• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Sài Gòn Có Gì Lạ?

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi nhận được thư này từ một bạn đọc của tôi:

Kính thưa bác Hoàng Hải Thủy,

Book CoverCháu tên là HV, cháu đọc bài “Tắm Mát Ngọn Sông Đào” của bác Viết Từ Rừng Phong. Nghe bác nói bác muốn đọc lại những bài viết của bác những năm 1977, 1978 từ Sài Gòn gửi ra nước ngoài. Rất may cháu có cất giữ 2 bài viết của bác, cháu cắt hai bài này từ tờ báo “Hồn Việt” số 151 tháng 11 năm 1982 và tờ “Nguồn Việt” (Hồn Việt mới) số 5 tháng 8 năm 1983 với tựa đề “Saigon có gì lạ không em?” (đính kèm) ký tên tác giả là “Dương Hồng Ngọc” (?) . Dù bài để tên khác nhưng cháu đọc là cháu nhận ra văn phong của bác ngay. Cháu muốn gửi biếu bác 2 bài viết này.

Cháu vẫn thường đọc lại những bài viết này để vưà cười lại vừa khóc một mình. Cháu rời VN từ tháng 4/1975 nên những bài báo của bác là những hình ảnh sống động vẽ ra cho cháu thấy cảnh sống khốn khổ của người thân mình còn kẹt lại bên nhà. Đọc để thương nước mình thương dân mình nhiều hơn. Cháu cảm ơn bác đã viết thiên phóng sự này, và cảm ơn bác qua 20 năm sống bẩy nổi, chín chìm như bác tả, đến nay bác vẫn còn tiếp tục Viết Từ Rừng Phong cho cháu được đọc mãi .

Vài hàng tin bác biết, chúc bác và gia đình nhiều vui khỏe an khang .

Kính thư, HV

9 Giờ tối Thứ Hai. Miền Tây Bắc Xứ Cờ Hoa

Bác Hà Đông kính mến,

Bác ơi… có tin vui, copy ra cháu mới biết là trong file cháu giữ có đến 4 bài của bác lận, ôi.. cháu sung sướng quá và cháu bèn khen cháu một phát. Dù mấy hôm trươcù khi biết bác muốn đọc lại những bài viết cũ, cháu đã tự chửi cháu là ngu quá, đã biết cắt bài để dành mà không để dành cho nhiều; hồi đó cháu làm biếng không ráng giữ hết tất cả những bài báo của bác để bây giờ hối tiếc thì than ôi đã muộn rồi!

Cháu thắc mắc sao ông Trần Tam Tiệp lại không giữ lại những bài báo quí giá này nhỉ? Độc giả thì khó mà ai giữ được, lý do mỗi lần dọn nhà là một lần thanh lọc, tổng vệ sinh, phải vứt bỏ một mớ đồ vật, sách báo cũ, băng nhạc cũ, tất cả a-le hấpâ cho vào sọt rác dù có tiếc đứt ruột; ở apartment thì còn có thể bê bối chứ mới mua cái nhà cả mấy trăm ngàn mà ôm cái đống đồ cũ đó vào nhà thì mất mặt bầu cua quá xá… Không ngờ có ngày tóc lấm chấm bạc lại nhớ những món đồ cũ đó mà xót sa, nhất là tiếc những tờ báo năm xưa, đôi khi tình cờ mò ra đâu đó được tờ báo cũ là vồ lấy đọc ngấu nghiến.

Tin vui thứ hai: nghe bác nói bác sẽ gõ lại những bài viết này, thêm lời phụ đề năm nay 2004 của bác rồi cho đăng báo lại, cháu cảm động quá. Vậy thì cháu sẽ phụ với bác, hai bác cháu cùng gõ cho vui và cho nhanh, Nhà cháu cũng sẽ phụ một tay.

Nghe bác kể lúc bác viết những bài đó bác sợ hãi vì có thể bị nguy hiểm như thế nào cháu thương quí bác hơn. Lâu nay cháu vẫn muốn biết làm sao bác ở Sài Gòn mà gửi những bài viết này ra ngoại quốc được? Ai mang đi gửi cho bác? Ai mà dám làm việc đó?

Mấy tuần nay cháu không được đọc bài Viết ở Rừng Phong nào của bác, vì cháu làm biếng đi chợ, hôm đi chợ muộn thì hết báo, tờ báo Sàigon Nhỏ chạy quá, bác ạ, phải đi chợ sáng Thứ Bẩy chứ chiều mới đến là coi như không còn báo, thế là cháu phải đợi bài lên Net mới đọc được, hay là đợi mượn bên nhà ông anh cháu. Nếu bác có bài Viết ở Rừng Phong tuần trước và tuần này, xin bác gửi cho cháu.

Bác nhớ câu này không:

Trăm nghìn gửi lậy tình quân
Tấc lòng can đảm có ngần ấy thôi…

Bác mà đăng lại bài có câu đó với lời phụ đề năm nay thì đọc lại cháu sẽ là người khóc trước nhất.

Cho cháu gửi lời hỏi thăm cô Alice, cháu nhớ nhất là Kiều Giang.

Kính quí, HV

———-

SÀIGÒN CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM ?

Dương Hồng Ngọc Viết Từ Thành Phố Hồ Chí Minh

Anh có một cặp cá tai tượng, khoảng hai mươi con cá vàng, nuôi trong cái hồ nước ngoài sân bếp. Buồn quá không có việc gì làm thì nuôi chơi vài con cá. Vài ngày anh lại ra chợ mua bèo tấm về cho cá ăn.

Ở những chợ quanh Sài Gòn, có những bà già, em nhỏ chịu khó đi vớt bèo tấm bán cho những người nuôi vịt, nuôi cá. Một thúng bèo tấm bán hết ít nhất cũng được 10 đồng. Làm nghề này không cần vốn, chỉ mất công, hôm nào hàng họ có ế cũng không sợ lỗ, vì bèo để hôm sau vẫn còn tươi, còn bán được. Mỗi lần mua bèo, anh thường mua 50 xu tức 250 đồng cũ, về cho cá ăn.

Sáng nay khi đi qua chợ anh phải dắt xe đạp, vì vỉa hè trước chợ bị bà con chiếm kín để bán hàng, người đi bộ cũng phải đi dưới đường. Sài Gòn hiện có 3 triệu xe đạp, 1 triệu xe xích lô đạp. Mới có 6 năm xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa mà gần như mọi người dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có được một chiếc xe đạp, mười năm nữa thôi những người dân ấy sẽ tiến lên, mỗi người sẽ có một chiếc ô tô bương. Thành phố rất vui nhộn và hoạt động, vì đầy người đi xe đạp. Nhưng sáng nay, sở dĩ anh đi mua bèo cho cá vất vả hơn mọi lần vì con đường qua trước chợ đã chật, đã luôn luôn đầy người nhất là vào những buổi sáng, riêng sáng nay lại còn kẹt hơn vì ở đó có nhà có đám ma.

Dam MaNhà có đám ma sắp động quan, đầy con cháu, khăn trắng, khăn vàng. Xe tang đậu bên đường, hai dàn nhạc trên vỉa hè: dàn kèn tây với đủ trombone, trompette, clarinette, trống cà rùng, một dàn kèn bát âm tò tí te dân tộc. Hai dàn kèn đồng thi nhau trình tấu. Ở Sài Gòn bây giờ, muốn nghe nhạc kèn đồng chơi những bài Paloma, La Cumparsita, Lô-ve-sì-to-ri v.v… người ta chỉ việc đi theo những đám ma có dàn kèn. Trước 1975 nhiều đám ma ở Sài Gòn cũng có những dàn kèn đồng đưa đi như thế, nhưng ngày đó chúng ta điên đầu, nhức óc vì những băng nhạc, chúng ta vất vả vì công ăn việc làm, nên mỗi lần đi đường gặp đám ma là chúng ta tìm đủ mọi cách chạy cho mau, cho xa, để tránh nạn kẹt xe. Sáu năm rồi những máy quay băng không còn nhiều nữa, chúng ta ít có dịp được nghe nhạc kèn đồng nên chúng ta đâm ra thèm. Dàn kèn đám ma thường biểu diễn cả cái bài Nắng Chiều ngày xưa em thích:

… Qua bến nước xưa… lá hoa về chiều…

Dàn kèn đồng, thường thuộc các phường Thiên Chúa Giáo, bây giờ tiến bộ lắm. Anh mù tịt, điếc đặc về âm nhạc nên anh có cảm tưởng như các nhạc công toàn là những tay trứ danh, nhà nghề, biểu diễn thần sầu, quỉ khốc, nhạc công Mỹ đen New Orleans chơi kèn đồng cũng chỉ cừ đến thế là cùng. Nhiều dàn kèn đưa đám ma chuyên nghiệp, có tổ chức đàng hoàng, bận đồng phục mầu đen, đi giày vải đen, còn có cả những anh dẫn nhạc cầm gậy đầu bịt đồng vàng choé, múa may, tung lên, bắt lại, kiểu các em Marjoret của các dàn nhạc kèn đồng ở Mỹ, trông vui ra gì.

Sáng nay, khi dắt xe qua cửa nhà đám ma, anh nhìn tấm ảnh chắc vừa phóng đại đêm trước, để trên xe tang, thấy người ra đi là một bà cụ già vấn khăn kiểu Bắc kỳ di cư, nếu bà cụ có chụp tấm ảnh này 20 năm trước thì khi chụp chắc bà cụ cũng đã phải 60 tuổi. Anh tức cảnh sinh tình, vừa dắt xe đi vừa làm bốn câu thơ:

Cả đời chẳng biết tiếng tò te
Chết rồi, tai điếc lấy gì nghe?
Con cháu mừng rơn, con cháu khóc
Tò le nhạc trổi bản Lô-ve

Anh mở đầu cuộc kể chuyện bằng một chuyện đám ma là có chủ ý. Các cụ ta có câu “sinh dữ, tử lành”, sao anh thấy hay quá, đúng quá. Trời đất này, chẳng cứ gì ở Sài Gòn hay Bắc Kinh, mà là ở khắp thế giới, dân số gia tăng vòn vọt, người ta nhung nhúc, nhiên liệu cạn dần, diện tích đất đai để canh tác thâu hẹp so với số người cần đào đất để trồng cái ăn. 20 năm trước trên báo Paris Match đã đăng phóng sự kèm hình ảnh ở Ấn Độ người ta khuyến khích đàn ông “treo chim,” — cắt ống dẫn tinh — những trạm y tế “treo chim” lưu động được mở ở những nhà ga, cửa chợ. Đàn ông vào “treo chim” không những miễn phí mà còn được chánh phủ tặng tiền, ai không lấy tiền thì có quyền lấy cái radio transistor về nghe nhạc chơi cho đỡ buồn. Chuyện dân số khủng hoảng cũng như các cuộc lạm phát võ khí hạch tâm hiện nay chắc ở bên ấy em biết rõ hơn anh. Vậy anh chỉ nói chuyện ở đây thôi. Ở đây “tử” là một vấn đề khó khăn, phiền nhiễu mà “sinh” lại là vấn đề gay cấn, dữ dội hơn. Chết thì chỉ phải lo có một lần thôi, lấp đất hay thiêu xong là hết, còn sinh ra một tí nhau là phải lo dài dài. Một hộp sữa Nestlé thứ thiệt, nhập khẩu hiện được bán ở vỉa hè Thành Hồ với giá 40 đồng, một hộp sữa bột Vitalait bán với giá trên 200 đồng. Lương công nhân nhà nước trung bình một tháng là 200 đồng, cộng 12 ký gạo mua rẻ theo giá cung cấp 40 xu một ký. Người công nhân đẻ con lấy gì nuôi con ? Trong gia đình người nào cũng phải làm, mà đi làm cũng vẫn không sao đủ ăn. Em hãy nghe lời ca một bài hát phổ biến của Xã Hội Chủ Nghĩa Miền Bắc Việt Nam:

Cháu lên ba… cháu vô mẫu giáo
Cô thương cháu… cháu không khóc nhè
Sáng ban mai… cha vào nhà máy
Mẹ trồng rau trái… ông bà lo cấy cầy
La lá la… Lá la… la…la

Người nữ công nhân có con nhỏ buổi sáng phải dậy sớm từ 5 giờ, nấu cơm cho vào lon để chồng và mình mang đến công xưởng ăn trưa, đạp xe máy đưa con gửi ở nhà giữ trẻ, chiều 4 giờ 30 tan xưởng phải ghé chợ mua mớ rau, miếng đậu, về nhà trẻ đón con, về nhà nấu cơm. Đi về một ngày hai lượt, mỗi lượt mất cả tiếng đồng hồ. Đường thì xa, xe đạp thì tã, xe hư không có tiền thay đồ mới. Bởi vậy, những người công nhân ở miền Bắc mới có câu mô tả đời sống của họ như sau:

Ăn cơm qua loa, mặc áo chuyên gia, đi xe cố vấn

Em đoán, em hiểu câu đó muốn nói gì? Em không thể hiểu hay đoán đúng được, ngay anh sống ở đây đã 6 năm, khi được nghe câu nói đó và được hỏi là hiểu ra sao, anh cũng giải nghĩa nó ra như vầy:

– Người công nhân miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa ăn uống qua loa thôi, tức là ăn uống ít, làm việc với tư cách là chuyên gia, chuyên viên, đi làm thì đi nhờ xe của các cố vấn khối Xã Hội Chủ Nghĩa.

Nhưng hiện thực trong câu đó được giải đúng như thế này:

– Ăn cơm qua loa là ăn tập thể trong công xưởng, đến giờ ăn thì có loa phóng thanh gọi đi ăn, mặc áo chuyên gia là … chuyên mặc áo da, tức cởi trần, quần xà lỏn, đi xe cố vấn là đi xe đạp vỏ ruột xe bị vỡ banh ta-lông, lòi phèo, không có tiền thay vỏ mới phải lấy dây cao su quấn lại đi tạm.

Đó là chuyện đời sống công nhân, còn đời sống nhân dân thành phố Hồ chí Minh thì khác hẳn. Đời sống ở thành phố này đầy những mâu thuẫn, những sự kiện trái ngược hẳn nhau, muôn mặt mà mặt nào cũng đầy nhũng dễ hiểu và khó hiểu. 80% dân thành phố không làm ăn qua một việc gì cả, cả mấy năm không kiếm ra tiền. Có nhiều người như anh từ 6 năm nay không kiếm ra được một xu. Ai cũng kêu đói khổ nhưng các quán ăn, quán nhậu mọc lên như nấm, quán cà phê, quán chè chiếm hết vỉa hè, chỗ ăn uống nào cũng đông nghẹt những người khi chiều xuống và nắng tắt. Có những quán thit cầy mà muốn ăn người ta gần như phải tranh cướp chỗ ngồi, giành giựt từng đĩa chả, tô rựa mận. Mỗi đĩa cầy tơ 5 đồng, một tô bún bò giò heo 8 đồng. Phở thì tạm kể 4 tiệm phở có tiếng, đông khách nhất: Phở Tàu Bay vẫn ở chỗ cũ đường Lý Thái Tổ, phở Hòa vẫn ở chỗ cũ đường Pasteur, phở Collete ở khoảng giữa trường Colette cũ và bệnh viện Da Liễu đường Hồ Xuân Hương, đây là tiệm phở mới mở sau 1975, phở Bắc Huỳnh ở nhà ga Đà Lạt di tản xuống nay ở đường Võ Tánh cũ, cạnh cà-phê Hòa nhìn sang nhà thờ Phú Nhuận. Hiện nay đó là 4 tiệm phở đông khách nhất của Sài Gòn. Phở Hòa mỗi ngày tiêu thụ 200 ký thịt bò. Phở Colette là nơi có nhiều Việt Kiều Yêu Nước Ngoài về thăm quê hương đến ăn cho biết. Ở những tiệm này giá mỗi tô standard là 10 đồng, một tô extra-qualité là 12 đồng — 5 đồng, 6 đồng một tô phở, người Sàigòn vẫn ăn như điên. Thuốc lá 555 bán lẻ 3 đồng một điếu, Lucky Strike, Pall Mall 2 đồng 50 xu một điếu, người Sài Gòn vẫn hút rất tỉnh. Một bộ đồ jeans complet gồm 1 blouson, 1 quần jeans hiệu Tegwood hay Levi’s loại tốt nhất được bán với giá 2.000 đồng = 1 triệu đồng cũ, người Sài Gòn vẫn mua tỉnh bơ.

Và đám cưới — Bây giờ là những tháng cuối năm, bây giờ là mùa cưới xin ở Sài Gòn. Vẫn những sáng chủ nhật nếu em đạp xe đi trong dòng xe đạp cuồn cuộn như nước trên một con đường dài nào đó của Sàigòn, như đường Trần Hưng Đạo, đường Lê văn Duyệt nay là đường Cách Mạng Tháng 8 chẳng hạn, em có thể gặp liền một lúc 3 đám rước dâu. Cô dâu vẫn đến những nhà trang điểm cô dâu trước khi lên xe bông. Và vẫn xe bông Hoa Kỳ Chevrolet, Chrysler sơn hai mầu đỏ trắng, uống xăng như uống nước. Giá một lít xăng do nhà nước bán ra cho dân hiện nay ngang với giá chợ đen, có khi còn đắt hơn giá chợ đen nữa, là 25 đồng. Giá mướn xe bông hiện nay là 300 đồng một giờ. Nhà đám thường mướn xe nhiều nhất là 2 giờ đồng hồ, vừa đủ thời gian để rước dâu, đưa cô dâu, chú rể đến nhà thờ làm lễ nếu có đạo, đưa cô dâu chú rể đến nhà hàng. Tới nhà hàng là trả xe vì ăn uống xong, tan hàng, mạnh ai nấy về bằng mọi phương tiện vận chuyển, cô dâu có thể về bằng Honda do chú rể lái, hay Honda ôm, các cụ về bằng xích lô đạp. Có lần anh gặp nguyên một đám rước dâu đi trên một chiếc ô tô buýt. Cô dâu mang vương miện, voan trắng, bao tay trắng, ngồi với chú rể vét-tông cà-la -hoách ở ghế đầu, gần tài xế. Tiện gọn mà vẫn đẹp như thường. Ít tiền thì rước dâu bằng xe lam cũng thuê giờ. Nhưng đa số đám cưới cô dâu vẫn đi bằng xe bông Huê Kỳ .

Sáu năm cả nước xếp vào hàng
Cứ tưởng bà con đói cả làng
Ai ngờ đám cưới Em ra rít
Em vẫn khăm voan vẫn xuyến vàng

Sáu năm vất vả ở thành Đồng
Cứ tưởng rằng em ế chổng mông
Ai ngờ đám cưới em ra rít
Em vẫn xe bông vẫn pháo hồng

Những nhà hàng chuyên tổ chức tiệc cưới lớn nhỏ ngày xưa Văn Cảnh, Lê Lai, Á Đông, Bát Đạt..v.. v.. nay là Quốc Doanh, thuộc quyền nhà nước quản lý và kinh doanh, xong đa số người làm cũ vẫn còn được ở lại làm, những nhà hàng này vẫn nhận đám cưới ăn uống linh đình theo giá ngoài thị trường, tức là theo giá chợ. Cán bộ, công nhân viên nếu làm việc ở các cơ sở, cơ quan nhà nước, khi lấy vợ, lấy chồng, nếu có giấy giới thiệu của cơ quan và khéo xoay xở, được giảm tiền một phần nào, được mua một số thuốc lá, nước ngọt theo giá nhà nước cung cấp, để đãi khách.

Chưa bao giờ câu “gạo châu, củi quế” lại đúng cho bằng ở Thành Hồ hôm nay. Người ta thường nói gạo thịt đắt như vàng nhưng theo anh thì gạo thịt còn đắt hơn vàng nữa. Em bỏ 18.000 đồng ra mua vô một cây vàng, nhưng vàng còn nguyên đó, nửa năm sau cần tiền em bán đi, có thể em sẽ thâu về được 25.000 đồng. Còn gạo thịt em mua về thì hôm sau nó tiêu tan ngay. Em ơi ….

———-

SÀIGÒN CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM ?

Dương Hồng Ngọc Viết Từ Thành Phố Hồ Chí Minh

Muốn tắm mát thì lên ngọn con sông đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
Em đi anh ở lại Thành
Muốn đi nhưng giấy thông hành chưa cho
Nằm suông, mộng biển mơ hồ
Tiền đò ngại tốn, con đò ngại xa
Em đi anh ở lại nhà
Năm ngàn ký gạo, ký cà tám trăm.

Anh buồn phiền nên thỉnh thoảng làm vài câu thơ con cóc. Nói là làm thơ, nói tếu, cho đỡ buồn, nhưng thật ra nhiều khi còn thấy buồn hơn. Như em thấy đó, trước 1975 anh có biết thơ thẩn là cái quái gì đâu. Bây giờ bỗng dưng anh làm thơ. Trường hợp anh không khác gì trường hợp làm thơ của 20 triệu người dân miền Nam từ sau 1975. Không biết bao nhiêu là người đầu hôm sớm mai ngủ dậy bỗng thấy mình thành thi sĩ. Nhiều người làm thơ nghiệp dư, danh từ mới XHCN gọi những văn nghệ sĩ tài tử, không chuyên nghiệp, có một nghề làm ăn gì đó lúc rảnh rỗi thì ca hát, đóng kịch, làm thơ v…v… Anh gặp nhiều người làm thơ, làm nhạc tài tử sáng tác những bài thật hay, thật sống, xúc động. Xong những người sáng tác nghiệp dư này thường chỉ làm được một, hoặc nhiều lắm là hai bài hay mà thôi. Họ kém các văn nghệ sĩ nhà nghề ở chỗ làm đến bài thơ, bài nhạc thứ ba là họ làm rất dở. Sự kiện này càng làm cho anh thấy rõ rằng con người có xúc động, có đau khổ thì mới ra thơ ca hay, con người lúc thỏa mãn thì chỉ làm nỗi loại thơ thù tạc, nhạt nhẽo, không sức sống và loại thơ ca đó sẽ chết yểu, sẽ không được người đời yêu mến. Sự kiện vừa nói cũng chứng minh rằng không phải thơ làm cho người ta đau khổ, cùng khốn mà là ngược lại, con người có đau khổ cùng khốn mới có thơ hay.

Trở lại chuyện cưới xin ăn uống ở thành Hồ. Anh muốn nói rõ thêm rằng không phải ở đây thực phẩm, vật giá đắt đỏ là vì thiếu thực phẩm. Không, thực phẩm, vải lụa, quần áo, bơ sữa, rượu tây, thuốc tây v…v… ở thành Hồ hiện nay có rất nhiều, rất sẵn, như thuốc tây chẳng hạn. Em ra bất cứ cửa chợ lớn, chợ nhỏ nào của Sàigòn và quanh Sàigòn, em cũng thấy bán đủ loại thuốc tây, mua tự do không cần toa bác sĩ. Lyncocin Injectable 20 đồng một hũ, nếu có tiền em mua liền 1000 hũ cũng có đủ ngay. Nếu ngày mốt em lên xe bông, em muốn đãi họ hàng ăn uống thật long trọng, ăn ngập mày, ngập mặt, chỉ cần sáng nay em đem đến cho anh một cái sắc trong đựng đầy ảnh “Bác Hồ”, anh mượn xe Honda đổ xăng phóng đi một vòng lo cho em, sáng mốt em có đủ 2 con bò, 5 con heo quay, vài chục gà, vịt, rượu tây đủ thứ từ Johnny Walker, đến Napoleon. Tình trạng này chứng tỏ rằng thực phẩm, đồ vật đắt đỏ là vì nạn lạm phát tiền tệ trong nước chứ không phải vì khan hiếm. Thực phẩm, đồ vật có thể đắt giá vì hai nguyên nhân, một là vì khan hiếm không có mà mua, hai là vì số lượng tiền tệ lưu hành… tệ quá, nhiều quá. Ở đây, trong những bài báo, những bài đọc trên tivi, radio để giải thích về nạn thực phẩm, vật dụng tăng giá, người ta nói đủ các thứ nguyên nhân, người ta thường đổ lỗi cho gian thương, nhưng tuyệt nhiên không thấy nói gì đến chuyện tiền lạm phát. Anh thấy có vẻ người ta sợ hai tiếng lạm phát lắm. Cùng lắm là người ta nói đến hai tiếng “phát hành”. Ông Tố Hữu có nói đến hai tiếng phát hành: “Chúng ta không sợ phát hành. Chúng ta nắm được phát hành và sẽ giải quyết tốt tình trạng này…”. Hình như từ bao nhiêu năm nay, anh cũng chưa nghe thấy qua một chính phủ tư sản nào thú nhận rằng họ không nắm được nạn lạm phát tiền tệ và họ sẽ không thể giải quyết được nạn đó. Chỉ có điều khác là ở chế độ tư bản, chính phủ nào để cho nạn lạm phát trở thành quá trầm trọng là quốc hội và nhân dân nước đó mời xuống, ngồi chơi xơi nước, để cho tập đoàn khác lên nắm chính quyền và giải quyết nạn đó; tập đoàn nào hứa ẩu là sau một thời gian dài ngắn nào đó lại lủi thủi đi xuống, nhường chỗ cho tập đoàn khác. Xã hội tư bản đó chỉ được yên ổn khi nào nạn lạm phát được giải quyết ổn thỏa mà không có hại lắm cho đại đa số nhân dân.

Một tình trạng ly kỳ nữa xảy ra ở Thành Hồ mà chúng ra không ai tưởng tượng trước được là bây giờ trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa đang ở trong thời kỳ quá độ, phong trào phụ nữ sửa sang nhan sắc không những không bị tiêu diệt mà còn phồn thịnh, đông khách, kiếm được nhiều tiền hơn trước 1975. Các bác sĩ và chuyên viên thẩm mỹ kiếm tiền như nước. Phụ nữ Sài Gòn sắp ra đi chính thức hay đi chui, tức vượt biên, nghĩ rằng họ sửa mắt, sửa mũi, lột da mặt ở Sài Gòn rẻ hơn, qua nước ngoài làm những trò này đắt tiền lắm. Phụ nữ miền Bắc XHCN vào được đến Thành phố Hồ chí Minh cũng đổ xô đi sửa mắt, mũi, bơm vú, bơm mông, sửa vòng eo, cắt mỡ bụng, ủi mặt rỗ, lột da mặt, uốn tóc, làm móng chân, móng tay. Những thẩm mỹ viện lớn như Crystal, Cẩm Thạch v…v… trên bề mặt thì đóng cửa, giải nghệ, nhưng sự thật thì phân tán mỏng về các tiệm uốn tóc nhỏ, về nhà riêng hành nghề không đăng ký, không đóng thuế. Dược phẩm đồ nghề mới toanh, toàn thứ tốt nhất, từ ngoại quốc đóng thùng gửi về qua đường viện trợ tư nhân không hoàn lại và nhập khẩu không cần ngoại tệ. Anh nghe nói có ông bác sĩ chuyên khoa thẩm mỹ hành nghề ở nhà riêng mỗi tháng kiếm tới năm, sáu mươi ngàn đồng tiền mới. Tính sơ là theo tiền cũ 30 triệu đồng một tháng.

Tất nhiên là không phải ông bà bác sĩ nào ở Thành Hồ cũng hái ra bạc. Cũng có nhiều vị đói dài dài. Những bác sĩ nào bị bắt vì tội vượt biên có khi bị cấm hành nghề ít lâu. Nhưng thường thì gần như tất cả bác sĩ, y sĩ, dược sĩ có đi cải tạo hay không đều được thâu dụng và tương đối được trọng đãi trong các bệnh viện. Nay tất cả bệnh viện, trường học, xưởng máy lớn đều là của Nhà Nước nên chúng ta không cần phải thêm hai tiếng Nhà Nước sau đuôi nữa cho đỡ tốn giấy mực. Những vị thuộc ngành y khoa, y dược kể trên nếu có làm việc ở một bệnh viện hay cơ quan nào đều được phép mở phòng điều trị riêng, hành nghề tự do thơ thới, hân hoan sau giờ làm việc công, tức là sau 4 giờ 30 chiều đến lúc nào hết thân chủ, đóng cửa. Giới bác sĩ, ở chế độ nào cũng vậy, vẫn là giới được ưu đãi trong xã hội, kiếm tiền dễ dàng, có đời sống vật chất tương đối cao hơn mọi người. Bác sĩ bây giờ khám bệnh theo giá nhà nước ấn định, từ 3 đến 5 ngàn đồng, nhưng lại được kiêm nghề bán thuốc tây và kiếm tiền nhiều về việc bán thuốc hơn là tiền chẩn bệnh. Mà tiền thuốc thì các vị lương y cứu nhân, độ thế chém người bệnh vô tội vạ. Cảm cúm, nhức đầu, đau xương, xoàng thôi, ở nhà uống Aspirin, Tylenol cũng có thể hết nhưng nó làm em nằm quằn quại tàn phai nhan sắc mất năm, bảy ngày, muốn khỏe lại cho nhanh, em đi bác sĩ. Lương y choác cho em một mũi chẳng biết là thuốc gì, cho em độ 6 viên thuốc uống trong một ngày, em chi tối thiểu là 30 đồng. Nếu em có thuốc viện trợ, em mang Tylenol 500 mgs capsule đi bán, mỗi viên được 2đ 20 xu. Cũng viên Tylenol ấy em phải mua lại khi em cần với giá 6 đồng. Chích một mũi Becozym, em phải trả 25 đồng.

Bác sĩ nào không có chỗ hành nghề thì đi buôn thuốc tây cung cấp cho các bạn đồng nghiệp. Dược sĩ thì chế tạo thuốc tây. Dược phẩm đủ thứ cũng từ nước ngoài gửi về. Nhiều anh ma giáo chế đủ thứ thuốc giả đến ngay cả bác sĩ cũng không thể phân biệt được. Những bọn chế thuốc giả khi bị bắt sẽ ở tù nặng lắm. Đây là một việc xử lý đúng của nhà nước XHCN, vì ở đời nào cũng vậy, không có gì ác độc, vô nhân cho bằng bọn chế tạo thuốc giả.

Anh mù tịt về chính trị, lại điếc lòi về các vấn đề kinh tế, xã hội, cãi nhau thì chuyên môn lý sự cùn, gàn dở. Về mặt con người thì anh thuộc hạng “phú quý tất dâm, bần tiện tất di, uy vũ tất khuất” — có tiền bạc, được giàu sang là anh ăn chơi, dâm dật ngay, vì có tiền mà không ăn chơi thì để tiền làm gì nhỉ, rơi vào cảnh bần tiện là anh thay đổi ngay tính nết, nghèo hèn mà kiêu căng, phách lối thì chỉ là đồ ngu xuẩn, đáng khinh, đáng thương chứ không đáng kính phục, nhất là ở vào thời loạn, thì chỉ tổ chết uổng, kẻ thù sẵn sàng giết mình, nó lại có dao, súng, thì anh phải chịu khuất phục nó thôi, không có gì anh hùùng trong việc chống lại thằng ác ôn có súng, nhất là khi thằng ác ôn ấy lại là thằng cộng sản. Ở Sài Gòn của chúng ta trước đây có biết bao nhiêu thằng trọc phú bây giờ nằm tù, tài sản mất hết, bao nhiêu của chìm, của nổi nhờ bóc lột người khác, nhờ ăn mắm, mút dòi, nay đổ xuống sông, xuống biển hết.

Người nghèo không có ăn phải ăn mắm, mút dòi là chuyện tất nhiên, không có gì để chúng ta phải nói cả, nhưng bọn nhà giàu mà keo kiết, bủn xỉn, suốt đời chỉ muốn vơ vào túi tham không đáy, vơ vét của thiên hạ không bao giờ thỏa mãn, thì không ai có thể bênh vực được. Chưa bao giờ anh thấm thía câu “tiểu nhân chết vì lợi, nhà giàu chết vì của, người có danh tiếng chết vì cái danh của mình” bằng lúc này.

Bọn anh ở đây vài người bạn, trước 75 cũng gọi là thân nhưng cái thân trước 75 nó không giống với cái thân bây giờ. Có lẽ cái thân trước kia nó thiếu cái thiết. Trước 75 bọn anh ai cũng có công việc làm hợp với sở thích, ai cũng nhiều ít kiếm được tiền dễ dàng và tương đối nhiều hơn đa số người khác. Gần như ngày nào cũng gặp nhau ở chỗ làm việc, chỗ ăn chơi, chẳng ai chú ý đến đời sống riêng tư, gia đình, vợ con của nhau mà cũng chẳng ai cần đến sự chú ý ấy của bạn. Nay thì khác hẳn. Bọn anh thương nhau hơn. Bọn anh “nhường cơm, sẻ áo” cho nhau theo đúng nghĩa đen của việc nhường cơm, sẻ áo. Nhiều lần ngồi uống rượu với nhau trên vỉa hè, những lúc ngà ngà say, bọn anh sau khi nói đủ thứ chuyện trên trời, dưới biển, thường nhắc lại những đoạn tình sử trong Đồ Long Đao, Thiên Long Bát Bộ, Tiếu Ngạo Giang Hồ và Tam Quốc Chí. Nhiều lần anh nghe các bạn anh hỏi nhau về bài thơ mở đầu, hay kết thúc truyện Tam Quốc, anh không nhớ rõ. Bài thơ chữ Hán có mấy câu đại ý nói bây giờ chỉ còn thấy nước sông Trường Giang cuồn cuộn chảy, nhưng người anh hùng đã chìm đắm đâu mất hết. Anh thấy các bạn anh tỏ ra cảm khái vì câu thơ đó. Có lần anh nói bài đó có gì đặc sắc, đọc một trăm bài thơ Đường thì có đến 99 bài cảm hoài, tiếc thương việc cũ, than thở đời sống phù du, hư ảo, qua mau, cái bài mà tao thấy hay nhất, thấm thía nhất trong Tam Quốc là bài thơ mà một số người ngồi trong quán rượu bên đường ngâm với nhau trong khi Lưu Bị cùng Quan, Trương đi đến nhà Gia Cát Lượng Khổng Minh, dừng lại nghe và Lưu Bị tin là chắc có Khổng Minh ngồi trong số cao nhân đó. Bài thơ ấy anh chỉ nhớ có 2 câu trong bản dịch của Tử Vi Lang:

Hãy giữ thân thôi, đừng thắc mắc
Danh ta muôn thuở mất hay còn…

Vì lợi mà táng thân, việc đó đáng chê thật rồi, nhưng vì danh mà táng thân cũng bị Trang Châu chê luôn. Hàn Tín lòn trôn thằng bán thịt heo ở chợ Hoài Âm là chuyện đáng chê cười nhưng nếu khi ấy Hàn Tín tức khí, rút gươm ra đâm thằng bán thịt heo tất bị nó đánh chết. Lỗi chẳng phải ở thằng bán thịt thất phu mà chính là lỗi ở ông Hàn Tín lúc còn nghèo hèn không biết sống theo những điều kiện hèn hạ của mình, đã yếu như sên, không có võ nghệ, không giỏi kiếm thuật, nhất là không có ý liều mạng, thì ông đeo kiếm làm cái gì? Thằng bán thịt nó thấy ông có vẻ huênh hoang, nó hạ nhục ông vì cái thanh kiếm ông đeo, nào nó có thù oán gì ông. Đúng ra là nó dạy ông một bài học đích đáng về phép sống ở đời, phép giữ mình, trong thời loạn mà mạng người rẻ hơn súc vật. Súc vật người ta quí là phải, vì người ta ăn được thịt súc vật để người ta sống, còn người chết thì người ta còn phải mất công đào sâu, chôn chặt.

———-

Cám ơn bạn HV đã gửi cho hai bài tôi viết những năm 1982, 1983 ở Sài Gòn. Đọc hai câu: “Trăm ngàn gửi lậy tình quân. Tấc lòng can đảm có ngần ấy thôi.” Tôi nhớ tôi làm hai câu đó nhưng không nhớ tôi dùng thơ ấy trong bài viết nào. Viết xong, tôi mang thư ra gửi ở Bưu Điện, tôi không nhờ ai mang thư đi gửi dùm.

Alice và Kiều Giang cám ơn HV.

Advertisements

3 Responses

  1. Kính quan Bác Công-Tử.

    Đọc bài “Sài gòn có gì lạ ? “, tui phục quan Bác hết biết luôn… Tui nói dzậy có lẽ nhiều Thầy Cô hổng hiểu nhưng… những ai có ở chung dzới Dziệt-cộng sau 75, nhứt là mấy năm đầu… thời mới thấu được dziệc làm của quan Bác…

    Thời đó, tức là mấy năm sau ngày mất nước… người dân Nam, những người được chúng liệt-kê dzô từng lớp “Phó thường dân Nam-bộ “, mà lại còn dám hó hé tỏ mòì bất như ý dzới chúng… là kể như… đời tàn trong ngõ hẹp. Tù là chuyện thường ngày ở wuyện… láng cháng, chúng mang lên sân bắn Thủ-Đức bắn bỏ dễ-dàng như trẽ con ta dùng ná thung bắn chim sẻ dzậy.

    Tui còn nhớ… đâu chừng dạo 76, 77 gì đó… có một chú in sách lậu… nói rõ ra là… chú ấy quay “ronéo” mấy tập truyện khiêu-dâm, đại loại như: ” Bảy Đêm Phái Lạc”, “Nhựt-ký cô gái 18 tuổi”…dzân dzân… rồi mang ra bán lén ở đường Lê-Công-Kiều, gần biệt-thự chú Hỏa, hơi đối diện bùng binh chợ Bến-Thành, Sè Gòn… Chẳng may cho chú ấy, chú bị chúng ” tó “… Sau mấy ngày hô loa ỏm tỏi kể lê thê dông dài tội trạng của chú ấy xong, chúng mang đi xử bắn liền cấp kỳ, hổng nói “on đơ” gì ráo trọi… thấy mà woải…!

    Ở đây, quan Bác còn chơi ngon hơn, quan Bác dziết bài móc lò chúng theo kiểu khôi hài đen, lại còn cả gan gởi ra nước ngoài, ra mấy nước tư-bổn thù địch của chúng đặng đăng nhựt-trình cho bàn dân thiên-hạ đọc cười chơi… Mần dziệc này, chẳng khác nào quan Bác tự ký giấy tử cho chính mình… Bởi dzậy, mần sao tui hổng phục quan Bác sát đất cho được…?

  2. Bà con tỵ nạn mình thời năm 82 đọc cuốn Tắm Mát Ngọn Sông Đào không ai là không thương cảm khi đọc những bài viết trong tuyển tảp nàỵ Bá Ng.o còn nhớ, lúc ấy ở Houston còn quán SaiGon Cà phê nằm trên đường Bell, anh em ngồi suy đoán đủ thứ tên tác giả trong tập sách nàỵ Anh em cũng lo sợ sự trã thù cuã bọn Cộng Nô khi tóm được các tác giã nàỵ Không may, CTHD bị bọn nó tóm, nhưng ngọc CTHD vẫn sáng mãi qua những đày đọa tù đày cũa bọn Cộng đỏ

  3. Chào Bác Hoàng Hải Thủy,

    Cháu ở VN, khi còn nhỏ đã từng được xem một bộ truyện phóng tác của bác rất hay là truyện: Kiều Giang. Sau này xem sách mới dịch thì không thể hay bằng truyện bác viết. Tuyệt vời. Cháu lang thang trên mạng tình cờ biết được trang của Bác, vào xem nãy giờ…Xin chúc bác sức khỏe. Hình như bác có người con gái tên Kiều Giang?

    Kính.

    Thuyền Quyên

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: