• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Tầng Đầu Địa Ngục (phần 1)

Lời nhà xuất bản

Tác phẩm Tầng đầu địa ngục do Nhà xuất bản Đất Mới chúng tôi gửi tới tay bạn đọc được dịch theo bản Anh văn The First Circle do Nhà Bantam Books ấn hành. Quyển này dày 674 trang và gồm 87 chương.

Như các bạn đã thấy, tiểu thuyết Tầng đầu địa ngục của Aleksandr I. Solzhenitsyn diễn tả cuộc sống mất tự do trong tù ngục của những chính trị phạm Nga trên Liên bang Xô Viết. Chính tác giả từng sống trong những ngục tù này nên những gì ông viết lại đều rất trung thực, rất sống, làm rung động tâm hồn người đọc. Trong truyện, ông viết lại cuộc đời của rất nhiều tù nhân, mỗi tù nhân là một trường hợp đặc biệt, một cảnh ngộ riêng. Vì muốn diễn tả thật nhiều trường hợp bị tù đày nên trong The First Circle có quá nhiều nhân vật không liên lạc gì đến cốt truyện.

Với mục đích làm cho cốt truyện được đúc kết hơn, có liên lạc hơn, chúng tôi đã lược bỏ một số trang khi dịch The First Circle sang Tầng đầu địa ngục. Việc lược bỏ của chúng tôi chỉ làm cho tác phẩm thêm trong sáng, chặt chẽ, cốt truyện vẫn còn nguyên, những nhân vật chính vẫn có đủ mặt. Giá trị văn chương của The First Circle, qua bản dịch của chúng tôi, theo chúng tôi nghĩ, chỉ có tăng chứ không giảm.

Chúng tôi mong bạn đọc nhận xét, so sánh, nhận biết sự cố gắng của chúng tôi và đồng ý với chúng tôi rằng khi chuyển ngữ một tác phẩm tiểu thuyết ngoại ngữ sang tiếng Việt, đôi khi việc lược bỏ vài đoạn không liên hệ đến cốt truyện là việc làm cần thiết và hợp lý.

Trân trọng cám ơn bạn đọc.

Nhà xuất bản Đất Mới

—–

Nguồn – Tác phẩm viết bằng tiếng Nga của Aleksandr I. Solzhenitsyn, giải Văn chương Nobel 1970 do Nhà Harper và Row dịch và ấn hành lần thứ nhất năm 1968 ở Hoa Kỳ dưới nhan đề tiếng Anh The First Circle. Bản dịch tiếng Anh của Thomas P. Whitney. Bản Việt văn của Hải Triều dịch theo bản tiếng Anh của Thomas P. Whitney do Nhà xuất bản Đất Mới ấn hành lần thứ nhất Sài Gòn, Việt Nam, 1973. Nhà xuất bản Đất Mới giữ bản quyền. KD. Số 2137/PTUDV ngày 15-5-1973. Giá 900đ. Bản điện tử do talawas thực hiện.

—–

Tác giả và tác phẩm

Aleksandr I. Solzhenitsyn được thi sĩ Yevgeny Yevtushenko, một nhà thơ trẻ tuổi được ái mộ nhất của văn nghệ Nga Xô gọi là “Nhà văn cổ điển duy nhất của chúng ta…” Ở Nga Xô không có nhà văn nào xứng đáng với danh hiệu trên hơn là tác giả Tầng đầu địa ngục.

Solzhenitsyn ra đời năm 1918. Sau mười một năm sống trong những trại tập trung tù chính trị của chế độ Xô Viết, nơi ông thu thập, ghi nhận những tài liệu sống để viết thành hai tác phẩm Một ngày trong đời của Ivan Denisovich và Tầng đầu địa ngục, ông sống như một bệnh nhân trong một bệnh viện điều trị bệnh ung thư cho tới năm 1950. Năm 1967, ông công khai lên tiếng chống lại chính sách đàn áp tư tưởng con người của chế độ Xô Viết. Ông từng viết: “Không còn có thể chịu đựng được lâu hơn nữa sự đàn áp tinh thần ấy, nền văn nghệ của chúng ta đã quằn quại dưới sự đàn áp ấy trong nhiều thế hệ. Không ai có thể chặn đường sự thật. Để chiến đấu cho sự thật, tôi đã chuẩn bị sẵn sàng và chấp nhận cả cái chết”.

Harrison E. Salisbury, một chuyên gia Hoa Kỳ về các vấn đề Nga Xô Xiết, đã ví Aleksandr I. Solzhenitsyn như một Dostoevsky của thời đại mới. Harrison E. Salisbury đã viết về Aleksandr I. Solzhenitsyn và tác phẩm Tầng đầu địa ngục như sau trên tờ New York Times Book Review:

Tầng đầu địa ngục là một tác phẩm mới nối tiếp tập Hồi ký của Dostoevsky. Trong thời gian chế độ Xô Viết ngự trị trên đất Nga chúng ta có một chuỗi dài vô tận những tiết lộ bi thảm về những trại giam tù chính trị ở đó. Giờ đây, vóc dáng to lớn vượt bực của Solzhenitsyn xuất hiện. Cũng giống như Dostoevsky, Solzhenitsyn là một kẻ sống sót, một người trở về từ địa ngục lao tù. Ông từng sống nhiều năm trong tù ngục và lưu vong. Những người đàn ông, đàn bà trong tác phẩm của ông đều là những nhân vật bằng xương, bằng thịt, họ yêu, họ ghét, họ thù, họ thương, họ cười, họ khóc, họ trò chuyện, họ ước mơ. Và bỗng dưng, ta hiểu rằng lao tù, khủng bố, sa đọa và tàn ác chỉ làm trong sạch thêm tinh thần con người. Cuối cùng, không phải tù nhân là những kẻ bị tiêu diệt dù rằng họ có thể bị mất đời sống. Kẻ bị tiêu diệt dù rằng họ có thể bị mất đời sống. Kẻ bị tiêu diệt chính là những tên cai ngục. Bọn đàn áp chính là bọn thất bại. Những nhà độc tài kể tiếp nhau đã cố gắng ngăn chặn ý tưởng tiến đến những lý tưởng nhân bản của các nhà văn Nga trong quá nhiều năm đến nổi giờ đây, ta khó có thể biết chắc sự cố gắng ngăn chặn ấy bắt đầu có từ bao giờ. Nhưng ta biết chắc rằng họ đã thất bại thê thảm. Solzhenitsyn là bằng chứng của sự thất bại ấy.”

Aleksandr I. Solzhenitsyn được giải văn chương Nobel năm 1970. Chính quyền cộng sản Nga ngăn cản không cho ông đi sang Thụy Điển để lãnh giải này. Tầng đầu địa ngục là tác phẩm dài nhất của ông. Tác phẩm này không được xuất bản ở trong nước Nga, tác giả của nó đã phải gửi bản thảo ra ngoại quốc để in. Tầng đầu địa ngục được dịch và ấn hành ở Hoa Kỳ dưới nhan đề The First Circle trong năm 1968. Trong khoảng thời gian năm năm trời nay, The First Circle là quyển tiểu thuyết được nhiều người đọc nhất thế giới.

Hiện nay, Aleksandr I. Solzhenitsyn sống ở ngoại ô Mạc Tư Khoa cùng với gia đình ông gồm một người vợ trẻ và hai đứa con nhỏ. Cộng Đảng Nga mở chiến dịch bôi lọ ông, vu cáo ông và cô lập ông, họ không cho vợ chồng ông làm việc ở bất cứ đâu và gạt ông ra ngoài mọi hoạt động văn nghệ. Nhưng uy tín và giá trị cá nhân của ông đã quá lớn, cho tới nay những người lãnh đạo chế độ Xô Viết ở Nga chỉ cố tình quên ông nhưng chưa dám thẳng tay hãm hại ông.

Nhân vật

  • Victor Semyonovich Abakumov: Tổng Trưởng Bộ An ninh quốc gia
  • Grigory Borisovich Adamson: Kỹ sư, tù nhân
  • Bobynin: Người chỉ huy tù nhân làm việc trong phòng Thí nghiệm số 7 ở Mavrino
  • Vladimir Erastovich Chelnov: Giáo sư Toán học, một “tù nhân tạm trú” đang ở tù năm thứ mười tám
  • Rostilav (Ruska) Vadimich Doronin: Chuyên viên cơ khí, tù nhân, 23 tuổI
  • Ivan Selivanovich Dyrsin: Kỹ sư, tù nhân
  • Larisa Nilolayevna Emina: Những công chức làm việc trong Ban Kế hoạch nhà tù Mavrino
  • Dinera Galakhov: Con gái của ông biện lý Makarygin, vợ của Nikolai Galakhov
  • Nikolai (Kolya) Arkadevich Galakhov: Văn sĩ
  • Illarion Pavlovich Gerasimovich: Kỹ sư Vật lý chuyên khoa Quang học, tù nhân thuộc loại tương đối mới đến nhà tù Mavrino
  • Natalya Pavlovna Gerasimovich: Vợ của kỹ sư Gerasimovich
  • Isaak Moiseyevich Kagan: Tù nhân phụ trách “Phòng điện”
  • Ilya Terentevich Khorobrov: Chuyên viên radio, tù nhân, bị tù vì tội viết bậy lên phiếu bầu cử
  • Trung tá Ilya Terentevich Klimentiev: Quản đốc Trung tâm Cải huấn đặc biệt Mavrino
  • Trung úy Klykachev: Trưởng Phòng Giải ám hiệu kiêm phụ tá Bí thư Đảng Stepanov ở Mavrino
  • Hippolyte Mikhailich Kondrashev-Ivanov: Họa sĩ, sống dài hạn trong nhà tù Mavrino, 50 tuổI
  • lexei Kansky: Nhà phê bình văn nghệ trẻ tuổI
  • Clara Petrovna Makarygin: Cô con gái út của ông biện lý Makarigin, công chức làm việc ở Mavrino
  • Thiếu tướng Pyotr Afanasyevich Makrigin: Biện lý công tố viện, cha của ba cô Dinera, Dotnara và Clara
  • Yakov Ivanovich Mamurin: Người có xước hiệu là “Mặt sắt”, trước kia là giám đốc Bộ Liên lạc đặc biệt của Béria, nay là tù nhân.
  • Thiếu tá Myshin: Ủy viên An ninh nhà tù Mavrino
  • Trung úy Nadelashin: Sĩ quan chỉ huy đơn vị binh sĩ gác nhà tù Mavrino
  • Gleb Vikentyevich Nerzhin: Chuyên viên Toán học, tù nhân 31 tuổI
  • Nadya Nerzhin: Vợ của Nerzhin
  • Foma Gurynovich Oskolupov: Trưởng Phòng Tiếp liệu đặc biệt của Bộ An ninh quốc gia
  • Trung tướng Aleksandr Nikolayevich Poskrebyshev: Trưởng Phòng Bí thư riêng của Stalin
  • Andrei Andreyevich Potapov: Kỹ sư Điện khí, tù nhân, 45 tuổi, một trong những chuyên gia thảo sơ đồ thiết lập Nhà máy thủy điện Dnieper, cựu tù binh ở Đức quốc
  • Valentine (Valetulya) Martynich Pryanchikov: Kỹ sư radio, tù nhân 31 tuổi cũng là cựu tù binh ở Đức quốc
  • Dushan Radovich: Đảng viên Mác xít chính thống, cựu nhân viên Comintern
  • Thiếu tá Adam Veniaminovich Roitman: Phụ tá cho Quản đốc Yakonov ở nhà thù Mavrino
  • Lev Grigoryevich Rubin: Nhà Ngôn ngữ học, cựu giáo sư, tù nhân, đảng viên đảng Cộng sản từ trẻ.
  • Mikhall Dmitrievich Rytmin: Chuyên viên thẩm vấn trong cơ quan Mật vụ MGB chuyên phụ trách thẩm vấn những vụ can phạm chính trị quan trọng
  • Sevastynov: Ủy viên phụ tá Tỉnh trưởng Bộ An ninh quốc gia, phụ trách giao thông – liên lạc kỹ thuật chính xác
  • Đại úy Schhagov: Cựu quân nhân, bạn của Lansky
  • Thiếu tá Shikin: Sĩ quan an ninh viện Mavrino
  • Trung úy Shusterman: Sĩ quan trong đơn vị canh gác nhà tù Mavrino
  • Arthur Siromakha: Chuyên viên cơ khí, tù nhân làm việc trong phòng số 7
  • Trung úy Smolosidov: Sĩ quan Mật vụ MGB, nhân viên của viện Mavrino
  • Dmitri Aleksandrovich Sologdin: Chuyên viên Họa đồ, tù nhân, 36 tuổi, người sống sót từ những trại tập trung miền Bắc, hiện đang sống hạn kỳ thứ hai của án tù
  • Iosif Stalin: Tên thật là Iosif Vissarionovich Djugashiwili, đôi khi được gọi là “Người cày ruộng”
  • Boris Sergeyvich Stepanov: Bí thư Chi bộ đảng Cộng sản ở Mavrino
  • Serafima (Simochka) Vitalyena: Một trung úy MGB trong Phòng Nghiên cứu âm hưởng ở Mavrino
  • Dotnara (Dotty) Volodin: Con gái ông biện lý Makarygin, vợ của Innokenty Volodin
  • Innokenty Artemmyevich Volodin: Cố vấn Bộ Ngoại giao, 30 tuổI
  • Anton Nikolayevich Yakonov: Đại tá kỹ sư ngành An ninh quốc gia, phụ trách điều hành tại viện Mavrino
  • Spiridon Danilovich Yegorov: Tù nhân gác phòng ở Mavrino, 50 tuổI
  • Trung úy Zhvankun: Sĩ quan trong đơn vị canh gác nhà tù Mavrino

—–

1. Và anh là ai?

Đôi kim đồng hồ chỉ bốn giờ năm phút.

Trong ánh sáng hấp hối của một ngày tháng Chạp, mặt đồng của chiếc đồng hồ đặt trên giá trông như có màu đen.

Hai cánh cửa kiếng của khung cửa sổ cao nhìn xuống dãy phố đông đảo, nhộn nhịp bên dưới, nơi những người gác cửa đang dồn những mảnh tuyết nâu lại thành từng đống, tuyết tuy mới rơi nhưng đã ướt và dơ bẩn, những cây cào gỗ đẩy tuyết ngay dưới chân những người qua đường.

Innokenty Volodin, cố vấn Quốc gia đệ nhị, nhìn ngây xuống cảnh đó nhưng không ghi nhận gì hết, chàng đứng dựa vài vào thành cửa sổ, miệng khẽ huýt gió một điệu nhạc mệt mỏi. Những ngón tay chàng lật mở từng từ giấy trắng bóng, in sặc sỡ nhiều màu của một tập san ngoại quốc. Nhưng mắt chàng cũng không nhìn thấy những hình ảnh in trên những trang báo đó.

Cố vấn Quốc gia đệ nhị hạng Innokenty Volodin, chức vụ này của chàng trong ngành ngoại giao tương đương với cấp Trung tá trong quân đội, là một thanh niên cao và mảnh mai. Không bận đồng phục và bận bộ y phục may bằng một thứ hàng len dệt, trông chàng có vẻ là một công tử hào hoa hơn là một viên chức trung cấp trong Bộ Ngoại giao.

Bây giờ đã đến lúc chàng phải bật đèn trong văn phòng nếu chàng muốn ở lại làm việc ngoài giờ, nhưng chàng không bật đèn, hoặc rời văn phòng để về nhà. Chàng cũng không để lộ vẻ gì là sửa soạn ra về.

Bốn giờ chiều không có nghĩa là giờ làm việc trong ngày đã hết, bốn giờ chiều chỉ có nghĩa là ánh sáng của một ngày đã tắt, hoặc mờ đi, vào giờ nay tất cả mọi người đều về nhà ăn bữa tối để rồi bắt đầu từ mười giờ đêm, cả ngàn khung cửa sổ của sáu mươi nhăm cơ quan chính phủ ở Mạc Tư Khoa lại sáng đèn. Chỉ có một người, một người mà thôi, sống ở giữa khoảng một tá tường thành ở Mạc Tư Khoa, không ngủ được ban đêm, và người này đã làm cho tất cả những viên chức chính phủ lớn nhỏ ở Mạc Tư Khoa cũng phải thức với y cho tới ba, bốn giờ sáng. Vì đã biết rõ thói quen thức đêm của Vị Chúa Tể, đêm nào cũng vậy, khoảng ba mươi ông Tổng trưởng ngồi như những chú học trò được gọi đến tên. Để cho khỏi buồn ngủ, những ông Tổng trưởng này hành hạ những ông phụ tá, những ông phụ tá hành hạ những ông trưởng phòng và những nhân viên phụ trách lưu trữ hồ sơ vất vả leo lên những bậc thang mở những ô kéo tìm những tấm phiếu lý lịch hồ sơ, trong hành lang có những viên thư ký hấp tấp đi lại và trong văn phòng có những viên thư ký hồi hộp làm gãy những ngọn viết chì.

Và ngay cả hôm nay nữa, đêm nay là đêm Giáng sinh Tây phương, từ hai ngày nay tất cả những Tòa đại sứ ở Mạc Tư Khoa đều đóng cửa, tê cứng trong cái lạnh đêm cuối năm, trong những Tòa đại sứ ấy tất cả những máy điện thoại đều ngừng reo chuông, và ngay trong phút này, nhân viên của những Tòa đại sứ ấy chắc là đang thoải mái ngồi chung quanh những cây Giáng sinh, trong những cơ quan chính phủ này người ta vẫn làm việc. Nhiều người ngồi đánh cờ, nhiều người ngồi khảo chuyện phiếm, nhiều người khác nữa ngủ gật – nhưng đêm nay, người ta vẫn là làm việc.

Những ngón tay bối rối, hơi run của Volodin lơ đãng lật nhanh những trang tập san. Suốt trong thời gian đó cảm giác sợ hãi dâng lên trong chàng, nó bốc lên như lửa một lúc rồi tàn đi và sau cùng, đông lại.

Từ ngày còn thơ ấu, Innokenty đã biết bác sĩ Dobroumov, chàng vẫn nhớ rõ hình ảnh của ông từ ngày đó cho đến bây giờ. Thời ấy bác sĩ Dobroumov hãy còn là một ông thầy thuốc rất thường, danh tiếng ông chưa nổi sáng và người ta chưa cử ông cầm đầu những phái đoàn đi ra ngoại quốc. Thời ấy, chưa ai coi ông là khoa học gia, ông chỉ là một ông thầy thuốc đi chữa bệnh tận nhà. Mẹ của Innokenty thường đau yếu luôn và lần nào có bệnh bà cũng mời đến bác sĩ Dobroumov. Bà tin ở tài ăng và kinh nghiệm của ông. Mỗi lần ông đến nhà và treo cái mũ da của ông lên mắc dsau cánh cửa, cả nhà như tràn dầy một làn không khí dễ chịu bình yên, tin tưởng. Không lần nào ông ngồi lại dưới nửa tiếng đồng hồ bên cạnh giường người bệnh. Ông hỏi về tất cả những khó chịu, những đau đớn của người bệnh, như những chuyện đó làm cho ông hài lòng, ông xem mắt, xem lưỡi, nghe ngực người bệnh và sau đó ông giải thích cho người bệnh nghe về phương pháp điều trị mà ông áp dụng cho người bệnh. Khi đi ra khỏi nhà, lần nào đi ngang trước mặt chú nhỏ ông cũng dừng lại để hỏi một câu, chú nhỏ sẽ nói ra một câu thông minh. Trong những ngày xa xưa đó, ông bác sĩ đã có mái tóc bạc xám. Bây giờ không biết ông ra sao?

Innokenty liệng tập bào xuống bàn và thần kinh chàng căng thẳng, bối rối, khó nghĩ, chàng đi đi lại lại trong phòng.

Chàng có nên gọi điện thoại hay không?

Nếu vụ này liên can đến những bác sĩ mà chàng không đích thân quen biết, Innokenty sẽ không phải bận trí suy nghĩ đến hai lần về việc nên hay không báo cho người trong cuộc biết. Nhưng người trong cuộc lại là bác sĩ Dobroumov!

Có thể có cách nào làm người ta nhận ra được giọng của một người qua ống điện thoại nếu người nói nói thật nhanh, gác máy và đi ngay khỏi chỗ đặt máy điện thoại? Họ có thể nhận ra tiếng nói của một người qua điện thoại không? Chắc là họ chưa có kỹ thuật nào dùng vào việc này.

Chàng đi trở lại bàn giấy của chàng. Trong bóng tối của ngày đông tàn chàng vẫn nhìn thấy rõ tập chỉ thị mật về công tác mới mà chàng sắp phải làm. Chàng sẽ đi trước ngày đầu Năm mới, vào thứ Tư hay thứ Năm gì đó.

Nếu chàng đợi thì hợp lý hơn. Chàng cũng sẽ khôn ngoan hơn nếu chàng đợi.

Trời ơi! Hai vai chàng rung động trong một cái rùng mình, vai chàng chưa bao giờ bị đè nặng như thế này. Nếu chàng đừng biết gì hết về vụ này, chàng sẽ đỡ khổ biết là chừng nào. Nếu chàng đừng biết…

Chàng cầm tập chỉ thị và tất cả những giấy tờ trên bàn đem đến cất vào trong tủ sắt.

Nhưng… Làm sao người ta lại có thể kết tội bác sĩ Dobroumov chỉ vì lời hứa đó của ông? Lời hứa đó chỉ biểu lộ tấm lòng quảng đại của một người có tài. Tài năng là một cái gì bao giờ cũng biểu lộ ra ngoài bất kể người có tài muốn biểu lộ hay không, người có tài và có lòng tốt bao giờ cũng sốt sắng chia sẻ tài năng của mình cho người khác.

Cảm giác bối rối, khó xử trong Innokenty tăng lên, mạnh hơn. Chàng đứng tựa vai vào thành tủ sắt, đầu cúi xuống, hai mắt nhắm lại. Chàng đứng như thế ở đó một lúc khá lâu.

Rồi đột ngột, như chàng vừa để cơ hội tốt cuối cùng trôi qua, không gọi điện thoại xuống nhà để xe để người ta mang xe hơi của chàng ra trước cửa, không kịp cả đậy nắp lọ mực trên bàn, Innokenty đi vội ra khỏi văn phòng. Chàng khóa cửa và đưa chìa khó cho người hạ sĩ trực ngồi ở cuối hành lang, bận áo khoác ngoài và bước nhanh xuống thang lầu. Chàng đi như chạy ra khỏi tòa nhà, len lỏi giữa đám nhân viên bận những chiếc áo thêu vàng, cầu vai vàng, nẹp vàng. Và chàng chạy vào vùng trời hoàng hôn bên ngoài, chàng thấy dễ chịu hơn nhờ sự hoạt động này.

Đôi giày da bóng theo kiểu Pháp của chàng súc vào những tảng tuyết ướt bẩn.

Đi ngang đài kỷ niệm Vorosky trong sân trước của Bộ Ngoại giao, Innokenty nhìn lên và không thể ngăn được rùng mình. Chàng cảm thấy tòa nhà mới xây cất ở đường Bolshaya Bubyanka đối diện với công viên Furkasovsky có một ý nghĩa mới đối với chàng. Tòa nhà trắng xám chín tầng kia giống như mười tám khẩu đại bác. Cô đơn và yếu đuối, Innokenty bị cuốn hút qua công viên nhỏ tới dưới đầu chiến hạm khổng lồ ấy.

Chàng quay đi, như để tự cứu – chàng rẽ tay phải, đi xuống đường Kuznestsky Most. Ở đầu đường này, ngay khúc quanh, một chiếc tắc xi sắp rời khỏi vỉa hè. Innokenty vào xe và bảo tài xế chạy theo đường Kuznestsky Most rồi quẹo trái để vào con đường Petrvka vừa mới sáng đèn đường.

Chàng vẫn còn do dự – chàng nghĩ đến chuyện chàng có thể gọi điện thoại ở đâu để khỏi bị người đứng chờ đến lượt bên ngoài gõ gõ lên cửa kiếng phòng điện thoại thúc dục chàng nói mau và nhường chỗ. Nhưng nếu chàng đi tìm một phòng điện thoại công cộng ở một chỗ vắng vẻ, ít người, chàng sẽ còn dễ bị nghi ngờ nhiều nữa. Có lẽ chàng nên đến một phòng điện thoại ở một khu thật đông người, miễn là phòng điện thoại đó đứng sát vào một bức tường. Rồi chàng nghĩ ra rằng chàng không nên đi lang thang vô định trong thành phố trong chiếc tắc xi này, nếu có chuyện gì xảy ra, người tài xế này sẽ là một người làm chứng. Chàng thò tay vào túi áo tìm một đồng mười lăm kopeck.

Bỗng dưng tâm trí chàng an định gần như hoàn toàn. Tất cả những đe dọa dường như vừa trở thành không đáng kể nữa. Chỉ trong vài giây đồng hồ ngắn ngủi, Innokenty bỗng thấy tâm hồn bình thản như chàng chưa từng bao giờ sợ hãi, chưa từng bao giờ do dự trước việc làm này. Vì chàng vừa nhận ra rằng chàng không sao làm khác được. Việc này có thể nguy hiểm, nhưng chàng vẫn phải làm…

Nếu người ta cẩn thận quá, nếu người ta đề phòng quá, người ta có thể nào còn là người được không?

Dưới ánh những ngọn đèn đường Okhotny Ryad những ngón tay chàng tìm thấy trong túi áo hai đồng mười lăm kopeck – một dấu hiệu tốt!

Xe chạy ngang trường Đại học và Innokenty ra hiệu cho người tài xế rẽ sang tay phải. Xe chạy nhanh về đường Arbat. Innokenty trả tiền cho tài xế và không đợi lấy lại tiền lẻ, chàng đi ngang công trường. Chàng cố giữ cho chân bước từ từ và đều đều.

Khu Arbat cũng đã sáng đèn. Từng dãy khán giả sắp hàng trước cửa rạp hát bóng chờ vào coi phim Tình nàng vũ nữ. Chữ “M” màu đỏ trên cửa xuống trạm xe điện ngầm mờ nhạt và gần như chìm mất trong làn sương xám. Một người đàn bà ăn bận giống một thiếu phụ Bô-hê-miêng đứng bán những cành hoa mimosa màu vàng.

Cố gắng làm việc này thật nhanh. Nói ít thôi, càng ngắn càng tối – cắt máy ngay. Càng nhanh chừng nào nguy hiểm càng ít chừng ấy.

Innokenty đi thẳng về phía trước mặt. Một thiếu nữ qua đường nghiêng mặt nhìn chàng.

Rồi một thiếu nữ khác.

Một phòng điện thoại công cộng vách gỗ ở trước cửa xuống trạm xe điện ngầm không có người bên trong nhưng Innokenty đi ngang không nhìn vào, chàng đi thẳng vào trong nhà trạm.

Trong này có bốn phòng điện thoại, tất cả bốn phòng đều sát vách – nhưng trong cả bốn phòng đều có người. Innokenty dừng lại. Ở trong phòng đầu tiên bên trái người thanh niên đứng bên trong đã mắc ông nói lên máy. Thanh niên này vừa ra, Innokenty bước vội vào, chàng cẩn thận đóng cánh cửa kiếng dày lại, một tay giữ cửa, tay kia chàng run run nhét đồng tiền vào máy và quay số. Hai tay chàng vẫn còn mang bao tay.

Sau nhiều tiếng chuống reo dài, máy nói ở đầu dây bên kia được một người nào đó nhấc lên.

“Tôi nghe…”

Một giọng nói đàn bà vang lên, giọng nói không có vẻ vui nhưng cũng không có vẻ khó chịu.

“Đây có phải là nhà riêng của bác sĩ Dobroumov?”

Innokenty hỏi, chàng cố gắng làm cho giọng nó của chàng đổi khác đi.

“Dạ phải.”

“Làm ơn cho mời bác sĩ cho tôi nói chuyện.”

“Anh là ai? Anh là ai mà muốn nói chuyện với bác sĩ?”

Giọng nói của người đàn bà hơi nặng và lười biếng. Rất có thể chị ta đang nằm dài trên đi văng trong khi trả lời chàng, chị ta không vội vã như chàng.

“… Thưa cô… cô không biết tôi là ai đâu. Việc tôi là ai không quan trọng… nhưng mà… tôi có chuyện cần nói với bác sĩ gấp. Thật mà… Mời bác sĩ tới ngay giùm tôi.”

Quá nhiều lời thừa thãi, vô ích – Innokenty hồi hộp nghĩ thầm tất cả chỉ vì chàng lịch sự, lễ phép quá.

Giọng nói của người đàn bà bắt đầu có những âm thanh bất mãn:

“Bác sĩ đâu có thể mất thì giờ nói chuyện với bất cứ ai gọi điện thoại đến…”

Giọng nói của thị làm cho Innokenty nghĩ rằng thị có thể gác ngay ống nói sau khi nói câu đó.

Bên ngoài khung cửa kiếng dầy, người ta qua lại tấp nập, người ta dừng lại chờ nhau, người ta bước vội cho kịp nhau. Có người đã dừng chờ đến lượt vào gọi điện thoại ở bên cửa.

“Anh là ai? Tại sao anh lại không xưng tên?”

“Tôi là một người bạn của bác sĩ. Tôi có chuyện quan trọng cần nói với bác sĩ.”

“Thì sao? Sao anh lại sợ không dám cho tôi biết tên?”

Đã đến lúc chàng nên cắt đứt cuộc điện đàm lẩm cẩm, vô ích này. Người ta không có quyền lấy những chị đàn bà ngu ngốc này làm vợ.

“Cô là ai? Phải cô là vợ của bác sĩ không?”

“Tại sao tôi phải trả lời anh trước?” – Người đàn bà phản đối – “anh phải nói trước…”

Bàn tay cầm ống nói của Innokenty đã giơ lên với ý định là gác máy không nói nữa. Nhưng trong vụ này, không phải chỉ có một mình bác sĩ Dobroumov là bị liên can. Cơn giận trong Innokenty dâng lên và chàng không còn để ý tới chuyện làm thay đổi giọng nói nữa, chàng cũng không còn cố nén hồi hộp, cố giữ bình tĩnh để giọng nói của chàng giống giọng nói của một người chỉ gọi đến để nói một chuyện rất thường. Chàng gằn lên vào ống nói, vừa năn nỉ vừa giục dã:

“Cô nghe tôi… Này cô… Tôi phải báo cho bác sĩ biết một chuyện nguy hiểm.”

“Nguy hiểm?”

Giọng nói của người đàn bà trầm xuống, rồi tắt đi. Nhưng chàng vẫn không nghe thấy tiếng thị gọi ai đến máy. Rồi giọng thị lại cất cao:

“Nếu vậy, tôi lại càng không nên gọi ông ấy tới. Chuyện gì là chuyện nguy hiểm? Biết đâu anh chẳng bày đặt? Làm sao tôi biết được là anh nói thật hay nói dối?”

Sàn phong điện thoại như có lửa bốc lên đốt hai chân Innokenty và ống nói đen có dây xích sắt buộc vào dàn máy như trơn tuột trong lòng bàn tay chàng.

“Nghe tôi nè… Cô phải nghe tôi…” Chàng kêu lên trong tuyệt vọng. “Lần xuất ngoại vừa rồi, khi ông bác sĩ ở Paris, ông ấy có hứa với những bác sĩ Pháp là ổng sẽ cho họ một thứ gì đó. Một thứ thuốc mới. Trong vài ngày nữa ổng sẽ đưa cho họ thứ thuốc ấy. Họ là người ngoại quốc. Cô hiểu gì không?”

“Ông ấy không có quyền cho người ngoại quốc bất cứ thứ gì… Ông sẽ bị…”

Một tiếng cách vang lên và Innokenty đứng chết lặng với ống nói áp trên tai.

Một kẻ nào đó đã cắt đứt đường dây.

2. Ý tưởng của Dante [1]

“Mới tới!”

“Họ đưa tới nhiều người mới!”

Những tù nhân đứng chật hành lang chính. Những người mới đến đứng giữa và những người cư ngụ trước trong nhà tù Mavrino, trong số có những người vừa ăn xong trong lượt tù ăn đầu, những người đi tới để vào phòng ăn, đứng vây quanh họ.

“Từ đâu đến đó các đồng chí?”

“Các bạn, ở đâu đến vậy?”

“Trên ngực áo, trên mũ của các bạn có cái gì vậy? Họ dán cái gì vào đây vậy?”

“Số của bọn tôi đó” – một tù nhân mới tới đáp – “Trên lưng áo chúng tôi cũng có số, cả trên hai đầu gối quần nữa này. Khi chúng tôi đi, họ xé hết những miếng vải ghi số đó đi thành ra quần áo có vết…”

“Bạn nói chi? Số là cái gì?”

“Thưa quý vị” – Valentine Pryanchikov cao giọng nói – “tôi xin phép được đặt câu hỏi này trước quý vị: Chúng ta hiện đang sống trong thời đại gì?”

Anh quay lại hỏi Lev Rubin, người bạn tù của anh:

“Ghi số trên con người. Lev Grigovich… Cho phép tôi được hỏi anh. Anh có thể cho như vậy là tiến bộ được không?”

“Thôi mà Valentulya, đừng có nặng phần trình diễn” – Rubin nói – “Đi vào ăn cho xong đi.”

“Nhưng làm sao tôi có thể ăn uống được khi quanh tôi còn có những con người bị ghi số lên áo, lên mũ? Đây là thời Mạt thế mất rồi.”

“Các bạn” – một tù nhân khác của Mavrino nói – “Họ sẽ phát cho bọn mình mỗi người chín gói Belomor vào cuối tháng Chạp này. Các bạn mới đến như vậy là hên lắm ạ.”

“Bạn nói thuốc lá Belomor – Yavas hay là thuốc Belomor – Dukats?”

“Mỗi thứ một nửa.”

“Dã man thật. Họ định giết mình vì thúc Dukats. Tôi sẽ khiếu nại việc này với đồng chí Tổng trưởng cho mà coi. Tôi thề danh dự với các bạn là tôi sẽ khiếu nại.”

“Còn các bạn, các bạn bận quần áo gì thế này?” – Người tù mới tới hồi nãy giải thích về những vết vải khác màu trên y phục họ lên tiếng – “Tại sao bạn nào ở đây cũng bận đồ như lính nhảy dù vậy?”

“Đây là đồng phục mà tất cả anh em trong này phải bận. Bây giờ họ bắt đầu hà tiện với anh em mình rồi. Trước kia họ vẫn phát quần áo len, có cả áo ngoài.”

Thêm nhiều tù nhân Mavrino nữa bước vào hành lang.

“Kìa… anh em mới.”

“Có nhiều anh em mới tới.”

“Thôi mà các bạn. Các bạn làm như chưa từng nhìn thấy tù mới bao giờ vậy. Đứng nghẹt hết đường đi…”

“Ô kìa… Phải anh là Dof-Dneprovsky không? Đúng rồi. Mấy năm nay anh ở đâu? Năm 45, tôi đi khắp Vienna [2] tìm anh. Tìm khắp không thấy.”

“Bạn nào cũng rách rưới, râu ria. Không được cạo râu à? Các bạn từ trại tập trung nào đến đây vậy?”

“Nhiều nơi lắm. Anh em tôi ở Rechlag…”

“Chúng tôi ở Dubrovlag…”

“Tôi ở đù đã tám năm rồi sao tôi chưa từng bao giờ nghe nói đến hai trại đó kìa?”

“Trại mới cả, trại đặc biệt. Mới có từ năm ngoái, năm 48, theo chỉ thị của Staline: kiện toàn hậu phương…”

“Hậu phương? Hậu phương nào mới được chứ?”

“Chẳng biết. Chỉ biết là tôi bị họ bắt ngay trước cửa vào nhà thờ Đức Bà Vienna – Họ nắm cổ tôi, tống tôi lên xe cây…”

“Chờ chút, Mitenka… Xem anh em mới tới nói gì.”

“Không, đi ra sân, đi bộ sau bữa ăn. Đi ra ngoài trời một lúc. Theo đúng thời khắc biểu. Dù có động đất cũng đi. Lev sẽ hỏi họ rồi kể lại cho chúng mình nghe, đừng sợ.”

“Đội thứ hai vào ăn.”

“Chúng tôi đến từ Ozerlag, Luglag, Steplag, Peshanlag.”

“Rất có thể là một nhà thơ lớn nào đó có tâm hồn thơ mộng như Puskhin chưa được ai biết đến ở trong bộ An ninh. Nhà thơ lớn chưa được đời biết này không thèm làm những câu thơ dài, nhưng chọn toàn những cái tên đẹp đặt cho trại tập trung. Thấy không?”

“Ha… ha… Ha. Hay lắm. Thật hay” – Pryanchikov nói – “Xin hỏi quý vị chúng ta đang sống trong thời đại gì?”

“Đừng làm ồn ào, Velentulya.”

“Xin lỗi” – một tù nhân mới hỏi Rubin – “Tên bạn là gì?”

“Lev Grigorich.”

“Bạn cũng là kỹ sư?”

“Thưa không, tôi không phải là kỹ sư, tôi là nhà ngôn ngữ học.”

“Ngôn ngữ học? Người ta giữ cả những nhà ngôn ngữ học ở đây sao?”

“Có lẽ bạn nên hỏi những ai không bị giữ trong nhà tù này thì dễ trả lời hơn” – Rubin nói – “ở đây chúng tôi có những toán học, vật lý học, bào chế sư, kỹ sư vô tuyến, quang tuyến, kỹ sư điện, chuyên viên điện thoại, nghệ sĩ, dịch giả, kiến trúc sư, thợ đóng sách, thợ đóng giày, thợ may, họa sĩ, trắc lượng viên, có cả bác sĩ đỡ đẻ nữa.”

“Bác sĩ đỡ đẻ làm gì trong này?”

“Ổng xoay xở khéo lắm. Hiện ông làm việc trong Phòng phim ảnh.”

“Lev… Anh vẫn nhận anh là nhà duy vật nhưng anh chuyên nói với người khác những chuyện duy tâm” – Valêntin Pryanchikov nói – “Các bạn mới đến nên nghe lời tôi: Khi họ cho các bạn vào phòng ăn, chúng tôi sẽ để sẵn cho các bạn ba mươi đĩa thức ăn ở cái bàn cuối cùng gần cửa sổ. Các bạn tha hồ ăn, ăn cho no, nhưng nhớ đừng ăn quá mà bội thực ạ.”

“Cám ơn lắm. Nhưng… các bạn chẳng nên nhường phần ăn cho bọn tôi.”

“Không đâu. Tại tụi tui chán ngấy mấy món ấy rồi. Thời buổi này mà còn ăn cá mòi Mezen với bánh bột kiều mạch kê nữa. Hai món đó ăn thường quá.”

“Cái chi? Bạn cho bánh bộ kiều mạch kê là tầm thường ư? Năm năm rồi tôi chưa từng được trông thấy mặt mũi cái bánh ấy ra thế nào.”

“Chắc không phải là bột kiều mạch đâu, dám là bột bắp lắm à.”

“Bột bắp? Bạn điên hay sao mà nói vậy? Họ đâu dám cho bọn mình ăn bột bắp. Nếu là bột bắp, tôi sẽ nứm vào mặt họ.”

“Vấn đề ăn uống trong những trại tạm trú hồi này ra sao?”

“Ở trại tạm trú Chelyabinsk…”

“Chelyabinsk mới hay Chelyabinsk cũ?”

“Câu hỏi của bạn chứng tỏ bạn là người hiểu biết nhiều. Ở trại mới…”

“Ở đó hồi này ra sao? Họ có còn cấm các bạn không được dùng bồn rửa mặt mà phải xách nước từng bô, rửa xong đem đi đổ ngay không?”

“Vẫn vậy.”

“Các bạn vừa nói nhà tù này là nhà tù đặc biệt. Như thế nào là đặc biệt?” [3]

“Ở đây mỗi người được phát bao nhiêu bánh mì?”

“Những gì chưa ăn, vào đi. Toán thứ hai vào phòng ăn.”

“Bánh mì trắng – ba trăm gờ ram, bánh mì đen thì tùy tiện.”

“Xin lỗi, bạn nói tùy tiện nghĩa là sao?”

“Tùy tiện nghĩa là tha hồ ăn. Bánh cắt sẵn để trên bàn, bạn thích ăn thì lấy ăn, không thích thì thôi.”

“Đúng vậy, nhưng nếu muốn có bơ và gói thuốc Belomor, chúng ta phải làm việc gãy lưng mỗi ngày từ mười hai đến mười bốn tiếng.”

“Làm gì mà gãy lưng? Ở đây không có ai phải làm việc đến gãy lưng cả, nhất là anh, vì anh ngồi ở bàn làm việc. Người gãy lưng là người làm việc với một cái rìu.”

“Mẹ kiếp. Hơn gì đâu? Mình ngồi trong nhà này đâu có khác gì mình ở giữa vùng sa mạc hay đồng lầy – mình cũng bị xa cách với cuộc đời như thế. Các bạn nghe tôi nói đây: họ khoe họ đã tận diệt được bọn ăn trộm và móc túi, ở bất cứ thành phố nào, bạn không còn sợ bị móc túi nữa. Tôi nghĩ rằng nghề móc túi sở dĩ bị diệt là bởi vì đâu có ai còn gì trong túi để mà móc.”

“Phần bơ phát cho giáo sư, kỹ sư ở đây là ba mươi gờ ram, phần bơ phát cho chuyên viên là hai mươi gờ ram. Các bạn thấy không? Làm tùy khả năng hưởng tủy… người ta cho bao nhiêu biết từng ấy.”

“Như vậy là bạn từng làm việc ở Dneprostroi?”

“Phải. Và tôi bị tù vì xưởng Dneprosgres.”

“Bạn nói vậy là sao?”

“Dễ hiểu quá. Vì tôi bán xưởng đó cho bọn Đức.”

“Bán gì nổi? Xưởng đó bị bom tan tành hết mà?”

“Thì tôi bán xưởng đó cho bọn Đức với tình trạng tan tành đó chứ sao.”

“Tuyệt diệu. Như một trận gió. Tôi như cánh lá bay theo gió. Này nhé… Vô trại tạm trú, lên xe Stolypin. Xe chạy bon bon trên đường thiên lý. Vô trại tạm trú nghỉ. Sáng sau lại lên xe đi. Du lịch như ông hoàng… Ước gì xe chạy thẳng đến công trường Đỏ…”

“Rồi lại chạy trở về…”

“Bạn nói phải. Rồi lại chạy trở về. Và lần trở về, chắc chắn là xe chạy nhanh hơn.”

Một người tù mới đến nói với Rubin:

“Lev Grigorich… đầu óc tôi quay cuồng vì sự thay đổi đột ngột này. Tôi đã sống năm mươi hai năm rồi, tôi đã đau nặng gần chết và thoát chết mấy lần, tôi từng được ôm trong tay nhiều người đàn bà đẹp, tôi có vợ, tôi có con, tôi từng được trao tặng nhiều giải thưởng khoa học, nhưng thực tình là tôi chưa bao giờ sung sướng như ngày hôm nay. Hôm nay tôi được đưa đến đây. Sáng sớm mai họ sẽ kinh phí bắt tôi ra làm việc ngoài đầm nước lạnh giá nữa. Tôi được hưởng mỗi ngày ba mươi gờ ram bơ tươi. Tôi được ăn bánh mì đen tha hồ ăn no, ăn chán thì thôi. Ở đây họ không cấm tôi đọc sách. Ở đây tôi được quyền cạo râu. Ở đây lính không đánh tù như đánh loài vật. Trời ơi, hôm nay là ngày gì? Sao ánh sáng ở đây trong đến thế? Hay là tôi đã chết? Hay là tôi đang nằm mơ? Có thể tôi đang ở Thiên đàng chăng?”

“Không đâu ông bạn ơi” – Rubin nói – “ông bạn vẫn sống ở một nơi giống như nơi ông bạn vừa ở, tức là ở Địa ngục. Nhưng ông bạn vừa leo lên được tầng địa ngục cao nhất, tầng địa ngục sướng nhất, tức là tầng địa ngục đầu tiên. Ông bạn vừa hỏi nhà tù đặc biệt này có những gì đặc biệt, tôi xin trả lời ông bạn rằng người có khái niệm đầu tiên về loại nhà tù này là Dante. Ông bạn nhớ rằng thi hào Dante đã vò đầu, bứt tai đến rụng hết cả tóc về vấn đề ông không biết nên cho những nhà thông thái đã chết ở vào chỗ nào dưới địa ngục. Theo tín lý Gia Tô giáo, bổn phận của những tín đồ Gia Tô là phải tống khứ bọn vô đạo xuống địa ngục, những nhà thông thái đời xưa cũng là bọn vô đạo, nhưng lương tâm của nhà đại thi hào không nỡ bắt những nhà thông thái đó phải ở chung một chỗ với bọn phạm đủ thứ tội lỗi và cũng phải chịu những hình phạt như bọn người tội lỗi đó, nên Dante nghĩ ra một nơi đặc biệt dành riêng cho những người hiểu biết ở dưới địa ngục. Vẫn là địa ngục nhưng được ở một tầng riêng. Nếu các bạn cho phép, tôi xin trưng bằng chứng. Ở Ca khúc thứ tư có những câu:

Sau cùng
chúng tôi tới chân tòa thành vĩ đại.

Chỉ cần một chút tưởng tượng các bạn sẽ thấy đây là tòa thành!

… với bảy lần tường cao vút bao quanh và một dòng suối chảy bên ngoài tất cả.

Các bạn tới đây trong những chiếc xe Maria Đen [4] nên các bạn chưa nhìn thấy rõ cảnh vật quanh đây.

… Tôi nhìn thấy bốn Hiện Diện rất mạnh đi tới những Hiện Diện không vui, không ^^ buồn.

Những linh hồn nào mà sự hiểu biết soi sáng bước đi cả ở Địa ngục kia…?” [5]

“Thôi, đủ rồi Lev Grigorich, anh thi sĩ quá” – Valentine Pryanchikov nói – “Tôi có thể giải thích cho ông bạn đây hiểu về nhà tù đặc biệt này rõ ràng hơn anh nhiều. Bạn chỉ cần nhớ lại một bài đăng báo trong đó có câu: “Kinh nghiệm cho ta thấy ta lấy được len nhiều hay ít ở lưng cừu chính là do việc ta nuôi cừu và săn sóc cừu”.

3. Một lễ giáng sinh Cơ đốc

Cây Nô en của họ là một cành thông cắm vào một cái khe trên cái bục gỗ. Một dây bóng đèn nhỏ, ánh sáng yếu ớt được quấn hai vòng quanh thân cây, đầu dây cắm vào bình điện nhỏ đặt dưới sàn.

Cây Nô en được đặt trong một góc phòng, giữa hai dãy giường từng, một tấm nệm giường được dựng lên để che ánh ngọn đèn điện trên trần và chiếu vào đó.

Sáu người đàn ông bận những bộ quần áo binh sĩ Nhảy dù dầy, màu xanh đậm, đứng xúm xít quanh cây Nô en tí hon. Họ chụm đầu vào nhau và cúi mặt yên lặng. Max Richman, một người trong bọn họ, đọc khẽ bàn kinh cầu nguyện đêm Giáng sinh của đạo Cơ đốc.

Không còn ai khác ngoài sáu người này trong căn phòng rộng chỉ có những chiếc giường hai tầng đứng xếp hàng. Tất cả đều là giường sắt. Sau bữa ăn tối và một giờ đồng hồ đi bộ ngoài sân, mọi người đều đi làm việc đêm.

Max đọc xong bài kinh và sáu người cùng ngồi xuống. Năm người trong bọn họ đang ngẩn ngơ vì tâm hồn dạt dào những kỷ niệm vừa dịu ngọt vừa cay đắng về quê hương họ – những Đức mến yêu, những Đức trật tự của họ, ở đó dưới những mái nhà lợp ngói đá đen, cuộc lễ đêm nay được cọi là lễ quan trọng nhất trong năm, cuộc lễ được cử hành ở đó trong không khí thiêng liêng, tin tưởng vui vẻ và ấm cúng biết là chừng nào. Người thứ sáu trong bọn họ là một người đàn ông vóc dáng lực lưỡng với một bộ râu quai nón đen nhánh như những nhà tiên tri trong Thánh Kinh – tên anh là Lev Rubin, anh là người Do Thái và anh là một đảng viên Cộng sản.

Số mệnh của Lev Rubin liên hệ nhiều đến nước Đức cả trong thời chiến và thời bình.

Trong thời bình, anh là một nhà ngôn ngữ học chuyên về Đức ngữ, anh có thể nói tiếng Đức thông thạo không sai một âm thanh, đôi khi cầ đến anh còn có thể nói được cả những thổ ngữ của miền núi nước Đức. Anh có thể nói đến bất cứ một văn thi sĩ người Đức có tác phẩm xuất bản như nói đến một người bạn quen. Anh có thể tả cảnh những thị trấn nhỏ nhất hai bên dòng sống Rhin như anh từng sống ở những nơi đó nhiều năm.

Nhưng thực ra, Lev Rubin chỉ mới đặt chân lên đất Áo – rồi từ đó anh lên mặt trận.

Trong trận đại chiến thế giới, anh là một thiếu tá Sô Viết trong đoàn đặc biệt mệnh danh là “Lực lượng phá hoại tinh thần chiến đấu của binh sĩ địch”. Anh tới những trại giam tù binh tuyển chọn những tù binh Đức nào chịu giúp anh thi hành công tác. Anh đem những tù binh này ra khỏi trại giam, anh huấn luyện và cấp cho họ những vật dụng cần thiết. Vài người trong bọn này vượt được những chiến tuyến bằng những bộ quân phục giả, phù hiệu giả, căn cước quân nhân giả, giấy tờ giải ngũ giả và những bánh thuốc nổ TNT thật. Họ đặt thuốc nổ phá hoại những cây cầu ở sau lưng quân Đức Quốc xã và tìm đường về nhà để sống cho đến ngày họ bị bắt. Với nhiều người khác, Lev Rubin thảo luận về Goethe và Schiller và những tờ truyền đơn tuyên truyền, sau đó anh cho những người này lên những chiếc xe phóng thanh đi ra mặt trận dùng loa kêu gọi những chiến hữu của họ hãy quay súng bắn lại Hitler. Với một số ít người khác, anh vượt qua mặt trận, và chỉ dùng lời thuyết phục, anh chiếm được nhiều cứ điểm của quân Đức, cứu được nhiều tiểu đoàn Xô Viết.

Nhưng Lev Rubin không thể thuyết phục được những người lính Đức nếu anh không trở thành một người như họ, nếu anh không yêu thương họ chân thành, và bắt đầu ngày quân Đức bại trận, anh không thể không thương hại họ. Chỉ vì việc sau cùng này, anh bị bắt. Sau cuộc tấn công tháng Giêng năm 1945, anh bị kết tội phản bội, vì anh đã chống lại chiến dịch trả thù “máu trả máu, chết trả chết” do Hồng quân Xô Viết phát động trên đất Đức chiến bại.

Lời kết tội đúng, Lev Rubin không hề nói là anh oan. Xong sự thật phức tạp hơn, tế nhị hơn, rắc rối hơn nhiều những gì được đăng tải trên các báo hồi đó và ghi trong bản án kết tội anh.

Hai chiếc bàn nhỏ được kê sát vào nhau cạnh cây Nô en làm thành bàn ăn. Họ bắt đầu thưởng thức món đồ hộp mua được từ những Hợp tác xã thực phẩm – (tù nhân ở những nhà tù đặc biệt được quyền gửi mua thức ăn ở những tiệm bán thực phẩm ở Mạc Tư Khoa nếu họ có tiền) – Sau đó họ chia sẻ nhau chiếc bánh Nô en do họ làm lấy và cà phê lạnh. Cuộc nói chuyện bình thường của những cuộc họp mặt anh em nổi lên. Max hướng dẫn cuộc nói chuyện về những đề tài hòa bình: những phong tục, tập quán xưa cũ, những câu chuyện cảm động về đêm Giáng sinh. Alfred, mang kiếng trắng, một sinh viên không được học hết khoa vật lý ở Vienna, nói chuyện rất vui với giọng nói người Áo của anh. Gustav, một đoàn viên đoàn Thanh niên Hitler, bị bắt một tuần lễ sau ngày chiến tranh kết liễu, một thanh niên còn quá trẻ, má bầu, tai hồng, ngồi mở lớn cặp mắt xanh nhạt nhìn cây Nô en, không dám tham dự vào cuộc nói chuyện của các bậc tiền bối.

Tuy vậy, cuộc nói chuyện rồi cũng quay về với chiến tranh. Một người trong bọn nhớ lại lễ Giáng sinh năm 1944 năm năm trước đêm nay, khi tất cả những người Đức đều kiêu hãnh vì trận tấn công ở miền rừng núi Ardennes, y như những chuyện đã xảy ra thời thượng cổ, trong trận tấn công này, kẻ thua đuổi theo kẻ thắng. Họ nhớ lại trong đêm Giáng sinh năm ấy, toàn thể nước Đức đã lắng nghe tiếng nói của Goebbels.

Rubin, những ngón tay rứt nhẹ những sợi trổ ra ngoài bộ râu đen nhánh của anh, công nhận chuyện này. Anh nhớ rõ bài diễn văn đêm Giáng sinh năm xưa của Goebbels nói với một sự xúc động sâu xa như y đích thân gánh chịu tất cả gánh nặng đang làm cho nước Đức gục ngã. Có thể trong đêm đó Goebbels đã có linh tiánh biết trước cái chết của riêng y.

Reinhold Zimmel, cựu Quận trưởng SS, vì quá cao nên phải ngồi khom lưng để đầu khỏi chạm thành giường, bất mãn vì câu nói lịch sử của Rubin. Y không thể chịu nổi việc gã Do Thái kia dám lên tiếng phê bình Goebbels. Y không bao giờ thèm ngồi chung bàn với gã Do Thái đó nhưng đêm nay là đêm Giáng sinh, nếu y không chịu thì y sẽ không được dự cuộc họp mặt với đồng bào của y. Y không bằng lòng những bốn người Đức kia quyết định phải mời Rubin đến dự cho bằng được. Vì với nhóm người Đức nhỏ xíu lạc lõng, chìm mất vì số mệnh trong nhà tù này, người duy nhất có thể hiểu được họ là viên Thiếu tá của cái quân đội đã đánh bại quân đội họ, người đã sống qua cuộc chiến với việc gieo rắc nghi ngờ và phá hoại quanh họ. Chỉ có người này mới có thể giải thích cho họ biết những phong tục, tập quán của giống người xa lạ ở đây, chỉ cho họ cách xử sự như thế nào là đúng và dịch cho họ những tin tức thế giới từ tiếng Nga sang tiếng Đức cho họ nghe.

Với mục đích nói ra một câu gì đó làm cho Rubin phải khó chịu đến tối đa, Zimmel nói rằng Đức quốc thời đó có cả trăm diễn giả tuyệt vời như Goebbels và y vẫn lấy làm lạ không hiểu tại sao những người Bôn Sơ Vích chỉ thích đọc những bài diễn văn đã được viết trước và được cấp trên chấp thuận cho đọc.

Đúng như ý muốn của Zimmel, lời nhận xét có tính cách chê bai này làm cho Rubin khó chịu, anh càng khó chịu hơn khi thấy sự chê bai đó đúng. Nhưng anh không thể giải thích những lý do lịch sử của việc ấy với tên sát nhân này. Rubin ghê tởm Zimmel. Cảm giác ghê tởm vẫn mạnh như ngày đầu. Anh nhớ lại lần đầu tiên anh nhìn thấy y đến đây từ khám đường Butyrshkaya trong chiếc áo da đã rạn hãy còn dấu vết huy hiệu SS thường dân – bọn SS thường dân là bọn tàn ác, dã man nhất hạng. Ngay cả nhà tù và những năm tù đày vẫn không xóa được những nét tàn ác trên mặt Zimmel. Dấu hiệu riêng của những tên hành hạ người đã được đóng xâu trên bộ mặt ấy. Sự có mặt của Zimmel trong bữa ăn này làm cho Rubin mất vui nhưng nhóm người Đức lẻ loi này khẩn khoản mời anh đến dự, và anh thương hại họ cô đơn và lạc lõng ở đây, anh thấy anh không thể nào làm cho ngày lễ của họ trở thành đen tối vì sự từ chối của anh.

Nén giận, Rubin nói bằng tiếng Đức lời khuyên của Pushkin [6] cho một số người: Đừng đưa ra lời xét đoán, nào cao hơn mũi giầy của mình.

Max, hoảng hốt và vội vàng dẹp sự mâu thuẫn đang nhen nhúm như ngọn lửa sắp bốc lên. Max là người, dưới dự hướng dẫn của Lev Rubin, đã đọc được từng vần thơ của Puskhin bằng tiếng Nga. Tại sao, Max hỏi, Reinhold lại không ăn bánh với bơ? Và Lev Rubin ở đây trong ngày Giáng sinh năm 1944?

Reinhold phết một chút bơ lên miếng bánh và Lev Rubin nhớ lại rằng ngày Giáng sinh năm ấy anh ở trong một pháo đài trên chiến tuyến Narew gần Rozan.

Và trong lúc năm người đàn ông Đức tưởng nhớ, mơ về những Đức bị giày xéo, chia xẻ, tan nánt của họ với những màu sắc rực rỡ nhất do tưởng tượng của họ đắp lên đó, Rubin đột ngột nhớ lại tuyến đầu Narew và những khu rừng ẩm ướt quanh hồ Ilmen.

Ánh đèn xanh đỏ trên cây Nô en sáng lên trong mắt của sáu người ngồi dưới gốc cây.

Sau đó, Rubin được hỏi về những tin tức mới. Anh cảm thấy xấu hổ, ngượng ngùng vì những sự kiện xảy ra trong tháng Chạp này ở trên đất Nga cũng như trên khắp trái đất. Nhưng anh vẫn không sao có thể xử sự như một kẻ không phải là người Cộng sản và từ bỏ hy vọng truyền bá chủ nghĩa cho những người này. Xong, anh vẫn không sao có thể giải thích cho họ hiểu được rằng trong chế độ xã hội phức tạp này sự thật nhiều khi tiến diễn theo đường lối quanh co và biến dạng. Vì vậy anh tuyển lựa cho họ – cũng như anh từng tuyển lựa cho chính anh – những sự kiện nào có tính cách chứng tỏ chủ nghĩa xã hội sẽ thắng, anh quên đi những sự kiện nào trái với điều ấy, kể cả những sự kiện làm cho người ta khó hiểu.

Nhưng trong tháng Chạp đặc biệt này, ngoài cuộc hội thảo Nga Xô Viết – Trung Hoa cộng sản vẫn kéo dài và ngày kỷ niệm sinh nhật thứ bảy mươi của vị Lãnh đạo Nhân dân, không còn sự kiện gì đáng để nói cả. Thực ra còn có nhiều chuyện có thể nói về vụ xử án Traicho Kostov, nhưng nếu nói đến vụ xử này, anh sẽ bắt buộc phải kể rằng đó là một trò hề sống sượng, vụng về, rằng những phóng viên nhà báo đến dự phiên tòa xử đã được, sau một chậm trễ khó hiểu nhiều tiếng đồng hồ, phát một bản thú tội giả mạo nói rằng do chính tay Kostov viét trong khám tử tội – những chuyện này làm cho Rubin cảm thấy nhục và anh thấy rõ là chúng không thể có lợi cho việc tuyên truyền chủ nghĩa.

Do đó Rubin chỉ nói với họ về những chiến thắng lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Hoa.

Max chăm chú nghe Rubin nói. Thỉnh thoảng y lại gật đầu tỏ vẻ đồng ý, tán thành. Đôi mắt nâu nhìn trái ô liu của Max biểu lộ sự tin tưởng ngây thơ. Trước đây Max hoàn toàn tin tưởng và trung thành với Rubin, nhưng từ ngày xảy ra cuộc phong tỏa Bá Linh, y bắt đầu nghi ngờ về sự đứng đắn của những nguồn tin Rubin vẫn liều mạng sống để nghe trộm những bản tin của hai đài phát thanh BBC và Colonge phát đi bằng tiếng Đức bằng một cái máy thâu thanh tí hon do chính tay y chế tạo bí mật. Mỗi ngày Max đều ráp cái máy thâu thanh này, nghe tin xong lại tháo rời ra từng bộ phận cất đi dù rằng đó là một cái máy thâu thanh. Với cái máy này không những Max chỉ biết rõ rằng Traicho Kostov đã lên tiếng tố cáo ở giữa tòa việc mình bị bắt buộc phải ký vào những bản thú tội viết sẵn trong những kế hoạch của Liên minh Bắc Đại Tây dương và những tin tức kinh tế của Tây Đức. Tất nhiên là Mã đều nói lại tất cả những tin tức này cho những người Đức ở tù với anh cùng biết.

Tuy vậy, tất cả năm người vẫn chăm chú nghe Rubin với những vẻ mặt tin tưởng.

Bây giờ Rubin thấy rằng đã đến lúc anh nên từ biệt họ. Đêm nay cũng như mọi đêm, anh vẫn phải đi làm việc đêm. Rubin thốt ra vài câu ca ngợi cái bánh ngon và chàng sinh viên Vienna, người tạo ra cái bánh, sung sướng nhận lời khen ngợi. Sau đó Rubin xin kiếu từ. Năm người Đức giữ anh lại theo phép lịch sự trước khi để anh đi. Sau khi Rubin đi khỏi phòng, họ chuẩn bị nho nhỏ những bài ca Giáng sinh.

Lev Rubin đi ra hành lang, tay ôm một quyển từ điển Mông Cổ – Phần Lan và một quyển tiểu thuyết của Hemingway bằng tiếng Anh.

Hành lang rộng, đường đi lát bằng những phiến gỗ lớn, hai bên vách không có cửa sổ và ở đây đèn điện được thắp suốt đêm. Cũng trong hành lang này trước đây hơn một tiếng đồng hồ, Rubin cùng nhiều tù nhân cũ đứng xúm xít hỏi chuyện những tù nhân mới đến. Một cánh cửa từ chân thang lầu mở ra hành lang này, tiếp đó là nhiều cánh cửa phòng khác.

Cửa phòng và cửa xà lim. Được gọi là phòng vì cánh cửa không có khóa, bị gọi là xà lim vì tên cánh cửa có lỗ lắp kiếng để lính canh có thể đứng ngoài hành lang nhìn vào bên trong. Bọn lính canh ở đây ít khi dùng đến những lỗ nhìn này nhưng người ta vẫn cứ cho đục chúng trên những cánh cửa như trong một nhà tù thực sự theo đúng quy chế nhà tù, vì trên giấy tờ chính thức, nơi này vẫn được gọi là “nhà tù đặc biệt”…

Qua một lỗ nhìn một cánh cửa đó, đêm nay người đi qua hành lang có thể nhìn thấy một cuộc lễ Giáng sinh nữa. Đó là cuộc lễ của nhóm tù nhân Latvia, nhóm người này cũng xin được phép nghỉ làm việc đêm nay để hành lễ.

Tất cả những tù nhân khác đều đi làm việc. Nghĩ đến chuyện này Rubin hơi lo lắng rằng anh có thể bị đưa tới Thiếu tà Shikin để giải thích về sự vắng mặt của anh.

Hai đầu hành lang là hai cánh cửa lớn. Một cửa hai cánh gỗ dẫn vào một nơi trước kia, khi tòa nhà này còn là một giáo đường miền quê chưa bị biến thành nhà giam, là tầng lầu ở trên bàn thờ. Nơi này bây giờ trở thành phòng giam người. Cửa thứ hai bọc sắt kín từ trên xuống dưới, có lính canh và người đứng ngoài không thể tự mở ra để bước vào. Tù nhân gọi cửa này là “Cửa thánh”…

Rubin đi tới trước cánh cửa bọc sắt đó và gõ nhẹ lên khung cửa sổ nhỏ trên đó. Bên trong, khuôn mặt chăm chú, bất động của người lính canh hiện ra sau mặt kiếng.

Chìa khóa xoay nhẹ trong ổ khóa. Người lính này là một ông dễ tính và điều này là một may mắn cho Rubin. Người lính này có thể không cho anh vào phòng làm việc vì đã quá giờ và đưa anh tới gặp thiếu tá Shikin.

Rubin đi lên thang lầu. Hai đường thang làm thành một vòng cung và gặp nhau ở tầng trên. Anh rảo bước dưới cây đèn đồng cổ lỗ đã từ lâu rồi không còn xài được nữa và tới đẩy cánh cửa phòng nghiên cứu đề hàng chữ: ÁM THÍNH.

——————————————————————————–
[1] Dante, đại thi hào của Ý quốc và cũng là một đại thi hào của nhân loại. Ông sống ở Ý quốc giữa hai thế kỷ XIII-XIV. Tên họ của ông là Alighieri Dante, sinh năm 1265, mất năm 1321. Ông viết tập truyện thơ bất hủ La Divine Comédie. Trong tập này ông tả cảnh địa ngục và cảnh con người đau khổ dưới địa ngục. Ông mô tả địa ngục có nhiều tầng. Tác phẩm Tầng đầu địa ngục lấy ý từ La Divine Comédie của Dante.

[2] Vienna, thủ đô Áo quốc. Năm 1945, Hồng quân Nga tiến đánh quân Đức Quốc xã ở đây. Lời nói này có nghĩa là tù nhân nói câu đó từng chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân Nga.

[3] Trong truyện này, Nhà tù là nhà tù Mavrino được tác giả gọi là “sharaskha”. Đó là một tòa nhà lớn ở vùng ngoại ô thành phố cho dễ đi lại được chính quyền cộng sản Nga làm thành nhà tù, trong nhà này chứa những tù nhân kỹ sư, chuyên viên, những người này bị bắt buộc phải làm việc theo khả năng chuyên môn của họ. Đời sống vật chất của họ đỡ khổ hơn ở những nhà tù chính. Vì chỉ có Nga Xô mới có loại nhà tù này nên tiếng Anh không có danh từ tương đương. Bản dịch tiếng Anh vẫn giữ nguyên danh từ “Sharaskha”.

[4] Tù nhân gọi những chiếc xe chuyên chở tù sơn đen, kín mít là xe Maria Đen.

[5] Những câu thơ này được trích trong chuyện thơ dài The Divine Comedy của thi hào Dante

[6] Alexandr Sergeyevitch Pushkin, thi sĩ Nga nổi tiếng, sinh 1799, mất 1837.

Advertisements

7 Responses

  1. Nhà văn Hoàng Hải Thủy kính,
    Tôi muốn đặt mua quyển truyện Tầng Đầu Điạ Ngục .
    Xin cho biết cách đặt hàng.
    Kính cám ơn,
    Trịnh Hữu Thọ

  2. Em vừa mua được cuốn này ở nhà sách Tự Do, San José, giá cả phải chăng là 18 đô.

  3. Kính gởi các bác đọc…thư giãn…

    Vài dòng phi lộ: Xin nói trước rằng đây là bài phản hồi của một độc giả có tên là Trần Thị Bảo Vân chứ không phải của chủ blog. Vì thấy bài dài mà có nhiều điểm rất chí lí nên tôi đăng lên đây để chúng ta cùng học hỏi. Tôi là một trong những người mến mộ Dương Tường, nhưng đó là tình cảm tôi dành cho ông, còn về học thuật thì có lẽ cũng nên xem qua những người trong dịch thuật đánh giá thế nào về những tác phẩm dịch thuật của ông. Chính vì thế tôi đăng lại 3 bài mà người phản hồi nói là từ tienve.org, một website tôi mới nghe nhưng không vào được.
    Ba bài đó là:

    Nghi ngờ về trình độ ngoại ngữ của ông Dương Tường

    Nhã Nam và các tổng biên tập

    Những lỗi dịch trong bản dịch Lolita của Dương Tường

    Đọc qua 3 bài bình luận tôi thấy tác giả đọc kỹ các tác phẩm dịch thuật của Dương Tường. Với vốn liếng tiếng Anh từ những 40 năm trước tôi cũng có thể nói rất nhiều những nhận xét của tác giả hoàn toàn hợp lý, còn những chỗ khác tôi không am hiểu nên chỉ biết học hỏi thêm mà thôi.

    Đọc xong 3 bài tôi thấy người ở trong nước khó có thể am hiểu tiếng Anh được. Có thể dịch giả rất giỏi về văn phạm, nhưng không tiếp xúc với người nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ thì cũng không thể nào biết hết những cách nói, thành ngữ, tục ngữ của tiếng Anh. Những người đi du học cho dù 10 năm hay 20 năm cũng không thể nào am hiểu tiếng Anh như người bản xứ, chứ nói gì đến người đi học có vài ba năm. Còn với những người suốt đời chỉ quanh quẩn ở trong nước như tôi thì làm sao biết tiếng Anh như tác giả 3 bài dưới đây.

    Tôi thích cách phê bình của tác giả Diên Vỹ, vì ông/bà chỉ ra cụ thể và giải thích tại sao sai. Đây là thái độ đáng trân trọng, nhất là trong môi trường người ta nguỵ biện, nói chung chung, tung hoả mù để nói xấu những ai họ không ưa. Tôi rất ghét cách nói chung chung kiểu “Ông ấy có nhiều sai sót” vì đó là cách nói thiếu trách nhiệm của người có học, do người nói không chỉ ra được một điểm gì cụ thể để chứng minh “sai sót”. Cách phê bình như thế chẳng khác gì kiểu tung tin chụp mũ “hắn là một tên phản động”, nhưng không định nghĩa thế nào là phản động, rồi lợi dụng sự tò mò và kém hiểu biết của công chúng để ám hại người ta. Đó là cách phê phán của kẻ tiểu nhân. Tác giả Diên Vỹ thì hoàn toàn nghiêm túc và cẩn trọng trong phê bình & nhận xét. Thiết tưởng đó là thái độ của người có học và đàng hoàng vậy.

    Tuy nhiên, có vài chỗ tôi thấy tác giả hơi cảm tính và tôi không đồng ý. Ví dụ như câu “Tự ông đã tố cáo cái trình độ của ông cho chúng tôi biết tỏng là nó cao siêu cỡ nào”. Nhưng tôn trọng tác giả nên tôi để nguyên văn. Xin nhắc lại đây là loạt bài trong mục phản hồi, chứ tác giả không có gửi cho tôi. Nếu tác giả cảm thấy không thoải mái tôi xin lỗi trước và sẽ rút xuống.

    BSN

    ———————————-

    BÀI 1: NGHI NGỜ VỀ TRÌNH ĐỘ NGOẠI NGỮ CỦA ÔNG DƯƠNG TƯỜNG

    Nếu chỉ có vụ “dòng kẻ bằng những dấu chấm” [1] không thôi thì tôi cũng đã cười lên ruột khi những “quý ông nông nổi giếng khơi” [2] như ông Toàn Phong bảo rằng phải như thế nó mới “lạ hóa, mê đắm, bệnh hoạn, phát rồ, đầy điển cổ, gợi cảm, đầy trực quan, chây bầy chất nghệ, si mê bệnh hoạn, ám ảnh”, [2] hay ông Phạm Anh Tuấn cho rằng “người duy nhất có đủ khả năng phát hiện ra những sai sót trong bản dịch Lolita lại không phải ai khác mà chính là… dịch giả Dương Tường!”, rằng việc chê trách bản dịch Lolita chỉ là “một trận cuồng phong vô duyên”, rằng “nếu Lolita không tạo nên được một trận cuồng phong (có duyên) thì chỉ có thể trách người đọc”. [3] Không biết những người như hai quý ông này đang nghĩ gì khi người ta đang tiếp tục lôi ra hàng đống lỗi dịch nực cười từ cái cuốn “Lolita” ấy? Trên trang webtretho đang phát động một phong trào dịch lại Lolita sao cho phù hợp với cách trình bày tiếng Việt, nếu muốn thì những người như hai ông có thể vào xem để biết thế nào là “chín nẫu tiếng Việt”. [2]

    Nhưng ông Dương Tường không chỉ có “dòng kẻ bằng những dấu chấm”. Cái “miền Columbia” của ông mới buộc tôi phải nghi ngờ về trình độ ngoại ngữ của ông dịch giả này. Nó có giống “cái bồn nước của khu Arsenal” và “cái Thư Viện Rất Lớn” không? Ở đây xin hiểu một cách đương nhiên rằng khi đã nhận mình là dịch giả chuyên nghiệp thì không chỉ có trình độ ngoại ngữ uyên thâm là đủ.

    Theo những gì tôi còn nhớ được, qua đôi lần đọc mấy bài phỏng vấn ông (hồi còn in trên báo giấy) thì ông “tự khai”: chỉ đi học đến hết tiểu học rồi bỏ nhà theo kháng chiến chống Pháp. Trong một lần tấn công đồn, ông nhặt được cả tủ sách tiếng Pháp của viên chỉ huy bỏ lại, nhìn tủ sách thì ông hiểu tại sao thằng tây nó thua ông (???), rồi ông tự học tiếng Anh qua từ điển… Cứ thế, ông trở thành “dịch giả uy tín” hồi nào không hay. Lâu lâu ông lại phán một câu dạy khôn đời:

    – Dịch “L’Etranger” thành “Kẻ xa lạ” thì ai dịch cũng được, kể cả những người mới biết tiếng Pháp, không phải lao động gì cả, phải dịch là “Người dưng”!

    – “À la recherche du temps perdu” phải dịch là “Tìm lại thời gian đã mất” chứ không phải “Đi tìm thời gian đã mất”! [4]

    – “vân vân và vân vân…”

    Để tiện so sánh, tôi xin nêu vài tựa sách đã được xuất bản trước 1975 tại miền Nam đối chiếu với những cái tựa do ông Dương Tường dịch:

    1/ Tựa gốc:

    – Tiếng Đức: Im Westen nichts Neues.

    – Tiếng Anh: All Quiet on the Western Front

    – Tiếng Pháp: À l’ouest rien de nouveau

    * Trước 1975, Tâm Nguyễn dịch : “Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh”

    * Và, Dương Tường dịch: “Phía Tây Không Có Gì Lạ”

    2/ Tựa gốc: “Alexis Zorba”

    * Trước 1975, Nguyễn Hữu Hiệu dịch: “Alexis Zorba, Con Người Chịu chơi”

    * Và, Dương Tường dịch: “Alexis Zorba, Con Người Hoan Lạc”

    3/ Tựa gốc: “Wuthering Heights”

    * Trước 1975, Nhất Linh và Nguyễn Tường Thiết dịch: “Đỉnh Gió Hú”

    * Và, Dương Tường dịch: “Đồi Gió Hú”

    4/ Tựa gốc: “L’étranger”

    * Trước 1975:

    – Võ Lang dịch: “Người Xa Lạ”

    – Dương Kiền và Bùi Ngọc Dung dịch: “Kẻ Xa Lạ”

    – Lê Thanh Hoàng Dân và Mai Vinh Phúc dịch: “Kẻ Xa Lạ”

    * Và, Dương Tường dịch: ” Người Dưng”

    5/ Tựa gốc: “Gone with thi wind”

    * Trước 1975, Vũ Kim Thư dịch: “Cuốn Theo Chiều Gió”

    * Và, Dương Tường dịch: “Cuốn Theo Chiều Gió”.

    Tôi không rõ có bao nhiêu tác phẩm dịch ký tên Dương Tường, nhưng qua vài cuốn nêu trên thì có thể thấy Dương Tường không phải là người dịch đầu tiên. Các tác phẩm đó đã được dịch rất thành công ở miền Nam trước 1975. Ông Dương Tường hoàn toàn có quyền không đồng ý với cách dịch của các dịch giả trước ông và làm theo cách của riêng ông, nhưng ông đừng có thái độ dè bỉu như vậy khi ông nói về họ là “ai dịch cũng được, kể cả những người mới biết tiếng Pháp, không phải lao động gì cả”. Thử hỏi các ông Tâm Nguyễn, Nguyễn Hữu Hiệu, hay Lê Thanh Hoàng Dân có vừa dịch vừa đá giò lái đồng nghiệp rằng “dịch như vậy ai dịch cũng được” như ông Dương Tường hay không, rằng đồng nghiệp của họ chỉ là một đám “không phải lao động gì cả” hay không? Tức là chỉ có ông Dương Tường mới đang lao động, mới đáng kể thôi sao? Vậy đã có cuốn sách dịch nào ký tên ông mà hay bằng (chứ đừng nói hay hơn) những dịch phẩm đã được in ở miền Nam trước 1975 chưa? Tôi xin có lời nhắn với ông Dương Tường rằng khi nhắc đến miền Nam và những thành quả của nó, những người miền Bắc như ông nên có thái độ trọng thị để tỏ ra các ông là những người có văn hóa. Nếu ông thực sự có tinh thần cầu thị như ông nói[4] thì ông hãy làm được cái việc đơn giản nhất là tôn trọng đồng nghiệp đi đã.

    Văn minh miền Nam nói chung, dịch phẩm miền Nam nói riêng đã đi vào lòng cả một thế hệ người Việt và tạo nên những tinh hoa mà tôi e rằng một trăm năm nữa nước Việt cũng chưa chắc tìm lại được. Ông Dương Tường dường như không làm gì khác hơn là nặn ra một cái na ná rồi kêu lên: cái này mới được nè! Cái gì không nặn ra được na ná thì ông bảo ông không thích, vì như thế là sai(?). Thử hỏi “Mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh” với “Phía tây không có gì lạ” thì cái nào hay, cái nào ngô nghê? Đúng là chỉ có những người không phải lao động gì cả mới đổi nguyên xi “À l’ouest rien de nouveau” ra “Phía tây không có gì lạ” thôi! Độc giả có thể đề xuất một cuộc thi dịch lại các tựa sách rồi bình chọn xem đâu là những tựa hay ho, bay bổng, xác đáng văn chương, ví dụ như “Gone with the wind” được dịch thành “Cuốn theo chiều gió” mà sai và không hay thì như thế nào mới là đúng và hay?

    Các khái niệm “kẻ xa lạ” và “người dưng”, “đi tìm” và “tìm lại”, “đỉnh gió hú” và “đồi gió hú”, “con người chịu chơi” và “con người hoan lạc”, “cuốn theo chiều gió” và … “cái ông Dương Tường chưa nghĩ ra”, xin nhường lời cho người đọc bình luận.

    Trong một bài trả lời phỏng vấn đăng trên vietnamnet ngày 21/04/2012, ông Dương Tường cho biết ông thích làm việc với bản tiếng Pháp của tác phẩm hơn bản tiếng Anh.[4] Điều này dễ hiểu, bởi tiếng Pháp thì ông còn được thực dân dạy cho đến hết tiểu học, chứ tiếng Anh thì ông chỉ tự học mò qua từ điển trong thời chiến tranh. Hẳn ai cũng còn nhớ rằng trong thời nội chiến nam bắc 1954-1975, người dân miền bắc có thể bị giam cầm không cần xét xử, không biết ngày về chỉ vì họ biết tiếng Pháp hay tiếng Anh. Hai thứ tiếng đó bị coi là “tiếng địch”, biết để làm gì nếu không phải để làm gián điệp, nên bị cấm có mặt trong đời sống hằng ngày. Nhà cầm quyền miền bắc chỉ cho phép học tiếng Nga ở một số đối tượng hạn chế như nhà báo hay sinh viên mà thôi.

    Có một điều mà mọi dịch giả đều công nhận: việc dịch thuât từ tác phẩm nguyên gốc sẽ tạo ra dịch phẩm tốt hơn so với việc dịch lại từ một ngôn ngữ thứ ba. Nhưng vì sao nhiều dịch giả miền Nam trước 1975 đã dịch các tác phẩm của Nga, Đức, Ý… chỉ qua bản tiếng Anh hay Pháp, vậy mà họ vẫn dịch được rất hay? Bởi lẽ họ được hưởng một nền giáo dục tự do tư tưởng đúng nghĩa, và họ đã làm công việc dịch thuật với đầy đủ tinh thần trách nhiệm vì người đọc. Đáng tiếc cho ông Dương Tường không được hưởng nền giáo dục đó nên ông đã cho ra những dịch phẩm “chây bầy chất nghệ”, vì ông đã tự nhận rằng tiếng Pháp ông vững hơn (hơn tiếng Anh của ông mà thôi).

    Ngày bắc tràn vô nam để “nâng đời sống miền nam lên cho bằng miền bắc” không xong đành phải mở cửa cho “thực dân đế quốc ngoại bang” vô “nâng phụ một tay”, nhìn lại thì đám học thật dịch thật đã bị đào tận gốc trốc tận rễ hết rồi, đâu còn mấy ai dịch được bằng 2 thứ tiếng “thực dân – đế quốc” đó nên “ở xứ mù thằng chột làm vua”, người ta thổi ông lên thành dịch giả tên tuổi, thành người thông thạo văn hóa Âu Mỹ và lờ tịt đi những bản dịch ở miền Nam, cứ như thể không có ông thì dân tình xứ này sẽ ngu hết á! Được tâng bốc thì ông cũng khoái nên thây kệ năng lực thật sự của mình, ông cứ chui vào cái áo rộng rinh chẳng vừa với ông chút nào. Đến “District of Columbia” ông cũng không biết thì ông thông thạo văn hóa Mỹ như kiểu gì, đây là kiến thức sơ đẳng mà. Hay là ông không biết cách tra cứu trên internet? Ông thử hỏi những người mới biết tiếng Anh không phải lao động gì cả xem có ai bảo đấy là cái “miền Columbia” như ông không? Tự ông đã tố cáo cái trình độ của ông cho chúng tôi biết tỏng là nó cao siêu cỡ nào, “District of Columbia” ai dịch cũng được mà ông lại dịch không được?????

    Từ cái lỗi sơ đẳng đó khiến tôi phải đặt câu hỏi, có lẽ nào những cuốn được coi là dịch phẩm của ông xưa nay chỉ là những thứ ông “xào nấu” lại từ bản dịch ở miền Nam trước 1975, và nếu có “hâm” lại thì ông chỉ “hầm” trên bản tiếng Pháp mà thôi, rồi ông thay cái tựa, ông “thêm mắm thêm muối” vài chỗ, là xong? Chỉ đến hôm nay ông vớ phải một cuốn mới toanh, chẳng có cái gì để dựa dẫm, lại là bản tiếng Anh nguyên con như “Lolita” nên sự thật mới lòi ra?

    Nói thật là tôi không thể tin vào một ông làm thì chẳng có gì hay mà miệng thì luôn chê bai người khác. Nếu ông là người có năng lực thật sự thì sao ông không chọn những tác phẩm mới để dịch, mà ông chỉ xào xáo lại những thứ đã có rồi luôn miệng phủ nhận cái người khác đã làm trước ông như vậy? Việc dịch như thế nào là việc của ông, còn đánh giá như thế nào là việc của độc giả, tại sao ông cứ phải vừa đá bóng vừa thổi còi vừa rao bán vé? Chỉ mới bắt tay vào dịch “À la recherche du temps perdu” thôi, chưa biết kết quả sẽ như thế nào (ai dám cam đoan sẽ không là một “cái miệng nam tiến” nữa?), mà từ bây giờ ông đã phải mất công quảng cáo rằng tôi dịch thế này thế nọ với người đó người kia, chi vậy? Đến tận bây giờ là năm 2012 rồi mà các ông vẫn còn muốn biện hộ theo cái lối “lấy cần cù bù thông minh”: ông lấy con số 2 năm cặm cụi ở cái tuổi 80 để làm giấy chứng nhận cho một bản dịch, ông hậu sinh khả úy Cao Việt Dũng của ông lấy “4 lần xem đi xem lại” để chứng tỏ sự cẩn trọng. Thưa ông rằng những con số đó đối với độc giả không có giá trị. Họ đủ nhạy bén và thông minh để phát hiện ra ngay những cục sạn to đùng mà chẳng cần gì tới 2 năm hay 4 lần cả. Vậy nên đừng nói 2 năm, dẫu có tốn 20 năm mà người nấu đã vụng thì món ăn vẫn cứ dở chứ chẳng cách nào thành ngon được.

    Ông Dương Tường đang được xưng tụng ở Việt Nam theo kiểu ở trên đã cho ông là lão thành đáng kính thì ở dưới không ai được “nói đụng” tới ông, bởi vậy mà các tờ báo trong nước đều không dám nói ông sai, ông dốt, mà có chăng chỉ là “chưa đúng cần chỉnh sửa” (giống như không phải có nhiều trẻ em bỏ học mà là chúng “tự nguyện không đến trường”, không phải thanh niên thất nghiệp mà là “chưa được bố trí việc làm”, không phải dân oan biểu tình mà là “quần chúng khiếu kiện đông người”, vân vân và vân vân…). Vậy nên dù sự thật về ông Dương Tường có thế nào đi nữa thì chắc cũng chỉ có một mình ông biết, bất cứ ai dám nói ông cũng đều là tấn công cá nhân chẳng đáng màng tới, như thể ông đang ngồi rung đùi thách thức sau khi vừa chỉnh tề khăn áo ra mắt kiệt tác dịch dọt của ông rằng “còn cả chục lỗi cần sửa đó (đố chúng mày tìm ra!)”. Âu đó cũng là một thực trạng không có gì lạ ở đất nước này.

    Diên Vỹ

  4. NHỮNG LỖI DỊCH TRONG BẢN DỊCH LOLITA của DƯƠNG TƯỜNG

    – Tác giả: LINH HƯƠNG ( Lavender ) – nguồn: Tiền vệ.org.

    Ngoài những lỗi dịch ngay trong các dòng đầu tiên của bản dịch Lolita của cụ Dương Tường mà mọi người đã chỉ ra (Miền Columbia, dòng kẻ bằng những dấu chấm,…) còn nhiều lỗi khác, mà tôi sẽ dần dần thống kê lại trong các bài viết sau. Hiện nay tôi chưa đọc được hết toàn bộ bản dịch, nhưng trong những chương đầu cũng rất nhiều vấn đề. Bài đầu tiên này tôi xin phép đề cập đến các lỗi dịch sai từ, làm hỏng toàn bộ câu văn.

    Ví dụ 1:

    Chương 2:

    Nguyên bản:

    Elderly American ladies leaning on their canes listed towards me like towers of Pisa. Ruined Russian princesses who could not pay my father, bought me expensive bonbons.

    Bản dịch DT:

    Những bà già người Mĩ chống gậy ngả người về phía tôi như những tòa tháp nghiêng Pisa. Những bà quận chúa Nga lụn bại, không còn khả năng để bao cha tôi, mua cho tôi những gói kẹo đắt tiền.

    Lời bình: Những bà quận chúa Nga không trả được tiền thuê khách sạn cho cha của Humbert (ông là chủ của khách sạn), chứ đâu phải là trai bao, là điếm đực đâu, mà lại nhận tiền bao của phụ nữ? Dịch thế này làm cho người đọc có ấn tượng xấu về cha của Humbert và hiểu nhầm về tuổi thơ của anh ta (sống cùng người cha là trai bao)

    Ví dụ 2:

    Chương 3, ngay dòng đầu tiên:

    Nguyên bản:

    Annabel was, like the writer, of mixed parentage: half-English, half-Dutch, in her case.

    Bản dịch DT:

    Giống như tác giả những dòng này, Annabel cũng là con lai: bố Anh, mẹ Hà Lan.

    Lời bình: Tác giả viết Annabel là con lai, nửa Anh, nửa Hà Lan. Tại sao phải dịch thành bố Anh, mẹ Hà Lan?

    Ví dụ 3:

    Chương 3:

    Nguyên bản:

    and then I see Annabel in such general terms as: “honey-colored skin,” “think arms,” “brown bobbed hair,” “long lashes,” “big bright mouth”

    Bản dịch DT:

    tôi hình dung Annabel dưới dạng vẻ có thể mô tả bằng những từ chung chung như: “da mật ong”, “hai cánh tay mảnh dẻ”, “tóc nâu bồng”, “mi dài”, “miệng rộng tươi rói”)

    Bình luận: Bobbed hair là tóc ngắn, không hiểu dịch giả nhầm thế nào qua tóc bồng?

    Ví dụ 4:

    Chương 5, ngay dòng đầu tiên,

    Nguyên bản:

    The days of my youth, as I look back on them, seem to fly away from me in a flurry of pale repetitive scraps like those morning snow storms of used tissue paper that a train passenger sees whirling in the wake of the observation car. In my sanitary relations with women I was practical, ironical and brisk.

    Bản dịch DT:

    Những ngày thanh xuân của tôi, khi tôi nhìn lại, dường như bay khỏi tôi trong một xoáy lốc những mảnh nhờ nhạt lặp đi lặp lại không cùng, tựa những mớ giấy lụa nhàu nát quay cuồng thành một cơn bão tuyết ban mai mà một hành khách ngồi toa quan sát(1) có thể nhìn thấy phấp phới đằng sau đoàn tàu. Trong những quan hệ mang tính vệ sinh với đàn bà, tôi bao giờ cũng thực dụng, mỉa mai và nhanh gọn.

    Lời bình: Dịch sai chữ used (dùng rồi), thành nhàu nát. Làm hỏng cái hay của đoạn văn. Nabokov ví von các quan hệ của Humbert với phụ nữ chỉ mang tính vệ sinh, và ký ức về những cái quan hệ đó giống như những mảnh giấy vệ sinh, giấy lau dùng rồi, bay như cơn bão sau toa tàu. Trên cái nền ký ức không sạch sẽ đó, thì hình ảnh Lolita và các tiểu nữ thần mới hiện lên trong sáng và đẹp đẽ. Dịch thành nhàu nát vừa sai, vừa dở.

    Ví dụ 5:

    Chương 5,

    Nguyên bản:

    Overtly, I had so-called normal relationships with a number of terrestrial women having pumpkins or pears for breasts

    Bản dịch DT:

    Bề ngoài, tôi có những quan hệ gọi là bình thường với một số phụ nữ trần tục vú to như quả bầu hay trái lê;

    Lời bình: pumpkin là quả bí ngô, không hiểu sao dịch thành quả bầu! Nên dịch thành “phụ nữ trần tục vú như quả bí ngô hay trái lê”, vì ý Nabokov nói là HH quan hệ với nhiều loại phụ nữ khác nhau, có người vú (to) như quả bí ngô, có người (nhỏ) như trái lê.

    Ví dụ 6:

    Ngay đầu chương 6,

    Nguyên bản:

    Had I not somehow tampered with her fate by involving her image in my voluptas? Oh, it was, and remains, a source of great and terrible wonder.

    Bản dịch DT:

    Cách nào đó, liệu tôi có tác động gì đến số phận của em bằng việc lồng hình ảnh em vào những khoái lạc của tôi? Ôi, điều đó, đối với tôi, đã và vẫn còn là một nguồn tạo ra sự kì diệu lớn lao và đáng sợ.

    Lời bình: Wonder ở đây không có nghĩa kỳ diệu. Ngoài nghĩa tra từ điển ra là kì diệu, kì quan như Vịnh Hạ Long, thì nó còn nghĩa hay dùng khác là sự ngạc nhiên, sự kinh ngạc, sự hoài nghi! ( I wonder how, I wonder why). Và ở chỗ này, Nabokov dùng great and terrible wonder với nghĩa sự hoài nghi to lớn và đáng sợ (vì đang lo lắng “liệu tôi có tác động gì đến số phận của em…”). Sự kì diệu thì liên quan gì ở đây?

    Ví dụ 7:

    chương 8:

    Nguyên bản:

    and presently, instead of a pale little gutter girl, Humbert Humbert had on his hands a large, puffy, short-legged, big-breasted and practically brainless baba.

    Bản dịch DT:

    thay vì một gái vỉa hè trắng trẻo, Humbert Humbert phải hứng trên tay một cái baba* (bánh baba) bự, phốp pháp, chân ngắn, vú to và hầu như rỗng óc.

    Lời bình: Một cái bánh làm sao mà chân ngắn vú to và rỗng óc được? Baba ngoài nghĩa là một cái bánh ra, nó còn nghĩa rất hay được dùng (cả trong tiếng Pháp và tiếng Nga) để chỉ một người phụ nữ già, hay là một phụ nữ nói chung, với nghĩa xấu.

    Ví dụ 8:

    Đầu chương 8,

    Nguyên bản:

    Although I told myself I was looking merely for a soothing presence, a glorified pot-au-feu, an animated merkin,

    Bản dịch DT:

    Mặc dù tôi tự bảo mình chỉ kiếm tìm một sự hiện diện có tính xoa dịu, một pot-au-feu* (món thịt hầm) nâng cấp, một nạm lông hĩm giả linh hoạt,

    Lời bình: Merkin có nhiều nghĩa, trong đó nghĩa phổ biến nhất là túm lông giả cho bộ phận sinh dục nữ (và thậm chí cả nam). Ngày xưa gái điếm hay cạo hết lông vùng kín, và khi bị bệnh (lậu, giang mai) thì họ đeo túm lông giả này để che đi các vết thương ở bộ phận sinh dục. Ngày nay, merkin còn là một món trang sức, một phụ kiện thời trang cho một số người, trong một số trường hợp đặc biệt nào đó.

    Tuy nhiên ngoài nghĩa trên, nó còn có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ giả, thậm chí có một nghĩa hẹp nữa, nói lóng về người Mỹ (American). Trong văn cảnh này, thì cụ Dương Tường chỉ tra từ điển thấy cái nghĩa hay dùng nhất của merkin, nhưng chữ cụm lông hĩm giả linh hoạt khó hiểu và chẳng liên quan gì đến hình dung của một người đàn ông (như Humbert) về vợ. Nghĩa của merkin ở đây là bộ phận sinh dục nữ giả, và animated markin, có thể coi là một cái bím (hĩm, bướm, lxx,…) giả sống động. Ý của Nabokov là gì? Người đàn ông độc thân và ám ảnh tình dục bệnh hoạn như Humbert, luôn đi tìm sự thoả mãn tình dục qua gái điếm và sex toy (bao gồm những cái bím giả). Khi anh ta đi lấy vợ, thì một trong những cái anh ta muốn tìm kiếm, là một cái bím sống động, chứ không phải nhàm chán đơn điệu như những cái bím giả kia.

    Ngoài ra, dịch soothing presence thành một sự hiện diện có tính xoa dịu, vừa thừa chữ một, vừa không thoát ý. Dịch a glorified pot-au-feu thành một món thịt hầm nâng cấp, cũng khó hiểu, và không đúng nguyên bản.

    Đây mới chỉ là các lỗi lớn thuộc nhóm lỗi hiểu sai từ, ngay trong vài chương đầu tiên của Lolita. Chắc hẳn nếu đọc tiếp thì sẽ còn nhiều lỗi dạng này nữa. Bài sau tôi sẽ đi vào những lỗi “dịch mà như chưa dịch” của bản dịch Lolita hiện nay.

    Ngoài nhóm lỗi dịch sai hoàn toàn từ tiếng Anh, làm cho câu văn khó hiểu và lủng củng, mà tôi đã liệt kê một số ví dụ trong phần 1, thì bản dịch Lolita của ông Dương Tường có nhiều lỗi nhóm 2, tôi xin phép gọi là nhóm lỗi dịch mà như chưa dịch. (Mượn lời ông Nguyễn Văn Dân – Chủ tịch Hội đồng Văn học dịch, Hội Nhà văn Việt Nam – trong bài viết “ Về vấn đề sáng tạo trong dịch thuật”)[*]. Những lỗi này dễ gây tranh cãi, vì thực ra tiếng Anh rất đa nghĩa, khi dịch giả dùng một trong những từ tương đương trong từ điển để chuyển ngữ, thì khi bị phê phán, họ sẽ bao biện lỗi dịch bằng nhiều cách ngụy biện, ví dụ như nói rằng dịch như thế mới đúng với nguyên bản! Người đọc cần suy nghĩ, tư duy để cố gắng hiểu! Tuy nhiên dịch thế nào thì cũng phải nghĩ đến độc giả. Nếu độc giả không thể hiểu nổi dịch giả viết cái gì, thậm chí hiểu sai ý của bản gốc, thì tức là dịch chưa đạt.

    Câu dịch “trên dòng kẻ bằng những dấu chấm” nổi tiếng như là một ví dụ điển hình cho phong cách dịch kiểu này của ông Dương Tường trong Lolita, tuy nhiên trong bản dịch này còn khá nhiều ví dụ tương tự, tôi xin liệt kê một số ví dụ, theo tôi là lỗi không thể chấp nhận được, như sau:

    Ví dụ 1:

    Nguyên bản tiếng Anh, chương 4:

    She would try to relieve the pain of love by first roughly rubbing her dry lips against mine; then my darling would draw away with a nervous toss of her hair, and then again come darkly near and let me feed on her open mouth,

    Bản dịch của Dương Tường:

    Em ráng làm dịu bót nỗi khắc khoải yêu đương, trước hết bằng cách chà mạnh cặp môi khô vào môi tôi; rồi người yêu dấu của tôi rời ra với một động tác bồn chồn , hất ngược tóc ra sau gáy, rồi lại lầm lì xáp tới, hé miệng cho tôi ngốn thỏa thuê

    Lời bình: Chữ nervous này là bổ ngữ cho hất tóc (toss), chứ không phải cho động tác rời ra của Lolita như ông Dương Tường dịch. Và ở đây chữ nervous có nghĩa là mạnh mẽ, dứt khoát,… chứ không phải là bồn chồn. Vì biết là bồn chồn thì khó mà bổ ngữ cho hất tóc, nên ông Dương Tường ném nó qua cho động tác khác của Annabel! Tham khảo thêm bản tiếng Nga: (chữ порывистым thay cho chữ nervous trong bản tiếng Anh)

    Она старалась унять боль любви тем, что резко тёрла свои сухие губы о мои, но вдруг отклонялась с порывистым взмахом кудрей, а затем опять сумрачно льнула и позволяла мне питаться её раскрытыми устами,

    Ví dụ 2:

    Nguyên bản tiếng Anh, chương 10, trong đoạn văn ông McCoo đề nghị Humbert chuyển qua ở nhà bà Haze, vì nhà ông ta vừa bị cháy. Ba nhân vật trong cảnh này là ông McCoo, ông Humbert và người lái xe da đen.

    Possibilities of sweetness on technicolor beaches had been trickling through my spine for some time before, and McCoo’s cousin had, in fact, sharply diverted that train of thought with his well-meaning but as it transpired now absolutely inane suggestion .

    Bản dịch của ông Dương Tường:

    Từ ít lâu nay, triển vọng về những giờ phút êm đềm trên những bãi biển đầy màu sắc rực rỡ đã róc rách suốt dọc sống lưng tôi và người bà con của McCoo , trên thực tế, đã làm lệch dòng suy nghĩ ấy bằng cái đề xuất thiện ý nhưng giờ đây hóa ra hoàn toàn ngu xuẩn của ông ta.

    Lời bình: Người bà con của McCoo thì liên quan gì ở đây? Không hiểu? Có phải đó là anh nhân viên cũ (được nói đến ở đầu chương) hay không? Mà tại sao anh nhân viên cũ này không biết từ đâu lại nhẩy xổ vào đây để đề xuất với Humbert cái gì? Đọc tiếng Việt hàng chục lần vẫn không hiểu gì hết! Thực ra đây chính là ông McCoo, chứ có phải bà con nào của ông ấy đâu. Ông McCoo đang thiện ý đề xuất với Humbert chuyển qua ở nhà bà Haze, nhưng ông Humbert thì đang cáu kỉnh vì đang muốn ở nhà ông McCoo để còn cơ hội vuốt ve sờ mó đứa con gái 12 tuổi của ông ấy cơ!

    Chỗ này nên dịch là:

    […]và ông McCoo , trên thực tế, đã làm lệch dòng suy nghĩ ấy […]

    Ví dụ 3:

    Nguyên bản tiếng Anh, chương 10, khi Humbert lần đầu gặp Lolita:

    I was still walking behind Mrs. Haze though the dining room when, beyond it, there came a sudden burst of greenery–”the piazza ,” sang out my leader, and then, without the least warning, a blue sea-wave swelled under my heart and, from a mat in a pool of sun, half-naked, kneeling, turning about on her knees, there was my Riviera love peering at me over dark glasses.

    Bản dịch Dương Tường:

    Tôi còn đang đi theo bà Haze qua khỏi phòng ăn, thì bỗng thấy bừng lên cả một khoảng xanh rờn cây lá – “piazza”(1) , người dẫn đường của tôi reo lên, và rồi, bất thình lình, không hề có dấu hiệu nhỏ nào báo trước, một con sóng xanh trào dâng dưới tim tôi và kìa, quì trong một vũng nắng, gần như khỏa thân, xoay mình trên hai đầu gối, người yêu dấu ở bãi biển Riviera của tôi đang dõi mắt nhìn tôi bên trên cặp kính râm.

    (1) Quảng trường.
Lời bình: Ông Dương Tường để nguyên chữ piazza, và chú thích dưới chân trang, rằng nó có nghĩa là quảng trường. Mới đọc thì thấy cũng ổn ổn, vì nó liên quan đến khoảng xanh rờn cây lá. Có lẽ Humbert đang đi cùng bà Haze qua khỏi phòng ăn, thì thấy cái quảng trường rất nhiều cây. Như vậy thì nhà bà Humbert nằm ngay cạnh quảng trường chăng? Và quảng trường ở Tây nó cũng sát nhà dân như là ở Việt Nam nhà chúng mình chăng? Suy đoán đủ các phương án, lại thấy có gì đó không ổn, vì bé Lolita đang gần như khỏa thântrong vũng nắng thì liên quan gì đến quảng trường nhỉ, chẳng lẽ bé nằm tơ hơ ở quảng trường? Mà nếu như thế, thì tại sao đoạn văn sau, Nabokov lại viết là:

    Tôi chỉ biết rằng trong khi bà Haze và tôi bước xuống các bậc dẫn vào khu vườn, hổn hển, đầu gối tôi chỉ còn là bóng của đầu gối phản chiếu trong làn nước lăn tăn, và môi tôi khô như cát, và…

    “Đây là Lo của tôi,” bà nói, “và đây là những bông huệ của tôi”.

    “Vâng,” tôi nói, “vâng. Rất đẹp, rất đẹp, rất đẹp!”

    Ông Dương Tường có lẽ tra từ điển thấy chữ piazza có nghĩa là quảng trường (google hình ảnh chữ Pizza thì sẽ thấy rất nhiều quảng trường), nhưng trong tiếng Mỹ, piazza còn có nghĩa là veranda – cái hiên nhà, nhìn ra vườn, thường là có mái che. Ông Dương Tường dịch cái hiên nhà thành quảng trường, thì chắc là người đọc không thể nào hình dung ra được khung cảnh lãng mạn lúc Humbert gặp Lolita lần đầu, và sẽ thấy đoạn văn này đầu Ngô mình Sở, ở trên là quảng trường, mà bước xuống mấy dòng thì thấy cái vườn!

    Ví dụ 4:

    Bản dịch của Dương Tường, cuối chương 10:

    Tôi chỉ biết rằng trong khi bà Haze và tôi bước xuống các bậc dẫn vào khu vườn, hổn hển , đầu gối tôi chỉ còn là bóng của đầu gối phản chiếu trong làn nước lăn tăn, và môi tôi khô như cát, và…

    “Đây là Lo của tôi,” bà nói, “và đây là những bông huệ của tôi”.

    “Vâng,” tôi nói, “vâng. Rất đẹp, rất đẹp, rất đẹp!”

    Theo ông Dương Tường dịch, thì độc giả sẽ hình dung ra Humbert thở hổn hển đi xuống cầu thang cùng bà Haze, vì quá khao khát bé Lolita đang bán khoả thân dưới vườn (chứ không phải quảng trường như ông Tường dịch sai nhé). Nhưng đọc thấy vô lý quá, vì Humbert vừa nhìn thấy con gái nhà người ta đã thở hổn hển thế, làm sao mà người phụ nữ, người mẹ như bà Haze không nhận ra được? Mà nhận ra thằng thuê nhà nó dâm đãng thế, thì chắc chắn bà ấy đuổi luôn rồi, làm sao có chuyện lấy nó làm chồng (trong những chương sau)).

    Nguyên bản tiếng Anh thế này:

    All I know is that while the Haze woman and I went down the steps into the breathless garden , my knees were like reflections of knees in rippling water, and my lips were like sand, and

    “That was my Lo,” she said, “and these are my lilies .”

    “Yes,” I said, “yes. They are beautiful, beautiful, beautiful.”

    Xem bản tiếng Anh thấy ông Dương Tường lại dịch sai! Breathless tra google thì nó ra một nghĩa là hổn hển, vâng ạ! Nhưng mà nó còn vài nghĩa khác, ở đây breathless là định ngữ cho garden, chứ không phải là cho ông Humbert. Và breathless garden có thể hiểu là một cái vườn đẹp đến ngạt thở, (vì có bé Lolita gần như trần truồng đeo kính râm nằm đó, sao không đẹp ngạt thở cho được!).

    Ngoài chỗ dịch quá sai này, ông Dương Tường chuyển ngữ câu này cũng kém: “That was my Lo,” she said, “and these are my lilies.” Nghe rất là ngân nga, Lo – Li. Tuy nhiên ông dịch thành: “Đây là Lo của tôi,” bà nói, “và đây là những bông huệ của tôi”. – hết sức là tầm thường và thô thiển. Thực ra Lilies nên dịch thành Hoa Li Ly, vừa dễ hiểu và vẫn giữ được phần nào cái hay của nguyên bản.

    Ví dụ 5:

    Nguyên bản tiếng Anh, chương 10:

    With awe and delight (the king crying for joy, the trumpets blaring, the nurse drunk) I saw again her lovely indrawn abdomen where my southbound mouth had briefly paused; and those puerile hips on which I had kissed the crenulated imprint left by the band of her shorts

    Bản dịch Dương Tường:

    Vừa sợ vừa sướng (đức vua khóc vì vui mừng, kèn đồng vang dậy, bà nhũ mẫu say mèm), tôi lại nhìn thấy làn bụng yêu kiều của em thót vào ở chỗ cái miệng Nam tiến của tôi thoáng dừng lại; và cặp hông trẻ thơ trên đó tôi đã hôn lên vết lằn do dải nịt quần soọc của em để lại

    Lời bình: Trong đoạn văn này, Nabokov miêu tả Humbert đang vuốt ve Lolita bằng mắt, từ trên xuống dưới, và dừng lại khi gặp làn da bụng dưới của cô bé.

    Người Mỹ và người châu Âu (kể cả Nga), sống trên vùng trên của Bán cầu Bắc, gần Bắc cực, nên với họ, southbound – đi về phía Nam cũng có nghĩa là đi xuống phía dưới. Còn với người Việt thì chữ Nam tiến gợi nhớ đến ký ức về những cuộc chiến tranh, chẳng có người Việt nào hình dung được Nam tiến là… đi xuống phía dưới!

    Ví dụ 6:

    Chương 25, nguyên bản tiếng Anh:

    stature, fifty-seven inches; weight, seventy-eight pounds; figure, linear; intelligence quotient, 121; vermiform appendix present , thank God.

    Bản dịch Dương Tường:

    chiều cao, một mét bốn mươi lăm; cân nặng ba mươi sáu kí; dáng thanh mảnh; chỉ số IQ, 121; có ruột thừa hình con sâu, đội ơn Chúa.

    Lời bình: Trong đoạn văn này, Humbert miêu tả về Lolita như trong một hồ sơ khám sức khỏe, liệt kê chiều cao cân nặng, số đo các vòng, chỉ số IQ, và khôi hài một cách rất dâm đãng, nói rằng vermiform appendix present, thank God. Đọc câu văn này có thể hiểu là Lolita rất đẹp và hoàn hảo, thậm chí vết sẹo mổ ruột thừa ở bụng dưới cũng chưa có (vì thế ruột thừa mới còn nguyên). Dịch như ông Dương Tường thì người đọc rất băn khoăn, vì ai mà chẳng có ruột thừa, chẳng lẽ ruột thừa của Lolita có hình con sâu, còn của người khác thì hình con giun, con dế hay con bọ cạp chăng? Chỗ này nếu hiểu ý tác giả, thì dịch giả nên dịch thành:

    chiều cao, một mét bốn mươi lăm; cân nặng ba mươi sáu kí; dáng thanh mảnh; chỉ số IQ, 121; ruột thừa hình con sâu, vẫn còn, đội ơn Chúa.

    Bài viết đến đây đã khá dài, để tiện theo dõi, tôi xin phép bổ sung thêm ví dụ trong bài sau.

  5. Link đến ebook bản dịch Lolita:
    http://www.e-thuvien.com/forums/showthread.php?t=49059

  6. BÀI 2: NHÃ NAM VÀ CÁC TỔNG BIÊN TẬP

    MIỀN DỊCH HẠCH

    Như tôi được biết, trước khi có sách bị thu hồi ông Cao Việt Dũng là trưởng ban dịch thuật của công ty Nhã Nam, nay chức vụ này do ông Trần Tiễn Cao Đăng chịu trách nhiệm. Trong bài này tôi xin trình bày vài suy nghĩ của tôi về hai người, một người đã và một người đang, ngồi ở vị trí này; sau đó là về công ty nơi họ đang làm việc.

    2.1 Ông Cao Việt Dũng

    Tôi đã phải rất đắn đo trước khi viết về ông bởi lẽ tôi thực sự không muốn đào bới thêm vết thương (nếu có) trong ông lúc này. Nhưng tôi nhận thấy trên thực tế ông đã chọn thái độ đứng ngoài cuộc mổ xẻ này từ đầu và nay lại tiếp tục miệt mài với công việc mà ông cho là đáng quan tâm hơn: blogging. Do đó, là một người đã từng đánh giá cao ông, tôi thấy mình hoàn toàn có quyền trình bày những suy nghĩ dưới đây.

    Tôi đã từng rất hy vọng ở ông với tuổi trẻ, tài cao, học rộng (Google cho biết: ông mười bốn tuổi đã dịch “Sản nghiệp nhà Rougon”, học cấp 3 tại trường chuyên Hà Nội-Amsterdam, tốt nghiệp đại học Ngoại thương rồi du học Pháp tại École Normale Supérieure de Paris [nơi Phạm Duy Khiêm và Trần Đức Thảo từng theo học] và Đại học Sorbonne) ông đã không chọn con đường trở thành giám đốc như bao người mà lại chọn con đường dịch thuật với đủ mọi thách thức và thua thiệt. Tôi đã từng mơ: với ông người ta có thể thấy lại một Bùi Giáng hay một Phạm Công Thiện. Nhưng hôm nay thì tôi đành phải hết sức thất vọng mà đặt câu hỏi về ông như thế này: Làm sao mà một người có trình độ học vấn như ông lại có thể phạm những lỗi ngớ ngẩn đến như vậy về Việt văn và Pháp văn? [1] Tôi xin cam đoan rằng nếu có phải giả bộ ngốc nghếch thì tôi cũng không thể nào viết ra được những câu văn gây cười như thế bằng tiếng mẹ đẻ. Hai “cái trường rất lớn” ở Hà Nội có thể tuyển ông vào học, các nhà xuất bản trong nước có thể ẩu tả in sách của ông, bảy trăm tờ báo trong nước có thể hùa theo tán tụng ông, những việc này không có gì lạ. Nhưng chẳng lẽ cả hai cái trường danh tiếng thế giới kia cũng u mê mà cấp học bổng và công nhận tốt nghiệp cho một người không vững văn phạm, không phân biệt nổi đâu là động từ être, đâu là động từ suivre, không biết “le bassin de l’Arsenal” là bến thuyền, “un grenier avec une verrière” là cái tầng áp mái, “la Très Grande Bibliothèque” là Thư Viện Quốc Gia hay sao? Ai có thể tin nổi?

    Vậy nên tôi lại buộc lòng phải nghi ngờ:

    1. Có thật ông Cao Việt Dũng đã du học và tốt nghiệp tại hai trường danh tiếng ở Pháp không?

    2. Có thật chính ông Cao Việt Dũng là người đã dịch những cuốn sách đầy lỗi kia không?

    Google cho biết ông Cao Việt Dũng đã dịch hơn 20 cuốn, nếu có được sự kiểm tra lại toàn bộ những dịch phẩm này và cho kết luận rằng cả 20 cuốn ấy đều mắc lỗi sai như những cuốn đang được phân tích trên Tiền Vệ thì tôi không còn gì để nghi ngờ về khả năng dịch thuật của ông Cao Việt Dũng nữa. Nhưng nếu kết quả kiểm tra là những cuốn ấy không sai, là rất tốt, thì tôi ngờ rằng những cuốn sai này không phải do ông Cao Việt Dũng dịch, mà ông Cao Việt Dũng đã đưa cho người khác làm rồi ký tên vào. Hà cớ gì người dịch là đàn ông mà vừa trông thấy chữ “intestin” lại có thế nghĩ ngay tới cái tử cung của phụ nữ? Phải chăng người dịch này là phụ nữ, nên sẵn đó cho “sadisme” thành “bạo dâm” luôn mà quên béng rằng hai nhân vật trong ngữ cảnh là mẹ và con gái? Phải chăng chính người phụ nữ này mới là người ấm ớ cả Việt văn và Pháp văn nên mọi hành vi văn chương với người này chẳng có ý nghĩa gì hết, câu văn ngang phè phè mà vẫn cứ phang ra được?

    Nếu kết quả kiểm tra trả lời cho 2 nghi ngờ trên của tôi là: ông Cao Việt Dũng có học và tốt nghiệp tại hai trường danh tiếng ở Pháp, chính ông là người đã dịch hơn 20 cuốn đầy lỗi, thấy chữ “l’intestin” là ông nghĩ ngay tới cái tử cung của phụ nữ; thì tôi lại buộc phải có nghi ngờ thứ ba:

    3. Thần kinh tư duy của ông Cao Việt Dũng hoạt động không bình thường?

    Tôi không hề có ý muốn các nghi ngờ của tôi trong loạt bài này là sự thật, vì không có những sự thật ấy thì những gì mà những người có tên nêu ở đây đã làm cũng đủ khiến cho sự thất vọng về họ lên đến đỉnh điểm rồi. Tôi xin phép được nói về sự thất vọng ấy ở bài sau.

    2.2 Ông Trần Tiễn Cao Đăng

    Người ta gọi ông là hiệp sĩ từ sau khi ông phát hiện ra “thảm họa dịch thuật” (từ dùng của chính ông): cuốn “Mật mã Da Vince” do bà Đỗ Thu Hà dịch, vào năm 2005.[2] Rồi người ta lại thấy ông nổi giận khi dư luận trách cứ ông đã không lên tiếng về việc dịch trật của ông Cao Việt Dũng:[3]

    “Chỉ những kẻ rất thiếu sự khoan dung thì mới, một cách hả hê, ngoáy sâu vào nỗi đau của một người là cảnh sát, từng đích thân truy bắt và trừng trị nhiều tội phạm, lại là cha của một đứa con tội phạm.

    Những kẻ như thế chắc chắn không bao giờ thèm biết rằng người cha đó, khi đối mặt đứa con ấy, đã muốn giết nó như thế nào và phải tự ngăn mình làm điều đó như thế nào.

    Tôi việc gì phải nói cho họ biết tôi đã hét to như thế nào khi làm việc với các biên tập viên Nhã Nam chịu trách nhiệm chính về “Bản đồ và vùng đất”.

    Việc gì tôi phải nói cho họ biết tôi đã trao đổi những gì với Cao Việt Dũng, với tư cách cùng là người của Nhã Nam, và với tư cách dịch giả đồng nghiệp.

    Nói cho họ làm cái gì? Họ không có tư cách để biết những chuyện đó.”

    Tôi rất muốn tin là ông Trần Tiễn Cao Đăng nói thật, rằng ông đã phải “hét to như thế nào khi làm việc với các biên tập viên Nhã Nam chịu trách nhiệm chính về “Bản đồ và vùng đất”, và tôi muốn được nghe ông cũng hét to như thế với “Hạt cơ bản”, “Vô tri”, “Quả táo vàng của ham muốn vĩnh cửu”. Nhưng dẫu cho ông có hét to gấp mười lần thế thì cũng chỉ có những biên tập viên ở công ty Nhã Nam nghe thấy mà thôi, chứ thiên hạ bên ngoài làm sao mà biết như dạo nào ông “hét” bà Đỗ Thu Hà! Giá ông cũng làm như hồi đó là lên tiếng trên báo chí đòi “loại bỏ vĩnh viễn những thảm họa đó khỏi đời sống văn học”,[2] khi các biên tập viên dốt nát và ương bướng của Nhã Nam không chịu nghe lời ông mà sửa sai thì ông khẳng khái dứt áo bỏ đi khỏi công ty này. Nếu ông làm được một trong hai việc đó thì tôi tin độc giả sẽ tôn thờ ông là hiệp sĩ đến suốt đời! Nhưng trên thực tế không ai biết ông đã nói gì, làm gì lúc đó; chỉ thấy ông bây giờ ngồi vào cái ghế của ông Cao Việt Dũng.

    Vì độc giả chỉ thấy ông im lặng nên họ có quyền nghĩ ông là người “ăn cây nào rào cây nấy”, là người “ngậm miệng ăn tiền”, là anh chàng hiệp sĩ đã “bán mình” và họ phải đặt dấu hỏi về vai trò trách nhiệm của ông. Thấy vậy, ông liền hằn học phát biểu rằng họ là những kẻ thiếu khoan dung không có tư cách để biết rằng ông đã hét to với các biên tập viên và đã trao đổi với ông Cao Việt Dũng những gì. Như tôi đã nói ở trên: ông chỉ “hét với nhau” ở trong phòng làm việc và nói chuyện riêng với ông Cao Việt Dũng thì làm sao người ngoài biết được! Và nữa, từ “khoan dung” chỉ dùng để chỉ thái độ rộng lượng đối với người biết nhận lỗi. Còn ông, ông mắng người phê phán mình ngay từ câu đầu tiên thì họ có thể “khoan dung” với ông bằng cách nào?

    Thái độ hằn học này của ông đã chứng tỏ ông không chỉ hết sức vô trách nhiệm mà còn rất vô ơn nữa, bởi những người “thiếu khoan dung không có tư cách” ấy chính là những người đã ủng hộ ông, đã tôn xưng ông là hiệp sĩ, đang bỏ tiền ra mua sách của Nhã Nam và đóng góp cho Nhã Nam những điều mà không một nhân viên nào của Nhã Nam làm được!

    Khi người ta phát hiện ra vụ “trên dòng kẻ bằng những dấu chấm”, thì ông Trần Tiễn Cao Đăng tiếp tục có phản ứng:[3]

    “Nói gọn, đây không phải là một lỗi dịch sai; cùng lắm nó chỉ là một điểm có thể tranh luận. Trong giới dịch thuật, người ta phân biệt hai khái niệm này rất rõ. Chỉ nêu một điểm này ra và cứ bám vào đó mà khăng khăng nói rằng “ngay cả một dịch giả lão thành như Dương Tường cũng dịch có lỗi”, rồi thì nối kết chuyện đó với tình trạng “dịch loạn”, “dịch ẩu” mà dư luận đang quan tâm trong thời gian gần đây, đó là một việc làm thiếu chín chắn, thiếu công tâm.”

    “Bản thân tôi, trước khi nói rằng một cuốn sách nào đó dịch sai, tôi phải đọc kỹ bản dịch, đọc kỹ bản gốc (dĩ nhiên là phải dựa trên điều kiện tôi nắm chắc ngôn ngữ của bản gốc), đối chiếu hai văn bản hết sức kỹ lưỡng, để lọc ra một con số đủ lớn những chỗ mà tôi tin chắc là lỗi – trên cơ sở sự suy xét, thẩm định thấu đáo, khách quan hết sức có thể của mình. Chỉ khi đó tôi mới tự cho phép mình kết luận đó là một bản dịch không tốt, hay một “thảm họa dịch thuật”, cụm từ tôi đã dùng một lần duy nhất (và lúc tôi dùng nó, tôi không thể nào lường trước nó lại trở thành một khái niệm được nhiều người dùng lại đến như vậy).”

    “Tác giả những bài báo có dụng ý gộp chung “Lolita” vào hàng những cuốn “dịch loạn” (ở đây tôi muốn mở dấu ngoặc: “dịch loạn” là một cụm từ một số người hay dùng, nhưng bản thân tôi không muốn dùng) rõ ràng là đã không làm việc đó – không hiểu là do họ thấy không cần làm hay là họ không có khả năng làm. Họ đã không hề làm cái việc đáng ra họ phải làm: trước khi gộp chung “Lolita” vào cái họ gọi là các sách “dịch loạn” khác, họ phải mổ xẻ bản dịch đó đến nơi đến chốn như tôi vừa nói cái đã. Nếu họ không đủ sức làm thế, họ có thể mời một chuyên gia, một dịch giả chuyên nghiệp, để bảo đảm sự khách quan và cơ sở khả tín của bài viết. Họ không làm thế. Việc duy nhất họ làm là đi cóp cái đoạn viết về cụm “on dotted lines” ấy từ một diễn đàn trên mạng, thêm thắt dăm ba dòng, biến báo đôi ba chỗ, thế là thành bài viết, thành sự kết luận rằng “Lolita” có lỗi. Đó là một kết luận hồ đồ, kết quả của một cách làm việc thiếu ý thức trách nhiệm.”

    “Lolita” là một trong những bản dịch văn chương nước ngoài ra tiếng Việt công phu và xuất sắc nhất mà tôi được đọc trong nhiều năm qua. Và tôi chân thành mong rằng tất cả mọi người, nhà báo cũng như độc giả, trước khi hùa theo ai đó lên tiếng này nọ về “Lolita”, hãy làm cái việc đáng làm trước hết là đọc kỹ nó, với tâm thế rộng mở, không định kiến.”

    Trong đoạn trích này ông Trần Tiễn Cao Đăng khẳng định như sau:

    1. “Trên dòng kẻ bằng những dấu chấm” không phải là một lỗi dịch sai, cùng lắm chỉ là một điểm có thể tranh luận.

    2. Trước khi nói một bản dịch là sai, ông Trần Tiễn Cao Đăng phải đọc kỹ bản dịch và bản gốc để đối chiếu. Những người không làm được như thế mà nói nọ nói kia là hồ đồ, thiếu ý thức trách nhiệm.

    3. Ông Trần Tiễn Cao Đăng không chấp nhận việc gộp cuốn “Lolita” vào danh sách những cuốn dịch loạn.

    4. “Lolita” là một trong những bản dịch văn chương nước ngoài ra tiếng Việt công phu và xuất sắc nhất mà ông Trần Tiễn Cao Đăng được đọc trong nhiều năm qua.

    Tôi xin đáp lại những ý trên của ông Trần Tiễn Cao Đăng như sau:

    1. Nếu “trên dòng kẻ bằng những dấu chấm” không phải là một lỗi dịch sai thì những kiểu dịch như “miền Columbia”, hàm ý cho cha Humbert làm trai bao, “cái miệng Nam tiến”, hay cho bé Lolita nằm tơ hơ ngoài “piazza”- quảng trường (?!) (và còn rất nhiều nữa) có phải là sai không, hay cũng chỉ là một điểm đáng tranh luận? Kiểu dịch như thế đã đủ để chứng minh rằng ngay cả một dịch giả lão thành như Dương Tường cũng dịch có lỗi (thậm chí sai bét nhè) hay chưa? Đó là tôi còn chưa nói đến những kiểu diễn dịch tiếng Việt tối tăm như “ngọn lửa nơi hạ bộ” hay “phòng thí nghiệm tâm trí”. Độc giả không chỉ bám vào “trên dòng kẻ bằng những dấu chấm” để đánh giá Lolita, “trên dòng kẻ bằng những dấu chấm” chỉ là một cách diễn dịch ngây ngô khởi đầu để họ phải mua bản tiếng Anh về đối chiếu rồi nhận chân ra năng lực của người dịch mà thôi. Cho đến nay họ vẫn tiếp tục chỉ ra hàng đống lỗi ngớ ngẩn tương tự đấy. Sự thật thì ai mới là người chỉ nêu một điểm này ra rồi khăng khăng nói?

    2. Đọc đoạn này thì tôi hiểu rằng ông Trần Tiễn Cao Đăng đã đọc kỹ bản dịch, đã mổ xẻ nó đến nơi đến chốn và ông không thấy nó sai, với ông thì “Lolita của Dương Tường là một trong những bản dịch văn chương nước ngoài ra tiếng Việt công phu và xuất sắc nhất mà ông được đọc trong nhiều năm qua”. Vậy ông có thấy “miền Columbia” sờ sờ ngay trang đầu không? Với những phân tích của người đọc trong và ngoài nước đang rất sôi nổi trên trang Tiền Vệ thì nhận xét của ông có xác đáng không? Với tư cách là tổng biên tập của Nhã Nam, ông hết lời ca tụng một dịch phẩm trật lất ngay ở trang đầu tiên và còn tiếp tục trật lất ở những trang sau nữa, vậy đó có phải là thái độ hồ đồ, thiếu ý thức trách nhiệm không? Có phải là một việc làm thiếu chín chắn, thiếu công tâm không?

    3. Với những lỗi dịch sai như thế thì Lolita có đáng bị xếp vào danh sách dịch loạn hay không? Nếu ông vẫn nhất quyết không chịu thì tôi sẽ đưa nó vào danh sách “dịch hạch, dịch tả hay dịch vật”, chắc ông vừa lòng? “Dịch loạn” là một cụm từ được ông/bà Hà Thúc Lang lần đầu tiên dùng để chỉ những lỗi dịch thuật không thể chấp nhận được, cũng giống như cụm từ “thảm họa dịch thuật” của ông mà thôi. Sao ông phải tránh không nói thẳng ra là trang Tiền Vệ đã đăng cụm từ “dịch loạn” mà chỉ nói “một số người dùng”, trong khi bài ông “hét” về “thảm họa dịch thuật” cách đây 7 năm đã được ông gửi đăng trên trang Talawas?

    4. Công phu (nghe nói ông Dương Tường đã tốn 2 năm để dịch) và xuất sắc (do ông Trần Tiễn Cao Đăng đánh giá) mà ngay những trang đầu tiên đã lộ ngay ra cái trình độ thảm hại của người dịch vậy sao?[4]

    Không biết thật sự ông hiệp sĩ có “làm cái việc đáng làm trước hết là đọc kỹ nó, với tâm thế rộng mở, không định kiến” hay không mà dám lên mặt bảo ban thiên hạ đừng có mà “hùa theo ai đó” lên tiếng này nọ về “Lolita” do lão thành dịch giả của ông công phu rị mọ? Tôi xin một lần nữa nhắc cho ông nhớ rằng những người mà ông vừa mỉa mai rằng “hùa theo” và “ai đó” ấy chính là những độc giả đã và đang lên tiếng về cái sự dịch loạn, cũng chính nhờ sự lên tiếng rất xác đáng của họ mà Nhã Nam đã phải thu hồi 1 trong nhiều cuốn dịch bậy. Chính họ, những độc giả đã bỏ tiền ra mua sách nuôi sống công ty Nhã Nam và để Nhã Nam có tiền trả lương cho ông, chứ không phải bất cứ một nhà văn, một nhà báo, một nhà phê bình hay một dịch giả nào như ông ở cái đất nước này! Đường đường là trưởng ban biên tập mà ông không những không thấy được cái sai thù lù trên sách của công ty ông in ra mà còn tâng bốc nó lên tận mây xanh, khi bị phê phán thì giãy nảy lên bênh lấy bênh để một cách đáng xấu hổ rồi xấc xược lên mặt bề trên mà phủ đầu thiên hạ. Với năng lực và nhân cách ấy, ông lấy tư cách gì mà có thể tự cho mình ung dung ngồi vào cái ghế của người tiền nhiệm?

    Trong một nỗ lực cuối cùng để dẹp yên dư luận, ông Trần Tiễn Cao Đăng viết:[3]

    “Một lời cuối cùng cho tất cả những ai còn muốn nói gì đó với tôi về chuyện này:
Việc quan trọng nhất của tôi không phải là nhảy chồm chồm lên và la hét bất cứ khi nào có một bản dịch tồi xuất hiện trên văn đàn.
Tôi có những việc quan trọng hơn thế nhiều.
Thời gian của cuộc đời tôi cần phải dành cho những việc nào hơn, điều đó tôi biết và không cần ai khác biết.
Càng không cần ai chỉ dạy tôi về điều đó.
Về bản dịch của Cao Việt Dũng, một mình Hà Thúc Lang là đủ.”
Thế là xong. Hết. Thiên hạ cứ ngồi đấy chờ những Hà Thúc Lang đi, còn ông Trần Tiễn Cao Đăng thì có nhiều việc quan trọng hơn đáng làm, biết mười mươi là cộng sự sai đấy nhưng ông không nói đâu. Vậy nhé!

    2.3 Đầu nậu sách Nhã Nam

    Tôi xin hỏi công ty Nhã Nam với những tổng biên tập là thần đồng dịch thuật và trung niên hiệp sĩ như thế, rồi giao tác phẩm cho những lão thành dịch giả bất khả xâm phạm kia thì có còn xứng đáng được sự tín nhiệm của độc giả nữa không? Dường như người đứng đầu công ty không có một chút kiến thức nào về văn chương học thuật cả mà chỉ biết phó mặc toàn bộ cho những người nổi tiếng để họ mặc sức tung hoành, còn mình thì chỉ làm công việc của một nhà kinh doanh thuần túy bán sách kiếm lời, khi sự việc vỡ lở mới lúng túng tìm cách chữa cháy, hay tệ hơn nữa là “mất bò mới lo làm chuồng” mà cái “Hội đồng thẩm định” là một ví dụ. Hội đồng thẩm định ấy gồm những ai? Họ có hiểu biết chuyên sâu nào trong lĩnh vực dịch thuật không, có dịch được tác phẩm nào có giá trị không? Nhã Nam hãy trả lời cụ thể đi, đừng đem cái “nhà xuất bản văn học” ra dọa độc giả nữa. Tôi có nhận xét rằng không một biên tập viên nào ở Nhã Nam dám “biên tập” các ông Cao Việt Dũng hay Dương Tường cả, bởi các tên tuổi này đã được tôn vinh là “đỉnh cao” rồi, là giấy kiểm định chất lượng cho bản dịch rồi, dễ ai có được cái CV như ông Cao Việt Dũng hay “nửa thế kỷ dịch thuật” như ông Dương Tường mà dám bảo họ sửa! Vậy nên khi họ đưa bản dịch tới là Nhã Nam đem in luôn, chứ nếu chỉ cần đưa cho một biên tập viên có trình độ ngôn ngữ trung bình đọc lại thôi ắt cũng phải thấy ngay những câu văn tiếng Việt kỳ quái, vô nghĩa, chỉ có tác dụng gây cười ấy.[1] [4]

    Tại sao Nhã Nam chỉ thu hồi một cuốn “Bản đồ và vùng đất” trong khi có ít nhất ba cuốn khác cũng sai trầm trọng không kém? Nhã Nam đã phải chịu nhận là sai và “quyết định tiến hành hiệu đính bản dịch cho lần tái bản ngay sau đây” đối với cuốn “Vô tri”,[5] thế còn số sách dịch sai phát hành lần trước đã bán rồi thì sao? Không thấy Nhã Nam nói gì đến quyền lợi của độc giả bị thiệt hại cả, họ sẽ phải bỏ tiền ra mua lần nữa và hồi hộp đem về đọc xem nó…có sai không hay sao? Liền sau “Bản đồ và vùng đất” là “Lolita”, vậy thì sẽ có bao nhiêu cuốn sách dỏm tương tự mà Nhã Nam sẽ phát hành trong tương lai? Phải chăng những cuốn sách khác đã phát hành rồi đang được coi như ổn chỉ vì chưa có ai phân tích là chúng sai mà thôi? Độc giả-những khách hàng bỏ tiền ra mua sách để Nhã Nam có được tên tuổi như ngày nay-chỉ là những nạn nhân tiềm ẩn về cả vật chất lẫn tinh thần, là lũ ngốc để bị dụ khị, là cái bung xung để hứng những lời đe nẹt theo kiểu “trứng đừng đòi khôn hơn vịt!” hay “đừng vì một phép tu từ mà quay lưng lại với cả kiệt tác!” (họ là “thượng đế” mà vẫn bị bắt phải “quay” dưới sự cho phép thì mới được yên!); bị coi như những kẻ ngồi lê đôi mách tầm thường chỉ biết điền đơn xin cho con đi học chứ không biết gì về văn chương bóng bẩy,[6] là “nhân tố chính có khả năng làm thui chột hay thậm chí giết chết nhiệt tình làm việc của giới dịch giả gây thiệt hại cho toàn thể cộng đồng”,[3] vân vân, phải không? Đến thời điểm hiện tại, thực tế đã chứng minh những phản ứng và phê phán của độc giả là xác đáng, Nhã Nam có thấy cần phải lên tiếng xin lỗi và bảo vệ thanh danh cho họ, đồng thời nêu đích danh những người có thái độ trịch thượng đã kết án họ để tránh những việc tương tự có thể bị lặp lại không?

    Nếu Nhã Nam vẫn không có những ứng xử cần thiết mà chỉ biết đưa ra những thông cáo như thế này[5] trong hiện tại cũng như tương lai thì tôi có ba đề xuất để Nhã Nam lựa chọn như sau:

    1. Trước khi phát hành một bản dịch chính thức, Nhã Nam hãy phát hành một bản không chính thức để độc giả có thể thoải mái góp ý chỉnh sửa (đưa lên internet để khỏi tốn tiền giấy in). Sau khi việc chỉnh sửa đã hoàn thành rồi, Nhã Nam phải tuyển dụng (những) độc giả có những đóng góp xác đáng ấy vào làm việc trong ban biên tập thay thế (những) biên tập viên được phân công chịu trách nhiệm với bản dịch đó nhưng đã không làm tròn bổn phận, kể cả chức vụ tổng biên tập. Cách thanh lọc này sẽ giúp Nhã Nam dần dần có được một đội ngũ biên tập đáng tin cậy. Nhã Nam có công nhận những người có bài đăng trên Tiền Vệ phân tích việc dịch sai[1] [4] là những độc giả đang làm rất tốt công việc của người biên tập không?

    2. In sách ra và ghi rõ “Chỉ bán cho những độc giả sẵn sàng nhắm mắt tâng bốc như Toàn Phong, Phạm Anh Tuấn và Trần Tiễn Cao Đăng”.

    3. Đừng làm sách văn học bán nữa mà nên chuyển qua kinh doanh mặt hàng khác, bởi bán thứ văn chương nghệ thuật dỏm thì cũng đầu độc tâm hồn và cảm xúc chẳng khác gì bán thức ăn độc gây bệnh chết người.

    Nếu Nhã Nam không thể có đủ can đảm và lựa chọn dứt khoát để làm một trong ba việc trên mà vẫn giữ thái độ đối phó như hiện nay thì tôi là một khách hàng của Nhã Nam sẽ buộc phải hành xử như sau:

    – là người đi mua sách mà vừa lật ra đọc ngay trang đầu tiên đã thấy cái kiểu diễn dịch “miền Columbia” thì tôi biết ngay trình độ của người dịch và tôi liệng cuốn sách đó qua một bên luôn chứ không phí thì giờ mà suy diễn rằng đó là phép ẩn dụ của kiệt tác!

    – là người bị hại khi mua phải sách dỏm của Nhã Nam thì tôi có quyền kiện ra tòa đòi bồi thường và yêu cầu Nhã Nam đuổi việc những người có trách nhiệm mà bất tài kém đức!

    – là người biết kính phục và ngưỡng mộ các dịch giả văn học miền Nam năm xưa và được vun trồng bằng dòng văn chương ấy, tôi tuyên bố tránh xa cái miền dịch hạch – dịch tả – dịch vật của các ông!

    Diên Vỹ

  7. Một số comments của người đọc trong nước khi đọc xong loạt bài trên, và đọc thêm một số bài về cuộc…”Đối Thoại”…ở trang tienve.org…

    Tôi cũng chưa từng đọc trang tienve.org. Tôi là người cần mẫn đọc tỉ mĩ comments của Bảo Vân. Có nhiều điều để học và suy gẫm. Cảm ơn BS ngoc và Bao Van!

    Bởi: nguyennx ngày 19/06/2012
    lúc 11:56 Chiều

    Trả lời

    Xin có vài thông tin gửi bác chủ blog
    Bs.Ngọc và bác nguyennx :
    Ai cũng dễ dàng vào đọc Tienve và
    ngay tôi thỉnh thoảng cũng góp bài
    cho mục đối thoại,chứ không khó gì.
    Gõ saigonbao.com thấy hiện ra danh
    sách trong đó có Tienve thì bấm vào
    là được !

    Bởi: D.Nhật Lệ ngày 20/06/2012
    lúc 7:23 Sáng

    Trả lời

    Cảm ơn bác D.Nhật Lệ. Đúng là tienve.org chẳng phải khó vào, có thể gõ địa chỉ trực tiếp và vào ngay luôn. Thú thực trước đây tôi chưa từng đọc trang này. Giờ đọc thấy có nhiều điều hay.

    Bởi: nguyennx ngày 20/06/2012
    lúc 10:46 Sáng

    Trả lời

    Thật thú vị, đọc như ngộ ra và học hỏi rất nhiều điều!
    Tôi không đủ trình độ để “bàn” về…ngoại ngữ, nhưng đọc bài này tôi thật sự tâm đắc các đoạn sau của tác giả Diên Vỹ:

    – “Văn minh miền Nam nói chung, dịch phẩm miền Nam nói riêng đã đi vào lòng cả một thế hệ người Việt và tạo nên những tinh hoa mà tôi e rằng một trăm năm nữa nước Việt cũng chưa chắc tìm lại được.”

    – “Có một điều mà mọi dịch giả đều công nhận: việc dịch thuât từ tác phẩm nguyên gốc sẽ tạo ra dịch phẩm tốt hơn so với việc dịch lại từ một ngôn ngữ thứ ba. Nhưng vì sao nhiều dịch giả miền Nam trước 1975 đã dịch các tác phẩm của Nga, Đức, Ý… chỉ qua bản tiếng Anh hay Pháp, vậy mà họ vẫn dịch được rất hay? Bởi lẽ họ được hưởng một nền giáo dục tự do tư tưởng đúng nghĩa, và họ đã làm công việc dịch thuật với đầy đủ tinh thần trách nhiệm vì người đọc. ”

    – “Ngày bắc tràn vô nam để “nâng đời sống miền nam lên cho bằng miền bắc” không xong đành phải mở cửa cho “thực dân đế quốc ngoại bang” vô “nâng phụ một tay”, nhìn lại thì đám học thật dịch thật đã bị đào tận gốc trốc tận rễ hết rồi, đâu còn mấy ai dịch được bằng 2 thứ tiếng “thực dân – đế quốc” đó nên “ở xứ mù thằng chột làm vua”, người ta thổi ông lên thành dịch giả tên tuổi, thành người thông thạo văn hóa Âu Mỹ và lờ tịt đi những bản dịch ở miền Nam, cứ như thể không có ông thì dân tình xứ này sẽ ngu hết á! ”

    – “là người biết kính phục và ngưỡng mộ các dịch giả văn học miền Nam năm xưa và được vun trồng bằng dòng văn chương ấy, tôi tuyên bố tránh xa cái miền dịch hạch – dịch tả – dịch vật của các ông! ”

    Cám ơn Bs Ngọc đã post bài, rộng đường dư luận trong độc giả.
    Entry thật đáng suy ngẫm lẫn học hỏi…

    Bởi: Phạm Sơn ngày 20/06/2012
    lúc 10:16 Chiều

    Trả lời

    Thật ra,sở dĩ công ty Nhã Nam thu hồi “Bản đồ và vùng đất”
    và mới đây “Vô tri” của dịch giả Cao Việt Dũng là nhờ công
    đầu của Hà Thúc Lang với nhiều phê phán chính xác.
    Dịch giả này còn tệ hơn nhà thơ DT.nhiều,thế nhưng được
    thổi phồng lên là tài hoa nhất VN.cơ đấy !

    Bởi: D.Nhật Lệ ngày 21/06/2012
    lúc 10:57 Sáng

    Trả lời

    – “Dịch giả này còn tệ hơn nhà thơ DT nhiều…”

    Thưa bác, đọc đoạn này của tác giả Diên Vỹ, tôi nghĩ ông Dương Tường chắc cũng…”tệ không kém”…gì với dịch “giả” Cao Việt Dũng đâu bác ạ!

    – “Từ cái lỗi sơ đẳng đó khiến tôi phải đặt câu hỏi, có lẽ nào những cuốn được coi là dịch phẩm của ông xưa nay chỉ là những thứ ông “xào nấu” lại từ bản dịch ở miền Nam trước 1975, và nếu có “hâm” lại thì ông chỉ “hầm” trên bản tiếng Pháp mà thôi, rồi ông thay cái tựa, ông “thêm mắm thêm muối” vài chỗ, là xong? Chỉ đến hôm nay ông vớ phải một cuốn mới toanh, chẳng có cái gì để dựa dẫm, lại là bản tiếng Anh nguyên con như “Lolita” nên sự thật mới lòi ra?”

    Bởi: Lãng Tử ngày 22/06/2012
    lúc 8:20 Chiều

    Trả lời

    Bác ơi !
    Tôi nói Cao Việt Dũng tệ hơn vì ông ta dịch bừa :
    “cha tôi bị bệnh ung thư tử cung…” trời ạ !

    Bởi: D.Nhật Lệ ngày 23/06/2012
    lúc 9:53 Sáng

    Vâng, tôi đã từng bật cười ngao ngán khi đọc cái câu dịch “để đời” ấy của Cao Việt Dũng rồi đấy chứ, nhưng tôi lại cũng vẫn cứ bật cười…ngao ngán tiếp… khi đọc lại câu ấy trong cái còm này của bác…

    Quả đúng là…”cái miền dịch hạch – dịch tả – dịch vật của các ông”…dịch giả “dỏm”, họ đã đánh mất lương tâm đạo đức cơ bản của người cầm viết, họ đã quá coi thường độc giả thật!

    Vui bác nhé…

    Bởi: Lãng Tử ngày 23/06/2012
    lúc 3:26 Chiều

    Đọc xong bài trong entry này, quả thật đúng là độc giả buộc phải…” Nghi ngờ về trình độ ngoại ngữ của ông Dương Tường”, một dịch giả được tung hê xưng tụng là “cây đa cây đề” của miền bắc xhcn!
    Và chắc có lẽ, độc giả tất cũng sẽ nghĩ cái chi tiết…đúng như tác giả Diên Vỹ nhận xét: – “Ở xứ mù thằng chột làm vua”?!

    Mong sao có nhiều những vị nào đó, với cái tâm yêu chuộng văn chương chân chính và có đủ khả năng “vạch trần” thêm những cái yếu kém, và coi thường độc giả…. của những dịch giả “dỏm”, trả lại cho văn chương dịch những điều CHÂN THIỆN MỸ…đúng nghĩa.

    Bởi: Lãng Tử ngày 21/06/2012
    lúc 11:03 Sáng

    Trả lời

    Đọc entry này, rồi vào trang tienve.org đọc thêm các bài, thì mới nhận chân rõ…đây quả là hệ quả tất yếu và đã trở thành bản chất của một nền giáo dục xhcn…luôn luôn gian dối, luôn luôn “to họng”…tự sướng, không thấy thẹn và xấu hổ với lương tâm…của một người cầm viết!

    – Ôi! Một nền giáo dục…”lưu manh xhcn”!?

    Bởi: Phạm Hoàng Trọng ngày 22/06/2012
    lúc 11:09 Sáng

    Trả lời

    – “Ôi! Một nền giáo dục…”lưu manh xhcn”!?

    Đọc entry này, cũng như đọc suy ngẫm những entries khác của Bs Ngọc post trong blog này, và nhìn thực trạng bát nháo trong môi trường giáo dục hiện nay, cũng như những hệ luỵ từ quá khứ đến hiện tại của nó gây ra trong xã hội, ta thấy cái câu “rên than” của bác Phạm Hoàng Trọng ở comment trên quả là RẤT CHÍNH XÁC!

    – ÔI ! MỘT NỀN GIÁO DỤC…”LƯU MANH XÃ HỘI CHỦ NGHĨA !”

    Bởi: Phạm Sơn ngày 24/06/2012
    lúc 4:17 Chiều

    Trả lời

    – “Có thể tóm tắt thành một lời khuyên thế này: ở Việt Nam, nghe một tác phẩm nào đoạt giải, bạn đừng đọc; nghe một nhà văn hay nhà thơ nào được trao tặng danh hiệu “cao quý” nào đó, bạn đừng thèm ngó mắt đến.”
    ( Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc – ” Cứ để mặc giới cầm bút ” )

    Bởi: Phạm Hoàng Trọng ngày 22/06/2012
    lúc 11:29 Sáng

    Trả lời

    Rất đồng ý với bsngoc là những người phê phán ông DT đã nêu ra rất cụ thể từng điểm một, đó là cách phê phán có trách nhiệm và người ngoài cuộc lẫn trong cuộc đều có thể học hỏi được một điều gì. Đáng tiếc là có người phê phán người khác theo kiểu tung hỏa mù: “Đối chiếu bản gốc thì thấy rất không ổn”; nhưng không hề nói không ổn như thế nào và ở chỗ nào. Nói vậy thì người nghe sẽ cảm thấy có dấu hỏi về động cơ và tư cách của người phê phán, vì người đàng hoàng sẽ không phát ngôn nơi công cộng một cách thiếu trách nhiệm như thế. Dịch thế nào là hay hoặc dở cũng còn tùy trình độ và khẩu vị của người đọc, điều quan trọng là có sai hay không mà thôi. Khi phê phán ai đó một cách cụ thể, là người phê phán chấp nhận rằng những ý kiến của mình sẽ chịu sự phán xét của công chúng. Đó là thái độ công bằng, văn minh của người có học. Rất tiếc là kiểu phê phán theo lối chụp mũ, như bsngoc đã có đề cập trên đây, cũng còn khá phổ biến trong giới người Việt tự cho mình là có học, nhưng chưa bao giờ được học bài học về văn hóa tranh luận.

    Bởi: Trí ngủ ngày 23/06/2012
    lúc 12:02 Sáng

    Trả lời

    – “Đáng tiếc là có người phê phán người khác theo kiểu tung hỏa mù: “Đối chiếu bản gốc thì thấy rất không ổn”; nhưng không hề nói không ổn như thế nào và ở chỗ nào…”

    Bác ơi!
    Ông, bà, anh, chị…nào nói: – “Đối chiếu bản gốc thì thấy rất không ổn”…thế bác?
    Bác cứ thử “mạnh dạn” nêu tên cụ thể cho mọi người biết xem nào, chứ không có tên cụ thể, không khéo lại cũng…”tung hoả mù”…mất?!

    Bởi: Phạm Sơn ngày 24/06/2012
    lúc 3:59 Chiều

    Trả lời

    Phê phán đích danh ai mà khôg có dẫn chứng thì là tung hỏa mù. Còn không chỉ đích danh ai, thì không phải là tung hỏa mù. Ai có tật thì nấy giật mình thôi bác ơi. Bộ bác chưa bao giờ thấy ai phê phán người khác không căn cứ sao? Mục đích của cái comment này không nhằm tấn công cá nhân ai, chỉ nêu một hiện tượng để cùng suy ngẫm mà thôi.

    Bởi: Trí ngủ ngày 25/06/2012
    lúc 6:11 Chiều

    Link đến ebook bản dịch Lolita:
    http://www.e-thuvien.com/forums/showthread.php?t=49059

    Bởi: Nguyễn Tuấn Anh ngày 23/06/2012
    lúc 7:59 Chiều

    Trả lời

    “Bài viết của Trinh Tùng nêu ra một phát hiện rất lý thú về tài dịch của ông Dương Tường. Ngay trong “Foreword” của cuốn Lolita, có câu:

    His lawyer, my good friend and relation, Clarence Choate Clark, Esq., now of the District of Columbia bar, in asking me to edit the manuscript, based his request on a clause in his client’s will which empowered my eminent cousin to use the discretion in all matters pertaining to the preparation of “Lolita” for print.

    Ông Dương Tường dịch thành:

    Ngài Clarence Choate Clark, nay là thành viên của luật sư đoàn miền Columbia , cũng là bạn và bà con của tôi, dựa trên một điều khoản trong di chúc của thân chủ của ông trao toàn quyền cho người anh họ lỗi lạc của tôi tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết cho việc in ấn cuốn “Lolita”.

    District of Columbia tức là thủ đô Washington của nước Mỹ nhưng đã bị ông Dương Tường dịch thành “miền Columbia”!!! Thế thì những người chỉ đọc bản dịch tiếng Việt của ông Dương Tường làm sao biết được cái “miền Columbia” ấy nó ở chỗ nào???

    Ngay cả tôi là cư dân tại District of Columbia, nếu chỉ đọc bản dịch tiếng Việt của ông Dương Tường, thì tôi cũng chịu thua, không biết cái “miền Columbia” nằm ở đâu.

    Trên đất Mỹ có rất nhiều nơi gọi là Columbia:

    Columbia ở Herkimer County, thuộc New York.

    Columbia ở bang South Carolina.

    Columbia ở bang Tennessee.

    Columbia ở bang Georgia.

    Columbia ở bang Missouri.

    Columbia cũng là vùng đào vàng ở phía tây California.

    Et cetera … et cetera …

    Nếu “district” mà ông Dương Tường dịch thành “miền”, ngon ơ, thì ngoài cái District of Columbia tức là thủ đô Washington của nước Mỹ, lại còn có cái Columbia District ở bang Oregon nữa! Hoá ra ở Mỹ có ít nhất là hai “miền Columbia” hay sao? Thế còn cái Columbia Region ở Missouri thì dịch ra tiếng Việt là gì?

    Nói tóm lại, ông Dương Tường thấy District of Columbia thì phang ngay một nhát thành ra “miền Columbia” ngon ơ, mà chẳng cần tìm hiểu xem District of Columbia là cái quái gì ở Mỹ.

    Chỗ này thì ông Dương Tường giống hệt ông Cao Việt Dũng. Như ông Hà Thúc Lang đã chỉ ra, ông Cao Việt Dũng đã phang bừa “sur les bords du bassin de l’Arsenal” thành “trên cái bồn nước của khu Arsenal” / “Quai des Orfèvres” thành “Ke Orfèvres”… Thế mới tài.”
    ………………..
    ( Nguồn: tienve.org – James Nguyễn: “Miền Columbia” có lẽ sẽ là một “phép ẩn dụ” khác của ông Dương Tường? ” )

    Bởi: Nguyễn Tuấn Anh ngày 23/06/2012
    lúc 8:11 Chiều

    Trả lời

    Cụm từ này “… my knees were like reflections of knees in rippling water, and my lips were like sand…” là so sánh song đôi. Đọc của DT tưởng như ông H đang lội trong nước. “Môi khô khốc NHƯ cát” thì đầu gối phải “lẩy bẩy xiêu vẹo NHƯ bóng đầu gối chiếu trên mặt nước lăn tăn” chứ. Phải không a các bác?

    Bởi: vietanh ngày 24/06/2012
    lúc 1:48 Sáng

    Trả lời

    Ôi, Đọc bài, thật ngỡ ngàng đến chua chát hết sức, thế mà từ bấy lâu mình cứ tưởng…?!
    Quả là…

    – “Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”
    – “Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”…vậy!

    Thôi thì, hãy cố gắng học theo lời khuyên của Khổng Tử vậy, bác Dương Tường ơi:

    – “Chỉ báng mạc nhược tu thân”….thôi, chứ không còn cách nào khã dĩ tốt để chọn lựa nữa…vậy!

    Bởi: Đinh Thành ngày 25/06/2012
    lúc 11:12 Sáng

    Trả lời

    – “Ngu mà nghĩ mình ko ngu thì đúng là ngu.
    Nhưng ngu mà biết được mình ngu thì đâu có ngu.
    Mình ko ngu là khi mình biết được mình ngu.
    Mà ngu rồi thì làm sao tự biết được mình ngu?
    Nên nếu tự biết mình ngu tức là mình ko hề ngu!”…vậy!

    Bởi: Đinh Thành ngày 25/06/2012
    lúc 11:15 Sáng

    Trả lời

    Chốn văn chương nghệ thuật chân chính không phải là nơi để đùa cợt, để mua danh hảo, lại cũng là nơi không thể nào dung túng và chấp nhận những kẻ bất tài kém đức…coi thường độc giả được!

    “…Chỉ đến hôm nay ông vớ phải một cuốn mới toanh, chẳng có cái gì để dựa dẫm, lại là bản tiếng Anh nguyên con như “Lolita” nên sự thật mới lòi ra?…”

    Đã từng có biết bao thế hệ, biết bao người ca tụng, ngưỡng mộ…
    Nhưng than ôi, chân lý luôn là chân lý…
    Cây kim dấu kín trong bọc đã quá lâu ngày, bây giờ mới chịu lòi ra…đây mà!!!

    Quả thật là không biết đâu mà lần trong cái xã hội chân giả đầy bát nháo lẫn lộn tùng phèo này nữa…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: