• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Nhà Văn An Nam

Hôm nay, tôi viết về chuyện văn nghệ, văn gừng: Nhà Thơ Nguyễn Vỹ với bài Thơ Gửi Trương Tửu trong có câu:

Nhà Văn An Nam khổ như chó.

Sáng Tháng Năm, Rừng Phong dịu nắng, tôi đọc trong bài viết của ông Nhà Văn Trần Thanh Hiệp — ông viết về Nhóm Sáng Tạo ngày xưa ở Sài Gòn và về những ông bạn văn Sáng Tạo của ông: Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên. Bài viết mới toanh, viết Tháng Tám 2008. Đây là lời Nhà Văn Trần Thanh Hiệp:

Ngày xưa, hình như Lê Văn Trương, từng viết: “Nhà văn An Nam khổ như chó.”

Tác giả câu “Nhà văn An Nam khổ như chó” không phải là Lê Văn Trương mà là Nguyễn Vỹ. Lâu rồi chắc quí vị không có dzịp đọc lại nguyên bài thơ, tôi xin mời:

Nguyễn Vỹ: Gửi Trương Tửu.

Nay ta thèm rượu nhớ mong ai
Một mình rót uống chẳng buồn say!
Trước kia hai thằng hết một nậm,
Trò chuyện dông dài, mặt đỏ sẫm.
Nay một mình ta một be con,
Cạn rượu rồi thơ mới véo von.

Dạo ấy chúng mình nghèo kiết xác,
Mà vẫn coi tiền như cỏ rác.
Kiếm được xu nào đem tiêu hoang,
Rủ nhau chè chén, nói huyênh hoang.
Xáo lộn văn chương với chả cá,
Chửi Đông, chửi Tây, chửi tất cả.
Rồi ngủ một đêm, mộng với mê,
Sáng dậy nhìn nhau, cười hê hê.

Bây giờ thời thế vẫn thấy khó,
Nhà văn An Nam khổ như chó.
Mỗi lần cầm bút viết văn chương,
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương,
Rồi nhìn chúng mình hì hục viết
Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết.
Mà thương cho tôi, thương cho anh
Đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh.

Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng,
Tôi làm Trạng nguyên, anh Tể tướng.
Rồi anh bên vũ, tôi bên văn
Múa bút, vung gươm hả một phen.
Cho bõ căm hờn cái xã hội
Mà anh thường kêu mục, nát, thối.
Cho người làm ruộng, kẻ làm công
Đều được an vui, hớn hở lòng.

Bao giờ chúng mình gạch một chữ
Làm cho đảo điên pho lịch sử.
Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa
Hất mồ, nhổm dậy, cười say sưa.
Để xem hai chàng trai quắc thước
Quét sạch quân thù trên đất nước.
Để cho toàn thể dân Việt Nam
Đều được tự do muôn muôn năm.
Để cho muôn muôn đời dân tộc
Hết đói rách, lầm than, tang tóc.
Chứ như bây giờ là trò chơi,
Làm báo, làm bung, chán mớ đời!

Anh đi che tàn một lũ ngốc,
Triết lý con tườu, văn chương cóc.
Còn tôi bưng thúng theo đàn bà
Ra chợ buôn văn, ngày tháng qua.
Cho nên tôi buồn không biết mấy.
Đời còn nhố nhăng, ta chịu vậy.
Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa,
Bực chí, thành say mấy cũng vừa.
Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ,
Chơi nước cờ cao lại gặp bí.
Rồi đâm ra điên, đâm vẩn vơ,
Rốt cuộc chỉ còn mộng với mơ!

Nhà thơ Nguyễn Vỹ làm bài thơ trên ở Hà Nội, trong khoảng những năm 1936, 1937, đăng trên tờ tuần báo Phụ Nữ — tôi không nhớ tên tờ báo này – những năm ấy ông là biên tập viên của tờ báo ấy nên ông viết: “Còn tôi bưng thúng theo đàn bà. Ra chợ buôn văn, ngày tháng qua..”

Cho là bài thơ được làm năm 1938, tới nay, năm 2008, nó đã sống được 60 năm. Bài thơ có giá trị ở chỗ nó ghi lại được tâm trạng của một số người Việt Nam làm văn, viết báo những năm từ 1930 đến 1945. Những chuyện tả trong bài thơ có đúng mà cũng có lời cần phải nói thêm.

Tình trạng báo chí, sách tiểu thuyết trong xã hội Việt Nam những năm từ 1930 đến 1945 chưa phát triển đến cái độ có thể nuôi sống đàng hoàng những người Việt viết báo, viết sách. Nhưng cuộc sống của những vị làm báo, viết sách thời ấy cũng không đến nỗi “khổ như chó.” Các ông thiếu tiền là vì các ông sống phóng túng, kiếm được 10 không những các ông chi ngay cả 10 vào những cuộc ăn chơi trác táng, đa số là đi hát cô đầu, hút thuốc phiện, kiếm được 10 các ông tiêu đến 50. Chưa thấy tiền đâu các ông đã dắt nhau xuống xóm cô đầu, ăn chơi, chơi đã, xoay tiền trả sau. Đa số các ông làm thơ, viết văn không có lương tháng, cả năm bán được dăm bài thơ, ba cái truyện ngắn, các ông không túng thiếu sao được.

Dạo ấy chúng mình nghèo kiết xác,
Mà vẫn coi tiền như cỏ rác.
Kiếm được xu nào đem tiêu hoang,
Rủ nhau chè chén, nói huyênh hoang.

Nhưng cùng thời gian ấy, nhiều ông viết văn, làm báo vẫn sống được đàng hoàng, như ông Phan Khôi viết báo nhiều năm — những năm 1927, 1928, 1929 — ở Sài Gòn; ngoài việc có tiền sống đàng hoàng ông còn có tiền gửi về quê ông cho vợ con ông; lại như những ông Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo, Tú Mỡ làm những tuần báo Ngày Nay, Phong Hoá, viết sách cho Tự Lực Văn Đoàn. Ông Nhất Linh biết cách quản lý nhà in, nhà báo, những tờ Ngày Nay, Phong Hoá không những chỉ sống đàng hoàng mà còn làm ra tiền lời để Tự Lực Văn Đoàn có nhà in riêng. Ngày ấy báo Ngày Nay có câu:

Ngày Nay ngày nay
In nhà in nhà.

Nhà thơ Tú Mỡ kể chuyện những bài thơ ông đăng trong mục Dòng Nước Ngược trên báo Ngày Nay, được chọn và xuất bản thành sách, Nhà xuất bản Đời Nay cũng do nhóm Tự Lực Văn Đoàn chủ trương, tiền bản quyền sách Dòng Nước Ngược giúp ông làm được căn nhà ở Láng, Hà Nội năm 1940.

Khoảng năm 1929, 1930 ông Diệp Văn Kỳ ở Sài Gòn tặng ông Tản Đà 1.000 đồng bạc Đông Dương — Vàng năm đó khoảng 50 đồng 1 lạng — Ông Kỳ mời hai ông Tản Đà, Ngô Tất Tố vào Sài Gòn viết cho tờ Đông Pháp Thời Báo. Ông Ngô Tất Tố kể trong hồi ký: hai ông được Đông Pháp Thời Báo trả lương tháng, mỗi ông 100 đồng; hai ông mướn nhà ở chung — Xóm Gà, khu nhà ở giữa Phú Nhuận và Gò Vấp — tiền nhà mỗi tháng 20 đồng. Không biết hai ông ăn nhậu, tiêu tiền làm sao mà có tháng hai ông không có 20 đồng để trả tiền nhà. Ông NT Tố kể hôm ấy ông Tản Đà đi vào Sài Gòn xoay tiền trả tiền nhà, chiều ông về, đem theo chai rượu, con vịt quay, ông nói với ông Tố:

– Chạy được có 10 đồng, tôi mua rượu với đồ nhắm mình uống cho đỡ buồn. Ngày mai mình lại tính.

Trong lịch sử Báo Chí Việt Nam, có từ năm 1920, ông Diệp Văn Kỳ là ông chủ báo trọng đãi văn thi sĩ nhất, ông Tản Đà là văn nghệ sĩ được chủ báo trọng đãi nhất.

Trở lại với ông Nguyễn Vỹ và ông Trương Tửu. Ông Nguyễn Vỹ bị các ông làm văn nghệ Hà Nội năm xưa chỉ trích nặng nhất. Hoài Thanh viết về Nguyễn Vỹ trong Thi Nhân Việt Nam:

Nguyễn Vỹ đến giữa làng thơ với chiêng trống xập xoèng inh cả tai. Chúng ta đổ nhau ra xem. Nhưng chúng ta lại tưng hửng trở vào vì ngoài cái lối ăn mặc và những điệu bộ lố lăng lúc đầu, ta thấy con người ấy không có gì.

Thế Lữ cho rằng “Nguyễn Vỹ làm thơ với ý định loè bịp người đọc.”

Nửa thế kỷ trôi qua, ít nhất Nhà Thơ Nguyễn Vỹ có để lại cho đời bài thơ “Gửi Trương Tửu.”

Truong TuuÔng Nguyễn Vỹ năm 1954 vào Sài Gòn, làm tuần báo Phổ Thông, chủ trương Thi Đoàn Bạch Nga, làm chủ nhiệm nhật báo Dân Ta, ông tử nạn xe hơi năm 1971.

Ông Trương Tửu ở lại Hà Nội. Sau 1954 không thấy ông viết gì nhiều, ông bị bọn Bắc Cộng bắt đi tù nhiều năm, ông là một thành viên của nhóm Mác-xít Hàn Thuyên, bọn Bắc Cộng không ưa nhóm này, chúng gọi ông Mác-xít Trương Tửu là “Mác-xít Sôi Thịt.”

Những năm 1982, 1983, một người bạn văn nghệ của tôi về chơi Hà Nội, anh đến thăm ông Trương Tửu — ông Trương là bạn văn nghệ của bố anh năm xưa — anh kể:

– Ông ấy sống bằng nghề thầy lang châm cứu. Ông ấy cho tôi xem cái bình nước trong có 5 con đỉa. Ông ấy nói: “Điả nó sống dai lắm. Ba năm rồi tôi không cho 5 con đỉa này ăn cái gì cả, chúng nó vẫn sống. Để xem chúng nó sống đến bao giờ.”

Ông Trương Tửu muốn nói 5 tên nào sống dai như đỉa ở Hà Nội, chắc quí vị dzư biết.

Những năm 1940, 1941, tôi 10, 11 tuổi, tôi đọc trên báo 1 bài thơ của ông Trương Tửu, tôi nhớ có 4 câu đầu;

Khi người ta đói
Thì người ta ăn.
Khi mà tôi đói
Lại chỉ nằm khàn.

Quí vị nào có bài thơ trên — Khi người ta đói — xin gửi cho tôi. Tôi đăng lên đây để chúng ta cùng đọc. Tôi cám ơn.

Nay mời quí vị đọc chuyện Nhà Văn Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và chuyện hai ông Khổng Tử-Nhan Hồi.

Năm 1984 anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt bị bắt cùng với các văn nghệ sĩ Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự, Lý Thụy Ý.

Năm 1985 anh Hoạt ở Phòng 11 Gác 3, Khu ED, Nhà Tù Chí Hòa. Tôi ở Phòng 10 khu ED, sát ngay phòng anh. Vài lần ra hành lang lấy nước, tôi được thấy anh trong Phòng 11, được nói với anh, được nghe anh nói vài câu.

Anh nói với tôi qua hàng song sắt:

Ngày tôi đi vợ tôi nói “Ông có về với tôi thì về, tôi đau ốm quá tôi không đi thăm ông được đâu.”

Hôm đi, tôi dặn con gái tôi “Nhớ ngày hôm nay làm giỗ cho Bố..”

Một tối, khoảng 11 giờ, Kẻng Ngủ đã khua, Nhà Tù im lặng, chúng tôi nghe tiếng kêu:

Báo.. cáo.. cán.. bộ.. Phòng.. Mười.. Một… Khu.. Ơ.. Đê… có… người… đau nặng… Xin.. cấp kíu!!

Một lúc sau, Cai Tù xách chìa khóa đến, cửa sắt phòng tù lịch kịch mở, một anh tù cõng người tù đau bệnh trong Phòng 11 xuống nơi gọi là trạm xá. Sáng hôm sau, chúng tôi được tin người tù Phòng 11 đi cấp cứu đêm qua đã chết. Người tù ấy là anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Anh chết cô đơn trong đêm lạnh trong Nhà Tù Chí Hòa.

Anh chết như lời anh dặn con gái anh khi anh bị bọn Công An Thành Hồ đến nhà bắt đi: “Nhớ ngày hôm nay làm giỗ cho Bố.”

Tôi thân với anh Hoạt. Quê ngoại của anh ở làng La Khê, một làng ngay cạnh thị xã Hà Đông. Những năm 1956, 1957 anh Hoạt làm nhật báo Tự Do, tôi làm nhật báo Sàigònmới. Tôi nghe nói trước năm 1945 có năm anh Hoạt là giáo viên Trường Tư Thục Tự Đức ở Hà Đông. Tôi học Trường Tự Đức những năm xưa ấy. Không nhớ rõ nhưng tôi nghĩ có thể năm xưa anh Hoạt từng là một trong những ông thầy giáo dậy tôi ở Trường Tự Đức, tôi làm quen, làm thân với anh.

Anh Hoạt đong thoóc, hít tô phê, nhưng anh không nghiện tuy anh rất hay đi hút. Những năm từ 1958 đến 1963, đệ tử của Cô Ba Phù Dung bị bắt, bị đối xử tàn bạo ở Sài Gòn, tôi thường theo anh Hoạt vào đong thoóc ở khu gọi là Khu Cây Da Sà. Khu này ở trên đường Phú Lâm đi Đức Hòa, Đức Huệ. Ở một ngã ba đường chỗ ra khỏi Phú Lâm chừng ba, bốn cây số có một cây da bên đường. Một số người Nùng, người Tầu Bắc Kỳ, di cư, lập nghiệp ở khu này. Vì khu có cây da rễ cây sà xuống đất nên được gọi là Khu Cây Da Sà. Nghe nói bà Trần Lệ Xuân, bà vợ ông Ngô Đình Nhu, là dân biểu quốc hội của khu này, dân trong khu toàn là người Nùng, người Tầu di cư nên khu được hưởng tình trạng tương đối không bị cấm đoán, bị bắt bớ nặng lắm về bốn mục ăn chơi.

Theo như tôi biết, có thể không đúng, thì khu Cây Da Sà không thuộc tỉnh Gia Định mà thuộc tỉnh Đức Hòa, hay tỉnh Long An. Do đó, Cảnh Sát Sài Gòn, Gia Định không phụ trách an ninh ở Khu Cây Da Sà, Cảnh Sát Đức Hòa, Long An lại ở quá xa. Thành ra trong Khu Cây Da Sà có nhiều tiệm hút thuốc phiện, có sòng bạc sóc đĩa mà ít khi bị bắt. Cũng có bị bắt nhưng vài năm mới có một lần. Nếu chỉ một, hai xe cảnh sát ập tới thì chỉ bắt được một hai tiệm hút, năm bẩy người hút, không thấm thía gì. Muốn tảo thanh Khu Cây Da Sà chính quyền phải mở cuộc đại bố ráp, huy động cả quân đội, bao vây cả khu, tó hết, xét hết, tịch thu hết giấy căn cước, thẻ xanh xe tự động 2 bánh, 4 bánh, xét hỏi tất cả những anh không phải là dân cư ngụ ở Khu Cây Da Sà mà loạng quạng ở trong khu đó.

Trong lúc nhiều tiệm hít tốp ở trong thành phố Sàì Gòn bị cảnh sát ập vào bắt, người hút bị tống giam vào Nhà Tù Chí Hòa, bị ra tòa, có án chơi ma túy là mang án hết đời, vào Khu Cây Da Sà đệ tử Cô Ba nằm phây phây, ung dung, cửa nhà mở toang, không bị giật gân, đứng tim.

Hôm nay viết ở xứ người, nhớ những tháng năm xưa, nhớ những người xưa, tôi nhớ những buổi chiều mùa mưa những năm 1960, anh Nguyễn Hoạt và tôi, đôi khi có anh Đỗ Đức Thu, vào Khu Cây Da Sà từ lúc 3, 4 giờ chiều, nằm tình tang đong, đấu hót thoải mái, đến 5, 6 giờ tối nhờ chủ nhà cho người ra tiệm ăn Tầu ngoài Ngã Ba Cây Da Sà, lấy cơm mang vào ăn. Tôi khoái nhất món Cơm Tay Cầm Ếch. Mùa mưa khu nhà giữa cánh đồng này có nhiều ếch. Ếch phải là thứ ếch thiên nhiên, không lớn quá, ăn nhai, nhá cả xương. Bây giờ nhìn những đùi ếch người nuôi, gọi là ếch công nghiệp, đông lạnh, bán ở những chợ thực phẩm trên nước Mỹ, thấy lớn hơn cả đùi gà mà phát ớn. Đùi ếch lớn đến như thế là đùi gì đâu còn phải là đùi ếch.

Anh Hoạt dí dỏm, nói chuyện có duyên, biết chữ Hán, dịch Liêu Trai, đọc Hồ Thích, anh hay kể chuyện vui, tôi nhớ mấy chuyện anh kể:

Tầu nó có câu này “Cần tiền như anh nghiện cần điếu thuốc phiện sau bữa ăn.”

Tầu nó nói “Thằng ấy nó mượn như Lưu Bị mượn Kinh Châu.”

Tức “mượn” với ý định lấy luôn, không trả.

Tầu nó nói “Ấu bất học, lão hà vi..” là “Trẻ nó không chịu học, người già làm gì nó?”.

Người Tầu có câu “Khổng Tử bất như Nhan Hồi“, ngụ ý Khổng Tử khác Nhan Hồi. Nhan Hồi là tên một học trò của Khổng Tử, người được kể là Người Hiền, một Á Thánh của các ông Nho Tầu, Nho Ta, hoặc “Khổng Tử không hiền bằng Nhan Hồi.” Đây là chuyện “Khổng Tử không bằng Nhan Hồi” anh Hoạt kể:

– Ở thôn kia có hai chị cùng lấy chồng học trò. Hai anh học trò quanh năm ăn cơm rau cà tương đậu, lại ngày đêm lo học để đi thi, nên không hứng thú chi lắm trong việc ân ái vợ chồng. Hai anh chỉ lo học, khuya ngả lưng xuống ván là ngủ, không rờ mó gì đến vợ.

Sáng hôm ấy gặp nhau ở chợ, một chị mặt tươi rói, nói với chị kia:

– Có chuyện này hay lắm. Mình kể cho nghe. Lâu rồi thằng chồng mình nó chẳng làm gì mình cả. Chán quá là chán. Hôm qua mình nghe nói là ngày giỗ ông Nhan Hồi, mình mua lạng thịt lợn, cút rượu, về làm giỗ ông Nhan Hồi. Cúng xong chồng mình nó uống rượu, ăn thịt, nó khoẻ ơi là khỏe. Nó vui. Tối đến nó làm mình một trận đã quá…

Chị kia nghe nói, hai mắt sáng lên. Chị trách:

– Sao biết ngày giỗ ông Nhan Hồi.. thú vị thế mà không cho mình biết? Nếu biết, mình cũng làm giỗ ông Nhan Hồi, có phải là đêm qua chồng mình nó cũng… Bây giờ tự dưng mua rượu thịt về cho chồng ăn, uống.. Kỳ quá..

Chị bạn an ủi:

– Nào ai biết đâu Nhan Hồi lại hay, lại tốt đến thế. Thôi, chịu khó chờ vài tháng, sắp đến ngày giỗ Khổng Tử đấy. Đến ngày ấy, mình sẽ báo cho đằng ấy mua rượu thịt làm giỗ.

Ngày giỗ Khổng Tử đến, chị bạn sốt sắng làm giỗ Khổng Tử. Sáng hôm sau gặp nhau ở chợ, chị kia hỏi:

– Sao? Đêm qua.. sao? Được không?

Chị nọ ỉu sìu sìu:

– Chồng mình nó ăn, nó uống rồi nó lăn ra nó ngủ, cả đêm nó chẳng làm gì cả..

Rồi chị than:

– Đúng như người ta nói, “Khổng Tử không bằng Nhan Hồi.”

Số là chị vợ anh học trò tham, chị tưởng bở, chị tưởng cứ cho anh chồng ăn uống nhiều ruợu thịt là tốt, nên thay vì chỉ cho chồng uống một cút rượu, ăn một lạng thịt, chị cho chồng chị uống nửa lít ruợu, ăn nửa cân thịt lợn. Anh học trò lâu không có ruợu thịt, được chầu ăn uống đã quá, ăn uống xong, anh say, anh lăn ra ngủ, anh chẳng ngó ngàng gì đến vợ.

Và từ đó Nho Tầu có câu “Khổng Tử bất như Nhan Hồi,” Nho Ta dịch nôm là “Khổng Tử không bằng Nhan Hồi.”

Quí vị vừa đọc chuyện “Khổng Tử không bằng Nhan Hồi” tôi nghe anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt kể những năm 1960, 1961. Đây là chuyện thứ hai tôi nghe anh Hoạt nói, khoảng những năm 1981, 1982:

– Bài Thơ “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” đâu phải là do ông Mẫn Giác làm. Thơ của một thi sĩ Tầu đời Đường, ông Mẫn Giác ông ấy thích, ông ấy chép lại. Khi ông ấy mất, người ta tìm thấy bài thơ ấy trong số những giấy tờ của ông. Nhưng không phải là thơ của ông ấy. Bọn Tầu nó đã viết rõ chuyện ấy, có tên tác giả đàng hoàng, ở trong tập thơ nào của Tầu, mình cũng nhận như thế từ lâu rồi. Vậy mà cứ đến Tết là lại lôi bài “Đình tiền tạc dạ..” ra, cứ bảo là thơ của ông Mẫn Giác..

Khi anh Hoạt nói về bài thơ “Đình tiền tạc dạ..” tôi nghe tai nọ dọ qua tai kia. Nên tôi không nhớ tên người Thi sĩ Tầu tác giả bài thơ, tên tập Thơ Tầu trong có bài “Đình tiền tạc dạ..”. Khi ấy tôi đâu có ngờ có ngày tôi sống buồn ở một xứ người xa quê hương tôi, xa Thủ Đô Sài Gòn của tôi hai biển lớn, bốn vùng trời, năm mươi rặng núi, tôi sống những ngày buồn ở đó và ở đó tôi viết những chuyện hoài niệm quê hương, tiếc thương tuổi trẻ. Nếu tôi biết có ngày tôi sẽ viết về những chuyện tôi thấy, tôi nghe trong 20 mùa lá rụng tôi sống trong lòng Sài Gòn Đau Thương, tôi đã nhớ nhiều hơn, ra nước ngoài có điều kiện viết, tôi viết được nhiều hơn, rõ hơn, hay hơn.

Như hôm nay, một ngày mùa thu xứ người, buồn nhớ quê hương, nhớ những năm tôi còn trẻ, tôi buồn viết bài này..

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Thôi thế Em về yên Xóm Cỏ,
Cây đời đã cỗi gốc yêu đương.
Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió
Cho đống xương tàn được nở hương !

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: