• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Tưởng Niệm Nhà Văn ALEXANDER SOZHENITSYN

Alexander SolzhenitsynGiới ký giả chuyên nghiệp Sài Gòn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà có nhiều người giỏi và nổi tiếng. Trong số những người ấy có hai anh Cát Hữu và Tô Văn. Tôi kém hai anh đến mười tuổi nhưng tôi giao du với hai anh khá thân. Ký giả Cát Hữu qua đời vì đau yếu và tuổi già ở Sài Gòn khoảng năm 1988, ký giả Tô Văn đi khỏi Sài Gòn trước Ngày Oan Nghiệt Ba Mươi Tháng Tư, anh sống ở Cali và đã qua đời ở Cali.

Những năm 1982, 1983 nhóm anh em chúng tôi — những văn nghệ sĩ bị Công An Thành Hồ bắt Tháng Năm năm 1984, bị kết tội gián điệp và sau đó bị gọi là “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” — viết và gửi tác phẩm ra nước ngoài nhiều nhất. Việc làm của chúng tôi đến tai anh Cát Hữu — lúc này anh đã yếu, chỉ nằm nhà, không đi đâu — anh lo sợ cho số phận đen hơn mõm chó mực của chúng tôi. Những năm 1948, 1949 anh ở trong ban biên tập Tạp Chí Y Tế của Việt Minh ở Việt Bắc, anh vẽ tranh hí hoạ cho tạp chí — nếu tôi nhớ đúng thì tên tạp chí này là Sống Mạnh — anh ký tên Vệ Tếu, anh biết nhiều về những thủ đoạn ác ôn của Cộng sản hơn chúng tôi, anh nhắn ký giả Lê Thanh, tức Phòng Cao, người hay đến thăm anh, nói với chúng tôi :

– Cộng sản nó thù nhất những thằng sống dưới sự kiểm soát của nó mà lại viết bài chửi nó gửi ra nước ngoài. Đi tìm hai thằng Dương Hùng Cường, Hoàng Hải Thủy bảo chúng nó thôi đi. Không thì nó bỏ tù cho đến chết…!

Lê Thanh đã qua đời ở Sài Gòn.

Khi được Cát Hữu nhắn như thế, riêng tôi, tôi đã viết và gửi sang Pháp, sang Úc, sang Hoa Kỳ khá nhiều bài viết với những bút hiệu rởm: Hồ Thành Nhân, Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Dương Hồng Ngọc, Hạ Thu… vv. Tất cả những bài tôi viết gửi được ra nước ngoài đều được đăng trên những báo Việt hải ngoại. Không cần đến khi nghe được lời khuyên “.. Ngưng viết đi.. Không thì chết. Chúng nó bỏ tù đến chết đấy..” của Cát Hữu tôi mới biết việc làm của tôi — sống ở giữa lòng Thành phố Hồ chí Minh Xã Hội Chủ Nghĩa mà viết những bài báo, những bài dzăng nghệ dzăng gừng trình bày những mặt xấu xa của chế độ, châm biếm bọn cầm quyền tự nhận chúng là “cách mạng, tiến bộ” — là việc làm nguy hiểm, việc làm có thể đưa tôi đến cái chết trong ngục tù cộng sản. Tôi biết nhưng tôi vẫn cứ viết, cứ gửi những bài viết của tôi ra nước ngoài. Tôi làm như thế không phải vì tôi can đảm, không phải vì tôi không sợ tù tội — tôi đã sống trong tù hai niên, thời gian lần tù đày thứ nhất của tôi là 24 tháng nhưng kéo dài trong ba năm 1977-78-79 — tôi viết về những thống khổ đồng bào tôi phải chịu đựng do bọn Cộng sản gây ra vì tôi thấy nếu tôi không làm như thế tôi có tội với đồng bào tôi, tôi có tội với lương tâm tôi

Năm 1976 rồi năm 1977, giữa lòng Thành Hồ u ám, tang thương, ly tán, tù tội, đói khổ,tuyệt vọng, tôi buồn đến có thể chết, đây là một trong những bài thơ tôi làm trong những ngày đen tối ghê rợn ấy :

Giữ dùm tôi những thơ này.
Hôm nay còn biết ngày mai có còn.
Chiều buông, tối phủ quanh hồn,
Thơ tôi sầu, dạ tôi buồn khôn nguôi.
Như con chim sắp lià đời,
Tôi ca, tôi khóc những lời nhớ thương.
Người ơi này khúc đoạn trường,
Mỗi dòng thơ ấy một đường lệ rơi.
Sớm mai đời chẳng còn tôi,
Thì còn nét chữ cho người xót sa…

Sau hai năm tù ở cái gọi là Trại Tạm Giam Số 4 Phan đăng Lưu, cửa ngõ tù đày của những cư dân Thành phố Hồ chí Minh rực rỡ tên vàng giả, Trung Tâm Thẩm Vấn Nhân Dân của Sở Công An Thành phố Hồ chí Minh, tôi trở về căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi trong Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ. Lại những ngày buồn, những đêm buồn dài dằng dặc. Alice và tôi sống quanh quẩn bên nhau. Vợ tôi nhận làm hoa vải tại nhà, đây là thứ hoa vải hạng bét bán ở chợ, không phải loại hoa đắt tiền bán ở những tiệm sang đường Lê Thánh Tôn. Tiền kiếm được của Alice về việc làm hoa vải không đủ để chi khoản cà phê, thuốc lá cho hai chúng tôi.

Sau Ngày Tan Hàng 30 Tháng Tư, tuyệt đại đa số dân Sài Gòn vẫn ăn, vẫn sống mà không ai làm gì cả. Không phải thất nghiệp cả làng mà là vô công, rồi nghề cả nước, người Sài Gòn sống mà không ai hiểu tại sao mình có thể sống được. Nhiều người nói họ sống được là nhờ phép lạ. Vợ chồng tôi ở trong số những người Sài Gòn “sống được là nhờ phép lạ” ấy.

Sống nhưng sống buồn thê thảm, sống trong tuyệt vọng. Cũng như mọi nhà, căn nhà nhỏ của chúng tôi nghèo sơ xác, những đồ vật bán được tiền đều đã bán hết, kể cả quần áo, trong nhà chúng tôi chỉ có — chỉ có, và may mắn còn có — Tình Yêu. Thời gian đó tôi phóng tác bài thơ :

Quân lịch phong trần, quân bất dĩ
Ngã hồi phố thị, ngã do liên
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Giai nhân, thi sĩ đối sầu miên.

Phong trần Em vẫn là Em
Anh về phố chợ đêm đêm lại buồn
Một đi hoàng hạc đi luôn
Giai nhân, thi sĩ đối buồn nằm mơ

Vợ chồng tôi mong đợi những thùng quà của bạn, của anh em chúng tôi từ nước ngoài gửi về. Thời ấy, những năm đầu thập niên 80, người Thành Hồ có mấy nơi quen thuộc để đến lãnh đồ; Kho hàng phi trường Tân Sơn Nhất, Bưu điện Trung ương Sàigòn, Bưu điện Chợ Lớn, Bưu điện Bình Thạnh. Những giấy báo có bưu kiện, bưu phẩm đều do người phát thư của Bưu điện đưa đến nhà. Trong cái gọi là Cư Xá Tự Do của chúng tôi ông phát thư mỗi ngày thường đi qua vào lúc chín, mười giờ sáng. Trong một sáng buồn tôi thấy Alice đứng bên cửa nhìn người phát thư đi ngang, tôi biết nàng mong đợi thấy ông phát thư dựng xe đạp trước cửa nhà, ghé vào đưa cho nàng cái phiếu gọi đi lãnh đồ, nhưng sáng ấy ông phát thư trên xe đạp đi ngang luôn, nàng buốn buồn đi trở vào nhà, thương nàng và tôi làm bài thơ :

Ba Mươi Sáu Câu cho Alice

Anh không biết ngày xưa Em trẻ
Khi Em yêu, Em đợi, Em chờ
Có bao giờ Em buồn như thể
Sáng nay Em trong cửa mong thơ.
Niềm hy vọng trong Em chợt hé
Người phát thư xe đạp đi qua
Chưa bao giờ thấy Em buồn thế
Khi nghiêng vai Em trở vào nhà.

Em yêu ơi… Tim Anh như xé
Chưa thương Em đến thế bao giờ.
Anh lặng biết, Em không cần kể
Những xót xa, ly tán, đợi chờ
Hồn Em nặng sầu non, muộn bể
Những đau thương ray rứt không bờ
Từ cơm áo rã rời sinh kế
Đến oan khiên tù tội không ngờ
Đau chồng con chia từng giọt lệ
Thương hôm mai biết đến bao giờ
Đời u tối như chiều đông xế
Môi Em thâm nên mắt Em mờ
Nên Em buồn não nùng như thể
Sáng nay Em trong cửa đợi chờ.

Sáu năm dài dập dồn dâu bể
Đời sống ta cơ cực Thành Hồ
Anh lặng biết sao Em buồn thế
Sao Em gầy, sao tóc Em khô.
Trên mái tóc thu về đã trễ
Trên đôi môi thoáng bóng hư vô
Trong ánh mắt não nùng xiết kể
Trên đôi vai xuân đã mơ hồ
Anh thấy cả một trời dâu bể
Anh chưa đau đến thế bao giờ!
Anh lặng hiểu sao Em buồn thế
Sao Em mong người phát thư vô.
Niềm mơ ước trong Em thật bé
Em chờ mong chỉ một thùng đồ.

Tháng Tư năm 1976 những người Cộng sản Bắc Việt cho cái gọi là “Chánh Phủ Giải Phóng Miền Nam” bù nhìn, bám đít, không giống ai, đi chỗ khác chơi, “Thủ Tướng” Huỳnh Tấn Phát mất mặt và mất tích kể từ ngày đó. Từ những ngày đầu Tháng Ba năm 1976 Sở Công An Thành Hồ phát động chiến dịch bắt giam những văn nghệ sĩ Saì Gòn cũ.Tôi không nhớ được hết, chỉ xin kể ở đây tên một số người tôi nhớ : Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Sĩ Tế, Trần Việt Sơn, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Hồ văn Đồng, Doãn Quốc Sĩ, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Hồng Dương, Đằng Giao, Minh Đăng Khánh, Thân Trọng Kỳ, Thanh Thương Hoàng, Minh Vồ, Hoàng Vĩnh Lộc, Chú Tư Cầu Lê Xuyên, Trịnh Viết Thành, Sao Biển, Thái Thủy, Mặc Thu, Nguyễn Hữu Hiệu, Xuyên Sơn, Tô Ngọc, Duyên Anh, Choé Nguyễn Hải Chí, Hồ Nam, Ninh Chữ, Lý Đại Nguyên, Doãn Bình, Cao Sơn , Hoàng Anh Tuấn, Anh Quân. Bọn Công An Thành Hồ bắt hụt Mai Thảo. Những ký giả Uyên Thao, Vũ Ánh, Văn Chi, Tú Kếu Trần Đức Uyển, Nguyễn Tú, Như Phong đã bị bắt trước Tháng Ba 1976.

Tôi không bị bắt chung với anh em trong chiến dịch bắt bớ Tháng Ba 1976. Bắt người xong, tháng Năm cùng năm 1976 Bộ Văn Hoá Việt Cộng mở cái gọi là Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị cho những văn nghệ sĩ Sài Gòn không bị bắt. Vì không biết nên tôi không đi dự khoá Bồi Dưởng thứ nhất. Khoá này gồm nững văn nghệ sĩ hạng Nhất của Sài Gòn: Lệ Hằng, Nguyễn Thị Hoàng, Thái Thanh, Hồng Vân, Thẩm Thúy Hằng, Hoài Bắc, Lê Trọng Nguyễn, Nguyễn Thụy Long, Nhật Tiến. Tháng Bẩy Khoá Bồi Dưỡng Hai được tổ chức, tôi đi dự Khoá Hai.

Khoá học trong 21 ngày, mỗi ngày học viên được cấp một đồng tiền sinh hoạt phí. Cùng đi dự khoá này, trong cái gọi là Tổ Thi Văn với tôi có Ngọc Thứ Lang, Nguyễn Đình Toàn, Phan Nghị, Cao Nguyên Lang, An Khê, Nguyễn Mộng Giác, Lê Minh Ngọc, vv… Tiểu thuyết “Tầng đầu điạ ngục” và tên tuổi Alexandre Solzhenytsin được nói đến trong những ngày cuối của khoá học này.

Theo thông lệ những cái gọi là “khoá học tập” linh tinh đủ thứ của Việt Cộng — do mấy ảnh học mót của Nga Cộng, Tàu Cộng — đều có mấy buổi gọi là kiểm thảo, thu hoạch ở cuối khoá. Thu hoạch đây là khoá viên báo cáo mình học được những gì trong khoá học. Trong cái gọi là ngày thu hoạch của Tổ Thơ Văn trong Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị Hai tôi là một trong ba người công khai làm cái gọi là bản thu hoạch mẫu. Chuyện này có nghiã là người khoá viên làm kế hoạcch mẫu phải trình bày trước cả lớp, trước bọn cán Cộng chủ tổ, những sai lầm bậy bạ mình đã viết trong những văn phẩm của mình, nay nhờ có khoá học, may mắn được ánh sáng của chủ nghiã văn học hiện thực xã hội chủ nghiã soi sáng, mình được sáng mắt, sáng lòng, mình nhìn ra những lỗi lầm ấy.. vv …

Tôi làm kiểm điểm trên tiểu thuyết “Môi thắm nửa đời“. Tôi viết truyện này đăng từng ngày trên Nhật báo Chính Luận, những năm 1966, 1967 — tiếng nhà nghề của giới viết tiểu thuyết đăng báo chuyên nghiệp chúng tôi gọi loại truyện này là “phơi-ơ-tông : feuilleton” — “Môi thắm nửa đời“, các bạn tôi gọi là “Môi thắm nửa đùi“, không có cốt truyện, nói cách khác cốt truyện của “Môi thắm nửa đời” là một lô những mối tình ba lăng nhăng của hai thanh niên Sài Gòn. Tôi chứng minh trước cử toạ theo lý luận “tác phẩm là sản phẩm của con người, con người là sản phẩm của môi trường, của những điều kiện xã hội trong đó tác giả sinh ra và sống”, tôi ra đời và trưởng thành trong xã hội tư sản, người như tôi khi viết tiểu thuyết trong đó có những cuộc tình tư sản, những người đàn bà đẹp, đa tình, những thanh niên coi Tình Yêu là quan trọng nhất … như tôi viết trong tác phẩm “Môi thắm nửa đời” là chuyện tự nhiên, người có đời sống như tôi khi viết tiểu thuyết tôi viết “Môi thắm nửa đời” là chuyện hợp lý, không có gì lạ.

Bọn Cán Cộng tổ chức những khoá học kiểu này vẫn chờ đợi và bắt buộc những người ra kiểm điểm phải nhận tội, phải hối hận về những tội lỗi của mình hoặc ít nhất cũng phải tỏ ra hổ thẹn, sợ hãi, dù chỉ là giả dối, vờ vẫn. Tôi nhận tôi có lỗi khi viết toàn những chuyện ăn chơi trong Môi thắm nửa đời và tôi tránh đòn bằng cách xử dụng một trong những cái gọi là lý luận biện chứng của chủ nghiã Mác “con người là sản phẩm của xã hội”. Cũng theo lệ thường sau khi tự kiểm điểm, người làm kiểm điểm sẽ bị nhiều tên trong số người dự phê bình đả kích nặng nề. Cuộc kiểm điểm thu hoạch của tôi diễn ra êm ru. Không anh chị em văn nghệ sĩ Sàigòn nào phê phán gì tôi, bọn Cán Cộng cũng vậy. Trong giờ nghỉ giải lao anh Phan Kim Thịnh hỏi tôi :

– Tôi nhớ hình như trước đây ông có dịch quyển gì của Sônzơnítsin ? Phải không nhỉ ?

Thấy không có gì để phải chối hay nói dối, tôi trả lời ngay :

– Tôi dịch Zờ Phớơc Sớc Cơn của Sônzơnítsin, tên Việt do tôi đặt là Tầng đầu điạ ngục. Cả Sài Gòn trước sau chỉ có mình bản dịch của tôi.

Phan Kim Thịnh không phải là văn nghệ sĩ, anh là chủ báo — tạp chí Văn Học — nhưng gọi cho đúng anh là lái báo chớ không được là chủ báo. Tôi khinh PK Thịnh ngay từ trước năm 1975, không phải đợi đến lúc anh hỏi tôi câu trên tôi mới khinh anh. Nếu tôi viết tôi không khinh anh, tôi chỉ thương hại anh, tôi là người giả dối. Tại sao ta lại không khinh bỉ những kẻ đáng khinh?

Nửa giờ nghỉ trôi qua, cuộc kiểm điểm tiếp tục. Chỉ còn chừng một giờ nữa là xong, khóa Bồi Dưỡng Chính Trị ngừng, anh chị em chỉ còn việc đợi ngày bế mạc chung ở Nhà Hát Lớn. Như vậy là không có gì gay cấn xẩy ra trong suốt khóa học, anh chị em đều có vẻ nhẹ người. Tôi trở ra ngồi ghế kiểm điểm. Phan Kim Thịnh, người vừa hỏi tôi về Sônzơnítsin đứng lên :

– ……Trước đây anh có dịch tiểu thuyết của văn sĩ người Liên Xô phản động Sônzơnítsin.. Anh còn phóng tác nhiều tiểu thuyết điệp viên Không Không Bẩy. Sao không thấy anh nói gì về những quyển đó ?

Tôi trả lời cũng dễ thôi :

– Tôi không nói đến những quyển đó vì tôi viết nhiều lắm, làm sao chỉ trong một giờ đồng hồ tôi nói hết được? Tôi đã báo trước là tôi sẽ căn cứ trên tác phẩm “Môi thắm nửa đời” để làm kiểm điểm..

Bọn cán Cộng tổ chức khoá học tập không để cho tôi thi triển võ công Lăng Ba Vi Bộ tránh đòn một cách khơi khơi như vậy. Thể nào mấy ảnh cũng phải mạt sát tên bị kiểm điểm vài câu.

Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị Tháng Bẩy 1976 có hai văn nghệ sĩ Sài Gòn là Sơn Nam và Vũ Hạnh ở trong ban tổ chức. Tổ Thơ Văn có hai cán bộ văn hoá Việt Cộng chính cống làm hướng dẫn viên: Cán Hà Mậu Nhai, Giám đốc Nhà Xuất Bản Văn Nghệ Thành phố Hồ chí Minh — tôi thấy tư cách, tác phong anh cán này sài được — cán thứ hai là Cán Nguyễn Phúc. Cả hai Cán đều là dân Nam Bộ kháng chiến tập kết.

Cán bộ Nguyễn Phúc bị bệnh chi đó rụng hết tóc nên lúc nào cũng đội mão bêre, tức mũ nồi. Cán Phúc may mắn ngay khi mới lớ ngớ theo Nón Cối, Giép Râu, Răng Cải Mả, lính cái đít bự như cái thúng vào Sài Gòn, Cán được vợ chồng họa sĩ Bé Ký — Hồ thành Đức Saì Gòn mời về ở chung nhà. Vợ chồng họa sĩ mời Cán Cộng về ở chung là vì muốn lợi dụng. Nghe nói cái vi-la vợ chồng họa sĩ ở đó có sự bê bối, thiếu xót về mặt chủ quyền. Huỵch tẹt là vi-la của người khác, chủ vi-la bỏ nước ra đi trước ngày 30 Tháng Tư, vợ chồng hoạ sĩ về đó ở, nhưng sợ không hưởng trọn được vi-la nên mời Cán Phúc về ở chung. Vài năm sau tất nhiên xẩy ra chuyện cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt giữa vợ chồng họa sĩ và Cán Bêrê. Vợ chồng họa sĩ đuổi, Cán ở lì, chiếm luôn nửa vi-la ngon hơn chả chó. Đôi bên lôi nhau ra toà…

Nhưng đó là chuyện riêng của những người lợi dụng nhau trên cõi đời này, ta trở lại với Tầng đầu điạ ngục và Solzhenitsyn. Cán Phúc Bêrê nói :

– …… Anh Thủy viết quá nhiều. Chúng tôi không thể đọc hết những gì anh viết. Nhưng qua những tác phẩm của anh chúng tôi đã đọc, chúng tôi thấy anh viết toàn những chuyện ăn chơi không có gì đáng nói lắm. Nhưng nếu anh Thủy dịch Sônzênítsin thì chúng tôi phải nghĩ lại về anh và chính anh Thủy cũng phải nghĩ lại về anh…

Cán Bêrê nói tiếp :

– Ở Liên Xô những tác phẩm như của Sônzênítsin và đồng loại bị coi là thứ “văn nghệ cửa sau” của Liên Xô. Ở Liên Xô những tác phẩm phản động tương tự không có ảnh hưởng gì cả nhưng ở những nước ngoài Liên Xô chúng cũng có những tác dụng nguy hại nhất định…

Tất nhiên Cán Bêrê nói theo lời các đàn anh Liên Xô vĩ đại của Cán. “Văn nghệ cửa sau” có nghiã là những tác phẩm rác rưởi, thối tha bị nhân dân Liên Xô cho ra cửa sau để bỏ vào thùng rác. Bọn tư sản kính cẩn bưng thứ “văn nghệ rác rưởi” đó của Liên Xô về ca tụng, nâng niu.

Những người Cộng sản Nga gọi những tác phẩm của Alexandre Solzhenitsyn là “rác rưởi” như họ từng coi tác phẩm của Boris Pasternak là “rác rưởi” những năm 1960. Sau khi Boris Pasternak viết “Bác sĩ Zivago” và được trao Giải Văn Chương Nobel, ông bị chửi bới tàn tệ trên những phương tiện truyền thông cộng sản. Cộng sản gọi ông là “một con heo trong vườn hoa Xô Viết”, nhiều tên ở cùng khu phố với ông đòi tống cổ ông đi chỗ khác vì chúng không thể sống cùng khu phố với tên tồi tàn dơ dáy về tinh thần đến như thế.

Khoảng đầu thập niên 1960, Evhetuzhensko, Thi sĩ của chế độ Xã Hội Chủ Nghiã tiến bộ, giàu đẹp được mời sang du nhai xứ sở Cờ Hoa. Trong cuộc phỏng vấn của Tạp chí Playboy Thi sĩ Nhà Nước Xô Viết nói :

– Văn nghệ sĩ Liên Xô và văn nghệ sĩ Hoa Kỳ khác nhau một vực, một trời..

Ra cái điều văn nghệ sĩ Hoa Kỳ nói riêng, văn nghệ sĩ các nước tư bản đồi trụy, thối nát, rẫy chết và sắp chết nói chung, chỉ viết, chỉ sáng tác vì tiền, chỉ phục vụ bọn có tiền, văn nghệ sĩ Xã hội chủ nghiã viết vì lý tưởng, sáng tác phục vụ cái tốt, cái đẹp, phục vụ nhân dân. Nhưng khen rồi chửi, chửi rồi khen, liếm rồi nhổ, nhổ rồi liếm là đặc tính của những người đảng viên cộng sản, cũng vẫn anh Evhetushensko những năm 1990 trở giọng ca tụng :

– Chúng ta kiêu hãnh vì chúng ta có Pushkin và Pasternak..

Với người Nga, thi văn hào Pushkin cũng như Tố Như Nguyễn Du của ta vậy.

Evhetushensko suýt soa:

– Alexandre Solzhenitsyn là nhà văn cổ điển duy nhất đang sống của văn học Nga.

Năm 1974 Nhà văn Solzhenitsyn bị bọn Brezhnev tống xuất đi khỏi nước Nga, hai mươi năm sau, chế độ Cộng sản sụp đổ tan tành trên toàn cõi cái gọi là Liên Bang Xô Viết, năm 1994 Solzhenytsin trở về quê hương ông. Ông là người may mắn. Ông tố cáo chế độ cộng sản có đầy những sai lầm, những cái xấu, nó sẽ bị vứt bỏ, ông nói như thế ngay trong thời bọn cộng sản mạnh mẽ hung hãn nhất. Ông là nhà tiên ngôn, và ông đã nói trước thật đúng. Chế độ cộng sản sụp đổ ngay khi ông còn sống. Tôi viết ông là người may mắn vì trong khoảng thời gian 70 mùa lá rụng loài người phải chịu đựng tai họa cộng sản đã có không biết bao nhiêu người biết trước và nói trước chủ nghĩa cộng sản sẽ bị loài người ghê tởm, liệng bỏ nhưng đa số những người không may ấy đã chết thảm trong ngục tù, chết mà không thấy ngày tàn của cái chủ nghĩa quái ác họ căm ghét.

Ngày 3 Tháng 8, 2008, Nhà Văn Aleksander Sozhenitsyn từ trần ở Moscow, Thủ đô Nước Nga không Xô-viết, ông thọ 89 tuổi, tôi — người dịch tác phẩm The First Circle của ông ra tiếng Việt, Tầng Đầu Địa Ngục, người viết truyện Việt Nam đang sống đời biệt xứ như ông từng sống ở nước Mỹ — tôi tưởng nhớ ông, tôi nhắc đồng bào tôi nhớ ông.

Advertisements

3 Responses

  1. ” Tôi tưởng nhớ ông, tôi nhắc đồng bào tôi nhớ ông”

    Vâng, thưa ông! Tôi đang nhớ tới ông, và nhớ tới ông mãi mãi!

  2. Tôi vẫn hy vọng và càng ngày càng có nhiều lý do để tin tưởng rằng chế độ của bọn ăn cướp sẽ sụp đổ trong một ngày không xa. Tôi hằng cầu nguyện cho việc ấy xảy ra ngay trong lúc Bố Già CTHĐ còn sống khỏe. Đừng quên cho mỗi đứa trong bọn chúng mấy cái “bạt tai” hơặc dăm cái “đá đít” ! Không phải chỉ có một mình Bố mà toàn thể nhân dân VN đều hăm he như thế cả!.

    Tôi còn mường tuợng thấy cảnh Bố Già đang chung lưng với đồng bào mọi giới để kéo cổ cái tượng đá của tên giặc già trước Tòa Đô Chánh xuống và vứt vào sọt rác… Con người hắn, tâm địa hắn và cả cái chủ nghĩa của hắnđáng lẽ phải ra bãi rác từ lâu kia!

    Alxander Solzhenitsyn đã có đóng góp vào việc tố cáo chế độ bạo tàn của bọn côn đồ SôViết cho toàn thế giới được biết. Ông đã có cái hạnh phúc được thấy tận mắt ngày tàn của bọn này.

    Biết bao nhiêu người trẻ như tôi hằng nguyện cầu cho CTHĐ cũng có ngày được hưởng cái hạnh phúc tương tự?

  3. Ba’c HHT đang kể chuyện “cải tạo văn nghệ sĩ” và chuyện đô’p cha’t giữa Bac’ và ca’n cộng Bê Rê, xong , ba’c qụeo ra xa lộ đi tuốt luốt lên Vermont gặp ông Sôn De N’it Xin, rồi lại lôi ông thi sỉ “cung đình” E’p Tu Sen Cô. Và thă’ng ca’i rẹt, đì eng. Đọc xong vẫn còn â’m ư’c…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: