• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Đời Bên Kia Tình Đợi

Le Manh That in Bangkok

* Tiếp theo bài hôm qua.

Các vị Sư Ông Già Lam: Trí Siêu, Tuệ Sĩ, Tâm Lạc, Đức Nhuận bị tù vì tội “Âm mưu lật đổ bàn thờ Bác Hồ“, chuyện ấy quí vị đã biết. Nay xin viết về thành tích của các vị Linh Mục được kể tên trong loạt bài này: Cha Nguyễn Công Đoan, Cha Ngô Quang Tuyên, Cha Nguyễn Hoàng Hai, và các Mục sư Nguyễn Hữu Cương, Hồ Hiếu Hạ, Lê Thiện Dũng.

Cha Nguyễn Công Đoan là Linh mục Trưởng Dòng Tên ở Việt Nam. Năm 1982 bọn Công An Thành Hồ bắt Cha và khoảng ba, bốn ông cha khác. Những năm đó bọn Công An Thành Hồ muốn bắt ai thì bắt, không cần người bị bắt có tội, chúng cũng không cần nêu lý do. Chúng bắt Linh Mục Trưởng Dòng Tên và cướp Tu Viện Dòng Tên, một toà nhà lớn ở Sài Gòn. Tuần báo Công An Thành Hồ vu cáo các cha can tội phản cách mạng, tức là tội “Âm mưu lật đổ bàn thờ Bác Hồ“, cùng tội với các Sư Ông Già Lam. Bọn Tuần báo Công An Thành Hồ còn đăng những bài nửa tin, nửa chuyện rỡn, tiết lộ chuyện chúng bắt được nhiều thư tình — thư đàn bà, con gái viết cho các cha.

Linh mục Nguyễn Công Đoan bị bọn Toà Án Thành Hồ xử 14 năm tù. Từ Nhà Tù Chí Hoà, cha lên Z 30 A khoảng năm 1986, 1987. Cha quen nhiều người ở Sài Gòn, cha có thể vừa giúp cho các bạn tù đỡ khổ, vừa giúp cho bọn Quản đốc Trại. Cha về Sài Gòn xin, chạy, bỏ tiền ra mua dây thép, dây điện, bóng đèn điện, phụ tùng máy phát điện, ống nước cho Trại. Đang ở tù nhưng Cha về Sài Gòn sống vài ba ngày là chuyện thường. Luật của Trại Tù Khổ Sai là người tù nào cũng phải làm việc — ViXi gọi văn huê là “lao động” — già lão bẩy mươi, tám mươi cũng phải cuốc đất, gánh nước tưới cây. Cha Đoan về Sài Gòn xin một tổ chức Công Giáo cấp cho một ngân khoản, Cha nhờ người mua lát ở Sài Gòn, chở bằng xe hơi lên trại, cho khoảng chừng 50 ông tù già ngồi đan giỏ đệm. Những ông tù già này được ngồi trong Hội Trường đan giỏ. Mỗi tháng người ở Sài Gòn đưa một xe lát lên trại, lấy các sản phẩm, đưa một khoản tiền mua sản phẩm. Khoản tiền này được nộp hết cho trại.

Sau năm 1988, bọn Việt Cộng bắt buộc phải đổi mới, chúng không còn tiền để nuôi bọn cán bộ như trước. Bọn cán bộ các tỉnh phải kiếm tiền để sống. Do đó xẩy ra tình trạng các nhà gọi là Văn Hoá Xã, Quận, Tỉnh chiếu phim Con Heo cho dân xem để lấy tiền. Bọn Quản Đốc các Trại Tù Khổ Sai cũng phải tự kiếm tiền để sống. Bọn Quản Đốc Z 30 A đã bán hết những cây rừng có thể bán được quanh trại cho Ba Tầu, nay chúng phải dùng biện pháp khai thác tù nhân để lấy tiền. Tù nhân Z 30 A được quyền ra khu Ngã Ba Ông Đồn mở tiệm may, sửa xe, bán báo, với điều kiện mỗi tháng nộp một khoản tiền cho Trại — người tù sáng đi, tối về, có người được ở luôn ngoài Ngã Ba Ông Đồn.

Khi các Sư Ông Già Lam, rồi ông Nhà Văn Doãn Quốc Sĩ từ Đại Học Chí Hoà lên trại, Cha Đoan nẩy ra sáng kiến thành lập một Tổ Dịch Thuật cho mấy ông tù chân yếu, tay mềm, trói gà không chặt này làm, để mấy ổng khỏi phải đi cuốc đất, gánh nước tưới miá, tưới tiêu, điều, áp tải Xe Vàng, tức Xe Phân, từ Cầu Tiêu Tập Thể đến đổ vào một cái ao làm phân bón. Cha về Sài Gòn liên lạc với nhóm Linh Mục Trương Bá Cần để lấy tiền, lấy sách dịch. Tổ Dịch Thuật gồm Cha Đoan là Tổ Trưởng, Tù 14 niên, Tổ viên là ông Nhà Văn Doãn Quốc Sĩ, Tù 9 niên, Sư Ông Tiến Sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tù 20 niên, Giáo sư Mã Thành Công, Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Cao Đài, Tù 8 niên, Kỹ sư Ưng Sơ, Tù 8 niên, Linh mục Ngô Quang Tuyên, Tù 12 niên.

Người Anh Em Cùng Vợ với tôi — Công Tử Hà Đông — là Anh HHT, Thợ Viết Gà Què Kẹt Giỏ kiêm Gà Sống Thiến Nuốt Dây Thung, lại có khi được Công An Thành Hồ ghi tên trong hồ sơ thẩm vấn là H2T, may mắn được Cha Đoan lấy vào Tổ Dịch Thuật. Anh được ngồi ở Văn Phòng trong Hội Trường dịch sách. Bị Cộng Sản bắt đi tù khổ sai, anh không biết mặt mũi cái cuốc ló ra nàm thao.

Tài liệu nhóm LM Trương Bá Cần đưa dịch là những văn bản ghi lại quá trình Cuộc Truyền Giáo Gia Tô trên hai miền Đất Nước An Nam — Đàng Trong, Đàng Ngoài — thời Vua Lê, Chuá Trịnh và những năm đầu Triều Nguyễn. Mỗi tháng người của nhóm LM Trương Bá Cần ô-tô con lên Trại, đem giấy bút, toàn đồ Pháp xịn, cấp cho Tổ Dzịch, và 1 triệu đồng tiền Hồ. Khoản tiền này được nộp cho Trại để 7 Người Tù Z 30 A đuợc ngồi nhà dịch sách.

Linh mục Ngô Quang Tuyên can tội Tổ Chức Vượt Biên, bị án tù 12 năm, là Thư Ký của Tổ Dịch Thuật.

Linh Mục Nguyễn Hoàng Hai không lên Trại Z 30 A, tôi nằm cùng Phòng 10 Khu ED Nhà Tù Chí Hoà với ông. Ông là Thư Ký của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình. Ông là con nhà giầu ở Lái Thiêu, vui tính, dễ sống, thích ăn bánh chưng Bắc Kỳ, cho Bánh Chưng Bắc ngon hơn Bánh Tét Nam Kỳ. Ông kể chuyện những năm 1952, 1953 ông là học sinh nội trú Trường Taberd, ông chơi Bóng Bàn ngang ngửa với người bạn đồng học của ông là Lê Văn Tiết.

Đúng vào thời kỳ Toà Thánh sắp phong Thánh cho một số Thánh Tử Đạo Công Giáo Việt Nam, Linh Mục Nguyễn Hoàng Hai, Thư Ký Riêng của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, tổ chức vượt biên. Linh mục và một số người thân, mua tầu để ra đi. Tất nhiên là bọn Công An VC Thành Hồ theo dzõi ông — và cũng tất nhiên là ông không biết ông bị công an theo dzõi — Bọn Công An Thành Hồ nghi Linh Mục được cử đi vượt biên để sang Roma vì Cuộc Phong Thánh. Linh mục và năm, bẩy người trong tổ chức vượt biên, được CA Thành Hồ rước về Nhà Tù Chí Hoà. CA Thành Hồ không đưa các vị này ra tòa xử, cứ để nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hoà đến hơn 3 năm. Toà Thánh làm Cuộc Phong Thánh xong, nghe nói Linh Mục Nguyễn Hoàng Hai và các vị đồng nhóm vượt biên đều được thả.

Linh Mục Nguyễn Hoàng Hai thích ăn ngon, ông tỏ ra khoái lạc ra mặt khi ông hút thuốc có cán 555, ông hay kể chuyện Tiếu Lâm, hay đuà rỡn với những người tù trẻ.

Năm 1988 một ông Tù mới từ Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu sang được đưa vào Phòng 10. Ông Tù này ngoài 60 tuổi, ông có ông con làm Dược sĩ ở Pháp. Nhờ ông con gửi tiền về, ông và bà vợ sống thoải mái, nhưng không có việc gì làm, ông buồn, ông cùng một anh cháu đi mua những sấp giấy đã có chữ một mặt, về cắt ra thành những tờ nhỏ, dùng một con dấu bằng gỗ khắc hình Chim Bồ Câu, in lên giấy. Ông và anh cháu đem những tập carte Bồ Câu Hoà Bình vào những xóm lao động, biếu mỗi nhà một tấm với lời chúc chủ nhà được An Vui. Bọn Công An tó ông và anh cháu vào Trại Tạm Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, thẩm vấn cả năm rồi đưa hai người sang Nhà Tù Chí Hoà. Anh em Tù Phòng 10 ED bàn tán về chuyện ông, đại khái: “Đi tặng Chim Bồ Câu thì tội gì mà cũng bắt người ta!” Linh Mục Nguyễn Hoàng Hai nói:

– Tại ổng tặng Bồ Câu Giấy nên ổng bị bắt, nếu ổng tặng Bồ Câu Thật, chắc ổng được hoan hô.

Nhà Tù Chí Hoà, Sài Gòn, năm 1988, Rừng Phong, Kỳ Hoa Đất Trích năm 2008. Hai mươi năm vèo qua trên dòng Thời Gian. Hôm nay viết lại chuyện 20 năm xưa, tôi nhớ lại cảnh buổi tối trong phòng tù xưa, người tù nào cũng ở trần, quần sà lỏn, nằm ngồi lổn ngổn trên sàn si-mo, dưới ánh đèn vàng vọt của bóng đèn điện trên trần phòng, tôi nằm phơi rốn trong đám tù nhân đó, nghe ông Cha nói về chuyện Bồ Câu Giấy, Bồ Câu Thật mà tủm tỉm cười một mình. Tối ấy tôi nghĩ: “Ông Cha này dzí dzỏm có duyên ghê.” Ông nói rỡn nhưng ông nói đúng. Tại Ông Tù kia tặng Bồ Câu Giấy nên ông bị Công An VC nó bắt, nếu ông tặng Bồ Câu Thật, chắc chúng nó chào đón ông, chúng nó tổ chức cuộc phát Chim cho ông.

Năm 1988, có thể nói đời sống của Người Tù Trại Tù Khổ Sai Z 30 A lên đến đỉnh cao nhất của sự Dễ Thở, huỵch toẹt là Sướng Nhất Toàn Cõi Vietnamese Gulag Archipelago; trong cái Gulag Z 30 A đời sống của Người Tù Sư Ông Tiến Sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát là Sướng Nhất.

Trong phòng tù, chỗ sạp Ông Tù Thiền Sư Tiến Sĩ nằm, có một cái bàn, Ông Tù làm việc dịch sách ở ngay đây, ông không đến văn phòng ngồi dịch như các ông Tù Dzịch cùng Ban Dzịch Thuật với ông. Ông ngồi dịch sách, sách ông dịch không phải là tài liệu Truyền Giáo Gia Tô mà là Sách Kinh Điển Phật Giáo, Cha Đoan để ông muốn làm gì thì làm, tháng tháng cứ chi tiền cho ông khỏi phải đi cuốc đất, gánh nước, hót phân người. Ông ngồi dịch sách, giỏ Thuốc Tây để bên, người tù, cán bộ đến xin thuốc ông giờ nào cũng được ông cho thuốc. Trại Trưởng thường vào uống trà, nói chuyện với ông.

Trại Tù Z 30 A có điện bằng máy phát điện riêng, máy chạy bằng xăng, mỗi phòng tù có một bóng đèn điện ở giữa phòng. Đèn điện có trong Phòng Tù từ 6 giờ tối đến 10 giờ đêm thì tắt. Ông Tù Thiền Sư xin, và được cấp một bóng đèn điện riêng mắc trên song sắt đầu chỗ ông nằm. Tối xuống, ông ngồi uống trà, tán dzóc với các ông bạn tù cùng phòng với ông, các ông Tù Doãn Quốc Sĩ, Lê Công Minh, Ưng Sơ, Mã Thành Công, Ngô Quang Tuyên. Xong tuần trà đàm, ông nằm đọc sách với bóng đèn điện riêng ngay trên đầu nằm.

Thuyền đua thì lái cũng đua. Thấy Ông Tù Lê Mạnh Thát tối tối được cấp riêng một bóng đèn điện, tôi, Công Tử Hà Đông, không xin phép, xin tắc chi cả, tôi tự cấp riêng cho tôi một bóng đèn điện. Tôi nhờ cán bộ Căng-tin đi chợ mua dây diện, bóng điện, về nhờ bạn tù bắt dây vào bóng đèn treo trên song sắt ngay đầu tôi nằm. Tối tối tôi cũng nằm phây phây đọc sách như Người Tù Lê Mạnh Thát.

Thế rồi Người Tù Lê Mạnh That tiến thêm nột bước nữa trong việc nằm đọc sách trong tù ban đêm, đọc với ánh đèn điện khi Nhà Tù đã tắt điện: Nhà Chùa, không phải Người Nhà Ông Tù Đẻ Bọc Điều, mang đến cho ông một cây đèn Made in Japan, loại Đèn Xách Tay để mang đi cắm trại ngoài trời, đèn có 2 bóng néon có thể cắm lấy điện — sạc điện — của Trại. Sau 10 giờ đêm, đèn điện Trại tắt, toàn Trại Tù chìm trong bóng đêm, riêng chỗ nằm của Người Tù Lê Mạnh Thát có ánh đèn điện trắng xanh, Ông Tù nằm trong mùng nylon, phây phây đọc sách đến khuya.

Các vị Phật Tử Hải Ngoại sẵn sàng bỏ tiền ra mua một khoảng đất ở Ngã Ba Ông Đồn, để Thầy Trí Siêu lập một kiển chuà, Thầy sẽ rời Nhà Tù ra ở Chuà đó, Ban Quản Đốc Trại Tù Z 20 A đòi chi bao nhiêu tiền một tháng cũng sẵn sàng và dzễ dzàng chi. Nhưng, dường như, việc cho Tù Sư Ông Phản Động từng bị kết án Tử Hình, nay Tù 20 niên, ra ngoài dựng Chuà và giữ Chuà là quá đáng nên Trại Trưởng Z 30 A không thể đáp ứng thuận lời yêu cầu cuả các vị Phật Tử quá kính mộ các Thầy của họ.

Mèn ơi. Viết về chuyện Tù Đày mãi buồn quá đi thôi. Người viết còn buồn, nói chi người đọc. Hèn chi có người hỏi: “Sao cứ viết mãi về chuyện Tù Đày?” Vậy xin cho phép tôi tạm ngưng chuyện Tù Đày — sẽ viết tiếp — để viết tí tỉnh về chuyện Thơ.

Thơ nhưng cũng là Thơ làm trong Tù. Năm 1988, những đêm nằm phơi rốn trong Phòng 10 Khu ED Đại Học Xá Chí Hoà, tôi làm những bài Thơ Tại Ngục Vịnh Kiều. Làm nhẩm trong đầu, đọc đi, đọc lại thật kỹ cho thật nhớ. Trung ngục tù Cộng sản không có giấy bút, người Tù nào làm Thơ cũng Làm Nhẩm, Nhớ Kỹ. Khi lên Trại Tù Z 30 A, có giấy bút, tôi chép những bài Thơ Tại Ngục Vịnh Kiều lên giấy, vợ tôi lên thăm, tôi đưa tập Thơ cho nàng mang về Sài Gòn, và thế là từ đó tôi không còn phải nhớ những bài Thơ đó nữa.

Năm 1989 tôi ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, con tôi mang lên Trại cho tôi quyển Thơ tiếng Anh của Trường Đại Học Oxford, quyền Thơ cả ngàn bài thơ. Tôi muợn quyển Thơ này của Thư Viện Toà Đại Sứ Anh, đường Thống Nhất, Sài Gòn. Theo đúng tập tánh Bê Bối, tôi muợn sách Thư Viện — 2 quyển — rồi lấy luôn, không trả. Buổi tối, nhờ bóng đèn điện ở chấn song sắt đầu ván gỗ, tôi nằm đọc Thơ tiếng Anh và dzịch Thơ. Nay tôi có giấy bút, dzịch được câu nào vừa ý, tôi nhổm dậy ghi xuống giấy. Trong 12 tháng ở Z 30 A, tôi dịch được khoảng 50 bài Thơ tiếng Anh ra Thơ Việt. Tôi thì tôi thấy nhiều bài rất được, xin đăng một, hai bài ở đây xem quí vị thấy ra sao.

HERBERT TRENCH
1865-1923

She comes to me.

She comes not when Noon is on the roses.
Too bright is Day.
She comes not to the soul till it reposes
From work and play.

But when Night is on the hill and the great Voices
Roll in from the sea.
By starlight and by the candlelight
She comes to me.

Nàng đến

Nàng không đến khi Nắng trên Hồng
Vì Ngày quá sáng.
Nàng chỉ đến khi tôi đợi trông
Đúng ngày, đúng tháng.

Nàng đến khi Đêm xuống Đỉnh Trời,
Gió về từ Biển.
Khi hồn tôi mơ ảo tuyệt vời
Với tôi Nàng đến.

Z 30 A, 7 Tháng 12, 1989.

EDMOND VALLER
1606 – 1687

Old Age

The seas are quiet when the winds give o’er,
So calm are we when passions are no more.
For then we know how vain it was to boast
Of fleeting things so certain to be lost.
Clouds of affection from our younger eyes
Conceal that emptiness which age decries.
The soul’s dark cottage, batter’d and decay’d,
Lets in new light through chinks that Time hath made:
Stronger by weakness, wiser men become
As they draw near to their eternal home.
Leaving the old, both world that once they view
That stand upon the threshold of the new.

Đời bên kia Tình đợi

Biển yên lặng khi gió trời ngừng thổi,
Ta thản nhiên khi mê đắm dịu rồi.
Vì ta đã biết những gì sôi nổi
Chỉ thoảng qua đời, thấp thoáng mà thôi.
Bão tố đam mê khi ta trẻ tuổi
Phù vân bay — khi ta đến cuối đời.
Tâm hồn già nua, rã rời, mệt mỏi,
Vết Thời Gian để lại những khung trời.
Dù tang thương, dù u ám, tả tơi
Ánh sáng mới vào hồn cùng với tuổi.
Mạnh hơn, khôn hơn, mặc dù yếu đuối,
Người đi xa về đến cửa nhà rồi.
Thế giới cũ giã từ không tiếc nuối,
Ngưỡng cửa đời chân dạo với yên vui.
Ta gửi lại đời mấy hơi thở cuối,
Một đôi tình hoài niệm tuổi đôi mươi.
Thế giới mới đang chờ ta bước tới
Đời bên kia Tình đợi đó, Em ơi.

Z 30 A, 2 Tháng 12, 1989.

(Còn tiếp)

Advertisements

One Response

  1. Giã sử co’ một kiều nử Trưng Vương cuã 40 năm trươ’c o*? chô’n Sè Goàng hoa lệ mê truyện pho’ng ta’c cuã Ba’c nhưng đặt nghi vâ’n khả năng tiê’ng Tây cuã Ba’c như là Ba’c thuê ai đo’ pho’ng ta’c truyện Tây . Nê’u kiều nử này tha’ch thư’c Ba’c thi đít tê tiê’ng Pha Lang Sa ba’c co’ châ’p nhận cuộc thi không ?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: