• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Việt Nam: ĐAU và ĐẸP

Pain and Grace coverHữu quà tự viễn phương lai. Bất lạc diệc hồ..! Có quà từ phương xa tới, không vui ư, còn gì nữa mà không vui! Quà mà lại là quà văn nghệ, đến từ San Jose, Cali: Tập Ảnh “Pain and Grace, A Journey through Vietnam: Nỗi Đau và Cái Đẹp, Một Chuyến Đi Qua Việt Nam.” Tập Ảnh 130 trang, 90 ảnh của Jim Gensheimer, bài viết của Kristin Huckshorn, Mark McDonald, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn bá Trạc.

Rừng Phong cuối năm tuyết, đầu năm tuyết — Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi. Rối bời tâm sự tuyết đan tơ — Người tha hương nhớ quê hương — không phải nhớ nhà mà là nhớ nước, tha hương trong nước mình mới nhớ nhà, nhớ quê, tha hương ở nước người là nhớ nước — Ở quê người, bồi hồi nhìn lại những hình ảnh của quê hương mình, của đồng bào mình, bồi hồi rồi bùi ngùi, ngậm ngùi: cảnh thuyền nhân được cứu trên biển, bữa ăn đầu tiên của những người vượt biển may mắn được đưa lên tầu lớn, những người tập thể dục lúc rạng đông ở ven hồ Hoàn Kiếm, người đàn ông cụt chân ở Pleiku, bà Bắc Kỳ vấn khăn, răng đen, hình nhân “Tù Binh Mỹ” nằm trong phòng giam Nhà Tù Hỏa Lò Hà Nội, cô gái bán bar ăn bận hở hang, hai người đàn ông cụt chân chống nạng đi trong công viên ở thành phố Hồ chí Minh lúc sáng sớm mặt trời vừa lên, bên đường có thùng thuốc lá cô đơn, xe bán nước ngọt chiều tối ở ven xa lộ Sài Gòn-Biên Hòa ..vv.. Đó là những bức ảnh gây ấn tượng cho tôi trong tập ảnh.

Tôi cảm thương khi nhìn ảnh bốn thanh niên ngồi xổm ở một đầu đường Hà Nội, mỗi anh có một cái cưa, chờ người đến mướn về nhà làm những việc vặt: sửa bàn tủ, cửa, đóng cái kệ thờ, cái chuồng gà.. Tôi đã nhìn thấy cảnh chờ đợi này trong những bộ phim phóng sự về Sàigòn-Hà Nội do một cơ sở Việt ở San Jose thực hiện. Nét mặt của những người trong ảnh hiện rõ vẻ ưu tư, chờ đợi. Có người đến gọi đi làm là ngày ấy các anh có miếng ăn, các con anh có miếng ăn. Cảnh này chỉ thấy có ở Hà Nội, ở Sài Gòn — dù bị tạm đổi tên — không có cảnh chờ chực được gọi đi làm như cảnh này. Người thợ tồi nhất trong xóm lao động ở Sài Gòn đầy cờ đỏ cũng không phải mang đồ nghề ra ngồi xổm đợi khách ở vỉa hè đầu đường. Bức ảnh Người bán hoa đào ngày Tết, Hà Nội 2000, gợi tôi nhớ…

Một chuyện không xưa cũ lắm song cũng đã xẩy ra cách hôm nay 25 năm. Năm 1976 trong thành phố Sài Gòn buồn hiu hắt tình cờ tôi được gặp cô con gái ông bác sĩ Phùng văn Cung. Chỉ gập cô một lần, tôi không nhớ tên cô. Bác sĩ Phùng văn Cung nguyên là Trưởng Ty Y Tế Châu Đốc, Tết Mậu Thân ông bỏ nhiệm sở, ông đi theo Việt Cộng và dường như có thời ông là Thủ Tướng Chính phủ Giải Phóng Miền Nam, hoặc ông là Chủ Tịch Mặt trận Giải Phóng Miền Nam. Sau khi Bác sĩ Cung đi, bà vợ ông và hai cô con ông được Việt Cộng lén đưa sang Nam Vang, lên phi cơ bay đi Bắc Kinh rồi từ Bắc Kinh về Hà Nội. Cô nói:

— Ba tôi đi theo Mặt Trận, mẹ con tôi vẫn ở Châu Đốc, Sài Gòn một thời lâu sau chúng tôi mới đi, chính quyền quốc gia có làm gì chúng tôi đâu.

Cô không gọi Ông Hồ là Bác, cô nói:

— Người ta nói bây giờ nếu ông Hồ chí Minh còn sống, tình hình đất nước chắc không tồi tệ đến như thế này, tôi nghĩ ông Hồ có còn sống thì tình hình cũng vậy thôi, ông Hồ cũng chẳng làm gì được.

Khi cô giã từ quốc gia Việt Nam Cộng Hòa chắc cô đã trên hai mươi tuổi, cô đã quen sống tự do nên những lớp sơn đỏ xã hội chủ nghĩa được phết lên ý thức cô đều không dính. Cô tả cảnh cô đi học ở Liên Xô:

— Tháng nào bọn sinh viên chúng tôi cũng phải đến tòa đại sứ họp, nghe bọn ngoài Bắc than nghèo, kể khổ: “Bố mẹ tôi ngày xưa nghèo khổ lắm, nay nhờ ơn Bác, nhờ ơn Đảng chúng tôi được đi giép, mùa đông được đắp chăn,” tôi ngồi tôi cười. Họ ghét tôi lắm, mách ông già tôi hoài…

Câu nói của cô con gái ông bác sĩ miền Nam theo bọn Việt Cộng làm tôi nhớ tình cảnh đồng bào nông thôn miền Bắc của tôi. Quả thật là đồng bào tôi những năm trước 1954 sống nghèo khổ quá đỗi, nhiều người ở làng quê cả đời không đi guốc đừng nói gì đi giép, mùa đông không có chăn, chỉ đắp chiếu hoặc nằm ngủ trần chịu lạnh. Những anh chị được Đảng cho đi ăn học ở Liên Xô than nghèo, kể khổ là đúng. Với họ đúng là “Bác và Đảng” đem lại cho họ đời sống ấm no hơn, họ chỉ không biết nếu không có “Bác và Đảng” đời sống của họ còn ấm no hơn nhiều. Họ đâu có biết gì về đời sống sung túc của người nông dân Thái Lan, Nam Dương, Đài Loan cùng thời với họ, những người không cần có “Bác Hồ và Đảng” cũng sống ấm no hơn họ, những người không coi việc được đi giép, mùa đông có chăn đắp là việc cực kỳ quí báu và hiếm có.

Những năm 1977, 1978 tôi bị giam ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu. Một chiều trong sà-lim nhìn qua cửa gió tôi thấy một nữ tù nhân bị công an chấp pháp đưa đi thẩm vấn giống cô con gái bác sĩ Phùng văn Cung tôi đã gặp quá. Hai mươi nhăm năm đã qua từ ngày tôi tình cờ gặp cô, không biết bây giờ cô ở đâu? Cũng không biết những nhân vật Mặt trận Giải Phóng Miền Nam Huỳnh tấn Phát, Huỳnh tấn Mẫm, Lâm văn Tết, những gián điệp VC Huỳnh văn Trọng, Vũ ngọc Nhạ bây giờ ở đâu, đi đâu, về đâu, còn sống hay đã chết, sống ra sao?

Hỏi làm gì người muôn năm cũ, xa quá..

Những người ba mươi năm cũ
Xác ở đâu bây giờ?

*****

Bức ảnh “Người bán hoa đào ngày Tết, Hà Nội 2000,” trong Tập Ảnh “Nỗi Đau và Cái Đẹp” cho tôi thấy người đàn bà đội nón lá, khăn che mũi và miệng, bận áo lạnh mầu sám, quần đen, đi giép và đi đôi bí tất đen; hai cành hoa đào được đặt trên chiếc xe đạp có vẻ là xe Trung Quốc. Đó là hình ảnh người đàn bà Bắc Kỳ bán hoa năm 2000. Nếu là năm 1940 bà này đi chân đất, gánh hoa đi bán chứ không đi xe đạp, nhất là không có bí tất. Sáu mươi năm chia cách hai hình ảnh đó. Xã hội chủ nghĩa giúp bà có cái áo lạnh mặc ngoài, có khăn che mũi miệng gọi theo Tầu là khẩu trang, cho bà có cái xe đạp, đôi giép và đôi bí tất. Vậy cũng là nhiều đấy chứ!

Tập ảnh 90 tấm của Jim Gensheimer không có ảnh cờ đỏ sao vàng, chỉ có tấm ảnh trang 58 chụp anh lính đứng canh cửa dưới lá cờ đỏ mang hình búa liềm, ảnh trang 33 có Lăng Ông Hồ chí Minh ở xa tít góc ảnh, cận ảnh là đám đàn bà Bắc Kỳ, chắc là dân quê, đến chờ vào lăng nhìn xác “Bác.” Các bà ngồi xổm, tức ngồi chồm hổm, đợi chờ không biết tự bao giờ và chờ đến bao giờ mới được vào lăng, “nhìn một cái” cho xong để về lo việc nhà. Không biết các bà Bắc Kỳ này tự ý đến viếng xác Chủ Tịch hay vì hồi này Lăng Chủ Tịch ế khách nên họ bị bắt buộc phải đến. Bà nào mặt mũi cũng khó đăm đăm, bà nào cũng đi giép cao su, có bà vấn khăn, có bà để tóc trần; vào thăm “Lăng Bác” mà không bà nào bận áo dài, tất cả các bà đều bận áo cánh hay áo sơ-mi bỏ ngoài quần, tất cả các bà đều mặc quần đen. Sáu mươi năm trước các bà này đi chân đất, nay các bà được đi giép, công ơn Bác và Đảng đúng là như “trời biển”. Trên quảng trường chỗ các bà ngồi xổm có tấm bảng dài với hàng chữ “Chủ Tịch Hồ chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.”

Tập Ảnh “Nỗi Đau và Cái Đẹp“có hai ảnh nghĩa trang, cả hai đều là nghĩa trang cộng sản: trang 62 cảnh Nghĩa Trang Quốc Gia Trường Sơn, những nấm mộ xây xi-măng nằm thành hàng, trang 67 cảnh nghĩa trang liệt sĩ Bến Tre tiêu điều trong có mấy con bò gầy gặm cỏ cùn. Không thấy có ảnh Nghĩa Trang Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa ở xa lộ Sàigòn-Biên Hòa. Nghe nói nghĩa trang này nay hoang tàn thê thảm lắm. Quân đội tiêu trước, quốc gia vong theo, nghĩa trang quân đội không hoang tàn sao được. Không thấy nghĩa trang của quân đội tôi trong tập ảnh, tôi thấy nghĩa trang ấy thấp thoáng ẩn hiện trong trí nhớ của tôi, tôi nhớ hai câu thơ :

Anh đứng ngàn năm tư thế nghỉ
Em nằm xõa tóc dưới chân anh..

Bạn ta… Bạn có nhớ ba mươi năm xưa trên đỉnh ngọn núi ở Quân Trường Đồng Đế có bức tượng người lính bộ binh VNCH cầm súng đứng in hình lên trời xanh. Không biết ai là tác giả bức tượng, ai là tác giả hai câu thơ trên đây? Thi sĩ tưởng tượng có người thiếu nữ xõa tóc nằm dưới chân anh chiến sĩ trên đỉnh núi. Đừng trách những người bạn Mỹ, ngay cả chúng ta cũng quên những chiến sĩ trận vong của chúng ta. Than ôi.. Anh chỉ đứng được có hai mươi năm tư thế nghỉ, khi anh nằm xuống anh không còn em xõa tóc nằm bên!

Tác giả “Nỗi Đau và cái Đẹp” Jim Gensheimer là ký giả nhiếp ảnh của nhật báo San Jose Mercury News; bà Kristin Huckshorn, người viết lời nhận định về tập ảnh, là nữ ký giả đã đặt Văn Phòng Mercury News ở Hà Nội, bà làm việc ở văn phòng này từ năm 1994 đến năm 1998; ông Mark McDonald, người viết lời Bạt tập ảnh, hiện là Trưởng Văn Phòng Mercury News ở Hà Nội. Tôi có vài ý kiến muốn trình bày, góp ý khi đọc những lời viết về đất nước tôi, nhân dân tôi, trong Tập Ảnh “Nỗi Đau và Cái Đẹp,” nhưng xin để dịp khác. Hôm nay chỉ xin được nói: quí ông, quí bà chú ý đến đất nước tôi, thương xót đồng bào tôi, tôi cám ơn quí vị.

HỒ TRƯỜNG 2008

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Thôi thế Em về yên Xóm Cỏ
Cây đời đã cỗi gốc yêu đương
Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió
Cho đống xương tàn được nở hương.

Một đời ba, bốn phen dâu bể
Mười điều trông thấy chín đau thương
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Nước mất, quân tan, tù chiến bại
Sống nhờ y thực ở tha phương
Vèo trông lá rụng đầy đường
Kỳ Hoa Đất Trích đoạn trường thế thôi.
Trăm hận, ngàn đau nào sánh được
Tấm lòng lưu lạc nhớ quê hương
Tháng Tư..! Ta lặng nhìn sông núi
Sông núi người dưng trắng khói sương.
Quê ta xa mãi bên kia biển
Chỉ thấy tơi bời mây trắng vương.

Ta đau người lính vừa thua trận
Nát gió mưa nằm giữa sa trường
Vẫn nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu Thiên Đường.
Đất đá tim ta nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ Em khóc thương?

Hồ trường..
Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ người tha hương

Vỗ gươm mà khóc
Nghiêng bầu mà gọi
Kỳ Hoa mang mang… ơi người mất nước..
Rừng Phong cùng ta cạn mấy hồ trường.
Hồ trường..Hồ trường..
Ta biết rót về đâu?
Đông phương ngàn dậm thẳm
Mây nước một mầu sương
Tây phương trời đẹp lắm
Có người mất nước như điên, như cuồng…

Hỡi ơi… bạn tác ngoài trôi dạt
Chẳng đọc Thơ Ta cũng đoạn trường!

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân
Kỳ Hoa Đất Trích

Advertisements

One Response

  1. Công tử Hà Đông ơi,

    Xin Công tử vui lòng sửa lại hai câu thơ, dân Đồng Đế, Nha trang làm sao quên được hai câu này:

    Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,
    Em nằm xõa tóc đợi chờ anh.

    Cảm ơn Công tử đã nhắc đến Dạ Lan trong bài trước. Nói đến quân đội VNCH mà quên Dạ Lan là cả một thiếu sót lớn.

    Thân kính

    Nam Dương

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: