức Pháp Việt ở miền Bắc lo ngại quân Nhật lật đổ Toàn Quyền Đông Dương trong nay mai nên đi cấu cơ giáng bút ở Đền Thượng Cửa Ông Quảng Yên.. Sự lo ngại rất đúng theo đoạn trích bài 9 MARS 1945: LES JAPONAIS S’EMPARENT DE L’INDOCHINE của Philippe Millour. L’Indochine reste le seul territoire français où perdure l’administration de Vichy. Mais le risque croissant d’une intervention japonaise ou alliée nécessite des mesures plus importantes. Le 29 février 1944, …

    … bài dài quá, xoá bớt …!

    Thông thường thì các bài sấm ký, tiên tri, cơ bút và giáng bút, rất khó giải, nên có người không tin và cho đó là dị đoan mê tín. Chỉ khi nào sự việc xảy ra thì chúng ta mới nghiệm thấy đúng sai. Mong quý độc giả cũng có thể tự mình thử dự đoán rồi so sánh với cách đoán giải khác. Ví dụ link sau đây:
    http://www.tinparis.net/thoisu/1207_29_GHPGVNTNHaiNgoai11_1_2008_THanhHai.html

    Nay kính
    Tâm Tràng Ngô Trọng Anh

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: