• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Tháng Bẩy Vào Thu (2008)

Mùa hạ đã tàn, Virginia, Xứ Tình Nhân, còn nắng nóng. Hôm nay Ngày Rằm Tháng Bẩy, tôi muốn viết về những người bạn văn nghệ sĩ của tôi đã sống, đã chết trong lòng thành phố Sài Gòn thân thương kể từ sau Ngày 30 Tháng Tư Oan Nghiệt.

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió,
Cho nắm xương tàn được nở hương.

Tháng Bẩy Xá Tội Vong Nhân, Tháng Bẩy ông cha ta tưởng nhớ những người đã chết. Sống ở xứ người, người Việt nhớ Nước nên người Việt cũng nhớ đến những người thân yêu của mình đã chết, xương tàn nằm lạnh trong lòng đất quê nhà.

Có bao nhiêu chiến sĩ của chúng ta đã anh dũng chết trong Ngày 30 Tháng Tư? Ta không biết và ta sẽ không bao giờ được biết.

Tháng Bẩy Nhớ Thương. Xin tôn vinh các vị đã chết vì Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Trong phạm vi nhỏ hẹp của bài viết cảm khái này xin các vị cho phép tôi chỉ nói đến những người bạn văn nghệ của tôi đã chết từ sau ngày quốc gia của chúng ta bị xâm chiếm.

Văn nghệ sĩ chết trước nhất kể từ khi ta mất nước là anh Chu Tử Chu Văn Bình. Anh Chu Tử không chết sau ngày 30 Tháng Tư mà là trong ngày 30 Tháng Tư. Trên con tầu Việt Nam Thương Tín đi từ bến Sài Gòn ra biển ngày hôm ấy anh chết vì đạn thù bắn theo tầu. Xác anh nằm lại trong lòng biển đông.

Cuối năm 1976 anh Vũ Hoàng Chương “về ngôi.” Tháng Ba 1976 bọn Cộng Sản Hà Nội mở chiến dịch bắt giam văn nghệ sĩ Sài Gòn. Anh Vũ Hoàng Chương ở trong số những người bị bắt ngay đêm đầu tiên. Chừng sáu tháng sau chúng cho anh về nhà. Lúc này anh chị Chương về ở một căn nhà nhỏ vùng Khánh Hội, gần nhà chị Đinh Hùng. Anh Chương về được năm, sáu ngày thì qua đời. Anh em chúng tôi tên nằm trong tù, tên còn ở ngoài thì ngày đêm chờ đợi công an Việt Cộng đến còng tay đưa đi, gần như chẳng ai biết anh Chương được về. Nhiều người biết tin anh mất rất lâu sau ngày anh mất. Họa sĩ Văn Thanh là người rất thân và rất thương quí anh VH Chương. Khi ấy tôi chưa bị bắt. Một chiều gặp Văn Thanh ở tiệm cà phê Hoà Mã, Họa sĩ Văn Thanh nói với tôi:

– Nghe tin ông ấy về tôi đến thăm, mang theo hộp sữa biếu ông. Ông ấy nói: “Ai không đến thăm tôi cũng được, Văn Thanh không đến là không được…”

Năm 1990 ở tù về lần thứ hai tôi được tin Văn Thanh đã qua đời. Chị Đinh Hùng đã qua đời. Hiện chị Vũ Hoàng Chương còn sống ở Sài Gòn.

Buổi chiều xưa ấy, trong tiệm cà phê bánh mì Hòa Mã đường Cao Thắng tôi nghe Văn Thanh báo tin anh Chương đã chết, trên xe đạp về nhà tôi ở Ngã Ba Ông Tạ, tôi làm bài thơ:

Đọc Thơ Vũ Hoàng Chương

Một mảnh hồng-tiên trĩu ngón tay…
Hương mùa thu mất ngậm ngùi bay.
Anh vẫn Hoàng Chương vàng với ngọc
Trần ai nào lấm được trời mây.
Người về ngôi cũ, thơ trầm nhạc,
Tàn lửa hồng hoang, khói Mái Tây.
Chín ngục A Tỳ ma sửa áo,
Mười tầng địa ngục quỷ cung tay.
Cười vang một tiếng ta tinh đẩu,
Sáu cửa luân hồi nhẹ cánh bay!

Tôi nhớ một buổi tối chừng năm, sáu tháng sau Ngày 30 Tháng Tư, tôi gặp Hoài Bắc Phạm Đình Chương trên con đường trước Chợ Ông Tạ. Chúng tôi cùng đi xe đạp, chúng tôi ghếch xe đạp lên vỉa hè đứng nói chuyện với nhau trong bóng tối.

Hoài Bắc kể:

– Văn Cao chưa vào được, bà vợ Văn Cao vào. Trần Dần nhắn bà Văn Cao vào nói với Vũ Hoàng Chương: “Thơ của anh, và thơ của anh Hùng không bao giờ mất được.”

Anh Hùng đây là Đinh Hùng. Và đúng như lời Trần Dần, Thơ Vũ Hoàng Chương không bao giờ mất được. Bọn làm văn hoc Bắc Cộng lên án Thơ Vũ Hoàng Chương, Thơ Đinh Hùng là “Thơ Ma Mị, Thơ Trụy Lạc“. Hai mươi năm sau những tập “Thơ Mây, Thơ Say, Hồi Ký Ta đã làm cho đời ta” của Vũ Hoàng Chương ngang nhiên xuất hiện và chiếm những chỗ quan trọng trên những giá sách Thành Hồ.

Văn nghệ sĩ chết thứ hai ở Thành Hồ là Hoàng Vĩnh Lộc. Anh bị bắt trong đợt khủng bố văn nghệ sĩ Sài Gòn Tháng Ba 1976. Khoảng một năm sau được thả về, anh qua đời trong căn nhà trong hẻm Chi Lăng. Tôi đến chào anh lần cuối khi anh đã nằm trong quan tài. Buổi chiều gần tối xa xưa mà rất gần ấy trời Sài Gòn mưa. Hôm nay ngồi viết ở Rừng Phong xứ Mỹ tôi như còn nghe thấy tiếng mưa rơi lộp độp trên tấm bạt che cho khách ngồi trên miếng đất nhỏ trước nhà anh.

Tiếp đến là Minh Đăng Khánh. Cũng bị bắt và cùng về một lượt với Hoàng Vĩnh Lộc, Khánh bị bại liệt nửa người, đi đứng khó khăn, ngã nằm xuống là không một mình tự đứng lên được. Cực khổ trong ba năm Khánh được giải thoát.

Trọng Nguyên, người viết tiểu thuyết trạc tuổi tôi, nhiều năm cùng làm việc với tôi trong tòa soạn Nhật báo Sài Gòn Mới, chết vì bị ung thư phổi.

Huy Cường, chết vì rượu say ngồi sau xe Honda bạn chở. Buổi tối trên đường về Cầu Sơn, Cường ngồi sau, xe đụng, Cường té ngửa, đập đầu xuống đường.

Anh Trần Việt Sơn qua đời khoảng năm 1983. Anh bị bắt và bị giam khoảng một năm.

Thê thảm nhất là cái chết trong tù của anh Nguyễn Mạnh Côn, anh chết ở Trại Cải Tạo Xuyên Mộc. Anh Côn bị bắt Tháng Ba 1976. Tôi vào Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu sau anh. Năm 1977 tôi chỉ nhìn thấy anh vài lần khi tôi nằm Biệt Giam – Sà lim số 20 Khu B, Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, anh ở Phòng Tập Thể số 1 cùng Khu B. Rồi anh bị đưa lên Trại Xuyên Mộc, Bà Rịa. Năm 1980 khi từ nhà tù trở về lần thứ nhất tôi được tin anh đã mất ở Xuyên Mộc. Nghe nói khi ở tù được ba năm, anh Côn tự cho là bản án tù của anh đã mãn, anh tuyệt thực đòi bọn Việt Cộng phải trả tự do cho anh. Bắt chước bọn Nga cộng quỷ quái, bọn Tầu cộng ác ôn, bọn Việt Cộng côn đồ đàn áp những người tù dám công khai chống đối chúng thật tàn nhẫn và thẳng tay. Chúng lạnh lùng giết người tù này để những người tù khác sợ, không dám làm theo. Anh Côn không ăn, chúng không cho anh uống nước cho đến khi anh chết. Anh Côn là người chết tức tưởi, khổ sở, bi thương nhất trong số anh em tôi đã chết trong ngục tù cộng sản sau năm 1975. Thân xác anh nằm lại vùng rừng già Xuyên Mộc.

Năm 1986 anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong nhà tù Chí Hòa. Anh bị cao áp huyết. Phòng giam quá đông người, quá ồn ào, rối tinh rối mù như trong ổ kiến. Những ông tù già bị cao áp huyết thường không chịu nổi cảnh loạn xạ bát nháo từ sáu giờ sáng đến mười giờ đêm trong phòng giam chật ních người, các ông thường lặng lẽ ra đi vào lúc nửa đêm.

Năm 1987 Dương Hùng Cường Dê Húc Càn chết trong sà-lim khu B, Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu. Là sĩ quan anh đã đi cải tạo ba năm. Được về năm 1989 anh bị bắt lại trong cùng một đêm với tôi – Đêm rạng ngày 2 tháng Năm, 1984 – Anh bị khép vào cái bọn công an Thành Hồ gọi là “Tổ chức gián điệp hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh,” tên văn nghệ, văn gừng của tổ chức này là “Bọn Biệt Kích cầm bút.” Nằm sà-lim một mình, lên cơn đau, anh chết trong đêm. Cường nằm ở một nghĩa trang vắng vẻ trên Lái Thiêu.

Những người đã chết: Các ông đàn anh tôi: Tam Lang, Nguyễn Hiến Lê, Vũ Bằng, Chu Tử, Trần Việt Sơn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hồ Hữu Tường, Hoàng Vĩnh Lộc, Vũ Đức Duy, Thiếu Lang; các bạn tôi: Minh Đăng Khánh, Trọng Nguyên, Hoàng An, Hoàng Thắng, Hoàng Trúc Ly, Huy Cường, Thái Dương, Trần Việt Hoài, Xuyên Sơn, Cát Hữu, Lê Thanh, Mai Anh, Trịnh Viết Thành, Lan Đài, Y Vân, Trọng Khương, Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang, tác giả Bố Già, Hoàng Trọng Miên, Hồ Điệp mất tích trên biển, Minh Vồ Con Ong, Lý Phật Sơn, v.v… Còn bao nhiêu anh em tôi đã chết mà tôi không biết, không nhớ, không thể kể hết!

Cũng là văn nghệ sĩ, cũng bị kẹt lại Sài Gòn sau Ngày 30 Tháng Tư, cũng bị bọn kẻ thù coi là có tội và sẵn sàng hành hạ, một số người đã chết trong khổ cực, tù đầy, lãng quên, một số người chạy thoát ra nước ngoài tiếp tục cuộc sống văn nghệ sĩ và chết già trong hào quang nhà văn lớn, trong sự thương tiếc của người đời. Vũ Hoàng Chương chết trong vắng lặng, nghèo nàn. Đám ma anh Chương không có lấy ba văn nghệ sĩ đi đưa. Tôi chắc số thân nhân đưa tiễn anh không quá mười người. Vũ Khắc Khoan, Thanh Nam, Hoài Bắc Phạm Đình Chương, Mai Thảo, Nguyên Sa – đi khỏi cõi đời này với biết bao hương hoa, bao nhiêu bài báo vinh danh, bao nhiêu lời thương tiếc, bao nhiêu người đưa tiễn! Cùng tù ở Xuyên Mộc như anh Nguyễn Mạnh Côn và Đằng Giao, Duyên Anh ra khỏi tù nằm 1982, vượt biên đi thoát cuối năm 1983, tiếp tục sáng tác rộn ràng ở hải ngoại, tiểu thuyết “Đồi Fanta” của Duyên Anh được điện ảnh Pháp thực hiện thành phim, nhiều tác phẩm được dịch ra Pháp ngữ, Đằng Giao về sống bình yên ở Thành Hồ; anh Côn chết trong khổ cực!

Nhiều khi tôi tự hỏi tại sao không phải là Hoàng Hải Thủy chết lạnh, chết cứng trong sà-lim Khu C Một Phan Đăng Lưu mà lại là Dương Hùng Cường! Về nhiều mặt tôi yếu hơn Cường nhiều lắm. Chẳng hạn như về tính vui vẻ, lạc quan trong tù. Có những chú tù đã ở chung phòng với Cường khi sang phòng tôi, chê tôi:

– Ông không giống ông Dương Hùng Cường chút nào. Ông Cường ông ấy vui vẻ cười đùa, chuyện trò với anh em. Lúc nằm biệt giam ông ấy đứng ở cửa gió ca hát suốt ngày; đâu có rầu rĩ bí xị như ông!

Hôm nay Ngày Rằm Tháng Bẩy xá tội vong nhân, ngày cháo lá đa cúng cô hồn các đẳng, bình yên ở Rừng Phong xứ Mỹ, quê người Mỹ, tôi viết về những cái chết trong tù của các văn nghệ sĩ, trong số có Dương Hùng Cường. Nếu năm ấy tôi chết trong ngục tù cộng sản và hôm nay Dương Hùng Cường sống trên đất Xê Kỳ – ở Santa Ana, Houston, hay Seattle – có thể giờ này Cường đang ngồi viết tưởng niệm tôi.

Những tên Việt Cộng ác ôn hành hạ nhân dân ta, chúng tàn nhẫn giết hại anh em ta, con cháu ta. Bao nhiêu người đã chết cho chúng ta sống từ năm 1954, bao nhiêu người đã chết thê thảm từ sau Ngày 30 Tháng Tư 1975? Làm sao chúng ta quên tội ác của bọn Việt Cộng ác ôn? Quên thù hận chúng là ta phản bội những người đã chết…

Yên lung hàn thủy, nguyệt lung sa.
Dạ bạc Cali, cận tửu gia.
Mạt tướng bất tri vong quốc hận
Xê Kỳ do xướng Cộng ca ca!

Khói lồng sông lạnh, trăng lồng cát
Đêm ở Cali, cạnh tửu gia.
Mạt tướng không hay Vong quốc hận
Xê Kỳ vẫn hát Cộng ca ca!

*****

Đường dài, thu quạnh
Hai ngả mưa hoa
Bụi hồng cuộn lớp trường sa,
Hồn ai bạc mảnh trăng tà viễn phương.

Thơ Đinh Hùng. Tháng Bẩy 2008, nhớ Sài Gòn mưa sa, chúng ta trở lại Sài Gòn với Thơ Đinh Hùng:

Từng cơn mưa lạnh đến dần,
Đời chưa trang điểm mà xuân đã về.
Hững hờ để nước trôi đi.
Giấc chiêm bao hết, lấy gì mà say.
Quê ai đầm ấm đâu đây,
Cho tôi về sống mấy ngày trẻ thơ.
Ước gì trăng gió đón đưa,
Mắt chờ gặp mặt, tay chờ cầm tay.
Cảm lòng, nhận chút hương bay,
Tình thương đất bạn, cỏ cây là người.
Quê nhà ai sẵn nụ cười,
Núi sông hồn hậu, Đất Trời bao dung.
Cho tôi về hưởng xuân cùng,
Bao giờ hoa nở thì long cũng nguôi.

*****

Hãy dừng lại, hỡi muà hoa hồng phấn!
Mấy hoàng hôn, mái tóc đã sang thu.
Chĩu hàng mi, lá uá rụng tình cờ,
Tờ thư lạnh, gió sương bay dòng chữ.
Thương tâm sự, mưa sa vành nón cũ.
Anh ngờ Em mang cả núi non đi.
Hoa quay đầu, cánh bướm cũng vu qui.
Nhòa nắng cũ, nụ cười mây khói toả.
.. .. ..
Nhắc làm chi? Ôi! Nhắc làm chi nưã?
Em đi rồi, mưa gió suốt trang thơ.
Mây lià ngàn, e lệ cánh chim thu.
Con bướm ép, thoát hồn mơ giấc ngủ.
Anh trở gót, hương đưa về núi cũ.
Theo mây bay, tìm mãi hướng trăng thề.
Nhắc làm chi! Còn nhắc nữa làm chi!

*****

Em đến hôm nào, mưa trên vai,
Chiều thu sương đượm nét mi dài.
Nụ cười rung cánh hoa hờn giận,
Trong mắt Em còn bóng dáng ai?

*****

Mắt lặng nhìn nhau từ dĩ vãng,
Chợt xanh mầu áo nhớ thương xưa.
Bóng Em khoảnh khắc thành hư ảo,
Buồn lướt hàng mi thấp thoáng mưa.

******

Giữa đêm lòng bỗng hoang vu,
Gối chăn mghe cũng tình cờ quan san.
Bước thu chừng sớm lìa ngàn,
Nhớ gây nguyệt lạnh, cung đàn thương hoa.
Em về rũ tóc mưa sa,
Năm canh chuốt ngón tỳ bà khói sương.
Rời tay nhịp phách đoạn trường,
Hồn đêm nay thấm mùi hương năm nào?
Sầu che nửa mặt chiêm bao,
Dòng mưa thu lệ, chìm vào phấn son.
Nét mày cong vút núi non,
Mông mênh xiêm trắng, linh hồn vào thu.

Thơ ĐINH HÙNG.

 Công Tử Hà Đông sao lục.

Advertisements

4 Responses

  1. Công Tử Hà Đông viết:

    Những tên Việt Cộng ác ôn hành hạ nhân dân ta, chúng tàn nhẫn giết hại anh em ta, con cháu ta. Bao nhiêu người đã chết cho chúng ta sống từ năm 1954, bao nhiêu người đã chết thê thảm từ sau Ngày 30 Tháng Tư 1975? Làm sao chúng ta quên tội ác của bọn Việt Cộng ác ôn? Quên thù hận chúng là ta phản bội những người đã chết…

    Thắm thiết lắm! Cuồng nộ lắm!

    Cộng đồng người Việt hải ngoại có nhiều người đã quên thù hận chúng và vui sướng được nâng bi chúng để rồi quay lại mạt sát tất cả những ai không chịu nâng bi chúng.

    Tôi thương và nhớ đến ông Tôn Ngọc Chắc đã chết trong cô đơn và nghèo khổ.

    Ngày 16/07/1979 tôi đến và ở trong ngôi biệt thự số 41 đường Lê Quý Đôn, tại đây tôi chủ động gặp gỡ, ăn uống thường xuyên gần như mỗi ngày với ba người rất nổi tiếng của miền Nam Việt Nam, và một người nổi tiếng khác tôi tình cờ được gặp. Ba người mà tôi chủ động gặp là anh Nguyễn Văn Ngôn “tả biên” nổi tiếng của đội tuyển túc cầu Việt Nam Cộng Hoà. Vợ chồng nghệ sĩ Phương Hồng Ngọc & Ngọc Đức .

    Một buổi sáng nọ, tình cờ tôi gặp nữ danh ca Giao Linh, Nữ Hoàng Sầu Muộn, đến căn biệt thự nhận dụng cụ tập thể dục do cô Tôn Thị Ngọc Phú, trưởng nữ của ông Tôn Ngọc Chắc tặng. Nữ danh ca Giao Linh ngày hôm đó đã cho tôi thấy ngoài giọng ca điêu luyện đã làm muôn muôn triệu trái tim người hâm mộ nàng thổn thức, nàng còn có biệt tài “điều binh khiển tướng” nữa.

    Ngay tại căn biệt thự này, lần đầu tiên tôi được nghe “Chuyện Buồn Ngày Xuân”của Nhạc sĩ Lam Phương qua giọng ca nức nở của nữ danh ca Thanh Thúy.

    Trong bốn người nổi tiếng của miền Nam Việt Nam mà tôi gặp năm xưa, ai là người hiện nay đã quên hận thù, quên Những Tháng Năm Cuồng Nộ do kẻ thù gây ra biết bao nhiêu là thảm cảnh trên quê hương miền Nam thân yêu?

  2. Kính Ông Topa,

    Tự cho phép mình… “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” nên… khi đọc câu “tự hỏi” của Ông: “… Trong bốn người nổi tiếng………….. quê-hương miền Nam thân yêu?”… Tôi xin mạn phép được có thêm ý kiến ý cò cùng Ông dzìa câu hỏi đó…

    Trong số bốn người Ông từng gặp ở biệt thự 41 đường Lê quí Đôn, mà hết ba người là Ông đã có nhiều dịp “… ăn uống thường xuyên…” thời…dzới anh Nguyễn-văn-Ngôn “tả biên”, sau này ra mần sao… thời… tui cũng hổng rõ gì cho lắm… nhưng… dzìa cặp dzợ chồng nghệ-sĩ Phương-hồng-Ngọc / Ngọc-Đức, thời tui có dịp gặp dzà nói “chiện” cùng hai dzợ chồng này tại một thành-phố nhỏ mang tên “Créteil “. Cái tỉnh lẻ này…nằm cạnh biên thủ-đô Ba-Lê của nước Phú-lang-Sa dzìa hướng đông nam…

    Ngày đó… khoảng thập niên 80… tui thấy hai người dzẫn còn trẻ, đẹp dzà hạnh phúc dzới hai đứa con độ 13, 14… một trai một gái hay sao đó… tui hổng nhớ rõ bởi… trong lúc tui nói “chiện” dzới ba má tụi nó… thời… mấy đứa nó cứ chui ra bò dzô cái xế Toyota của ông bà già liền tù tì… mần tui hổng đếm được là mấy đứa… hế hế…!

    Bẵng đi thời gian… đâu độ năm sáu năm thì phải… tình cờ tui gặp lợi… lần này hổng có màn “bầu đoàn thê tử”, “Phu thê tử phoọc” đông đủ như lần trước mà… chỉ còn… “Ông bầu mình ên”… Nhìn sơ qua bộ dạng ủ-rũ, thê-thảm một chiều mưa diễn ra trước mắt… khỏi cần nói, tui cũng biết chắc “năm chăm phần chăm” là… đoàn “Sống Dzang” đã gãy gánh nên “Sáng Dzông”.

    Mà quả thật dzậy… người đẹp họ Phương đã “Sáng Dzông”, đã cuốn gói ra đi như Tây U thường nói là: “Sans trompette, ni tambour “… nghĩa là ngã lìa: “Hổng kèn, hổng trống “, im ru bà rù… để… theo tiếng gọi thiêng liêng của núi sông “Xê-Kỳ “, sau khi hổng quên kéo thêm hai cái “rờ-moóc” còn “dzị-thành-niên” dzà bỏ “lợi” cái đầu tầu chết máy.

    Ngày ấy, cái ngày mà tui được hân-hạnh chứng-kiến cảnh trạng thê-lương, bộ dạng “Nửa hồn thương đau” của người nghệ-sĩ sân-khấu kịch-ảnh, kiêm điện-ảnh, kiêm “búa-sua” ảnh trong phòng khách, nhà người em gái Thẩy… Tui hổng tài nào tìm thấy “lợi” được nụ cười sảng-khoái, yêu đời, đầy tự-tin như ngày nào của Thẩy, Ngọc-Đức, người của sân-khấu kịch-nghệ năm xưa…

    Năm xưa, tại cư xá Kỳ-Đồng, thỉnh thoảng… “Năm thì mườì wuạ” “Cinq temps dix corbeaux” như Tây bồi, Tây bì thường hay nói… thời… “Nửa đêm dzìa sáng”… trong giờ giới nghiêm… có lúc tui dzới Thẩy cùng… hổng phải chạm trán nhau mà là… chạm đít… chạm đít xe nhau. Có khi Thẩy dzô cổng chung-cư trước, tui tấp chiếc xế hộp của tui theo sau chiếc Honda 360 bốn bánh màu trắng của Thẩy… cũng như ngược “lợi “… Hồi đó, tui ở bên chung-cư dzới mấy em đầm sình, còn Thẩy, Thẩy ở trong căn nhà nhỏ nằm giữa sân của chung-cư, cách biệt dzới chung-cư, đâu dzách dzới căn nhà dùng làm nhà tắm, nhà giặt quần áo của cư-dân bổn địa. Mà những lần chạm đít nhau đó… mười lần hết chục là tui thấy… hổng phải tò mò chớ… trong xe của Thẩy luôn luôn có kèm theo một bóng hồng… hế hế…! Người gì… hào-woa hết biết luôn…!

    Sau lần gặp trong tình huống đầy nước mắt dzà cũng là lần cuối đó… tui hổng còn có dịp gặp “lợi ” Thẩy thêm lần nào sốt… Nghe đâu… dzì buồn, dzì chán đời, chán tình đời đen đúa như cái lá đa Phi-Châu nên… Thẩy hồi-hương dzà cắm dùi “dzĩnh-dziễn” ở wuê woại Sề-Goòng đẹp lắm Sề-goòng ơi…! “Lợi ” cũng nghe phong phanh chừng như có một “Bà Bà” nguyên là “fan”, là ” Nữ ái mộ dziên ” ngày xưa của Thẩy… nay ra tay tế-độ Thẩy… Thôi, được dzậy kể cũng quí rồi… số Thẩy trẻ lận đận nhưng dzìa già được no cơm ấm cật là phúc bảy mươi đời… còn đòi hỏi gì hơn… Phải hông Ông Topa…?

    Còn dzìa phần “Nữ-Woàng Sầu Mộng” Giao-Linh thời… sau 75, sau ngày miền Nam đứt bóng… tui thường chạm mặt người đẹp ở quán cà-phê của người em gái Cổ… Nói là quán cà-phê cho nó Woai chớ… thiệt ra, nó chỉ là căn phố liền dzách nằm trên đường Tự-Do củ, cùng phía dzới khách-sạn Continental dzà chỉ cách cái nhà ngủ thời “Cô lô nhền” tức thời “Thuộc-địa” này chừng dăm căn… Chủ nhà cho người em gái của Nữ-Woàng kê mấy cái ghế đẩu, mấy cái bàn xếp thấp lè tè ở một phía để bán cà-phê bí-tất… còn phía kia thời có cái xe tủ kiếng nhỏ bày bán… tam tinh thập lục bát nháo ba cái mỹ-phẩm xà-phòng kem đánh răng gì đó của người khác… mới nhìn dzô căn phố mở cữa toác woác này… ta thấy nó từa tựa như một “mini” Crystal Palace, một thương-xá Tam-Đa thu nhỏ…

    Dạo đó, người ta đồn rằng… Nữ-Woàng Sầu Mộng đang cặp kè dzới một chú cán răng hô mã-tấu cấp côi… Thiệt thà mà nói thời… dạo đó, em cũng còn hương-sắc ra gì… cũng còn nước non sông núi lắm chớ chẵng chơi… Sau đó, “lợi ” nghe em chui trót lọt, rồi em định-cư, định-canh ở xứ Wuê-Kỳ … Nhưng mới đây, “lợi ” nghe em dzìa bển mở tiệm phở bò phục-dzụ nhân-dân, phục-dzụ quần-chúng mến yêu… Em yêu nước, em yêu non quá thể… thấy thương gì đâu…!

    Đó…! thưa Ông, Ông Topa… tui trả lời ít ra cũng được ba phần tư câu hỏi, câu “théc méc” mà Ông đã tự đặt ra… Chào Ông, Ông Topa… hế hế…!

  3. Kinh chu Hoang Hai Thuy,
    Tu luc chau biet doc chu, cach day nua the ky chau da say me , nguong mo nen van hoc nghe thuat cua nguoi Viet VNCH. That la cam kich va biet on chu voi tai viet van xuat chung da thay mat biet bao nguoi Viet noi len long tuong nho , thuong tiec nhung bac van nghe si da ta the, tuy da khong con tren duong the , nhung cai chet that la thuong tam, ma van song vinh cuu trong long nguoi dan Viet. Trong so do co Giao Su Vu Hoang Chuong day mon Co Van o tru tu thuc Van Lang la thay cua chau.

  4. Kinh Goi Bac HHT, Doc xong bai nay cua Bac, thiet buon va cung cam khai cach gi, Bac noi dung, quen thu han bon CS ac on la co loi voi nhung nguoi da chet, co loi voi nan nhan Cai Cach Ruong Dat nam xua, Hue Mau Than 68, va nhung ai da chet vi su day ai,hanh ha doc ac nhu lang soi cua CS trong cac trai caitao tren khap mien dat nuoc. Khong , va khong bao gio chung ta quen dieu do va phai noi cho con chau chung ta biet CS la nhu the nao, la loai cam thu.Vay ma gio day lai co nguoi vi chut ba loi danh cam tam quy goi de liem dep rau CS, tu boi phan tret cut len mat minh de cau canh CS kiem chut loi danh ,ma khong biet nhuc, nguoi do la Nguyen Cao Ky, ten diem duc thoi dai. Thua Bac sao Khong thay bac viet mot bai nao nao ve ten diem duc Ng Cao Cay nay vay ? Hay Bac co an oan rieng voi ten nay nen Bac.MOng duoc doc bai cua Bac noi ve ten diem nay lam lam. Co mot viet cu am ach mai nho Bac giup cho. So la ,trong bai nay Thang Bay vao Thu cua Bac (bac day la bac HHT chu khong phai bac Ho),bac co viet Nha Van Chu Tu da chet trong ngay 30/4 tren tau VNTT do dan thu ban theo tau, viec nay gia toi cung doc tren Thoi Bao Canada mot baicua NT Long cung noi den cai chet cua nha van Chu Tu tren tau VNTT. Dieu nay thi chac ai cung ro, vay ma hien nay tren trang web Hung Viet co mot bai tua la HIEP DAM LICH SU cua nha van (?) Tran Tuan Kiet viet ve nha van Chu Tu nhu sau, xin nhan manh la thoi diem sau 30/4/75. : Toi quay sang nha Chu Tu trong luc gia dinh anh dang chon ron. Anh Chu Tu an mac gon ghe,cu di toi di lui,may nguoi trong gia dinh cu dua mat nhin theo anh. Toi chao , Anh cuoi:-Song phe da tan ra may hom nay roi, chi co anh mo toi. Roi them may ban la buoc vao. Anh khong ngoi voi toi nua va quay sang voi may nguoi do ,tham thi, ru ri. Con mat Chu Tu da lon cang no to trong doi kinh. Co khi anh lai chui the. Toi biet anh co chuyen rieng, khong muon minh nghe, du rat than. Toi tu gia anh, ra ben xe lam di ve huong nga sau Saigon…(ngung trich)……The lay la the lao, thua bac ? Ai viet dung va ai viet sao ? (sao co dau nang chu khong phai sai ) Nho bac len tieng gium, Ai viet su that thi ta doc va kinh trong, con ai viet ba sao de tu de cao minh thi xin loi khong co gia toi vao doc. Tran Tuan Kiet, Ong la ai???. Xin Bac HHT len tieng giai dap cho. Xin doi on lam lam. Kinh chuc Bac va Gia quyen binh an. Bac Ky 54, nay kinh.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: