• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Ai Sầu Hơn Ai?

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, Ngày Cô Liêu, Đêm Thương Nhớ, Tháng Tha Hương, Năm Biệt Xứ.

Ho chi MinhThân gửi Lão Hữu Phan-Lạc Tiên Sinh, Sydney, Australia.

Thưa Lão Hiền Hữu,

Xa nhau trăm núi, ngàn sông, nhớ nhau luôn thì không nhưng lâu lâu cũng nhớ. Đêm qua tôi nhớ, sáng nay Rừng Phong nắng vàng, tôi viết thư này.

Tôi kính hỏi thăm sức khỏe của Đại Hiền Tỉ và Lão Hữu, hai vị thân tâm thường an lạc, tôi mừng. Vợ chồng tôi sống yên nơi Kỳ Hoa Đất Trích, cuộc đời chúng tôi không có gì đáng nói. Tôi thường ví chúng tôi như hai cái xế Toyota Camry — đúng hơn là Corolla – xuất xưởng từ những năm 1932, 1933, lại phải sống 20 năm trong lòng Sài Gòn tang thương cờ đỏ, nay xe vẫn còn cà rịch cà tang chạy được nhưng máy xe tất nhiên phải rệu rã. Chuyện ấy tất nhiên thôi, không có gì để chúng tôi than thở. Ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh trong cuộc biển dâu, hôm nay tôi còn viết được những dòng này, tôi thấy tôi là người có nhiều may mắn. Chắc Lão Hiền Hữu cũng nghĩ như tôi.

Đêm qua, khi đêm đã khuya, khi tôi đã tắt đèn nhưng cứ nằm thao thức, bỗng dưng tôi nhớ những sáng tinh sương năm xưa tôi đến Nhà In Hợp Châu, đường Cống Quỳnh, lên lầu, ngồi vào bàn viết, đốt điếu thuốc Lucky, bắt đầu một ngày làm Nhật báo Tiền Tuyến. Tôi như thấy cảnh tòa soạn: tầng dưới là mấy cái máy in dềnh dàng, không khí nặng mùi mực in báo, từ cầu thang đi vào, qua bàn làm việc của Hĩm, bàn anh Vũ Uẩn, bàn của Lão Hữu, rồi đến bàn tôi trong cùng, gần cửa ra ban-công. Lão Hữu và tôi đến tòa soạn lúc 6 giờ sáng. Chừng một tiếng đồng hồ sau, lúc 7 giờ, tôi nghe tiếng máy xe nổ rền dưới đường. Đó là giờ thầy thợ Sài Gòn đến Sở làm. 8 giờ sáng, dòng xe cộ đi trên đường trở lại bình thường, tiếng máy xe dịu đi. Gần 9 giờ Hĩm và anh Vũ Uẩn mới đến. Hĩm hiện ở Cali, anh Vũ Uẩn chắc đã qua đời. Anh Vũ Công Uẩn, Boxeur Tonkinois nổi tiếng Bắc Kỳ trứơc năm 1945. Tôi thấy hình Võ Sĩ Vũ Công Uẩn trong một quảng cáo gì đó tôi không nhớ trên trang báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy những năm 1941, 1942 khi tôi mười tuổi. Khi ấy có bao giờ tôi tưởng sẽ có ngày tôi ngồi làm việc chung một phòng với Võ Sĩ Vũ Uẩn, cũng như năm xưa ấy khi nhìn ảnh Maitre Khánh Sơn trong ô quảng cáo đăng trong Tiểu Thuyết Thứ Bẩy: Maitre kính trắng, com-lê vét-tông ca-vát, tay chỉ vào chiếc chìa khóa Mở Cửa Tương Lai, có bao giờ tôi tưởng tượng có ngày tôi nằm đối diện Maitre bên bàn thờ Phù Dung Tiên Nữ lung linh hương lửa.

Thời Lão Hữu và tôi, làm việc ở toà soạn Tiền Tuyến, với Hĩm, Hĩm vẽ tranh hí họa, anh Vũ Uẩn dịch tin Têlêtíp, Hoàng Anh Tuấn làm Trang 3, Tuấn hiện sống ở San José *, thời gian chúng ta làm việc trong tòa sọan Nhật Báo Tiền Tuyến ở Nhà In Hợp Châu, đường Cống Quỳnh là năm 1966, 1967… Mèn ơi.. Bốn mươi năm vèo qua cuộc đời.. Mới ngày nào ngậm ngùi đọc Thơ Thanh Nam Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi: Tuổi bốn mươi rồi thương lắm thay.. Những ngày như lá, tháng như mây.. Thấm thoắt đấy mà Bẩy mươi tuổi đến có ai ngờ..

Nhưng thôi.. Tôi không than thở thời gian qua mau, đời tôi hoa tàn, nắng xế nữa, tôi sầu, tôi não, tôi than bao lâu nay đã đủ rồi. Sáng nay tôi viết thư này để thưa với Lão Hữu chuyện như sau: cách đây ít lâu ông có viết thư cho Văn Sĩ Tạ Quang Khôi, xứơc danh Tạ Ống Khói, hiện ở Virginia, Kỳ Hoa. Trong thư Lão Hữu có nhắc đến tôi. Ông viết ông có ông bạn ở Hoa Kỳ sang du nhai Sydney, ông bạn nói ông đọc những bài viết của Công Tử Hà Đông và ông thấy viết rất được, ông bạn lại khen Công Tử Hà Đông có tài phóng tác Thơ, Ca Dao.

Như người đàn bà đa tình nhưng nhan sắc không khá bao nhiêu, cảm động khi có nhà quân tải khen mình có duyên, tôi cũng vậy. Tiếc thay mấy tháng gần đây tờ tuần báo ở Cali không đăng bài tôi nữa, tôi chắc Nhà Quân Tải không còn có dịp đọc những bài viết mới của tôi. Vậy tôi nhờ Lão Hữu gửi dùm tôi bài viết này đến Nhà Quân Tải, gọi là cho tôi được tạ chút tình tri kỷ. Tôi cám ơn.

Như Lão Hữu đã biết, tôi thời tuổi trẻ mộng mơ có làm đôi bài thơ. Ngoài hai mươi tuổi tôi không mần Thơ được nữa. Mãi đến những ngày trời sầu, đất thảm, người buồn muốn chết, người căm hận muốn kêu lên những tiếng xé trời, người khóc trong giấc ngủ, sau Tháng Tư năm 1975, như dòng suối bị chặn nguồn, vật bất kỳ bình tắc minh — vật nó bất bình nó còn kêu lên, huống chi tôi là người, năm 1976, 1977, tôi làm Thơ. Nằm phơi rốn trên sàn xi-mo Nhà Tù Chí Hòa — nguyên âm là xi-măng, xi-moong, chắc Lão Hữu nhớ hơn tôi là dân Bắc Kỳ ta trước năm 1945 gọi là xi-mo — đêm đêm tôi mần Thơ. Không giấy bút, tôi mần thơ nhẩm trong đầu, nhẩm đi, nhẩm lại, nhớ thật kỹ, cả năm sau đó mới có dịp ghi thơ lên giấy. Mời Lão Hữu và Nhà Quân Tải thưởng thức dùm tôi đôi câu Thơ tôi làm trong những đêm xưa, năm 1988, trong Phòng 10 Khu ED Nhà Tù Chí Hòa: Đêm trong Ngục nghe Kiều đàn.

Trích một số câu trong bài thôi, không dám ép các vị phải đọc nguyên bài Thơ 120 câu Lục Bát:

Đàn Em gió táp, mưa sa
Thiên Sơn đá lở, Hằng Hà cát rơi.
Đàn Em xao động đất trời,
Cung thương, cung nhớ, cung người, cung ta.
Đàn Em rung chuyển ta bà,
Tiếng gần gang tấc, tiếng xa ngàn trùng.
Em đàn từ thủy sang chung,
Tiếng tan, tiếng hợp, tiếng cùng, tiếng chia.
Nghe đàn ta tỉnh, ta mê?
Như đi, như ở, như về, như ra.
Đàn Em quằn quại hồn ta,
Yêu mà lệ rớt, thương mà máu rây !
Ta nghe đàn ở kiếp này,
Hay từ muôn kiếp những ngày xa khơi ?
Kiếp nào ta, kiếp nào người,
Sao nhiều tiếng khóc, tiếng cười lắm thay.. !

Từ năm 1990, bọn Cộng Sản thua, tôi ở trong phe người thắng. Chúng nó thua rồi, chúng nó sai, tôi đúng, tôi không còn uất hận nữa. Không uất hận, tim tôi trở lại bình thường, từ ấy tôi lại không làm Thơ.

Năm 1990, từ Z 30 A trở về mái nhà xưa, đường phố cũ, tôi sống bình yên, tôi không còn Thơ, còn Thẩn gì cả. Năm 1995 bánh xe lãng tử đưa vợ chồng tôi sang Kỳ Hoa Đất Trích. Cuộc sống xa đất nước, cô đơn nơi xứ người, tôi có sầu buồn, nhưng cũng chỉ vẩn vương như những người Việt khác, tôi vẫn không làm Thơ. Nói cho đúng, trong 10 mùa lá rụng sống ở Kỳ Hoa, tôi có làm vài bài Thơ, nhưng tôi cho 10 năm làm hai, ba bài Thơ còm cõi không phải là làm Thơ.

Thơ, như Lão Hữu biết, phải có hứng ta mới làm được. Thơ đến với ta, ta không thể tìm Thơ, ta không thể ép Thơ, không thể lôi kéo, không thể năn nỉ Thơ đến với ta. Khi Thơ đến, ta có không muốn, ta vẫn làm Thơ.

Thế rồi mới đây Thi Phẩm Từ Điển Cười Tiếu Liệu Pháp của Phạm Thiên Thư từ Sài Gòn đến với tôi. Thi phẩm 910 trang, gồm 5000 — Năm Ngàn — bài Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt, lọai Thơ Thi Bá Vũ Hoàng Chương gọi là Thơ Nhị Thập Bát Tú. Nó chỉ là Thơ Đưởng Thất Ngôn Tứ Tuyệt. Thơ Tiếu Liệu Pháp Phạm Thiên Thư làm theo vần A, B, C. Mới đến vần Ch, bài cuối cùng là bài Chưởng Tâm, Từ Điển Cười Phạm Thiên Thư đã 5000 bài. Nếu làm hết 24 Chữ Cái, làm từ A đến Z, Từ Điển Cười phải tới 100.000 trang, 20.000 bài Tứ Tuyệt.

Từ Tháng Tư 1975 Phạm Thiên Thư sống yên ổn ở Sài Gòn. Chuyện “giữ thân không được trọn” là họ Phạm có làm bài Thơ Mừng Sinh Nhật Hồ Chủ Tịch và một lọat Thơ gọi là Thơ Hồng, ca ngợi cuộc sống “trong sáng” chế độ xã hội chủ nghĩa mang đến cho nhân dân. Hai “của nợ” đó là hai vết bẩn trong dòng Thơ Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư. Tiếc cho Thi sĩ vì ông đã tự bôi lên Thơ ông hai vết nhơ đó. Ông không làm những bài Thơ Thổ Tả Kim La Cù Đinh Thiên Pháo ca tụng nó, bọn Bắc Cộng cũng không bắt ông đi tù. Vì lý do đơn giản trong 20 năm, từ 1954 đến 1975, ông không chống nó, ông không một lần chửi nó, vì nó không thể bắt tù được tất cả những người làm Thơ ở Sài Gòn, nên nó không bắt ông. Đau nhất là bọn Cộng Sản Hà Nội chúng nó không bắt, không chờ đợi những văn thi sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa làm thơ, viết văn nâng bi chúng, chúng nó không cần các ông nâng bi, ngửi đít, chúng nó có thừa người nâng, ngửi chúng nó. Vậy mà nhiều ông, như Phạm Thiên Thư, đã tự ý nâng bi chúng.

Lão Hữu, và Nhà Quân Tải, có chê tôi nhỏ nhen khi tôi kể ra một vài việc làm không được đẹp của Phạm Thiên Thư, tôi lãnh chịu. Hay khen, hèn chê. Điều cần là khen, chê đúng. Sau Tháng Tư Đen Hơn Mõm Chó, bất cứ người dân Quốc Gia VNCH nào mở mồm ca tụng bọn Bắc Cộng đều bị toàn dân coi là có tội, bị khinh khi, người ca tụng bọn Bắc Cộng lại là một nhà thơ có danh của Quốc Gia thì tội lại càng nặng. Nghe nói Phạm Thiên Thư có một, hai lần bị kích ngất, người Sài Gòn gọi là “tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, đột quị.” Thoát hiểm, đi lại được, Thi sĩ hay quên, nói khó khăn. Vậy mà chỉ trong mấy năm ông làm được 5.000 bài Thơ, có thể nhiều hơn, có thể đã tới 10.000, 15.000 bài vì Tập 1 Thơ chỉ mới in tới vần Ch. Tất nhiên 5.000 bài Thơ Tiếu Liệu Pháp — Thơ Chữa Bệnh bằng Cười — không phải bài nào cũng hay, nhưng trong số có nhiều bài hay. Cứ cho là có 1000 bài Thơ khá hay đi, thành tích đã thật đáng khen, đáng nể, đáng được đề cao. Như thế tôi thấy ta có thể dùng câu “Rằng tài nên trọng mà tình nên thương” để nói về trường hợp làm Thơ của Phạm Thiên Thư.

Trích vài bài trong Từ Điển Cuời Tiếu Liệu Pháp Phạm Thiên Thư:

BAY BƯỚM
Bay bướm – không là nghĩa bướm bay
Bướm tầm hương, hay bướm tỏa say
Mà trong lời nói, trong văn tự
Như có hoa giăng, bướm lượn bầy.

BAY HƠI
Là nước sông hồ trở lại mây
Là hương suối tóc — thoảng thơ ngây
Là vò rượu hở — thành hương dấm
Là nách cô hôi – tự giãi bầy.

BÙI NGÙI
Cái chi mất mát — mới buồn thương
Cả cụm rêu xanh cũng đọan trường
Ơi.. ! Dáng Kiều thơm — xa vắng ấy
Tìm dùm ta nhé — gió tha phương.

CỐ QUỐC
Có qua đất lạ — mới thương nòi
Nước cũ viền trăng dõi dõi soi
Tiếng dế khuya nghe chừng nức nở
Nửa đêm lấy ảnh, đốt đèn coi.

CUA
Vật có mai, càng, chân bò ngang
Canh cua, rau đay — gạch nổi vàng
“Cua” là quyến rũ – như cua gái
Cua cũng là.. là.. của nữ lang.

CỰC LẠC
Cực lạc — Thường chỉ cõi người chết
Có lạc hay không — sau sẽ biết
An ủi người sống — bớt tiếc thương
Chết là sướng rồi — Khóc chi mệt.

CHẤM PHÁ
Chấm phá — Cách vẽ tranh phóng bút
Vài nét tượng trưng — giống chút chút
Một cánh sen rơi — biết hạ tàn
Guốc nổi dập dềnh — đường mưa lụt.

Năm ngàn bài Thơ như thế trong Từ Điển Cười. Nếu tôi chỉ đọc Thơ rồi khen hay, chê dở thì chẳng có gì đáng để tôi kể với Lão Hữu. Đêm buồn, tôi nằm bình yên đọc Thơ, đèn vàng, yên tĩnh, tôi bỗng có hứng làm Thơ. Theo phong cách làm Thơ của Phạm Thiên Thư, tôi làm được vài bài. Xin trình :

DZÔ DZA.
Thơ Công Tử Hà Đông

Cộng sản xây tường ngăn người dza
Tư bổn xây tường ngăn người dzô
Người dza, người dzô đều đói khổ
Phải liều mạng sống để dza, dzô.

HOÀNG THỊ
Thấy ảnh bà Bắc Kỳ, ở Hà Nội, cầm biểu ngữ đòi Nhân Quyên.
Bà này có tên dưới biểu ngữ, họ Hoàng Thị.

Ngày xưa Hoàng Thị ngây thơ
Ép bông hoa giữa hai tờ thư thiên.
Ngày nay Hoàng Thị ưu phiền
Tay ôm bảng “Mất nhân quyền” đứng trơ.
Nước Cộng sản có bao giờ
Có Nhân Quyền để Em chờ, Em đoi. (đòi).

ĐIẾM
Mỹ giao hảo với Tầu Cộng, Việt Cộng,
Mỹ vẫn cấm vận Cuba.

Mỹ chơi điếm Việt, Tầu, Nga
Mỹ chê điếm thúi Cu Ba không sài.
Điếm Cu đói dzẹt, đói dzài
Cứ ngồi gãi ghẻ ở ngoài ô-ten.

GỜ-LÔN
Học đòi Tư bổn, Cộng chơi gôn
Chơi Gôn, Cộng vẫn ló đuôi chồn.
Bác Hồ về hỏi: “Chơi chi đó ?”
“Thưa Bác chúng cháu chơi gờ-ôn.”
Bác Hồ tai lãng, nghe không rõ
Bác nói, nửa vui lại nửa buồn:
“Ngày xưa mình trẻ chơi đáo lỗ,
“Bây giờ chúng nó chơi gờ-lôn.”

THỜ MA
Có những thằng ăn cơm Quốc gia
Một lằn cộng sản vẫn thờ ma
Mẹ Việt Nam vừa buồn vừa giận:
– Đau lòng bà đẻ chúng mày ra.

TƯỚNG QUEO
Anh Tướng queo nèo, ở nước nèo?
Một lằn lon lẹo với lon lèo.
Năm năm cứ đến Ngày Mất Nước
Thấy mặt anh tôi chỉ muốn đèo!

HÁT HAY
Các cụ dậy: “Các con nhớ nhé
“Đừng thèm rây với bọn mặt dày.
“Con đừng bới cứt ra mà ngửi.
“Chửi nó, nó nghe như hát hay !”

EM IA
Nhà Văn Dương Thu Hương nói ở Paris: “Tôi ở lại Pháp làm gì?
Tôi về Hà Nội để ỉa lên mặt bọn lãnh đạo.”

Em nói em về Em ể
Lên mặt bọn Cộng ở Hà Nồi.
Vừa nói Em về, Em.. í.. ệ..
Em không về nữa, ở Tây chơi.

Chơi Tây, Tây chơi, nhưng phân ế
Xử ní nàm thao, em gái ơi!
Tỉnh queo, Em nói: “Thanh toán dễ.
“Phân Em Em mang sang Ca-lia.
“Ở đấy bao nhiêu thằng Chồn Lỉa
“Sắp hàng chờ sẵn để Em ia.”

LÒN CHUÔN
Còn Mỹ, tao mày mần Tổng Thống,
Mỹ bỏ, mày tao đánh Võ Chuồn.
Chết dại kệ cha thằng chống Cộng
Tao mày sống trọn kiếp Lòn Chuôn.

MẶT MO
Mặt mo, mặt mẹt, mặt dầy
Mặt dơi, mặt chuột, mặt Chồn Lây.
Mặt Một Lằn là mặt tởm nhất
Mặt Một Lằn đi với Mặt Cầy.

TOÓC KHAI
Chúng mày chửi tao toóc Minh Khai.
Vợ Lê hồng Phong, tao phản bạn.
Biết một, chúng mày không biết hai.
Chúng mày ngu. Chúng tao Cộng sản,
Cộng chồng, chung vợ, của riêng ai!
Chúng mày chửi tao toóc Minh Khai
Mốt-cu-va… va rộng, cu dài
Chỉ có Minh Khai là gái Việt,
Không toóc Khai thì tao toóc ai ?

BA MƯƠI
Công an, bộ đội còn tha,
Ba mươi giết hết, lột da đóng giầy.
Công an, bộ đội, bà còn tha
Ba Mươi Cách Mạng, bà lột da
Bà đóng giầy. Chúng mày chó đẻ
Người nào mà đẻ chúng mày ra!

CÒN THAM
Phấn thừa đã đủ ngất ngư đời
Còn tham bòn mót chút thơm rơi.
Chưa đã, còn tham tìm tõi bóng
Xếp tàn si-líp để dành hơi.

Nguyen Thi Minh KhaiNhị vị có thể théc méc tại sao tôi lại dùng tiếng “tàn”. Tàn là thế nào? Kính thưa: cái ấy nó có hơi người thì nó tươi, không có hơi người thì nó không tươi nhưng nó cũng không héo, lâu ngày nó hả hơi ướp, nó tàn đi. Như một nhà quân tải Mỹ đã nói: “Old slips never die, they simply fade away.” Nhưng thưa Lão Hữu, thưa Nhà Quân Tải, không phải tôi chỉ làm những bài Thơ Dễ Hiểu, Thẳng Boong như những bài tôi vừa kể, đôi khi tôi cũng làm những bài Thơ Lãng Mạn Trữ Tình ra rít. Mời nhị vị thưởng thức dùm tôi mấy bài thơ tôi mới làm đây. Tôi không dẫn giải xong tôi tin nhị vị sẽ cảm thông tôi, nhị vị sẽ hiểu tại sao tôi lại có những lời thơ như thế:

TRĂNG VẪN IN NGẦN
Mày ai trăng vẫn in ngần,
Phấn thừa hương cũ bội phần xót sa.
Phấn thừa, hương cũ đau khôn xiết
Mày Em trăng ấy vẫn in ngần.
Em có nhớ chăng, Em có tiếc
Những mùa yêu cũ đã tiêu tan?
Nhớ những chiều vàng, đêm ngọc biếc,
Còn nhớ ngày Em tắm dưới màn?
Duyên xưa, ước cũ đau khôn xiết
Mày Em trăng mới vẫn in ngần.

Le Hong PhongTrong mấy tháng bánh xe lãng tử mới đưa tôi sang Kỳ Hoa, tôi được một số bạn mời đến chơi, gặp lại nhau ở một số đô thị. Một chiều gặp lại bạn và người đọc ở thành phố XYZ, xong cuộc gặp các bạn chuốc rượu tôi. Đêm lữ thứ, buồn tha hương, rượu người, bạn cũ, tình xưa, những còn, những mất, những tiếc, những thương, những ngậm ngùi, tôi choáng váng say và tôi đi một đường cảm khái. Cơm nhà, quà vợ de luxe, chân chính, thuần thành, trung kiên, cả đời chỉ biết có hai, ba người đàn bà, dzậy mà buổi tới tha hương ấy tôi có tâm trạng như Nguyễn Bính.. Một đêm lữ thứ anh say rượu cần. Nhớ em cách mấy mùa xuân.. Hình như em đã mấy lần sang sông… Ồ say, thương nhớ vô cùng.. Rượu hay lệ ướt khăn hồng em cho.. Lúc đó tôi mới lấy mấy tờ giấy nhắn tin tôi để trong túi áo veston ra xem. Số giấy này do những người đến dự cuộc tái ngộ không tiện gặp mặt tôi, hay vì tôi đang nói chuyện không thể chờ gặp tôi được, viết vài chữ trên giấy nhờ ban tổ chức đưa cho tôi. Trên một tờ thư tôi đọc thấy ai viết:

Em vẫn Kiều Thu, ngoài tuổi nguyệt
Trần ai đã lấm, hết thơ ngây.

Tôi tá hỏa, tam tinh, thư không có tên người gửi, hỏi ai để lại thư này, anh em trả lời không biết người viết, người gửi là ai. Đêm ấy, trong căn phòng của ông bạn tôi đến ngủ sáng mai ra phi trường trở về Kỳ Hoa, tôi mở tờ thư Kiều Thu ra đọc. Tôi thích bài Thơ Kiều Thu của Thi bá Vũ Hoàng Chương, có vài lần tôi viết hai câu:

Em vẫn Kiều Thu, tròn tuổi nguyệt
Trần ai nào lấm được thơ ngây.

.. tặng một, hai người đẹp. Nay liêu lạc xứ người, hai câu Thơ ấy trở lại với tôi. Bài Thơ Kiều Thu Ba Mươi Năm Vô Thường như sau:

Em vẫn Kiều Thu, ngoài tuổi nguyệt
Trần ai đã lấm, hết thơ ngây.
Anh có nhớ Em trong tiềm thức
Đâu nữa trời xưa, cặp má hây!
Cô gái theo chồng thôi tưởng tiếc
Người yêu nhỏ bé chẳng còn đây.
Vàng thu bay lá, đau khôn xiết
Em hẹn mùa sau lá chẳng bay.

Sau khi bài viết của tôi không đến được với một số các vị thích đọc văn tôi, tôi nhận được mấy lá thư với những lời cảm động:

Quen rồi, mỗi tuần tôi đi lấy tờ báo, về đọc bài của Công Tử Hà Đông. Hôm ấy mở báo không thấy bài, tôi nghĩ tuần sau sẽ có. Tuần sau không có, rồi không có luôn. Tôi cứ bâng khuâng như tôi bị tương tư …

Sao báo không đăng bài của anh nữa? Bây giờ muốn đọc bài của anh, em biết tìm đâu?

Một nữ lang ở Portland viết:

Những người đọc ông nay không được đọc bài của ông, họ buồn, tôi chắc bài ông viết không đến được với người đọc, ông buồn hơn.

Cảm khái quá chừng, tôi mần Thơ:

AI SẦU HƠN AI

“Sao báo không đăng bài Anh nữa?
“Muốn đọc anh, em biết đọc đâu?”

Lận đận bên trời cùng một lứa.
Viết cho nhau, nào tiếc gì nhau.
Em không được đọc, Em rầu,
Anh không được đọc, ai sầu hơn ai?

Tưởng rằng sầu tối, sầu mai
Ai hay sầu cả trăm hai cái sầu.
Một lứa bên trời cùng ái ngại
Viết cho Em, có tiếc Em đâu!
Em không được đọc, Em sầu,
Anh không được đọc, anh rầu như dưa.
Viết Em từ những ngày xưa
Viết Em sao đến bây giờ lại không?
Viết Em từ má Em hồng,
Viết từ Em thưở chưa chồng, chưa con.
Viết Em biển cạn, non mòn,
Viết Em còn sống Anh còn Viết Em!

Viết đến đây tôi, bỗng dưng, đi một đường cảm khái: Hoa lưu động khẩu ưng trường tại.. Thủy đáo nhân gian định bất hồi.. Hoa chờ nước chẳng về trời.. Ngàn năm mây trắng ngời ngời áo bay.. Ấy ai bên nớ, bên này.. Mất nhau ta tiếc những ngày có nhau..

Mắt Em đượm giọt lệ sầu.
Về nhà chồng hỏi – Qua cầu gió cay!

Tôi tạm ngưng viết.

 

——————————————————–
* Tôi viết bài này khi Hoàng Anh Tuấn còn sống. CTHD

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: