• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Em ơi… Cá Tháng Tư!

Người Âu Mỹ có trò chơi gọi là Poisson d’Avril, April’s Fool, tức trò Cá Tháng Tư. Tháng Tư năm nay tôi có một số hình ảnh đặc biệt trình bày trong những bài viết này. Những hình ảnh này được lấy từ Cabasa.com.

Đòn độc đáo: Nữ Ứng Cử Viên Tổng Thống Hoa Kỳ Hillary Clinton đã chiêu hồi được Osama Bin Laden. Hai nhân vật nổi tiếng nhất thế giới đã gặp nhau ở một địa điểm bí mật mà CIA cũng không biết. Bin Laden hứa sẽ đầu hàng nếu bà Hillary Clinton trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ. Ảnh Cabasa.com

Nhân dịp sang Bắc Kinh xem Thế Vận Hội, Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush sẽ hội kiến với Chủ Tịt Tầu Cộng Hồ Cẩm Đào. Để thực hiện việc cộng tác có lợi cho cả hai quốc gia. Hoa Kỳ và Tầu Cộng sẽ phát hành chung một loại giấy bạc dollar dùng được trong hai nước. Ảnh Cabasa.com


 Vừa phát hiện ở thị xã Cần Thơ một thiếu phụ giống hệt cô đào xi-nê Mỹ Angelina Jolie. Giống đến nỗi Brad Pitt cũng phải hun lầm. Người phụ nữ Cần Thơ này, Cabasa.com còn dấu tên, đã được Nữ minh tinh Angelina Jolie mời sang Hollywood, trả lương mỗi tháng 500.000 đô để đóng phim giả làm Angelina Jolie. Ảnh Cabasa.com.

 

 

 


Rừng Phong, sáng Thứ Hai 31 Tháng 3, 2008.

Ngày mai là Ngày 1 Tháng Tư. Lại một Tháng Tư nữa đến trong cuộc sống buồn của người biệt xứ. Kể từ Ngày 30 Tháng Tư 1975 đến Ngày 30 Tháng Tư 2008, thấm thoắt dzậy mà đã 33 Tháng Tư trôi qua cuộc đời.

Mỗi năm người có mười hai tháng,
Ta suốt năm dài một Tháng Tư.

Thơ Thanh Nam. Bà Nhà Văn Túy Hồng mới viết một bài về Nhà Văn Thanh Nam, ba mươi năm sau ngày Nhà Văn – Nhà Thơ qua đời ở Thành phố Seattle – bài viết làm tôi cảm khái. Từ ngày sang Kỳ Hoa tôi đã viết bài Như Lá, Như Mây về Thanh Nam. Tôi sẽ viết một bài nữa về Thanh Nam trong những ngày tới. Hôm nay Tháng Tư đến, Tháng Tư trở lại, tôi phóng tác Thơ của Thanh Nam:

Một năm người có mười hai tháng,
Ta suốt đời ta một Tháng Tư !

*****

Tôi thường viết câu Viết ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích trên những bài viết của tôi. Đã mấy lần tôi viết tại sao là “Kỳ Hoa Đất Trích“. Nhưng đến nay vẫn còn nhiều vị độc giả théc méc hỏi “Đất Trích” là ký gì?

Xin trả lời:

Rừng phong xuất từ Thơ Kiều:

Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuốm mầu quan san.

Xứ Tình Nhân xuất từ câu Virginia is for Lovers.

Đất trích đến từ bài thơ Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị:

Tầm Dương giang đầu dạ tống khách,
Phong diệp, dịch hoa, thu sát sát.

.. .. ..

Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân,
Tương phùng hà tất tằng tương thức.

.. .. ..

Ngã tòng khứ niên từ đế kinh,
Trích cư ngọa bệnh Tầm Dương thành.

.. .. ..

Thê thê bất tự hướng tiền thanh,
Mãn tọa trùng văn giai yểm khấp.
Tọa trung khấp hạ thùy tối đa?
Giang Châu Tư Mã thanh sam thấp.

Bản dịch của Phan Huy Vịnh:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách,
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu.

.. .. ..

Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai.

.. .. ..

Nghe não nuột khác tay đàn trước,
Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi.
Lệ ai chan chứa hơn người?
Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.

Thời xưa bên Tầu, những ông quan có lỗi bị triều đình trừng phạt, đầy đi làm quan ở những nơi xa sôi, hoang vắng. Việc bị đi đày gọi là “biếm trích“, vùng đất đi đầy gọi là “trích địa“. Quan Tư Mã Bạch Cư Dị bị đày đến Thành Tầm Dương. Một tối ông đến bến sông Tầm Dương đưa tiễn ông bạn. Ở bến sông này Thi sĩ gặp nàng kỹ nữ đánh đàn tỳ bà, ông cảm động vì chuyện đời nàng, vì tiếng đàn của nàng, ông làm bài thơ Tỳ Bà Hành, bài thơ tình đã sống ở cõi đời này hơn một ngàn năm. Đến những năm 2000, hai tiếng “Đất trích” đi vào những bài viết buồn của người lưu vong buồn nơi xứ người.

Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp lại nhau càng thấy thương nhau.
Từ xa quê mẹ bấy lâu,
Kỳ Hoa Đất Trích gối sầu hôm mai.

*****

Như tôi đã viết: tôi sống cô liêu ở Rừng Phong, mỗi lần có được những văn phẩm đến từ Ca Li Đất Văn Học là tôi mừng húm. Tuần báo Việt Tide là một trong những tuần báo xuất bản ở Ca Li có nhiều bài rất giá trị. Văn bất khả độc hưởng. Văn hay không thể hưởng một mình. Xin mời quí vị đọc bài viết này:

Bầu cử Quốc Hội và Hiến Pháp Đệ Nhất Cộng Hòa.
Người viết: Nguyễn Văn Minh.

Tuần báo Việt Tide Số 349, trích:

Đọc thấy tên Đại sứ Elbridge Durbrow, tôi giật mình nhớ đến thái độ giận dữ đến hốt hoảng của ông, khi một tên gián điệp của cộng sản miền Bắc, ngồi trong Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn, bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt của ông Ngô Đình Cẩn bắt.

( .. .. .. )

Câu chuyện ông Đại Sứ giận dữ, hốt hoảng xẩy ra như sau: Đầu năm 1958, sau khi kiểm chứng những tin tức do bộ phận theo dõi hoạt động của màng lưới Tình Báo Chiến Lược của cộng sản tại miền Nam thâu thập, với sự phát giác của những điệp viên đã bị bắt, nhận hợp tác với Đoàn. Đoàn Công Tác Đặc Biệt của ông Ngô Đình Cẩn đã chặn bắt tên gián điệp Trang Công Doanh, tức Đại tá Văn Quang, một điệp viên đã được đào tạo qua khóa huấn luyện đặc biệt do cố vấn Trung Cộng hướng dẫn, trên đường y đến cơ quan USOM của Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn để làm việc.

Trang Công Doanh bị bắt chưa được nửa ngày, thì Đại sứ Elbridge Durbrow xin được yết kiến khẩn cấp Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Vào gặp Tổng Thống, ông Đại sứ tỏ vẻ nghiêm nghị đưa lời phản đối Chính phủ Việt Nam đã để cơ quan an ninh bắt nhân viên Tòa Đại sứ mà không cho biết lý do. Và ông yêu cầu được coi hồ sơ tội trạng của y ngay tại văn phòng Tổng Thống.

Nhận được chỉ thị đem hồ sơ Trang Công Doanh lên trình Tổng Thống đúng lúc tên Doanh bị cơn sốt vì bệnh hoa liễu nổi lên hoành hành. Không hỏi han gì được, ông Dương Văn Hiếu, Trưởng Đoàn Công Tác Đặc Biệt, cho Trang Công Doanh đọc các tin tức về hoạt động gián điệp của y, đồng thời cho gặp các đồng chí của y bị bắt từ trước. Thấy không thể chối cãi hắn tự động xin giấy bút khai hết các hoạt động và nhìn nhận đã được chính Cục Trưởng Cục Tình Báo Chiến Lược Trần Hiệu, đưa đi theo đoàn người di cư vào Nam để hoạt động gián điệp. Hồ sơ Trang Công Doanh đưa lên trình Tổng Thống và Đại sứ Durbrow được thông báo ngay tại chỗ. Ông Đại sứ cáo từ Tổng Thống, buồn bã ra về.

Ông Nguyễn Văn Minh đã viết chắc là chuyện phải có thật, chuyện phải xẩy ra như lời ông kể, tôi chỉ nhân bài viết của ông nhắc đến Cơ Quan USOM, tôi động lòng hoài niệm, nhớ lại thời hoa niên của tôi, những năm 1955, 1956, cuộc sống dàn xếp cho tôi làm nhân viên USOM.

Số là cuối năm 1954 tôi vào làm phóng viên-nhân viên tòa soạn Nhật Báo Sàigònmới. Một hôm bạn tôi, Nguyễn Ngọc Tú, bút hiệu Ngọc Thứ Lang, dịch giả The Godfather Bố Già, bảo tôi:

– Tao gặp bà Bút Trà báo Sàigònmới ở Bộ Thông Tin, bà ấy nói bà ấy cần một ri-poọt-te. Mày đến xem.

Khi ấy tôi đã có thành tích một năm làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, bà Nguyễn Ngọc Diêu chủ nhiệm, anh Tnanh Sanh chủ bút, và là cây viết trẻ được Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn Năm 1952 của Nhật báo Tiếng Dội, ông Trần Tấn Quốc chủ nhiệm. Tiền Giải Nhất 3.000 đồng. Tôi đến tòa báo Sàigònmới gặp bà Bút Trà. Bà nhận tôi vào làm ngay. Về sau, khi đã trở thành nhân viên thâm niên của báo, có lần tôi hỏi bà Bút Trà:

– Hôm tôi đến xin việc, tại sao bà nhận cho tôi vào làm ngay mà không hỏi gì nhiều về tôi?

Bà nói:

– Khi ấy có mấy anh đến, tôi có biết tài năng của các anh ra sao đâu. Tôi chọn anh vì thấy anh ăn bận đàng hoàng.

Thì ra tôi được làm nhân viên nhật báo Sàigònmới chỉ vì tôi đến xin việc mà tôi bận sơ-mi trắng dài tay, áo bỏ trong thùng, đi giầy da có bí-tất, tóc chải gọn, không râu ria, tôi không đến xin việc với áo sơ-mi cộc tay vạt áo bỏ ngoài quần, đi giép lẹp kẹp, đầu tóc bờm sờm. Công Tử Tỉnh Lẻ Hà Đông không ăn dziện bằng ai nhưng tôi vốn thường ngày ăn bận như thế, không phải tôi cẩn thận ăn bận như thế để đi xin việc.

Những năm 1954, 1955, nhật báo Sàigonmới chưa bầy ra trò tặng phụ bản chim cò, báo sống được nhưng không phải là báo bán được nhiều, có nhiều người mua. Lương của tôi một tháng là 3.000 đồng. Tôi mới lập gia đình, nôm na là mới có vợ, 3.000 đông một tháng vợ chồng tôi sống không đủ, tôi đòi nhà báo tăng lương tôi lên 4.000 đồng. Nhà báo không tăng, tôi bỏ Sàigònmới.

Khi ấy bạn tôi Trần Đình Hồng Lâm, làm nhân viên Motion Picture – Phòng Điện Ảnh – thuộc Cơ Quan USIS. Lâm chỉ đường cho tôi đi làm Sở Mỹ. Lâm nói với anh Lê Minh Thịnh, Phụ Tá Phòng Nhân Viên Tòa Đại sứ Mỹ, đúng ra anh Lê Minh Thịnh là Chief, anh làm hết mọi việc về nhân viên, tuyển người, Trưởng Phòng người Mỹ chỉ lo cho nhân viên người Mỹ, Lâm gửi gấm tôi với anh Thịnh, huỵch toẹt là Lâm xin anh Thịnh nhận tôi, cho tôi công việc. Tôi đến Tòa Đại sứ, đường Võ Di Nguy-Hàm Nghi, trước cửa Nhà Chartered Bank, gặp anh Lê Minh Thịnh, anh hỏi tôi mấy câu: “What is your name? Where do you lived?“. Anh cho tôi dịch một cái Memo ngắn từ Anh ra Việt rồi cho tôi giấy giới thiệu đến Cơ Quan USOM, số 35 đường Ngô Thời Nhiệm.

Ra khỏi Tòa Đại Sứ Mỹ với phong bì trong có giấy giới thiệu, 15 phút tôi vù trên xế đạp đến Nhà USOM, số 35 đường Ngô Thời Nhiệm, tên Pháp là đường Jaureguiberry. Bà Trưởng Phòng Nhân Viên USOM tiếp tôi, cho tôi làm nhân viên Travel Section của USOM, lương tháng 6.000 đồng, thêm tiền overtime. Tôi giữ việc đến Hàng Không Việt Nam mua vé máy bay cho nhân viên USOM đi trong nước, đến Pan American đường Tự Do mua vé máy bay cho nhân viên USOM đi các nước ngoài, đến những Sứ Quán lấy Entry-visa cho nhân viên. USOM có 1 máy bay 2 động cơ riêng, Air America, mỗi tuần 2 chuyến bay từ Sài Gòn đi Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế, mỗi tuần 1 chuyến bay đi Nam Vang, Viên Chiên, tôi lo việc giúp nhân viên USOM làm thủ tục xuất nhập ở phi trường Tân Sơn Nhất, tôi đón những nhân viên USOM mới đến từ Mỹ ở phi trường Tân Sơn Nhất, đưa họ về hotel. Năm đó chính phủ Mỹ mở rộng việc viện trợ cho Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, nhân viên USOM mới từ Mỹ đến Sài Gòn nườm nượp, đô-la, đồ Nhật – Mỹ mua – đổ vào Việt Nam như nước. Công việc đưa đón nhân viên mới đến – New Arrivals – của tôi ở phi trường Tân Sơn Nhất cho tôi có nhiều giờ overtime – phi cơ từ HongKong, Tokyo, Bangkok hay đến Tân Sơn Nhất vào nửa đêm, những ngày nghỉ. Lương tháng của tôi thêm overtime tới khoảng 10.000 đồng.

Những năm 1955, 1956, 1957 trong số nhân viên USOM người Việt có ông Tuấn Ghẻ, Housing Section, ông Tuấn hiện ở Cali. Năm ấy ông Tuấn mới từ Pháp về. Ông nói giỏi tiếng Pháp. Để tránh tình trạng mọc rễ, trở thành một thứ Thựïc Dzân Mới, Chính phủ Mỹ không làm chủ nhà, đất ở hải ngoại, chính phủ Mỹ mướn đất xây những Tòa Đại Sứ, mướn nhà cho nhân viên Mỹ cư ngụ. Những năm 1956, 1957 những ông bà người Pháp ở Sài Gòn xách va-li về nước. Những biệt thự, vi-la của họ không thể bán được, dân Sài Gòn không có tiền mua. Đúng lúc ấy chính phủ Mỹ cho công chức Mỹ đến Việt Nam rầm rập, nhiều nhất là các viên chức viện trợ USOM. Viên chức Mỹ dzốt tiếng Pháp. Ông Tuấn Ghẻ, nói thạo tiếng Pháp nên được USOM dùng đúng chỗ. Ôâng được mời vào làm việc ở Housing Section, chuyên việc nướn vi-la của người Pháp làm chỗ cư ngụ cho viên chức USOM.

USOM những năm 1955, 1956, 1957 có ông Nguyễn Ngọc Linh mới du học ở Mỹ về, làm trong Agriculture Section, Trưởng Phòng là ông Ladezinsky. Ông Nguyễn Ngọc Linh đi cái xế Hillman đề-ca-pô típ, tức xe ô-tô mui vải, xe bỏ mui, hai cửa, sơn mầu vàng. Tôi thường đi mua vé máy bay, đi lấy visa cho ông Ladezinsky nên tôi nhớ tên ông. Trong số những người đẹp USOM 1956 có cô Mộng Vân; năm nay Hoa Khôi USOM 1956 Mộng Vân phải ở số tuổi Bẩy Bó. Và USOM năm ấy có ông nhân viên Trần Đức Thanh Phong, tác giả bài Giải Pháp Bảo Đại đăng trong báo Thời Luận Xuân Mậu Tý.

USOM là tên tắt của United States Operation Mission. Nhiều quan chức Việt Nam hỏi tôi “Operatíon Mission” nghĩa là gì, tôi chịu không trả lời được. Năm 1960 USOM phát triển thành USAID, văn phòng nhiều tầng ở đường Lê Văn Duyệt, trước cửa Trụ Sở Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam.

Những năm 1960 anh Lê Minh Thịnh mở Trường Anh Ngữ Lê Minh Thịnh ở Cổng Xe Lửa Số 1 đường Nguyễn Trãi, sau Nhà Thờ Huyện Sĩ. Trần Đình Hồng Lâm những năm 1970 là nhân viên Thông Tấn ABC ở Sài Gòn. Anh và gia đình được Sở ABC đưa đi sang Mỹ trước ngày 30 Tháng Tư 1975. Nay Trần Đình Hồng Lâm là Paul Lâm, sống ở Virginia is for Lovers. Lâm và tôi quen nhau năm 1951. Chiều chủ nhật ấy chúng tôi cùng vào rạp Xi-nê Olympic đường Hồng Thập Tự xem phim, cô đào Pier Angeli đóng vai chính. Tôi quên tên phim. Chúng tôi ngồi cạnh nhau, bắt chuyện, cả hai cùng thích Pier Angeli. Chúng tôi thành bạn từ chiều chủ nhật hơn 50 năm xưa đó.

Tôi thích viết truyện, tôi mơ tôi viết tiểu thuyết từ những ngày tôi chưa biết đàn bà với con gái giống nhau, khác nhau ra nàm thao, tôi có thể cứ làm nhân viên USOM đồng thời tôi viết truyện, hai công việc ấy không gây thiệt hại gì cho nhau, nhưng tôi không thích làm thư ký. Vốn liếng tiếng Ăng-lê của tôi là Ăng-lê Ăn Đong, đựng không đầy cái lá mít. Làm thư ký Sở Mỹ thì có lương tháng chắc chắn, khá cao, nhưng xin nhắc lại: tôi không thích làm thư ký – dzù là thư ký Sở Mỹ – một ly ông cụ nào. Làm thư ký Sở Mỹ tôi thua kém nhiều người, suốt đời tôi chỉ là anh thư ký Sở Mỹ hạng bét.

Thế rồi năm 1956, ông Hồ Anh, Chủ nhiệm Nhật báo Ngôn Luận, ra tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, tôi viết phóng sự tiểu thuyết Vũ Nữ Sài Gòn trên Văn Nghệ Tiền Phong, viết phóng sự Tây Đực, Tây Cái trên nhật báo Ngôn Luận. Không có gì bắt buộc tôi bỏ việc ở USOM, dzậy mà tôi đã bỏ USOM.

Khi tôi nói với Alice:

– Từ ngày mai anh nghỉ việc USOM. Anh viết truyện. Anh thích làm báo, viết truyện, anh không thích làm thư ký. Anh bỏ việc thư ký Sở Mỹ để xem anh có thể sống với việc viết tiểu thuyết, làm báo được không.

Nàng không nói gì, nàng chỉ ức đến ứa nước mắt.

Xin lỗi quí vị. Tôi kể lể dài dòng đầu cua, tai nheo để thưa với quí vị rằng ở Sài Gòn xưa, nhân viên người Việt USOM, USAID, USIS không phải là nhân viên Tòa Đại Sứ Mỹ. Nhân viên Tòa Đại Sứ Mỹ làm việc trong Tòa Đại Sứ Mỹ đường Thống Nhất. Với Tòa Đại Sứ Mỹ đám nhân viên người Việt USOM, USAID, USIS không phải là không có ký-lô nào mà là không có gờ-ram nào cả. Theo như cái tôi biết loại nghe hơi nồi chõ, tức nghe người ta nói, cái biết rất có thể là biết sai, biết nhảm, anh cu VC Văn Quang không phải là Đại tá Tình Báo Việt Cộng, anh cũng không phải là nhân viên USOM, anh lại càng không phải là nhân viên Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn. Khi bị bắt VC Văn Quang là nhân viên USIS, tức Sở Thông Tin Hoa Kỳ.

Không thể có chuyện ông Đại Sứ Mỹ hùng hục vào Dinh Độc Lập đòi Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải trả lời tại sao Cơ Quan An Ninh Việt Nam dám bắt một anh người Việt làm trong Sở Thông Tin USIS? Việc một thư ký người Việt bị an ninh Việt Nam bắt không phải là việc ông Đại Sứ Mỹ phải tìm biết, lại càng không phải là việc có thể đem hỏi ông Tổng Thống. Còn lâu, ông ơi. Nhờ ông tí. Em nhỏ lên ba nó cũng không nghe nổi cái chuyện ông kể. Lại còn chi tiết “VC Văn Quang bị bệnh hoa liễu hành, lên cơn sốt nóng, không nói được nhưng cầm bút viết được?” Théc méc quá đi mất. Bệnh hoa liễu là bệnh gì? Lậu, kim la, giang mai, blenno, syphilis? Bị lậụ, kim la mà đến phát sốt, phát rét thêm không nói được thì chết chắc còn gì. Chuyện kể ghê quá đi mất. Bệnh hoa liễu nghe cái tên thì đẹp nhưng dễ sợ quá chời.

VC Văn Quang bị An Ninh ta bắt năm 1958, hay 1959, 1959, tôi không nhớ đúng. Không biết hắn bị giam ở đâu, sau Tháng Tư 1975 hắn xuất hiện ở Sài Gòn. Tôi gặp VC Văn Quang một lần trong một đám cưới hai họ cùng là VC Nằm Vùng ở Nhà Hàng Maxim. Tôi thấy hắn không khác với hắn 15 năm trước bao nhiêu. Hắn vẫn nhanh nhẹn, khỏe mạnh.

Đến 3, 4 năm sau năm 1975 bọn Lê đức Thọ mới tính Sổ Nợ Đời với những anh VC bị Quốc Gia bắt tù mà không chết. Theo đúng bài bản của bọn Sít Nga Cộng, tất cả những người bị địch bắt đều bị coi là bọn đã đầu hàng địch, đã phản bội, đều phải trị tội, ít nhất cũng bị sa thải, đuổi ra khỏi Đảng nếu là đảng viên, mất hết công trạng đã có trước khi bị bắt. VC Văn Quang biến mất trước nhất, tiếp đó là những anh Huỳnh văn Trọng, Vũ ngọc Nhạ. Nghe nói ở Hà Nội, Vũ ngọc Nhạ tự tử ba lần mà không được chết. Từ 1976 không còn nghe nói đến Văn Quang, Huỳnh văn Trọng, Vũ ngọc Nhạ.

*****

Bolsa mưa máu, gió tanh..

Mà Bolsa mưa máu, gió tanh thật sự. Trên thế giới này không có nơi nào người Việt cho nhau nhiều ân oán như ở Bolsa Street, California.

Ở Bolsa Street, những ân oán, những chửi rủa xẩy ra không ngớt, liên miên, không ngừng nghỉ. Đã ba mươi năm Bolsa mưa máu, gió tanh, ai biết Bolsa sẽ còn mưa máu, gió tanh cho đến bao giờ.

Từ xa quê mẹ bấy lâu
Kỳ Hoa Đất Trích gối sầu hôm mai..

Từ Rừng Phong vắng lặng, tôi gửi tình tôi đến Bolsa:

Bolsa mưa máu, gió tanh,
Em có về Hoa Thịnh Đốn với Anh thì về.
Virginia, Xứ Vàng Huê,
Bolsa Em chán thì về với Anh.
Phong lan Em vín đôi cành,
Hoa nở Em hái, hoa xanh Em chờ.

Virginia có Falls Churh, (Fôn Choớc)
Falls Church có Eden, (I-đần)
Eden có ông Hoàng Thơ,
Có Phở Xe Lửa,
Có Ông Cò Ly Sạp Báo
lại có Cờ Vàng bay.
Bolsa sữa đắng, bơ cay,
Em có về Fairfax đêm nay thì về! (Phe-phắc)

Nhiều người Việt ở Virginia thường nói gọn mình “ở Oắt-dzinh-tân Đi Xi.” Là vì nếu nói ở Falls Church, Arlington, Annandale, Manasas, người nghe sẽ hỏi những thành phố đó ở đâu? Trả lời “ở Oắt-dzinh-tân Đi Xi” là người hỏi không hỏi thêm nữa. Nhưng thực ra không có mấy người Vịệt ở Washington DC, ở Virginia người Việt sống đông nhất là ở Fairfax County – Phe-phắc – nơi có thành phố Falls Church – Phôn- chơớc – Falls Church có Trung Tâm Eden, địa danh các bà Việt Nam goi là I-đần.

* Đến đây tạm chấm dzứt Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum.

Advertisements

3 Responses

  1. Đừng chỉ nghe, hãy nói.
    Đừng chỉ đọc, hãy viết.
    Đừng chỉ tiếp thu, hãy bày tỏ quan điểm của bạn.
    Đừng đứng ngoài cuộc, hãy trở thành thành viên.
    tuccaugiao.org

  2. Ngày 1 tháng Tu 2008 là ngày cá tháng Tư, tha hồ nói dốc chơi. Nhưng các đây 24 năm tức là ngày 1 tháng Tư năm 1984 Hòa Thượng Thích Trí Trủ bị Việt Cộng ra tấn đến chết tại Bệnh Viện Thống Nhất. Đồng thời trước và sau đó xe Công an đến bắt giam tất cả những nhà lãnh đạo bất khuất của Giáo Hội PGVNTN và những tên Giặc Cầm Bút ngoan cố như Eau De Mer (Bí danh của Hoàng Hải Thủy)

    … Xoá vì trùng …

    Sau đây là búc thư tài liệu lịch sử của Hoàng Hải Thủy gửi cố Trịnh Sâm (tức Bác Sơn chuyển giao cho tôi (NTA)), nguyên giám đốc nhà in Đại học Vạn Hạnh thay thế văn sĩ Lữ Hồ cựu Huynh Trưởng GĐPT. Tôi (NTA) là bạn thân của hai Cụ Trịnh Sâm (mất năm cuối thập niên 90) và Cao Hữu Đính (mất 1992).

    Sàigon ngày 24 tháng Tư 1984

    Thân gửi Bác Sơn,

    Thư trước, không bết tôi đã báo Bác hay sau khi 2 Sư ông Tuệ Sĩ, Mạnh Thát và Sư cô Trí Hải bị vồ (25-3) đúng 7 ngày sau (1-4) Hòa Thượng Trí Thủ hộc máu đi tàu suốt chưa? Hay thật: 7 người bị vồ cả thẩy, theo như tôi biết, 3 vị trên + thầy quản thủ 2 thư viện Gia Lam – Vạn Hạnh (đến chùa VH ở Phú Nhuận, không phải đến trường, vì trường VH về Nhà Nước lâu rồi) 1 hay 2 Tu sĩ khác và thêm một bà này mới là rắc rối to cho Tuệ Sĩ. Số là vào năm 76, 77, TS từ miền Trung bỗng vô Sàigon. Vì không có chùa nào dám chứa nên phải mai phục ở nhà dân. Không biết ai bày ra chuyện tổ chức đám cưới cho TS lấy một nữ Phật tử ở Gia Định, có làm đám cưới đàng hoàng, để che mắt,và xin cho đương sự vào sổ hộ khẩu nhà vợ luôn. Tuy là cưới rởm che mắt thế gian nhưng trên mặt chính trị, rất bê bối cho Sư ông khi người ta bêu rêu. Rõ ràng Sư ông có vợ, không còn chối cải chi được – Và đó là Sư ông bịp, lưu manh muộn lốt tu hành lừa bịp nhân dân, chỉ mỗi cái tội lưu manh đó đã đủ để bị cải tạo lâu năm rồi, chưa nói đến các tội khác. Nhiều linh mục khi bị vồ cũng bị gán thêm cái tội lưu manh có vợ con, tình nhân v.v. , Nhiều vị oan mà cũng có nhiều vị ưng. Song mục đích là chính trị, bêu xấu, vạch mặt, họ làm việc đó có kế hoạch, chớ không phải là làm khơi khơi.

    Nhà nước có vẻ phiền vì hậu quả bất ngờ là HT Trí Thủ lại hộc máu ngay sau khi mấy vị kia vừ kên xe bông. Nhân dân đồ rằng 1 là HT tự tử, 2 là bị chích thuốc độc cho chết! Nhà Nước làm quà tặng cho Mr Huỳnh Tấn Phát ngồi chơi không sơi nước dài dài đến nay làm Chủ tịch Ủy Ban tổ chức tang lễ. Trên danh nghĩa là như vậy song các Tu sĩ Gia Lam làm hộc xì dầu để mai táng HT – Hiện tạm chôn HT ở Gia Lam, Phật tử Huế muốn đưa xác HT về chùa Báo Quốc như theo truyền thống, nhưng chưa được phép. Nhà nước muốn cho vụ xúc động này xẹp xuống đã. Vì tin HT Trí Thủ chết gây xúx động mạnh trong giới Phật tửHuế. Nghe nói mấy hôm đó đồng bào chợ Đông Ba để băng tang vàng trên khăn, áo làm vàng rực cả chợ. Đồng thời tối đến người ta tụng kinh vang rền trong mọi nhà. Phản ứng tiêu cực này này bất ngờ nên người ta bối rối, không kịp chặn mà cũng chẳng làm gì được, dù họ rất không muốn thấy thế. Trong tang lễ Mr Phát có đến gặp Sư Bà Diệu Không (80 tuổi em gái Mr Hồ Đắc Điềm). Sư Bà yêu cầu cho nuôi Cô Trí Hải, cho thầy thuốc săn sóc sức khỏe – Bèn được đáp ứng ngay – Nếu đúng thì lại quá chu tất: ngày ngày đều có người đến chùa lấy thức ăn đem vô đâu đó cho Sư Cô, có thư Sư Cô về cho biết là có được Bác sĩ săn sóc. Cũng rất có thể là Sư Cô sẽ trở vế chùa gõ mõ lại một ngày gần đây; còn Sư ông TS kẹt bà vợ – bà vợ rởm hay có cosommé chaud này cũng bị bắt cùng ngày.

    Sư ông Mạnh Thát trước đây có mặt trong phái đoàn Phật giáo miền Nam ra Hà Nội họp Đại Hội khi về nghe nói cũng lây đỏ kha khá, nay chắc chắn là đang ngồi viết tự khai mõi tay trên những tờ Lá Bối chính cống Bà lang Trọc.

    Tôi ngồi buốn có làm bài thơ này – Bác Cao (Cao Hữu Đính) đánh giá đầu cuối được, 2 câu 3-4 trưc trặc, nhờ Bác có đủ tài sửa dùm. Vì nó phải đối mà 2 cái tên người lại bằng trắc như nhau, thành ra tôi biết trục trặc mà chưa chuốt lại được – Tai họa đến chùa đúng vào ngày gói là vía Phật – chẳng biết có phải là ngày Phật Đản không? – CA bố trí rất chặt. Ngày đó có cặp vợ chồng thiện tín đến chùa cúng Phật rồi xin được gặp các Thầy v.v. Tri khách tăng bèn mời xuống tiếp khách. Khi đã gặp các can phạm rồi, người ta mới tin ra ngoài, và mới ra mặt bắt. Nếu không biết chắc là đương sự có mặt, người ta không ra mặt đâu. Ra không còn sơ xuất vào đâu được. Chỉ có việc HT Trí Thủ đang khỏe như văm lại hộc máu lăn đùng ra chết là accident technique hors de notre bon vô-lôn-te (bonne volonté) là không được liệu định trước trong chủ thuyết mà thôi – Đây là thơ;

    Vía Phật sao mà cũng nặng ghê?
    Già Lam Vạn Hạnh gặp đăng-giê (danger)
    Bưng bình Tuệ Sĩ Kỳ Viên tới
    Ôm còng Trí Hải Trúc Lâm về
    Trí Thủ nghẹo đầu rơi nước mắt.
    Minh Châu rớt ngọc tỉnh cơn mê.
    Rõ ràng nghiệp nghiệp duyên duyên nhé
    Hòa Thượng tăng xông (attention) cũng lộn mề.

    Nghe nói cùng ngày HT được mời lên Mặt Trận Tổ Quốc, nghe băng thu tiếng nói của 1 tu sĩ Gia Lam can tội phản động bị bắt, cung khai tố cáo sự liên hệ của mấy ông kia;chùa được tin chùa dặp tai biến, HT có …khóc.

    Đây là thư thứ #2 sang Bác. Bác có viết về thì cẩn thận dùm, đừng thấy tôi viết sang vung vít mà viết về cũng thế là tôi vỡ mặt. Thật ra, chúng tôi chẳng cần biết gì tin ở ngoài – Mỗi chỗ có một hoàn cảnh sống khác – Có những chuyện tôi thấy ở đây là quan trọng, nhưng ở Bác thì Bác thấy nó nhạt phèo – và ngược lại cũng vậy, chúng tôi có viết sang Bác thấy nhạt phèo thì Bác bỏ qua thôi, còn chúng tôi thì có thể vỡ mặt – Vậy thì Bác có bị choque1 tôi cũng viết rõ thôi. Bác cho tí quà là tốt nhất. Chui càng tốt –Không tiện đưa thẳng tôi thì cứ đưa qua Bác Cao. Còn Bác muốn cho quà thì Nguyễn có đủ địa chỉ. Chu Du mồm teo đợi lâu rồi, đều đủ, chỉ còn thiếu gió đông của Bác đó thôi.
    Hoàng Hải Thủy

    * * * * * *

    Ghi Chú của Tâm Tràng (NTA)

    Ông Cao Hữu Đính ban đầu cũng như HT Đôn Hậu lầm tưởng HT Trí Thủ hòa hợp với cộng sản nên chống đối và mạt sát thậm tệ HT. Do dó ảnh hưởng đến những bạn hữu chống cộng khác như Hoàng Hải Thủy. HT chống đôi hòa hợp kiểu đầu hàng cộng sản từ hải ngoại của sư Nhất Hạnh. Ngài không bằng lòng hiện đại hóa giáo lý nhà Phật theo dòng Tiếp hiện để thay đổi giới luật cho phép Sư lấy Ni; Ngài cho rằng dòng Tiếp Hiện chẳng qua chỉ là Cổ Sơn Môn (Thầy Chùa) bắt chước Tân Tăng Nhật Bổn không có gì khác. Thầy Mãn Giác lúc ở Đại Học Vạn Hạnh ủng hộ tân tăng, giới thiệu nhiều Tân tăng đén thăm Viện nhưng quý Ôn không chấp nhận thầy chùa tại Việt Nam kiểu đó.

    Để biết thêm về sự tàn ác của Việt Cộng xin xem Biên niên sử Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất từ sau 30-4-1975 – http://www.phatgiaoucchau.com/daihoi/daihoi3/06bienniensu.html

    Chỉ có Công An Đặc nhiệm của Xã Nghĩa mới biết dùng những thủ đoạn lưu manh và tàn bạo nhất thế giới để lung lạc được Thầy Tuệ Sỹ. (Xem phụ đính các tài liệu nêu trên). Ngoài ra tôi còn một số tài liệu rất thương tâm của TT Tuệ Sỹ do thư từ qua lại giữa Giáo Sư Cao Hữu Đính và Cụ Trịnh Sâm mà các cụ gởi tôi trước khi tạm chấm dứt trăm năm trong cõi người ta vậy.

    Nỗi Lòng Cô Đơn của 3 Bình Phong lịch sử với tác phẩm “ Tra-Am và Sư Viên Thành” dày 560 trang”của Thiện Thệ Tử Thích Trí Thủ do Môn Đồ Ba-La và Tra-Am ấn hành, in tại nhà in Hoa Sen, 128 Độc-Lập Nhatrang. Ôn Trí Thủ viết Lời Phi Lộ cho tác phẩm tại Tu Viện Quảng Hương Gia Lam Mùa Phật đản 2518 , đầu mùa hạ năm Giáp Dần 1974. Vì bài quá dài, tác giả xin hẹn tái ngộ kỳ tới với tác phẩm này, tạm sơ lược ít hàng nôm ma như sau : Nỗi lòng cô đơn thương dân cứu nước của anh hùng lỡ vận nào rồi cũng khoát áo cà sa quy y Tam Bảo cả.

    1 Chùa Ba-La-Mật- Nỗi lòng cô đơn của hầu Viên Giác, (1834-1900) Bố Chánh Nguyễn Khoa Luận gặp bế tắc vì vua Tự Đức thăng hà (1883) kế đến Hòa Ước 1884, vua Hàm Nghi phát hịch cần vương. Bố Chánh Thanh Hóa Nguyễn Khoa Luận hăng hái hưởng ứng chiến dịch Cần vương, lúc rãnh Đại Bi lên chùa nằm mơ thấy hai chữ Vô sinh. Rồi triều đình Huế nghị hòa với quân Pháp, hầu treo ấn từ quan. Hầu Viên Giác lên chùa Từ Hiếu được HT Hải Thiệu giảng rằng: “Sinh sinh là đạo Nho, Trường sinh là Đạo Lão, Vô sinh là đạo Phật“. Sau đó Bố Luận xuất gia với HT Hải Thiệu năm 1886. Nhờ sự cố gắng tài chánh và công đức anh em bà con xây được xây xong cũng giúp hầu chùa Ba La Mật (Paramita – Đáo Bĩ Ngạn – Đến bờ bên kia – thường gọi là chùa Ba La). Năm 1891 hầu thọ tỳ kheo giới tại Đại Giới đàn Báo Quốc do Hải Thiệu HT truyền giới và thọ Bồ tát giới năm 1894, pháp húy Thanh Châu, đạo hiệu Viên Giác. Từ đây gọi hầu bằng Viên Giác Đại sư.

    2 Tra-Am Nỗi lòng cô đơn của Sư Viên Thành (1879-1928) Tôi xin trích đoạn kết của phần Dẫn Nhập tác phẩm Tra-Am :

    “Tìm kiếm hết sức may ra ở Bắc còn tổ Vĩnh Nghiêm, Tế Các, ở Trung có Tâm Tĩnh, Tuệ Pháp, Phúc Tuệ, ở Nam có tổ Khánh Hòa là những đuốc pháp cuối cùng le lói đến nhỏ lệ trước đại nạn đạo pháp diệt vong.

    Sư Viên Thành bước chân vào cửa Phật trong những ngày đại bất hạnh này (1896).

    Mang một tâm sự đau đớn, ê chề trước gia đình và thời cuộc, tìm nguồn an ủi ở triết lý sắc không của Như Lai để cầu mong phương thế thoát khổ trong giai đoạn đạo pháp suy tàn như vậy, vị thế của Sư – như sẽ thấy – giống nột đại thiện trí thứchiện thân cứu độ chúng sanh và tân lương mạch đạo pháp nước nhà. Thái độ thủy chung của sư là giữ sạch bàn tay và quay mặt trước vũng lầy thế sự, Sư đúng là đóa hoa lan nở muộn thơm ngát trong kẻ đá giữa vườn chiều hoang vu lộng gió. Sư đã hiện hữu như một nối tiếp những ngày đi xuống với những ngày chớm vươn lên của Phật giáo nước nhà : Sau khi Sư viên tịch, từ 1928 trở đi, trước làn sóng cách mạng toàn diện cơ cấu Phật Giáo Trung Hoa do Thái Hư Đại Sư lãnh đạo, Phật Giáo nước nhà bắt đầu rùng mình chuyển bước. Những nhà hữu tâm tiên phong tiếpchân nhau xây đắp cớ sở khắp Bắc Trung Nam và oha1t triển cho đến hôm nay.”

    3 Tu-Viện Quảng-Hương Gia-Lam Nỗi lòng cô đơn của Ôn Già Lam (1909-1984) Trích Lời Phi Lộ (1974) tác phẩm “ Tra-Am và Sư Viên Thành” của HT Trí Thủ do Môn Đồ Ba-La và Tra-Am ấn hành, in tại nhà in Hoa Sen, 128 Độc-Lập Nhatrang

    “Thầy tôi (Sư Viên Thành, thế danh Công Tôn Hoài Trấp phòng Định Viễn Quận Vương) khuất bóng nay Đã 46 năm. Tôi cũng đã trải qua mấy chục năm trường, đem tài sức hữu hạn của mình chung lo hành đạo và hóa đạo, cho đến bây giờ tuổi gần bảy mươi, mà ân hưởng của Thầy tôi ngày nào vẫn còn đầm ấm bên lòng. Tình Thầy trò ngoài cái nghĩa là tình thiện tri thức một thứ tình gắn bó túc duyên không sao nói hết được. Tôi xuất gia theo …

  3. 3 Tu-Viện Quảng-Hương Gia-Lam Nỗi lòng cô đơn của Ôn Già Lam (1909-1984) Trích Lời Phi Lộ (1974) tác phẩm “ Tra-Am và Sư Viên Thành” của HT Trí Thủ do Môn Đồ Ba-La và Tra-Am ấn hành, in tại nhà in Hoa Sen, 128 Độc-Lập Nhatrang

    “Thầy tôi (Sư Viên Thành, thế danh Công Tôn Hoài Trấp phòng Định Viễn Quận Vương) khuất bóng nay Đã 46 năm. Tôi cũng đã trải qua mấy chục năm trường, đem tài sức hữu hạn của mình chung lo hành đạo và hóa đạo, cho đến bây giờ tuổi gần bảy mươi, mà ân hưởng của Thầy tôi ngày nào vẫn còn đầm ấm bên lòng. Tình Thầy trò ngoài cái nghĩa là tình thiện tri thức một thứ tình gắn bó túc duyên không sao nói hết được. Tôi xuất gia theo Thầy năm mười bảy…

    … dài quá nên xoá bớt!

    Dạ thưa phố Huế bây giờ
    Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương
    Dạ thưa Vỹ Dạ về gần
    Ðã từ xa lắm thiên thần nhớ em
    — Bùi Giáng

    San Francisco, ngày 14 tháng 4 năm 2008

    Tâm Tràng Ngô Trọng Anh

    Những ngày tháng đáng ghi nhớ:

    Ngày 01 tháng 10 năm 2003: Ðại Hội Bất Thường đã họp Tiền Hội Nghị tại Tu Viện Nguyên Thiều cung thỉnh thành viên Viện Tăng Thống và Ban Chỉ Ðạo Viện Hóa Ðạo

    Ngày 12 tháng 10 năm 2003: Lễ Suy Tôn Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN tại Hải Ngoại (Melbourne)

    Ngày 26 tháng 3năm 2004: NGHỊ QUYẾT số 36/NQ-TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

    Thành lập từ tháng 3 năm 2004, Hội Thân Hữu Già Lam khởi đi từ cuộc họp mặt thân tình của các cựu học tăng chương trình đào tạo đặc biệt (hậu đại học) tại Tu viện Quảng Hương Già Lam (1980-1984)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: