• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Viết Đến Bao Giờ?

Bài viết được đăng báo thứ nhất của tôi là một bức thư tôi gửi các anh Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đó là năm 1946 tôi 15 tuổi, tôi sống bình yên trong thị xã Hà Đông vắng lặng, nơi có dòng Nhuệ Giang chẩy qua. Trong thư nhân danh một thiếu niên Việt Nam, tôi mong các anh Việt Minh, Việt Nam Quốc Dân Đảng đoàn kết để chống ngoại xâm. Tôi gửi thư đó đến tòa báo Cứu Quốc ở Hà Nội. Thư ngắn, được đăng trên trang nhất báo Cứu Quốc. Tôi để tên thật dưới thư. Chú thiếu niên viết thư là Dương Trọng Hải.

Từ những năm 1941, 1942, mới 10 tuổi, tôi đã mê đọc tiểu thuyết. Hai tác giả tôi mê nhất ngày đó là Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng. Tôi thấy, không rõ lắm, những người viết tiểu thuyết là Chúa Tể trong tác phẩm của mấy ông. Các ông cho ai sống là người đó được sống, bắt ai chết là người đó phải chết, cho ai yêu ai là hai người đó yêu nhau. Năm 10 tuổi, tôi đã nuôi mộng mai sau tôi sẽ làm văn sĩ.

A Kiss Before DyingTôi được Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn Nhật Báo Tiếng Dội năm 1952. Năm 1956 tôi viết phóng sự tiểu thuyết Vũ Nữ Sài Gòn trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, năm 1957 tôi khởi sự viết tiểu thuyết phóng tác. Tác phẩm tiểu thuyết phóng tác thứ nhất của tôi là quyển Chiếc Hôn Tử Biệt, phóng tác A Kiss before Dying của Ira Levin. Truyện này đoạt Giải Nhất Truyện Detective năm 1956 của Mỹ.

Thế rồi đến giữa năm 1975, tôi phải ngừng viết truyện trong 20 năm. Những ngày như lá, những tháng như mây… Cuộc sống không thể biết trước, những năm trong tù ngục, rồi bánh xe lãng tử cuộc đời một chiều mùa thu vàng đưa tôi đến một đất nước người ta ở mãi tít bên kia biển lớn. Ở xứ người tôi buồn, tôi tủi, tôi nhớ Sài Gòn, nhưng tôi được trở lại với việc Viết, tôi sẽ Viết ở Xứ Người cho đến ngày tôi ra khỏi cõi đời này.

Ở xứ người, bây giờ tôi không viết tiểu thuyết phóng tác nữa, có thể nói tất cả những người đọc tôi ở xứ người, những năm 2000 Thế kỷ 21, không ai còn thì giờ, còn lòng dạ đâu mà đọc những truyện dài Phơi-ơ-tông đăng tiếp từng kỳ mỗi tuần, đa số người Việt ở hải ngoại nếu còn đọc báo Việt ngữ thì chỉ đọc những bài ngắn, những bài đăng trọn trong một kỳ báo. Và — tôi chỉ nói đến những độc giả của tôi, những người đọc những bài tôi viết — những độc giả đọc bài tôi bây giờ vị trẻ nhất cũng có tuổi đời Năm Bó, đa số từ Sáu Bó trở lên.

Và bây giờ, những năm 2000, 2005, viết ở hải ngoại thương ca, nói huỵch toẹt là viết ở Mỹ, tôi thấy sự khác biệt: trước 1975, ở Sài Gòn, Đàlạt, Nha Trang, Huế.., đa số độc giả của tôi là nữ, nay ở xứ Mỹ, đa số người đọc tôi là nam; không những chỉ là Nam suông, các vị là những Khứa Lão, những Khứa Lão Việt Nam lưu vong lão đến không còn lứa tuổi lão nào có thể lão hơn. Nguyên nhân sự thay đổi thành phần độc giả ấy dễ hiểu thôi: trước 1975 tôi viết tiểu thuyết tình, truyện nào cũng có nhân vật chính là phụ nữ, không những chỉ phụ nữ suông mà là phụ nữ đẹp, đa tình, chung tình, sống chết với tình, coi khinh tiền bạc… — những nhân vật nữ đa tình như thế yêu thương, thù ghét loạn cào cào châu chấu, yêu bất chấp thiên hạ, yêu xăng-phú tú lơ mo — quí vị độc giả phái nữ thích đọc truyện viết về những nữ nhân vật như thế. Còn nay tôi không viết loại tiểu thuyết diễm tình ấy nữa, tôi viết những bài Viết ở Rừng Phong ngắn gọn, đăng trọn trong một kỳ báo. Trong Viết ở Rừng Phong cũng có hình ảnh những người đàn bà đẹp, đa tình, nhưng thấp thoáng thôi, đề tài của Viết ở Rừng Phong thường có tí mùi vị chính chị chính em, do đó bài viết được các vị Lão Ông đọc đông hơn là các vị Lão Bà.

Tôi cảm động nhiều khi trên đường lưu lạc, biệt xứ, tha hương, tôi gặp những vị độc giả Khứa Lão của tôi. Mấy năm nay, ở những thành phố tôi đến thăm tôi đều được gặp vài, ba vị. Ở Atlanta, Houston, Santa Ana, San Diego, San José… Toàn Khứa Lão, đa số là Khứa Lão Hát Ô, những Khứa Lão từng bị nhiều năm tù đày ở quê hương. Nhiều vị bắt tay tôi, nắm chặt mãi như không muốn buông ra.

Có vị — Tám Bó — quen tôi trước 1975, hai mươi mùa Táo Tầu Nghị Hách tôi gặp lại ông ở San Jose, 12 giờ đêm mùa đông lạnh giá, chia tay nhau trước tòa Housing for Low Income Seniors nơi ông ở, ông bùi ngùi:

– Tôi đọc cậu để nhớ Sài Gòn.

Có ông Hát Ô cầm tay tôi, căn dặn:

– Sống đến 80 tuổi, viết cho chúng tôi đọc!

Chưa bao giờ tôi nghĩ đến chuyện tôi có thể viết được đến tuổi nào? Đến năm tôi bao nhiêu tuổi thì tôi không viết được nữa?

Tôi có thể viết được đến năm tôi 80, đến năm tôi 85 tuổi? Tôi tự làm cho trái tim tôi dịu lại, cho hồn tôi bình yên với ý nghĩ: mình sẽ viết đến bao giờ mình không viết được nữa. Tại sao mình lại nghĩ mình có thể viết được đến năm mình Tám Bó tuổi đời? Có thể chiều hôm, sớm mai mình ra đi. Rồi tôi nghĩ tại sao tôi lại cho rằng tôi chỉ có thể viết được đến năm tôi tám mươi tuổi? Tại sao tôi lại không thể viết được như ông Vương Hồng Sển? Ông Vương Hồng Sển không phải là Thợ Viết Chuyên Nghiệp như tôi, ông ấy không thích viết truyện ngay từ năm 10 tuổi như tôi, ông ấy là công chức, ông ấy chỉ viết để chơi, viết để kiếm thêm chút tiền. Vậy mà ông ấy đã viết mãi đến năm ông ấy 90 tuổi, năm ông ấy Chín Bó tuổi đời ông ấy còn viết.

Năm 1986, sau khi Tổng Bí Nguyễn văn Linh, theo bọn Nga Cộng, làm chuyện “Đổi mới”, nói Đảng “cởi trói cho văn nghệ sĩ,” nhiều người nhân cơ hội ào ra tranh nhau xuất bản, ấn hành những quyển tiểu thuyết không có một ly tính chất Sít-ta-lin Lê-nin-nít nào, nhiều quyển tiểu thuyết của các văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, những tác phẩm bị lên án là những sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động, bị cấm tàng trữ, bị tiêu hủy, nay được mang ra in lại, bán, kiếm tiền. Như truyện Bố Già, Ngọc Thứ Lang dịch, nguyên bản The Godfather của Mario Puzo. Trong dịp này một số tác phẩm hồi ký của ông Vương Hồng Sển được xuất bản ở Sài Gòn.

Vuong Hong SenĐêm buồn ở Mỹ tôi đọc truyện của Vương Hồng Sển. Ông viết hấp dẫn, kể chuyện có duyên, Sài Gòn trong những tác phẩm của ông là Sài Gòn trước 1945. Tôi chỉ trích ông Vương Hồng Sển ở điểm ông vô ơn với Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, quốc gia đã cho ông hưởng nhiều ân huệ, không biết bao nhiêu chiến sĩ đã chết để cho Ông Vương Hồng Sển được sống yên lành trong thành phố Sài Gòn từ năm 1947 đến năm 1975. Nhưng đã không biết ơn, khi được bọn cán bộ Bắc Cộng cho xuất bản sách, ông đã viết những lời tâng bốc bọn Bắc Cộng, những lời nhục mạ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa.

Đây là một vài đoạn tác giả Vương Hồng Sển viết về Quốc Gia VNCH:

Hơn Nửa Đời Hư. Vương Hồng Sển. Nhà Xuất Bản Tổng Hợp Thành Phố Hồ chí Minh ấn hành năm 1992. Trang 421-422.

Đầu năm Mậu Thân, ở đâu mà lại chẳng có cảnh bị bắn giết, đốt phá? Chính Gia Định cũng có cảnh nhà cửa tan ra cát bụi, bàn ghế, của tiền thập vật cháy ra khói, ra tro, chỉ vì người cầm quyền ngoan cố, bám theo chính sách Mỹ và Thiệu chúng nó vãi tiền ra hại cho đồng bào ta cùng một giống cầm súng bắn lẫn nhau, mà có như vậy họ mới đục nước béo cò, không khác những tên đày tớ gian tham khi chủ sai đi mua vịt quay gà quay, giả lựa chọn bốc con này, nắm kéo con kia, liếm mỡ dính tay cho đã rồi đem về cho chủ một con gà, một con vịt chỉ còn bộ xương dưới lớp da khô đét. Mỡ và thịt ai kia đã rút rỉa hết rồi! Nghĩ cũng thẹn cho con nhà văn trói gà không chặt, lúc thế lực bọn ấy đang mạnh cũng phải giả dại qua ải, và đợi cho đến ngày hôm nay chúng đã cút mất, mới dám nói ngay sự thật.

Nửa Đời Còn Lại. Vương Hồng Sển. Bản in của Nhà Văn Nghệ, Cali, trang 225.

Gẫm lại xưa như nay, đàn bà có nhan sắc, sang hay hèn, đều là ngoạn phẩm, đồ chơi, dù cho có bị đi cống Hồ, Hán Chiêu Quân, Đường Hạnh Ngươn, Lục Vân Tiên có nàng Nguyệt Nga, Tỳ Bà Hành có vợ khách buôn, ngày nay dù có Mụ Nhu hay con chiêu đãi cao cờ, nữ sinh đại học chờ thi đậu và vinh qui xuất giá, hay con nhà nghèo, vì thiếu cơm nên phải ngồi xe ôm, bán cà phê hay đứng gốc cây chờ khách, thẩy đều như hạt mưa sa, hạt vào đài các, hạt sa giếng sầu

Nửa Đời Còn Lại. Trg 68.

SÀIGÒN XÉT CHUNG TRƯỚC KHI TRỞ NÊN THÀNH PHỐ MANG TÊN BÁC KÍNH TRỌNG…

Văn nhân vô hạnh, và tồi tàn hơn nữa là bọn Bắc Cộng không đòi ông Vương Hồng Sển phải viết những lời ấy, ông đã tự ý viết ra, ông tự bôi bẩn lên mặt ông. Nhưng hôm nay, tôi không muốn viết về sự vô ơn của những người như Vương Hồng Sển, Sơn Nam; trong một bài khác tôi sẽ viết về họ.

Đêm qua tôi đọc quyển “Tạp Bút Năm Nhâm Thân 1992, Di Cảo của Vương Hồng Sển.” Sách xuất bản ở Sài Gòn năm 2003. Trong Tạp Bút Di Cảo có một chương làm tôi cảm động. Đó là chương tác giả viết thương khóc bà vợ thứ hai của ông khi ông được tin bà chết.

Người đàn ông Vương Hồng Sển không có duyên với đàn bà, có vẻ như ông không được đàn bà yêu thương. Theo lời ông kể ông cưới bà vợ thứ nhất năm ông 20 tuổi. Chưa được một năm, bà này ngoại tình. Ông ly dị bà thứ nhất. Năm 1923 ông kết hôn với bà vợ thứ hai, bà Dương Thị Tuyết. Sau 19 năm chung sống, năm 1947 bà Tuyết bỏ ông để lấy một người bạn của ông. Ngày 1 Tháng Bẩy năm 1992, 50 năm sau, được tin bà Tuyết qua đời, ông đến chào vĩnh biệt bà. Trong những đêm Tháng Bẩy 1992, sống một mình trong căn nhà ở Gia Định, Bà Năm Sa-đéc, bà vợ thứ ba của ông, đã qui tiên, ông Vương Hồng Sển viết bài Khóc Thê thương khóc bà Dương Thị Tuyết. Khi Bà Năm Sa-đéc qua đời, ông đã viết về bà và có bài Văn Tế Khóc Bà.

Năm 1996 ông Vương Hồng Sển qua đời. Ông đã viết đến năm ông 92 tuổi.

Mời quí vị đọc bài viết của ông Vương Hồng Sển:

Tạp Bút Năm Nhâm Thân 1992. Di cảo. Vương Hồng Sển. Nhà Xuất Bản Trẻ ấn hành năm 2003. Trích những trang 214-218.

Khóc Thê

Viết muộn ngày 31 Juillet 1992, khi hay tin Dương Thị Tuyết đã không còn.

Em Tư ôi, anh khóc em đây. Thôi, thôi, em Tư của anh đã không còn rồi!

Chiều 6 Juillet, thằng Thông đến vội vàng, cho hay tin em đã nhắm mắt từ hôm 3 và đã liệm xong rồi, trễ quá rồi và ngày mai 7/7, sẽ đưa đi hỏa táng ở Cây Quéo và tro cốt sẽ gởi nơi nhà thờ. Tin như sét đánh, chẳng kịp bưng tai. Còn gì nữa đâu!

Nghe tin dữ và biết ngày 7/7 ắt không kịp đến đưa em ra đi một tấc đường, anh lật đật thay y phục và hối Thông chở xe ôm cho anh qua Thanh Đa, chào em lần cuối cùng… và lòng bùi ngùi thương tiếc, hôm nay còn chưa hết xốn xang… Chuyến trở về nhà, lãnh đủ một cây mưa tầm tã, thiệt là đáng tội.

Mười chín năm hạnh phúc, kể từ cưới em năm 1923, em vừa 17, anh thì đã một lần có vợ, và vào tuổi 27, hơn em đến mươi mười. Qua năm 1947, hồ tan keo rã — em bỏ anh, mấy lần cậy anh em thương thuyết, nài nỉ cách mấy, em cũng không ở lại. Thế rồi em lấy Hồ văn Thân, nhỏ hơn anh trên mười mấy có dư, em vui duyên mới, anh tê tái nát ruột như tương, chia nhau của cải, em biếu anh mớ sách cũ và bao nhiêu thứ đồ cổ mà em không tha thiết, em chỉ xin và anh vui lòng để em ôm hộp sắt Fichet ra đi, hộp chứa đựng vàng vòng của phụ thân anh tự tay làm ra, và bao nhiêu của báu mà anh không màng, anh chỉ màng mối tình 19 năm âu yếm mà em đành đứt đoạn, của báu ấy xiết bao người mê thích, chỉ mình anh không thích mê chút nào, thật vậy, anh chỉ mê chén xưa tuy nứt nẻ, mê ấm sứt vòi, anh không lanh lợi như Thân, mỗi dịp Tết hội nhau chơi bài, Thân ăn gian mà anh lù khù vẫn chung tiền, tưởng em và Thân sống dai hơn anh, ngờ đâu em đã cô đơn, góa bụa trên mấy năm nay và vừa rồi cách nay chưa đầy một tháng, Thông đến nhà cho anh hay một câu cụt lủn là khi em biết Thông sẽ ghé nhà anh, câu ngắn gọn: “Gởi lời thăm nhé!”, câu ngắn nhưng anh chưa kịp đến thì em đã vội lìa đời!

Trên đây là mơ màng, tưởng tượng xảy ra trong trí óc anh. Khi anh đến nhà em, leo thang lầu số 1 Thanh Đa, bước vào phòng tang chế, thấy một quan tài bằng gỗ tạp phất giấy rằn ri sơ sài, cốt để che mùi trong ấy ra, và có cần chi chu đáo… vì mai nầy sẽ hỏa thiêu, dung nhan tươi đẹp mà chi, sắc tài mà chi, hu hu, em ôi!

Anh ngồi đó mà lòng thầm trách em, nay đã nằm trơ trong sáu miếng ván sơ sài, mai nầy sẽ làm mồi cho lửa, sao em không nhớ, và hãy để anh kể lại giờ phút này. Năm 1928, khi kết hôn với nhau, anh vừa thi đậu nửa miếng chức tham tá (commis, examen de culture générale pour l’emploi des commis, thi năm 1927). Vì thi chỉ một kỳ mà đậu cho nên được tuyển làm đông sàng, trong khi em hơ hớ đào tơ 17, tiếng ở chợ châu thành Sốc Trăng, lại là “cháu nội bà Phủ” (ruộng cò bay hai ngàn mẫu tây, thẳng cánh), tiếng ở đất Sài Gòn, thế hệ 1927-1928, em là “hoa đào vừa hé”, nhưng đó toàn là “bánh vẽ trong keo sành”! Vì tuy cháu của bà Phủ An, nhưng bà không nhìn, tuy “đào hé nhụy” nhưng gia đình đánh bạc nợ thiếu tứ giăng… Rồi từ khi anh đưa em về tỉnh Sa Đéc, năm 1928, sau khi bà nhạc từ trần, tứ cố vô thân, mười lạng vàng của mẹ anh mãn phần trối để lại, anh dâng cho nhạc phụ, nhạc mẫu làm lễ sính, ông bà “nướng” tất cả trong sòng me, cầm thế cho nhà Tăng Quang Vĩ, 10 lượng thế lấy 600 đồng bạc đầm xòe, khi mẹ chúng ta mất rồi, người bố ghẻ hứa chuộc nhưng không giữ lời, may đâu nhân một tiệc cưới, bà từ Sốc Trăng lên đi họ và dự tiệc tân hôn ấy, rồi bà nhìn em làm cháu và lần hồi, nhờ thời mà cũng nhờ anh khéo chiều ý bà rồi bà tha thứ và cho hưởng gia tài. Bà mất năm 1931, trối lại cho em nào đôi bông 6 ly là đôi bông tai kim cương của bà đeo từ trước, và nhứt là cái vòng xoàn đeo cổ, đếm 16 miếng vàng, có nhận xoàn từ 3 đến 4 ly (nếu biết lấy xoàn này nhận làm bông tai sẽ có 160 đôi hoa tai, mỗi đôi nay giá mấy triệu đồng), nhưng thảy đều tiêu tan như bọt xà bông, em thua bài, thua bạc sạch trơn, lớp nào tiền mặt gởi nhà băng của Thân, khi giải phóng kéo vô tịch thu sạch, rồi Thân chết trước, nay em lìa đời như vầy, em là bà Thân trên 30 năm dài, và em là cựu chánh thê của Sển nầy, hỏi 19 năm của anh, làm sao dày bì trên 30 năm với người kia, nay anh ngồi tần ngần trước quan tài trơ trẽn của em, em là vợ của anh hay em là vợ của Thân? Thân là kẻ thù cướp vợ của Sển, tưởng Thân sống dai và Sển chết trước, ngờ đâu Sển lần hồi lấy một cô đào hát, may được một mụn trai nối dòng, còn em hai lần lấy chồng mà “hoa không kết quả”, em sạch sành sanh, nhắn anh một lời cụt ngủn: “Gởi lời thăm nhé!” Tư Tuyết em ôi, lòng anh đau như dao cắt, nhứt là hay tin cốt tro của em sẽ gởi vào thánh đường, nhưng nhà thờ gần đây mới bắt chước đạo Phật, đạo Chà, bày ra tro cốt gửi nhà lưu trữ, còn anh đây, nửa theo Thích Già, nửa theo đạo Khổng, anh đang điều đình với Phụng, là dưỡng tử của em, hãy cho anh rước tro em đưa về an táng nơi đất chùa ở Quang Mỹ tự (Phước Thiền), Biên Hòa, may ra được gần phần mộ của bà và của anh Ba Thoại, bào huynh của em.

Anh nay trách em tại sao không nhớ buổi hàn vi chơn ướt, chơn ráo, từ trường Máy ở Sài Gòn về Sa Đéc, mỗi đêm anh mê chia bài thiên cửu, dắt em theo ngồi ngoài sòng chờ anh sát phạt ba cây bài gỗ, khuya rủ nhau đi xơi mì chú Dầu nơi mé rạch Sa Đéc, qua năm 1931 đổi về tỉnh nhà Sốc Trăng, rồi năm 1938 đổi lên Cần Thơ, kế thuyên chuyển về đô thành Sài Gòn làm việc nơi Soái phủ Nam kỳ, có tiền dư, có sức khỏe, ngờ đâu xảy ra việc binh Nhựt tràn vào cõi Nam, tiếp theo là cuộc Pháp mất thuộc địa, toàn quyền Decoux bị hạ bệ, Nhựt hất chân Tây, để lãnh đủ hai trái bom tan tành giấc mơ Đại Đông Á, đôi ta chạy về ruộng nhà ở làng Hòa Tú, trần ai khổ cực có nhau, bỗng chuyến trở về châu thành Sốc Trăng, ngồi dưới sương lạnh suốt một đêm dài, về tới nhà phụ thân anh, em xán một cơn bịnh trối chết, bịnh ban cua lưỡi trắng, chạy thầy, chạy thuốc, bổn thân anh bơm thuốc, hốt bụm chất dơ, em lành mạnh rồi, em đáp xe đò lên Sài Gòn mượn tiếng đi bán xoàn để có tiền chi dụng, ngờ đâu kim cương là đại họa, cái bâu cổ 320 hột quí làm cho đổi trắng thay đen, lỗi một phần tại Cảnh (em khác mẹ của anh). Cảnh nhẫn tâm đổ lư hương nhạc mẫu của anh, mẹ của em, em nước mắt dầm dề, rồi xảy ra chia uyên, rẽ thúy từ đây, ôi nhắc lại làm chi, mọi sự đã trễ rồi. Quan (anh của Cảnh) quì gối lậy em xin tha tội, anh riêng nhờ chị Emille Penne giải hòa, nhưng mối họa nan giải, nay em nằm trong đó chờ ngày mai sẽ thử lửa, thân ngọc ngà, sắc nước hương trời, tuy chồng trước là một thư ký của Tây quèn, nhưng riêng em được bà cho của, xoàn tiền bất cứ thua ai, chúng bạn yêu vì, mà cũng vì mấy hột kim cương tai hại khiến “anh bị chúng giựt vợ”, em là cháu của bà, cành vàng, lá ngọc, mà thay phận đổi chồng, ai kia nói có xoàn là sang, là quí, xin cho tôi cãi lại, tại tôi quá dễ dãi, bắt chước lối ăn ở theo Tây, để vợ quá tự do khiến chúng mê xoàn cướp vợ, nay em ra đi, anh sống lại làm chi với tuổi 91, để chứng miêng cảnh thương tâm nầy? Hồn em có linh, xin chứng chiếu, anh không mê xoàn và vì xoàn có nhiều nên sanh tai họa.

Hết bài KHÓC THÊ

Phải đọc “Hơn Nửa Đời Hư, Nửa Đời Còn Lại” mới biết rõ ông Vương Hồng Sển kể những gì trong bài Khóc Thê: bà Dương Thị Tuyết là cháu bà Phủ Ba, một bà điền chủ, bà Phủ Ba không con, khi từ trần cho bà Tuyết hưởng gia tài. Bà Tuyết thừa hưởng một két sắt hiệu Fichet trong đựng đầy kim cương. Không thấy ông VH Sển viết gì về số ruộng của bà Phủ Ba. Sống chung 19 năm, vợ chồng không có con. Sống với người chồng sau 30 năm, bà Tuyết cũng không sinh lần nào.

Đọc Khóc Thê, tôi thấy khi viết, ông VH Sển có ý cho bài này vào tác phẩm sẽ xuất bản của ông, vì ông viết nhiều tiếng để giải thích không cần thiết với hương hồn người quá cố, ông viết cho những người đọc bài khóc vợ đó của ông. Năm 1946 chạy loạn chiến tranh Việt Pháp, ông bà Vương về ở Sốc Trăng, cùng nhà với mấy người em cùng cha, khác mẹ của ông. Một người em ông Sển đổ bát hương thờ bà mẹ của bà Tuyết. Việc ấy làm bà Tuyết hờn giận. Rồi bà Tuyết về Sài Gòn trước, bà bỏ chồng, bà kết hôn với ông bạn của chồng bà. Ông Sển viết: “…anh đang điều đình với Phụng là dưỡng tử của em, hãy cho anh rước tro em về an táng nơi đất chùa Quang Mỹ tự (Phước Thiền), Biên Hòa, may ra được gần phần mộ của bà và của anh Ba Thoại, bào huynh của em.” Ông Sển không cần nói với bà Tuyết: “..Phụng là dưỡng tử của em..” Bà Tuyết tất nhiên biết Phụng là con nuôi của bà. Ông VH Sển viết rõ về nhân vật Phụng cho người đọc bài viết của ông biết Phụng là ai.

Dường như ông VH Sển chưa kịp sửa lại bài Khóc Thê. Có nhiều đoạn lời không được suôi, chấm phẩy, cắt câu, ngắt đoạn không đúng. Người cho in Di Cảo của ông tôn trọng bản văn của ông nên để nguyên, không sửa, tôi đánh máy lại chương Khóc Thê đúng như trang in, đúng cả những dấu chấm, phết.

Đọc Khóc Thê, tôi cảm động vì mối tình của người viết với người đàn bà ông yêu thương nhưng không yêu thương ông, người đàn bà chung sống vợ chồng với ông 19 năm nhưng vẫn bỏ ông để đi sống với người đàn ông khác, 50 năm sau ngày xa nhau người viết vẫn yêu, vẫn thương người xưa.

Đọc Khóc Thê, tôi cảm phục người viết: Ông già 90 tuổi đêm ngồi kỳ cọc gõ máy chữ viết một bài như thế là nhất. Tôi có sống đến năm tôi 90 tuổi, chắc tôi không thể viết được như ông Vương Hồng Sển.

Advertisements

4 Responses

  1. Kính chào Công Tử Hà Đông.

    Cám ơn Công Tử… Đời mà thiếu Công Tử là bọn hậu sinh chúng em… dốt hết ráo. Nhờ đọc những bài viết của Công Tử mà… Kiến thức trở nên uyên bác. Tôi có biết bà 5 Sađéc nhưng tuyệt đối không biết đến người chồng Hồng Sển của bà.

    Nhờ những đoạn trích dẩn của bác mà tôi biết được thêm 1 tên văn nô nâng bi, bợ dĩa vẹm, bôi nhọ Việt Nam Cộng Hòa 1 cách hèn mạt.

    Đọc “Khóc Thê” để thương hại cho 1 tên văn nô, ngu đần, daị gái ngu si ngồi nhìn “ghệ già” nằm trong “hộp giấy” mà vẫn còn “tưởng tượng” đến cảnh ngọc trắng ngà trong, lúc em 17 “sự đời” như “hoa đào vừa hé” (đọc nghe bắt thèm)… Và tuy noí là không màng đến hột xoàn châu báo nhưng đọc lên lời kể lể rùm beng thì rõ ràng là cay cú còn hơn cáo hồ bị ướp xã ớt ở Ba Đình… Cũng may cho lão HSển là lão đã… Đi ị,chứ nếu lão còn lạng quạng trên cõi đơì này thế nào cũng bị Dân, Quân, Cán, Chính của Việt Nam Cộng Hoà bạt tai, đá đít cho bỏ tật nịnh bợ nâng bi vẹm đực, đội dĩa vẹm cái. Cũng may cho tôi, nếu không có Công Tử viết bài này, hôm nào sớn xác mua nhằm sách của VHSển đọc chắc phải sớm đi… đầu thai tìm lão để tẩn cho lão 1 trận. Kính chào Công Tử.

  2. ngay nao khong doc ong thi an khong ngon .

  3. Thưa chú Hoàng Hải Thủy,

    Rất vui mừng khi tìm được blog của chú. Vừa làm việc, vừa uống cà phê và đọc những bài viết của chú, thú vị lắm !

    Chú bảo : “những độc giả đọc bài tôi bây giờ vị trẻ nhất cũng có tuổi đời Năm Bó, đa số từ Sáu Bó trở lên”. Cháu xin đính chính lại rằng: độc giả của chú cũng có những người Bốn Bó, như cháu đây ! Ngày xưa Saigon, mấy dì của cháu chỉ nhất định “đọc truyện ngoại quốc do Hoàng Hải Thủy phóng tác” mà thôi.
    Như Kiều Giang chẳng hạn.

    Rất mong được đọc nhiều nữa những kỷ niệm của Saigon trước hay vào những năm tháng đầu sau ngày thất thủ… viết từ Rừng Phong của chú.

    Cảm ơn chú đã viết, đã xẻ chia và gợi nhớ… Cầu mong chú được nhiều sức khỏe.

  4. […] Xin xem thêm trọn bài ở đây: Viết Đến Bao Giờ? […]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: